1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vương triều hồ trong lịch sử dựng nước và giữ nước

99 20 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 4,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng bước sang những năm 40 của thế kỷ XIV ánh hào quang của những chiến công vương triều Hồ với những điều kiện xuất hiện như sau: nhà nước và các cấp chính quyền trong việc quản lý đấ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

M ỤC LỤC 3

PH ẦN MỞ ĐẦU 6

1/ Lý do ch ọn đề tài: 6

2/ L ịch sử nghiên cứu vấn đề: 7

3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 8

4/ Phương pháp nghiên cứu và tư liệu: 9

6/ C ấu trúc của luận văn: 10

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ XUẤT HIỆN VƯƠNG TRIỀU HỒ 11

1.1.V ề mặt kinh tế: 11

1.2.Tình hình xã h ội: 15

1.3.V ề chính trị: 19

1.3.1.Quá trình đấu tranh giữa Phật Giáo và Nho giáo 19

1.3.2.Sự khủng hoảng của đường lối cai trị tông tộc: 23

1.3.3.Vương triều-nhà Trần suy thoái 24

1.3.4.Áp lực ngoại xâm 26

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP KHÁCH QUAN CỦA NHÀ HỒ TRONG TI ẾN TRÌNH DỰNG NƯỚC 32

2.1.NGU ỒN GỐC CỦA NHÀ HỒ: 32

2.2.TI ẾN TRÌNH THIẾT LẬP VƯƠNG TRIỀU HỒ: 34

2.2.1.Sự tiến triển trong mối quan hệ thân tộc với nhà Trần và sự gia tăng quyền lực 34 2.2.2.Quá trình thanh trừ các thế lực chống đối 38

2.2.3.Cuộc đảo chính cung đình ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn -Đỉnh cao của tiến trình lập ra vương triều Hồ 40

2.3.NH ỮNG ĐÓNG GÓP CỦA VƯƠNG TRIỀU HỒ TRONG TIẾN TRÌNH DỰNG NƯỚC: 41

Trang 4

2.3.1.Về thiết chế chính trị: 42

2.3.1.1.Đẩy mạnh tiến độ thiết lập chính phủ trung ương tập quyền: 42

2.3.1.2.Tăng cường quyền lực của nhà vua: 44

2.3.1.3.Thay th ế bộ máy nhà nước với tầng lớp nho sĩ cấp tiến 46

2.3.2.Về tổ chức hành chính: 47

2.3.2.1.Công cu ộc dời đô về Thanh Hóa 47

2.3.2.2.V ề tổ chức hành chánh: 48

2.3.2.3.V ề bộ máy nhà nước: 50

2.3.3.Về pháp luật: 53

2.3.4.Về an ninh quân sự: 56

2.3.4.1.V ề an ninh: 56

2.3.4.2.V ề quốc phòng: 58

2.3.5.Về Kinh tế: 62

2.3.5.1.Chính sách h ạn điền: 63

2.3.5.2.Chính sách phát hành ti ền giấy: 64

2.3.5.3.Chính sách thu ế khóa: 66

2.3.5.4.Chính sách di dân, khai kh ẩn vùng đất mới 68

2.3.5.5.M ở rộng giao thông, thủy lợi: 69

2.3.6.Về mặt xã hội: 70

2.3.6.1.Chính sách h ạn nô 70

2 3.6.2.Các chính sách chăm lo cuộc sống người dân: 71

2.3.7.Về mặt giáo dục: 73

2.3.7.1.M ở mang việc học: 73

2.3.7.2.Tuyên truy ền cho phương pháp học tập mới: 74

2.3.7.3.C ải cách khoa cử: 75

Trang 5

CHƯƠNG 3: TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ HỒ TRONG VIỆC ĐỂ MẤT NƯỚC

ĐẦU THẾ KỶ XV 79

3.1.ÂM MƯU THÔN TÍNH ĐẠI VIỆT CỦA NHÀ MINH: 79

3.2.CÔNG CU ỘC CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN CỦA NHÀ HỒ: 81

3.3.CU ỘC XÂM LƯỢC CỦA NHÀ MINH VÀ SỰ THẤT BẠI CỦA NHÀ HỒ TRONG CÔNG CU ỘC KHÁNG CHIẾN: 84

3.4.NGUYÊN NHÂN TH ẤT BẠI CỦA NHÀ HỒ: 87

KẾT LUẬN 90

THƯ MỤC 94

I.Sách thông s ử: 94

II.Các sách chuyên kh ảo: 94

III.T ạp chí: 95

B ẢN CHÚ THÍCH 96

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

lập theo kiểu "soán đoạt" (theo cách nhìn của tư tưởng phong kiến) nhưng người thực hiện

việc cho đất nước Nhưng "lực bất tòng tâm", vương triều Hồ đã thất bại trong việc phòng

đen tối trong lịch sử Việt Nam Đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến cho vương triều này phải chịu bao điều lên án

Hồ và những người thiết lập triều Hồ là "những bọn loạn thần tặc tử thì ai ai cũng có thể giết chúng được và trời cũng không một ngày nào tha trừng phạt chúng dưới gầm trời này " (Đại Việt Sử kí Toàn thư - tập II, NXB-KHXH, Hà Nội, 1993, tr.221) Nói như thế thật sự

Đại Việt (hay Đại Ngu) Cách suy nghĩ đánh giá như thế đã tỏ ra không còn phù hợp với tiêu chí của nghiên cứu lịch sử là sự khách quan

Hồ, vai trò, trách nhiệm và sự tồn tại của nó trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

đánh giá chính xác hơn, công bằng hơn về tất cả mọi mặt của vương triều nhà Hồ, những

Trang 7

đóng góp của nó đối với việc dựng nước cũng như trách nhiệm của nó trong viêc để mất nước

vương triều nhà Hồ trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

2/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Vấn đề "Nhà Hồ và những cải cách Hồ Quý Ly" là một vấn đề đã từng gây tranh luận sôi nổi trong giới sử học

thành đề tài nghiên cứu và tranh luận riêng biệt với bài: "Sự phát triển của chế độ phong

Trương Hữu Quýnh đã công bố một công trình nghiên cứu về Hồ Quý Ly qua bài "Đánh giá

lại vấn đề cải cách của Hồ Quý Ly" đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 20 tháng 11 năm

