1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết tiếng việt (qua khảo sát bài làm văn của học sinh trung học cơ sở tại tp hồ chí minh)

226 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khi phương ngữ là cái mà người nói sử dụng như một thói quen ngôn ngữ, và được xác định tùy vào người nói là ai, thì biến thể chức năng của ngôn ngữ được sử dụng là cái mà người nó

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Đỗ Tiểu Long Nữ

ẢNH HƯỞNG CỦA NGÔN NGỮ NÓI ĐỐI VỚI NGÔN NGỮ VIẾT TIẾNG VIỆT

(QUA KHẢO SÁT BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Đỗ Tiểu Long Nữ

ẢNH HƯỞNG CỦA NGÔN NGỮ NÓI ĐỐI VỚI NGÔN NGỮ VIẾT TIẾNG VIỆT

(QUA KHẢO SÁT BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

Trang 3

L ời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn “Ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết tiếng Việt (qua khảo sát bài làm văn của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh)” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi; các thông tin,

số liệu được nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012

Tác giả

Trang 4

L ời cảm ơn

Luận văn được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực học hỏi, nghiên cứu của bản thân, còn nhờ có sự chỉ bảo, giúp đỡ, động viên của quý thầy cô, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp

Trước tiên, bằng lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của TS Trần Hoàng

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Ngôn ngữ Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Xin cảm ơn Phòng Sau đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu và các bạn đồng nghiệp ở Trường THCS Trường Chinh, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong công tác và giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi cũng chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn

bè đã động viên, ủng hộ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học và làm luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012

Tác giả

Trang 5

M ỤC LỤC

Lời cam đoan 2

Lời cảm ơn 3

MỤC LỤC 1

Mở đầu 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 8

4 Nguồn ngữ liệu và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1: Cơ sở lý thuyết 12

-1.1 Giao tiếp và năng lực giao tiếp 12

1.1.1 Khái quát về giao tiếp 12

1.1.2 Năng lực giao tiếp 13

1.2 Mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết 14

1.3 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 17

1.3.1 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói 17

1.3.2 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết 26

-1.3 3 Sự khác biệt về hình thức giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết 37

1.4 Tiểu kết 43

-Chương 2: Khảo sát ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết qua bài làm văn của học sinh trung học cơ sở tại TP HCM 44

2.1 Bình diện ngữ âm – chữ viết 44

2.1.1 Lỗi viết sai âm đầu 45

2.1.2 Lỗi viết sai ở vần 50

2.1.3 Lỗi viết sai dấu thanh 54

2.2 Bình diện từ vựng 57

Trang 6

2.2.1 Lỗi do dùng từ ngữ khẩu ngữ, từ ngữ địa phương 59

2.2.2 Lỗi do dùng các yếu tố dư về từ ngữ 61

2.3 Bình diện ngữ pháp 64

2.3.1 Lỗi do câu không đủ thành phần bắt buộc 66

2.3.2 Lỗi do câu chập cấu trúc 69

2.3.3 Lỗi do vị trí các thành tố trong câu không phù hợp 70

2.3.4 Lỗi do thiếu dấu câu ở những trường hợp phải có 73

-Chương 3: Đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi do ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết cho học sinh trung học cơ sở 83

3.1 Bình diện ngữ âm – chữ viết 83

3.2 Bình diện từ vựng 117

3.3 Bình diện ngữ pháp 121

3.4 Tiểu kết 147

Kết luận 149

Tài liệu tham khảo 153

Phụ lục 1

Trang 7

-M ở đầu

1 Lý do ch ọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của một cộng đồng Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể diễn đạt và làm cho người khác

hiểu được tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của mình

Nói nghe và viết nhìn là hai phương tiện giao tiếp của ngôn ngữ Hàng ngày, với tư cách là người sử dụng ngôn ngữ, chúng ta nói nhiều hơn viết Trong những năm đầu đời, ngay từ trước khi đến trường, trẻ em tiếp thu ngôn ngữ trước hết ở hình thức nghe - nói, rồi mới dần dần học cách nhận biết những sự việc khác nhau về thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ, bằng cả hai phương tiện nghe - nói và đọc - viết

Thực tế cho thấy, khi tạo lập văn bản, một trong những nguyên nhân khiến học sinh mắc lỗi hành văn là do sự ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết

Các em chưa chú trọng phân biệt ngôn ngữ nói và viết, dẫn đến lối hành văn “viết như nói” Cách “viết như nói” lâu dần sẽ trở thành thói quen, gây nên những hạn

chế nhất định trong cách sử dụng ngôn ngữ viết của các em

Hiện nay, trong nhà trường phổ thông, việc rèn luyện cho học sinh thói quen nói đúng, viết đúng rất được quan tâm Một trong những mục tiêu mà trường

phổ thông đặt ra là “học sinh có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp” [3, tr.3], đặc biệt nhấn mạnh “viết thì không chỉ viết đẹp, đúng chính tả, mà quan trọng hơn là còn phải biết các thao tác để tạo lập các kiểu văn bản” [3, tr.5] Chính vì thế, việc giáo dục thói quen viết đúng tiếng

Việt cho thế hệ trẻ càng trở nên vô cùng bức thiết

Xuất phát từ thực tế trên, người viết muốn đi sâu tìm hiểu ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết tiếng Việt qua khảo sát bài làm văn của học sinh trung học cơ sở (HS THCS) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) Từ

đó, người viết đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục những trường hợp ngôn ngữ viết bị ảnh hưởng ngôn ngữ nói trong bài làm văn của học sinh, góp phần cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho việc dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông

Trang 8

G M Green đã có nhận xét rằng những đặc trưng thường được gán cho là của văn bản viết với phong cách ngôn ngữ văn hóa gọt giũa cũng được tìm thấy trong cả hai ngữ cảnh nói và viết [48, tr.119-153]

W L Chafe nghiên cứu sự khác nhau trong các quá trình tạo lập văn bản nói và văn bản viết đã dẫn đến các kết quả khác biệt trong các sản phẩm lời nói (lời nói và chữ viết) như thế nào Ông chú ý hai khía cạnh chính:

(1) Nói thì nhanh hơn viết (và chậm hơn đọc);

(2) Người nói tương tác trực tiếp với người nghe, còn người viết thì không Chafe tìm thấy các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau giữa ngôn ngữ hội thoại hàng ngày với văn xuôi có tính chất học thuật trong ngôn ngữ của cùng đối tượng nghiên cứu Ông cũng thấy rằng các cứ liệu của ngôn ngữ nói mà ông thu thập được thường bị ngắt quãng do nhịp độ nhanh của ngôn ngữ nói Trong khi đó, các cứ liệu của ngôn ngữ viết thì được tổ chức chặt chẽ hơn với sự có mặt của một phần lớn các cấu trúc danh hóa, ngữ liên hợp, sự phù hợp của các giới ngữ, các cú (mệnh đề) làm

bổ ngữ (complemennt clause) và các mệnh đề quan hệ (relative clause)

Chafe chứng minh rằng ngôn ngữ viết có khuynh hướng không lệ thuộc bởi tương tác trực tiếp giữa người viết và người đọc nhờ việc sử dụng các cấu trúc bị động và danh hóa Trái lại, trong ngôn ngữ nói có thể tìm thấy nhiều cách thể hiện tương tác liên cá nhân giữa người nói và người nghe, bao gồm các quy chiếu về người nói và các quá trình tạo lập văn bản của người nói, các phương tiện tổ chức

Trang 9

thông tin, việc sử dụng các tiểu từ để nhấn mạnh, và các lời dẫn trực tiếp [47, 53]

tr.35-Nói đến sự khác biệt giữa ngôn ngữ nói và viết không thể không nhắc đến các ý kiến của M A K Halliday Halliday thuộc nhóm các tác giả theo quan điểm chú trọng sự đối lập giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ông nhấn mạnh quan

điểm rằng: “Nói và viết không chỉ đơn thuần là những cách thức có thể lựa chọn để làm những việc như nhau Nói đúng hơn, chúng là những cách thức để làm những việc khác nhau” (Writing and speaking are not just alternative ways of doing the

same things: rather, they are ways of doing different things) [49, tr.xv]

Theo Halliday, trong ngôn ngữ luôn luôn có các biến thể Các biến thể này

gồm có biến thể có tính chất xã hội, tức là phương ngữ, và biến thể thuộc về chức năng ngôn ngữ, tức là âm vực (register) Biến thể thuộc về chức năng là cái làm cho

ngôn ngữ nói và viết không bao giờ bị đồng nhất Trong khi phương ngữ là cái mà người nói sử dụng như một thói quen ngôn ngữ, và được xác định tùy vào người nói

là ai, thì biến thể chức năng của ngôn ngữ được sử dụng là cái mà người nói thực sự nói ra (hoặc viết ra) lúc đó

Biến thể chức năng được xác định theo các biến số Các biến số gồm có phạm vi ngôn ngữ được sử dụng (cái gì đang diễn ra), giọng điệu (những nhân vật nào đang tham gia), và phương thức (ngôn ngữ đang đảm nhận vai trò gì) Cũng theo Halliday, bởi vì ngôn ngữ viết đã tiến triển để có được hàng loạt các chức năng

xã hội chuyên biệt, nên đã có thể có một ngôn ngữ viết không giống với ngôn ngữ nói Halliday là tác giả đã nghiên cứu ngôn ngữ nói và viết một cách công phu và tương đối toàn diện Ông đi đến kết luận rằng hai hình thức ngôn ngữ này khai thác những đặc điểm khác nhau của cùng một hệ thống ngôn ngữ, và cả hai đều đạt được những thế mạnh khác nhau Việc xem xét ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết theo các khía cạnh tương quan đã phản ánh nỗ lực của tác giả nhằm đánh giá đúng vai trò xã hội của cả hai

