L ịch sử nghiên cứu vấn đề Nhìn chung những vấn đề liên quan đến đề tài không ít, trong quá trình tìm hiểu chúng tôi đã hệ thống lại những bài viết trên tạp chí, luận văn, luận án có li
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM
ĐẶC ĐIỂM CẶP TRAO – ĐÁP
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HCM
ĐẶC ĐIỂM CẶP TRAO – ĐÁP
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 3 năm 2015
Trần Thị Bảo Phượng
Trang 4Luận văn được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn nhờ có sự chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tận tình của quý thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc đến PGS TS Nguyễn
Thị Hai đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp tôi định hướng, giải quyết những vấn đề
của đề tài và truyền cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Ngữ văn đã dìu dắt, truyền
dạy kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập
Xin gửi lời cảm ơn Phòng Sau đại học, Thư viện trường Đại học Sư phạm đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành và bảo vệ luận văn này
Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Ngữ văn trường THPT Lương Thế Vinh, anh chị
em đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi trong công tác suốt quá trình học tập
Sau cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến gia đình và những người thương yêu đã luôn dõi theo động viên tôi những lúc khó khăn
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Lí thuyết ngữ dụng học 9
1.1.1 Lí thuyết hành động ngôn từ 9
1.1.2 Lí thuyết hội thoại 14
1.1.3 Lí thuyết ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn 20
1.1.4 Lí thuyết lập luận 23
1.2 Một vài vấn đề về tâm lí học 24
1.2.1 Tâm lí học lứa tuổi 24
1.2.2 Tâm lí học xã hội 28
1.3 Một vài vấn đề về xã hội học 30
1.3.1 Vấn đề văn hóa 30
1.3.2 Vấn đề xã hội 31
Chương 2 KHẢO SÁT CẶP TRAO – ĐÁP BIỂU ĐẠT TÌNH CẢM L ỨA ĐÔI 32
2.1 Khảo sát cặp trao – đáp trong tương quan tuổi tác 33
2.1.1 Cặp trao – đáp của thanh thiếu niên 34
2.1.2 Cặp trao – đáp của những người trung niên và người già 51
2.1.3 Nhận xét chung 66
2.2 Khảo sát cặp trao – đáp trong tương quan mối quan hệ trước hôn nhân – hôn nhân – ngoài hôn nhân 66
2.2.1 Cặp trao – đáp của người yêu – người yêu (trước hôn nhân) 68
2.2.2 Cặp trao – đáp của vợ - chồng (hôn nhân) 71
Trang 62.3 Khảo sát cặp trao – đáp trong tương quan khởi đầu – đỉnh điểm – kết thúc
cuộc tình 81
2.3.1 Cặp trao – đáp khi khởi đầu một cuộc tình 81
2.3.2 Cặp trao – đáp khi đang ở đỉnh điểm của một cuộc tình 82
2.3.3 Cặp trao – đáp khi kết thúc một cuộc tình 84
2.3.4 Nhận xét chung 88
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CẶP TRAO – ĐÁP BIỂU ĐẠT TÌNH CẢM LỨA ĐÔI VỚI GÓC ĐỘ TÂM LÍ HỌC - VĂN HÓA XÃ HỘI HỌC 90
3.1 Đặc điểm cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi với góc độ tâm lí học 90
3.1.1 Xét từ góc độ tâm lí học lứa tuổi 90
3.1.2 Xét từ góc độ tâm lí học xã hội 96
3.1.3 Xét từ góc độ tâm lí nhân vật 100
3.1.4 Nhận xét chung 115
3.2 Đặc điểm cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi với phong cách tác giả và văn hóa xã hội 115
3.2.1 Cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh 116
3.2.2 Cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong tác phẩm của Gào 119
3.2.3 Nhận xét chung 122
K ẾT LUẬN 123
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 126
DANH M ỤC SÁCH ĐƯỢC KHẢO SÁT 130
PH Ụ LỤC
Trang 7Bảng 2.1 (Bảng thống kê lời trao - lời đáp) (Đơn vị: Số lượng (lượt) Tỉ lệ (%)) 32
Bảng 2.2 (Bảng thống kê các kiểu câu) (Đơn vị: Số lượng (câu); Tỉ lệ (%)) 33
Bảng 2.3 (Bảng thống kê các cặp trao – đáp trong tương quan tuổi tác) (Đơn
vị: Số lượng (câu); Tỉ lệ (%)) 33
Bảng 2.4 (Bảng: Quá trình suy nghĩ, biểu đạt tình cảm của nhân vật Nim thông
qua các phát ngôn) 47
Bảng 2.5 (Bảng: Quá trình suy nghĩ, biểu đạt tình cảm của nhân vật Devil
thông qua các phát ngôn) 48
Bảng 2.6 (Bảng miêu tả quá trình suy nghĩ, biểu đạt tình cảm của nhân vật
người chồng thông qua các phát ngôn) 60
Bảng 2.7 (Bảng miêu tả quá trình suy nghĩ, biểu đạt tình cảm của nhân vật
người vợ thông qua các phát ngôn) 63
Bảng 2.8 (Bảng thống kê cuộc hội thoại trong mối tương quan trước hôn nhân
– hôn nhân – ngoài hôn nhân) 67
Bảng 3.1 Các kiểu yêu thương (Sternberg, 1986) 97
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức là xu thế chủ đạo của ngôn ngữ
học hiện đại Ngôn ngữ học hướng tới hoạt động hành chức chắc chắn không thể không quan tâm đến chức năng giao tiếp Ngữ dụng học là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc sử dụng ngôn
ngữ trong quá trình giao tiếp Nó quan tâm đến chuyện vì sao việc truyền đạt nghĩa không chỉ phụ thuộc vào các kiến thức ngôn ngữ học như ngữ pháp, từ vựng của người nói và người nghe mà còn phụ thuộc vào ngữ cảnh của phát ngôn, hiểu biết về
vị thế của các nhân vật hữu quan và ý đồ giao tiếp của người nói,
Chính vì vậy, hội thoại với tư cách là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất được đặc
biệt quan tâm trong ngữ dụng học Trong quá trình hội thoại, người nói, người nghe thường trao lời và đáp lời nhau Những nghiên cứu về lời trao và lời đáp chưa nhiều, đặc biệt là lời trao – đáp bộc lộ tình cảm lứa đôi Vì thế, chúng tôi quyết định tìm hiểu
đặc điểm của cặp trao – đáp loại này thông qua đề tài: Đặc điểm cặp trao – đáp biểu
đạt tình cảm lứa đôi trong một số tác phẩm văn xuôi hiện đại từ 1975 đến nay
Do một vài khó khăn chủ quan lẫn khách quan nên chúng tôi chưa thể tiến hành
khảo sát thực tế để thu thập ngữ liệu từ nguồn “ngữ liệu sống” là lời ăn tiếng nói trong sinh hoạt hằng ngày Vì vậy, chúng tôi quyết định tìm hiểu trên cứ liệu là một số tác
phẩm văn xuôi hiện đại (từ 1975 đến nay)
Chúng tôi chọn ngữ liệu từ các tác phẩm văn xuôi hiện đại (từ 1975 đến nay) vì
thời điểm này xét về bối cảnh thời đại, cách nhìn nhận, đánh giá về việc bộc lộ tình
cảm lứa đôi có vẻ thoáng hơn trước Vì thế, việc phản ánh hiện thực này trong các tác
phẩm văn xuôi cũng có phần rõ rệt hơn Điều này giúp cho quá trình khảo sát dễ dàng, thu thập được nhiều ngữ liệu và việc so sánh đối chiếu cũng rõ hơn, nên kết quả khảo
sát cũng như những kết luận đưa ra sẽ chính xác và đáng tin cậy hơn
2 M ục đích nghiên cứu
Thông qua luận văn này chúng tôi mong muốn đạt được mục đích là đóng góp
một phần nghiên cứu nhỏ cho khoa học chuyên ngành ngôn ngữ Đồng thời, luận văn
Trang 9cũng có thể được dùng làm tài liệu tham khảo liên ngành như: xã hội học, tâm lí học, văn học
Theo đó, đề tài này thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Khảo sát đặc điểm của cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong một số tác
phẩm văn xuôi hiện đại (từ 1975 đến nay)
- Chỉ ra đặc điểm chung về cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong các tác
phẩm văn xuôi hiện đại (từ 1975 đến nay)
- Chỉ ra sự giống và khác nhau giữa lời trao và lời đáp của các nhóm đối tượng
và lí giải dưới góc nhìn của văn hóa, xã hội cũng như sự ảnh hưởng của phong cách tác
giả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi là “Đặc điểm cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi
trong m ột số tác phẩm văn xuôi hiện đại từ 1975 đến nay” vì thế, đối tượng nghiên
cứu của đề tài chính là “cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi”
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát của đề tài là những cuộc hội thoại trong một
số tác phẩm văn xuôi hiện đại từ 1975 đến nay
Theo đó chúng tôi sẽ khảo sát trong một vài tác phẩm văn xuôi (truyện ngắn, truyện dài, truyện vừa, tiểu thuyết) của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Nhật Ánh, hai tác
giả trẻ thuộc thế hệ 8X 9X đó là: Gào và Kawi; ngoài ra chúng tôi còn tiến hành khảo sát từ tuyển tập truyện ngắn TP HCM từ 1975-2005…
4 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn chung những vấn đề liên quan đến đề tài không ít, trong quá trình tìm hiểu chúng tôi đã hệ thống lại những bài viết trên tạp chí, luận văn, luận án có liên quan:
Có nhiều bài viết, bài nghiên cứu tìm hiểu về hội thoại nói chung và một số vấn
đề xoay quanh lí thuyết hội thoại như các kiểu phát ngôn: phát ngôn hỏi – phát ngôn
trả lời, hoặc các kiểu hành động như: hành động cảm thán, hành động cầu khiến, hành động bác bỏ… Có thể kể đến một vài bài nghiên cứu, bài viết sau (chúng tôi trình bày theo thứ tự thời gian):
Trang 101 Bùi Minh Yến
Trong hai bài viết này, tác giả bàn về cách xưng hô trong gia đình người Việt, tác