1960 Đến năm 1961 lại thấy xuất hiện liên tiếp bảy (07) chuyên đề về Hồ Quý Ly Tất cả đều tập trung nghiên cứu về công cuộc cải cách, kháng chiến chống Minh và nguyên nhân

đó, tỉnh Thanh Hóa - vùng Tây Đô xưa cũng đã tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về "Hồ

cuốn được xuất bản là:

1952

Trang 8

- Hồ Quý Ly, nhân vật lỗi lạc nhất thời đại từ Đông sang Tây của Quốc Ân tác giả xuất

bản, in tại Tân sanh ấn quán, Sài Gòn - 1974

Gia, Hà Nội - 1996

- 1997

Ở ngoài nước, gần đây người ta thấy có 3 công trình nghiên cứu mang tính chuyên đề

Minh Giang, PTS Vũ Văn Quân, NXB Chính Trị Quốc Gia, Viện lịch sử quân sự Việt Nam

- Hà Nội - 1996

trao đổi sôi nổi Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ đề cận nhiều đến Hồ Quý

Ly và những cải cách của ông Còn về triều Hồ và vai trò của nó đối với tiến trình phát triển

của lịch sử dân tộc thì vẫn còn là một vấn đề cần đi sâu nghiên cứu, trao đổi

được ý kiến nhỏ góp vào quá trình đánh giá vương triều Hồ trong lịch sử dân tộc

3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 9

nước Bên cạnh đó tìm hiểu về thái độ của nhà Hồ trước họa xâm lược và trách nhiệm của nhà Hồ trong sự thất bại trước kẻ thù

4/ Phương pháp nghiên cứu và tư liệu:

đất nước trước khi nhà Hồ nắm quyền, các chính sách của nhà Hồ đã thực hiện, công cuộc

- Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng phương pháp hệ thống và so sánh đối chiếu

• Tư liệu biên niên sử - tư liệu cơ bản nhất

• Các bài chuyên khảo đăng trên báo, tạp chí

trình phát triển của ỉịch sử dân tộc

và giữ nước - nhất là trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay

"những cải cách của Hồ Quý Ly"

Trang 10

6/ Cấu trúc của luận văn:

chương :

Trang 11

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ XUẤT HIỆN VƯƠNG TRIỀU

H Ồ

không thể thay thế

Nhưng bước sang những năm 40 của thế kỷ XIV ánh hào quang của những chiến công

vương triều Hồ với những điều kiện xuất hiện như sau:

nhà nước và các cấp chính quyền trong việc quản lý đất đai và kiểm soát quá trình sử dụng

nhiều hơn vì "hạt nhân duy trì sự thống nhất quốc gia, cái lõi giữ cho mô hình đó tồn tại ỉa

mối quan hệ hoa đồng giữa làng và nước" và "bệ đỡ kinh tế của các quan hệ nói trên là

ruộng đất công làng xã "(2) Do vậy ta có thể thấy rõ vấn đề ruộng đất công; làng xã có quan

kinh tế đã có dấu hiệu suy thoái

Trang 12

Quá trình nhà nước phong kiến thu tóm ruộng đất công bắt đầu từ nhà Lý với sự kiện năm 1092 vua Lý Nhân Tông ra lệnh cho cả nước lập sổ điền bạ để thu tô Qua đó ta có thể

đầu tiên ruộng sở hữu tư nhân chính thức bị đánh thuế Quá trình can thiệp và thu tóm ruộng đất của nhà nước vẫn tiếp tục và phát triển nhưng đến những năm 50 của thế kỷ 13 thì bắt đầu chững lại với sự kiện 1254 nhà Trần bán quan điền cho dân làm ruộng tư Sử cũ viết:

"tháng 6 (năm 1254) bán quan điền, mỗi diện là 5 quan tiền, cho nhân dân mua làm của tư"

khẩn ruộng hoang lập làm điền trang " (4) Có thể ý định ban đầu của nhà nước phong kiến khi ban hành các điều trên chỉ là khuyến khích nông dân sản xuất Khuyến khích khai khẩn đất hoang nhưng về sau nó đã tạo điều kiện thuận lợi cho sở hữu tư nhân về ruộng đất phát

xã có nghĩa là nó tạo tiền đề cho việc xâm thực quyền lực vua nhà nước Cuối thế kỷ XIV

làm tăng số lượng nông dân phụ thuộc vào phong kiến tư nhân tạo ra một sự phân hóa dân

vương hầu quý tộc với những điền trang lớn của mình đã không phục tùng triều đình nên đã

tạo nên sự rối loạn trong kinh tế, xã hội và chính trị

một ví dụ điển hình Sử cũ ghi lại rằng: "khi Khánh Dư mới đến trấn giữ Vân Đồn, tục ở đấy

đậu trong Cảng rồi lệnh đã hạ, sai người ngầm bảo người ở trong trang rằng : "Hôm nọ thấy

Trang 13

ở trước vùng biển có thuyền chở nón Ma lôi đậu" do đó người trong trang nối sót nhau tranh

tấm vải, thu được số vải đến hàng nghìn tấm " (5) Thật là một nghịch lý khi cho rằng sự

dựng nước đến Lý - Trần luôn lấy nông nghiệp làm gốc Tư tưởng "dĩ nông vi bản" luôn là

tư tưởng chủ đạo của nhà nước phong kiến trong lãnh vực kinh tế Các vua của nhà Trần trước đó đều quan tâm đến nông nghiệp (ruộng tịch điền để vua làm lễ là một ví dụ) Tuy

rằng chưa có những chính sách "ức thương" rõ ràng như dưới thời Hậu Lê nhưng chưa bao

nền kinh tế "dĩ nông vi bản" của Đại Việt

đã xảy ra hơn 11 lần bão lụt, mưa to gió lớn làm vỡ đê, cụ thể là : Mậu Tý (1348), Tân Mão

sau đây trong "Việt sử Tiêu Án" : "Trần Dụ Tông lên ngôi đến đây (1355) mới 15 năm đã

đói kém Đến đây từ mùa xuân đến mùa thu, nào núi lở, nào động đất, không tháng nào là

"Niên lai hạ hạn hưu thu lâm

Trang 14

Bạch đầu không phụ ái dân tâm"

Nhưng tai họa thật sự đối với người nông dân không phải là thiên tai mà là nạn kiêm tinh, cướp đoạt ruộng đất của quý tộc phong kiến nhà Trần Sự thừa nhận tư hữu ruộng đất

cũ còn ghi chép rất nhiều những trường hợp cụ thể như Thái Bình Trần Thị là cung tần của

Tháng 10 năm Canh Thân (1320) xuống chiếu rằng những người tranh nhau ruộng đất, nếu

đền gấp đôi Nếu người làm văn khế giả thì bị chặt một đốt ngón tay bên trái (7)

Tháng 8 năm Quý Hợi (1323) xuống chiếu rằng khi tranh ruộng mà ruộng có lúa thì

nông dân, Không còn đất để canh tác, người nông dân không còn con đường sống nào khác

hai nguồn "tài nguyên" cơ bản của đất nước Trước đó, việc thu thuế chỉ căn cứ theo số

Nhưng đến năm 1378 vì kho tàng trống rỗng, Đỗ Tử Bình đã đề nghị vua áp dụng cách đóng thuế dung của nhà Đường, mỗi đinh nam mỗi năm phải nộp 3 quan tiền, không phân

biệt có ruộng đất hay không, tái lập lại thuế đinh Việc tái lập lại thuế đinh dù dưới bất kỳ

với triều đình

Việt cuối thế kỷ XIV

Trang 15

1.2 Tình hình xã hội:

đất cổ truyền và kéo theo những biến đổi về cơ cấu xã hội

dưới triều Lý nhưng thái độ của Triều Lý là luôn tìm cách hạn chế sự phát triển của tầng lớp này Đối với chính quyền trung ương, sự xuất biện đông đảo nổ tì thuộc về một chủ luôn

bán hoàng nam làm gia nô" Sang thế kỷ XIII, tầng lớp nô tì lại có những điều kiện để phát triển số lượng cùng với sự xuất hiện của điền trang, thái ấp và sự phát triển thế lực của tầng

tầng lớp thấp hèn nhất trong xã hội Đại Việt

"Nô tỳ" là từ dùng để gọi chung những người bị lệ thuộc vào chủ, một hình thức nô lệ

như thế nào ? có thể chia họ thành nhóm như sau:

cây, trồng trọt, đánh cá, chăn nuôi súc vật, nuôi tằm, dệt vải hay phục dịch, hầu hạ, múa hát

thường bị bạc đãi, đối xử tàn tệ còn ngoài xã hội họ cũng không được thừa nhận, bị phân

các vương hầu, công chúa phải thích chữ vào trán và phải sợi theo loại hàm Kẻ nào không

Trang 16

thích chữ, không khai sổ bị coi là giặc cướp, lớn thì trị tội, bé thì sung công (8), con nô tỳ

viễn vông của nô tỳ bằng lời khẳng định: "gia nô tuy có chút công lao nhưng không được dự vào quan tước triều đình"

Trước đó, nô tỳ thường xuất thân từ hai nguồn: dân phạm tội thì có thể bị sung làm

thì con đường sống cho họ dường như đã định sẳn: bán vợ, dợ con hay tự bán mình làm nô

người chỉ đổi được một quan tiền, tương đương với 3 thùng gạo (6) cũng chẳng có gì nghịch

lý !

Qua đó, ta có thể thấy rõ,vào cuối thế kỷ XIV bằng con đường nô tì hóa người nông

đất, không phương tiện để sinh sống, không nhà cửa để nương thân

trong nội bộ giai cấp thống trị: giai cấp địa chỉ phong kiến Cuối thế kỷ XIV người ta có thể

tộc, địa chủ quan lại và địa chỉ không quan tước

Địa chỉ quý tộc:

này có rất nhiều quyền lợi vì theo lời vua Trần Thánh Tông (1268) thì : "thiên hạ là thiên hạ

ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột

chúng đừng bao giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu, xã tắc" (9) Do vậy, tầng

Trang 17

thái úy, tư đồ, tả hữu tướng Quốc và được sử dụng 2 loại ruộng đất để làm giàu: ruộng đất

hay mua bán mà có Đến cuối thế kỷ XIV, sự phát triển của chế độ điền trang, cùng với sự

thành tầng lớp có thế lực nhất trong xã hội

Địa chủ quan lại:

Tá Chu được giữ chức Quốc Thái Phó sau Gia phong Đại Vương hay Phạm Kính Ân được

ương e ngại sự cát cứ nhưng không phải vì lý do đó mà họ lại không có ruộng đất Xem xét

ruộng đất từ gia tộc là điều hiển nhiên Việc được giao quyền lực kết hợp với thế lực kinh tế

- bộ phận địa chủ quan lại đã có những tiền đề để phát triển vào cuối thế kỷ XIV

Địa chủ không quan tước:

trở lên Họ có mặt trong hàng ngũ chức sắc ở làng xã có uy thế về kinh tế, chính trị trong địa phương Vào cuối thế kỷ XIV với xu thế vươn lên của bộ phận quý tộc quan lại, bộ phận địa

và hậu quả tất yếu là tình trạng gây bè kết đảng bắt đầu diễn ra gây rối loạn việc triều chính

thiệt hại nhất vẫn là nhân dân

Trang 18

Để bảo vệ quyền sống của mình, nhân dân đã buộc phải cầm lấy vũ khí, hàng loạt cuộc

nghèo đói Tháng 12 năm 1358 vua Trần cho người đem quân đàn áp Đến tháng 4 năm

nhiên sau đó phong trào nông dân vẫn tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi: Bắc Giang, Hà Tây,

quân để trấn áp Tình trạng khá rối loạn Sang những năm 80 của thế kỷ XIV phong trào lại

đình lại tiếp tục lập thuế đinh, Nguyễn Bồ đã tổ chức khởi nghĩa ở Bắc Giang Ông tự xưng

là Đường Lang Tử Y, dùng phù phép để tập hợp nhân dân nhưng bị đàn áp nhanh chóng

đã chiêu tập nhân dân nổi dậy ở Diễn Châu (Nghệ An) Nhưng sau đó không lâu Hồ Thuật

bị bắt và bị xử chém

đông đảo Phạm Sư Ôn tự xưng là vua và tổ chức quân khởi nghĩa thành các đội: Thần Kì,

Nghĩa quân làm chủ Thăng Long trong 3 ngày sau đó rút quân về Quốc Oai Đây là cuộc

Đáy bằng đường thủy tấn công bất ngờ Quân khởi nghĩa không kịp trở tay nên đã thất bại

Trang 19

Phạm Sư Ôn, Nguyễn Tông Mại, Nguyễn Khả Hành đều bị bắt và sau đó bị chém Nghĩa

đấu, dẻo dai, bền bỉ của người nông dân trước các thế lực cường quyền, áp bức Nó phản

định vào triều đình nhà Trần đang suy thoái, đẩy nhanh quá tình suy sụp của nhà Trần

1.3.Về chính trị:

1.3.1 Quá trình đấu tranh giữa Phật Giáo và Nho giáo

và đã có một vị trí khá vững chắc trong hệ thống tư tưởng vua Việt Nam

đã trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng, đúng như lời của nhà sư Đàm Thiên nói

vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn 20 bảo tháp,

độ được hơn 300 bị tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi Thế là xứ ấy theo Đạo Phật trước ta

"(10)

Sau khi nước ta giành được quyền tự chủ, Phật giáo lại tiếp tục phát triển Để thu phục

giáo Đó là những điều kiện khách quan và chủ quan để Phật giáo bước chân vào cung đình

Đến đời Lý Trần, Phật giáo đã bước lên đỉnh cao nhất của sự phát triển khi nó được

chính trị

Uẩn mời vào cung "hỏi han về đạo, ân lễ rất hậu, đến cả chính sự trong triều, sư đều được

Trang 20

tham dự quyết định" hay như sư Viên Thông được phong là quốc sư, ban hàm Tử Y Đại Sa

Tập Anh (11)

Các cao tăng đều có những tự viện to lớn như các điền trang của vương hầu quý tộc,

sư Pháp Loa đời Trần được vua và quý tộc cấp cho 2000 mẫu ruộng với cả ngàn người cày

sưu thuế, lao dịch

thích đến quan lại xuất gia như sư Văn Chiếu là cháu của Thái Phi Ỷ Lan, sư Quảng Trí là

Sở dĩ Phật Giáo có được một vị trí "ăn sâu bám rễ" như thế tại Việt Nam vì nó đã có

không thể giải đáp được những vấn đề xã hội, chính trị Vai trò của Phật giáo bắt đầu sa sút

kiếm vị trí độc tôn

nho như Tư Mã Thiên, Dương Hùng đã hoàn chỉnh học thuyết Khổng Mạnh để nho giáo

thật sự hoàn chỉnh

khăn để tìm một thế đứng trong hệ thống tư tưởng; của nhân dân Đại Việt Đến đầu thời kỳ

Trang 21

giáo đã đáp ứng những yêu cầu trên nên Nho giáo bắt đầu được chính quyền trung ương lưu

ý và tạo điều kiện để phát triển

phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế Hoàng Thái Tử học ở đấy" (12) Sau đó đến năm 1076) vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127) cho lập Quốc Tử Giám làm nơi học tập để đào tạo nhân tài và đặt Hàn Lâm Viện giao cho Mạc Hiển Tích giữ chức Hàn Lâm Viện học

sĩ Cùng với sự phát triển, Nho giáo cũng đã bắt đầu lên tiếng; công kích Phật giáo Vào

kích trên cũng chỉ như "viên đá cuội ném ao bèo" không gây được tiếng vang

trường bằng thi cử kiểu nho giáo Điều này đã tạo điều kiện cho tư tưởng Nho giáo bắt đầu

ăn sâu bán rễ trong cung đình, sau đó bắt đầu lan ra ngoài xã hội Những rối loạn ngoài xã

nhận thức phải dựa vào tư tưởng Nho giáo với đường lối "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" hay

"quân xử thần tử, thần bất tử bất trung" để củng cố lại quyền lực của nhà nước tập quyền

là điều không có gì đáng để ngạc nhiên

giáo Tư tưởng chống Phật giáo đến cuối thế kỷ XIV đã trở thành một trào lưu quy tụ những

Văn Hưu-Kiểm phát quan: Binh Bộ Thượng Thư, Hàn Lâm Viện Học Sĩ kiêm Quốc sử

Trang 22

Viện Giám Tu - trong "Đại Việt Sử Ký" ông viết: "Lý Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm,

mưa xuống, sức không phải là thần làm thay há chẳng phải là vét máu mỡ của dân ư ? Vét

chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn góc há chẳng phải từ đây (14)

Trần đã lên án Phật giáo gây điều mê tín, làm sa sút nhân lực lao động: "một bọn giảo hoạt

để nhà cửa lộng lẫy như vàng ngọc, tay chân đông đúc như rồng voi Lũ giàu có lưu tục ở đời này lại đi theo hưởng ứng, cho nên phàm tất cả danh thổ khắp nơi, thì một nửa đã là

thường rời nhà cửa, bỏ xóm làng theo như gió cuốn, ôi đức thánh xa xôi, đạo không sáng rõ

đầu cho phong hoa, chốn châu lữ, xóm thôn lại không có nhà trường, nhà tự làm sáng nghĩa

đã không phải ý ta, dựng đá khắc bia việc gì ta nói Huống chi ngày nay Thánh triều muốn

nổi gió lớn để cứu thói hư, dị đoan nên bỏ đi, chính đạo nên khôi phục (15)

Và đỉnh cao của quá trình đấu tranh để xác định vị trí của Nho giáo là sự kiện Chu Văn

An dâng Thất trảm sớ đòi tiêu diệt bảy tên đại thần dây bạo loạn, Sử cũ viết : "Dụ Tông ham chơi, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước An khuyên can không nghe,

Đây không phải là một thất bại của nho giáo mà là một bước đệm cho sự xác nhận

Trang 23

cấp thống trị Nếu như chúng ta đồng ý vời nhận định cho rằng hệ tư tưởng Nho giáo là hệ

tư tưởng chính thống của một nhà nước, một xã hội phong kiến phương Đông vững mạnh

đang bắt đầu trở thành lực cản cho sự tiến bộ của xu hướng lịch sử Vai trò của nó đối với

lịch sử dân tộc đã chấm dứt và sự thay thế nó là tất yếu và cần thiết

1.3.2.S ự khủng hoảng của đường lối cai trị tông tộc:

được xây dựng trên cơ sở tông - tộc Thực chất của mô hình nhà nước tông tộc này là một

các điền trang, thái ấp riêng như một hình thức cử người thân của mình cùng giữ đất Như

đứng ra chăm lo mối quan hệ hòa hiếu trong dòng họ để cùng nhau gánh vác vận nước Tư tưởng cả dòng họ cai trị được thể hiện rất rõ qua lời nói của vua Trần Thánh Tông với các tôn thất "Thiên hạ" là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng

phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì

thì đó là phúc muôn năm của tông miếu xã tắc” (17) Sự thân thuộc giữa vua - tôi gần đến

cùng dự yến tiệc với vua, hôm nào trời tối không về được thì "xếp gối dài, trải chăn bông,

kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng; yêu quý nhau" (18) Mô hình này được

dưới triều Trần và đã đạt những thành tựu rực rỡ qua thắng lợi của 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông Nhưng đến thế kỷ XIV đường lối cai trị bắt đầu bộc lộ sự suy sụp của nó

này

Trang 24

Cùng với tư tưởng Nho giáo đang vùng lên đã dẫn đến yếu cầu đổi mới, thay đổi thiết

đời vua Nghệ Tông tình hình không có gì tiến triển Được lập lên sau sự biến Dương Nhật

năm Đại Trị (1358 - 1369) bọn học trò mặt trắng được dùng, không hiểu nghĩa sâu xa của

nhạc thật không kể xiết" (20) Nhìn bề ngoài, sự phê phán của các vua Trần đối với bọn

"học trò mặt trắng" giống như là những cố gắng để bảo vệ ý thức truyền thống và tinh thần

bọn "học trò mặt trắng" này để khôi phục lại vương quyền, khôi phục lại quyền lực đang

rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Trông chờ vào sự thay đổi là một điều không tưởng; khi nhà Trần vẫn bảo thủ không muốn thay đổi hoặc là không dám thay đổi Nếu xét

nước tập quyền tiến bộ, một nhà nước đỉnh cao của chế độ phong kiến Việc dẹp bỏ rào cản này đã trở thành một yêu cầu của lịch sử

1.3.3 Vương triều-nhà Trần suy thoái

"Tứ hải dĩ thanh trần dĩ tĩnh Kim niên du thắng tích niên du"

(Bốn bể đã lặng, eió bụi đã ven Chơi năm nay hơn những cuộc chơi năm xưa)

Trang 25

Tâm lý thỏa mãn này đã khiến vua Trần Hiến Tông trị vì đất nước 13 năm trời những

"chưa thấy làm được gì, đáng tiếc thay" (21) Nhưng vương triều Trần chỉ thật sự trượt

đến tay Hoàng tử Trần Hạo (con vua Minh Tông + Hiến Từ Hoàng Hậu) tức là vua Dụ Tông

chơi xa hoa, trụy lạc của mình 1363, vua Dụ Tông cho "đào hồ ở vườn ngự trong hậu cung,

thông, tre và các hoa thơm cỏ Lại nuôi chim quý, thú lạ trong đó Lại đào hồ nhỏ khác Sai người Hải Đông chở nước mặn chứa vào đó, đem các thứ hải vật như đồi mồi, cua, cá nuôi

ở trong hồ Lại sai người Hoa Châu chở cá sấu đến thả vào đó Đặt chức khách đô để trông

thăng rượu, được thưởng tước 2 tư Tháng 5, vua đi hóng gió, chơi trăng Vì uống rượu quá say, lại lội xuống sông tắm, nên bị ốm ", "tháng 6, vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu

càng thả sức chơi bời " (23) Nhận xét về vị vua này, Việt sử thông giám cương mục viết:

được" (Việt Sử thông giám cương mục." (24)

ấp của mình - coi dân nhu nguồn thức ăn của mình: ''Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy

vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ" (Trần Khánh Dư nói với vua Trần Anh Tông): Điều này

Năm 1369 vua Dụ Tông mất, không có con Ngày sắp mất, nghĩ đến anh của mình là Cung túc Đại vương Dục, vì mang bệnh mà không được lên ngôi, nên Dụ Tông đã xuống

Trang 26

tình cảm chứ không được xét kỹ theo tài năng, đức độ của người được lập và hậu quả ai cũng thấy Nhật Lễ lên ngôi năm Kỷ Dậu (1369) chẳng màng đến chuyện triều chính, chỉ lo

rượu chè dâm dật, hàng ngày chỉ rong chơi, thích các trò hát xướng muốn đổi lại cho họ Dương Người tôn thất và các quan đầu thất vọng (25) Nhưng sự thất vọng đó đã quá muộn

đối và nhà Trần đã phải trả giá quá đắt với sinh mạng của 18 tôn thất và cả sinh mạng của cả

Nhưng cho dù bị dập tắt thì cơn biến loạn Dương Nhật Lễ cũng đã như một cơn sóng

năng giải quyết chúng Không thể nhờ cậy vào một Trần Nghệ Tông (1370 -1372) quá nhu nhược, yếu hèn Một vị vua luôn lo sợ giặc Chiêm Thành tấn công phải mang tài sản tiền

bạc vào núi cất giấu và rồi khi giặc tấn công bỏ luôn câu "vua tôi một lòng" đã thành truyền

đã lánh trước, thì người trong nước như thế nào ?" (26) Cũng không thể trông chờ vào một

một Trần Thiếu Đế "nhận truyền ngôi mà không biết lạy" (29)

thích đã có cơ hội xâm nhập và có điều kiện để gia tăng quyền lực của mình Sự xuất hiện

càng tăng của ông một điều rất dễ hiểu

1.3.4.Á p lực ngoại xâm

Trang 27

Hoa đột nhiên trở nên căng thẳng và gây một áp lực lớn lao cho vương triều Trần đang trong cơn hấp hối

Năm Mậu Thân (1368), sau khi tiêu diệt nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương lên ngôi

lập ra nhà Minh Sau khi bình định Trung Quốc, cũng giống như tất cả các vương triều

Hoa

Để thực hiện âm mưu xâm lược Bại Việt, nhà Minh bắt đầu tiến hành nhiều biện pháp: Bước đầu, từ năm 1370, nhà Minh thực hiện những chính sách nhằm phủ dụ thị uy đối

với các phiên quốc trong đó có Đại Việt:

khắc bài văn vào đá ghi việc đó rồi từ biệt về nước

"Năm 1372, sau khi đánh bại Đại Việt, tiến quân vào tận kinh thành Thăng Long, chế Bồng

Lúc này nhà Minh cũng tỏ vẻ dè dặt, sai bộ Lễ trả lời khuyên hai nước Việt - Chiêm không được gây chiến với nhau" (30)

Nhưng đến những năm 80, những tin tức về sự suy yếu của nhà Trần, cùng với những

đổi thái độ của mình đối với Đại Việt - bắt đầu đặt ra những yêu sách rất ngang ngược bắt

buộc ta phải thực hiện

Tháng 9 năm Giáp Tý (1384), nhà Minh sai Dương Bàn, Hứa Nguyên mang tờ tư của

địa phận Châu Thủy Vỹ giao nộp Số lương thực chẳng đáng là bao nhưng điều đáng nói ở đây là trong chuyến tải lương này, quan quân ta vì nhiễm sơn lam chướng khí, bị bệnh chết khá nhiều

Trang 28

Tháng 3 năm Ất Sửu (1385) nhà Minh lại sai sứ sang đòi nộp 20 nhà sư Vua ta phải

Tháng 2 năm Bính Dần (1386) nhà Minh lại sai Lâm Bột sang đòi ta phải nộp các loại cây ăn quả giống ngon (cau, vải, nhãn, mít ) vua Trần sai đem sang nộp nhưng vì những

Đến năm Ât Hợi (1395), nhà Minh đã bộc lộ dã tâm xâm lược khi muốn bắt chước con đường cũ của nhà Nguyên: mượn đường nước ta để đánh Chiêm Thành, sử cũ chép: "Năm

lương đưa đến biên giới để dùng vào việc quân Khi ấy, người Minh đánh các man làm phản

ở Long Châu và Châu Phụng Nghĩa (tỉnh Quảng Tây ngày nay) ngầm bày kế ấy, hòng lấy

Đồng Đăng rồi trở về (31) Hậu ý âm lược đã bộc lộ rất rõ ràng vì ai cũng biết quan hệ giữa nhà Minh và Chiêm Thành trước đó đã vốn tốt đẹp và ngay trong năm 1386, con vua Chê

trọng thể

Minh đã làm cho quan hệ giữa nhà Minh và Đại Việt ngày càng căng thẳng Biểu hiện của

Tư Minh Trong một tờ tâu lên vua Minh, viên thủ quan châu Tư Minh viết: "Từ thời Nguyên đặt châu Tư Minh, sau đổi phủ Tổng quản quân dân Lệ Tư Minh, quản lĩnh các

Nguyên đến Giao Chỉ, cách cột đồng 100 dặm, lập trại Vinh Bình, phủ vạn hộ quân dân, đặt

Khâu Ôn, Như Ngao, Khánh Viễn, Uyên, thoát được phủ Tư Minh Gần đây lại nói với Nhâm Thượng thư (Nhâm Hanh Thái) đặt Trạm ỏ đất Đồng Đăng thuộc Tư Minh Hạ thần thường đem việc ấy tâu bày và triều đình đã sai Dương thượng thư (Dương Tĩnh) đến nơi

Đại Việt ? Qua đó có thể thấy tất cả những cớ, những lý do để đánh Đại Việt, nhà Minh đã

Trang 29

chuẩn bị sẩn sàng, vấn đề lưu tâm cuối cùng chỉ còn là thời điểm để thực hiện kế hoạch nữa

mà thôi Đại Việt lại đứng trước một áp lực ngoại xâm từ phía Bắc

căng thẳng như vào thời điểm cuối thế kỷ XIV Chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành

XIV thì đã có 14 cuộc là do Chiêm Thành chủ động phản công Đó là vào những năm: 1353,

1361, 1362, 1365, 1366, 1371, 1376, 1377, 1378, 1380, 1382, 1383, 1389, 1390 Và trong

14 lần chủ động phẩn công đó, quân Chiêm đã "làm nên chuyện" đến 4 lần khi họ tiến được

người Quý tộc Trần hèn nhát bỏ chạy, vua Nghệ Tông phải rời khỏi kinh thành chạy sang

điện, nhà cửa, thư tịch, cướp lấy con gái, vơ vét ngọc, lụa, của cải mang đi

rút quân về

+ Năm Mậu Ngọ (1378), quân Chiêm Thành lại đánh phá Phủ Nghệ An, sau đó tiến

Trang 30

Ninh), tình hình thật thảm hại, quân Chiêm Thành chiếm cứ, tàn phá Thăng Long suốt cả 4 tháng trời Đến tháng chạp mới rút quân về

tiếng chê cười của đời sau (33)

đổ của vương triều Trần Một sự sụp đổ không thể tránh khỏi bởi vì hào khí Đông Á - niềm

Thượng Hoàng Nghệ Tông rằng: "Xin bệ hạ kính nước Minh như cha, yêu Chiêm Thành như con, thì nước nhà vô sự Tôi dù chết cũng được bất hủ"(34), ta có thể thấy rõ thái độ

đầu mà chỉ có tư tưởng thoái bại ?

Đại Việt cuối thế kỷ XIV đã rơi vào tình trạng khủng hoảng toàn diện, Những dấu hiệu

để lý giải cho sự khủng hoảng này nhưng có lẽ nguyên nhân then chốt nhất, quan trọng nhất chính là sư khủng hoảng của hình thức nhà nước phong kiến kiểu tông tộc, tập quyền, đó

luôn được chú trọng và nhân nhượng thì sự phân tán quyền lực là điều không thể tránh khỏi

Trang 31

Qua sơ đồ ta có thể nhận thấy rằng, đến cuối thế kỷ XIV, hình thức cai trị kiểu tông

ra Qua đó có thể thấy rằng sự xuất hiện của vương triều Hồ, trong thời điểm này là hoàn toàn hợp lý, họp với quy luật lịch sử

Trang 32

CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐÓNG GÓP KHÁCH QUAN CỦA NHÀ HỒ

TRONG TIẾN TRÌNH DỰNG NƯỚC

đã rơi vào tình trạng khủng hoảng và cần phải được thay thế Do vậy sự xuất hiện của nhà

đã từng thay thế nhà Lý Tuy nhiên sự xuất hiện của nhà Hồ đã bị lên án khá gay gắt Có

bảo vệ đất nước

Chiết Giang, đời Hậu Hán, thời Ngũ Quý sang làm Thái thú Diễn Châu "

Khảo sát chính sử các triều và các tư phả của nhiều họ Hồ thì đều thấy một điểm chung đó là các chi họ Hồ đều cho rằng tiên tổ của chi họ là Hồ Hưng Dật vốn gốc từ Chiết Giang Đây là yếu tố cơ bản để lần tìm về gốc tích của họ Hồ

Như vậy có thể khẳng định nơi phát tích của họ Hồ là đất Chiết Giang Theo thư tịch

khúc Đây là địa bàn của nước Việt trong thời kỳ Xuân Thu (770-475tcn), địa bàn của quận

lý do để đi đến suy đoán trên Một trong những lý do đó xuất phát từ lời chú trong sách:

tạp cư của các tộc thuộc Bách Việt" Phần "Bách Việt Tiền Hiến Chí" trong "Tứ Khố Toàn Thư đề yếu" cũng có chép: "ở phương Nam thì các nước Việt là lớn hơn Từ cháu 6 đời của

sông Tương Ly về Nam gọi là Tây Việt; từ sông Tường Kha đến vùng Ung, Tuy, Kiến gọi

Trang 33

là Lạc Việt xen kẽ với các tộc nhỏ gọi là Bách Việt " (36) Qua đó có thể suy đoán rằng

Cũng theo thư tịch Trung Quốc thì ở đất Chiết Giang có họ Hồ ở đã lâu đời, đời nào cũng có người hiển đạt Họ Hồ này có dòng chính ở Huyện Vĩnh Khang và một chi họ ở

Ẩn Đế nhà Hậu Hán (947-950) và được cử sang làm Thái thú lộ Diễn Châu dưới thời Hậu Ngô vương nước ta (Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn nước ta) Hồ Hưng Dật làm Thái thú được mấy năm thì loạn 12 sứ quân xảy ra, ông phải tìm nơi lập nghiệp để tránh loạn Họ

đã lưu tán nhiều nơi Một bộ phận giữ nguyên đất khởi nghiệp ở Diễn Châu (Nghệ An), một

nơi phát xuất của Hồ Quý Ly, người đã dựng lên vương triều Hồ

đến sống tại vùng Đại Lại (Thanh Hóa) có một người tên là Hồ Liêm, là cháu 12 đời Hồ Liêm được nhận làm con nuôi của quan Tuyên Úy ở hương Đại Lại tên là Tuyên Huân nên

chưa có văn kiện nào đề cập, chỉ biết rằng cháu đích tôn của Lê Liêm sau này, cưới con gái

ỉa Minh Từ Thái Hậu, một người sinh ra vua Duệ Tông (tên Kính), sau được phong là Đôn

Tư Hoàng Thái Phi

Tỳ

Trang 34

Hồ Quý Ly có bốn con-trai là: Hồ Nguyên Trừng, Hồ Hán Thương (làm vua năm

Đời thứ 6 của dòng họ Hồ, tính từ Hồ Liêm (Lê Liêm) là con của Hồ Hán Thương: Hồ Hán thương có 3 con trai gồm: Hồ Nhuế (được phong Thái Tử), Hồ Lỗ, Hồ Phạm, Hồ Ngũ Lang

Đến năm 1407, khi triều Hồ thất bại trong việc chống lại nhà Minh, hầu như toàn bộ

nơi

riêng, gặp rất nhiều khó khăn vì các tài liệu rất hạn chế do bối cảnh lịch sử Tuy nhiên có thể

người con gái họ Hồ lấy vua làm cho họ Hồ trở thành một lực lượng ngoại thích, để rồi từ

đó Quý Ly có điều kiện từng; bước thâu tóm Quyền lực để bước lên ngai vàng

2.2.1.S ự tiến triển trong mối quan hệ thân tộc với nhà Trần và sự gia tăng quyền lực

Trang 35

(1319-1341); Dụ Tông (1336-1369): Nghệ Tông (1321-1394); Duệ Tông (1337-1377); là dượng của vua Phế Đế(1361-1388)

Đến đời vua Thuận Tông (1378-1398); Hồ Quý Ly một lần nữa đã thắt chặt mối quan

của vua Thuận Tông Tuy nhiên vai trò của "phụ chính cải giáo hoàng đế" chưa đủ để Hồ

trai trưởng Trần An, con trai của vua Thuận Tông và con gái của Hồ Quý Ly Chiếu nhường

chính Thái sư Lê Quý Ly lấy danh nghĩa Quốc tổ giữ quyền Nhiếp chính Trẫm tự làm Thái Thượng nguyên quân Hoàng đế, tu dưỡng ở cung Bảo Thanh, để thỏa ý ngầm từ trước"

trong tay, hơn bao giờ hết Hồ Qúy Ly đã đi gần đến đích, ông đã tiến đến rất sát chiếc ngai vàng

Chánh Trưởng, tuy chỉ là một chức quan võ coi quân cận vệ nhưng có thể coi là một sự ngạc

Trang 36

- Tháng 11 năm Nhâm Tý (1372), vua Nghệ Tông nhường ngôi cho Trần Kính, người

đại công, đánh bại quân Chiêm ở Thanh Hóa Sau trận thắng này Quý Ly được thăng chức

ông được Thượng hoàng Nghệ Tông ban cho chức Đồng Binh Chương Sự - một chức tương đương với hàng Tể tướng của triều đình vào tháng 3 năm Đinh Mão (1387) Cùng với việc

cho một thanh gươm và một lá cờ đề 8 chữ: "Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức", thiết tưởng đến đó là tột đỉnh vinh quang ?

Sang năm 1395 sau khi vượt qua những âm mưu xâm hại mình, Quý Ly làm Nhập nội

Đến đây Quý Ly đã giữ chức cao tột đỉnh trong triều, đeo lân phù vàng (màu của Hoàng gia) Đến tháng 4 năm đó Quý Ly vào ở hẳn trong hoàng cung nơi Trung Thư sảnh và Ngự

xưng là Phụ chính cai giáo hoàng đế (giúp vua trị nước kiêm dạy bảo vua) Quyền uy do vậy

Trang 37

Thọ, ra vào theo lệ của Thiên tử dùng 12 chiếc lọng vàng và phê vào các văn kiện của triều đình là: "Phụng Nhiếp Chính Quốc trổ Chương Hoàng" Xem ra đến đây quyền lực của Quý

Ly đã ngang với nhà vua và việc ông lên ngôi chỉ mang tính hình thức mà thôi

Qua đó ta có thể thấy rằng trong suốt 30 năm từ lúc đặt chân vào triều đình với một

đường quan tước Sự thăng tiến này, ngoài lý do ông được vua Nghệ Tông tin tưởng, sủng

là đúng Ít ra vua Nghệ Tông cũng đã phát hiện ra rằng Quý Ly là người có tài cầm quân Ông đã 5 lần cầm quân để đánh Chiêm Thành Lần thứ 1 vào cuối năm 1376 với nhiệm vụ

hiểu thao lược thì không cứ là người tôn thất, đều cho làm tướng coi quân" Từ tư tưởng đó ông đã tập hợp được nhiều tướng tài xung quanh mình như Nguyễn Đa Phương, Phạm Cự

Thượng hoàng Nghệ Tông đã nghĩ sai khi cho rằng với mối quan hệ thân tộc, Hồ Quý Ly rất

phải là người: "uy vũ không đủ để đánh lui giặc ngoài, sáng suốt không đủ để phân biệt lời gièm " hay "đằng trước có kẻ xiểm nịnh mà không thấy đằng sau có giặc cướp mà không hay (39) Ông cũng đã nghĩ đến chuyện Qúy Ly có thể lộng quyền và đã tìm cách hạn chế

bằng việc tháng 2 năm Giáp Tuất (1394) Thượng hoàng sai vẽ bức tranh "Tứ phụ" ban cho

Trang 38

Quý Ly, trong tranh vẽ Chu Công giúp vua Thành vương, Hoắc Quang giúp vua Chiêu Đế,

Ly Đó là vào thời điểm " mùa hạ, tháng 4 năm Giáp Tuất (1394) sau buổi hội thề ở đền Đồng cổ, Thương hoàng (Nghệ Tông) vời Quý Ly vào cung nói rằng: “Bình chương là họ

khanh cứ nhận lấy ngôi vua" Nghe vậy, Quý Ly vội bỏ mũ, dập đầu khóc lóc từ tạ chỉ trời

vạch đất mà thề: "Nếu thần không biết dốc lòng trung, hết sức giúp quan gia để truyền con cháu về sau thì trời sẽ ghét bỏ thần " Quý Ly lại nói: "Lúc Linh Đức Vương làm điều thất đức, nếu không nhờ lệnh bệ hạ thì thần đã ngậm cười dưới đất rồi, còn đâu đến được ngày

dám đâu lại có lòng khác" (40) Qua đó có thể thấy Thượng hoàng Nghệ Tông cũng không đến nỗi: "sáng suốt không đủ để phân biệt lời gièm giao việc nước cho họ ngoại khiến xã

tắc nhà Trần đi đến sụp đổ " (41) Chẳng qua Thượng hoàng cảm thấy minh thật sự bất lực trước thời cuộc, trước những biến đổi đang diễn ra khắp nơi và thật sự trông cậy vào tài năng của Quý Ly để tạo ra một tình thế ổn định Nhưng Thượng hoàng cũng không thể vượt qua được mâu thuẫn của thời đại khi trông cậy vào người ngoài thân tộc như Quý Ly Ông

Điều đó đã dẫn đến hậu quả tất yếu là sự chống đối từ ngấm ngầm cho đến công khai, từ quan đến vua Trần đối với Hồ Quý Ly Và tất nhiên để bảo vệ thân mình Quý Ly buộc phải

2.2.2.Quá trình thanh tr ừ các thế lực chống đối

thái độ nghi ngờ, bất mãn rồi chống đối và kẻ ra mặt chống đối đầu tiên là vua Trần Phế Đế

Trang 39

Thương hoàng Nghệ Tông, với cặp mắt của một người thuộc về tư tưởng tông tộc lại thiếu

ngôi đó là đạo từ xưa, nhưng tư khi quan gia lên ngôi đến nay, lòng dạ trẻ con, giữ đức không thường, gần gũi bọn tiểu nhân, nghe lời Lê Á Phu, Lê Dữ Nghị gièm pha, vu hãm

Nam định Người ở trang ấy lấy thuyền đưa Ngạc ra trại Vạn Ninh Nhưng người trong trại

ấy là Dương Độ không nhận Thượng hoàng sai viên tướng coi quan Ninh Vệ là Nguyễn

Ngạc bạo ngược nên đã bị giết" (43)

căng thẳng Để bảo vệ mình, Hồ Quý Ly cố gắng dùng quyền lực mình đang có để đưa hàng

tướng quân Trần Khát Chân, Phạm Khả Vĩnh, Thượng Thư Hà Đức Lân, Lương Nguyên

con gái bị bắt làm tì, con trai 1 tuổi trở lên hoặc bị chôn sống hoặc bị dìm xuống nước Cuộc

đưa mắt ra hiệu chứ không dám nói chuyện với nhau Nhân dân không được chứa người đi đường xin ngủ trọ, hễ có người ngủ trọ thì phải báo láng giềng để cùng nhau xét hỏi giấy tờ,

Trang 40

hành lý và lý do đi qua để làm chứng cứ bảo lãnh Các xã đều được đặt điểm tuần canh, ngày đêm tuần tra canh gác (44)

mưu ám hại Quý Ly chỉ giống như là những hơi thở cuối cùng của một vương triều trong cơn hấp hối Và do thế sau sự kiện này không còn trở ngại gì có thể ngăn cản được bước

2.2.3 Cuộc đảo chính cung đình ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn -Đỉnh cao của tiến trình l ập ra vương triều Hồ

Vào năm này Quý Ly đã ép vua Trần Thuận Tông dời đô về Thanh Hóa, rồi sau đó lập mưu cho đạo sĩ Nguyễn Khánh xui vua đi tu Vua Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thái Tử

chết (1399)

Đến 1400 sau khi tiêu diệt thành công các lực lượng chống đối, cảm thấy thời cơ đã

ngày xuống lỗ rồi, nếu làm như thế thì còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới đất được?"

đổi quốc hiệu là Đại Ngu và đổi họ mình là họ Hồ, truất Thiếu Đế làm Bảo Ninh ĐạiVương

vì Thiếu Đế là cháu ngoại nên không giết chết" (45)

vẫn chưa vượt qua được tư tưởng Khổng - Mạnh Điều gì khiến Quý Ly dù đã nắm hết

theo tư tưởng Nho gia ông sẽ bị lên án nặng nề, sẽ bị khép tội "loạn thần tặc tử" Có một số

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w