1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chạch lửa (mastacembelus erythrotaenia bleeker, 1870)

88 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài cá có khả năng thuần hóa để làm cá cảnh ở thủy vực nội địa các tỉnh Nam bộ” của Nguyễn Xuân Đồng 2009 [8] có đề cập đến

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

(Mastacembelus erythrotaenia Bleeker, 1870)

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

(Mastacembelus erythrotaenia Bleeker, 1870)

Chuyên ngành: Sinh h ọc thực nghiệm

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hỗ trợ tận tình về nhiều mặt Tôi xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến các thầy cô, gia đình và bè bạn đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này

Em xin gửi đến Cô, PGS TS Nguyễn Thị Nga, lòng biết ơn sâu sắc vì sự hướng dẫn nhiệt tình và tận tụy của Cô trong suốt quá trình nghiên cứu

Em xin gửi lời tri ân chân thành đến Thầy, TS Phạm Văn Khánh, người đã theo sát và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình hoàn thành đề tài

Em xin gửi lời tri ân đến các Thầy, Cô, những người đã dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị kĩ sư, công nhân viên ở Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ đã hỗ trợ tôi trong quá trình làm việc

Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn bè, những người luôn ở bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi

Cuối cùng, xin gửi sự tri ân sâu sắc đến gia đình, ông bà, cha mẹ và các anh

chị em Niềm tin, sự kì vọng và động viện của mọi người chính là động lực cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, xin cảm ơn tất cả!

Tp H ồ Chí Minh, tháng 4 năm 2012

H ọc viên

Nguy ễn Quang Vũ

Trang 4

L ỜI CAM LẾT

Tôi xin cam đoan, luận văn Thạc sĩ Sinh học “nghiên cứu sinh sản nhân

t ạo cá chạch lửa (Mastacembelus erythrotaenia Bleeker, 1870)” là công trình nghiên c ứu của cá nhân tôi Các số liệu dùng trong luận văn là trung thực chưa được công bố trong bất cứ luận văn cùng cấp nào

Tp H ồ Chí Minh, ngày 12 tháng 4 năm 2012

NGUY ỄN QUANG VŨ

H ọc viên cao học khóa 20

Chuyên ngành Sinh h ọc Thực nghiệm

Trường Đại học Sư Phạm Tp Hồ Chí minh

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN 2

LỜI CAM LẾT 3

M ỤC LỤC 1

DANH M ỤC HÌNH 3

DANH M ỤC BẢNG 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5

M Ở ĐẦU 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8

1.1 T ổng quan chung về giống Mastacembelus 8

1.2 Đặc điểm sinh học cá chạch lửa 8

1.3 Nguyên lý chung của quá trình sinh sản tự nhiên ở cá 14

1.4 Nguyên lý chung c ủa sự kích thích sinh sản nhân tạo ở cá 18

1.5 M ột số loại hormone kích thích sinh sản 18

1.6 V ấn đề sử dụng kích thích tố để kích thích cá sinh sản 21

1.7 Một số đề tài nghiên cứu liên quan 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 N ội dung nghiên cứu 25

2.4 Phương pháp nghiên cứu 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30

3.1 Các điều kiện môi trường bể nuôi cá chạch lửa 30

3.2 Kết quả thu thập và thuần dưỡng cá chạch lửa 32

Trang 6

3.3 K ết quả nuôi vỗ cá chạch lửa 32

3.4 Kết quả sinh sản nhân tạo 39

3.5 K ết quả ương 50

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

4.1 K ết luận 53

4.2 Đề nghị 53

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 54

PH Ụ LỤC 57

Trang 7

DANH M ỤC HÌNH

Hình 1.1: Cá chạch lửa 7

Hình 1.2: Cá chạch lửa trong bể thủy sinh 7

Hình 1.3: Bản đồ phân bố của cá chạch lửa 8

Hình 1.4: Sơ đồ cơ chế hormone điều khiển sự chín noãn bào và những hoạt chất ngoại sinh có thể điều khiển quá trình này 11

Hình 2.1: Bể xi măng thuần dưỡng và nuôi vỗ cá chạch lửa 25

Hình 3.1: Lỗ sinh dục cá chạch lửa đực (A) và cái (B) 32

Hình 3.2: Tiêm HCG 42

Hình 3.3: Nặn trứng 42

Hình 3.4: Trứng cá chạch lửa 42

Hình 3.5: Giai đoạn phát triển phôi cá chạch lửa 47

Hình 3.6: Giá thể lưới và khay ấp trứng cá chạch lửa 47

Hình 3.7: Ương cá chạch lửa trong khay (A) và trong bể kính (B) 51

Hình 3.8: Cá bột chạch lửa (khối noãn hoàng rất lớn) 51

Hình 3.9: Cá chạch lửa 120 ngày tuổi 51

Trang 8

DANH M ỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thông số môi trường bể nuôi cá chạch lửa 29

Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra thành thục cá chạch lửa bố mẹ qua các tháng 32

Bảng 3.3: Tỷ lệ thành thục cá chạch lửa đực 33

Bảng 3.4: Tỷ lệ thành thục cá chạch lửa cái 33

Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra độ béo Fulton cá chạch lửa bố mẹ 35

Bảng 3.6: Kết quả kiểm tra độ béo Fulton cá chạch lửa hậu bị 36

Bảng 3.7: Kết quả sinh sản nhân tạo cá chạch lửa đợt một 38

Bảng 3.8: Kết quả sinh sản nhân tạo cá chạch lửa đợt hai 39

Bảng 3.9: Kết quả sinh sản nhân tạo cá chạch lửa đợt ba 40

Bảng 3.10: Kết quả sinh sản nhân tạo cá chạch lửa qua 3 đợt 41

Bảng 3.11: Khối lượng cá cái, khối lượng trứng, số lượng trứng và sức sinh sản tương đối thực tế 43

Bảng 3.12: Thời gian hiệu ứng của HCG ở cá chạch lửa 44

Bảng 3.13: Tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ nở và tỉ lệ sống sót của cá sau khi hết noãn hoàng 48

Bảng 3.14: Các chỉ tiêu môi trường nước khi ương cá bột 49

Bảng 3.15: Kết quả ương cá bột chạch lửa 50

Trang 9

DANH M ỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Nhiệt độ nước bể nuôi cá chạch lửa 29

Biểu đồ 3.2: Độ pH nước bể nuôi cá chạch lửa 30

Biểu đồ 3.3: Hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước bể nuôi cá chạch lửa 30

Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ cá có dấu hiệu thành thục qua các tháng 34

Biểu đồ 3.5: Độ béo Fulton các chạch lửa bố mẹ qua các tháng 35

Biểu đồ 3.6: Độ béo Fulton cá chạch lửa hậu bị qua các tháng 37

Trang 10

M Ở ĐẦU

Nghề nuôi cá cảnh đã có từ nhiều thế kỉ trước Hiện nay, các loài cá nuôi làm

cảnh phát triển ngày càng phong phú không chỉ ở số lượng mà còn về hình thể, màu

sắc đáp ứng nhu cầu giải trí của người dân [3][11]

Việt Nam có những điều kiện thuận lợi để phát triển nghề nuôi cá cảnh: khí hậu

ấm áp, nguồn nước tốt và thức ăn dồi dào, đội ngũ nghệ nhân đông đảo, lành nghề… Hiện nay, nghề nuôi cá cảnh ở nước ta đang từng bước phát triển, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh rất có tiềm năng về xuất khẩu [28][29][32][33]