giả chú ý đến mối quan hệ giữa các vai giao tiếp trong hội thoại mà cụ thể là vợ -
chồng, anh - chị - em trong gia đình
2 Nguyễn Quý Thành, Vài nét về lời rao của người bán hàng rong, Tạp chí ngôn
ngữ số 3, 1990
3 Nguyễn Chí Hòa, Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương
4 Chu Thị Thanh Tâm, Hành vi mời và đối thoại mời, Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1995
5 Nguyễn Thị Hai, Hành động từ chối trong tiếng Việt hội thoại Tạp chí Ngôn
ngữ, Số 1, tr.1-12, 2001
Những luận văn ThS khảo sát về các hành động cảm ơn và cầu khiến trong tiếng
Việt, sau đó chỉ ra được các biểu thức cảm ơn và phân tích yếu tố lịch sự trong hành động cầu khiến ta có thể kể đến:
6 Bùi Thị Kim Tuyến, Hành động cầu khiến trong tiếng Việt, Luận văn ThS, 2005
7 Lê Thị Kim Đính, Lịch sự trong hành động cầu khiến tiếng Việt, Luận văn ThS,
2006
8 Nguyễn Thị Ngọc Hân, Đặc điểm lượt lời hồi đáp thuộc hành động hỏi trực tiếp
Từ việc phân tích các cuộc hội thoại trong giờ học của HS THCS bán công Phú
Thọ (các tiết học có nội dung bài thuộc kiểu bài lĩnh hội tri thức mới môn Ngữ văn) và các cuộc thoại trong giờ chơi của HS, tác giả luận văn đã:
- Xác lập quan niệm về hành động hỏi đáp của TV: là 2 mặt của 1 quá trình thống
nhất biện chứng;
- Thống kê, tập hợp, phân loại các phát ngôn hồi đáp thuộc hành động hỏi trực
tiếp dựa vào cấu trúc biểu thức của câu hỏi và sự tương hợp về nội dung mệnh đề hỏi –
trả lời;
Trang 11- Nghiên cứu đặc điểm lượt lời hồi đáp thuộc hành động hỏi trực tiếp trên các bình diện: cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ dụng;
- Đưa ra một số chiến lược hội thoại giúp GV có thể vận dụng để khuyến khích
sự hợp tác của HS trong quá trình giảng dạy; và
- Làm rõ luận điểm lập luận không chỉ xuất hiện trong diễn ngôn đơn thoại mà còn nằm trong lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật hội thoại
9 Mai Thị Kiều Phượng, Phát ngôn chứa hành động hỏi trong giao tiếp mua bán
Tác giả luận án đã tiến hành phân tích ngữ liệu từ đó:
- Phân biệt phát ngôn hỏi – hành động hỏi, hành động hỏi trực tiếp – gián tiếp;
- Nghiên cứu hành động hỏi trong phát ngôn mở đầu đoạn thoại giao tiếp mua bán;
- Phân chia các tiểu loại hành động hỏi;
- Nghiên cứu các bình diện kết học – nghĩa học – dụng học của phát ngôn chứa hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp;
- Nghiên cứu các nhân tố ngữ dụng thuộc cấu trúc thông báo, cấu trúc lựa chọn
của phát ngôn chứa hành động hỏi thông qua hệ thống từ xưng hô, phương pháp lập
- Đề xuất hướng xây dựng lí thuyết và thực hành về Tiếng Việt thương mại
10 Hoàng Thị Quỳnh Ngân, Bước đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng,
Luận văn ThS, 2008
Tác giả luận văn đã trình bày cấu tạo ngữ pháp của lời thoại trong văn Vi Hồng, tìm hiểu lời thoại trong văn Vi Hồng về phương diện dụng học đồng thời trình bày một
số yếu tố cơ bản thể hiện đặc điểm riêng trong lời thoại văn xuôi Vi Hồng: hệ thống từ
ngữ tiếng dân tộc, phong tục tập quán người Tày…
11 Phạm Kim Thoa, Hành vi cảm thán trong Truyện Kiều, Luận văn ThS, 2009
Trang 12Tác giả Phạm Kim Thoa đã phân tích hành vi cảm thán trong Truyện Kiều góp
phần vào việc tìm hiểu một khía cạnh trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Nguyễn
Du đồng thời cho thấy vai trò của từ ngữ cảm thán và hành vi cảm thán trong việc biểu
thị thái độ, tình cảm của Nguyễn Du cũng như góp phần khắc họa rõ hơn tính cách các nhân vật
12 Vũ Thị Kỳ Hương, Hành động bác bỏ trong tiếng Việt, Luận văn ThS, 2010
Tác giả Vũ Thị Kỳ Hương đã phân tích hành động bác bỏ trong tiếng Việt trong
mối tương quan với vấn đề lịch sự và vấn đề lập luận đồng thời chỉ ra những phương
thức, phương tiện biểu hiện của hành động bác bỏ trong tiếng Việt
13 Phạm Thanh Vân, Hành động cảm thán trong tiếng Việt, Luận văn ThS, 2010
Tác giả luận văn đã phân loại hành động cảm thán, chỉ ra những đặc điểm chủ yếu
15 Trần Châu Ngọc, Truyện cười tiếng Việt nhìn từ lí thuyết hội thoại, Luận văn
Xét về cặp thoại trao – đáp, chúng tôi chỉ tìm hiểu được rất ít tài liệu, cụ thể,
chúng tôi thấy có một vài bài nghiên cứu, và luận văn sau:
Trang 131 Nguyễn Thị Hồng Ngân, Cặp thoại trong hội thoại dạy học, Luận án TS, 2012
2 Lê Thu Lan, Bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp trong sách dạy tiếng
Trong luận văn này, tác giả đã khảo sát và phân tích cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đồng thời nêu ra những nhận xét và kiến nghị tích cực cho việc biên soạn và giảng dạy các cấu trúc hỏi – đáp tiếng Việt cho người nước ngoài
Nhìn chung, những bài viết, bài nghiên cứu mà chúng tôi thu thập được chỉ tìm
hiểu chung chung về hội thoại hoặc tìm hiểu một khía cạnh nào đó của hội thoại (lập
luận, lượt lời, các hành động trong hội thoại…) chứ chưa có tài liệu nào đi sâu nghiên
cứu cụ thể về cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm, đặc biệt là cặp trao – đáp biểu đạt tình
c ảm lứa đôi
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp và thủ pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có thể kể đến những phương pháp tiêu biểu như:
+ So sánh, đối chiếu: sau khi thu thập và phân tích ngữ liệu, chúng tôi đưa ra
những nhận định đánh giá đồng thời có sự so sánh đối chiếu kết quả thu được với nhau
nhằm làm bật lên các luận điểm của đề tài; và:
+ Phân tích ngữ liệu từ góc độ phân tích ngữ nghĩa, ngữ dụng (phân tích hàm ý,
tiền giả định, cách lập luận, các phương châm hội thoại…)
Trang 14- Tổng hợp: sau khi phân tích, chúng tôi tiến tổng hợp và đưa ra những nhận xét, đánh giá
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Với việc thực hiện đề tài này, về mặt lý luận, chúng tôi mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu ngữ dụng học Về mặt thực tiễn, chúng tôi hy
vọng những kết luận của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo mang tính nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ học – xã hội học, ngôn ngữ học – tâm lí học, ngôn ngữ học – văn
học
7 B ố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết thúc, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: Ở chương này, chúng tôi trình
bày những lí thuyết liên quan đến đề tài để làm cơ sở nền có tính định hướng cho phần nghiên cứu về sau Theo đó, trong chương 1 sẽ có các nội dung chính như sau:
- Lí thuyết ngữ dụng học: trong phần này chúng tôi sẽ trình bày những phần lí thuyết cơ bản về ngữ dụng học sẽ được vận dụng trong phân tích dữ liệu, như: lí thuyết chiếu vật và chỉ xuất, lí thuyết hành động ngôn từ, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại
- Một vài vấn đề về tâm lí học (tâm lí học lứa tuổi; tâm lí học xã hội…)
- Một vài vấn đề về xã hội học (văn hóa, phong tục, tập quán; tính thời đại…) Hai phần này chúng tôi chỉ sơ lược những nét cơ bản liên quan đến đề tài để làm
cơ sở phân tích và biện luận ở chương 3
Chương 2: Khảo sát cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong một số tác
ph ẩm văn xuôi từ 1975 đến nay
Chương này sẽ trình bày những vấn đề sau đây:
- Quá trình khảo sát
- Quá trình xử lí ngữ liệu
- Cuối cùng chúng tôi trình bày những kết quả thu thập được của quá trình khảo sát thông qua các bảng biểu và tiến hành phân tích…
Trang 15Cụ thể, chúng tôi sẽ trình bày kết quả khảo sát được từ lời trao và lời đáp của các nhóm đối tượng trong việc biểu đạt tình cảm lứa đôi; đồng thời tiến hành so sánh đối chiếu để tìm ra sự giống và khác nhau giữa các nhóm đối tượng được khảo sát
Chương 3: Đặc điểm cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong một số tác
ph ẩm văn xuôi từ 1975 đến nay với ảnh hưởng của xã hội và phong cách tác giả:
Trong chương này chúng tôi dựa vào những kết quả khảo sát được ở chương 2 để đưa ra những nhận xét đánh giá của mình về đặc điểm cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm
lứa đôi
Sau đó chúng tôi trình bày những yếu tố tác động đến các đặc điểm của cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong các tác phẩm văn xuôi hiện đại (từ 1975 đến nay) Vì hạn chế của phạm vi nghiên cứu nên vấn đề ảnh hưởng của yếu tố thời đại chúng tôi chỉ trình bày về văn hóa xã hội và phong cách tác giả
Theo đó chương 3 dự kiến sẽ có 2 phần cơ bản:
- Đặc điểm cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi trong các tác phẩm văn xuôi
từ 1975 đến nay;
- Ảnh hưởng của tính thời đại và phong cách tác giả đến đặc điểm cặp trao – đáp
biểu đạt tình cảm lứa đôi trong tác phẩm văn xuôi từ 1975 đến nay.