R A Budagov cho rằng có hai cặp đối lập cơ bản về phong cách chức năng ngôn ngữ chung cho mọi ngôn ngữ :

Trang 10

(1) Sự đối lập giữa phong cách nói và phong cách viết;

(2) Sự đối lập giữa phong cách khoa học và phong cách nghệ thuật

Ngoài ra, R A Budagov còn có những biện luận về hai khái niệm “nói” và

viết”: “Trong quá trình viết thường có sự lựa chọn từ ngữ, kết cấu, cố giãi bày theo chuẩn mực của ngôn ngữ viết, còn trong quá trình nói, sự lựa chọn như vậy là không có” (Dẫn theo Cù Đình Tú [42, tr.37])

Trong nước, liên quan đến những khảo sát về ngôn ngữ nói và viết thường thuộc lĩnh vực Phong cách học tiếng Việt Có thể kể đến những đóng góp to lớn của các tác giả như Cù Đình Tú [42], Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [21], Nguyễn Nguyên Trứ [40],… với sự phân biệt các nhóm phong cách chức năng (phong cách khẩu ngữ và các phong cách ngôn ngữ văn hóa gọt giũa) tồn tại ở hai dạng thức (dạng nói và dạng viết)

Đinh Trọng Lạc cho rằng: “Sự khác nhau thứ ba giữa dạng nói và dạng viết là về phương diện đặc điểm ngôn ngữ Có thể nói dạng nói thường có hình thức phong phú, đa dạng, mới mẻ, dễ biểu hiện tính biểu cảm - cảm xúc Dạng viết thường có hình thức gọn gàng, hoàn chỉnh, biểu hiện tính chính xác cao, tính lôgic chặt chẽ” [21, tr.46-47] Ông cũng chỉ rõ đặc điểm ngôn ngữ nổi bật của dạng nói là

yếu tố dư và hình thức tỉnh lược, còn đặc điểm ngôn ngữ nổi bật của dạng viết là từ ngữ chính xác, kết cấu ngữ pháp – ngữ nghĩa chặt chẽ, hoàn chỉnh Đồng thời, ông cũng trình bày sự khác nhau giữa dạng nói và dạng viết ở các khía cạnh khác như: phương tiện vật chất, điều kiện của hoạt động giao tiếp

Ngoài ra, xuất phát từ yêu cầu và vận dụng thành tựu của bộ môn Ngôn ngữ học văn bản và Phân tích diễn ngôn, Diệp Quang Ban đã trình bày vấn đề phân

biệt ngôn ngữ nói và viết dưới hai hình thức: hình thức thứ nhất là hình thức cụ thể, trực quan đối lập với hình thức thứ hai là hình thức khái quát Hình thức cụ thể

phân biệt ngôn ngữ nói theo nghĩa hẹp là ngôn ngữ âm thanh dùng trong hội thoại

tự nhiên, và ngôn ngữ viết bao gồm cả lời phát biểu trên cơ sở bài viết sẵn, còn hình thức khái quát thì phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong mọi lĩnh vực xã hội (trong mọi phong cách chức năng) [1, tr.78-94]

Trang 11

Trong hai năm 2000-2002, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường TP Hồ

Chí Minh đã tài trợ thực hiện đề tài: “Các lỗi chính tả, từ vựng, ngữ pháp và cách khắc phục (lỗi qua các bài viết trong nhà trường và trên các phương tiện truyền thông)” do Lê Trung Hoa chủ nhiệm Công trình này đã có một số thành quả đáng ghi nhận

Trong “Tiếng Việt thực hành”, Bùi Minh Toán, Lê A, Đỗ Việt Hùng nhấn mạnh: “Nói và viết tiếng Việt phải đạt tới sự đúng đắn, chính xác, phải sáng sủa, mạch lạc, hơn nữa phải đạt tới hiệu quả giao tiếp cao” [39, tr.15] Tuy nhiên, nội

dung của cuốn sách trên nhằm phục vụ chung cho việc giảng dạy tiếng Việt ở các trường đại học, chưa đi sâu vào nguyên nhân và cách khắc phục đối với những trường hợp ngôn ngữ viết bị ảnh hưởng của ngôn ngữ nói

Hiện nay, vấn đề nghiên cứu về ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết vẫn được

cho là một mảng đề tài rộng và khó tiếp cận Trong hàng loạt các bài báo: “Một số vấn đề về chuẩn mực hóa ngôn ngữ” (1979), “Nhìn lại công việc chuẩn hóa tiếng Việt” (1983), “Giới thiệu vấn đề chuẩn mực và chuẩn mực ngôn ngữ” (1999), Hoàng Tuệ cho rằng: “Vấn đề này rất rộng, nếu bàn tới các khác nhau giữa nói và viết ở tất cả các mặt…” Tuy nhiên, ông cũng khẳng định rằng: “Kết luận đúng đắn, được thừa nhận rộng rãi hiện nay là mặc dù không có một thứ chữ viết nào hoàn toàn độc lập với mặt ngữ âm mà từ đó sinh ra, nhưng vẫn phải thấy ngôn ngữ viết

và ngôn ngữ nói, mặt chữ và mặt âm, có đặc điểm khác nhau, chức năng khác nhau,

và do đó, sự tồn tại cùng sự hành chức và phát triển không giống nhau.” [43,

tr.137-151]

Đề cập đến vấn đề dạy và học tiếng Việt, tác giả Bùi Đăng Bình trong bài

Năng lực chính tả của học sinh (HS) tiểu học và trung học cơ sở (THCS) hiện nay”

đã dùng một ankét để trắc nghiệm nhằm mục đích kiểm tra và đánh giá thực trạng năng lực chính tả tiếng Việt của HS tiểu học (lớp 5) và THCS (lớp 9) ở ba vùng / miền khác nhau Từ kết quả đó và từ cơ sở ngữ âm học tiếng Việt, ông cũng đưa ra một vài kiến nghị về việc dạy môn chính tả tiếng Việt trong chương trình của SGK

Tiếng Việt cho HS phổ thông Trong đó, ông chỉ rõ: “Đa số các trường hợp nhận

Trang 12

biết sai chính tả nếu có xảy ra ở bậc THCS, theo chúng tôi là đều do sự ảnh hưởng của cách phát âm địa phương vào việc viết của HS Điều này là tất yếu, bởi vì mối quan hệ giữa chính tả chữ quốc ngữ và tiếng Việt là rất đặc biệt, phát âm thế nào thì ghi thế ấy” [2, tr.46-57]

Năm 2008, với đề tài “Ngôn ngữ nói và viết (qua cứ liệu tiếng Việt và tiếng Anh )”(Luận án Tiến sĩ) Hồ Mỹ Huyền đã có những đóng góp nhất định trong công

tác nghiên cứu ngôn ngữ, đặc biệt là bộ môn Phân tích lỗi (lỗi của người học tiếng, người sử dụng ngôn ngữ ở cấp độ trên câu), bộ môn Lý thuyết hội thoại, Ngôn ngữ học văn bản và Phân tích diễn ngôn [17, tr.195]

Sự ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết không phải là vấn

đề mới đối với người sử dụng ngôn ngữ đặc biệt là giới nghiên cứu Nhưng nghiên cứu một cách hệ thống sự ảnh hưởng của ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết ở tất cả các bình diện ngữ âm – chữ viết, từ vựng, ngữ pháp thì người viết chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào bao quát Do đó, trong luận văn này, người viết sẽ cố gắng đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống hơn về vấn đề này

3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là hai hệ thống độc lập nhưng không hoàn toàn tách biệt nhau theo kiểu ngôn ngữ nói dùng để nói và ngôn ngữ viết dùng để viết Bởi lẽ trên thực tế người nói hay viết cũng chỉ sử dụng một thứ chất liệu là ngôn ngữ Do đó việc ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết là điều khó tránh khỏi Chính vì thế, người viết đã chọn đối tượng nghiên cứu của luận văn là

Ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết tiếng Việt (qua khảo sát bài làm văn của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh)”

3.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết tiếng Việt (qua khảo sát bài làm văn của HS THCS trên địa bàn TP

HCM)

Trang 13

Trên cơ sở ngữ liệu được thu thập, người viết tiến hành phân tích, phân loại lỗi trong bài làm văn của HS, từ đó đề xuất một số biện pháp khắc phục Việc làm này có ý nghĩa thiết thực nhằm cung cấp thêm tài liệu tham khảo cho việc dạy tiếng Việt trong nhà trường phổ thông

4 Nguồn ngữ liệu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nguồn ngữ liệu

Người viết thu thập bài làm của học sinh trung học cơ sở (800 bài) ở một

số quận, huyện trên địa bàn TP HCM, cụ thể là huyện Hóc Môn, huyện Bình Chánh, quận Gò Vấp, quận Phú Nhuận, quận Tân Bình, quận Bình Tân, và Quận 6

Cách chọn mẫu

Người viết tiến hành thu thập 2000 bài làm văn của HS THCS (lớp 6, 7, 8, 9), ở 10 trường của cả khu vực nội thành và vùng ven tại địa bàn TP HCM với đặc điểm đa dạng về thành phần dân cư, sau đó, lựa chọn ra 800 mẫu đại diện, số bài của mỗi khối ở mỗi vùng được chọn đều là 100 bài, [(100 bài x 4 khối) x 2 khu vực

= 800 bài] Từ đó, luận văn lần lượt khảo sát các dạng lỗi theo yêu cầu của đề tài