Số lượng các loài cá nước ngọt có tiềm năng nuôi làm cảnh ở nước ta rất phong phú Theo Bộ thủy sản (1996) [2], Việt Nam có 151 loài cá cảnh Nguyễn Xuân Đồng (2009) [8] bổ sung thêm 69 loài cá nước ngọt bản địa có màu sắc, hình dáng đẹp, thích hợp để nuôi làm cảnh Tuy nhiên, việc nuôi và xuất khẩu cá cảnh ở nước

ta hiện nay chỉ mới tập trung ở một số loài phổ biến và sinh sản dễ dàng như cá

chép (Cyprinus carpio ), cá ba đuôi (Carasius auratus), cá bảy màu (Poecilia

reticulata ), cá dĩa (Symphisodon aequifasieta)… Nhiều loài cá nước ngọt tự nhiên

được thu thập làm cá cảnh nhưng chưa được chú ý sinh sản Một trong những loài này là cá chạch lửa (Mastacembelus erythrotaenia Bleeker, 1870) [8][16] Đây là

loài cá cảnh đang rất được ưa chuộng do màu sắc đẹp và dáng bơi uyển chuyển nhưng nguồn cung cấp chủ yếu do khai thác từ tự nhiên và nhập khẩu Vấn đề này

dẫn đến giá thành cao, tỷ lệ sống thấp và nguồn lợi khai thác ngày càng cạn kiệt trong khi nhu cầu cho thị trường trong nước và xuất khẩu ngày càng gia tăng Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài cá có khả năng thuần

hóa để làm cá cảnh ở thủy vực nội địa các tỉnh Nam bộ” của Nguyễn Xuân Đồng

(2009) [8] có đề cập đến cá chạch lửa và đề nghị tiếp tục nghiên cứu thuần dưỡng, sinh sản nhân tạo Vì vậy, việc sinh sản nhân tạo loài cá này là cần thiết và cấp bách

để góp phần phát triển nghề nuôi cá cảnh tại thành phố Hồ Chí Minh và tái tạo nguồn lợi tự nhiên

Với những lí do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá chạch lửa (Mastacembelus erythrotaenia Bleeker, 1870)” nhằm mục

Trang 11

đích ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc tạo ra nguồn giống mới cho nghề nuôi

cá cảnh Việt Nam

M ục tiêu của đề tài

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra phương pháp thích hợp cho việc sinh sản nhân tạo cá chạch lửa trong điều kiện nuôi nhốt, giúp tạo ra nguồn giống chủ động cho nghề nuôi cá cảnh và tái tạo nguồn lợi tự nhiên

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Nhìn chung, các loài trong giống Mastacembelus có thân dài, vảy rất nhỏ, đầu

và mõm dài Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi nối liền nhau, không có vây bụng Trên thân có vân giống như dạng mạng lưới hoặc dạng vân đốm và vân chấm [8] Trên thế giới, giống Mastacembelus có 61 loài phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện,

Trung Quốc, Châu Phi và các nước Đông Nam Á [8]

Ở Việt Nam, giống này có 3 loài M armatus, M favus và M erythrotaenia

Cả ba loài này đều có vùng phân bố ở các tỉnh Nam bộ, trong đó chỉ có M armatus

là phân bố ở cả miền Bắc và miền Trung [8]

Tên Việt Nam: cá Chạch lửa, cá Lấu đỏ, cá Hỏa long [8]

Tên tiếng Anh: Fire eel [8]

1.2.2 Hình thái

Chạch lửa là một loài cá dài với thân hình ống Phần đầu nhỏ, dẹp bên, chiều dài đầu dài khoảng 2,6 lần cao đầu qua xương chẩm Miệng nhọn và kéo dài về phía trước tạo thành một dạng râu ngắn thường có 3 chỉa Răng nhỏ và mịn Trước mắt

có một gai nhọn, hướng về phía sau Khoảng cách giữa hai mắt hẹp [8] Phần thân

Trang 13

trước hơi tròn, phần sau hẹp dần về hai bên, đặc biệt là phần thân sát đuôi dẹt hợp

với vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn làm thành một dạng “đuôi mở rộng” [27] Vây lưng dài Vây lưng và vây hậu môn có nhiều gai cứng Phần trước vây lưng có khoảng 31 tới 33 gai cứng, gai cuối cùng to và dài nhất Màng da giữa các gai chỉ có ở dưới gốc [8] Khi gặp những vật lạ trong nước hoặc bị bắt thì các gai này thường dựng lên Vì vậy, chúng được xếp vào nhóm cá chạch gai (spiny eel) [27] Phần sau của vây lưng có các tia mềm dính nhau bởi màng da và cơ vây Vây

hậu môn có 3 gai cứng, trong đó gai thứ hai to và dài nhất, gai thứ ba nằm sâu trong

cơ Các tia mềm của vây hậu môn có cấu tạo tương tự vây lưng Cá không có vây

bụng [8]

Vẩy cá bao phủ toàn thân, có kích thước nhỏ, mịn, hình bầu dục Đường biên

nằm liên tục trên trục giữa của thân [8]

Cá thường có màu nâu xẫm hoặc xám, phần bụng nhạt màu hơn Trên trục giữa

của thân có một hàng chấm tròn nhỏ màu đỏ chạy dọc theo chiều dài của cơ thể Trên và dưới của hàng chấm tròn này có khoảng 2 – 3 hàng vân gồm các sọc đỏ Trên đỉnh thân, chỗ gốc các gai lưng cũng có một sọc dài màu đỏ [8][27] Màu sắc

của vân có thể thay đổi tùy theo tuổi tác và một số điều kiện khác Thông thường, ở

những cá thể chưa trưởng thành, những vân này có màu vàng hay hổ phách và đậm

dần trong quá trình lớn lên của cá [27]

Trong tự nhiên, cá chạch lửa có thể đạt đến chiều dài 1000mm [26] Tuy nhiên, trong bể nuôi, có lẽ do giới hạn của môi trường, cá chỉ đạt chiều dài tối đa khoảng 550mm [27]

Chính vì cơ thể dài và hơi dẹp về phía sau đã tạo nên dáng bơi lội uyển chuyển,

cộng với màu sắc đẹp và các vân màu bắt mắt, cá chạch lửa hiện đang là một loại cá

cảnh được ưa chuộng hiện nay Tuy nhiên, số lượng trên thị trường hiện nay lại không đủ cung cấp cho nhu cầu của người nuôi Vì vậy, việc sinh sản thành công loài này rất có triển vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi cá cảnh [8]

Trang 14

Cá ch ạch lửa

Cá ch ạch lửa trong bể thủy sinh [31]

1.2.3 Phân bố và môi trường sống

Trang 15

B ản đồ phân bố của cá chạch lửa [30]

Cá chạch lửa là một loài cá nước ngọt phân bố rộng, có thể tìm thấy ở nhiều nơi như Campuchia, Indonesia, Lào, Thái Lan và Việt Nam [9][26][27]

Ở nước ta, cá chạnh lửa thường được tìm thấy ở các sông suối vùng Đông Nam

Bộ và Tây Nam Bộ như hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai, sông Cửu Long [5][7][9] Chưa thấy tài liệu công bố sự có mặt của loài cá này ở các tỉnh phía Bắc Trong tự nhiên, cá thường sống ở những vùng thượng hoặc trung lưu của các con sông có dòng chảy vừa đến lớn, nơi có nền đáy là sỏi hoặc đá nhỏ, có nhiều hang hốc hoặc cây thủy sinh để làm nơi ẩn nấp cho cá Chạch lửa là loài sống đáy,

kiếm ăn ban đêm Chúng thường ẩn mình dưới lớp bùn đáy hoặc những hang hốc ở đáy sông và để lộ phần đầu lên trên để kiếm ăn [8][27]