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lí thuy ết ngữ dụng học
1.1.1 Lí thuy ết hành động ngôn từ
Thuật ngữ hành động ngôn từ (speech act) do nhà triết học Anh là J Austin đề
xuất và được một nhà triết học khác là J Searle phát triển Họ tin rằng, ngôn ngữ không chỉ được dùng để thông báo hoặc miêu tả cái gì đó mà nó còn được dùng để thể
hiện các hành động Các hành động được thực hiện bằng lời được gọi là hành động ngôn từ
J L Austin (1911-1960) là người đầu tiên chú ý đến nhiều chức năng được thực
hiện bằng các phát ngôn với tư cách là một phần của giao tiếp liên nhân Đặc biệt ông
đã chỉ ra được nhiều phát ngôn không truyền đạt thông tin mà là cái tương đương với
hành động Khi ai đó nói: “Tôi xin lỗi…”, “Tôi hứa…” thì phát ngôn đó ngay lập tức
truyền đạt một thực tế tâm lí và xã hội mới Khi nói xin lỗi tức là hành động xin lỗi đã được thực hiện Austin gọi những phát ngôn như thế là những phát ngôn ngôn hành (performatives utterances) Ông phân biệt phát ngôn ngôn hành với phát ngôn trần thuật Phát ngôn trần thuật là phát ngôn truyền đạt thông tin về mặt ngữ nghĩa đều có
thể được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai Các phát ngôn ngôn hành không thể đánh giá nội dung theo tiêu chuẩn logic đúng sai Cả Austin và Searle đều xác nhận rằng khi
sử dụng ngôn ngữ chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn có chứa mệnh đề về
những đối tượng, những thực thể, sự kiện mà chúng ta còn thực hiện chức năng như yêu cầu, phủ nhận, xin lỗi… Chúng ta chỉ có thể nhận dạng ra hành động ngôn từ do
một phát ngôn nào đó thực hiện khi chúng ta biết được ngữ cảnh mà phát ngôn đó diễn
ra Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn
1.1.1.2 Các hành động ngôn từ
Trong bất cứ trường hợp nào cái hành động được thực hiện bằng cách tạo ra một phát ngôn cũng đều bao gồm 3 hành động liên quan Đó là hành động ngôn tại, hành động ngôn trung và hành động ngôn tác
Trang 17từ và cấu trúc của chúng Hành động ngôn tại là nói cái gì đó có ý nghĩa và có thể hiểu được
b Hành động ngôn trung
Hành động ngôn trung là dùng một câu để thực hiện một chức năng Hành động ngôn trung là hành động tạo ra một lời tuyên bố, một lời hẹn, một lời chào khi phát ra
một câu nhờ hiệu lực của những quy ước liên quan với nó Hầu như chúng ta không
chỉ tạo ra những phát ngôn chuẩn tắc (wel-formed) mà không có mục đích gì Chúng
ta tạo ra một phát ngôn nhằm một chức năng nào đó trong ý nghĩ Đó chính là hành động ngôn trung Hành động ngôn trung được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếp của phát ngôn Chẳng hạn, chúng ta có thể nói câu sau: “Tôi vừa mới pha một ấm trà
mục đích giao tiếp nào khác Ý nghĩa ngôn trung (illocutionnary meaning) hay lực ngôn trung (illocutionnary force) chính là tác động mà người nói muốn phát ngôn có ở người đọc và người nghe
c Hành động ngôn tác
Hành động ngôn tác là những kết quả hoặc hiệu lực được tạo ra nhờ nói cái gì đó Nói cách khác, hành động ngôn tác là hành động gây được hiệu quả ở người nghe nhờ phát ra một câu Hiệu quả như thế là chỉ riêng cho hoàn cảnh phát ngôn Tất nhiên người ta không chỉ đơn giản là tạo ra một phát ngôn với chức năng nhất định mà không dự định nó sẽ có hiệu quả như thế nào
Hành động ngôn trung của phát ngôn là ý đồ giao tiếp của người nói hoặc chức năng mà phát ngôn nhằm thực hiện Hành động ngôn tác của phát ngôn có thể giống
với hành động ngôn trung nếu hành động ngôn trung được chấp nhận và thực hiện, có
Trang 18thể khác hành động ngôn trung nếu hành động ngôn trung không được chấp nhận hoặc
bị coi thường
Lí thuyết hành động ngôn từ chủ yếu liên quan đến các hành động ngôn trung Người ta cố gắng tìm cách truyền đạt được nhiều hơn cái người ta nói Vì thế hành động ngôn trung được thảo luận nhiều nhất Nói chung, thuật ngữ hành động ngôn từ thường được giải thích theo nghĩa hẹp là hành động ngôn trung Có thể có hàng trăm hành động ngôn trung và người ta đã cố gắng phân chúng ra thành một số kiểu nhỏ J Searle đã phân ra thành 5 kiểu cơ bản của hành động ngôn trung là: hành động biểu
kiến (representatives), hành động cầu khiến (directives), hành động ước kết (commissives), hành động biểu cảm (expressives), hành động tuyên bố (declarations)
a Hành động tuyên bố (declarations)
Hành động tuyên bố: người nói làm thay đổi địa vị hoặc điều kiện bên ngoài của
một đối tượng hoặc hoàn cảnh chỉ bằng cách tạo ra phát ngôn, như: từ bỏ, đặt tên, sa
thải, khai mạc… Đặc trưng của hành động tuyên bố là: từ ngữ làm thay đổi thực tại, người nói gây ra tình huống
b Hành động biểu kiến (representatives)
Hành động biểu kiến là hành động thể hiện cái mà người nói tin tưởng Hành động này thể hiện ở những câu mà người nói phải chịu trách nhiệm về giá trị chân lí
của mệnh đề được biểu đạt Ví dụ: “Tôi tin Hoa chưa có người yêu” Người nói đã
cam kết tính chân thực của mệnh đề với mức độ khác nhau, như xác nhận, kết luận, tin
tưởng, phủ nhận, tường thuật Mức độ khẳng định trong câu: “Tôi đoán nó có vợ rồi.”