Do điều kiện thời gian, luận văn này chỉ tập trung thống kê, phân loại, nhận xét những trường hợp ngôn ngữ viết bị ảnh hưởng trực tiếp từ ngôn ngữ nói qua mẫu đại diện là 800 bài làm văn của học sinh được lựa chọn từ 10 trường THCS tại TPHCM, trên các bình diện ngữ âm – chữ viết, từ vựng, và ngữ pháp từ đó đề xuất giải pháp khắc phục

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu

chính sau đây:

Phương pháp thống kê, phân loại

Trong luận văn, người viết sử dụng phương pháp thống kê, phân loại bằng phần mềm SPSS (phiên bản 11.5) nhằm thống kê, phân loại lỗi trong bài làm văn của HS THCS

Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp này được sử dụng khi so sánh, đối chiếu những đặc điểm của ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, từ đó rút ra những khác biệt cơ bản về hình thức của chúng

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đây là phương pháp được vận dụng khi miêu tả đặc điểm của ngôn ngữ nói

và viết; giao tiếp bằng ngôn ngữ; những ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ viết Phương pháp này cũng được sử dụng trong quá trình đưa ra biện pháp khắc phục những lỗi do ảnh hưởng của ngôn ngữ nói

6 C ấu trúc của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết Ở chương này, luận văn sẽ trình bày những vấn

đề có liên quan đến đề tài về phương diện lí thuyết để làm căn cứ thực hiện các nội dung ở chương 2 và chương 3

Chương 2 Khảo sát ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết qua bài làm văn của HS THCS tại TP HCM Ở chương này, luận văn sẽ trình bày kết

quả khảo sát ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết qua bài làm của HS THCS tại TP HCM trên ba bình diện: ngữ âm – chữ viết, từ vựng và ngữ pháp

Chương 3 Đề xuất một số biện pháp khắc phục lỗi do ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ viết cho HS THCS Ở chương này, luận văn đề xuất một

số biện pháp nhằm khắc phục lỗi do ảnh hưởng của ngôn ngữ nói đối với ngôn ngữ

viết cho HS THCS

Trang 15

Ngoài ra, luận văn còn có một danh mục Tài liệu tham khảo gồm 50 đơn vị

Phụ lục Bảng kê các lỗi tiêu biểu và cách sửa lỗi được đề xuất

Trang 16

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Ở chương này, luận văn sẽ lần lượt trình bày một số vấn đề chung về giao tiếp, mối quan hệ giữa lời nói và chữ viết, những đặc điểm của ngôn ngữ nói và viết Đấy là những tiền đề để luận văn đi sâu thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu ở

chương sau

1.1 Giao ti ếp và năng lực giao tiếp

1.1.1 Khái quát v ề giao tiếp

Giao tiếp là hiện tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một nội dung nào đó Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể không phải là xã hội

Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hiện tượng diễn ra hằng ngày trong các cộng

đồng Theo Berge (1994) : “Giao tiếp được hiểu là quá trình thông tin diễn ra giữa

ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định” Như vậy giao tiếp phải do hai người trao đổi với nhau, nếu người

thứ hai không cộng tác thì giao tiếp không thể diễn ra Và sự giao tiếp bao giờ cũng

phải “gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định” Ngữ cảnh là nơi cung

cấp đề tài, nhân vật, điều kiện cho giao tiếp diễn ra, và qua đó mà quy định cả cách thức tiến hành cuộc giao tiếp Tình huống được hiểu là cái khung sự việc chung thường lặp đi lặp lại có thể hình dung như một kịch bản cho sẵn (như bữa cơm gia đình, buổi học ở lớp học, cuộc giải trí trong giờ chơi, cuộc khám bệnh, )

Con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, có thể khái

quát thành ba loại phương tiện chủ yếu là bằng âm thanh, bằng ánh sáng, bằng hành động vật lí Giao tiếp bằng âm thanh có thể là cách dùng lời truyền miệng để

nói với nhau những điều cần nói; hoặc dùng các phương tiện gây ra âm thanh, tiếng động như dùng các nhạc cụ, thổi tù và, đánh trống, đánh mõ, Giao tiếp bằng ánh sáng là cách dùng các loại phát quang như đốt lửa, dùng đèn hiệu kiểu đèn đường

Trang 17

giao thông, Giao tiếp bằng hành động vật lí là dùng sự vận động vật chất như hích khuỷu tay, đập nhẹ vào lưng…Trong số các phương tiện đó, ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người là phương tiện tiện lợi nhất và hữu hiệu nhất (không tính đến các phương tiện giao tiếp do khoa học công nghệ đem lại) Phương tiện giao tiếp được bàn ở đây là ngôn ngữ âm thanh tự nhiên của con người và được gọi là ngôn ngữ nói và dạng tồn tại thứ hai của nó là ngôn ngữ viết

Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện hai chức năng chủ yếu Chức năng thứ nhất là chức năng trao đổi hoặc truyền tin, tức sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt, biểu hiện, miêu tả nội dung sự việc Chức năng thứ hai là chức năng tác động, tức sử dụng ngôn ngữ để thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội giữa các bên tham gia giao tiếp

1.1 2 Năng lực giao tiếp

Năng lực giao tiếp là năng lực vận dụng ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp xã hội Ngay từ khi còn nhỏ, lúc trẻ học nói cũng là lúc trẻ học các quy tắc giao tiếp trong xã hội, tức là trẻ không chỉ học cách đặt câu mà còn phải học cách giao tiếp với người khác như thế nào Trẻ tiếp tục học hỏi, trau dồi năng lực giao tiếp trong các môi trường: gia đình, nhà trường cũng như trong xã hội rộng lớn Vì vậy, nhờ

xã hội mà con người có được năng lực giao tiếp

Mỗi xã hội lại có một loạt các quy tắc, chuẩn mực giao tiếp riêng Trong đó

có những quy tắc thuộc về quy định như luật pháp và có những quy tắc thuộc về tập tục, thói quen hình thành như phong tục, tập quán Những quy tắc, chuẩn mực giao tiếp này chi phối hành vi của con người

Mỗi xã hội có những quy tắc, chuẩn mực giao tiếp riêng cho nên dễ xảy ra trường hợp chuẩn mực giao tiếp này sẽ là phi chuẩn mực giao tiếp của xã hội kia

Ví dụ:

Người Trung Quốc khi đến thăm bạn bè, trước lúc ra về, dù là bạn rất thân,

thường nói những câu xã giao kiểu như là lời xin lỗi Chẳng hạn: “Làm phiền anh nhiều quá! Mất nhiều thời gian của anh” Đó thật ra chỉ là những câu nói khách sáo

Trang 18

cho lịch sự, chứ hầu như không có hàm ý xin lỗi nào cả Nhưng nếu nói những câu đại loại như thế với một người Âu – Mỹ thì người ấy sẽ hiểu đó là một lời xin lỗi thật sự

Ví dụ:

Đối với nhiều dân tộc, câu nói sau đây sẽ bị coi là rất “quái đản” và khủng

khiếp: “Ông già đã tám mươi tuổi mà con cái vẫn chưa cho bíu vào cây để ăn thịt”

Song câu này sẽ là bình thường nếu xuất hiện trong bộ lạc có tục bắt bố mẹ già bíu vào cành cây, nếu ai không còn đủ sức bíu mà rơi xuống đất sẽ bị con cháu ăn thịt,

vì những người dân của bộ lạc đó quan niệm không có nơi nào chôn cất cha mẹ quý hơn là ở trong lòng con cháu

Năng lực giao tiếp còn được thể hiện ở việc sử dụng ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh giao tiếp Bối cảnh giao tiếp được hình thành từ ba nhân tố gồm (i) Chu cảnh (thời gian, địa điểm và các trường hợp đặc thù có liên quan đến truyền thống văn hóa); (ii) Thoại đề (chủ đề giao tiếp và nội dung đề cập đến); (iii) Người tham

dự (các bên tham gia giao tiếp, gồm người nói và cả người nghe) Trong đó, nhân tố thứ ba chiếm vị trí quan trọng: nhân thân của người tham gia giao tiếp như địa vị kinh tế, xã hội, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác, cùng quan hệ vai giữa những người tham gia giao tiếp như quan hệ cha - con; giám đốc - nhân viên, thầy giáo - học sinh, người bán - người mua Ở đây có hai khả năng xảy ra: (i) Nếu như trong một cuộc giao tiếp xảy ra trong một chu cảnh thích hợp, chủ đề giao tiếp tương xứng với nhân thân và tương xứng với quan hệ vai của những người giao tiếp thì

bối cảnh giao tiếp này được coi là “bối cảnh đồng dạng” (ii) Ngược lại, chỉ cần có một trong các điểm trên không tương hợp thì sẽ được gọi là “bối cảnh phi đồng dạng” Người có năng lực giao tiếp là người luôn biết sử dụng ngôn ngữ phù hợp

1.2 M ối quan hệ giữa lời nói và chữ viết

Ngôn ngữ nói nảy sinh trước ngôn ngữ viết Theo Halliday, khi có sự xuất hiện nền văn hóa lấy nông nghiệp làm gốc hơn là săn bắt và hái lượm thì con người

đã cần đến những ghi chép giữ được lâu để có thể nhắc đi, nhắc lại Ngôn ngữ nói

Trang 19

đã không thể đáp ứng một cách dễ dàng những nhu cầu này Điều này dẫn đến sự xuất hiện một dạng mới của ngôn ngữ - chữ viết [49]