Trang 16

ống tiêu hóa so với cơ thể ở cá ăn động vật nhỏ hơn 1 Theo Nguyễn Xuân Đồng,

2009 [8], tỉ lệ trung bình giữa chiều dài ống tiêu hóa và chiều dài cơ thể của cá

chạch lửa chỉ bằng khoảng 85,77 ± 4,58% Như vậy, ống tiêu hóa của cá chạch lửa tương đối ngắn, thích nghi với chế độ thức ăn là động vật

Cá chạch lửa là loài rất phàm ăn Tuy sống dưới đáy nhưng chúng kiếm ăn ở

mọi tầng nước và thường ra ngoài kiếm ăn vào ban đêm Trong tự nhiên, chúng thường ăn các loại cá nhỏ, các loại thủy sản không xương sống Trong điều kiện nuôi nhốt, chúng thường ăn thức ăn sống như cá, tôm, tép nhỏ, lăng quăng… Nghiên cứu dạ dày một số mẫu vật cá chạch lửa còn tìm thấy một số mảnh vụn thực

vật mặc dù điều này là khá hiếm, có thể đó là thức ăn của các con mồi của chạch lửa [27]

1.2.6 Sinh sản

Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đồng (2009) [8], cá chạch lửa chỉ thành

thục và sinh sản khi chúng từ 2 tuổi trở lên Kết quả khảo sát từ ngư dân cho thấy nguồn lợi loài cá này trong tự nhiên đã giảm đến mức báo động Xác suất để khai thác được chúng trong tự nhiên là rất thấp Thêm vào đó, trong số cá thể thu thập được, số cá thể chưa trưởng thành sinh sản chiếm tỉ lệ rất lớn, cộng với độ tuổi sinh

sản khá cao và số lượng khai thác ít, trong tương lai khả năng cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên rất có thể xảy ra với loài cá này

1.2.6.2 Mùa vụ sinh sản

Mùa vụ sinh sản của cá chạch lửa là mùa mưa, tập trung chủ yếu từ tháng 6

-10, trong đó cao nhất khoảng từ tháng 7 – 9 [8]

Theo Nguyễn Xuân Đồng (2009) [8], phần lớn cá khai thác trong mùa khô có kích thước nhỏ và khó phân biệt tuyến sinh dục Còn các cá thể khai thác trong các tháng cuối mùa khô và đầu mùa mưa có kích thước lớn hơn và có tuyến sinh dục phát triển, đặc biệt là số lượng cá cái thường chiếm nhiều hơn, có lẽ do phải hoạt động tích cực hơn để chuẩn bị cho quá trình sinh sản

Trang 17

Trong khoảng thời gian từ tháng 6 – 10, tuyến sinh dục của cá khai thác thường ở giai đoạn IV Sau khi sinh sản, tuyến sinh dục thường chuyển về giai đoạn

VI – II

Trong tự nhiên, cá chạch lửa là loài sinh sản một lần trong một mùa sinh sản

Kết quả phân tích cho thấy trong buồng trứng giai đoạn IV, V của những cá thể cái trong mùa sinh sản chỉ có chứa các trứng có cùng kích thước, trung bình là 0,68mm [8]

Sức sinh sản tuyệt đối của cá dao động từ khoảng 18.392 – 37.005 trứng, trung bình khoảng 27.685 ± 1.594 trứng/cá thể cái [8]

Sức sinh sản tương đối của cá dao động trong khoảng 127,234 – 234,27

trứng/g khối lượng cơ thể cái, trung bình khoảng 179,11 ± 10,30 trứng/g khối lượng

cá thể cái [8]

Như vậy, cá chạch lửa có sức sinh sản khá lớn khi so sánh với một số loài gần gũi như cá chạch bông Tuy nhiên, số liệu trên chỉ có ý nghĩa tham khảo vì có thể chúng sẽ thay đổi tùy theo khối lượng của cá [8]

Trang 18

1.3 Nguyên lý chung của quá trình sinh sản tự nhiên ở cá

Sơ đồ cơ chế hormone điều khiển sự chín noãn bào và những hoạt chất

ngo ại sinh có thể điều khiển quá trình này

(Nguy ễn Tường Anh, 1999)

Trang 19

Sự phát triển noãn sào ở cá được chia thành 6 giai đoạn [13][21][22] Sự phát triển của noãn bào trong các giai đoạn này chịu tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài

Sự phát triển của noãn bào trong các giai đoạn III, IV và giai đoạn quá độ chuyển từ IV lên V chịu sự tác động chủ yếu của các hormone Sự tăng trưởng nhanh của noãn bào bắt đầu khi quá trình giảm phân tạm ngừng ở prophase 1 Sự tăng trưởng mạnh mẽ này gọi là sự tạo noãn hoàng Dưới tác động của GTH – I (tương tự FSH – follicle stimulating hormone), các tế bào nang trứng tiết ra estrogen mà ở cá mạnh nhất là estradiol - 17β (E2) Sự sản xuất E2 tăng dần trong quá trình phát triển của noãn bào, sau đó giảm dần khi chuyển sang giai đoạn thành

thục Đến lượt mình, E2 tiếp tục kích thích sự tổng hợp và tiết ra chất noãn hoàng (vitellogenin – Vg) diễn ra trong gan (Ng & Ilder 1983; Wallace, 1985; Tyler, 1991 trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) [1] Vg theo hệ tuần hoàn, được đưa đến noãn bào và được hấp thụ theo cơ chế vi thấm (micropinocytosis – Selman và Wallace, 1982; Wallace, 1985; Tyler, 1991 trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) [1] Sự hấp

thụ đặc hiệu Vg cũng như sự tổng hợp chất này chịu kiểm soát của kích dục tố Tuy nhiên, các estrogen lại không kiểm soát sự kết nạp Vg vào noãn bào, ngược lại, dường như còn làm giảm hoạt tính nội bào của noãn do tác dụng feedback âm tính đối với sự tổng hợp và phóng thích kích dục tố Các hormone sau đây được xem là

có liên quan đến sự tăng trưởng noãn bào cá: kích dục tố, thyroxin, triiodthyronin, insulin và hormone sinh trưởng Tuy nhiên vai trò của từng hormone này chưa được xác định đầy đủ [1]

Ngược lại, quá trình thành thục, chín và rụng trứng ở cá chịu tác động của cả các nhân tố bên trong (hormon) lẫn những yếu tố bên ngoài Trong điều kiện tự nhiên, trứng chỉ chín và rụng khi có các điều kiện môi trường thích hợp như nhiệt

độ, quang kì, dòng chảy, nền đáy, pheromon… Các nhân tố môi trường này được thu nhận thông qua các giác quan như da, mang, cơ quan đường bên và tác động đến thần kinh trung ương Dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, vùng dưới đồi tiết ra Gonadotrophin Releasing hormone (GnRH), kích thích tuyến yên tiết ra

Trang 20

kích dục tố Luteinizing hormone (LH) Hormone này theo máu đến kích thích nang

trứng hình thành các steroid C21

, nhân tố quan trọng gây sự chín và rụng trứng [23]