thấp hơn trong câu: “Tôi thề rằng nó có vợ rồi” Nhóm biểu kiến có thể bao gồm các
hành động như: khẳng định, quả quyết, phỏng đoán, miêu tả, thông báo, từ chối, tán thành, phản đối, giả định, gợi ý, tranh cãi, hưởng ứng, giải thích… Đặc trưng của hành động biểu kiến là làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói tin tình huống
c Hành động biểu cảm (expressives)
Hành động biểu cảm: người nói thể hiện trạng thái tâm lí của mình đối với sự tình trong nội dung mệnh đề như: xin lỗi, phàn nàn, chúc mừng, cảm ơn, hoan nghênh
Trang 19Đặc trưng của hành động biểu cảm là làm từ ngữ khớp với thực tại, người nói cảm
thấy tình huống
d Hành động cầu khiến (directives)
Người nói cố gắng làm cho người nghe làm cái gì đó, chẳng hạn: hỏi, yêu cầu, ra
lệnh, nài ép, thỉnh cầu… Đặc trưng của hành động cầu khiến là làm cho thực tại khớp
với từ ngữ
e Hành động ước kết (commissives)
Người nói cam kết một hành động tương lai nào đó, chẳng hạn: bảo đảm, hứa
hẹn, cam đoan, thề, tuyên thệ… Đặc trưng của hành động ước kết là: làm thực tại khớp
với từ ngữ, người nói định tình huống
Năm nhóm hành động ngôn từ trên đây được J Searle phân ra trên cơ sở ba tiêu chuẩn cơ bản là:
(1) Đích ngôn trung (illocutionary goal)
Đó chính là mục đích của hành động ngôn từ Chẳng hạn, đích ngôn trung của hành động ước kết là tự gán cho mình trách nhiệm thực hiện việc gì đó Đích ngôn trung không trùng với lực ngôn trung (illocutionary force) Lực ngôn trung cũng được
hiểu là ý nghĩa ngôn trung (illocutionary meaning) Đó là tác động của phát ngôn hoặc văn bản viết đối với người đọc hoặc người nghe Hai hành động khác nhau có thể có cùng một mục đích, nhưng hiệu lực của chúng lại khác nhau Chẳng hạn ra lệnh và
thỉnh cầu có cùng một mục đích là điều khiển người nghe: ra lệnh thì bắt buộc người nghe phải thực hiện, còn thỉnh cầu thì chỉ kêu gọi thiện chí của người nghe mà thôi (2) Hướng khớp ghép giữa từ ngữ và thực tại
Tiêu chuẩn này quy định mối quan hệ giữa từ ngữ và thực tại mà hành động đề
ra Hướng khớp ghép có thể được xây dựng theo hai chiều: từ từ ngữ tới thực tại hoặc
từ thực tại tới từ ngữ Chẳng hạn, trong cầu khiến hay trong ước kết, hướng khớp ghép
là từ ngữ tới thực tại, nghĩa là lời có trước sau đó hành động mới theo lời mà thực hiện cho phù hợp Trong hành động biểu kiến và biểu cảm thì thực tại có trước, lời nói phải làm sao phù hợp với thực tại
Trang 20(3) Trạng thái tâm lí được thể hiện
Trong hành động cầu khiến, trạng thái tâm lí của người nói là phải có lòng tin vào mệnh đề được nói ra Trong hành động cầu khiến, trạng thái tâm lí và mong muốn người nghe thực hiện hành động Trong hành động biểu cảm, trạng thái tâm lí phụ thuộc vào mục đích của hành động ngôn từ Trong hành động ước kết, trạng thái tâm lí
của người nói là định làm cái gì đó J Searle đã tóm tắt năm chức năng của các hành động ngôn từ với các đặc trưng của chúng trong bảng sau:
Tuyên bố Từ ngữ làm thay đổi
1.1.1.4 Hành động ngôn từ trực tiếp và hành động ngôn từ gián tiếp
Ngữ pháp truyền thống, khi nghiên cứu các câu phân loại theo mục đích nói, thì
thực tế đã nghiên cứu các biểu thức ngôn hành của những hành động ngôn từ tương ứng
Căn cứ vào mục đích giao tiếp, người ta thường chia câu tiếng Việt thành bốn
loại: câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh và câu cảm thán
Những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng là
những phát ngôn có hành động ngôn từ trực tiếp (direct speech act) Nói cách khác,
Trang 21hành động ngôn từ trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn
có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng Một câu trần thuật được dùng để nhận định thì đó là một hành động ngôn từ trực tiếp, một câu nghi vấn dùng
để hỏi thì đó là một hành động ngôn từ trực tiếp
Khi nào có quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng thì chúng ta có
một hành động ngôn từ gián tiếp (indirect speech act) Nói cách khác hành động ngôn
từ gián tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ gián
tiếp giữa một chức năng và một cấu trúc Một câu trần thuật được dùng để nhận định thì nó là hành động trực tiếp, nhưng câu trần thuật được dùng để cầu khiến thì nó là
một hành động ngôn từ gián tiếp Ví dụ: “Ngoài hành lang ồn ào quá.” là một câu trần
thuật Khi nó được dùng để nhận định, tức là để nói về tình huống của phòng học thì
nó thực hiện một hành động ngôn từ trực tiếp, khi nó được dùng để yêu cầu đóng cửa
lại thì nó là một hành động ngôn từ gián tiếp Vấn đề ở đây là làm thế nào mà người nghe có thể hiểu được hành động ngôn từ gián tiếp Người ta giải thích rằng trong
những trường hợp như vậy nó đã dựa vào thông tin cơ bản đã có được, vào lẽ thường
và vào khả năng suy luận của người nghe
1.1.2 Lí thuy ết hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác
Đầu tiên, hội thoại được xã hội học, xã hội ngôn ngữ học, dân tộc ngôn ngữ học
Mĩ nghiên cứu Từ 1970 nó là đối tượng chính thức của một phân ngành ngôn ngữ học
Mĩ, phân ngành phân tích hội thoại (conversation analysis) Sau đó phân tích hội thoại được tiếp nhận ở Anh với tên gọi phân tích diễn ngôn (discourse analysis), ở Pháp (khoảng 1980) và ở các nước thuộc cựu lục địa Cho đến nay thì ngôn ngữ học của hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều bàn đến hội thoại
Các cuộc hội thoại có thể khác nhau ở:
Thứ nhất, đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra các
cuộc hội thoại Thoại trường hội thoại có thể là nơi công cộng (mít tinh, hội nghị, hội
thảo, ngoài chợ, trong tiệm ăn, quán giải khát…) hay riêng tư (trong phòng ngủ giữa
vợ và chồng, trong phòng khách giữa chủ với khách…) Thoại trường không phải chỉ
Trang 22có nghĩa không gian, thời gian tuyệt đối mà gắn với khả năng can thiệp của người thứ
ba đối với cuộc hội thoại đang diễn ra Ví dụ cuộc hội thoại ngoài công viên của một đôi nam nữ vẫn là cuộc hội thoại riêng tư mặc dù công viên là không gian công cộng Nhìn chung thoại trường với sự hiện diện của những nhân vật đang hội thoại ảnh hưởng ít hay nhiều đến cuộc hội thoại cả về nội dung, cả về hình thức
Thứ hai, ở số lượng người tham gia Số lượng nhân vật hội thoại – còn gọi là đối tác hội thoại hay đối tác – thay đổi từ hai đến một số lượng lớn Có những cuộc hội thoại tay đôi, tay ba (trilogue), tay tư hay nhiều hơn nữa (đa thoại – polylogue) Những
cuộc hội thoại như hội nghị, mít tinh… thì không thể cố định được số lượng
Thứ ba, cương vị và tư cách của người tham gia hội thoại Sự thực, tiêu chí số lượng có quan hệ với tiêu chí cương vị và tư cách người tham gia Cương vị và tư cách người hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại, tựu trung có thể kể đến như sau:
- Tính chủ động hay thụ động của các đối tác Trong hội thoại có vai nói và vai nghe Cuộc hội thoại chủ động là cuộc hội thoại trong đó cả hai vai đều có quyền chủ động tham dự vào cuộc hội thoại như nhau theo nguyên tắc anh nói tôi nghe, tôi nói anh nghe; tôi và anh luân phiên nhau nói và nghe Cuộc hội thoại thụ động là cuộc hội thoại mà trong đó chỉ một người giữ cương vị vai nói còn người kia (những người kia)
chỉ nghe, không tham gia được vào hội thoại hoặc có tham gia cũng rất hạn chế, thường chỉ để bày tỏ thái độ tiếp nhận của mình hoặc để yêu cầu người nói giải thích
hoặc bổ sung thêm một thông tin nào đó cho nội dung diễn ngôn của người này
- Sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong cuộc hội thoại Thí dụ phát thanh truyền hình là những hội thoại mà người nghe vắng mặt Trò chuyện tay đôi, tay ba,
những cuộc hội nghị, mít tinh là những cuộc thoại trong đó người nghe có mặt Hội thoại qua điện thoại (trừ điện thoại tối tân có màn hình) tuy không nhìn thấy nhau nhưng vẫn có mặt trong hội thoại
Lại có những cuộc hội thoại trong đó cặp vai nói/nghe đồng thời thuộc những lớp khác nhau
Các cuộc hội thoại còn được phân biệt theo tính chất được điều khiển hay không được điều khiển Những cuộc hội thảo, đại hội, hội nghị thường diễn ra dưới sự điều
Trang 23khiển của đoàn chủ tịch, những cuộc hội thoại hằng ngày của bạn bè, những cuộc mua bán là những cuộc hội thoại không có người điều khiển, chúng diễn ra theo kiểu “tự mình dẫn mình đi”
Thứ tư là các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích Những
cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích được xác định trước rõ ràng Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích Thực ra do chỗ hoạt động của con người tự chúng đã có đích vì vậy nên nói hội thoại có đích hướng ngoại phân biệt với hội thoại có đích hướng nội hơn là nói hội thoại có đích và hội thoại không có đích Bởi vì các cuộc hội thoại tuy không có đích hướng ngoại nhưng cũng
có đích hướng nội
Nói đến đích của hội thoại cũng là nói đến đặc tính nội dung của cuộc hội thoại:
có những cuộc hội thoại được định trước về nội dung, có những cuộc hội thoại nội dung nghiêm túc và những cuộc hội thoại không nghiêm túc hoặc không rõ chủ đề, có
những cuộc hội thoại về những nỗi niềm riêng tư và những cuộc hội thoại bàn về
những vấn đề chung của một đơn vị, một xã hội, một quốc gia…
Nói đến đích hội thoại, đặc biệt nói đến đích hướng nội thì các cuộc hội thoại có
thể khác nhau ở hành vi ngôn ngữ chủ đạo Theo tiêu chí này có thể nói đến những
cuộc hội thoại miêu tả, tư sự, biểu cảm, lập luận Những hình thức hội thoại phân chia theo cấu trúc hành vi ngôn ngữ vĩ mô này lại có thể chia thành những kiểu nhỏ hơn
nữa, thí dụ trong kiểu tự sự có kiểu tường thuật, tường trình hay kể lể (tâm sự), trong
hội thoại lập luận có những kiểu như: giao ban, hội ý, cãi cọ… Trong những cuộc hội thoại biểu cảm có an ủi, than thở, chửi mắng…
Thứ năm, các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính có hình thức hay không có hình thức Những cuộc thương nghị, hội thảo… là những cuộc hội thoại mà hình thức
tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ còn những chuyện trò đời thường thì không có một hình thức tổ chức nào cả
Cuối cùng là vấn đề ngữ vực Do có tính hình thức hay không có tính hình thức
mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực đã biết
Trang 241.1.2.1 V ận động hội thoại
Trong bất kì cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời, đáp lời và tương tác
Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk) chúng ta dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia hội thoại, Sp1 là vai người nói, Sp2 là vai người nghe Sp1, Sp2, Spn là các đối tác hội thoại
Trao lời là vận động mà Sp1 nói ra lượt lời của mình và hướng lượt lời của mình
về Sp2 nhằm làm cho Sp2 biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2 Trong một song thoại, vấn đề xác định Sp2 không đặt ra bởi vì chỉ có một người nói và
một người nghe Nhưng đối với những cuộc đa thoại thì vận động đa thoại có khi hướng vào toàn thể người nghe trong cuộc hội thọai nhưng cũng có khi chỉ nhằm vào
một (hoặc một số) người trong toàn bộ người nghe đương trường
Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của Sp1 Vận động trao đáp, cái lõi của hội thoại sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh lúc chậm với sự thay đổi của vai nói, vai nghe
Cũng như sự trao lời, sự trao đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc
bằng lời, thường thì hai loại yếu tố này đồng hành với nhau
Chúng ta đã biết diễn ngôn là sản phẩm của các hành động ngôn từ Tất cả các hành động ngôn từ đều đòi hỏi sự hồi đáp Sự hồi đáp có thể bằng tất cả hành động ngôn từ tương thích với hành động dẫn nhập lập thành cặp như hỏi – trả lời, chào – chào, xin lỗi – đáp lời… (sau này sẽ được gọi là cặp kế cận), mà cũng có thể được thực
hiện bằng những hành vi bất kì, không tương thích với hành động dẫn nhập
Tất nhiên có những diễn ngôn mà người nghe không thể hồi đáp được như những
diễn ngôn viết, những diễn ngôn trong những cuộc hội thoại mà người nghe không đương diện hoặc những cuộc hội thoại miệng trong đó người nghe không có quyền hồi đáp nếu không được phép như lời tuyên án của quan tòa Tuy nhiên đây là sự hồi đáp, đương trường Trong chiều sâu, những diễn ngôn trên vẫn phải tính đến khả năng cũng
Trang 25như cách thức hồi đáp có thể của người tiếp nhận để nói ra sao cho không thể phản bác được nếu người tiếp nhận muốn phản bác
Trong hội thoại các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau làm biến đổi lẫn nhau Trước cuộc hội thoại của các nhân vật có sự khác biệt, đối
lập, thậm chí trái ngược về các mặt (hiểu biết, tâm lí, tình cảm hay ý muốn…) Không
có sự khác biệt này thì giao tiếp thành thừa Trong hội thoại và qua hội thoại những khác biệt này giảm đi hoặc mở rộng ra, căng lên có khi thành xung đột
Trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác Họ tác động
lẫn nhau về mọi phương diện, đối với ngữ dụng học quan trọng nhất là tác động đến
lời nói (và ngôn ngữ) của nhau Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2… Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động, vừa
là phương tiện mà Sp1, Sp2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói
mà tác động đến tâm lí, sinh lí, vật lí của nhau
Hội thoại có thể ở hai cực: điều hòa, nhịp nhàng hoặc hỗn độn, vướng mắc mà tiêu biểu là những cuộc cãi lộn Ở những cuộc cãi lộn ngoài cử chỉ, điệu bộ và ngữ điệu, sự trùng lời, dẫm đạp lên lượt lời của nhau, cướp lời nhau là dấu hiệu của các
cuộc chiến bằng lời này Như vậy có nghĩa là trong các cuộc đối thoại đều phải có sự hòa phối các hoạt động của các đối tác về mọi mặt, trước hết là hòa phối các lượt lời
P Grice tin rằng phải có một cơ chế chi phối việc sáng tạo và lĩnh hội những phát ngôn ấy Đó là cái được gọi là nguyên tắc hợp tác (cooperative principle) Nguyên tắc này được ông phát biểu như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh đáp ứng đòi hỏi
Trang 26ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với yêu cầu hoặc phương hướng của cuộc thoại
mà anh đã chấp nhận tham gia Ông đã tách nguyên tắc này thành 4 phương châm nhỏ như sau:
(1) Phương châm về chất: Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là: Đừng nói điều gì mà anh tin là sai; đừng nói điều gì mà anh tin là thiếu
bằng chứng
(2) Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng thông tin đúng như đòi hỏi của mục đích cuộc hội thoại; đừng làm cho lượng thông tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó đòi hỏi
(3) Phương châm về sự thích hợp: Hãy làm cho đóng góp của anh thích hợp với
cuộc hội thoại tức là nói vào vấn đề
(4) Phương châm về cách thức: Hãy nói cho dễ hiểu, tránh tối nghĩa, mập mờ; nói sao cho ngắn gọn; và có trật tự
Những phương châm trên là những tiền ước không nói ra lời của chúng ta trong
cuộc hội thoại Trong giao tiếp bình thường, những phương châm này được mọi người
thừa nhận nên người nói ít khi chú ý đến Tuy nhiên, có những loại diễn ngôn nhất định mà người nói đã dùng để lưu ý là họ sẽ gặp nguy hiểm nếu không triệt để tôn trong nguyên tắc hợp tác Đó chính là những lời rào đón
Sức mạnh điều chỉnh của nguyên tắc hợp tác mạnh đến mức khi người nói cảm
thấy có thể vi phạm nguyên tắc nào đó thì họ dùng một số lời rào đón (hedges) để chỉ
ra sự vi phạm có thể ấy Những lời rào đón này giống như những bằng chứng cho phép
nó vi phạm một nguyên tắc nào đó Chúng cũng là những tín hiệu đối với người nghe
để người nghe hạn chế cách giải thích của mình Việc rào đón này chứng tỏ các nguyên tắc hợp tác có tác dụng mạnh mẽ như thế nào với hội thoại Khi một người
nhận thấy mối nguy hiểm của sự vi phạm nguyên tắc về chất, tức là thông tin đưa ra có
thể chưa chính xác, thiếu bằng chứng, anh ta luôn hạn chế phán đoán của mình bằng
cách nói: “N ếu tôi không lầm thì…”, “Theo như tôi biết thì…”
Khi người nói không có chứng cứ rõ ràng về cái mà anh ta nói thì người ấy tỏ rõ
rằng đấy chỉ là những thông tin thứ cấp bằng cách dùng: “Nghe đồn…”, “Hình
Trang 27như…” những cách dùng này cũng có chức năng hạn chế giá trị chân thực của những
điều nói tiếp theo Nếu không thể thông tin đầy đủ (vi phạm nguyên tắc về lượng) thì
người ta có thể quy sự bất lực cho một số sức mạnh bên ngoài và nói: “Tôi không thể
những giải thích để chứng tỏ sự vị phạm nguyên tắc về lượng là hợp pháp Chẳng hạn
họ có thể nói: “Như các anh đã biết…” Khi một người vi phạm nguyên tắc về lượng,
họ có thể chữa sai lầm bằng cách nói: “Xin lỗi, tôi đã nói dông dài.” Khi một người có
cái gì đó để nói nhưng biết chủ đề hoàn toàn không phù hợp, anh ta có thể dùng một số chiến lược để chuyển hội thoại sang hướng khác mà không vi phạm nguyên tắc về tính thích hợp Anh ta có thể nói: “Tôi không biết điều này có quan trọng không, nhưng…”
ta có thể dừng giữa chừng và nói: “Tôi xin mở ngoặc nói thêm là…” … Tất cả những
lưu ý cho phép vi phạm nguyên tắc chứng tỏ rằng nguyên tắc hợp tác có một số thực
thể tâm lí Nếu không phải là một nguyên tắc có căn cứ thì sẽ không cần cung cấp
những bằng chứng về sự vi phạm nguyên tắc đó Những thí dụ về lời rào đón ở trên đã
chỉ ra rằng người nói không chỉ biết những nguyên tắc hợp tác mà còn cố gắng tuân theo những nguyên tắc đó Những lời rào đón còn thể hiện rằng người nói quan tâm đến việc người nghe đánh giá họ là có hợp tác hội thoại hay không
Trong giao tiếp ngoài nguyên tắc hợp tác còn có nguyên tắc lịch sự Để tránh đe
dọa thể diện của người nghe, người ta cũng dùng những lời rào đón Những lời rào đón này có giá trị như một lời xin lỗi trước, tạo sự thân hữu giữa người nói và người nghe
1.1.3 Lí thuy ết ý nghĩa tường minh và ý nghĩa hàm ẩn
Một phát ngôn ngoài cái ý nghĩa được nói ra trực tiếp nhờ các yếu tố ngôn ngữ (âm, từ, kết cấu cú pháp…) còn có rất nhiều ý nghĩa khác nữa mà chúng ta phải dùng đến thao tác suy ý dựa vào các ngữ cảnh, vào các quy tắc điều khiển hành động ngôn
từ, điều khiển lập luận, điều khiển hội thoại… mới nắm bắt được Ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là ý nghĩa tường minh, tác giả Cao Xuân Hạo
gọi là ý nghĩa hiển ngôn, còn được gọi là ý nghĩa theo câu chữ của phát ngôn Các ý nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được được gọi là ý nghĩa hàm ẩn Như vậy, có thể nói nghĩa hàm ẩn là đối tượng nghiên cứu của dụng học Tuy nhiên, chúng ta không thể
Trang 28nghiên cứu hết tất cả những nghĩa có được từ thao tác suy ý nên cần phải có sự phân
loại
P Grice phân chia các ý nghĩa hàm ẩn thành hai loại: hàm ẩn quy ước và hàm ẩn
Hàm ẩn hội thoại thì không được gợi ra do các yếu tố quy ước mà do cách vận
dụng nguyên tắc cộng tác hội thoại và các phương châm hội thoai Từ hàm ẩn hội thoại, Grice lại chia thành hai kiểu: hàm ẩn khái quát và hàm ẩn đặc thù
Hàm ẩn khái quát là nghĩa hàm ẩn không bị chi phối bởi ngữ cảnh giao tiếp, người nói vẫn tôn trọng phương châm và các nguyên tắc cộng tác hội thoại
Hàm ẩn đặc thù là nghĩa hàm ẩn mà người nói cố tình vi phạm một hoặc một số phương châm hội thoại để tạo ra chúng, người nói buộc người nghe phải vận dụng các thao tác suy ý để đạt tới một ý nghĩa nào đó
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra các tiêu chí phân loại và tiến hành phân loại Hai tiêu chí phân loại là:
(1) Bản chất của chúng (ngữ nghĩa hay ngữ dụng)
(2) Chức năng của chúng trong diễn ngôn (là đối tượng hay không phải đối tượng
của diễn ngôn)
Xét theo (1), nghĩa hàm ẩn được chia thành ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học và ý nghĩa hàm ẩn dụng học
Ý nghĩa hàm ẩn nghĩa học là nghĩa hàm ẩn có quan hệ với nội dung mệnh đề đó Các ý nghĩa hàm ẩn (nghĩa học và dụng học) có thể tách ra thành hai loại: tiền giả định
và hàm ngôn
Xét theo (2), ý nghĩa hàm ẩn được phân biệt thành: ý nghĩa hàm ẩn tự nhiên và ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (ý nghĩa hàm ẩn cố ý) Grice xác định nghĩa hàm ẩn
Trang 29không tự nhiên là nó phải nằm trong ý định của người nói và cái ý định đó phải được người nghe nhận biết
1.1.3.2 Cơ chế tạo ra các nghĩa hàm ẩn
Nghĩa hàm ẩn là các ý nghĩa mà chúng ta phải dùng thao tác suy ý dựa vào quy
tắc ngữ dụng Nếu ta áp dụng các quy tắc này chuẩn mực thì chỉ tạo ra nghĩa tường minh Muốn tạo ra được nghĩa hàm ẩn, người nói một mặt phải phải tôn trọng các quy
tắc này và giả định người nghe cũng hiểu chúng; mặt khác lại cố tình vi phạm chúng
và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó
Ví dụ:
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
Người nói cố tình vi phạm nguyên tắc hội thoại, cụ thể là vi phạm phương châm
về chất để tạo hàm ý
Theo Cao Xuân Hạo, tiền giả định của một câu nói là một điều gì phải được giả định trước khi nói câu đó, vì nếu không có điều này thì không thể nói được câu đó (câu nói sẽ trở thành phi lí hoặc không thể hiểu được) Còn hàm ý là một điều gì đó mà khi nghe câu đó người nghe phải rút ra như một hệ quả tất nhiên
Tiền giả định và hàm ý có thể toát ra từ nghĩa nguyên văn của cả câu với sự đóng góp của ngữ cảnh Tuy nhiên, bên trong câu cũng có những từ mà nghĩa của chúng
chứa đựng tiền giả định và hàm ý Đỗ Hữu Châu bước đầu phân biệt tiền giả định và hàm ngôn như sau: tiền giả định là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy
ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh cùng với tiền giả định của
Trang 30+ Hàm ngôn (tùy theo ngữ cảnh, tùy theo ý định của người nói): “Mẹ nó là hiệu
trưởng, đừng gây sự với nó.” (hai học sinh nói với nhau) “Mẹ nó là nhà thiết kế nổi
Các nhà ngôn ngữ khác như P Grice, Hoàng Phê, Hồ Lê, Nguyễn Đức Dân… đều có chung quan niệm: tiền giả định là một loại nghĩa hàm ẩn nhưng là nghĩa hàm ẩn không có giá trị thông báo Tiền giả định được phân biệt với một loại ý nghĩa khác là hàm ngôn
Hàm ngôn là sự hàm chỉ những thông tin hàm ẩn, những thông tin nền, ở sau câu
chữ (background information)
Hàm ý hội thoại là loại hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh, nảy sinh trên cơ sở người nói cố tình vi phạm phương châm hội thoại Có thể hiểu hàm ý hội thoại là những gì người nghe phải tự mình suy ra qua phát ngôn để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó Như ta đã biết, nhận thức của con người bao giờ cũng xuất phát từ những kinh nghiệm đã có rồi bằng cách suy luận, liên tưởng mà rút ra những hiểu biết mới
Hoạt động này của tư duy được gọi là suy luận Đặc điểm của hàm ý hội thoại là có thể
bị khử bỏ Tất cả những hàm ý hội thoại mà chúng ta nghiên cứu đều được đặt vào hội thoại Người nghe phát ngôn đã suy diễn để hiểu và cố gắng duy trì giao tiếp.Vì hàm ý
đó là một phần của cái được thông báo nhưng không được nói nên người nói thường thường phủ định việc họ có ý định truyền đạt những ý nghĩa như thế O Ducrot viết:
Khác với kéo theo và tiền giả định là những hàm ngôn không bị khử bỏ, hàm ý là
Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay
chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới
Trang 311.1.4.2 B ản chất ngữ dụng của lập luận
Trong logic có phép quy nạp và diễn dịch Quy nạp hay diễn dịch đều là đi từ
luận cứ đến kết luận Nếu đi từ luận cứ cục bộ đến kết luận khái quát thì ta có quy nạp,
nếu đi từ một tiền đề (premise) khái quát để suy ra kết luận cục bộ thì ta có diễn dịch Nói tới lập luận thường nói tới suy luận diễn dịch và ta thường nghĩ ngay đến logic, đến lí luận, đến diễn ngôn nghị luận
Lập luận có mặt khắp nơi, trong bất cứ diễn ngôn nào, đặc biệt trong các diễn ngôn đời thường Ví dụ, khi mua bán, người mua phải lập luận để kết luận giá món hàng mà mình mua là phải chăng còn người bán phải lập luận rằng món hàng mà mình rao bán là hợp lí Hơn thế nữa, không phải chỉ khi nào cần lí luận, tranh luận với nhau chúng ta mới lập luận Khi chúng ta kể lại một sự kiện, miêu tả một hiện thực chúng ta cũng thực hiện một vận động lập luận
1.1.4.3 Đặc tính của quan hệ lập luận
Trong lập luận có quan hệ giữa luận cứ với luận cứ, giữa luận cứ với lập luận Quan hệ giữa các luận cứ có thể là đồng hướng hoặc nghịch hướng với nhau Quan hệ đồng hướng xảy ra khi các luận cứ cùng dẫn đến một kết luận chung Ngược lại, khi
luận cứ này hướng đến kết luận này mà luận cứ kia lại phủ định kết luận trên thì chúng
là quan hệ nghịch hướng lập luận Luận cứ có hiệu lực lập luận khác nhau Kết luận trong lập luận sẽ do luận cứ có hiệu lực mạnh nhất quyết định Hiệu lực của luận cứ không chỉ phụ thuộc vào nội dung luận cứ mà còn phụ thuộc vào vị trí của luận cứ trong lập luận
O Ducrot đã khẳng định: lập luận là một hành động tại lời Hành động lập luận làm thay đổi tư cách pháp nhân của người lập luận và người tiếp nhận lập luận Khi đưa ra một lập luận, người lập luận phải tin và chịu trách nhiệm về các luận cứ và kết
luận mà mình đưa ra
1.2 M ột vài vấn đề về tâm lí học
1.2.1 Tâm lí h ọc lứa tuổi
Trang 32Ở độ tuổi này cơ thể không ngừng thay đổi: chiều cao tăng nhanh, sự thay đổi trong giọng nói, vóc dáng… Tuổi này các em thường tò mò, hiếu kì, mong muốn được khám phá và hiểu về những thay đổi của bản thân, kèm theo đó là tình trạng lo âu khi
bé gái muộn trưởng thành nhưng một số hậu quả của tình trạng sớm trưởng thành có
thể bất lợi cho chúng Ví dụ như bị bạn bè trêu ghẹo, chế nhạo
Thanh thiếu niên trưởng thành muộn có thể gánh chịu hậu quả tâm lí do tình
trạng chậm trễ này Các em trai sẽ nhỏ con hơn, thấp vai kém lứa hơn so với các bạn đồng tuổi, chúng thường bị chế nhạo và bị xem là thiếu lôi cuốn thậm chí có quan
niệm bản thân thua sút bạn bè Hiển nhiên, mỗi chuyển biến trong giai đoạn thanh xuân ảnh hưởng lớn lao đến quan điểm của người khác đối với thanh thiếu niên cũng như quan điểm của bản thân họ với chính mình
Tiến trình phát triển tâm lí ở lứa tuổi này hầu hết là tìm cách tự khẳng định bản thân Nếu quá trình khẳng định bản thân được thực hiện tốt thì sẽ nhận định được
những nét độc đáo của bản thân và hiểu rõ vai trò theo đuổi, ngược lại sẽ không nhận định được vai trò của bản thân trong cuộc sống
Các nhà tâm lí học thường xem tuổi tráng niên bắt đầu từ khoảng 20 tuổi cho
tới 45
Trang 33Trong những năm tháng ở bậc đại học hầu hết các sinh viên đều bước vào giai đoạn thân mật – cô lập (kéo dài từ khoảng 18 đến 30 tuổi), trong đó thanh thiếu niên chú trọng thiết lập các mối quan hệ xã hội Các rắc rối trong giai đoạn này đưa đến
cảm giác cô đơn và sợ quan hệ với người khác, còn nếu như giải quyết thành công các
khủng hoảng ấy giúp cho thanh thiếu niên thiết lập được các mối quan hệ về mặt thể xác, trí tuệ, tình cảm
Đây là giai đoạn phát triển cơ thể ở mức cao, sức khỏe, thể chất đạt đỉnh cao,
phản xạ nhanh nhẹn
Giai đoạn này con người thường làm việc vì cuộc sống, thường lao mình vào
những thăng tiến nghề nghiệp, tạo dựng hôn nhân và ổn định cuộc sống gia đình
Nhìn chung, ở hai giai đoạn này, tâm lí chịu sự tác động của sinh lí nên ngoài
những việc khẳng định bản thân, tạo dựng sự nghiệp thì con người luôn muốn tìm đến
nửa kia của mình để được yêu thương chia sẻ, cùng nhau giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống và do độ tuổi khác nhau, tâm lí khác nhau nên cách biểu hiện cũng không giống nhau (chúng tôi sẽ phân tích kĩ hơn ở các chương sau)
Người 65 tuổi hay cao hơn được gọi là người cao niên hay người già Từ 65 đến
75 tuổi là già trẻ và 75 tuổi trở lên là già già Khi trở về già, con người có những biến chuyển về thể chất và tâm lý
a Thay đổi về thể chất
Sự thay đổi về diện mạo bề ngoài thì ai cũng thấy như: da nhăn, tóc bạc, lưng khòm, đi đứng chậm chạp, nói năng chậm chạp, mắt mờ, tai lãng, sức yếu… Cụ thể như sau:
- Phản ứng chậm: sau khi nghe câu hỏi, người già cần một khoảng thời gian lâu hơn để ghi nhận dữ kiện, và thời gian lâu hơn để đưa ra câu trả lời
- Thiếu chú ý và hay quên: thật ra, người già không mất đi những hiểu biết và khả năng của mình, họ chỉ chậm chạp hơn trong việc bày tỏ và vận dụng sự hiểu biết của mình mà thôi
- Dễ mắc bệnh hơn người trẻ, do quá trình lão hóa và suy nhược của các cơ quan trong cơ thể, và do khả năng miễn nhiễm không còn mạnh mẽ như trước Những bệnh
Trang 34như cảm cúm, sưng phổi, rất dễ đưa tới cái chết cho người già mặc dù người trẻ có thể đương cự và bình phục một cách dễ dàng
b Thay đổi tâm lý
Trong các giai đoạn của cuộc sống, tuổi già là tuổi con người ngưng bon chen với cuộc sống để bắt đầu thụ hưởng kết quả do những năm tháng trước mang lại Tuổi này còn là lứa tuổi truyền lại cho con cháu và thế hệ sau những kinh nghiệm và sự hiểu biết, hoặc đóng góp vào xã hội qua những sinh hoạt xã hội, giáo dục và từ thiện Bên cạnh đó, sự suy giảm chức năng có thể làm cho người già cảm thấy mình không còn làm chủ tình hình như trước và trở nên lo lắng quá độ Nếu con người tới tuổi già không có gì để thụ hưởng, sống nghèo khó, đơn côi, không người chăm sóc hay kề cận, hoặc có những ước mơ không thỏa, họ có thể có những xáo trộn tâm lý như phát bệnh trầm cảm hoặc trở nên lo lắng hay đa nghi
Họ muốn được chăm sóc và để ý tới nhiều hơn: do những thay đổi thể lý, người già có thể mất đi những khả năng đã có như không thể lái xe được nữa, không tự nấu
ăn hay chăm sóc vệ sinh cơ thể được nữa, do đó trở thành lệ thuộc người khác Có người già chấp nhận và ứng phó thành công với sự suy giảm chức năng, nhưng cũng
có người trở thành lo lắng quá độ, lúc nào cũng đòi con cái ở cạnh để được chăm sóc, hoặc trở thành cau có, gắt gỏng khi con cái bê trễ trong việc đáp ứng những nhu cầu của mình
Họ rất sợ cô đơn: nhất là với đời sống ở các nước tân tiến, người già rất dễ thấy mình bị bỏ rơi và quên lãng trong bốn bức tường, nếu không có khả năng lái xe, đi xe bus để tham gia những sinh hoạt xã hội hoặc giải trí Sự cách biệt giữa các sinh hoạt thời còn trẻ và tuổi già càng nhiều thì sự thích nghi càng khó Do đó, người già có thể
có thái độ thất vọng, trì kéo và lệ thuộc vào con cái của mình
Hay lo âu hơn trước chính là điều dễ thấy ở tuổi này Chính vì chậm chạp, mất đi những chức năng và phải lệ thuộc hay nhờ vả người khác, mà người già trở nên lo lắng quá độ
Họ dễ mủi lòng, tủi thân khi những nhu cầu hay yêu cầu của mình không được các con đáp ứng đầy đủ hay nhanh chóng Nhất là các cụ đã từng dành phần lớn thì
Trang 35giờ của đời mình trong việc chăm sóc, lo lắng cho các con với ước mơ được các con đền đáp lúc tuổi già
Nếu người già có những ước mơ không thực hiện được, không hài lòng với cuộc đời mình, có thể có những triệu chứng của bệnh trầm cảm, và trở thành một người khó tính, hay gay gắt với con cái, và có thể, ganh tị cả với sự thành công của các con
Những người già can thiệp hay kiểm soát quá nhiều vào đời sống con cháu, thường là
những người không thỏa hiệp và thích nghi được với giai đoạn mới này của đời sống
1.2.2 Tâm lí h ọc xã hội
Khi nữ thi sĩ Elizabeth Barett Browning viết: “How do I love thee? Let me count
tình cảm liên hệ đến một đề tài trọng tâm trong cuộc sống của hầu hết mọi người và đề tài này đã hình thành một chủ đề nghiên cứu quan trọng của các nhà tâm lí học xã hội:
yêu thương và mến thích Hiểu một cách nghiêm túc là nghiên cứu về sự lôi cuốn
giữa con người (interpersonal attraction) hay về các mối quan hệ gần gũi, chủ đề này bao quát các nhân tố làm phát sinh những tình cảm tốt đẹp dành cho người khác
Cho đến nay rất nhiều cuộc nghiên cứu đều chú trọng đến hiện tượng mến thích
có lẽ bởi vì các nhà nghiên cứu tiến hành các cuộc thí nghiệm ngắn hạn nhằm quan sát các tình huống phát sinh trạng thái ưa thích ở những người xa lạ sẽ thuận lợi hơn khi
tiến hành các thí nghiệm nhằm tổ chức và quan sát các mối quan hệ yêu thương qua
thời gian dài Các nhân tố quan trọng mà các nhà tâm lí xã hội tìm hiểu được bao gồm:
- Sự gần gũi: gần gũi khiến cho người ta ưa thích nhau hơn
- Tiếp xúc đơn thuần: tiếp xúc nhiều lần với một cá nhân có thể phát sinh sự lôi
cuốn
- Giống nhau: chúng ta có khuynh hướng ưa thích người nào giống chúng ta , hơn nữa, người càng giống chúng ta chúng ta càng yêu thích họ hơn
- Bổ sung nhu cầu: các nhà tâm lí học xã hội đã giải thích các trường hợp trong
đó người ta bị lôi cuốn bởi những người hoàn toàn khác biệt với họ nhờ tìm hiểu các nhu cầu mà đối tượng kia đã thỏa mãn cho họ
Trang 36- Sức quyến rũ thể chất: là một thứ tài sản của con người trong các tình huống quan hệ xã hội Nó là một nhân tố quan trọng trong việc xác định xem người ta bị lôi
cuốn bởi loại người nào và nếp sống nào trong xã hội
Các nhà nghiên cứu đưa ra lí thuyết cho rằng thực tế có nhiều loại tình yêu khác nhau Tình yêu bao gồm sự rung động sinh lí mãnh liệt, quan tâm về mặt tâm lí và lo
lắng đến nhu cầu của đối tượng Ngược lại tình thương là tình cảm mãnh liệt của
chúng ta dành cho những người gắn liền sâu sắc với cuộc sống của mình Tình yêu chúng ta dành cho cha mẹ, các thành viên khác trong gia đình và thậm chí cho một số
bạn bè thân thiết thuộc vào loại tình thương
Theo nhà tâm lí Roberts Sternberg (1986), tình yêu được chia ra nhiều loại khác nhau theo thứ tự từ cường độ thấp đến cường độ cao Ông cho rằng tình yêu được hình thành bởi ba yếu tố: mật thiết (intimacy) (bao gồm cảm giác gần gũi và găn liền), đam
mê (passion) (cấu thành bởi động lực thúc đẩy liên quan đến tình dục, sự gần gũi thể xác và tình cảm lãng mạn) và yếu tố ràng buộc S (decision/commitment component) (bao gồm nhận định sơ khởi về tình yêu giữa hai cá nhân và tình cảm ràng buộc lâu dài
nhằm duy trì mối tình ấy Theo đó, tác giả đã đưa ra bảng sau:
Các ki ểu yêu thương (Sternberg, 1986)
Các thành tố
Mật thiết Đam mê Ràng buộc
- Không yêu thương (Nonlove)
- Ưa thích (Liking)
- Tình yêu đam mê (Infatuated love)
- Tình yêu đơn thuần (Empty love)
- Tình yêu lãng mạn (Romatic love)
- Tình thương (Compassionate love)
- Tình yêu cuồng si (Fatuous love)
- Tình yêu tuyệt đỉnh (Consummate
love)
- +
-
- + +
- +
-
- +
- +
- + +
-
-
- +
- + + +
Các nhà khoa học đã theo dõi tiến trình quan hệ tình cảm qua các bước thăng
trầm của ưa thích và yêu đương như sau:
- Tương tác thường xuyên hơn, kéo dài hơn và trong nhiều bối cảnh hơn
Trang 37- Tìm cách gần gũi nhau hơn
- Ngày càng “cởi mở” với nhau hơn, tiết lộ cho nhau nhiều bí mật và chia sẻ các
cơ hội thân mật thể xác Sẵn lòng chia sẻ niềm vui nỗi buồn, ngày càng ca ngợi cũng như phê phán lẫn nhau hơn
- Bắt đầu tìm hiểu quan điểm và cách nhận định của nhau về thế giới chung quanh
- Mục tiêu và cách cư xử hòa điệu hơn, bắt đầu có nhiều điểm tương đồng hơn về thái độ sống và thang giá trị
- Đầu tư vào mối quan hệ tăng lên về thời gian, năng lực và ràng buộc
- Bắt đầu cảm thấy tâm trạng hạnh phúc riêng tư của bản thân gắn bó với tình
trạng hạnh phúc trong mối quan hệ Đến mức xem mối quan hệ tình cảm ấy là độc
nhất vô nhị không gì có thể thay thế được
- Bắt đầu cư xử giống một cặp hôn nhân và không còn giống như cá nhân riêng
cả các lối sống của con người đều là văn hóa, vì một số lối sống vô cùng đặc biệt chỉ
của một người hay một sự sùng bái của một số ít người lập dị Sự phân biệt giữa
những lối sống được chia sẻ và kiểu lập dị không phải bao giờ cũng phân định rạch ròi được
Thứ hai, văn hóa là một lối sống ít nhiều do tính thường xuyên và ổn định tạo ra
một truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau Các lối sống truyền
thống cũng có thể không được dùng nữa theo thời gian
Trang 38Thứ ba, trong nhiều định nghĩa về văn hóa, quan niệm này không đề cập đến hành vi thật sự của một nhóm mà bị giới hạn ở hành vi được trông đợi hay chấp nhận
về mặt xã hội văn hóa hình thành và phát triển trong quá trình con người tiếp xúc với thiên nhiên, với xã hội và với chính mình Trong quá trình đó con người mong ước
cuộc sống của mình ngày càng tốt đẹp hơn và đã hiện thực hóa mong ước ấy Lịch sử
của loài người không phải là một đường thẳng liên tục mà lúc thăng lúc trầm nhưng nhìn chung đó là lịch sử của sự phát triển, tiến bộ không ngừng theo hình xoáy trôn ốc Loài người đang đứng trước ngưỡng cửa của nền văn minh tin học, trong nền văn minh này trí tuệ đóng vai trò quan trọng chứ không phải là cơ bắp
Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng biệt và văn hóa Việt Nam nói riêng cũng như văn hóa các nước phương Đông nói chung sẽ có nhiều nét khác biệt so với văn hóa phương Tây, đặc biệt trong cách biểu lộ tình cảm (phần này chúng tôi sẽ phân tích
Biến đổi xã hội là vấn đề tất yếu xảy ra đối với mọi xã hội, sự biến đổi rất phức
tạp và có thể diễn ra theo nhiều chiều hướng khác nhau Chúng ta có những loại biến đổi xã hôi như biến đổi phát triển, biến đổi suy thoái, biến đổi hòa nhập
Khi diễn ra bất kì sự biến đổi xã hội nào cũng sẽ dẫn đến những thay đổi về cách
tư duy, nhìn nhận, đánh giá vấn đề
Ngoài ra, tính thời đại cũng góp phần thúc đẩy sự biến đổi xã hội, xã hội qua thời gian cùng với những thay đổi lớn nhỏ sẽ có những chuyển biến khác biệt so với thời kì trước đó
Trang 39Chương 2 KHẢO SÁT CẶP TRAO – ĐÁP BIỂU ĐẠT
Như đã nói ở phần phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ khảo sát cặp trao đáp biểu đạt
khảo sát, chúng tôi đã thu thập được 429 đoạn hội thoại có chứa cặp trao – đáp biểu đạt tình cảm lứa đôi (xem Phụ lục)
Theo đó chúng tôi đã tìm được tổng cộng 617 lời trao, trong đó có 408 lời trao
của nam (chiếm 32,05 %) và 210 lời trao của nữ (chiếm 16,50 %); 656 lời đáp, trong
đó có 312 lời đáp của nam (chiếm 24,51 %) và 343 lời đáp của nữ (chiếm 26,94 %)
Kết quả khảo sát này được chúng tôi hệ thống lại thành bảng biểu dưới đây:
Tổng 1273 (lượt) 100 % Trao
(617)
Nam 408 32,05
Nữ 210 16,50 Đáp
(656)
Nam 312 24,51
Nữ 343 26,94
Từ kết quả này, chúng ta có thể đưa ra nhận định khái quát về sự trao lời và đáp
lời của các cặp nam nữ khi biểu đạt tình cảm lứa đôi như sau:
- Nam thường trao lời nhiều hơn nữ (tổng số lời trao của nam gần gấp đôi của
nữ) điều này cho thấy sự chủ động trong việc bày tỏ tình cảm của nam giới cao hơn so
Trang 40B ảng 2.2 (Bảng thống kê các kiểu câu) (Đơn vị: Số lượng (câu); Tỉ lệ (%))
Từ bảng này, chúng ta có thể đưa ra một vài nhận định như sau:
- Trong quá trình biểu đạt tình cảm, số lượng câu nam nói nhiều hơn nữ
- Tỉ lệ vận dụng kiểu câu nghi vấn và kiểu câu cảm thán trong trao đổi của hai
giới tương đương nhau (mức chênh lệch không cao); nhưng với kiểu câu trần thuật và
kiểu câu cầu khiến, nam sử dụng nhiều hơn nữ Theo khảo sát, chúng tôi thấy khi bày
tỏ tình cảm, nam thường tìm những câu hoa mỹ để tán tỉnh, thậm chí còn kể lể hoặc nói những chuyện triết lí để thể hiện mình là người hiểu biết Đồng thời nam cũng sử
dụng kiểu câu cầu khiến với ý yêu cầu ra lệnh, điều này cho thấy tính sở hữu và bản
chất làm chủ (ra lệnh) trong tư tưởng của nam giới mạnh hơn nữ giới
Để có thể thấy rõ hơn sự khác biệt khi bày tỏ tình cảm giữa các nhóm đối tượng
và làm sáng tỏ những nhận định trên đây chúng tôi tiến hành đi vào khảo sát cụ thể như sau:
2.1 Kh ảo sát cặp trao – đáp trong tương quan tuổi tác
lượng (câu); Tỉ lệ (%))
Cuộc hội thoại (429 cuộc)
Tỉ lệ (100%) Trao – đáp của thanh thiếu niên 376 87,6 Trao – đáp của người trung niên và