Ban đầu, khi hệ thống chữ viết chưa phát triển thì chữ viết được dùng để ghi lại lời nói Tuy nhiên, trong quá trình phát triển riêng của mình, chữ viết đã dần dần hình thành cho mình một hệ thống riêng, có phần khác biệt với lời nói Và sự phát triển này mạnh mẽ tới mức chữ viết ngày càng chiếm ưu thế hơn so với lời nói đối với việc duy trì tính thống nhất của ngôn ngữ qua thời gian Bởi lẽ hình ảnh chữ viết của từ đập vào trí ta như một vật cố định và vững chắc Phần lớn ở chúng ta, các ấn tượng thị giác vẫn rõ và bền hơn các ấn tượng thính giác Hình tượng chữ viết rốt cuộc lấn át âm thanh Ngôn ngữ văn học càng làm tăng thêm ưu thế của chữ viết, người ta giảng dạy ở nhà trường cũng theo sách và bằng sách Thậm chí, khi nói chuyện nếu gặp hai từ phát âm như nhau, đôi lúc họ nhờ đến chữ viết để giải thích ý nghĩ của mình như người Trung Quốc chẳng hạn

Goody cũng cho rằng ngôn ngữ viết có hai chức năng: chức năng thứ nhất

là chức năng lưu trữ, cho phép việc giao tiếp vượt qua không gian và thời gian

Chức năng thứ hai “chuyển ngôn ngữ từ nói sang nhìn” và cho phép khảo sát từ, câu nằm ngoài ngữ cảnh ban đầu, trong một “ngữ cảnh hoàn toàn khác, rất trừu tượng”

[4, tr.32]

Dường như có lí khi cho rằng trong đời sống hàng ngày của một nền văn hóa học thức, chúng ta sử dụng lời nói phần lớn để thiết lập và duy trì các quan hệ

xã hội, còn ngôn ngữ viết phần lớn để kiến tạo và chuyển giao thông tin Tuy nhiên,

có trường hợp lời nói được dùng để chuyển giao chi tiết thông tin sự kiện Lúc ấy, điều đáng lưu ý là người nghe thường ghi lại chi tiết anh ta được thông báo Vì thế, bác sĩ ghi lại triệu chứng của bệnh nhân, kiến trúc sư ghi lại yêu cầu của khách hàng, chúng ta ghi lại địa chỉ, số điện thoại, cách chế biến món ăn, mẫu đan len,…Khi người nhận không ghi lại được chi tiết, thông thường người nói sẽ lặp đi lặp lại nhiều lần sau đó Thử xét cấu trúc điển hình của một bản tin phát thanh, bắt đầu bằng tiêu đề - một chuỗi các tuyên bố tóm tắt – theo sau là bản tin bao gồm

phần mở rộng và nhắc lại tiêu đề, lồng vào đó là bình luận của “phóng viên tại chỗ”

Trang 20

vốn chỉ nhắc lại các điểm chính, cuối cùng kết thúc bằng cách lặp lại chuỗi tiêu đề Nhìn chung ai cũng cho rằng người ta không nhớ hết các chi tiết một cách chính xác nếu họ chỉ được nghe nói, đặc biệt nếu họ buộc phải nhớ lại chúng sau một thời gian dài Về khía cạnh giao tiếp này, ngôn ngữ viết tỏ ra ưu việt hơn nhiều như để giúp người ta nhớ các thứ vặt vãnh cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày, hay để giúp các nhà nước thiết lập guồng máy, luật pháp và hiệp ước với nhà nước khác Điểm khác nhau chính yếu giữa lời nói và chữ viết xuất phát từ thực tế một bên thì nhất

thời, một bên thì trường cửu Chính đây là điều mà D.J.Enright bình luận: “ Plato

có thể đã có lần cho rằng lời nói quan trọng hơn chữ viết, nhưng tôi không chắc là

ở thời điểm này ông có nghĩ như vậy nữa hay không!” [4, tr.33]

Bên cạnh đó, có tình trạng không ăn khớp giữa lời nói và chữ viết Bởi lẽ lời nói thường được thể hiện qua những cách phát âm khác nhau theo địa phương còn chữ viết thường hướng đến tính thống nhất, toàn dân

Trang 21

hoa huệ “qua quệ”

1.3 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

1.3.1 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói

1.3.1.1 Tính nhất thời và tự nhiên

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Trong đời sống hàng ngày với tư cách là người sử dụng ngôn ngữ, chúng ta nói nhiều hơn viết Khi nói, người nói có thể phát ra một tràng dài, thường là các ngữ đoạn ngắn hơn một câu và các ngữ đoạn này dường như thiếu sự liên kết bề mặt như cách tổ chức văn bản viết Do đó, các văn bản nói về bản chất không cố định trong không gian, thoáng qua một cách nhanh chóng rồi mất đi theo thời gian Nó chỉ mang tính nhất thời Sở dĩ như vậy là vì dạng nói dùng ngữ âm làm phương tiện biểu hiện mà

ngữ âm thì “lời nói gió bay” cho nên cần phải nghe hiểu tức thời

Ngôn ngữ nói hướng vào sự tri giác và sự phản ứng không chậm trễ của người nhận Do đó, người nghe cần lưu ý phần nội dung chính mà người nói muốn truyền đạt chứ không phải phần lời được nói ra

Và tính nhất thời cũng là điểm thuận lợi khi người nói muốn chuyển hướng

đề tài, sửa chữa phát ngôn hoặc thậm chí phủ định lời nói đã được nói ra như tục

ngữ ta có câu “Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”

Khi giao tiếp trực tiếp, người nói có thể chuẩn bị trước một số ý cơ bản nhưng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày không ai có thể chuẩn bị đến từng chi tiết như khi soạn thảo văn bản trên giấy Trong tương tác mặt đối mặt, người nói và người nghe thường luân phiên đưa ra và chấp nhận các lượt lời, luân phiên đổi vai cho nhau Phát ngôn kế tiếp của người nói thứ nhất không hoàn toàn phụ thuộc vào

ý chủ định của người ấy, mà trái lại, phụ thuộc rất lớn vào hồi đáp tức thời của người nghe Do đó các yếu tố ngôn ngữ xuất hiện tức thời mang tính phản ứng tự nhiên đối với hoàn cảnh Đôi khi nội dung được đề cập vượt ra ngoài rất xa so với ý định của người nói Những phản ứng tự phát của người nghe, những liên tưởng tự

Trang 22

do trong giao tiếp đã tạo nên hiện tượng đề tài nói năng luôn luôn biến động, chuyển đổi Người ta không còn làm chủ được đề tài trong giao tiếp tạo nên tình trạng các ý không ăn nhập với nhau Do vậy, xét về toàn cục thì mạch trình bày ở ngôn ngữ nói có thể bị đứt quãng, bị chuyển đổi một cách bất ngờ, tạo nên tình trạng các ý không ăn nhập với nhau

Ví dụ:

- Nó chết một cái nhà tôi neo người quá, phải những như một mình tôi, thì tôi

ở lại làng cùng anh em cơ đấy

- Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được tản cư âu cũng là kháng chiến

- Thì vưỡn! Lúa dưới ta tốt nhiều chứ? Các ông bà ở đâu ta lên đấy ạ?”

(Kim Lân, Làng)

Ở đoạn đối thoại trên, phần đầu đang nói về chuyện tản cư, bỗng nhiên đứt quãng, chuyển sang chuyện lúa má, sau đó lại chuyển sang chuyện quê quán, gốc gác

Ngoài ra, ngôn ngữ nói thường tự nhiên, ít gò bó M.A.Halliday cho rằng kiểu phức tạp của ngôn ngữ nói là ngôn ngữ nói chuyển động như một dòng sông chảy xiết Cấu trúc của ngôn ngữ nói thể hiện kiểu phức tạp năng động có thể thấy được trong lời nói tự nhiên, ứng khẩu, có nét uyển chuyển đặc thù như các động tác múa ba lê

Sự giao tiếp thân mật, tự nhiên giữa các cá nhân trong phạm vi hẹp cho phép người ta nói năng thoải mái Do đó, khi nói người ta ít chú ý đến chuẩn mực phát âm mà thường phát âm theo tập quán địa phương Vì vậy, trong ngôn ngữ nói,

ta có thể thấy tất cả các biến thể phát âm, những từ địa phương, những thổ ngữ - tức những khẩu ngữ địa phương

Ví dụ: - Vô đi, mầy không vô hả?

- Tao đánh à? Vô đi, mai chị làm cho cây mi-ba-rút (tiểu liên có báng)

- Tao mét má nghen! Má ơi, thằng Bỉnh nó cởi truồng nè má!

- Chị Hai cho em đi với!

- Tao đi đái chớ đi đâu mà theo!

Trang 23

- Cho em một trái

- Trái gì, tao làm gì có mà cho

(Nguyễn Thi, Chuyện xóm tôi)

Đây là một đoạn đối thoại xảy ra ở một địa phương Nam Bộ, có các biến

thể ngữ âm, như: mầy (mày), mét (mách), nè (này), chớ (chứ); các từ địa phương như: vô (vào), trái (quả),…

Và đôi khi do người nói không giữ gìn, thiếu ý tứ hoặc thiếu văn minh lịch

sự và do quan hệ riêng giữa những cá nhân cho phép, lời khẩu ngữ ở đây có cả yếu

tố thô, kém văn hóa

Ví dụ:

- Thật đấy Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ? Nhưng này! Duyên kia

ai đợi mà chờ? Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình? Hàng đã ế bỏ mẹ ra thế này này,

mua chẳng mua giúp lại chỉ được cái bộ ếm…

Xuân Tóc Đỏ đứng phăng lên, anh hùng mà nói dỗi:

- Đây không cần!

Chị hàng mía lườm dài một cái, cong cớn:

- Không cần thì cút vào trong ấy có được không?