Đối với hầu hết các steroid gây chín, người ta thấy tác dụng của chúng luôn thông qua sự kích thích tổng hợp một ARN đặc hiệu dẫn đến tổng hợp một loại protein đặc hiệu Quá trình hoạt động của steroid diễn ra như sau: steroid và phức

hợp steroid gắn với một thụ thể, đi qua màng nhân và liên kết với một khu vực nhất định của nhiễm sắc thể, dẫn đến sự hoạt hóa tổng hợp một loại mARN đặc hiệu,

cuối cùng là mARN đi ra tế bào chất để làm khuôn cho quá trình tổng hợp protein Tuy nhiên, trong trường hợp noãn bào đã thành thục hoàn toàn thì các nhiễm sắc thể trong nhân đang tồn tại ở kì prophase 1 của giảm phân, nghĩa là đang ở trạng thái đậm đặc và không có hoạt tính tổng hợp ARN Vì thế, đối tượng tác dụng cùa steroid gây chín không thể là các nhiễm sắc thể hay đúng hơn là các ADN trong nhân đang giảm phân mà chỉ có thể là các phân tử acid nucleic ngoài nhiễm sắc thể

và do đó không tham gia vào quá trình giảm phân Các acid nucleic này nằm trên bề

mặt noãn bào vì steroid gây chín chỉ có tác dụng khi tiếp xúc với bề mặt noãn bào

và không có tác dụng gì khi được tiêm vào bên trong (Smith và Ecker, 1969a; Reynhout và Smith, 1974; Nagahama et al., 1994 trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) Sản phẩm của chúng là một protein đặc hiệu được gọi là MPF (Maturation promoting factor – yếu tố gây chín) có hoạt tính sinh học lên màng nhân noãn bào (hay thường được gọi là túi mầm – germinal vesical) gây ra sự tan túi mầm [1]

Theo Nguyễn Tường Anh (1999) [1], noãn bào chỉ có thể chín và rụng một cách hoàn hảo khi nó đã thành thục hoàn toàn (cuối giai đoạn IV), về mặt tế bào học thì đó là lúc túi mầm đã nằm sát biên, ngay dưới micropyle, đường ống mà theo đó tinh trùng xâm nhập vào trứng Sự chín của noãn bào bao gồm sự tan biến của túi

mầm, sự tiếp tục của giảm phân I, thể cực I được đẩy ra ngoài và ngừng lại ở giảm

Trang 21

phân II cho đến khi tinh trùng xâm nhập vào hoặc được kích thích bằng một tác nhân khác

Quá trình rụng trứng là sự thoát khỏi nang trứng của noãn bào vì vậy phải có

một quá trình chuẩn bị nào đó mang tính then chốt trước khi rụng trứng Tiếp theo

sự chín hoặc trong thời gian chín, nhiều mối liên kết giữa các vi lông (microvillar)

giữa noãn bào và nang trứng bị đứt ra gọi là sự tách nang (follicular separation) Kế

tiếp sự tách nang, một lỗ hổng rất rõ được hình thành trên nang trứng, qua đó noãn bào thoát ra ngoài (sự vỡ - follicular rupture) Sự phóng thích noãn bào rõ ràng không phải là một quá trình thụ động, trong đó nang trứng bị suy biến đơn thuần, cho phép noãn bào được tự do đối với nang trứng khi bị đẩy ra bởi sự co thắt tích

cực của nang trứng Điều này có thể nói lên rằng có một khu vực đặc biệt của nang

trứng trở nên yếu hơn và điều này liên quan đến sự hình thành lỗ hổng [1]

Quá trình rụng trứng chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn và chịu sự chi phối

của nhiều yếu tố môi trường khác nhau, đặc biệt là nhiệt độ Khi quá trình rụng

trứng xảy ra, hoạt động nội tiết được tăng cường và có sự tham gia của nhiều hormone vào quá trình này [1]

Dưới sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương, hai loại kích dục tố là FSH

và LH làm cho lớp trong cùng của tế bào nang trứng thành thục thêm một bước, thay đổi hình thái và tiết ra noãn tố folliculin Noãn tố này thẩm thấu từ trong ra ngoài tế bào để kích thích bạch cầu tiết ra enzyme phân hủy màng follicul tạo thành

chất dịch Chất dịch này thấm ngược lại vào tế bào nang trứng làm các tế bào nang gia tăng nhanh về kích thước Quá trình này cứ diễn ra như vậy đến một thời điểm nào đó, màng folicul có độ bền kém nhất và bị phá vỡ Trứng thoát khỏi màng follicul rơi vào trong xoang buồng trứng, kết thúc quá trình rụng trứng (Nguyễn Tường Anh, 1999 trích qua Nguyễn Huấn, 2007) [10]

Trong tự nhiên, sự chín của noãn bào thường xảy ra trước quá trình rụng

trứng Nhưng nghiên cứu trên cá vược vàng, loài mà sự chín và rụng trứng đều xảy

Trang 22

ra được trong điều kiện in vitro, cho thấy noãn bào đầu vụ sinh sản có túi mầm nằm

ở trung tâm vẫn có thể rụng khi được kích thích bằng 17,20-P nồng độ cao (Goetz

và Theofan, 1979 trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) [1] Những noãn bào này rồi

sẽ chết và không có khả năng thụ tinh Tuy nhiên, nếu kích thích 17,20 P với nồng

độ thấp hơn thì sự di chuyển và tan biến túi mầm có thể diễn ra trước sự rụng trứng Như vậy trong quá trình sinh sản tự nhiên, sự chín và rụng trứng ở cá tuy xảy ra đồng thời nhưng đây là hai sự kiện độc lập nhau (Nguyễn Tường Anh, 1990 trích

bởi Nguyễn Thị Yến Linh, 2005) [15]

Như vậy trong quá trình phát triển của noãn bào đến sự chín và rụng trứng có

mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhân tố môi trường với sự hoạt động nội tiết của trục não bộ - tuyến yên – nang trứng Trong điều kiện ao nuôi không đáp ứng được

những nhân tố môi trường thích hợp thì cần bổ sung các chất kích thích sinh sản để đảm bảo tính liên tục trong quá trình phát triển của noãn bào, chín và rụng trứng (hình 1.4)

Từ những thập kỷ 30 của thế kỷ 19, người ta đã biết dùng dịch chiết từ não thùy để tiêm cho cá sinh sản (Housay,1930; Von Ihering,1937; Gherbisky,1938; trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) [1]

Người ta thường dùng não thùy cá chép, mè, trôi, trắm, trê… đã thành thục và còn tươi sống mà tốt nhất là dùng não thùy cá chép vì cá chép thành thục quanh năm Nếu cá chết thì sau vài ba giờ thì hoạt tính kích dục tố chỉ còn khoảng 50% (Marcel,1980) Ở cá chép cùng thể trọng và độ thành thục thì não thùy cá chép cái

có hoạt tính GTH II cao gấp 2 lần so với cá chép đực (Blanc và Abraham, 1968) Ở

những loài cá họ chép và cá nheo, tức những loại cá có thể tự sinh sản trong nước tĩnh có hoạt tính kích dục tố não thùy cao gấp 1,5 đến 2 lần so với những loại cá có

thể thành thục nhưng không thể tự đẻ được như cá mè, cá trôi, cá trắm, cá tra…

Trang 23

Trong đó, não thùy cá chép là chế phẩm kích dục tố mạnh nhất cho nhiều loài cá kể

cả những đối tượng cá khác họ và cá biển [1]

Việc tiêm não thùy cho cá đẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chất lượng não thùy,

mức độ thành thục của cá khi tiêm, nhiệt độ và các yếu tố lí hóa của môi trường nước khi cho cá đẻ, trình độ và kinh nghiệm của người dùng Hiện nay, người ta thường áp dụng phương pháp tiêm hai lần khi cho cá đẻ đầu vụ: liều thứ nhất là liều

sơ bộ hay khởi động, lượng dùng khoảng 0,5mg/kg cá cái, hoặc bằng 1/10 liều thứ hai Liều thứ nhất có tác dụng đưa nhân noãn bào (túi mầm) di chuyển ra ngoại biên, sát noãn khổng Tình trạng túi mầm nằm sát biên là tình trạng trứng đã thành

thục hoàn toàn, sẵn sàng chín và rụng khi tiêm liều hai Liều thứ hai, nếu là não cá chép chuẩn thì tiêm khoảng 3mg/kg cá cái Đối với cá có hệ số thành thục càng lớn thì liều tiêm càng cao [1]

1.5.2 HCG ( Human chorionic gonadotropin)

HCG được Zodec và Aschheim phát hiện từ năm 1927 trong nước tiểu phụ nữ

có thai HCG có tác dụng duy trì thể vàng sau khi trứng rụng do LH HCG là loại kích dục tố có hiệu quả cho nhiều loại cá Ngoài các loài cá mè, cá trê, HCG còn gây rụng trứng cho các loài cá khác ở nước ta như cá tra, cá basa, cá bống, cá vàng… Ở nước ngoài, HCG còn được dùng cho cá chình (Yamamoto và Nagahama1973), cá nheo mang túi Ấn Độ (Sundararaj và Goswami, 1966) cá vược

vằn (Stevens, 1967), cá sóc (Hyrose, 1972), cá bơn (Zenzerov, 1982), cá Acerina

cernua (Barannikova et al., 1975), cá bống tượng (Oliver et al., 1974), cá chạch (Kabak, 1968), cá Buffalo của Mỹ (Burlakov et al., 1982) và thậm chí ngay cả nước

tiểu phụ nữ tươi cũng có tác dụng gây rụng trứng ở cá Pecar fluviatilis (Morozova,

1936) (trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999)[1]

gonadotropine)

Huyết thanh ngựa chửa (HTNC) được Cole và Hart tìm ra năm 1930 Kích dục

tố này do nội mạc dạ con tiết ra, đạt cực đại trong khoảng ngày thứ 50-80 của thai

kỳ Tỷ lệ FSH/LH cao, từ 2/1 đến 12/1 Huyết thanh ngựa chửa được điều chế trực

Trang 24

tiếp sau khi lấy máu của ngựa chửa, dùng để gây sự phát triển đồng thời nhiều nang

trứng trong vật nuôi và là cơ sở để gây đa thai,… [1]

HTCN được dùng đề gây rụng trứng ở các loài cá như cá nheo mang túi, cá

Pecar fluviatilis, cá Aceria cernua, cá trê… [1]

Người ta cũng dùng HTNC phối hợp với HCG hay TSH (thyrotropin) để nâng cao hiệu quả gây rụng trứng cho cá Ví dụ: dùng 500 UI HCG + 200 đvc HTNC cho

1 kg cá cái để kích thích cá mè trắng (Nguyễn Tường Anh, 1985 trích bởi Nguyễn Tường Anh, 1999) hoặc 700 đvc + 3 IU TSH làm liều sơ bộ cho 1kg cá cái trắm cỏ (Burlakov et al., 1988 trích bởi Nguyễn Tường Anh,1999… [1]

dopamin antagonist)

Các chất GnRH-A chính là các chất tổng hợp có thành phần các amino axit (a.a) trên cơ bản giống với GnRH-n (GnRH tự nhiên), chỉ khác là trên chuỗi peptit

có một số mắt xích a.a thay đổi nên gọi là chất tương tự (A = analog) Các chất tổng

hợp này thường chỉ có 9 axit amin Do thay thế 1 số vị trí của các axit min mà phân

tử GnRH-A ít bị phân giải bởi các enzim nên hoạt tính được nâng lên hàng chục đến hàng trăm lần so với các hợp chất tự nhiên [1]

Để kích thích sinh sản cá, người ta thường dùng 3 loại GnRH-A là: 2 loại mGnRH (chất tương tự GnRH của động vật có vú, m = mammalian) gồm LH-RH-A

hoặc (D-Ala6, Pro9 Net) – mGnRH-A (Trung Quốc) và Buserelin (Đức) hoặc Ser(t-Bu)6, Pro9 Net) với tên biệt dược là Suprefact nasal, loại thứ ba là sGnRH-A (chất tương tự cá hồi) và cũng là loại mạnh nhất đối với cá vì chúng có ái lực thụ

[D-thể cao nhất Trong đó, Ovaprim là hỗn hợp chứa 20μg sGnRH-A và 10mg domperidon (DOM) trong 1ml propylen glycol là chế phẩm dành riêng để kích thích

cá Mỗi ml Ovaprim có thể dùng cho 1kg cá cái thành thục [1]

Dopamin là loại hormone thuộc nhóm GRIF (yếu tố ức chế sự kích dục tố), nó

ức chế tiết kích dục tố tự phát và ức chế sự tiết kích dục tố dưới ảnh hưởng của GnRH Vì vậy, khi tiêm GnRH phải tiêm thêm DOM là một antagonist của DA (chất kháng DA – cạnh tranh thụ thể với DA) Đây là phương pháp cho cá đẻ của Lin Pe [1]

Trang 25

Ngoài chất kháng dopamin là domperidon có thể dùng chất khác như pimogide, reserpin, spiperon, haloperiod, metochoramin

Tất cả các GnRH-A đều gây kích thích phóng kích dục tố ở cá Không có loại GnRHa nào lại không gây rụng trứng ở cá Tính đặc hiệu theo loài chỉ thể hiện ở

mức hoạt tính Ưu điểm của GnRH-A là giá thành rẻ, hoạt tính ổn định nếu được bào chế và bảo quản tốt, không gây phản ứng miễn dịch tuy nhiên thời gian gây

hiệu ứng lâu hơn các kích dục tố khác, thời gian tái thành thục có thể dài hơn đối

với những loài cá đẻ nhiều lần trong năm và não thùy cá bố mẹ sau khi đẻ nhờ kích thích bằng GnRH-A không thì không thể dùng làm chế phẩm kích dục cho cá [1] Ngoài kích thích sự rụng trứng ở cá, GnRH-A còn có được tiêm vào cơ thể cá vào những giai đoạn khác nhau để thúc đẩy sự tạo noãn hoàng, sự thành thục và kích thích cho chúng đẻ đồng loạt Trong trường hợp này, GnRH-A được phóng thích từ từ và có tác dụng lâu bền nhờ được trộn với những chất tan chậm hoặc phân

giải từ từ như cholesterone hoặc celluloza (Nguyễn Tường Anh, 1999) [1]

1.6 Vấn đề sử dụng kích thích tố để kích thích cá sinh sản

Trong thực tế khi kích thích cá sinh sản có rất nhiều tác giả làm theo nhiều phương pháp với các loại kích dục tố và liều lượng khác nhau Việc tiêm kích dục

tố đều dựa vào những điều kiện cụ thể như: chất lượng hoạt tính của từng loại kích

dục tố, tình trạng thành thục của cá bố mẹ, nhiệt độ nước, các điều kiện khác của môi trường, trình độ của kĩ thuật viên… (Nguyễn Tường Anh, 1999) [1]

Việc sử dụng loại kích dục tố có vai trò quan trọng trong sinh sản nhân tạo cá Đối với cá tra, người ta thường dùng não thùy thể và HCG cho liều sơ bộ, không dùng LH-RHa Sự rụng trứng ở cá tra và basa chủ yếu được kích thích bởi HCG

hoặc phối hợp HCG và não thùy (Phạm Văn Khánh, 1996) [12] Đối với cá chép có

thể kích thích sự rụng trứng với các loại kích dục tố: não thùy 4 -6 mg/kg cá cái

hoặc 20 – 25 µg LH-RHa + 10mg DOM/kg cá cái (Nguyễn Văn Kiểm, 2004 trích qua Nguyễn Huấn, 2007 [10]) hoặc hỗn hợp 10mg motilium + 4mg 17,20P (Nguyễn

Thị Yến Linh, 2005 [15]) Đối với cá trắm cỏ có thể kích thích bằng 17,20P - 4mg/kg, P – 20mg/kg, DOCA – 10mg/kg; cá trôi Ấn Độ: 17,20P – 3mg/kg, P –

Trang 26

15mg/kg, DOCA – 10mg/kg (Lê Văn Dân, 2010 [4]) Riêng cá rô đồng, cá mè vinh,

mè hoa, cá he…, các nhà sản xuất chỉ dùng phép tiêm 1 lần với các loại kích dục tố (não thùy hoặc LH-RHa kết hợp với DOM) Cá trê và cá sặc rằn cũng rụng trứng khi kích thích bằng 1 liều tiêm HCG hoặc LH-RHa kết hợp với DOM [10]

Song song với việc xác định loại kích dục tố phù hợp thì liều lượng kích dục

tố cũng là một vấn đề đáng lưu tâm Kết quả kích thích sinh sản nhân tạo cá trê

trắng đã ghi nhận: đối với HCG ở liều 1500 UI/kg không gây rụng trứng cá cái, trong khi đó ở liều 2000 UI/kg và 2500 UI/kg cho kết quả rụng trứng tương đương nhau Tuy nhiên, không phải lúc nào sử dụng liều cao cũng mang lại kết quả tốt cho

sự rụng trứng của cá Theo Nguyễn Tường Anh (1999) [1], Ngày nay người ta tránh dùng não thùy ở liều quá cao, đặc biệt là liều tiêm khởi động Ở một chừng mực

nhất định, việc tăng liều khi tiêm quyết định có vai trò rút ngắn thời gian hiệu ứng Nhưng liều lượng quá cao đưa vào cơ thể cá một lượng lớn hormone tuyến yên, có

thể dẫn đến rối loạn tình trạng sinh lý bình thường, gây chết hoặc giảm chất lượng

của trứng

Ngoài ra, số lần tiêm cũng có vai trò trong việc kích thích rụng trứng ở cá

Một số loài cá như cá tra hoặc basa cần 2 – 4 liều dẫn Đối với cá chép trứng đều có

thể rụng bằng phương pháp tiêm 1 hoặc 2 lần Các loài cá như rô đồng, mè vinh, mè hoa, cá he, cá trê, sặc rằn thường chỉ dùng phép tiêm 1 lần Điều này có thể làm

giảm bớt khối lượng lao động và tỉ lệ thương vong của cá bố mẹ (Chung Lân, 1969 [14]) Trong trường hợp những loài cá cần từ 2 lần tiêm trở lên, nhất là trong thời kì đầu vụ mùa sinh sản không phải tất cả các noãn bào đều thành thục hoàn toàn [25],

liều dẫn có vai trò đặc biệt quan trọng cho việc di chuyển chuyển của túi mầm ra biên, tức chuyển sang tình trạng thành thục hoàn toàn (Nguyễn Tường Anh, 1999 [1]) Liều dẫn thường chiếm từ 10 – 15% tổng liều (Chung Lân, 1969 [14])

Tóm lại, sử dụng kích dục tố đúng loại, đúng liều lượng và đúng với thứ tự tác

dụng của kích dục tố có vai trò rất quan trọng và quyết định sự thành công trong

việc kích thích sinh sản nhân tạo cá

Trang 27

1.7 Một số đề tài nghiên cứu liên quan

Vì cá chạch lửa là đối tượng mới, trước nay có rất ít tài liệu và công trình nghiên cứu về loài này được công bố và hầu hết chỉ đề cập đến các đặc điểm hình thái, phân loại và phân bố

Những năm gần đây, nghề nuôi cá cảnh phát triển, vì thế vấn đề sinh sản các loài cá có tiềm năng làm cảnh mới được chú ý đến Năm 2009, Nguyễn Xuân Đồng công bố công trình nghiên cứu “Nghiên cứu đặc điểm sinh học một số loài cá có

kh ả năng thuần hóa để làm cá cảnh ở thủy vực nội địa các tỉnh Nam Bộ”, trong đó

có đề câp đến khả năng thuần hóa cá chạch lửa để làm cá cảnh.[8]

Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá chạch

lửa được công bố Tuy nhiên đã có vài loài cá họ hàng của cá chạch lửa đươc nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công

Năm 2007, Nguyễn Quốc Đạt công bố công trình nghiên cứu “Thử nghiệm sản

xu ất giống nhân tạo cá chạch sông (Macgnonathus siamemsis)” Cá chạch sông là

loài có tuổi thành thục khá sớm (0+

), chiều dài thành thục đầu tiên của cá đực là 13,3 ±0,17 cm và cá cái là 14,47 ± 2,2 cm Trong tự nhiên, cá bắt đầu thành thục từ tháng 3 và sẵn sàng sinh sản từ tháng 5 đến tháng 7, đến tháng 8 tuyến sinh dục cá cái bắt đầu thoái hóa Nghiên cứu mô học buồng trứng cho thấy, tế bào trứng có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, điển hình của loài cá đẻ nhiều năm Công trình nghiên cứu sử dụng 2 loại kích dục tố là HCG và LRHa + DOM, trong đó cả HCG

và LRHa đều có tác dụng gây rụng trứng với liều lượng HCG là 1500 UI/kg cá cái, LRHa là 50 µg/kg cá cái, phương pháp tiêm 2 lần trong điều kiện nhiệt độ nước là

28 – 29oC, sức sinh sản tuyệt đối đạt 2.223±932 hạt/cá thể, sức sinh sản tương đối

thực tế 70±24 hạt/g cá cái, thời gian hiệu ứng từ 10 đến 10,5 giờ, thời gian phát triển phôi là 142 giờ Đường kính trứng dao động 1,05±0,1 mm Cá bột sau khi tiêu

hết noãn hoàng có tập tính sống bám vào giá thể hoặc lẩn trốn trong các khe rãnh Giá thể thích hợp nhất là xơ ni lông Mật độ ương cho hiệu quả cao nhất là 100 con/m2 [6]

Năm 2009, Nguyễn Văn Triều công bố công trình “Nghiên cứu đặc điểm sinh

h ọc và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá chạch lấu (Mastacembelus armatus

Trang 28

Lacepade, 1800)” Kết quả nghiên cứu cho thấy mùa vụ sinh sản của cá chạch lấu là mùa mưa, từ tháng 5 đến tháng 8 hằng năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 6 và tháng 7 Nghiên cứu cho thấy, HCG với liều lượng 2500UI/kg cá cái với phương pháp tiêm 2 lần (500 UI/kg cho liều dẫn và 2000 UI/kg cho liều quyết định) cho kết

quả rụng trứng cao, đạt đến 100%, tỉ lệ thụ tinh 73,3%, tỉ lệ nở 71,3%, sức sinh sản 21.189±1309 trứng/kg cá cái Ương cá bột bằng moina và trùn chỉ ở mật độ 2-2,5 con/lít cho kết quả tăng trưởng tốt (đạt 63,7 – 65,6 mm sau 45 ngày ương) và tỉ lệ

sống cao (63,2 – 66,5%) [18]

Năm 2010, Đặng Văn Trường và Phạm Văn Khánh công bố công trình

“Nghiên c ứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống cá chạch lấu

(Mastacembelus favus Hora, 1923)” Kết quả cho thấy, cá chạch lấu bố mẹ thành

thục tốt trong điều kiên nhận tạo cả trong ao lẫn trong bể xi măng Cá bắt đầu thành

thục sau khi nuôi vỗ khoảng 4 – 5 tháng, mùa vụ sinh sản bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 và tập trung từ tháng 6 đến tháng 8 Các chất kích thích sinh sản như não thùy thể cá chép, HCG, LH-RHa và DOM đều gây rụng trứng ở cá chạch lấu Tuy nhiên HCG có tác dụng tốt nhất với tổng liều tiêm 5.300 UI/kg cá cái với 3 lần tiêm đạt tỉ lệ rụng trứng, thụ tinh và nở đều khá cao và ổn định Trứng cá chạch lấu ấp trong điều kiện nhiệt độ 28 – 30 o

C sẽ nở sau 46 – 55 giờ Thức ăn thích hợp để ương cá chạch lấu là thức ăn tươi sống (moina, trùn chỉ, cá tạp xay nhuyễn) và mật

độ thích hợp nhất là 500 con/m3 với tỉ lệ sống đạt 82% ở 30 ngày tuổi Trong quá trình ương, cá dễ bị nhiễm kí sinh trùng, có thể sử dụng thuốc tím với nồng độ 4ppm + 1% muối ăn tắm cho cá để trị các bệnh này [19]

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu sinh học sinh sản của cá chạch lá

tre (Matacembelus aculeatus) của Huỳnh Nha Trang, 2006 (Đại học Cần Thơ); nghiên cứu sinh sản nhân tạo và sản xuất giống cá chạch lấu (Matacembelus favus)

của Dương Nhựt Long và cộng sự (Đại học Cần Thơ), Nguyễn Thành Trung (Trường Cao đẳng Kinh tế thành phố Cần Thơ)

Trang 29

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng nghiên cứu: Cá chạch lửa (Mastacembelus erythrotaenia Bleeker,

1870)

Cá chạch lửa dùng trong nghiên cứu được thu thập từ tự nhiên

Thời gian thực hiện đề tài: 17 tháng, từ tháng 11/2010 đến tháng 3/2012 Địa điểm thực hiện đề tài: Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản nước ngọt Nam Bộ, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang

Tập hợp và thuần dưỡng đàn cá bố mẹ: nghiên cứu môi trường và các chỉ tiêu

thủy hóa để thuần dưỡng cá bố mẹ

Nuôi vỗ cá bố mẹ: nghiên cứu môi trường nuôi vỗ và loại thức ăn thích hợp Kích thích sinh sản nhân tạo: xác định loại và liều lượng kích dục tố thích hợp

để kích thích sinh sản nhân tạo cá chạch lửa

Ương nuôi cá bột lên cá hương và cá giống: xác định môi trường, loại thức ăn

và mật độ ương nuôi thích hợp

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Cá chạch lửa có nguồn gốc tự nhiên, độ tuổi 1-2 tuổi, trọng lượng thân từ 100g

trở lên được thuần dưỡng trong bể xi măng Bể nuôi có thể tích 10-15m3, độ sâu khoảng 0,6-1m tuỳ sự thích ứng của cá Trong bể đặt các giá thể cho cá trú ẩn, sục khí, xi phông đáy mỗi ngày và thay nước định kì 7 ngày với 60-70% thể tích bể (hình 2.1)

Thức ăn cho cá là thức ăn tươi sống (trùn chỉ, cá, ốc, tép), khẩu phần 3-5%, ngày cho ăn 1-2 lần

Trang 30

Theo dõi và ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu thuỷ hoá môi trường (nhiệt độ, độ pH, DO) mỗi ngày hai lần vào lúc 6 giờ sáng và 2 giờ chiều

Hình 2.1: B ể xi măng thuần dưỡng và nuôi vỗ cá chạch lửa

( Ống nhựa để làm chỗ trú ẩn cho cá)

Sau khi nuôi dưỡng khoảng 1 tháng, tiến hành chọn cá bố mẹ nuôi vỗ trong bể

Cá đạt tiêu chuẩn có trọng lượng thân trên 100g, khoẻ mạnh, không dị tật dị hình

Bể nuôi có thể tích 10-15m3, độ sâu 0,6-1m Cá đực cái nuôi chung với tỉ lệ 1/1, mật

độ 10-15 con/m3, sục khí, xi phông đáy mỗi ngày và thay nước định kì 7 ngày với 60-70% thể tích bể

Cá nuôi vỗ được 2 tháng, định kì kiểm tra đánh giá mức độ thành thục tuyến sinh dục của cá bố mẹ bằng phương pháp xem ngoại hình (độ lớn của bụng, kích thước, hình dạng, màu sắc lỗ sinh dục

Trang 31

Đánh giá và ghi nhận cụ thể các chỉ tiêu tăng trưởng

 Độ béo Fulton

3

*100

W Q

Chọn cá bố mẹ cho sinh sản dựa vào các chỉ tiêu ngoại hình như: cá cái có bụng

to, mềm; lỗ sinh dục to, hơi lồi, có màu hồng; cá đực khi vuốt hai bên thành bụng

thấy có tinh chảy ra

Phương pháp sinh sản nhân tạo:

 Vuốt khô: vuốt nhẹ bụng cá cái theo hướng từ đầu xuống bụng, dùng chậu

hứng trứng, lưu ý chậu phải khô ráo; vuốt tinh cá đực, dùng lông cánh gia

cầm hứng tinh cá đực và trộn vào chậu chứa trứng, cho vào 1 ít nước, dùng lông cánh gia cầm khuấy nhẹ để quá trình thụ tinh diễn ra

Loại kích dục tố và liều lượng sử dụng:

 HCG (Human Chorionic Gonadotropin): liều tổng cộng với cá cái là 5000 UI/kg

Kích dục tố được tiêm theo phương pháp tiêm sơ bộ và quyết định Các liều dẫn

và liều sơ bộ cách nhau 24 giờ, liều quyết định cách liều sơ bộ 12 giờ Cá đực chỉ tiêm 1 lần với liều lượng bằng 1/4- 1/3 liều quyết định của cá cái, cùng thời điểm tiêm liều quyết định cho cá cái Vị trí tiêm: cơ gốc vây lưng

Trứng được trải trên giá thể lưới, ấp trong khay có tạo dòng nước chảy nhẹ để cung cấp oxy cho trứng

Trang 32

thể cái, lượng trứng rụng sẽ được cân bằng cân điện tử Sau đó, lượng trứng này được lấy ngẫu nhiên 3 mẫu, mỗi mẫu có khối lượng 1g Đếm số lượng

trứng trong mỗi mẫu và tính trung bình Biết được số lượng trứng trung bình trong 1g mẫu sẽ tính được số lượng trứng thu được cho mỗi cá thể

 Sức sinh sản tương đối thực tế:

2.4.4 Ương cá bột lên cá hương và cá giống

Quá trình ương cá bột được thực hiện trong bể kính với mật độ 1 con/lít, bể thay nước hàng ngày, sục khí và đặt các giá thể xơ ni lông và ống nhựa cho cá ẩn nấp Trong quá trình ương, cá bột sau khi hết noãn hoàng được cho ăn thỏa mãn với các

loại thức ăn tươi sống: moina, trùn chỉ

Theo dõi tỉ lệ sống định kì 15 ngày

Theo dõi tăng trưởng chiều dài và khối lượng cá định kì 15 ngày

Trang 33

Theo dõi các yếu tố môi trường trong bể ương hàng ngày vào lúc 6 giờ sáng và 2

giờ chiều

Dùng Excel và SPSS tính toán các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị tối thiểu, giá trị tối đa và đánh giá sự khác biệt giữa các giá trị

Trang 34

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Cá chạch lửa được bố trí trong các bể xi măng, sục khí, xi phông đáy mỗi ngày, thay nước định kì 7 ngày, mỗi ngày 60-70% thể tích nước trong bể Trong quá trình thuần dưỡng và nuôi vỗ, các chỉ tiêu chất lượng môi trường nước được theo dõi mỗi ngày vào lúc 6 giờ và 14 giờ Các thông số môi trường bể nuôi được tóm tắt

Trang 35

Biểu đồ 3.1: Nhiệt độ nước bể nuôi cá chạch lửa

Biểu đồ 3.2: Độ pH nước bể nuôi cá chạch lửa

Biểu đồ 3.3: Hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước bể nuôi cá chạch lửa

Kết quả bảng 3.1 cho thấy, nhiệt độ trung bình các bể vào buổi sáng nằm trong khoảng 28,2 – 28,3 o

C; chiều 30,1 – 30,4oC; độ pH buổi sáng nằm trong khoảng 8,14 – 8,63; chiều 8,53 – 8,96; hàm lượng oxy buổi sáng dao động khoảng 1,49 – 1,94 mg/l; buổi chiều 2,56 – 3,36 mg/l Nhìn chung, các yếu tố môi trường đều nằm trong khoảng cho phép đối với sự sinh trưởng và phát triển của cá

Trang 36

3.2 Kết quả thu thập và thuần dưỡng cá chạch lửa

Do chạch lửa là loài rất hiếm gặp trong tự nhiên nên qua 4 đợt thu thập kéo dài từ 22/9/2010 đến 5/3/2011 chỉ thu được 107 cá thể với các kích cỡ khác nhau Điều này đã gây không ít khó khăn cho quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu vì không tập hợp đủ số lượng cá bố mẹ cho các nghiệm thức kích thích sinh sản nhân

tiến hành thu mua để kịp mùa vụ sinh sản

3.3 Kết quả nuôi vỗ cá chạch lửa

3.3.1 Kết quả kiểm tra thành thục

Sau khi tập hợp và thuần dưỡng đến tháng 01/2011, chọn cá chuyển sang nuôi

vỗ thành thục Số lượng cá được chọn đưa vào nuôi vỗ ban đầu là 15 con có trọng lượng trên 100 gam/con, cá khỏe mạnh, không bị dị tật, dị hình

Sau thời gian nuôi vỗ 2 tháng, định kỳ mỗi tháng kiểm tra thành thục và cân

đo cá một lần Do số lượng cá đạt yêu cầu để đưa vào nuôi vỗ quá ít vì vậy không

thể tiến hành giải phẫu để đánh giá độ thành thục Kết quả kiểm tra thành thục cá

chạch lửa bố mẹ chủ yếu dựa vào các yếu tố ngoại hình của cá như độ lớn của bụng,

Trang 37

hình dạng và màu sắc của lỗ sinh dục (hình 3.1) Kết quả cân đo và kiểm tra thành

Số cá có dấu hiệu

27/05/2011 8 7 2 1 2 cá cái có dấu hiệu thành thục,

Trang 38

Tháng kiểm tra Số cá đực

(con)

Số con có dấu hiệu thành thục Tỷ lệ thành thục (%)

Trang 39

Biểu đồ 3.4: Tỉ lệ cá có dấu hiệu thành thục qua các tháng

Kết quả kiểm tra thành thục cá chạch lửa bố mẹ qua các tháng (bảng 3.3,

bảng 3.4 và biểu đồ 3.4) cho thấy tỉ lệ thành thục của cá tăng dần qua các tháng Trong đó, cá bắt đầu thành thục vào tháng 5 với cá đực có tinh là 1 con (tỉ lệ 14,2%), cá cái có dấu hiệu thành thục là 2 con (25%) Số lượng cá đực và cái có dấu

hiệu thành thục đều tăng dần qua các lần kiểm tra tiếp theo và đạt tỉ lệ thành thục cao nhất vào cuối tháng 9 ở cá đực với 7/7 cá thể đưa vào nuôi vỗ đều có tinh (tỉ lệ 100%) và cuối tháng 10 ở cá cái với 8/8 cá thể đưa vào nuôi vỗ đều có dấu hiệu thành thục (tỉ lệ 100%) Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đồng (2009) rằng mùa vụ sinh sản của cá chạch lửa bắt đầu vào đầu mùa mưa, cao điểm vào khoảng tháng 7 đến tháng 9 và tương tự với một số loài cá khác ở Đồng

bằng sông Cửu Long cũng sinh sản vào mùa mưa như cá chạch lấu (Đặng Văn Trường và Phạm Văn Khánh, 2010) Nguyên nhân là do sự chuyển mùa từ mùa khô sang mùa mưa Mưa xuống làm diện tích thủy vực tăng, lượng thức ăn tự nhiên phong phú kết hợp với sự thay đổi một số yếu tố môi trường như nhiệt độ, dòng

chảy làm cho quá trình trao đổi chất ở cá cũng được đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận

lợi cho sự thành thục ở cá Thời điểm này cũng được đặc trưng bởi hàm lượng dinh dưỡng trong nước cao tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tảo, các loài động vật phù du, đây là nguồn thức ăn tự nhiên rất cần cho sự phát triển của các loại

Trang 40

3.3.2 Kết quả kiểm tra độ béo Fulton

Đồng thời với việc quan sát ngoại hình để đánh giá sự thành thục ở cá, nhóm nghiên cứu còn tiến hành cân đo cá để đánh giá sự thay đổi về tương quan trọng lượng so với độ dài thông qua chỉ số độ béo Fulton (bảng 3.5) Theo Dương Tuấn (1981) [20], độ béo của cá biến đổi theo từng thời điểm trong năm và có tương quan

mật thiết với hệ số thành thục, một trong những chỉ số để dự đoán mùa sinh sản

Bảng 3.5: Kết quả kiểm tra độ béo Fulton cá chạch lửa bố mẹ

11/2010

Tháng 1/2011

Tháng 3/2011

Tháng 5/2011

Tháng 7/2011

Tháng 9/2011

Biểu đồ 3.5: Độ béo Fulton cá chạch lửa bố mẹ qua các tháng

Kết quả kiểm tra cho thấy (biểu đồ 3.5), độ béo cá chạch lửa đã trưởng thành sinh sản giảm dần từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, sau đó tăng dần và đạt mức cao nhất ở tháng 9 Từ tháng 11/2010 đến tháng 1/2011, độ béo giảm khá nhanh Theo Nguyễn Xuân Đồng (2009) [8], mùa vụ sinh sản của cá chạch lửa

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm