1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển biến kinh tế, xã hội quận tân bình (thành phố hồ chí minh) từ năm 2003 đến năm 2013

151 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện, tôi đã hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ với đề tài “Chuyển biến kinh tế, xã hội quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến năm

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả Nguyễn Đình Tuấn

Trang 4

Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện, tôi đã hoàn thành Luận văn tốt

nghiệp Thạc sĩ với đề tài “Chuyển biến kinh tế, xã hội quận Tân Bình (thành phố

Hồ Chí Minh) từ năm 2003 đến năm 2013” Nhân đây, tôi xin chân thành bày tỏ

lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Lê Văn Đạt đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo bộ môn Lịch sử Việt Nam, Khoa Lịch sử, Phòng Đào tạo Sau đại học – trường Đại học Sư phạm thành phố

Hồ Chí Minh, Quận ủy - UBND quận Tân Bình, các cơ quan ban ngành ở thành phố Hồ Chí Minh, đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình sưu tầm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu

Do khả năng và trình độ có hạn nên kết quả nghiên cứu của đề tài không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, bản thân tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, chỉ bảo của các Thầy, Cô giáo và các Anh Chị đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2015

Tác giả Nguyễn Đình Tuấn

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẬN TÂN BÌNH ĐẾN NĂM 2003 9 

1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội quận tân Bình 9 

1.2 Tình hình kinh tế, xã hội của quận Tân Bình đến năm 2003 16 

1.2.1 Về kinh tế 16 

1.2.2 Về văn hóa – xã hội 24 

Chương 2 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ QUẬN TÂN BÌNH TỪ 2003 ĐẾN 2013 31 

2.1 Đường lối đổi mới kinh tế của Đảng 31 

2.1.1 Bối cảnh quốc tế 31 

2.1.2 Tình hình đất nước 32 

2.1.3 Quan điểm phát triển 35 

2.2 Kinh tế quận Tân Bình giai đoạn 2003 - 2005 38 

2.2.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội quận Tân Bình giai đoạn 2003 – 2005 38 

2.2.2 Những chuyển biến trong các ngành kinh tế 45 

2.3 Kinh tế quận Tân Bình giai đoạn 2005 -2010 53 

2.3.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội quận Tân Bình giai đoạn 2005 – 2010 53 

2.3.2 Những chuyển biến trong các ngành kinh tế 60 

Trang 6

2010 – 2013 66 

2.4.2 Những chuyển biến trong các ngành kinh tế 70 

2.5 Nhận xét – đánh giá 78 

Chương 3 CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI QUẬN TÂN BÌNH TỪ 2003 ĐẾN 2013 83 

3.1 Chủ trương đổi mới về văn hóa – xã hội của Đảng 83 

3.2 Chuyển biến xã hội quận Tân Bình từ 2003 đến 2013 92 

3.2.1 Giai đoạn 2003 – 2005 92 

3.2.2 Giai đoạn 2005 – 2010 95 

3.2.3 Giai đoạn 2010 – 2013 101 

3.3 Nhận xét – đánh giá 106 

KẾT LUẬN 110 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 

Trang 7

CNH: Công nghiệp hóa

HĐH: Hiện đại hóa

XĐGN: Xóa đói giảm nghèo

Trang 8

Bảng 2.1 Hoạt động thương mại dịch vụ – sản xuất công nghiệp quận

Tân Bình giai đoạn 2006 – 2009 64 Bảng 2.2 Tốc độ phát triển 5 ngành hàng chủ yếu có giá trị lớn năm

2013 75

Trang 9

Biểu đồ 2.1 Giá trị sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ năm

2004 – 2005 47 Biểu đồ 2.3 Giá trị sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ năm

2006 – 2010 62 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu phát triển sản xuất công nghiệp năm 2011 theo loại hình 74 Biểu đồ 3.1 Lực lượng lao động từ 2009 – 2013 100

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Tân Bình là một quận nội thành có vị trí chiến lược quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh, có bề dày lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú, gắn liền với các phong trào đấu tranh yêu nước, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân thành phố Cuối năm 2003, thực hiện nghị định 130/2000/NĐ-CP, ngày 5/11/2003 của Chính phủ, quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới, tách ra thành lập hai quận là quận Tân Bình và Tân Phú Quận Tân Bình hiện có 15 phường

Quận Tân Bình rất thuận lợi về địa lý kinh tế, về giao thông đường bộ đường hàng không, về du lịch và các hoạt động thương mại dịch vụ, lại có lực lượng sản xuất đông Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển đô thị ở quận Tân Bình diễn ra rất nhanh, hầu như không còn đất nông nghiệp, kinh tế - xã hội trong quận diễn ra sự chuyển biến mạnh mẽ theo những xu hướng tích cực: xu hướng chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế từ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sang thương mại - dịch vụ, xu hướng tiếp cận nhanh khoa học và công nghệ cao,

xu hướng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế - xã hội Trong quận đã từng hình thành khu công nghiệp do thành phố quản lý là khu công nghiệp Tân Bình với quy mô hàng trăm hecta Hiện tại, Tân Bình là một trong những quận có đóng góp rất lớn cho sự phát triển về kinh tế, xã hội của thành phố

Cùng với sự phát triển vượt bậc của quận về kinh tế thì các vấn đề xã hội cũng nảy sinh Đó là sự gia tăng dân số cơ học quá nhanh, nạn ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội đang trở nên phổ biến và có xu hướng ngày càng tăng Đây là những yêu cấp cấp bách cần phải giải quyết không chỉ đối với quận Tân Bình mà còn đối với các quận huyện khác, đặc biệt là các quận nội thành thành phố Hồ Chí Minh đang trong quá trình phát triển đô thị

Việc nghiên cứu sự chuyển biến kinh tế, xã hội của một địa phương đang trong quá trình phát triển nói chung và quận Tân Bình nói riêng là cần thiết

Trang 11

Nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân đi đến thành công, những nguyên nhân của

sự tồn tại, yếu kém Từ đó đưa ra những biện pháp khắc phục một cách có hiệu quả nhất cho quá trình thực hiện phát triển kinh tế - xã hội

Từ những lý do kể trên, người nghiên cứu vấn đề “Chuyển biến kinh tế, xã

hội quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 2003 đến năm 2013” với

mong muốn: từ việc nhận diện đầy đủ diện mạo quận Tân Bình từ 2003 đến nay

có thể tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm đưa kinh tế, xã hội quận Tân Bình ngày càng phát triển bền vững

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Các vấn đề về thành phố Hồ Chí Minh nói chung, vùng đất thuộc quận Tân Bình nói riêng từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Các tài liệu trước

năm 1975 có các tác phẩm “Đại Nam nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt” của Quốc sử quán triều Nguyễn, “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức,

“Địa phương chí tỉnh Gia Định” của Tòa hành chính Gia Định, “Gia Định xưa

và nay” của Huỳnh Minh, “Những điều cần biết về kế hoạch chủ yếu thiết kế đô thị Sài Gòn” của Bông Mai, Các tác phẩm này tập trung chủ yếu vào việc miêu

tả lịch sử, kinh tế, văn hóa, dân cư, vùng Sài Gòn – Gia Định Các khu vực thuộc quận Tân Bình bây giờ cũng được đề cập đến nhưng rất chung chung, chỉ dừng lại ở mức độ khái quát

Sau năm 1975, các tác phẩm, bài viết về vùng đất thuộc quận Tân Bình, về quận Tân Bình ngày càng nhiều Cục thống kê thành phố Hồ Chí Minh có các

công trình: Niên giám thống kê thành phố Hồ Chí Minh 1976 – 1981, Nhà xuất

bản Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1993; Số liệu dân số lao động văn hóa và đời sống dân cư năm 1976 – 1994, Nhà xuất bản Thống kê Thành phố

Hồ Chí Minh, năm 1994; Số liệu kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh 1991 –

1993, 2003 – 2010 , cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1994, 2011

Quận Tân Bình có tác phẩm: Tân Bình 30 năm xây dựng đổi mới và phát triển,

Phòng Thống kê, năm 2005; “Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của

Trang 12

Đảng bộ và nhân dân quận Tân Bình (1930 – 1975), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005; “Lịch sử Đảng bộ quận Tân Bình (1975 – 2005), Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006; Các tài

liệu này cung cấp tư liệu về các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc điểm dân cư, lao động, điều kiện tự nhiên, của quận Tân Bình qua các thời kỳ Tuy vậy cũng mới chỉ dừng lại ở mức khái quát và tập trung ở một vài lĩnh vực; song nó đã giúp hình dung ra được phần nào diện mạo kinh tế, xã hội của vùng đất Tân Bình xưa và nay Và đây là những tư liệu cần thiết cho tác giả khi so sánh sự chuyển biến kinh tế, xã hội của quận Tân Bình qua các thời kỳ

Luận án Phó tiến sĩ “Sự chuyển biến kinh tế - xã hội của các quận ven

thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 1993 nhìn từ quận Gò Vấp” của Lê Hồng

Liêm, năm 1995 cũng cung cấp những tư liệu có giá trị Bên cạnh đó có một số sách báo, trang Web, bài viết, công trình nghiên cứu nói về sự chuyển biến kinh

tế - xã hội, về quá trình Đô thị hóa, về việc giải quyết vấn đề gia tăng dân số cơ học quá nhanh, ở một số quận huyện khác của thành phố được tác giả tham khảo

để so sánh, làm rõ hơn sự phát triển kinh tế, xã hội và rút ra được những nét đặc thù, độc đáo trong quá trình phát triển của quận Tân Bình

Các tài liệu địa phương như Nghị quyết đại hội Đảng bộ, các báo cáo tổng

kết hàng năm, các quyết định của UBND quận Tân Bình, của các phường trực thuộc quận về phát triển kinh tế, xã hội, các số liệu thống kê của phòng thống kê quận từ năm 2003 đến năm 2013, là những tài liệu rất cần thiết đối với đề tài

Tuy nhiên, đây chưa phải là những công trình khoa học nên chỉ có tính chất cung cấp tư liệu, thông tin cho đề tài

Ngoài ra còn có một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ và bài viết về quận

Tân Bình như: “ Hiện tượng ly hôn của người Việt nhìn từ góc độ văn hóa:

trường hợp của quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Văn

Vưỡng, năm 2006; “Quá trình đô thị hoá ở thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến

1996 (Trường hợp các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp)” của Nguyễn

Trang 13

Thị Thúy, 2004; “Công tác tôn giáo của mặt trận tổ quốc Việt Nam quận Tân

Bình Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 1988 - 2004” của Phạm Thị

Thu, năm 2006; “Thực trạng quản lý công tác đào tạo giáo viên tiểu học quận

Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Hạnh, năm 2008 Các tác

phẩm này đề cập đến các vấn đề kinh tế, xã hội của quận Tân Bình dưới nhiều khía cạnh khác nhau Song đây cũng chỉ là những tư liệu đi sâu vào một vài lĩnh vực nên thiếu sự phong phú và hệ thống

Nhìn chung, cho tới nay đã có nhiều cơ quan chức năng, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu về vấn đề kinh tế, xã hội của quận Tân Bình song đây chưa phải là những công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tổng thể quá trình phát triển kinh tế, xã hội của quận Tân Bình, đặc biệt là giai đoạn từ 2003 đến nay Do đó đòi hỏi phải nghiên cứu sâu hơn để phản ánh đầy đủ sự chuyển biến kinh tế, xã hội của quận Trên cơ sở kế thừa, tổng hợp các thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước và trên cơ sở đi thực tế tại quận, tác giả chọn vấn đề

“Chuyển biến kinh tế, xã hội quận Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh) từ năm

2003 đến năm 2013”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là kinh tế và xã hội quận Tân Bình giai đoạn 2003 đến 2013 để làm rõ quá trình chuyển biến về kinh tế, xã hội quận Tân Bình trong thời kỳ đổi mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Không gian: luận văn giới hạn nghiên cứu chủ yếu vùng đất hành chính

thuộc quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2003 đến nay với 15 phường

- Thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu quá trình xây dựng và phát

triển kinh tế, xã hội của quận Tân Bình từ năm 2003 đến 2013

Trang 14

Sở dĩ tác giả lấy năm 2003 làm mốc mở đầu cho công trình nghiên cứu vì đây là năm quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới theo Nghị định 130/2003/

NĐ – CP ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, tách ra để thành lập quận Tân Phú

4 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

+ Thông qua nguồn tư liệu hiện có trình bày khái quát tình hình kinh tế, xã hội quận Tân Bình từ sau ngày giải phóng (30/4/1975) đến năm 2003

+ Làm rõ quá trình xây dựng và những thành tựu kinh tế, xã hội quận Tân Bình từ năm 2003 đến năm 2013 Qua đó, khẳng đinh vai trò của quân Tân Bình đối với sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

+ Trên cơ sở nghiên cứu tình hình kinh tế, xã hội quận Tân Bình từ năm

2003 đến năm 2013 tác giả làm rõ những thành công và hạn chế trong công tác lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới kinh tế, xã hội của Đảng

+ Bước đầu rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất, kiến nghị nhằm thúc đẩy kinh tế, xã hội quận Tân Bình ngày càng phát triển

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Nguồn tài liệu nghiên cứu

- Để thực hiện đề tài, tác giả luận văn đã tham khảo và sử dụng những

nguồn tài liệu sau:

+ Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế, xã hội

+ Văn kiện, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Đảng bộ, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh và của quận Tân Bình từ năm 2003 đến năm 2013

+ Nguồn bảng biểu, thống kê của các Sở, Ban, Ngành, của các phòng chức năng thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Bình

+ Các bài viết đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội của thành phố Hồ Chí Minh và quận Tân Bình nói riêng từ năm 2003 đến nay

- Ngoài ra, tác giả còn thực hiện khảo sát thực tế, hỏi các nhân chứng lịch

Trang 15

sử, để bổ sung, thẩm định tài liệu lưu trữ

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp luận

- Khi nghiên cứu về vấn đề chuyển biến kinh tế, trong luận văn này tác giả tiếp cận theo học thuyết kinh tế chính trị Mác-Lênin Trong đó không chỉ nghiên cứu các biểu hiện bên ngoài của các quá trình chuyển biến kinh tế mà còn liên

hệ chúng với biến đổi xã hội, sự tác động của kinh tế đối với xã hội và xã hội đối với kinh tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định

- Luận văn cũng được thực hiện dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở Việt Nam

5.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Vì đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là về “chuyển biến kinh tế, xã hội”, hay nói cách khác là nghiên cứu về lịch sử phát triển kinh tế, xã hội nên luận văn sử dụng cả phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử, khoa học kinh tế lẫn xã hội học Hơn nữa, quá trình “chuyển biến kinh tế, xã hội” này lại diễn ra trong một không gian cụ thể là quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh), một vùng kinh tế có vị trí địa lý rõ ràng, được chia ra dựa trên tiêu chí địa lý kinh tế, nên luận án còn kết hợp sử dụng cả những phương pháp nghiên cứu của địa lý kinh tế

Như vậy, để giải quyết các vấn đề khoa học đặt ra của luận văn, tác giả cố gắng áp dụng cách tiếp cận liên ngành lịch sử - kinh tế - xã hội học và địa lý học Tuy nhiên, vì là một luận văn chuyên ngành Lịch sử Việt Nam nên phương pháp nền tảng, phương pháp chủ yếu nhất được sử dụng trong luận văn vẫn là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic

Phương pháp lịch sử được sử dụng trong luận văn này với mục đích dùng

để xem xét và trình bày quá trình phát triển các mặt của kinh tế, xã hội ở quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) theo một trình tự liên tục từ năm 2003 -

Trang 16

2013 Quá trình phát triển liên tục này quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) được đặt trong mối liên hệ với các yếu tố khác nhau như lịch sử, vị trí địa lý, tiềm năng thiên nhiên, tiềm lực xã hội, chính sách vĩ mô… Sử dụng chính phương pháp lịch sử trong luận văn là để đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của chúng, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của chúng với các yếu tố liên quan Bên cạnh đó, để luận văn có tính lý luận và khoa học, tác giả còn vận dụng phương pháp lôgic và các phương pháp khác trong nghiên cứu lịch sử Phương pháp lôgic sử dụng trong luận văn là nhằm để xem xét, nghiên cứu các sự kiện, kết quả… về kinh tế, xã hội diễn ra trong quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) dưới dạng tổng quát, nhằm vạch ra bản chất, khuynh hướng tất yếu, quy luật vận động của lịch sử phát triển của địa phương Hơn nữa, sử dụng phương pháp lôgic ở đây còn nhằm lý giải, khái quát, đánh giá và rút ra những kết luận

từ quá trình chuyển biến kinh tế, xã hội ở quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) trong giai đoạn từ năm 2003 - 2013

Các phương pháp khác trong nghiên cứu lịch sử được tác giả sử dụng trong luận văn là phương pháp phân tích so sánh (phương pháp này là sự hỗ trợ cần thiết làm nổi bật tính thống nhất giữa lịch sử và lôgic trong luận văn), phương pháp đồng đại (phương pháp này giúp luận án bao quát được toàn vẹn và đầy đủ quá trình lịch sử; so sánh được diễn biến, kết quả diễn ra trong cùng một thời gian ở các địa phương khác của Thành phố Hồ Chí Minh …)

Các phương pháp nghiên cứu kinh tế chủ yếu được sử dụng trong luận văn

là phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp phân tích kinh tế và phương pháp

so sánh hệ thống kinh tế

Trong phần nghiên cứu về chuyển biến xã hội, tác giả chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu và số liệu điều tra trong các đề tài nghiên cứu trước có liên quan, trong các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh), các Nghị quyết Đại hội Trung ương Đảng và của Đảng bộ địa

Trang 17

phương, đồng thời luận văn cũng dựa vào số liệu thống kê hàng năm của địa phương để tính toán, tổng hợp, xử lý và phân tích, đánh giá

Vì vậy, phương pháp nghiên cứu xã hội học được sử dụng trong luận văn là phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp phân tích số liệu xã hội học Còn phương pháp nghiên cứu địa lý kinh tế được sử dụng trong luận văn là phương pháp địa lý kinh tế lịch sử Phương pháp này dùng trong luận văn mục đích để nghiên cứu lịch sử và sự phát triển khía cạnh không gian của cơ cấu kinh

tế trong quá trình chuyển biến

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn phục dựng một cách hệ thống, khách quan tình hình kinh tế, xã hội quận Tân Bình từ 2003 đến 2013

- Luận văn có thể sử dụng vào mục đích tham khảo cho những bài báo cáo, những công trình tổng kết, kỷ niệm những ngày truyền thống của địa phương

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy lịch sử địa phương trong các nhà trường phổ thông ở quận Tân Bình (Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào về những truyền thống tốt đẹp của địa phương, giáo dục lòng yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ những truyền thống tốt đẹp, những giá trị văn hóa của quê hương

- Đồng thời, luận văn còn có thể dùng để làm phong phú thêm nguồn tài liệu tuyên truyền trong quần chúng, động viên nhân dân thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và của quận Tân Bình

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các bảng biểu, danh mục chữ cái viết tắt, phụ lục, phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1: Khái quát về quận Tân Bình đến năm 2003

- Chương 2: Chuyển biến kinh tế quận Tân Bình từ 2003 đến 2013

- Chương 3: Chuyển biến xã hội quận Tân Bình từ 2003 đến 2013

Trang 18

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẬN TÂN BÌNH ĐẾN NĂM 2003

1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội quận tân Bình

Theo sử sách để lại, địa danh Tân Bình xuất hiện vào năm 1698 với địa bàn rất rộng thuộc phủ Gia Định Cũng theo Đại nam Thực lục tiền biên thì “ Vào năm 1698 Nguyễn Hữu Kỉnh (còn gọi là Nguyễn Hữu Cảnh) đã lấy xứ Lộc Dã (tức Đồng Nai) làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Gòn là huyện Tân Bình lập dinh Phiên Trấn Mở rộng đất nước ngàn dặm được hơn bốn vạn hộ, bèn chiêu mộ cư dân phiêu bạt từ châu Bố chính trở về Nam đến ở cho đông, thiết lập xã thôn, phường ấp, chia cắt giới phận, khai khẩn ruộng nương, định lệ thuế tô dụng, làm sổ đinh điền” Như vậy địa danh Tân Bình thời bấy giờ

là một đơn vị hành chính do nhà Nguyễn cai quản đều là một vùng đất rộng lớn gồm Sài Gòn – Gia Định trong đó có cả Tân Bình ngày nay

Dưới thời thực dân Pháp, sau khi chiếm được Sài Gòn – Gia Định vào năm

1861, thực dân Pháp cho thiết lập lại hệ thống cai trị của chúng trên vùng đất này, huyện Tân Bình được đổi thành phủ Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định

Đến năm 1900, vùng đất Tân Bình hiện nay sáp nhập về quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định gồm có một Tổng tên là Tổng Dương Hòa Thượng với các xã: Chí Hòa, Phú Thọ Hòa, Phú Nhuận, Tân Sơn Nhì, Tân Sơn Nhất, Tân Thới Hòa, Bình Hưng Đông, Bình Hưng, Tân Trụ và Vinh Lộc Dân số lúc bấy giờ có khoảng 30.000 người

Đến năm 1940, Tổng Dương Hòa Thượng có thay đổi một số xã (Nghị định

số 6406-GP do toàn quyền Đông Dương ký ngày 1/1/1940), Tổng Dương Hòa Thượng từ 9 xã còn 5 xã là Phú Nhuận, Bình Hưng Hòa, Phú Thọ Hòa, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì

Năm 1944, toàn quyền Pháp là Decoux ra quyết định thành lập tỉnh Tân Bình lấy một phần đất đai của Gia Định và một phần của Chợ Lớn, bao gồm luôn cả Thủ Thiêm – Nhà Bè, nhưng thực tế phần lãnh thổ Tân Bình ngày nay

Trang 19

nằm hoàn toàn trong Tổng Dương Hòa Thượng thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định

Đến tháng 3/1945, tỉnh Tân Bình giải thể, Tổng Dương Hòa Thượng được tách ra khỏi quận Gò Vấp và được nâng lên thành quận Tân Bình Nhưng cho đến thời Ngô Đình Diệm, quận Tân Bình mới chính thức được thành lập bằng sắc lệnh của chính quyền Diệm vào năm 1959 và quận Tân Bình từ đó trực thuộc tỉnh Gia Định bao gồm có 6 xã là Phú Nhuận, Tân Sơn Hòa, Tân Sơn Nhì, Phú Thọ Hòa, Bình Hưng Hòa, Vĩnh Lộc (trước năm 1959 xã Vĩnh Lộc được gọi là xã Vinh Lộc)

Từ năm 1963, Mỹ - Diệm cho di dân một cách ồ ạt từ các nơi khác về, nên phải lập thêm xã mới là xã Tân Phú (trên cơ sở chia đôi xã Phú Thọ Hòa)

Như vậy, cho đến trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, quận Tân Bình gồm có 7 xã với 57 ấp và số dân lúc bấy giờ là 478.161 người Sau năm

1975, thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định sáp nhập với nhau Thành phố có sự điều chỉnh về địa giới một số quận, trong quận Tân Bình cắt 2 xã Bình Hưng Hòa, Vĩnh Lộc về huyện Bình Chánh, tách xã Phú Nhuận thành lập quận Phú Nhuận Quận Tân Bình mới có 26 phường mang tên từ phường 1 đến phường 26

và sau đó sáp nhập lại còn 20 phường

Ngày 30 tháng 04 năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng , thống nhất

Tổ quốc; Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn – Gia Định được mang tên thành phố Hồ Chí Minh,Tân Bình là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh Đông giáp Phú Nhuận, quận 3 và quận 10; Tây giáp huyện Bình Chánh; Nam giáp quận 11, quận 6; Bắc giáp huyện Hóc Môn, quận 12 và quận Gò Vấp

+ Tọa độ địa lý:

Điểm cực Bắc : 100 49’ 90” độ vĩ Bắc;

Điểm cực Nam: 100 45’ 25” độ vĩ Bắc;

Điểm cực Đông : 100 40’26’ độ kinh Đông;

Điểm cực Tây : 100 36’47” độ kinh Đông

Trang 20

Diện tích tự nhiên là 46,901km2 (trong đó, sân bay Tân Sơn Nhất chiếm 8,44km2)

Dân số là 754.690 người, mật độ bình quân 19.625 người/km2

Đến năm 1988 theo Quyết định số 136/HĐBT ngày 27/08/1988 của Hội đồng Bộ trưởng Quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới hành chính từ 26 phường sáp nhập lại còn 20 phường (từ phường 1 đến phường 20), cho đến 30/11/2003, thời gian được 15 năm

Như vậy là các vùng đất thuộc Tân Bình ngày nay có lịch sử phát triển khá lâu đời Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nơi đây cũng đã trở thành địa bàn căn cứ vủa nhiều cơ quan, đơn vị cách mạng và là địa bàn tập kết, đứng chân chuẩn bị xuất phát tấn công nội đô của bộ đội chủ lực miền…

Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên và cơ cấu kinh tế của quận Tân Bình, do tốc độ đô thị hóa, sự biến động dân số tác động khá lớn đến việc phát triển kinh

tế xã hội Đến cuối năm 2003, thực hiện Nghị định 130/2003/ NĐ – CP ngày 5 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ, quận Tân Bình được điều chỉnh địa giới, tách

ra thành lập quận Tân Phú

QUẬN TÂN BÌNH (MỚI):

+ Diện tích 22,39 km2 , trong đó sân bay Tân Sơn Nhất 8,44 km2

Đông giáp quận Phú Nhuận, Q3, Q10

Bắc giáp quận 12, quận Gò Vấp

Tây giáp quận Tân Phú

Nam giáp quận 11

+ Có 15 phường trực thuộc Ủy ban nhân dân quận, mang số: từ phường 1 đến phường 15

Tân Bình nằm trên vùng đất cao ráo, thuộc loại đất cát pha Khí hậu có 2 mùa rõ rệt là mùa nắng và mùa mưa Tuy là vùng đất cao, nhưng Tân Bình cũng

có một số kênh rạch tự nhiên như Tham Lương, Tân Hóa, Nhiêu Lộc… giúp cho

hệ thống tưới tiêu được thuận lợi, ít bị ảnh hưởng bão lụt

Trang 21

Cũng như các quận huyện khác của thành phố Hồ Chí Minh, quận Tân Bình có khí hậu của miền Đông Nam Bộ, thuộc vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhiệt độ có tính ổn định, có hai mùa rõ rệt (mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau và là mùa nóng nhất trong năm), tạo nên hệ sinh thái khá phong phú Và hiện nay nơi đây vẫn giữ được sự cân bằng sinh thái cho dù tốc độ Đô thị hóa diễn ra rất nhanh chóng Quận Tân Bình có 2 cửa ngõ giao thông quan trọng của cả nước; Cụm cảng hàng không sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và quốc lộ 22 về hướng Tây Ninh, Campuchia Quận Tân Bình có địa lý bằng phẳng, cao trung bình là 4-5 m, cao nhất là khu sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 8-9 m

Với vị trí địa lý – địa hình như vậy quận Tân Bình rất thuận lợi để hình thành và phát triển một đô thị mới, phát triển ngành giao thông vận tải, ngành dịch vụ - thương mại… Trên địa bàn của quận lại có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đi qua như đường Xuyên Á, tuyến đường “ngoại giao” Nguyễn Văn Trỗi – Nam Kỳ Khởi Nghĩa nối sân bay Tân Sơn Nhất với thủ phủ Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến đường Trường Chinh nối liền nội đô thành phố Hồ Chí Minh với các quận ngoại thành phía Tây Bắc, là đầu mối giao thông trung chuyển hành khách, hàng hóa ở của ngõ Tây Bắc thành phố

Là quận nội thành có cơ cấu kinh tế công – thương nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, du lịch… khá đầy đủ các ngành nghề; theo đặc điểm của từng giai đoạn nên cơ cấu kinh tế được xác định:

Từ những năm đầu giải phóng đến các năm đầu thập niên 80 (1976 – 1985) trong nền kinh tế với cơ chế tập trung kế hoạch hóa thì cơ cấu kinh tế Tân Bình là: sản xuất tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp Những năm 1986 – 1990 nhà nước có chuyển đổi hướng mới nền kinh tế, thì cơ cấu kinh tế Tân Bình được xác định là: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp

Trang 22

Những năm thập niên 90 do chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự chỉ đạo của nhà nước, cơ cấu kinh tế Tân Bình được xác định cho đến khi tách quận (năm 2003) là: công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp,thương mại - dịch vụ Giai đoạn này là giai đoạn phát triển mạnh nhất, nhanh nhất kể cả về kinh tế, xây dựng phát triển đô thị hóa và biến động tăng dần số cơ học Là quận có giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất thành phố, chiếm tỷ trọng từ 15% đến 19% và có mức tăng bình quân hàng năm trên 15% Doanh thu thương mại dịch vụ mức tăng là 18 % năm [1; tr 6]

Năm 2004 sau khi tách quận, hiện trạng phần lớn cơ sở hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ nằm trên địa bàn Tân Bình, nên cơ cấu kinh tế quận Tân Bình đã xác định chuyển đổi là : thương mại - dịch vụ, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp Với trên 3.700 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và trên 23.700 cơ sở hộ cá thể hoạt động sản xuất kinh doanh Cơ cấu ngành nghề: thuơng mại chiếm 40%, dịch vụ 32%, công nghiệp 18% và hoạt động khác 10% [1; tr 9]

Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa của quận Tân Bình diễn ra khá nhanh Cơ cấu kinh tế của quận đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo xu hướng ngày càng tăng tỷ trọng khu vực thương mại – dịch vụ

và sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

Ngoài ra, quận còn có một hệ thống các siêu thị lớn (Maximax, Coopmart, Satra, Vinatex…) các trung tâm mua sắm, các tuyến phố mua sắm, các chợ (trong đó có chợ Hoàng Hoa Thám, chợ Phạm Văn Hai, chợ Tân Bình) … Hệ thống giao thông của quận cũng khá thuận tiện, các tuyến đường được tráng nhựa và mở rộng cùng hệ thống cầu vượt hiện đại, khoa học …Sân bay Tân Sơn Nhất trên địa bàn quận mỗi năm đón nhận hơn 20 triệu hành khách và 408.005 tấn hàng hóa vận chuyển trong nước và quốc tế (số liệu Cục Hàng không Việt Nam) …Tất cả đã tạo nên những thuận lợi về cơ sở hạ tầng cho sự phát triển

Trang 23

kinh tế của quận Tân Bình nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung, đặc biệt là hoạt động thương mại - dịch vụ

Về dân cư – lao động, văn hóa – xã hội, quân Tân Bình cũng có những thuận lợi nhất định để phát triển Người dân Tân Bình cũng như người dân Nam

Bộ xuất xứ là những lưu dân Việt có hoàn cảnh khó khăn, phải rời bỏ phương Bắc đi vào phương Nam sinh cơ lập nghiệp (thế kỷ XVI – XVII) Theo các tài liệu lịch sử thì trước khi Nam Kỳ trở thành một bộ phận của Việt Nam thì những nhóm người di cư (người Việt) đã đến ở đây khá lâu, lập những tổ chức, xây dựng làng xóm hay tới ở chung với người Cao Miên Năm 1620 vua Chân Lạp

là CheyChetta II cưới một công nương của chúa Nguyễn và năm 1623 theo yêu cầu của chúa Nguyễn, triều đình Chân Lạp chấp thuận cho người Việt đến sinh sống ở Prey Nokor (vùng Sài Gòn ngày nay) Đến cuối thế kỷ XVIII khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai – Gia Định thì dân số ở đây có hơn 40 vạn hộ với khoảng 200.000 người Chính sách khẩn hoang của các chúa Nguyễn sau đó đã khuyến khích nhân dân vào khai khẩn vùng đất mới, làm cho dân số Nam Bộ ngày càng tăng lên Khi đến vùng đất này vẫn còn hoang hóa và vô chủ, những lưu dân người Việt đã bỏ công khai phá, chinh phục thiên nhiên, lập nên làng xóm, ruộng vườn Hoạt động kinh tế ban đầu của họ là sản xuất nông nghiệp, mà chủ yếu là làm lúa một vụ vào mùa mưa, ngoài ra còn trồng thêm hoa màu Hoạt động thủ công nghiệp lúc này còn hạn chế, nhiều địa phương chưa có ngành nghề riêng biệt Thương nghiệp – dịch vụ chỉ tập trung ở các thị trấn Tuy nhiên, đời sống văn hóa của cư dân đã khá đa dạng, nổi bật là “Văn hóa làng xã” của người nông dân trồng lúa nước Đời sống tín ngưỡng dân gian cũng khá phong phú, các tôn giáo và tín ngưỡng dân gian có sự đan xen, ảnh hưởng qua lại

Năm 2003, khi mới tách, quận Tân Bình có dân số là 430.559 người, đến năm 2013 có 443.061 người Cơ cấu dân số thành thị chiếm tỉ trọng 100% Về thành phần dân tộc, chủ yếu là người Kinh chiếm 93,33%; Hoa 6,38%; Khơme

Trang 24

0,11%; các dân tộc khác là Tày 0,05%, Thái 0,01%, Nùng 0,03%, Mường 0,02%, Chăm 0,02% và người nước ngoài Phường có nhiều người Hoa là phường 9, 10 Mật độ dân số bình quân của quận năm 2013 là 19.788 người/km2

Tổng số lao động quận Tân Bình năm 2003 là 113.000 người, đến năm

2013 có 327.508 người Cơ cấu lao động trong độ tuổi theo ngành nghề, chủ yếu vẫn là công nghiệp chế biến, chế tạo

Về tôn giáo, tín ngưỡng: đại đa số cư dân của Tân Bình không đi theo tôn giáo nào, chỉ theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ông bà Số còn lại theo Thiên chúa giáo, Phật giáo và một số ít theo Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo…, cụ thể, Phật giáo chiếm 19,62%, Công giáo 22,9%, Tin lành 0,37%, Cao đài 0,4 %, Hoa hảo 0,01; Hồi giáo 0,02%, không có đạo chiếm 56,68% ( số liệu tổng điều tra dân số 2009) Toàn quận có 140 cơ sở tôn giáo trong đó, Phật giáo 74, Công giáo 60, Tin lành 4, Cao đài 2…[6; tr 10]

Là nơi hội tụ của nhiều thành phần cư dân từ nhiều miền đất nước đã tạo cho văn hóa dân gian của Tân Bình mang nhiều sắc thái phong phú Ở đây người

ta có thể gặp những người dân từ miền Bắc đến từ năm 1954, người miền Trung đến trong những năm loạn lạc trước năm 1975, bà con người Hoa cũng đến đây sinh sống từ khá sớm Mỗi người một hoàn cảnh với thời gian sinh cơ lập nghiệp trên đất Tân Bình khác nhau nhưng quan hệ đoàn kết yêu thương, cần cù, yêu nước Phong tục tập quán của họ vừa có đặc điểm của người dân Nam Bộ vừa có những tính cách của tầng lớp thị dân Tuy nhiên trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày vẫn thể hiện sự chân chất, trọng lễ nghĩa, hiếu khách, yêu thương trẻ con, tinh thần phóng khoáng, cởi mở

Cộng đồng cư dân sinh sống trên mảnh đất Tân Bình từ bao đời nay dù có đời sống tâm linh khác nhau nhưng đều đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau những khi khó khăn, hoạn nạn và cùng nhau chung sức xây dựng cuộc sống nơi mình cư trú

Trang 25

Trên địa bàn quận cũng đã hình thành nhiều khu dân cư đô thị mới: Hệ thống giáo dục và y tế của quận cũng đang ngày càng được cải thiện và nâng cao chất lượng

Quận Tân Bình rất thuận lợi về địa lý kinh tế, về giao thông đường bộ đường hàng không, về du lịch và các hoạt động thương mại dịch vụ, lại có lực lượng sản xuất đông Luôn mở cửa rộng đón tiếp nhưng nhà doanh nhân, nhà du lịch lữ hành và nhà đầu tư đến hoạt động trên địa bàn quận Tân Bình; làm giàu cho dân, cho nước và cho mình, thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” Trong thời kỳ đổi mới, phát triển đất nước, với sự kế thừa và sáng tạo không ngừng, Đảng bộ

và nhân dân quận Tân Bình tiếp tục viết nên những trang sử mới bằng chính những thành tích ấn tượng trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng

1.2 Tình hình kinh tế, xã hội của quận Tân Bình đến năm 2003

1.2.1 Về kinh tế

Là quận lớn nhất thành phố và giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN, đứng thứ 3 về thu ngân sách và đứng đầu về cơ sở sản xuất, kinh doanh các ngành hiện đang đóng trong địa bàn

Tính từ năm 2003 trước khi tách quận như sau:

Trung ương quản lý: 22 Doanh nghiệp nhà nước và 37 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với gần 25.000 lao động

Thành phố quản lý: 23 Doanh nghiệp nhà nước, Liên doanh, Cổ phần hóa với gần 14.000 lao động

Quận quản lý: 8 Doanh nghiệp nhà nước &Cổ phần hóa, 4200 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và trên 27.100 cơ sở, hộ cá thể, với gần 140 ngàn lao động

Tính đến 2005 sau khi tách quận như sau:

Trang 26

Trung ương quản lý: 10 Doanh nghiệp nhà nước và 17 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với gần 15.000 lao động

Thành phố quản lý: 11 Doanh nghiệp nhà nước, Liên doanh, Cổ phần hóa với gần 8.000 lao động

Quận quản lý: 7 Doanh nghiệp nhà nước & Cổ phần hóa; 3.700 Doanh nghiệp quốc doanh và trên 22.100 cơ sở hộ cá thể, với gần 90 ngàn lao động

Là quận ven nội thành có cơ cấu kinh tế công nông – thương nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, du lịch…khá đầy đủ các ngành; cơ cấu kinh tế được xác định theo đặc điểm của từng giai đoạn

Sản xuất công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp

Trong giai đoạn 10 năm ( 1976 – 1985 ) giá trị sản xuất chỉ chiếm vị trí không cao của thành phố, mức tăng trưởng hàng năm không đồng đều, do chưa

ổn định đời sống, tình hình chính trị xã hội khá phức tạp, chiến tranh biên giới vẫn còn ảnh hưởng, song lại có mức tăng khá cao bình quân năm là 21,28%; giai đoạn này tuy có tăng cao, nhưng thực chất giá trị sản xuất ở mức thấp, tăng là do tăng số lượng cơ sở cá thể, tổ chức sản xuất nhỏ và một số doanh nghiệp nhà nước mới hình thành

Trong giai đoạn 5 năm ( 1986 – 1990 ) tuy mức tăng chỉ ở mức 1 chữ số, bình quân năm 9,3%, nhưng giá trị sản xuất lại lớn gấp 1,9 lần của giai đoạn trước; thời kỳ này nhà nước có nhiều chính sách khơi dậy nền sản xuất hàng hóa của các thành phần kinh tế, nhất là thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể [103; tr 15]

Giai đoạn 1991 – 1995 thực sự đi vào đổi mới, các bộ luật ra đời, trong đó các luật thuộc lĩnh vực kinh tế như; luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân, luật đầu tư, luật thương mại…sản xuất CN – TTCN đã khởi sắc có xu hướng phát triển tích cực trên địa bàn quận giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN chiếm tỷ trọng khá cao xếp loại nhất, nhì thành phố, mức tăng trưởng đạt bình quân năm

Trang 27

là 16,46%, có năm đạt 17,68% năm 1994; tăng gấp 1,84 lần về giá trị SXCN so với năm 1991 [103; tr 17]

Giai đoạn 5 năm 1996 – 2000 là thời điểm ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế khu vực châu á, nhiều nước khu vực có mức tăng âm (-), tuy có chịu ảnh hưởng song thành phố nói chung và Tân Bình nói riêng, mức tăng trưởng tuy có giảm so với giai đoạn 5 năm trước, nhưng vẫn tăng bình quân năm là 14,6% Trong 4 năm ( 1996 – 1999 ) liên tiếp đều có mức tăng nhưng giảm dần [103; tr 18]

Năm 2000, tình hình kinh tế khá hơn, luật doanh nghiệp và một số nghị định và quyết định của chính phủ ban hành, tạo môi trường thủ tục hành chính, thông thoáng hơn, tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, nên mức tăng trưởng đạt 17% Là quận trong 4 năm liên tục luôn dẫn đầu về giá trị sản xuất công nghiệp khu vực ngoài quốc doanh, chiếm tỷ trọng 19,5% của thành phố [103; tr 21]

Trong giai đoạn này địa bàn thành phố có khu công nghiệp Tân Bình có diện tích là 250 ha được giải tỏa đền bù đất nong nghiệp, để đưa và khu công nghiệp tập trung, khuyến khích các nhà đầu tư, các nhà doanh nghiệp, đã có trên

100 doanh nghiệp đến đầu tư, xây dựng và trang bị những dây chuyền, những khoa học công nghệ mới được áp dụng trong sản xuất, thúc đẩy sản xuất CN phát triển

Giai đoạn 2001 – 2003 là giai đoạn phát triển cao nhất có mức tăng trưởng cao và ổn định, trong 3 năm chưa tách quận: 17,96%, 16,95%, và 18,4%; sau khi tách quận, Tân Bình tuy có số cơ sở nhiều nhưng đa số thuộc loại nhỏ và vừa, một số cơ sở gây ô nhiễm phải di dời, phần đông nằm đất Tân Phú như khu công nghiệp…nên mức tăng trưởng chậm lại qua 2 năm 2004, 2005 đạt được 14,1%

và 12,5% [103; tr 26]

Về ngành hàng: từ năm 1985 trở về trước ngành hàng có tỷ trọng cao là: dệt vải, thủy tinh, da thuộc Năm 1986 đến nay ngành vải vẫn là ngành hàng dẫn

Trang 28

đầu, rồi đến may mặc, nhựa plastic, thực phẩm chế biến, sản xuất giường, bàn ghế…

Thương mại – dịch vụ

Thương mại dịch vụ là một trong những ngành chủ yếu trong cơ cấu của quận qua 23 năm (1980 – 2003) Từ một quận ngày đầu giải phóng qua các cuộc cải tạo chủ yếu là thương nghiệp, quận hình thành một loạt công ty quốc doanh như công ty bách hóa tổng hợp bán lẻ ( thời điểm này là công ty thương mại dịch vụ), công ty ăn uống dịch vụ (công ty khách sạn Thanh Bình), Công ty Vật

tư tổng hợp; Công ty xuất nhập khẩu (Tanimex), Công ty chợ, Công ty Dịch vụ

du lịch, Liên hiệp HTX mua bán, Công ty Tổng Hợp HTX (Tabico), HTX tiêu dùng 20 phường và các cửa hàng chuyên doanh của các ngành cấp 2 & cấp 1 đóng trên địa bàn và các loại hình công ty khác ra đời [86; tr 8]

Trong giai đoạn theo cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp, phân phối theo định lượng, theo tem phiếu tiêu chuẩn, doanh số bán hàng hóa chỉ theo chỉ tiêu

kế hoạch giao, tuy có hoàn thành kế hoạch, năm sau vẫn cao hơn năm trước, nhưng lượng hàng hóa khan hiếm “cung không đáp ứng cầu” mức hàng hóa bán

ra có tăng so cùng kỳ, nhưng thực chất so với nhu cầu tiêu dùng thì giảm, quá khó khăn

Từ đầu năm 1998 nhà nước bãi bỏ chế độ phân phối, đưa bù giá vào tiền lương, xóa bỏ cơ chế bao cấp trong lãnh vực lưu thông phân phối, định vị, định lượng các doanh nghiệp nhà nước thực hiện chế độ 1 giá theo cơ chế thị trường mạnh dạn bung ra làm ăn; giám đốc chịu trách nhiệm hoạt động của đơn vị về lỗ lãi Tổng mức bán lẻ hàng hóa có mức tăng trưởng đáng kể

Trong thời kỳ 10 năm trước đổi tiền (1985) mức tăng khá cao, năm sau tăng gấp rưỡi, gấp đôi năm trước (năm 1976 là 209 triệu đồng, năm 1981 là 1 tỷ

và năm 1984 là 5,67 tỷ) tăng cao nhưng thực chất là tăng giả do lạm phát cao Trong 15 năm đổi mới theo giá đã đổi tiền 1985; các năm từ 1985 – 1990 vẫn do ảnh hưởng của thời gian trước, vẫn còn lạm phát cao mức tăng còn gấp

Trang 29

đôi, gấp 3 lần so với năm trước

Trong 10 năm từ 1991 đến 2000 tình hình mới thực sự ổn định mức tăng khá, hợp lý, bình quân hàng năm tăng 37,65%; một, hai sau đã có xu hướng giảm phát Tính đến năm 2005 có 600 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và gần 14 ngàn tiểu thương kinh doanh thương mại ăn uống – dịch vụ và đã giải quyết trên 40 ngàn lao động

Trong 3 năm (2001 - 2003) thương mại dịch vụ trên địa bàn vẫn tăng mạnh, mức tăng cao nhất từ khi đổi mới, bình quân các năm tăng trên 20%, do có mạng lưới thương nghiệp trải rộng khắp 20 phường, có 4 trung tâm thương mại chợ Tân Bình, chợ Phạm Văn Hai, Hoàng Hoa Thám và Bàu Cát, cùng trên 18 chợ nhỏ thuộc các phường, ngoài ra có 4 siêu thị ra đời như Superbowl, Maximart, C.M.C Plaza và Co.op mart ở trên địa bàn Tân Bình

Sau khi tách, quận Tân Bình tỷ trọng về thương mại dịch vụ chiếm 75% số

cơ sở và doanh thu, quận ủy và UBND quận đã xác định lại cơ cấu, chuyển đổi thành cơ cấu thương mại, dịch vụ - sản xuất công nghiệp - TTCN Qua 2 năm tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì và có xu hứng ngày càng tăng cao trên 21%

Về nhập khẩu, sau 20 năm thực hiện nền kinh tế thị trường các đơn vị hoạt động xuất nhập khẩu, theo thời điểm năm cuối kế hoạch có số liệu như sau:

Kim ngạch xuất khẩu:

Năm 1985 chỉ có xuất 2,5 triệu USD

Năm 1990 là 8,02 triệu USD

Năm 1995 là 16,03 triệu USD

Năm 2000 là 46,25 triệu USD

Các năm (1995 – 2000 ) tăng bình quân 15%

Năm 2003 là 102,8 triệu tăng 9,8% so năm trước

Kim ngạch nhập khẩu:

Năm 1990 là 6,1 triệu USD

Năm 1995 là 24,11 triệu USD

Trang 30

Năm 1999 là 52,9 triệu USD

Năm 2000 là 73,56 triệu USD

Năm 2003 là 111,8 triệu USD, tăng 13,4%

[78, tr 28, 29]

Về hoạt động các chợ: vào những năm đầu giải phóng 1976 -1977 chợ

Tân Bình ( chợ Nguyễn Văn Thoại cũ) được đầu tư cải tạo nâng cấp , nhà lồng khá khang trang văn minh sạch đẹp với sức chứa gần 3.000 hộ, là chợ đầu mối,

là trung tâm thương mại của quận, là một trong các chợ loại 1 của thành phố Một loạt chợ mới, chợ cũ được sửa chữa di dời đổi tên như chợ Mới Xây; chợ Phạm Văn Hai (thay cho chợ Ông Tạ) năm 1989, chợ Hoàng Hoa Thám (1991)

và các chợ được sửa chữa nâng cấp như: chợ Trần Văn Quang, chợ Võ Thành Trang; chợ phường 20, chợ Tân Phú, chợ Tân Hương…ngoài 4 chợ quận quản

lý còn có 22 chợ do phường quản lý và tự dân phát sinh

Sau khi tách quận, tính đến 2003 toàn quận có 34 chợ với trên 19.120 người bán hàng, trong đó có 4 chợ do quận quản lý trên 5 ngàn hộ và 30 chợ do phường quản lý và một vài điểm dân sinh vẫn tụ tập mua bán, đang có kế hoạch giải tỏa theo quy hoạch chung [78; tr.31]

Về nông nghiệp:

Mười năm đầu (1975 – 1985) thực hiện cải tạo nông nghiệp theo cơ chế hợp tác hóa nông nghiệp trên địa bàn phát triển hình thành các hợp tác xã nông nghiệp và mô hình tập đoàn sản xuất như; HTX tân trụ, HTX 30/4, HTX 23/3 và HTX Tân Thắng, một trong những mô hình điển hình của thành phố Toàn quận năm 1976 có 3.606 họ sản xuất nông nghiệp với 20.745 nhân khẩu lao động sau 10 năm thực hiện, thời điểm cao nhất là năm 1985 có 28 tập đoàn với 1.071 hộ; 2.996 nhân khẩu và 3 HTX với 220 hộ còn 498 nhân khẩu, tổng diện tích đất nông nghiệp 971,6ha [103; tr 29, 31]

Mười lăm năm sau do sự phát triển của xã hội, do tốc độ đô thị hóa, phường có đất nông nghiệp từ 11 phường chỉ còn 7 phường, các HTX, tập đoàn

Trang 31

đã giải thể, tan rã, đến năm 2000 chỉ còn sản xuất cá thể là 120 hộ với 540 nhân khẩu với diện tích 218,4 ha Sau 30 năm đất nông nghiệp chỉ còn 12 ha để canh tác trồng trọt và 37 hộ với 140 nhân khẩu nông nghiệp nay thuộc về quận Tân Phú

Về chăn nuôi chỉ trong 15 năm từ 1985 trở lại đây từ đàn heo chăn nuôi trong toàn quận là 22.814 con, năm 2000 còn 3.206 con, đàn bò từ 2.909 con còn 803 con, riêng bò sữa năm 1985 chưa phát triển chỉ có 228 con, năm 1995

có 970 con, năm 1999 là 729 con, năm 2003 còn 450, thuộc địa bàn quận Tân Phú [103; tr 33]

Sau 30 năm đất nông nghiệp chuyển sang đầu tư cho công nghiệp và xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng khác

Sau khi tách quận, từ năm 2004 Tân Bình không còn đất nông nghiệp là quận nội thành vẫn thuộc 1/5 quận nhóm đầu có quy mô lớn nhất thành phố Thương mại chiếm tỷ trọng gần 10%, công nghiệp chiếm 8,3%, dân số đứng thứ

Trang 32

Nghè đã giải tỏa đền bù và cải tạo mạng lưới điện thắp sáng, đường giao thông hai bên kênh thông thoáng sạch đẹp từng bước cải thiện môi trường

Theo thống kê năm 2002 tổng hợp toàn quận các tuyến đường hẻm trên địa bàn quận cũ là; 1.452 đường với chiều dài 281km, trong đó bê tông nhựa hóa tỷ

lệ 76,2%; khi tách quận Tân Bình đến 2005 là 96%, còn 4% là đá sỏi [103; tr 23]

Quỹ nhà ở qua cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 1/4/1999, đây

là lần đầu tiên tiến hành điều tra nhà ở, kết quả toàn quận có 117.378 căn nhà, có 101.672 căn nhà có người ở và 15.706 nhà không có người ở, cho người nước ngoài và trong nước thuê làm văn phòng đại diện Tỷ lệ nhà kiên cố chiếm 26.58%, bán kiên cố 69.74%, khung gỗ 1.44% và nhà đơn sơ 2.24% Bình quân diện tích một hộ gia đình 61.87m2, bình quân diện tích một nhân khẩu 1236m2

Có 99.81% hộ dân đều được sử dụng dùng biện pháp thắp sáng sinh hoạt và sử dụng nước máy 27.3%, nước giếng 71.99%, nước mua và khác 0.71%, có 96,33% hố xí tự hoại, thấm, thô sơ 3.49%, không có 0.18%

Về giao thông vận tải

Hệ thống giao thông tính đến 2003 toàn quận có 2.625 tuyến đường, trong

đó 2.225 tuyến đường có lộ giới trên 12m và 2.400 tuyến đường có lộ giới dưới 12m tổng số 446,5km đường các loại, trong đó đường nhựa 247,7km, đường cấp phối (bê tông ciment) 47,5km và đường đất đỏ 151,3km, có 13 chiếc cầu trong đó có 11 cầu bê tông, 1 cầu dầm, 1 cầu gỗ [4; tr.10]

Do phân cấp quản lý, thống kê phần do quận theo dõi trong 20 năm qua từ năm 1980 đến năm 2000 có mức tăng như sau: tăng bình quân năm trong năm

1980 – 1985 về vận chuyển hàng hóa 30,56%; năm 1985 – 1990 tăng 25,38%; năm 1990 – 1995 tăng 82,46%; năm 1995 – 2000 tăng 30,5% Vận chuyển hành khách, trong 10 năm (1990 – 2000) mỗi năm bình quân vận chuyển tăng 15% với trên 12 triệu lượt /khách Đến năm 2000 có 1.996 cơ sở (8 cty, 4 HTX và

Trang 33

1984 cá thể) với 4.558 lao động Tính đến năm 2003 có 1.321 cơ sở ( 18 cty, 10 HTX và 1.293 cá thể ) với 3.558 lao động [103; tr.24]

Trên địa bàn quận có bến xe liên tỉnh (Tân Bình – Tây Ninh) với 9 tuyến vận tải hành khách, hoạt động được trên 15 năm (quận quản lý) bình quân hàng năm vận tải gần 4 triệu lượt khách và trên 82 ngàn lượt đầu xe, với doanh thu trên dưới 2 tỷ đồng/năm Đến tháng 12 năm 1990 theo quy hoạch của thành phố

đã bàn giao và di dời bến xe về ngã tư An Sương quận 12

1.2.2 Về văn hóa – xã hội

Công tác xã hội: trong những năm thập niên 90, thực hiện chương trình

xóa đói giảm nghèo được tổ chức thực hiện thường xuyên như là những nhiệm

vụ chính của các cấp lãnh đạo Đảng và nhà nước, tính đến 2005 với tổng số quỹ vốn XĐGN là 6,6 tỷ đồng, cho 13.514 hộ vay, chỉ tính trong 5 năm qua (2000 – 2005) đã đưa 1.744 hộ vượt nghèo Xây dựng 214 nhà tình nghĩa và 57 nhà do

20 phường, sửa chữa 270 lượt nhà và 225 căn nhà tình thương do 20 phường sửa chữa xây dựng

Chăm lo các đối tượng chính sách, tính đến tháng 7/2000 toàn quận có:

Bà mẹ Việt Nam anh hùng hiện còn sống: 33 (trong tổng số 118 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có 111 do quận đề nghị và 7 chuyển đến) anh hùng lao động & lực lượng vũ trang là 12; có công với cách mạng là 790; thương binh 1.740; liệt

sĩ 2.800; bệnh binh 265, mất sức 7.000m cán bộ hoạt động kháng chiến 2.932

Là quận có số lượng khá nhiều đối tượng hưởng chế độ chính sách

Khi tách quận, đến năm 2005 có: 4.755 đối tượng chính sách, trong đó; hưởng trợ cấp 3.227 (ưu đãi tuất liệt sĩ 842, thương binh 1.459, bệnh binh 208, người có công cách mạng 382, bà mẹ Việt nam anh hùng còn sống 13), không hưởng trợ cấp 1.528; diện trợ cấp xã hội 645 Diện xóa đói giảm nghèo (theo tiêu chí mới <6 triệu/người/năm) là 2.206 hộ [103; tr 33]

Về lao động việc làm: Chăm lo và giải quyết, giới thiệu việc làm, theo

thống kê chỉ tính trong 15 năm gần đây (1990 – 2005) đã giải quyết 130.572 lao

Trang 34

động; riêng 5 năm gần đây (2000 – 2005) bình mỗi năm giải quyết việc làm trên

8 ngàn lao động Trên địa bàn quận có 21 cơ sở dạy nghề, trong đó có 5 cơ sở là trường lớn, trung tâm do nhà nước quản lý

Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/1999, người dân từ 13 tuổi trở lên có; 55,87% có việc làm; 13,44% nội trợ; 14,97% đi học; 7,15% mất khả năng lao động; không có việc làm 8,57% (trong đó người có nhu cầu việc làm 5,8% và không có nhu cầu việc làm 2,77%) Qua 5 năm, 2001 – 2005, giới thiệu

và giải quyết việc làm bình quân 8.000/năm, tỷ lệ giảm xuống còn dưới 5% Về trình độ chuyên môn của người lao động: không có bằng cấp 87,22%, có bằng cấp 12,78% được chia ra: công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ 20,17% trung cấp chuyên nghiệp 20,33%, từ cao đẳng trở lên 59,5% (hàng năm số bằng cấp)

Về giáo dục đào tạo: Trường học, bậc học được xây dựng mới giải quyết

kịp thời cho học sinh không phải học ca 3 Những năm thập niên 80, toàn quận chỉ có 37 – 39 trường phổ thông cấp 1, cấp 2, nhưng đến những năm thập niên

90 đã có từ 57 – 60 trường và có thêm 7 loại trường dân lập cấp 2,3 Bậc mẫu giáo mầm non có 45 trường, với tổng số học sinh trong một niên học 1999 –

2000 là 94.978 học sinh (chưa tính 5 trường phổ thông trung học do thành phố

quản lý) Đã hoàn thành 100% xóa mù chữ và phổ cập bậc tiểu học, có 19/20

phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, mặt bằng dân trí toàn quận nâng từ lớp 6, 7 năm 1996 lên lớp 7, 8 năm 1999, năm 2004 đạt lớp 8, 9

Qua tổng điều tra dân số 1/4/1999 toàn quận có trình độ học vấn như sau: trong tổng số biết đọc biết viết chia ra: phổ thông 89,69%; cao đẳng 1,19%; đại học 8,89%; trên đại học 0,23% (934 người, thạc sĩ 575, phó tiến sĩ 219, tiến sĩ 140) Số người không biết đọc, biết viết tỷ lệ là 4,25%, chủ yếu là người cao tuổi

và người dân tộc Hoa, Khơme, Chăm, Gia Rai…

Theo mục tiêu phấn đấu hết năm 2005 toàn quân đạt chuẩn phổ cập giáo dục phổ thông theo trung học theo độ tuổi

Trang 35

Về y tế - chăm lo sức khỏe: Quận có 1 trung tâm y tế; 8 phòng khám

chuyên khoa, khu vực, 20 trạm y tế của 20 phường; 8 phòng khám từ thiện của hội chữ thập đỏ và 450 phòng khám bác sĩ tư Tổng số toàn quận có 678 bác sĩ đang hoạt động trên địa bàn (chưa tính bệnh viện của Trung ương, thành phố quản lý) hàng năm khám và điều trị hơn triệu lượt người; từ năm 2000 - 2005 chỉ tính riêng trung tâm y tế quận, bình quân có trên 1.100 triệu lượt người khám

và điều trị

Về văn hóa thông tin: Hoạt động VHTT – TDTT đã từng bước bắt nhịp

với sự phát triển chung của xã hội theo chủ trương của Đảng và Nhà nước tổ chức tuyên chuyền cổ động, pano, áp phích, khẩu hiệu, băng rôn trong các ngày tết, lễ hội của dân tộc Có trên 100 cơ sở hoạt động văn hóa tuyên truyền hình thành và hoạt động thường xuyên

Sau ngày giải phóng, nhiều thiết chế văn hóa cơ sở hình thành, hoạt động sôi nổi, có hiệu quả, đã và đang đáp ứng nhu cầu hưởng thụ về văn hóa và dân trí cho nhân dân: nhà văn hóa quận, sân khấu ngoài trời, thư viện, nhà truyền thống, phòng triển lãm, đội chiếu phim, đài phát thanh…

Trong 20 năm (1986 – 2005) thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, nâng cao phúc lợi văn hóa tinh thần theo hướng phát huy khai thác, hướng thẩm mỹ cho quần chúng, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Có 90 câu lạc bộ, nhóm, đội thu hút 3.000 hội viên Phong trào xây dựng toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, khu phố văn hóa, phường văn hóa, đơn vị văn hóa, chợ văn minh thương nghiệp, ngày càng nhân rộng Đây là điểm sáng của sinh hoạt văn hóa, nâng cao dân trí

Bước vào kỷ nguyên 21 trong 5 năm đầu chúng ta đang trên đường hòa nhập phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa, đời sống văn hóa nâng cao rất nhiều

Các di tích lịch sử và cách mạng cấp quốc gia như: địa đạo Phú Thọ Hòa, Khu lưu niệm cụ Phan Chi Trinh, chùa Giác Lâm và di tích lịch sử kho bom Phú

Trang 36

Thọ được thường xuyên duy tu phục vụ cư dân và khách du lịch tham quan ngưỡng mộ

Sau 30 năm có 4 công viên mới, được sửa chữa và tân tạo đó là công viên: Hoàng Văn Thụ, Tân Phước, Bàu Cát, và Đài tưởng niệm liệt sĩ, những nơi này trở thành địa chỉ văn hóa của cư dân

Về thể dục thể thao: ngày càng phát triển sôi động trong nhân dân các

phường với khẩu hiệu “Khỏe để lao động, học tập và bảo vệ tổ quốc” và “Gia đình thể thao”, hơn 50 câu lạc bộ đều khắp trên địa bàn cùng với sân tập, sân chơi, công viên nhà thi đấu hồ bơi Bộ môn khá mạnh đó là xe đạp, nhiều lần đoạt giải thứ hạng trong các cúp thành phố và quốc gia, ngoài ra còn có các bộ môn khác: cờ vua, cờ tướng, cầu lông, bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, điền kinh, xe lăn tay người khuyết tật

Đầu năm 2000 quận khánh thành đưa vào sử dụng một trung tâm văn hóa – thể thao rất khang trang đồ sộ, có nhà thi đấu có quy mô đạt tiêu chuẩn quốc gia, với sức chứa 3.000 người, có hồ bơi, 2 sân tennis và 5 sân cầu lông; nhà thi đấu

đa năng đủ sức để đăng cai các giải thể thao tầm cỡ quốc gia và quốc tế

Hàng năm tham gia các giải thể dục thể thao cấp thành phố, quốc gia đạt hàng trăm huy chương vàng, bạc, đồng các giải Ngoài ra còn liên tục đăng cai

tổ chức các giải đấu thể thao thành phố, toàn quốc, và quốc tế

Về đời sống

Người dân Tân Bình chủ yếu lao động làm việc tại các công ty, xí nghiệp,

cơ sở của nhà nước và tư nhân trong ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Do cơ cấu kinh tế của quận vùng ven có đầy đủ các ngành có thể nói như thành phố thu gọn, nên thu nhập người dân cao hơn khoảng 5% thu nhập bình quân đầu người của thành phố; (theo số liệu tính toán của cục thống kê thành phố) mức tăng trưởng trong 30 năm qua với tốc độ cao; GDP bình quân đầu người dân tăng 360USD lên 1.350USD (3,75 lần theo giá FOB) bình quân/năm tăng 5,4% Trong giai đoạn đầu, (1976 – 1985) tăng thấp

Trang 37

2,1% Giai đoạn đổi mới ( 1986 – 2000) tăng khá 7,8% và giai đoạn 2001 –

2005 đang trên đà phát triển có mức tăng trên 10%

Mức chi cho đời sống bình quân một người/ tháng từ 394 ngàn đồng (năm 1996) lên 868 ngàn đồng (năm 2004), chỉ sau 8 năm tăng gấp 2,2 lần, tăng bình quân năm 26% Cơ cấu chi chuyển dịch theo hướng tích cực: chi ăn uống giảm tương đối, ngược lại các khoản chi cho ở, đi lại, học hành, giải trí tăng đáng kể…Số hộ gia đình có tiện nghi sinh hoạt đắt tiền ngày càng nhiều Trong quận

tỷ lệ hộ 98% có ti vi đầu máy vidéo, CD, 25% máy lạnh, 78% bếp gas, 95% xe máy và 10% có xe hơi, điện thoại 60%, tủ lạnh 60%, máy điều hòa 15%, máy giặt 28%

Tóm lại, nền kinh tế - xã hội quận Tân Bình từ 1975 đến 2003 đã nhanh chóng vượt qua thời kỳ khó khăn và đang trên đã phát triển nhanh Cơ cấu kinh

tế và cơ cấu các thành phần kinh tế phù hợp đã làm chuyển dịch sự phân công lao động xã hội từ công nghiệp sang thương nghiệp và các loại hình dịch vụ phát triển thu hút nhiều lao động có công ăn, việc làm tăng thu nhập Cơ cấu kinh tế chuyển dịch với tốc độ nhanh, phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Thương mại – dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của quận Tân Bình Hành lang thương mại, dịch vụ ngày càng được mở rộng, cơ cấu nội bộ sản xuất công nghiệp cũng có sự chuyển biến tích cực Kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngày càng được đầu tư góp phần rất lớn thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong thời kỳ này, quận Tân Bình nổi tiếng là nơi “đất rộng người đông”, dân số chiếm đông nhất so với các quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh với gần 730.000 người Trong tổng số gần 730.000 dân có khoảng 31% dân nhập cư

từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung, và miền Tây về làm ăn, sinh sống Điều đó càng khẳng định Tân Bình là “mảnh đất lành” thu hút nhiều nguồn nhân lực lao

Trang 38

động dồi dào từ mọi miền đất nước hội tụ về làm ăn sinh sống, góp phần làm phong phú đa dạng về nhiều mặt

Tuy nhiên, trong nền kinh tế Tân Bình vẫn còn tồn tại một số khó khăn và hạn chế nhất định Hoạt động sản xuất kinh doanh có phát triển nhưng chưa vững chắc, hiệu quả kinh tế chưa cao, gây ô nhiễm môi trường Nhiều cơ sở công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chậm cải tiến thiết bị, mẫu mã, giá thành cao, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường Cơ sở hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội vẫn còn thấp so với yêu cầu phát triển

Về mặt văn hóa – xã hội: đời sống nhân dân được cải thiện, bộ mặt thành thị được đổi mới Đường sá, cầu cống, điện nước, trường học, trạm y tế được sửa chữa, mở rộng và làm mới Chương trình xóa đói giảm nghèo được thực hiện tốt, xây dựng nhà tình nghĩa, chăm sóc các gia đình chính sách, nuôi dưỡng các mẹ Việt Nam anh hùng… Cơ sở vật chất ngành giáo dục được tập trung đầu

tư, xây dựng mới nhiều trường đạt chuẩn quốc gia Công tác huy động học sinh

ra lớp ngày càng tiến bộ, đặc biệt là lứa tuổi mẫu giáo Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học và trung học cơ sở đảm bảo yêu cầu đặt ra Công tác xã hội hóa giáo dục đặc biệt được chú trong và phát triển mạnh với sự ra đời của nhiều trường tư thục, dân lập trên địa bàn Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở hoàn thành đúng tiến độ

Bên cạnh những bước phát triển nhanh chóng đó, tình hình xã hội Tân Bình trong thời kỳ 1975 – 2003 vẫn còn tồn tại khá nhiều hạn chế và khó khăn: tình trạng “quá tải” về đường sá, trường học, nhà ở, trạm y tế, điện nước … nhất là công tác quản lý địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, tình hình phức tạp về mặt xã hội…Trình độ dân trí, đào tạo dạy nghề còn hạn chế so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đời sống của một bộ phận cư dân còn nhiều khó khăn, hoạt động các khu phố văn hóa chưa thu hút được đông đảo nhân dân tham gia… Đến năm 2003, do yêu cầu đô thị hóa nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, quận Tân Bình đã được Chính phủ và UBND thành phố Hồ Chí

Trang 39

Minh quyết định tách ra thành hai quận là Tân Bình (mới) và quận Tân Phú Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quận Tân Bình (mới) nhanh chóng bước vào thời kỳ phát triển đúng hướng và không ngừng không ngừng nâng cao bộ mặt đô thị và chất lượng cuộc sống của người dân

Trang 40

Chương 2 CHUYỂN BIẾN KINH TẾ QUẬN TÂN BÌNH

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên

Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn Quá trình quốc tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng Việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w