Xuân Tóc Đỏ lại cười hí hí như ngựa rồi ngồi xuống…

- Nói đùa đấy, chứ đây mà lại chả cần đấy thì đấy cần đếch gì đây? Thôi đi,

làm bộ vừa vừa chứ… Bán một xu nào

(Vũ Trọng Phụng, Số đỏ)

Hơn nữa, khi giao tiếp trực tiếp, ngoài mục đích thông báo thì người nói luôn muốn bày tỏ tâm tư tình cảm với nhau Ở đây con người luôn luôn tiếp xúc thẳng với mọi mặt cụ thể, sinh động của cuộc sống Con người muốn bày tỏ tức khắc những phản ứng ít nhiều ở dạng cảm tính của mình Những phản ứng cảm tính này cần được định hình để đem ra trao đổi, truyền đạt cho nhau Chính vì thế, ngôn ngữ nói thường cụ thể giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm và ưa ví von

Ví dụ:

Con mẹ kia ngoa ngoắt, tớn môi lên:

Trang 24

- Ai khiến nhà bác chõ mồm vào đấy thế? Rõ khéo con tiều! Bác thương nó

thì mua cho nó

Người phu quét chợ bực mình quăng ngay cho bà tôi hai hào:

- Đây này! Tôi cho nhà chị vay bao giờ kiếm được thì trả tôi; chúng nó giàu

coi đồng xu bằng cái mẹt!

(Nam Cao) Ngôn ngữ nói mang tính nhất thời, tự nhiên nhưng nó phải gắn liền với những quy định mang màu sắc văn hóa truyền thống, với thói quen và tập quán của người bản ngữ, với phong cách ứng xử chung của cộng đồng Bởi lẽ xét một cấu trúc ngôn ngữ dùng trong giao tiếp lời nói nếu không chú ý đến thói quen truyền thống, tới đặc điểm văn hóa dân tộc thì sẽ không hiểu được ý nghĩa và chức năng của nó

1.3.1.2 Tính trực tiếp

Khi quyết định nói điều gì, người nói sẽ phát đi một chuỗi âm thanh Đồng

thời người nghe cũng lập tức tiếp nhận chuỗi âm thanh ấy Do vậy, ngôn ngữ nói mang tính trực tiếp Tính trực tiếp được thể hiện ở ngữ điệu, dáng vẻ, điệu bộ, ánh mắt, cử chỉ của người nói

Ngữ điệu là tập hợp của các yếu tố âm thanh như cao độ, trường độ, nhịp điệu, trọng âm, âm hưởng, âm sắc Lời nói có thể được phát ra cao hay thấp, nhanh hay chậm, liên tục hay ngắt quãng, nhấn mạnh hay lướt nhẹ…nghĩa là có thể có những đường nét ngữ điệu khác nhau có khả năng diễn đạt toàn bộ tính chất phức tạp, tinh tế, đa dạng của những tình cảm, những ý nghĩ và những tâm trạng Ngữ điệu là yếu tố chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ nói chứ không tồn tại trong ngôn ngữ viết Bởi lẽ trong một mức độ nhất định, ngữ điệu không thể được tiếp nhận bằng thị giác mà chỉ có thể được tiếp nhận bằng thính giác Do đó, ngữ điệu chẳng những

có tác dụng làm cho thông báo thay đổi mà còn biểu thị trạng thái tâm lí của những người tham gia đối thoại

Ví dụ:

Ta có một câu: Nó làm việc này

Trang 25

Thông thường, đây là một câu miêu tả Nhưng tùy theo ngữ cảnh cụ thể, nó

sẽ được gắn với các ngữ điệu khác nhau và sẽ có các ý nghĩa khác nhau Cụ thể là,

nó có thể được hiểu với các ý nghĩa: nghi vấn, bác bỏ, phủ định, khẳng định, thách thức

Khi nói, mối quan hệ thân mật không trịnh trọng giữa các cá nhân làm cho người ta thấy không cần thiết, không bắt buộc phải lựa giọng, lấy giọng trước khi nói Do vậy, ngữ điệu trong ngôn ngữ nói mang dấu ấn riêng của cá nhân, một thứ ngữ điệu mang tính chất tự nhiên, tự phát theo thói quen riêng của mỗi cá nhân Khi miêu tả nhân vật và ngôn ngữ của nhân vật, các nhà văn thường chú ý đến điều này bởi vì ngữ điệu cùng vẻ mặt, cử chỉ trong lúc nói năng của nhân vật là cái có tác dụng làm rõ đặc điểm tính cách của nhân vật

Ví dụ:

Cô Tuyết nằn nì:

- Con lạy me, me cũng chẳng tha

- Nhưng me không cho con phẫn uất thế mà! Nghĩ ngợi gì, nói đi!

Cô Tuyết đập tay xuống giường:

- Chỉ có một mình chị Mai hiểu được tâm sự của con mà thôi

Me ngạc nhiên cau đôi lông mi để vơ vẩn đoán Một lát me hỏi:

- Hay là con đã nghe thấy bên bà cụ huyện họ nói ra nói vào thế nào chăng?

Cô Tuyết nguẩy một cái:

- Không phải, không phải đâu!

- Hay là con nghe ai nói thằng tham có nhân tình nhân ngãi mà con muốn lảng ra?

Trang 26

một bên là người mẹ đẻ giàu có, một bên là cô con gái “tiểu thư”, hai thế giới tâm tư

này khác nhau một cách tức cười

Hơn nữa, trong giao tiếp mặt đối mặt, người nói rất quan tâm đến sự chú ý,

sự thông cảm, sự đồng tình của người nghe Vì thế, khi nói, các bên tham gia hội thoại có thể dựa vào nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, giọng điệu của người nói để hiểu đúng ý định của người nói Tính tiết tấu của lời nói được tạo lập có thể do các yếu

tố sau đây: tính chất cân xứng, có vần điệu của thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ; sự ngắt đoạn lời nói nhờ các trợ từ tình thái: ngữ điệu lên xuống, to nhỏ, cao thấp trong lời nói có thể mang tính tiết tấu một cách tự nhiên, tự phát

Ví dụ:

Về đến nhà ông Keng liền tế ngay lên cho bà vợ một trận:

- Đồ khôn nhà dại chợ, đã lên đến trên ấy, không bán được chín xu thì thôi chứ, của thêm vào chẳng có lại có của bào ra!

(Nguyễn Kiên)

Đáng chú ý là ở đoạn văn trên tác giả không dùng “mắng” hoặc “nói cho

bà vợ một trận” mà dùng “tế” Lời đay nghiến, thái độ riết róng của nhân vật Keng

được biểu lộ qua các thành ngữ cùng với ngữ điệu lên xuống, mạnh nhẹ làm cho lời

nói của nhân vật này mang tính tiết tấu và tác giả đã hạ bút đúng chỗ: “tế ngay lên cho bà vợ một trận” (“tế” theo nghĩa khẩu ngữ là chửi bới, mắng nhiếc)

Do hoàn cảnh giao tiếp mặt đối mặt nên người nói và người nghe có thể sửa chữa kịp thời hoặc điều chỉnh điều được nói ra

Ví dụ:

Trang 27

Thằng Dần vẫn sợ ông lý, như đứa trẻ khác sợ ông ngoáo ộp, nghe nói đến tên ông ấy nó đã mất vía rồi Lập tức nó rời vạt áo cái Tý và nó ỏn ẻn dặn mẹ:

- Em chỉ cho chị Tý đi một lúc thôi Lấy được tiền rồi u lại phải đem chị ấy

về đây với em

Chị Dậu buột miệng:

- Ừ…

Rồi hình như có ý hối vì mình đã nói dối trẻ con, tức thì chị lại nói chữa:

- Ừ, hễ cụ Nghị bằng lòng để cho chị con về nhà vài hôm, thì u đem nó về với con

Cái Tý với hai hàng nước mắt ròng ròng, hôn hít các em một lượt nữa, rồi lủi thủi, nó đội mê nón trên đầu và cắp gói áo vào nách

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

Tóm lại, nhờ vào tính trực tiếp mà các bên tham gia hội thoại có thể dựa vào nét mặt, cử chỉ, giọng điệu để hiểu đúng ý định của người nói Thậm chí người nói và người nghe có thể sửa chữa hoặc thay đổi tức thời điều được nói ra, điều mà người viết và người đọc trong một điều kiện thông thường khó có thể thực hiện được

Nhà viết báo giơ hai tay lên không khí, ra vẻ sốt ruột:

- Giời ơi! Thì chỉ có thế mà mãi không hiểu?

Nhà mỹ thuật lại tấm tức nói tiếp:

- Rõ đồ khốn! Tưởng bở! Đòi nay mốt này, mai mốt khác để làm túi cơm giá

áo à? Đã ăn hại chồng mà lại bắt chồng nay sắm cái này, mai sắm cái khác để làm

Trang 28

cho chồng phải khổ sở rồi không kiếm ra tiền để diện thì “đi khách” lấy tiền! Đừng

Đối thoại trực tiếp và ngữ cảnh đối đáp khiến người nói sử dụng rộng rãi các hình thức tỉnh lược thành phần cú pháp

Ví dụ:

- Vải hôm nay bán mấy?

- Kém ba xu dì ạ

- Thế thì còn ăn thua gì!

- Cố co kéo mới được một tấm năm xu

- Thật thế đấy Nhưng chẳng lẽ lại chơi

(Nam Cao, Chí Phèo )

Những hình thức tỉnh lược và những câu đối đáp theo kiểu như trên thường gặp trong khẩu ngữ Đôi khi người ta còn nói bằng sự im lặng, một sự để trống, nói bằng nét mặt cử chỉ Ngữ cảnh đối đáp cho phép người ta hiểu được nội dung của những câu nói không hoàn chỉnh này Vì có người nghe ở ngay trước mặt mình nên người nói biết chỉ cần nói thế nào, nói đến đâu là vừa, là đủ hiểu

Ví dụ:

- Anh này lại say khướt rồi!

Hắn xông lại gần, đảo ngược mắt giơ cái tay lên nửa chừng:

- Bẩm không ạ, bẩm thật là không say Con đến xin cụ cho đi ở tù, mà nếu

không được thì…thì… Thưa cụ

(Nam Cao, Chí Phèo)

Trang 29

Ở ví dụ trên, ta thấy Chí Phèo chỉ cần nói “thì” là Bá Kiến đã lập tức hiểu

ngay được ý định hung dữ của Chí

Loại câu mới chỉ nói nửa lời đã rõ như vậy thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày Hiện tượng tỉnh lược thành phần ở đây rất đa dạng và nhiều khi chúng ta không thể xác định rõ được loại hình tỉnh lược kết cấu của câu nói là như thế nào

Ví dụ:

- Không được, anh Keng ơi! Anh mà làm thế rồi rối như canh hẹ

- Rối tôi cũng làm Dứt khoát…

(Nguyễn Kiên, Anh Keng) Loại câu như “Dứt khoát…” thật khó có thể xác định được thành phần tỉnh

lược

Bên cạnh hình thức tỉnh lược, ngôn ngữ nói còn sử dụng những yếu tố dư

như các hình thức lặp lại, nghi vấn, cảm thán, các trợ từ, ngữ khí từ Khi giao tiếp

trực tiếp đối với những tình huống bất ngờ xảy ra như sự chuyển hướng đề tài một cách đột ngột làm cho người tham gia hội thoại không kịp phản ứng Để bù đắp vào chỗ lúng túng, lấp đầy những khoảng trống, ta thấy xuất hiện hiện tượng lặp tạo ra

sự liền mạch trong tâm lí của những người tham gia giao tiếp Các từ, cụm từ

thường được lặp lại như: rằng, thì, mà, là, đồng thời là, vấn đề là, cái, có thể nói ngay rằng, tôi cho rằng, về việc này, đại khái, hổng chừng, đại thể là,…

Ví dụ:

Cháu là cháu dại lắm! Bác không biết cháu nghĩ thế nào? Chứ ăn một cái kẹo nó khác, nó béo bổ vào người Đằng này, trời ơi! Đằng này, cháu lại đi hút thuốc lá! Thì có lợi gì không? Hay là nó chỉ có hại! Nay cháu hút một điếu, mai cháu lại hút một điếu

Trong ngôn ngữ nói tiếng Việt thường sử dụng rất nhiều ngữ khí từ như à,

ấy, ừ, ứ, thì, là, cái, mà, chắc, chăng, chớ, nhá, nhỉ, hén, nghen; ngữ khí từ nhấn mạnh như chính, đích, những, mới,…

Trang 30

Chính những yếu tố này đã làm cho ngôn ngữ trong dạng nói luôn luôn biến đổi về kiểu loại, luôn luôn mới mẻ, đồng thời cũng làm cho người nói có thể dễ dàng bày tỏ trực tiếp tình cảm, thái độ của mình, mặt khác cũng làm cho người nghe kịp theo dõi, kịp hiểu Bên cạnh những ưu điểm vừa nêu thì việc dùng các yếu tố dư

có những hạn chế nhất định là đôi khi làm ta có cảm giác câu nói dài dòng, lủng củng

Ví dụ:

Vâng thôi… thưa… trước là thưa hai cậu… sau lại có ông Hai đây cũng là chỗ người nhà… vì cây dây leo, vì có anh Mô cháu hầu hạ bà giáo với hai cậu ở trên trường thế rồi anh Mô lại làm bạn với con bé Hà nhà tôi

(Nam Cao, Sống mòn)

Tóm lại, ở ngôn ngữ nói tồn tại hai xu thế trái ngược nhau Một mặt, ngôn ngữ nói dùng các kết cấu tỉnh lược, có khi tỉnh lược đến mức tối đa; mặt khác ngôn ngữ nói lại dùng các kết cấu cú pháp có xen nhiều yếu tố dư, yếu tố lặp lại, có khi

dư thừa một cách dài dòng, lủng củng Hai xu thế này có thể được lí giải bằng một nguyên nhân: sự giao tiếp trực tiếp, không được chuẩn bị trước Đây cũng chính là

hệ quả của việc giao tiếp trực tiếp bằng lời nói miệng

1.3.2 Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết

1.3 2.1 Tính cố định

Tính cố định là một trong những ưu thế của ngôn ngữ viết Như đã nói, khả năng tiếp nhận âm thanh của tai người là hữu hạn Mỗi lời nói chỉ được thu nhận vào lúc nó phát ra, sau đó không còn nữa Như vậy, nó không thể vượt qua cái hố ngăn không gian và thời gian Hơn nữa, khả năng nhận thức của mỗi người khác

nhau và trí nhớ của con người cũng có hạn nên tình trạng “tam sao thất bản” là

không thể tránh khỏi Ngay cả việc dùng thiết bị ghi âm để ghi lại lời nói trong sinh hoạt, giao dịch hàng ngày là một việc làm chưa phổ biến, thậm chí trong nhiều trường hợp có thể bị xem là khiếm nhã và việc ghi âm này thường chỉ phù hợp với một vài mục đích chuyên biệt

Trang 31

Trong tình hình như vậy, chữ viết có giá trị rất lớn Để ghi lại ngôn ngữ, người ta sử dụng hệ thống chữ viết Từ giai đoạn đầu của ngôn ngữ học hiện đại,

Ferdinand de Saussure đã từng nhận định: “Trái với những phương tiện biểu hiện thị giác (dấu hiệu hàng hải…) vốn có thể có những kiểu kết hợp cùng một lúc trên

n hiều chiều, những phương tiện biểu hiện thính giác chỉ sử dụng tuyến thời gian mà thôi; những yếu tố của nó hiện ra lần lượt cái này tiếp theo cái kia, làm thành một chuỗi Đặc điểm này lộ rõ khi người ta biểu hiện các yếu tố đó bằng chữ viết và đem tuyến không gian của những dấu hiệu văn tự thay thế cho sự kế tiếp trong thời gian.” [32, tr.145]

Ban đầu, dạng viết thường được dùng để ghi lại dạng nói miệng Về sau, ngôn ngữ viết ngày càng phát triển ổn định cùng với những phương tiện đặc thù của dạng viết như hệ thống dấu câu, chữ viết hoa phân biệt với chữ thường, xuống dòng

để tạo đoạn văn,… đã làm cho ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết khác biệt rõ rệt hơn

Bản chất cố định này của ngôn ngữ dạng viết cho phép thế hệ sau biết được thành tựu về văn hóa, nghệ thuật, triết học, của thế hệ trước Các sản phẩm bằng ngôn ngữ viết tồn tại lâu bền và cố định hơn các sản phẩm lời nói, do đó chúng phù hợp hơn để lưu giữ các sự kiện, thông tin Từ trước đến nay, tất cả các loại giấy tờ quan trọng như văn bản pháp lý, giấy chứng nhận, bằng cấp, thư từ giao dịch đều phải ghi lại bằng văn bản viết Đó chính là những bằng chứng về tính cố định ưu việt của ngôn ngữ viết mà lời nói miệng không thể thay thế được

1.3 2.2 Tính không đối mặt

Khi viết, người viết thường bị tách biệt khỏi người đọc Do đó, người viết

có thể đọc lại cái mình vừa viết xong, có thể dừng lại nửa chừng mà không ngại đối tượng tham gia giao tiếp cắt ngang, có thể chọn từ này từ kia thậm chí tra cứu từ điển nếu cần, sắp xếp lại, đôi khi thay đổi hoàn toàn nội dung muốn diễn đạt Trong khi người nói buộc phải nói liên tục trong một khoảng thời gian nhất định thì người viết lại không bị những sức ép như thế Trong khi người nói biết rằng người tham gia giao tiếp nghe được tất cả những lời mà mình thốt ra và nếu đó không phải là cái mình muốn nói thì phải tích cực sửa chữa công khai tức thời, còn người viết thì

Trang 32

gạch bỏ và viết lại chỉ riêng mình biết Vì thế người viết không có được thông tin phản hồi tức thời từ người đọc mà phải hình dung ra phản ứng của người đọc

Trong ngôn ngữ viết, ngữ điệu tồn tại dưới dạng dấu câu Chính vì thế ngoài trật tự sắp xếp của các từ, các thành phần câu, các dấu phẩy, dấu chấm câu sẽ góp phần quyết định đến hiệu quả diễn đạt

Ví dụ:

Miền Nam là máu của máu Việt Nam, thịt của thịt Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi

(Hồ Chí Minh) Đoạn văn này sử dụng các cấu trúc sóng đôi (máu của máu Việt Nam // thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn // núi có thể mòn), trật tự xuôi của các thành phần câu, dấu phẩy, dấu chấm, và những từ ngữ (song, không bao giờ) chủ yếu là để diễn đạt mối quan hệ giữa các thành phần trong lời nói Nhưng bây giờ nếu ta so sánh với trường hợp được nghe trực tiếp lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, thì chắc ta sẽ cảm nhận được ngữ điệu được thể hiện trong tiếng nói trực tiếp của Bác có khả năng truyền đạt đầy đủ hơn những tình cảm sâu nặng của Bác đối với miền Nam ruột thịt

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ngôn ngữ viết giữ vai trò không thể thay thế được như (i) Các chủ thể giao tiếp không có khả năng hoặc không có điều kiện giao tiếp trực tiếp, thường xuyên bằng lời nói miệng Chẳng hạn: thông báo dời phòng học viết trên bảng, mẩu giấy dán bên ngoài phòng họp, lịch phân công công tác viết trên bảng…(ii) Chủ thể giao tiếp không muốn đối thoại trực tiếp bằng lời nói miệng thì viết là giải pháp hữu hiệu nhất Chẳng hạn: lá thư, mẩu giấy để lại trong sách, vở khi đưa hoặc trả cho bạn (iii) Người phát ngôn cần đưa tin đến nhiều đối tượng vào những thời điểm khác nhau Chẳng hạn: thông báo tuyển dụng của cơ quan, xí nghiệp (iv) Chủ thể giao tiếp cách xa nhau cả về thời gian lẫn không gian Chẳng hạn: tri thức, kinh nghiệm của các bậc tiền nhân

Tóm lại, trong điều kiện giao tiếp không đối mặt, người viết không tương tác trực tiếp với người đọc Vì thế, người viết có điều kiện tổ chức, sắp xếp nội

Trang 33

dung muốn diễn đạt, điều mà người nói khó thực hiện khi tiếp xúc trực tiếp và

không có sự chuẩn bị trước

1.3 2.3 Tính gọt giũa

Khi viết, người viết hoàn toàn không bị sức ép về mặt thời gian mà có điều kiện tổ chức, sắp xếp thông tin Chính vì thế, trái với ngôn ngữ nói, sự diễn đạt ở đây luôn hướng về trừu tượng, khái quát, hướng về sự trình bày mạch lạc, hợp lô-gích Điều đó được thể hiện rất rõ ở ba bình diện: ngữ âm, từ ngữ và cú pháp

Ở ngôn ngữ nói người ta không đặt nặng vấn đề chuẩn mực Thói quen phát âm vẫn là cái bao trùm Người trong một vùng cùng sử dụng thổ âm với nhau thì không trở ngại gì cho giao tiếp cả Ngược lại trong ngôn ngữ viết, muốn cho mọi người dễ dàng thông hiểu, người ta không thể nào viết theo biến thể ngữ âm của một vùng nhỏ hẹp (trừ những trường hợp trong tác phẩm văn chương, tác giả dùng tiếng địa phương để tô đậm màu sắc địa phương của ngôn ngữ, của tính cách nhân vật) Người ta thấy cần thiết phải hướng về cái gì là chung, là phổ biến cho mọi vùng Cho nên, nhu cầu về chuẩn mực, hướng về chuẩn mực là đặc điểm nổi bật nhất trong sự thể hiện các phương tiện ngữ âm ở ngôn ngữ viết

Bên cạnh đó, ngôn ngữ viết thường hướng tới sử dụng những từ ngữ trừu tượng, trung hòa về sắc thái biểu cảm Về bản chất đây là những từ ngữ biểu thị những khái niệm trừu tượng trong đời sống tinh thần của con người

Ngôn ngữ viết còn chú ý lựa chọn từ ngữ phù hợp nhất với nội dung cần biểu đạt, với mục đích của người viết để tạo nên những xúc cảm thẩm mĩ, thúc đẩy hoạt động thẩm mĩ của người đọc

Ví dụ:

- Tiếng gà le te lần lượt tự nhà nọ truyền đến nhà kia Dưới lớp mái lụp xụp của túp lều tranh, chị Dậu và vầng trăng tàn thơ thẩn nhìn nhau, dường như đôi bên đều có riêng một tâm sự

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn) Trong đoạn văn ngắn của tiểu thuyết “Tắt đèn” nói trên có âm thanh chuyển động (tiếng gà le te lần lượt), có đường nét, hình khối của cảnh vật (lớp mái

Trang 34

lụp xụp), có ánh sáng yếu ớt (vầng trăng tàn), có thiên nhiên và một con người đang hoạt động (chị Dậu và vầng trăng tàn thơ thẩn nhìn nhau) Và đằng sau ngôn ngữ

tạo hình trên là sự cảm thông thầm lặng của tác giả với đau đớn, lung lao của chị Dậu trong một đêm khuya sắp tàn sau khi phải bán đứa con Ngôn ngữ tạo hình và biểu cảm này đã góp phần xây dựng, thể hiện một phương diện trong tâm hồn của hình tượng chị Dậu

- Câu thơ kết trong bài “Không đề” năm 1968 của Bác Hồ: “Bỗng nghe vần thắng vút lên cao!”

Vần thắng” vút lên cao! Cách dùng chữ độc đáo và bất ngờ Ta thường nói: vần bằng, vần trắc, ta cũng dùng “vần thơ” để chỉ câu thơ Nhưng ở đây tác giả

đã dùng “vần thắng” đã tạo ra sự liên tưởng, một hiệu quả nghệ thuật cao: “vần thắng” chính là câu thơ chiến thắng, câu ca chiến thắng (vút lên cao)

- Hai câu thơ đầu trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du:

Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Để có được câu thơ thứ hai, tác giả đã trải qua ba lần sửa chữa:

(i) Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tình chữ khổ khéo là kết nhau

(ii) Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ sắc khéo là cợt nhau

(iii) Trăm năm trong cõi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Việc sử dụng từ ngữ trau chuốt, gọt giũa trong văn viết ngoài tác dụng tạo nên những xúc cảm thẩm mĩ cho người đọc còn để tránh sự tầm thường, dung tục

Ví dụ:

Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường

Trang 35

Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của

người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu gì

(Nguyên Hồng, Những ngày thơ ấu)

Do đặc điểm không đối mặt nên ngôn ngữ viết không dùng kết cấu tỉnh lược và các yếu tố dư mà phải dùng những kết cấu hoàn chỉnh Người ta không muốn và không được phép tạo nên tình trạng ngờ vực nội dung câu nói vì phải phỏng đoán phần tỉnh lược Những hình thức cảm thán, nghi vấn mang màu cá nhân nhằm giãi bày tâm sự riêng giữa các cá nhân, có tác dụng làm chậm lại nhịp độ trình bày thường có ở ngôn ngữ nói nhưng ít gặp ở ngôn ngữ viết Chúng chỉ xuất hiện ở ngôn ngữ viết khi cần phải nhấn mạnh hoặc khi cần nêu vấn đề trước khi trình bày

Ví dụ:

Sao gọi có vấn đề? Khi việc gì mâu thuẫn, khi phải tìm cách giải quyết, tức

là có vấn đề Khi đã có vấn đề, ta phải nghiên cứu cho rõ cái gốc mâu thuẫn trong vấn đề đó

(Hồ Chí Minh, Sửa đổi lề lối làm việc)

Câu có kết cấu hoàn chỉnh cũng có nghĩa là mối quan hệ giữa các thành phần cú pháp phải rõ ràng theo tầng bậc của các mối quan hệ cú pháp nhằm biểu hiện thật sáng rõ, thật chính xác nội dung cần biểu đạt

Ví dụ:

Những tiêu chuẩn đạo đức của con người mới phải chăng có thể nêu lên như sau: yêu nước, yêu nhân dân; trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà; ghét bóc lột, ăn bám và lười biếng; yêu lao động, coi lao động là nghĩa vụ thiêng liêng của mình; có tinh thần làm chủ tập thể, có ý thức hợp tác, giúp nhau; chân thành và khiêm tốn; quý trọng của công

và có ý thức bảo vệ của công; yêu văn hóa, khoa học và nghệ thuật; có tinh thần quốc tế vô sản

(Trường Chinh)

Trang 36

Câu văn tuy nhiều thành phần, tuy dài về số lượng nhưng nội dung rất sáng

rõ bởi mối quan hệ tầng bậc giữa các thành phần khác nhau là rành mạch, đúng ngữ pháp Ngôn ngữ viết luôn tìm đến những câu văn hoàn chỉnh có nội dung sáng rõ như vậy

Tóm lại, tính gọt giũa là một trong những đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết hướng tới sự trừu tượng, khái quát, hướng về sự trình bày mạch lạc, hợp lô-gích ở cả ba bình diện: ngữ âm, từ ngữ và cú pháp

1.3.2.4 Tính chuẩn mực của ngôn ngữ viết

Khái niệm chuẩn mực

Chuẩn mực trong ngôn ngữ học cần được hiểu theo cả hai nghĩa: nghĩa hẹp

và nghĩa rộng

Theo nghĩa hẹp thì chuẩn mực là hệ thống những quy ước, chỉ dẫn về phát

âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu Ở đây, chuẩn mực trả lời câu hỏi: “Nên nói, viết như thế nào?”

Theo nghĩa rộng thì chuẩn mực là toàn bộ những cách phát âm, viết chữ, dùng từ, đặt câu được mọi người trong xã hội chấp nhận và sử dụng Ở đây, chuẩn

mực trả lời cho câu hỏi: “Người ta nói, viết như thế nào để đạt hiệu quả giao tiếp?”

Như vậy chuẩn mực vừa là một lời khuyên, vừa là một cái mẫu xã hội Định nghĩa sau đây của Hoàng Tuệ là đầy đủ bởi vì nó bao hàm cả nghĩa rộng (mẫu

xã hội) lẫn nghĩa hẹp (lời khuyên) của chuẩn mực: “Chuẩn mực nói một cách khái quát là cái đúng Đó là cái đúng có tính chất chung, tính chất bình thường được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận ở một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ Cái đúng ấy được xác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phát âm, viết chữ, dùng từ và cấu tạo từ mới và đặt câu.” [44, tr.21]

Trong những quy ước, chỉ dẫn của chuẩn mực có cái có giá trị toàn thể, có cái có giá trị bộ phận, có cái có giá trị phổ biến, có cái không có giá trị phổ biến Do

vậy, người ta chia chuẩn mực ra: chuẩn mực ngôn ngữ và chuẩn mực phong cách

Trang 37

Chuẩn mực ngôn ngữ là hệ thống các phương tiện biểu hiện tốt hơn cả, hợp

lí hơn cả, được mọi người thừa nhận, sử dụng để phục vụ cho sự giao tiếp xã hội trong một thời kì nhất định

Chuẩn mực ngôn ngữ chỉ trả lời câu hỏi: “Có được dùng không?” chứ không trả lời cho câu hỏi “Dùng như thế nào?” Hệ thống các phương tiện ngôn

ngữ ở các bậc bao giờ cũng tồn tại dưới dạng các biến thể Mỗi biến thể tương ứng với một chức năng giao tiếp nhất định Cái đúng trong phạm vi giao tiếp này có thể

là sai trong phạm vi giao tiếp khác Cái được công nhận là chuẩn mực ở phong cách chức năng ngôn ngữ này chưa hẳn đã được chấp nhận ở phong cách chức năng ngôn ngữ kia

Ví dụ:

Trong nói năng thân mật hằng ngày ta có thể dùng cây số, cây lô mếch:

“Nhưng thưa thầy, từ đây lên huyện những chín cây lô mếch sợ nhà con đi

nắng thì cảm rồi phải lại thì oan gia.”

(Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng) Còn ở tính toán khoa học thì ta phải dùng từ kilômét; cũng như hằng ngày

ta dùng cân, kí, lạng, thước, còn trong tính toán khoa học thì nhất thiết phải dùng kilôgam, gam, mét

Đối với các biến thể nói trên, chuẩn mực ngôn ngữ chỉ thừa nhận hoặc phủ định chứ không giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể để sử dụng

Ví dụ:

Chuẩn mực ngôn ngữ thừa nhận rằng trong tiếng Việt hiện đại có thể dùng

từ chết và các biến thể cùng nghĩa (từ cùng nghĩa) như mất, từ trần, tạ thế, hi sinh, mất mạng, Còn việc dùng những biến thể cùng nghĩa nói trên trong những phong

cách nào thì không thuộc phạm vi của chuẩn mực ngôn ngữ Chuẩn mực phong

cách sẽ giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể, tức trả lời câu hỏi “Dùng như thế nào?”

Trang 38

Chuẩn mực phong cách là toàn bộ những quy ước, chỉ dẫn về tính hợp lí,

tính đúng chỗ của việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với yêu cầu của mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ

Đối tượng của chuẩn mực phong cách là những biến thể có quan hệ với phong cách chức năng ngôn ngữ Chuẩn mực phong cách không thủ tiêu mà hướng dẫn phạm vi sử dụng cho từng biến thể để tận dụng khả năng diễn đạt của các phương tiện ngôn ngữ, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp phức tạp, tinh tế của trí tuệ và tình cảm con người

Vận dụng chuẩn mực

Chuẩn mực là một loại công cụ đo lường đặc biệt Nó không cụ thể, hiển hiện như những dụng cụ đo lường vật lí, hay toán học Nó là loại công cụ chỉ được nhận thức một cách cụ thể qua những cái lệch lạc tương đối, tức qua những cái trái chuẩn mực Nó là một loại ý niệm xã hội – ý niệm về cái đúng – tồn tại trong ý niệm của mỗi người Khi ý niệm xã hội tồn tại trong ý niệm của cá nhân thì ý niệm

xã hội này rất có thể bị những thiên kiến chủ quan chi phối Mọi bất đồng trong xử

lí chuẩn mực đều do những thiên kiến chủ quan mà ra

Ví dụ:

Có một thời kì trên sách báo, một số người kiên trì viết và lưu ý người khác rằng:

- Nên viết “làm trọn” mà không viết “làm tròn”,

- Nên viết “cẩu an” mà không viết “cầu an”

- Nên viết “sáp nhập” mà không viết “sát nhập”

- Nên viết “tiếp thụ” mà không viết “tiếp thu”

Đó là những ý kiến chủ quan trong việc giải quyết chuẩn mực đối với những từ vay mượn của tiếng Hán, không phù hợp với thói quen xã hội Hoàng Phê

đã giải thích thói quen xã hội này như sau: “ làm tròn dễ phát âm hơn làm trọn, và tròn vẫn có cái nghĩa đầy đủ mà lại không có cái sắc thái đến đây là hết như trọn Làm trọn nhiệm vụ thì coi như là nhiệm vụ thế là hết rồi mà thường đâu phải là có cái ý đấy? Và phải chăng sát nhập dễ dàng phát âm hơn sáp nhập (ở đây có tác

Trang 39

động của một quy luật ngữ âm, không phải đơn giản là chuyện phát âm “lười”) mà

về nghĩa thì sát gợi cái ý liền bên cạnh, không chính xác, nhưng ít nhất cũng giúp cho dễ nhớ, trong khi sáp ở Việt Nam thì hoàn toàn vô nghĩa, nó đứng trơ trọi một mình trong sáp nhập và ngay người biết tiếng Hán cũng mấy ai mỗi lúc lại nhớ đến cái nghĩa “cắm” của nó?” [29, tr.31]

Chuẩn mực là một loại công cụ đo lường dễ bị bóp méo bởi những thiên kiến chủ quan của cá nhân Khi vận dụng nó, cần thăm dò và lắng nghe ý kiến của

xã hội để có những xử lí mang tính chất khách quan xã hội Tất nhiên, người vận

dung chuẩn mực cũng không nên vì “sợ” thiên kiến chủ quan mà lại chuyển sang

thái độ khách quan chủ nghĩa, phủ nhận chuẩn mực ngôn ngữ

Chuẩn mực không phải là quy định, càng không phải là luật pháp mà là những quy ước, những chỉ dẫn, những lời khuyên Song không phải vì nó là lời khuyên, là lời chỉ dẫn mà người nói có quyền bất chấp, tùy tiện

Đây là sự chỉ dẫn của xã hội, là lời khuyên của truyền thống Lẽ nào sống trong cộng đồng, một cá nhân lại đối lập với xã hội, đi ngược với thói quen truyền

thống dân tộc để nói những câu vu vơ, ngô nghê như: “no cơm áo”, “cười thênh thênh”! (Dẫn chứng do Hồ Chí Minh nêu ra để phê phán tệ nói viết bất chấp cả những quy luật thông thường của tiếng nói dân tộc)

Vì chuẩn mực là những quy ước, những chỉ dẫn, những lời khuyên cho nên khái niệm không chuẩn mực không đồng nhất với sai Không chuẩn mực có thể là sai nhưng có khi không hẳn đã là sai Trong nói năng, lẫn lộn về âm thanh, về ý nghĩa của từ thì là sai, là không chuẩn mực, còn dùng cách phát âm địa phương, dùng từ địa phương thì chỉ nên xem là không chuẩn mực như ý kiến của Hoàng Phê:

Nếu thừa nhận phát âm chuẩn của tiếng Việt văn hóa phân biệt tr- và ch-, hỏi và ngã, thì phát âm không phân biệt hỏi / ngã của miền Nam cũng như phát âm không phân biệt tr- / ch- của miền Bắc đều là không chuẩn Song không thể nói là sai vì nếu là sai thì hóa ra tiếng Việt mà người Việt Nam trong cả nước nói chung lại phát

âm sai cả hay sao? Nhưng một người ngoại quốc phát âm “tôi không thích” thành :

“toi khon tit”, không nói “gội đầu” mà nói “rửa đầu” thì đúng là sai tiếng Việt

Trang 40

Đúng – sai là đối chiếu với những hiện tượng thực tại của ngôn ngữ, với những phương tiện ngôn ngữ mà người bản ngữ đã chấp nhận và đang sử dụng trong thực

Trong Miền Tây, Tô Hoài tả:

Những con lũ gối lên nhau, miên man gầm thét, đuổi theo nhau”

Đọc đến đoạn này, Nguyễn Công Hoan cho rằng cách dùng từ “gối” như vậy là “táo bạo” Tô Hoài có tâm sự với Nguyễn Công Hoan rằng cách dùng “táo bạo” này không hoàn toàn do mình nghĩ ra mà do đã biến hóa trong đầu óc cách

dùng từ “gối” của nông dân Thái Bình:

Đặt dây khoai lang thì đặt thưa, dây nọ gối đầu vào dây kia” [15, tr.105]

Cái mà Tô Hoài nói là “biến hóa trong đầu óc” có nghĩa là sự sáng tạo này

bắt nguồn từ một cách dùng của truyền thống

Nguyễn Tuân có cách dùng chữ khác người nhưng được chấp nhận bởi ông

đã dựa vào một cái chung: chuyển một từ chỉ sự vật thành một từ chỉ hành động Tác giả viết:

Tôi đèo nó sau xe đạp, tua cho nó lên sở thú một lần nữa”

Trong khi người đời nói “cõi lòng”, “cõi trần gian” thì mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du nói “Trăm năm trong cõi người ta” Trong lúc xã hội vẫn nói “từ đấy”, “từ đó”, “từ ngày đó”, “từ năm ấy”… thì mở đầu tập thơ đầu tay của mình,

Tố Hữu dùng “từ ấy” Trong khi xã hội quen nói “đầy những lo âu”, “nhiều lo âu” thì Nam Cao viết “tối sầm những lo âu” Trong khi người ta vẫn bảo nhau “châm thuốc”, “hút thuốc”… thì Nguyễn Tuân lại “thắp một điếu thuốc giữa sông lúc đêm khuya”,

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm