Vì vậy, nghiên cứu nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang vừa góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn lịch sử - văn hóa của người Khmer ở huyện Tịnh Biên nói riêng, ở đồng bằng s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Tôn Thanh Nguyên
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỀ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỊNH BIÊN – AN GIANG
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60 22 54
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HUỲNH QUỐC THẮNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Tôn Thanh Nguyên
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam là cộng đồng gồm 54 tộc người Nghiên cứu tộc người nói chung, nghiên cứu ngành nghề truyền thống của tộc người nói riêng đều có ý nghĩa lý luận khoa học và ý nghĩa thực tiễn cao trong nghiên cứu lịch sử dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Người Khmer là một trong 54 tộc người của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, chủ yếu sống tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, tỉnh An Giang là một trong những địa phương của vùng đồng bằng có người Khmer định cư lâu đời, phân bố tập trung ở hai huyện miền núi Tịnh Biên và Tri Tôn Người Khmer ở huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang chiếm một số lượng khá lớn (30% dân số huyện) có lịch sử - văn hóa lâu đời và có nhiều nghề truyền thống độc đáo Vì vậy, nghiên cứu nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang vừa góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn lịch sử - văn hóa của người Khmer ở huyện Tịnh Biên nói riêng, ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung, vừa góp phần tìm hiểu lịch sử - văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong các quá trình giao tiếp văn hóa khác nhau từ trước đến nay
Nghiên cứu về nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang là một đề tài hấp dẫn mang tính địa phương, nhưng từ trước đến nay chưa được tiến hành nghiên cứu chuyên sâu Người Khmer và nghề truyền thống của dân tộc này có được một số nhà khoa học đề cập đến nhưng cũng chỉ dừng lại ở sự mô tả, giới thiệu Tuy nhiên, trong xu thế giao lưu và hoà nhập hiện nay, nhiều giá trị truyền thống của Việt Nam đang có nguy cơ bị mai một, trong đó có các nghề truyền thống của người Khmer Do vậy, làm thế nào để “khơi lại mầm sống” cho chúng ? đây đang là vấn đề cần được quan tâm và giải quyết
Là một người dân sinh trưởng tại địa phương, tác giả luận văn có điều kiện thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với người Khmer và tìm hiểu những giá trị truyền thống tốt đẹp của
họ Nhưng đồng thời, tác giả cũng thấy được những giá trị này đang bị mai một mà người dân địa phương cũng như người dân cả nước ít chú ý và biết đến, nhất là các nghề mang yếu
tố truyền thống Nhằm hướng tới mục tiêu tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề mang tính cấp bách của địa phương về một dân tộc có lịch sử phát triển lâu đời trong vùng,
chúng tôi chọn đề tài Lịch sử hình thành và phát triển nghề truyền thống của người khmer ở Tịnh Biên – An Giang để làm nội dung nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp cao
học của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 4Tịnh Biên là một trong những huyện của tỉnh An Giang, nguồn thư tịch cổ viết về vùng đất An Giang khá phong phú, được dịch và tái bản nhiều lần Trong đó, tác giả luận
văn chú ý đến những tác phẩm như Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam
nhất thống chí, Đại Nam thực lục do Đào Duy Anh (h.đ) Ngoài ra, để có thêm tài liệu viết
về người Khmer ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung, tác giả còn tập trung thu thập những bài viết có liên quan, có thể điểm qua những chặng đường cơ bản sau :
Từ năm 1945 đến những năm 1990, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã được một số tác giả nghiên cứu và đề cập trong các tác phẩm của mình, tiêu biểu như :
“Việt sử xứ Đàng Trong” của Phan Khoang là công trình nghiên cứu về cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, quá trình khai hoang lập ấp của người Việt, người Hoa và người Khmer, …cùng với triều đình nhà Nguyễn ; nét sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hóa của người dân sau khi đã làm chủ vùng đất này, trong đó có vùng Tây Nam Bộ, một cương vực không kém phần quan trọng trong lãnh thổ Việt Nam
Các tác phẩm “Người Việt gốc Miên”, “Chợ trời biên giới Việt Nam – Cao Miên” của Lê Hương giới thiệu sâu hơn về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, về lịch sử, đời sống kinh tế - xã hội, nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như những hoạt động buôn bán của người Khmer ở vùng biên giới
Mạc Đường qua các tác phẩm “Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long trong thời cổ đại”, “Quá trình phát triển dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX”, “Vấn đề dân cư và dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long vào những năm đầu của thế kỷ XX”, … có đề cập đến quá trình hình thành tộc người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa, kinh
tế, mối liên hệ lịch sử giữa họ với các dân tộc anh em trong vùng, …
Một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí như “Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là thành viên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, nghiên cứu lịch sử (3/1984) ; “Nghiên cứu về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Phan An trong tạp chí Dân tộc học (3/1985), Đáng chú ý là bài của Ngô Đức Thịnh, tác giả đã đưa ra sự so sánh giữa người Khmer đồng bằng sông Cửu Long với người Khmer Campuchia, lịch sử hình thành người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long và đi đến khẳng định : người khmer ở đồng bằng sông Cửu Long là thành viên của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam
Tuy nhiên, các tác phẩm trên chỉ được các tác giả mô tả, khái quát chung về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, giới thiệu nhiều phương diện văn hóa, đời sống kinh tế
- xã hội của họ, song, chưa đi sâu về một lĩnh vực cụ thể hay một địa phương cụ thể
Trang 5Từ những năm 1990 đến nay : Các công trình, bài viết đã khá phong phú, đi sâu hơn
về nhiều vấn đề
Lịch sử An Giang của tác giả Sơn Nam viết khá chi tiết về con người, đất đai, kinh tế, An Giang, từ khi mới hòa nhập vào lãnh thổ nước ta đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Các tác giả Thạch Voi với “Khái quát về người Khmer đồng bằng sông Cửu Long”,
“Phong tục tập quán của người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long” ; “Một số vấn đề kinh tế xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long, “Những vấn đề dân tộc – tôn giáo ở miền Nam”, của Phan An ; Phan Thị Yến Tuyết, Tôn Nữ Quỳnh Trân qua các tác phẩm “Văn hóa vật chất của các dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long”, “Xóm nghề và nghề thủ công truyền thống Nam Bộ”, “Nghề dệt Chăm truyền thống” … cho thấy
có những nghiên cứu khá chi tiết về người Khmer, về đời sống vật chất, đời sống kinh tế -
xã hội, nghề truyền thống của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Ví dụ như Tôn
Nữ Quỳnh trân trong công trình nghiên cứu của bà về dệt thổ cẩm của người Chăm đã có sự
so sánh với dệt thổ cẩm của người Khmer Hoặc các tác giả chuyên nghiên cứu về An Giang như Mai Văn Tạo, Nguyễn Hữu Hiệp, … với những bài viết về vùng đất An Giang, trong đó
có đề cập đến những nghề truyền thống của người Khmer như làm đường thốt nốt, dệt
Gần đây, những năm của thập niên đầu thế kỷ XXI, vấn đề dân tộc của cả nước nói chung, của từng vùng, từng địa phương nói riêng đang được Nhà nước quan tâm, thu hút nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học của Trung ương cũng như địa phương tập trung nghiên cứu trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn Nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa như hiện nay, việc bảo tồn và phát huy những yếu tố truyền thống của mỗi dân tộc không chỉ dừng lại ở việc hiểu rõ về lịch sử, về văn hóa truyền thống của dân tộc đó mà còn lan ra ở cả lĩnh vực kinh tế và các lĩnh vực khác của toàn địa phương, toàn vùng
Mặc dù vậy, nguời Khmer, nghề truyền thống của người Khmer trong các công trình nghiên cứu của các tác giả như đã nêu chỉ mang tính chung nhất của cả đồng bằng sông Cửu Long và phần lớn được đề cập dưới cái nhìn chung, từ góc độ dân tộc học, kinh tế học, chưa đi sâu vào khía cạnh lịch sử, vào những giá trị của các nghề, cũng như chúng đã góp phần như thế nào vào tiến trình phát triển chung của địa phương Trên cơ sở phát huy thành quả nghiên cứu của những người đi trước, đề tài này sẽ hệ thống lại, cố gắng làm rõ hơn về lịch sử hình thành và phát triển nghề truyền thống của người Khmer ở một địa phương cụ thể, đó là huyện Tịnh Biên thuộc tỉnh An Giang - một trong những huyện có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống ở đồng bằng sông Cửu Long
3 Mục đích nghiên cứu
Trang 6Dân tộc Khmer là dân tộc có lịch sử định cư lâu đời tại khu vực Tây Nam Bộ Ở Tịnh Biên, họ là cư dân bản địa, có nền văn hóa và nghệ thuật đặc sắc Vì vậy, mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề cơ bản sau :
Lịch sử các nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang, tập trung vào những nghề nổi bật nhất, gắn với lịch sử định cư, khai phá của người Khmer ở nơi đây, những nghề mà hiện nay họ vẫn còn lưu giữ, chủ yếu là nghề dệt thổ cẩm và nghề làm đường thốt nốt
Trên cơ sở giới thiệu và mô tả các nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên –
An Giang, tác giả luận văn làm rõ những giá trị và ý nghĩa lịch sử - văn hoá của nghề, qua
đó rút ra khái niệm chung về nghề truyền thống Đồng thời, tác giả còn đưa ra một số phương hướng cụ thể nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy các nghề truyền thống Khmer trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghề truyền thống là biểu hiện của một quá trình lưu giữ những giá trị tốt đẹp, trải qua những bước thăng trầm của lịch sử mà vẫn giữ được những yếu tố cổ truyền của dân tộc Nghiên cứu nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang chính là một hình thức tiếp cận nghiên cứu về bản thân cộng đồng dân tộc, về lịch sử định cư của dân tộc Khmer ở vùng đất Tịnh Biên, trực tiếp là về lịch sử hình thành và phát triển các nghề có tính truyền thống của họ Trong quá trình cộng cư với các dân tộc khác, những người thợ thủ công Khmer đã giữ lại được những gì, phát huy được những gì cho nghề truyền thống của mình Đặc biệt, trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, Nhà nước
và người dân Khmer của huyện Tịnh Biên sẽ phải làm gì để những nghề truyền thống độc đáo mang sắc thái riêng của vùng không bị mai một đi Theo hướng đó, nội dung đề tài sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu về :
- Nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên, trọng tâm là nghề dệt thổ cẩm và làm đường thốt nốt
- Giá trị và ý nghĩa lịch sử - văn hóa của các nghề truyền thống này (thông qua lịch sử hình thành và phát triển nghề truyền thống của người Khmer Tịnh Biên – An Giang, …)
- Phương hướng bảo tồn và phát huy nghề truyền thống của người Khmer trong thời gian tới
Dựa vào thực tế, về mặt không gian : đề tài sẽ tiến hành tập trung khảo sát ở một số địa bàn xã có đông đảo người Khmer sinh sống tại huyện Tịnh Biên như An Hảo, Tân Lợi, Vĩnh Trung, Văn Giáo, An Cư, … nhằm làm nổi rõ lên những điểm chung nhất về nghề truyền thống của người khmer ở Tịnh Biên – An Giang
Trang 7Cũng dựa vào thực tế và do điều kiện tài liệu có được, về mặt thời gian : đề tài này chỉ tập trung nhiều đến sự tồn tại và phát triển của nghề truyền thống Khmer tại Tịnh Biên từ năm 1975 đến nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sẽ lần lượt đi sâu tìm hiểu, giải quyết các vấn đề :
- Lịch sử hình thành và phát triển huyện Tịnh Biên qua nghiên cứu về địa lý tự nhiên, cộng đồng dân cư trong huyện và những đặc điểm chung về kinh tế - xã hội của địa phương
- Đồng thời, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu hai nghề truyền thống điển hình của người Khmer ở địa phương là nghề dệt và làm đường thốt nốt Trên cơ sở đó, nội dung luận văn hướng đến mục tiêu tìm hiểu về lịch sử hình thành, phát triển của nghề truyền thống Khmer ở huyện và các khía cạnh lịch sử - văn hóa khác liên quan đến đề tài
- Thông qua nghiên cứu về giá trị và ý nghĩa lịch sử - văn hóa của các nghề truyền thống ấy, tác giả luận văn cố gắng đưa ra một số phương hướng, ý kiến đề xuất nhằm góp phần bảo tồn và phát huy tốt hơn nữa các nghề truyền thống của người Khmer ở Tịnh Biên –
An Giang
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã vận dụng những phương pháp nghiên cứu sau :
Phương pháp lịch sử và phương pháp logic : là phương pháp nghiên cứu của ngành học, đồng thời cũng là phương pháp chính được vận dụng trong luận văn
Ngoài ra, tác giả còn kết hợp với phương pháp phân tích và so sánh để tìm mối quan
hệ giữa các sự kiện, các vấn đề, nhằm nêu bật lên nội dung cốt lõi của sự việc và cố gắng trình bày lại chúng như đã từng diễn ra trong tiến trình lịch sử
Phương pháp hệ thống hóa : Trên cơ sở các vấn đề có liên quan được viết tản mạn, rãi rác trong các tài liệu, từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả luận văn tổng hợp, hệ thống chúng lại, đặt chúng vào bối cảnh chung của lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương để trình bày
Phương pháp điền dã : Tác giả luận văn tiến hành đến những làng nghề dệt thổ cẩm và làm đường thốt nốt, sưu tầm thêm tư liệu, trao đổi với người dân, tiếp xúc với sư sãi các chùa ở Tịnh Biên, để hiểu thêm về phong tục tập quán, sự tồn tại, tiến triển của nghề truyền thống của người Khmer trong huyện và những chính sách của địa phương đối với nghề và đồng bào Khmer Tịnh Biên
Trang 8Đồng thời, tác giả luận văn còn vận dụng các phương pháp liên ngành như dân tộc học, văn hóa học, kinh tế học, … để tiếp cận với đối tượng nghiên cứu trong quá trình thực hiện
đề tài
7 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 138 trang Trong đó gồm phần mở đầu 8 trang, kết luận 4 trang, tài liệu tham khảo 7 trang, phần phụ lục 21 trang, phần nội dung chính là 94 trang Luận văn được
bố cục làm 3 chương :
Chương 1 : Tổng quan về huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
Chương 2 : Nghề truyền thống, một nét đặc trưng văn hóa của người Khmer ở Tịnh
Biên – An Giang
Chương 3 : Giá trị và ý nghĩa lịch sử - văn hóa nghề truyền thống của người Khmer ở
Tịnh Biên, An Giang - Phương hướng bảo tồn và phát huy
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
1.1 Địa lý tự nhiên và lịch sử - hành chính
Tịnh Biên, một huyện biên giới của tỉnh An Giang với nhiều dân tộc, di tích lịch sử và
có nhiều đồi núi lớn, nhỏ Từ Tịnh Biên đến thành phố Long Xuyên (trung tâm của tỉnh An Giang), tính theo đường chim bay dài 54,5 km Huyện có diện tích tự nhiên 337,74 km2, phía Đông Bắc giáp thị xã Châu Đốc, Đông giáp huyện Châu Phú, Nam giáp huyện Tri tôn, Đông Nam giáp huyện Châu Thành, Tây Bắc giáp Campuchia,
Về hành chính, Tịnh Biên gồm 3 thị trấn và 11 xã Toàn huyện có 45 tuyến địa giáp cấp xã, trong đó có 4 tuyến trùng với biên giới quốc gia, 18 tuyến trùng với tuyến huyện, được xác định bằng 41 mốc địa giới hành chính (18 mốc huyện và 29 mốc xã) Huyện có 13/14 xã, thị trấn (trừ xã Tân Lập) được Ủy ban dân tộc Miền núi công nhận là xã vùng núi,
3 xã An Nông, An Phú, Nhơn Hưng và một thị trấn là thị trấn Tịnh Biên có đường biên giới với Campuchia
Huyện Tịnh Biên có hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ khá tốt Các tuyến đường bộ xuyên qua là : Quốc lộ 91 (bắt nguồn từ Cần Thơ đi đến cửa khẩu biên giới Tịnh Biên), tỉnh lộ 948 (từ thị trấn Nhà Bàng đi huyện Tri Tôn) và tỉnh lộ 55A (từ Xuân Tô (năm
2006 là thị trấn Tịnh Biên) sang xã Lạc Quới (huyện Tri Tôn) đi qua cả thị trấn Kiên Lương
Trang 9của tỉnh Kiên Giang) ; Về đường thủy, huyện có hệ thống nhiều kênh rạch : kênh Vĩnh Tế (từ Châu Đốc đến giáp Hà Tiên), kênh Xáng Cụt, kênh Trà Sư, kênh Tri Tôn, …
Địa lý tự nhiên của huyện phân thành 3 vùng rõ rệt :
- Vùng đồi núi chiếm khoảng 13% diện tích, có tiềm năng khoáng sản, vật liệu xây dựng, du lịch Rừng tự nhiên nơi đây thuộc rừng ẩm nhiệt đới với nhiều loại động thực vật quý hiếm
- Vùng bán sơn địa chiếm khoảng 21% diện tích, bao gồm đất thổ cư, đất trồng cây ăn trái và đồng cỏ chăn nuôi
- Vùng đồng bằng chiếm khoảng 66% diện tích, chủ yếu trồng lúa hai vụ (hè thu và đông xuân) và một ít trồng tràm
Tịnh Biên vốn là vùng núi cổ, dưới thời Pháp thuộc, người dân địa phương phát hiện có dấu vết bờ thành cổ xây bằng gạch nung bao quanh mặt Đông núi Két và các núi liên kết từ Nhơn Hưng bao bọc xã Thới Sơn, đến tỉnh lộ Châu Đốc đi Tri Tôn (1) Hiện nay bờ thành đã phẳng lỳ ngang dưới mặt ruộng, nhưng qua nghiên cứu của các nhà khảo cổ, đã tìm thấy rất nhiều gạch, đất nung tương ứng với thời kỳ tồn tại của vương quốc Phù Nam (thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI) Đến cuối thế kỷ XVIII, Tịnh Biên còn là vùng rừng núi hoang vu, là nơi trú ẩn và sinh sống của nhiều loài chim muông, thú dữ Song, kể từ khi vùng đất này được hình thành với tư cách là một đơn vị hành chính, cho đến nay Tịnh Biên có nhiều thay đổi
về mặt địa danh và địa giới
Năm 1832, vua Minh Mạng đổi “Ngũ trấn” (2) thành “Lục tỉnh” (3) (từ “Nam Kỳ Lục tỉnh” bắt đầu có từ đây) Tỉnh An Giang chính thức được thành lập từ trấn Vĩnh Thanh (4),
có địa giới rất rộng, chạy dài từ biên giới (Tân Châu, Bảy Núi), xuống Cái Tàu Hạ (giữa sông Tiền và sông Hậu) đến tận Cần Thơ, Sóc Trăng và một phần Giá Rai Tỉnh gồm hai phủ Tuy Biên, Tân Thành với bốn huyện : Tây Xuyên (Long Xuyên ngày nay), Phong Phú (sau này là Cần Thơ), Đông Xuyên (Cái Vừng) và Vĩnh An (sau là Sa Đéc), lỵ sở đặt tại Châu Đốc – nơi Tổng đốc An Hà trú đóng cai quản hai tỉnh An Giang và Hà Tiên Có sự quan tâm, khuyến khích của triều đình nên cuộc khẩn hoang, lập ấp ở An Giang liên tục được đẩy mạnh Chỉ riêng hai huyện Tây Xuyên và Đông Xuyên đã lập được 7 tổng, 91 làng Lúc bấy giờ Tịnh Biên là một phủ của tỉnh Hà Tiên Năm 1839, hai huyện Hà Âm và
Hà Dương tỉnh Hà Tiên nhập vào phủ Tịnh Biên, phủ lũy đặt ở Hà Dương
Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), phủ Tịnh Biên và huyện Hà Dương của tỉnh Hà Tiên được cắt ra để sáp nhập vào tỉnh An Giang Năm 1844, lại lấy huyện Hà Âm cải thuộc phủ hạt Tịnh Biên Sau đó, đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) có sự sửa đổi, bỏ phủ Tịnh Biên, huyện
Hà Âm quy về Hà Dương và huyện Phong Thạnh, Vĩnh Định do phủ An Xuyên kiêm nhiếp Ngày 01/09/1858, Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tấn công Đà Nẵng, mở đầu công cuộc xâm lược Việt Nam Đến tháng 06 năm Đinh Mão (1867), tức năm Tự Đức thứ 20, sau ba
Trang 10tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) thì ba tỉnh miền Tây (An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên) tiếp tục rơi vào tay Pháp Từ đó, Nam Kỳ Lục tỉnh trở thành thuộc địa của Pháp Đến năm 1871, tỉnh An Giang bị chia nhỏ thành nhiều tỉnh là Long Xuyên, Châu Đốc, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ và Sa Đéc Lúc này Tịnh Biên là một huyện của tỉnh Châu Đốc, gồm 2 tổng và 17 thôn (tổng Quy Đức có 6 thôn và tổng Thành Tín có 11 thôn)
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, để cho phù hợp với địa bàn kháng chiến chống Pháp, rồi sau đó là chống Mỹ, tỉnh Long Xuyên và tỉnh Châu Đốc được tách, nhập nhiều lần, đơn vị hành chính của huyện Tịnh Biên vì thế cũng thay đổi theo rất nhiều lần
Ngày 06/03/1948, Ủy Ban hành chính kháng chiến Nam Bộ, chia Châu Đốc – Long Xuyên ra thành hai tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hậu, Tịnh Biên thuộc tỉnh Long Châu Hậu Cuối năm 1950, Long Châu Tiền nhập thêm Sa Đéc thành tỉnh Long Châu Sa còn Long Châu Hậu nhập thêm Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà (gồm 8 huyện : Châu Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn, Châu Giang, Hà Tiên, Phú Quốc, Tịnh Biên và 2 thị
xã là Châu Đốc và Long Xuyên) Vậy, thời gian này Tịnh Biên thuộc tỉnh Long Châu Hà Tháng 07 năm 1951, huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn được nhập lại làm một Đến tháng
10 năm 1954 lại tách ra làm hai huyện như cũ, lúc này An Giang và Châu Đốc là hai tỉnh riêng biệt và Tịnh Biên thuộc tỉnh Châu Đốc
Từ năm 1956 – 1957, lại lập địa giới hành chính như địa giới hành chính của chính quyền Sài Gòn (tỉnh Châu Đốc sáp nhập vào tỉnh An Giang, do sắc lệnh 143/NV ngày 22/10/1956 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa), gồm hai thị xã là Châu Đốc, Long Xuyên
và 9 huyện : Thốt Nốt, Chợ Mới, Núi Sập, Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Tri Tôn, Tịnh Biên Vậy, Tịnh Biên lại thuộc tỉnh An Giang
Ngày 01/10/1964, do sắc lệnh số 246/NV ngày 08/09/1964 của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Châu Đốc tái lập làm một tỉnh riêng Nhưng từ năm 1971 – 1974, Phú Quốc, Châu Thành (Rạch Giá) nhập vào An Giang và chia thành hai tỉnh An Giang và Châu Hà, Tịnh Biên thuộc tỉnh Châu Hà (5) Đầu năm 1974, An Giang, Châu Hà nhận thêm một phần tỉnh Kiến Phong và chia ra thành hai tỉnh, lấy lại tên gọi như năm 1950 là Long Châu Tiền và Long Châu Hà (6) theo sự phân chia của Trung ương cục vào tháng 05 năm
1974 Huyện Tịnh Biên thuộc tỉnh Long Châu Hà cho đến năm 1975 Nhìn chung, những thay đổi về địa giới vào thời gian này đều bắt nguồn từ chính sách an ninh, quốc phòng của
cả hai phía : chính quyền Sài Gòn và chính quyền Cách mạng
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, những tháng đầu là thời kỳ quân quản Đến ngày 20/12/1975, với Nghị quyết số 19/NQ-TW của Bộ chính trị, tỉnh Long Châu Tiền và Long Châu Hà giải thể, hai tỉnh Long Xuyên (cũ) và Châu Đốc (cũ)
Trang 11nhập lại thành tỉnh An Giang (trừ huyện Thốt Nốt) Tịnh Biên là một trong những huyện biên giới của tỉnh Tháng 02 năm 1976, Nghị định của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam giải thể khu hợp nhất tỉnh, bỏ danh xưng “quận” có từ thời Pháp
và lấy lại danh xưng “huyện”, “quận” và “phường” chỉ dành để gọi các đơn vị tương xứng với huyện và xã khi đã đô thị hóa
Ngày 11/03/1977, theo Quyết định số 56/CP của Hội đồng Chính phủ, Tịnh Biên – Tri Tôn hợp nhất lại thành huyện Bảy Núi trực thuộc tỉnh An Giang Huyện gồm 21 đơn vị hành chính xã, thị trấn : Trác Quan, Tri Tôn, Tà Đãnh, Châu Lăng, Tú Tề, Vĩnh Trung, Văn Giáo, An Tức, Cô Tô, Ô Lâm, Vĩnh Gia, Lạc Quới, Ba Chúc, Thới Sơn, Nhơn Hưng, Xuân
Tô, An Nông, An Phú, Lương Phi, An Cư, Lê Trì Đến ngày 23/08/1979, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 300/CP, huyện Bảy Núi lại tách ra thành hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên như cũ Sau khi điều chỉnh địa giới của Bảy Núi, Tịnh Biên có 11 xã, 1 thị trấn, huyện
lỵ đặt tại thị trấn Chi Lăng Từ năm 2006, huyện Tịnh Biên có 11 xã là Vĩnh Trung, Văn Giáo, Thới Sơn, Nhơn Hưng, An Phú, An Nông, An Hảo, Tân Lập, Núi Voi, Tân Lợi, An
Cư và ba thị trấn là Nhà Bàng, Tịnh Biên và Chi Lăng Thị trấn Nhà Bàng là huyện lỵ (7) Địa giới lúc này chính thức ổn định đến nay, điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái được phân định rõ ràng, cụ thể hơn
Tịnh Biên có nhiều đồi núi lớn, nhỏ nằm rãi rác khắp huyện Nơi đây trước kia từng là hậu phương vững chắc của lực lượng cách mạng qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước Ngày nay, Tịnh Biên là khu du lịch đang được Nhà nước tập trung đầu
tư phát triển, với một quần thể đa dạng gồm các danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch
sử Rừng tràm Trà Sư là căn cứ kháng chiến bí mật trong những năm 1960 được phục chế lại thành điểm tham quan sinh thái đặc sắc Tịnh Biên còn là huyện có cửa khẩu quốc tế và
có chợ biên giới Xuân Tô (chợ biên giới Tịnh Biên)
Những lợi thế về kinh tế, du lịch, thương mại cửa khẩu đang giúp Tịnh Biên phát triển nhanh và đầy triển vọng trong tương lai
1.2 Cộng đồng cư dân huyện Tịnh Biên và lịch sử - văn hóa
An Giang sau khi trở thành nơi cai quản của nhà Nguyễn, do đặc điểm địa hình là vùng
xa xôi, hẻo lánh nên sau ba thập kỷ kể từ khi có được vùng đất này, hầu như chưa thấy có việc tổ chức khai hoang lập ấp của nhà cầm quyền Chính vì vậy mà sau này, khi người dân không còn chịu nổi ách thống trị hà khắc của chính quyền đương đại và của bọn xâm lược, nơi đây trở thành vùng đất hội tụ nhiều lớp cư dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau Trong đó, người Việt là lớp cư dân giữ vai trò chủ chốt trong suốt tiền trình đấu tranh chinh phục tự nhiên và chống ngoại xâm
Trang 12Ở Tịnh Biên, ngoài người Việt, huyện còn là nơi cư ngụ của người Khmer và người Hoa, họ sống tập trung và xen kẻ nhau, cùng chịu chi phối bởi những biến động theo tiến trình lịch sử của địa phương và của vùng
1.2.1 Giai đoạn định cư, khai phá (trước và sau thế kỷ XV đến giữa thế kỷ
XIX)
Trong suốt quá trình định cư và khai phá của những lưu dân ở vùng đất Nam Bộ nói chung, người Khmer chính là lớp cư dân bản địa Bởi vào thế kỷ XV, rãi rác trên các giồng đất, gò cao ở đồng bằng sông Cửu Long đã có người Khmer sinh sống
Vùng đất đồng bằng sông Cửu Long ngày nay, vốn xưa kia là địa phận của vương quốc Phù Nam, với nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng Một trong những nước chư hầu của Phù Nam là Chân Lạp ở phía Bắc, sau khi thoát khỏi sự phụ thuộc của Phù Nam (thế kỷ VI) đã tiến công
và thống trị được Phù Nam, biến vùng đất thấp mới chiếm được này thành Thủy Chân Lạp Người Khmer di cư từ phía Bắc đi về phía Nam và có mặt ở vùng hạ lưu sông Cửu Long
Từ thế kỷ X trở đi, đế chế Angkor của người Khmer đang ở giai đoạn phát triển, nhiều công trình kiến trúc, đền, chùa được xây dựng nên đã vắt kiệt sức người dân lao động Những con người này tìm cách thoát khỏi sự hà khắc và nạn lao dịch nặng nề của giai cấp thống trị, đã tìm đến vùng châu thổ sông Cửu Long ngày một đông, bởi họ thấy nơi đây đất đai dễ trồng trọt, có thể lao động tự nuôi sống mình mà lại không phải chịu một sự kiểm soát nào của chính quyền
Sang thế kỷ XII – XIV, những cuộc tranh giành quyền bính trong triều đình, những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm làm cho Angkor không còn hưng thịnh, dẫn đến một đợt
di dân khác đi tìm đất sống mới của người Khmer xuống miền Nam Từ thế kỷ XV (1434) trở đi, sau khi đế chế Angkor sụp đổ, dưới sự thống trị của ngoại tộc Xiêm, cuộc sống của người dân càng cơ cực hơn, nhất là người dân nghèo, từ đó tạo nên một làn sóng di cư mới của những nông dân Khmer xuôi theo dòng Mê Kông, xuống các tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long Đợt di dân lần này xuống phía Nam của người Khmer không chỉ có người nông dân nghèo muốn trốn chạy đói khổ, loạn lạc mà còn có cả những người giàu có, sư sãi, trí thức, quan lại và những người trong hoàng tộc không muốn sống trong cảnh đất nước có chiến tranh Từ trong sự biến thiên của lịch sử, lớp cư dân Khmer ở miền Nam Việt Nam đến đây tự do khai phá, đã hội nhập một cách tự nhiên vào cộng đồng dân tộc Việt Nam Do đặc điểm cư trú và sự phân bố dân cư vừa tập trung, vừa xen kẽ với các dân tộc khác, đã tạo cho người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long có mối quan hệ giao lưu rộng rãi, gắn bó chặt chẽ với các dân tộc Việt, Hoa, Chăm Cũng chính các điều kiện của môi trường đó đã
Trang 13tạo nên sự khác biệt về mặt kỹ thuật canh tác, tổ chức xã hội truyền thống so với người Campuchia [2, tr.23]
Từ cuối thế kỷ XVI, An Giang và các vùng phụ cận đã là nơi sinh sống của những nông dân Khmer, họ tập trung đông ở hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Tại Tịnh Biên, vì người Khmer là dân bản địa lâu đời, được sinh ra và lớn lên ở Việt Nam nên lớp cư dân này thường được gọi là người Việt gốc Khmer (người Việt gốc Miên) Song, phong tục và tiếng nói của họ không khác mấy với người Khmer ở Campuchia Họ theo Phật giáo Tiển thừa và sống ở những phum, srok nhỏ riêng biệt hoặc xen kẻ với các ấp của người Việt và người Hoa
Cùng thời gian này, tức cuối thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII, do những biến động của triều đình phong kiến Đại Việt, một lớp cư dân mới cùng với một nền văn hóa mới từ phía Bắc vào chung sống với họ ở vùng này, đó là những đoàn di dân người việt, tạo nên bước ngoặt quyết định cho lịch sử mở mang bờ cõi nơi đây
Thời điểm người Việt chính thức đến Tịnh Biên chưa có tài liệu nào khẳng định rõ, nhưng theo Nguyễn Văn Hầu thì sau khi Tầm Phong Long chính thức nằm dưới sự cai quản của chúa Nguyễn, tức vào năm 1757, vùng đất Tịnh Biên được hình thành cùng thời điểm
đó (nhưng chưa có cơ sở hành chính), từ đó đã có rãi rác những dân lưu tán người Việt đến đây sinh sống Các tài liệu khác còn cho biết, từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, qua những chính sách khuyến khích khai hoang, mở mang bờ cõi về phương Nam của các chúa Nguyễn, cư dân người Việt có mặt ở các vùng đất mới ngày càng nhiều Dù theo hình thức
tự do hay được triều đình chiêu mộ, họ đều đi thành từng nhóm, trong đó có cả gia đình, cha
mẹ và vợ con
Vào đầu thế kỷ XVII, các khu vực cao ráo thuộc chợ Châu Đốc, Mỹ Đức, Cái Dầu (huyện Châu Phú ngày nay), … đã có dân đến ở khá đông Đặc biệt, khu vực Chợ Thủ là một điểm dân cư tập trung bên cạnh điểm dân cư Cù Lao Giêng (đều thuộc huyện Chợ Mới) Tại những khu vực này, dân cư đông đảo, nhà cửa khang trang, chùa, miếu được xây dựng để làm nơi cầu nguyện, thờ phụng Từ những nơi này, từng lớp lưu dân Việt sau khi
đã ổn định, lập làng, họ bắt đầu phân tán sang các vùng lân cận thuộc Long Xuyên, Châu Đốc, Tân Châu ngày nay, … Nhưng mãi đến năm 1819, khi Thoại Ngọc Hầu nhận lệnh triều đình cho đốc suất đào kinh Vĩnh Tế, rồi đến năm 1821, khi thấy con kinh về cơ bản đã được đào xong, để khuyến khích người dân tiếp tục khai phá những nơi còn rậm rạp, ông tiến hành cho đắp con đường từ Châu Đốc đến Núi Sam (sử cũ gọi là Thổ Yên), dựng bia
“Châu Đốc Tân lộ kiều lương” (1828) (8) Nhờ có công trình bộ lộ mới này mà ngựa xe qua lại dễ dàng, dân cư di dần từ Châu Đốc vào núi Sam khẩn ruộng, khai phá tận vùng hoang hiểm trở thuộc huyện Tịnh Biên
Trang 14Tịnh Biên là vùng có nhiều sương lam chướng khí, rừng núi hoang vu, đất khó canh tác nên thời này, dân đến lập làng còn thưa thớt Song thiết nghĩ, người Việt đã có mặt ở Tịnh Biên từ trước đó, thậm chí từ trước khi Tầm Phong Long trở thành đất thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn Về sau, bên cạnh việc khuyến khích, mộ dân lập ấp, đồn điền, triều đình Nguyễn còn quan tâm đến vấn đề củng cố an ninh biên cương, nhất là vùng đất mới phía Tây Nam Tịnh Biên vừa là vùng biên giới Việt – Chân Lạp, vừa là vùng có nhiều người Khmer sinh sống nên được triều đình đặc biệt chú ý và đưa ra nhiều biện pháp khá toàn diện
về kinh tế, văn hóa kết hợp với quốc phòng, để ổn định nơi đây Trong lời tâu năm 1852 của kinh lược sứ Nguyễn Tri Phương “Tỉnh An Giang tiếp giáp với cõi nước Miên, đất bỏ hoang còn nhiều, xin từ nay trở đi – phàm những tên can phạm trộm cắp, cướp vặt và các tên du côn không rõ lai lịch ở 6 tỉnh Nam kỳ mà tội chỉ man đồ (đồ 3 năm) trở xuống đều phát giao cho các đồn bảo An Giang sai phái” [38, tr.54], là một trong những cách triều đình góp phần bảo vệ quốc phòng các vùng biên thùy của tỉnh An Giang Kinh Vĩnh Tế lúc này một mặt là công trình thuỷ lợi lớn, quan trọng về giao thông và an ninh phòng thủ, mặt khác còn là đường thâm nhập vào những khu xa bờ sông Hậu, về phía biển Tây, giúp cho người Việt đến định cư, khai phá nhanh chóng hơn và những lưu dân mới thuận lợi đến với vùng đất hoang vu Tịnh Biên để sinh sống nhiều hơn, hàng loạt các làng xóm như Vĩnh Thông, Vĩnh Lạc, An Nông, Phú Cường, Nhơn Hòa (Nhơn Hưng), An Thạnh, Xuân Phú (An Phú), mọc lên dọc theo bờ kinh Vĩnh Tế, tạo nên không khí sinh động cho vùng đất mới thêm nhộn nhịp
Bên cạnh hình thức khai hoang do chính quyền tổ chức hay do người dân tự tiến hành thì những cuộc khẩn hoang do những nhóm tín đồ tôn giáo thực hiện là đáng chú ý hơn cả,
nó góp phần tích cực tạo nên những yếu tố riêng biệt, đa dạng thêm cho vùng đất Tịnh Biên này Có thể gọi đây là những cuộc tị nạn của các nhóm tôn giáo trước sự khủng bố của triều Nguyễn, cũng có thể là những nhóm khai hoang tự túc, điển hình là nhóm Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương
Từ sau năm Kỷ Dậu (1849), Đoàn Minh Huyên, vị sáng lập dòng Phật giáo Bửu Sơn
Kỳ Hương, đồng thời cũng là người có chủ trương mở cuộc khai hoang có đường lối và có
tổ chức hẳn hoi ở những vùng đất hoang sơ của đất An Giang Ông vốn là người tu hành, trở
về chữa bệnh cho dân chúng và truyền bá đạo Ông đi hết nơi này đến nơi khác, từ Tòng Sơn đến Trà Bư, Xẻo Môn rồi đến Kiến Thạnh (thuộc huyện Đông Xuyên – An Giang), nơi nào dân chúng cũng theo ông rất đông Vì vậy, ông bị nhà cầm quyền An Giang buộc tội là gian đạo sĩ, bắt đem về câu lưu tại tỉnh lỵ An Giang và chỉ định ông vào tu tại chùa Tây An (thuộc núi Sam ngày nay nên được tín đồ suy tôn là Phật thầy Tây An) Nhưng để đạo của mình không thuộc quyền kiểm soát của chính quyền nhà nước, các tín đồ của ông Đoàn Minh Huyên chia nhau thành nhiều nhóm đi đến khai hoang các vùng xa xôi, hẻo lánh
Trang 15Ngoài các tín đồ, đoàn còn huy động được thêm hàng ngàn nhân lực theo họ cùng lao động giành lấy cuộc sống, chiếm giữ đất đai, thành lập trại ruộng Riêng vùng Tịnh Biên (Thất Sơn), bên chân núi Két, nhóm tín đồ của Đoàn Minh Huyên (do Bùi Văn Thân và Bùi Văn Tây chỉ huy) đã lần lượt được lập nên các nông trại Hưng Thới và Xuân Sơn
Vào nửa sau thế kỷ XVII, thêm một lớp cư dân khác có mặt tại đồng bằng sông Cửu Long, là những nhóm cư dân miền Nam Trung Hoa dưới sự chỉ huy của Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên và Hoàng Tiến - những di thần nhà Minh không tuân phục nhà Thanh - sang xin thần phục chúa Nguyễn
Bước sang thế kỷ XVIII, lại thêm một đợt di dân nữa của người dân Nam Trung Hoa Theo chân Mạc Cửu họ đã chọn vùng đất Hà Tiên ngày nay để sinh sống, tránh sự truy sát của quân Mãn Thanh, chờ cơ hội quay về Trung Hoa khôi phục lại vương triều Minh Nhóm
di dân lần này bao gồm nhiều tầng lớp khác nhau, ngoài người dân nghèo còn có các quan lại, các tri thức và có cả thương nhân, … ở các vùng Quảng Châu, Triều Châu, Phúc Kiến di
cư về đây Nhưng rồi tình hình chính trị ở Trung Quốc ngày càng trở nên bất lợi cho các lực lượng “Phản thanh, phục Minh” đang trú ở Việt Nam, họ không thể trở về đất nước của mình như dự định ban đầu Về sau, những di dân người Hoa này lần lượt dựng vợ, gả chồng với người bản xứ (người Việt và Khmer, ), trở thành một tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Trong quá trình chung sống, họ đã cùng với các dân tộc anh em biến vùng đất mới (Nam Bộ) thành nơi tấp nập, sầm uất, trong đó, đáng chú ý nhất là Hà Tiên
Khi con kinh Vĩnh tế được đào xong, nó đã góp phần là chiếc cầu nối giao thương giữa nhân dân các vùng, nhất là những vùng biên giới như Châu Phú, Tân Châu, Tịnh Biên, Tri Tôn, từ các nơi này đi Campuchia, Châu Đốc đi Hà Tiên và ngược lại Vào mùa nước nổi, tàu ghe của các thương nhân có thể đi lại buôn bán dễ dàng Có những thương nhân Hoa ở Campuchia, ở Hà Tiên, … sau nhiều lần qua lại buôn bán với người dân Tịnh Biên,
đã cưới vợ, sinh con và lưu lại làm ăn sinh sống nơi này Thế là người Hoa có mặt ngày một trở nên đông đúc hơn ở Tịnh Biên
Như vậy trải qua thời gian, sau người Việt, người Hoa đã có mặt rãi rác khắp đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có vùng đất Tịnh Biên
Tựu trung lại, thời khẩn hoang, mở mang bờ cõi, theo nhiều hình thức khác nhau, mà
cư dân của nhiều dân tộc có mặt ở Tịnh Biên Họ sống chan hòa, cùng nhau chung lưng góp sức biến vùng núi hoang vu Tịnh Biên thành những khu làng, ngôi chợ nhộn nhịp Và nếu như dưới thời Nguyễn, thiên tai, chiến họa là trở ngại cho việc định cư, khai phá vùng đất này thì sang đến thời thuộc Pháp, chống Mỹ tình hình không yên ổn hơn, khi có nhiều nghĩa quân tụ họp về đây lập căn cứ ngày càng nhiều, địch càng tổ chức nhiều cuộc càn quét, nhiều chính sách để đối phó với Cách mạng hơn Chính vì thế mà nơi đây có thêm nhiều thành phần dân cư mới đến với Tịnh Biên
Trang 161.2.2 Giai đoạn chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975)
Ở An Giang, thời thuộc Pháp, có thêm hai lượt di dân nữa của người Hoa sang Việt Nam, đó là vào thời điểm thế kỷ XIX, Pháp mở cửa Việt Nam cho người Trung Quốc di cư vào và thời điểm Đảng cộng sản Trung Quốc giành được thắng lợi Một số phần tử của Quốc dân đảng cùng bọn phản động tư sản mại bản Trung Quốc chạy hàng loạt sang ẩn nấp
ở Việt Nam Thành phần của hai lượt di dân này khá phức tạp, có phần tử phản động (sau giải phóng đã sang định cư ở nước ngoài), cũng có cả thương nhân, dân nghèo, … đến Việt nam để tìm đường làm ăn sinh sống Trong số đó có một số người đi thẳng đến định cư ở Tịnh Biên (đông nhất là vào đầu thế kỷ XX), làm cho sắc dân nơi đây đa dạng và đông đảo thêm Người Hoa ở Tịnh Biên chủ yếu là người Quảng Đông và người Hẹ (8) “Chùa Bà nước Hẹ” hay còn gọi là “Miếu Bà Thiên hậu Thánh mẫu” ở Tân Lợi (Tịnh Biên) được xây dựng cách nay hơn một trăm năm là một chứng tích cho sự có mặt của người Hoa ở Tịnh Biên, đặc biệt là người Hẹ Người Hoa ở Tịnh Biên chủ yếu sống tập trung ở các chợ Nếu
là người Quảng, nghề nghiệp của họ là mua bán (bán tạp hóa), nếu là người Hẹ, họ thường làm rẫy, ngoài ra họ còn làm thêm nghề bốc thuốc Bắc, tiểu thủ công (làm thợ kim hoàn) và phần lớn theo Phật giáo Đại thừa
Cùng thời điểm này, năm 1876, sau khi thực dân Pháp chiếm toàn bộ Nam Kỳ, Đức Bổn sư Ngô Lợi, người khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, dẫn tín đồ vào khai hoang vùng núi Tượng (Ba Chúc) quận Tịnh Biên (nay thuộc huyện Tri Tôn) Thực chất là lập căn cứ kháng Pháp Mặt khác, trong những năm kháng chiến chống Pháp, trước sự đàn áp dã man của thực dân, một bộ phận cư dân, đặc biệt là những người hoạt động cách mạng đã bỏ vùng tạm chiến kéo vô vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, rừng núi tiếp tục thực hiện ý chí cứu dân cứu nước của mình Vì vậy, dân cư Tịnh Biên tăng lên
Bước sang thời chống Mỹ, tình hình trái ngược lại Dân cư ở miền núi Tịnh Biên giảm xuống rõ rệt cùng với cường độ mở rộng các khu trù mật, các ấp chiến lược, chủ trương dùng bom pháo “tát dân” ở các vùng nông thôn, biên giới và các vùng căn cứ kháng chiến của Mỹ Người dân sống co cụm lại để đùm bọc, bảo vệ nhau Rãi rác quanh các chân núi
và cánh đồng gần núi chủ yếu là người Khmer sinh sống theo hình thức phum, srok Dù vậy, thời này Tịnh Biên có thêm cư dân là những tín đồ Thiên Chúa giáo
Nhóm con chiên Thiên Chúa giáo trước đây để tránh sự tàn sát, bắt bớ của triều đình đã tiến hành cuộc tị nạn Nam tiến để tìm đất sống và duy trì tín ngưỡng của mình, tích cực phá
vỡ các rừng lau, bãi sậy để làm ruộng, mở ấp, lập làng ở một số nơi của tỉnh An Giang (cũ) như Cái Đôi, Koh Teng (Bãi Dinh hay Cù Lao Giêng), Bò Ót, … Tuy nhiên, thời điểm các giáo dân tập trung đông nhất ở Tịnh Biên bắt đầu từ giữa năm 1955, khi chính quyền Sài
Trang 17Gòn mở rộng đồn bót mà trước đó do lính biệt kích (Commando) người Khmer đóng giữ (đồn này do Pháp lập nên vào năm 1954), thành hậu cứ của trung đoàn 131 chủ lực ngụy ở Vĩnh Trung Đến năm 1957 đồn trở thành hậu cứ quân sự, năm 1959 là trung tâm huấn luyện Thất Sơn và từ năm 1963 là trung tâm huấn luyện Chi Lăng Lúc cao nhất trung tâm
có đến gần 10.000 binh lính các loại, họ được phép mang cả gia đình, vợ con đến đây sinh sống, trong đó có những thành phần từ miền Bắc, miền Trung di cư vào Nam, có những thành phần từ các tỉnh khác thuộc Nam Bộ đến Căn cứ quân sự này càng phát triển mạnh, dân di cư được quy khu, tập trung về Tịnh Biên ngày càng nhiều, họ phần lớn là những giáo dân Công giáo (Thiên Chúa giáo)
1.2.3 Giai đoạn thống nhất đất nước (sau ngày 30/04/1975)
Sau ngày miền Nam giải phóng, nhân dân trở về quê cũ khôi phục lại những thiệt hại của chiến tranh Song, chiến tranh hầu như chưa kết thúc hẳn ở Tịnh Biên, vì cùng thời gian (chiều 01/05/1975), lính Pol Pot dùng súng cối các loại, pháo 105 ly bắn hàng trăm quả vào thị trấn Tịnh Biên, xã Lạc Quới, An Phú và An Nông [4, tr.215] Chỉ là hình thức thăm dò tình hình của địch nhưng đã gây căng thẳng và mất ổn định cho nội địa huyện Ngày 06, 07/05/1975, địch tiếp tục pháo kích và tổ chức những toán lực lượng vượt biên giới từ 300 đến 400m đào công sự rồi rút Từ năm 1975 đến 1977, chúng cứ liên tục tổ chức nhiều trận tập kích thăm dò, đuổi hàng ngàn Việt kiều, Hoa kiều về Việt Nam qua cửa khẩu Tịnh Biên Đến rạng sáng ngày 11/01/1978, quân Pol Pot Ieng Sari chính thức dùng một tiểu đoàn chia làm ba mũi tấn công vào huyện Bảy Núi (lúc này Tri Tôn và Tịnh Biên nhập lại làm huyện Bảy Núi) Trong đó, mũi thứ hai đánh vào thị trấn Tịnh Biên, mũi thứ ba đánh vào đầu núi Phú Cường Đi tới đâu chúng đốt phá nhà cửa, giết hại dân thường tới đó Bị lực lượng quân đội của huyện phản công, trên đường rút về, chúng còn tiến hành lùa dân Khmer qua bên kia biên giới, gầy dựng thêm lực lượng hòng âm mưu quay trở lại, quyết tâm chiếm cho được Bảy Núi
Mặc dù lực về phía huyện đã có sự chống trả quyết liệt, nhưng vẫn không ngăn nổi bản chất hung tàn của bọn Pol Pot, chúng tàn sát dân vô số kể với những thủ đoạn man rợ nhất Hơn 3000 đồng bào trong huyện, phần lớn là người già, phụ nữ và trẻ em bị chúng giết chết, đau thương nhất là cuộc thảm sát ở chùa Phi Lai (Ba Chúc) Mãi đến ngày 01/01/1979, diệt chủng Pol Pot mới bị đẩy ra khỏi biên giới Việt Nam, kết thúc chiến tranh, giúp đưa trên mười ngàn đồng bào Khmer bị chúng lùa sang Campuchia (năm 1978) trở về đoàn tụ gia đình mình ở Tịnh Biên
Đến thời điểm này, Tịnh Biên mới thật sự được yên bình Trong bối cảnh mới, chính quyền Nhà nước huyện đề ra nhiều chính sách , chủ trương cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, … để khắc phục hậu quả sau chiến tranh Song song đó, vì có hàng
Trang 18ngàn hecta đất cập theo biên giới còn vướng bom mìn, lựu đạn bị Pol Pot gài lại trước đó nên chưa dám cho dân sản xuất buộc phải bỏ hoang, huyện đã cho thực hiện chính sách dãn dân bằng việc đưa những đồng bào (đông nhất là người Khmer) ở các xã Vĩnh Trung, Văn Giáo, An Cư, An Nông, … đi làm kinh tế mới ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh Sau khi tình hình xã hội Tịnh Biên ổn định, đất canh tác được phép cày cấy trở lại, họ trở về bắt tay vào làm ăn sinh sống trong niềm hân hoan mới
Mặt khác, tỉnh còn bố trí lại dân cư ở thành thị về quê Vì vậy, vùng núi Tịnh Biên dân
về sống nhiều hơn, xóm làng được dựng mới thêm, ổn định hơn Bên cạnh đó, Tịnh Biên còn đón nhận thêm những cư dân “hồi hương” từ Campuchia về Cuộc sống mới, người dân trở nên hồ hởi, gia đình được sum vầy, dựng vợ, gả chồng nhiều, tốc độ dân số những năm đầu sau giải phóng tăng lên đáng kể
Nhìn chung, do hoàn cảnh lịch sử đã đưa những người dân Việt, Khmer, Hoa đến vùng đất Tịnh Biên khai phá Trải qua hàng trăm năm cộng cư, các lưu dân đã không quản ngại gian khó, bằng bàn tay khối óc, xương máu của mình, họ đã biến vùng đất hoang hóa, chịu nhiều chiến họa thành đồng ruộng phì nhiêu, phố phường đông đúc
Hiện nay, dân số toàn huyện có 122.309 người, trong đó :
- Người Việt chiếm : 86.542 người
- Người Khmer chiếm : 35.135 người
- Người Hoa chiếm : 632 người (10)
Đại bộ phận cư dân sống bằng nghề nông : làm ruộng, làm rẫy, chăn nuôi Số còn lại làm nghề thủ công và buôn bán
1.3 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội của Tịnh Biên
Ngoài một số hoạt động thương mại nhỏ lẻ, An Giang chủ yếu là vùng đất nông nghiệp, với hệ thống sông ngòi chằng chịt, đến mùa nước lên lại xuống đã bồi cho đất đai nơi đây thêm màu mỡ, phì nhiêu An Giang còn có thời tiết mưa thuận, gió hòa, ánh sáng, nhiệt độ đầy đủ, nguồn nước dồi dào, … nên đã trở thành một trong những vựa lúa và thực phẩm dồi dào không chỉ của riêng đồng bằng sông Cửu Long mà còn cho cả nước Huyện Tịnh Biên là huyện miền núi của An Giang, đại đa số đất thuộc loại đất cát pha lẫn một ít chất hữu cơ, có nhiều phân thổ (cây lá mục nát thành phân), thích hợp cho cây lúa, hoa màu
và cây ăn trái Vì vậy, ở Tịnh Biên từ lâu người dân đã có tập quán làm ruộng và làm rẫy Nơi đây còn là môi trường sinh thái khá đặc biệt cho chăn nuôi gia súc (trâu, bò, heo) và chăn nuôi gia cầm (gà, vịt) Ngoài ra, Tịnh Biên còn có nhiều nghề thủ công truyền thống,
đó là nghề đươn đệm bàng, dệt thổ cẩm và làm đường thốt nốt Những hoạt động kinh tế này một mặt tạo nên tính chất điển hình cho huyện, mặt khác đã có tác động không nhỏ đến tình hình xã hội của địa phương này
Trang 191.3.1 Trồng trọt
Thời khẩn hoang, người lưu dân đến với vùng đất mới này với nông nghiệp là nghề chính, nên họ đã sử dụng phần lớn diện tích khai khẩn được để trồng lúa, một số hoa màu và cây ăn trái
Con kinh Vĩnh Tế hoàn thành đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy mạnh công cuộc
mở rộng đất hoang, trong đó có vùng đất Tịnh Biên Là vùng đất đặc biệt, rừng rú hoang sơ,
có nhiều đồi núi và cũng có nhiều sông ngòi, kênh rạch, nên khi đến với Tịnh Biên, người dân đã rất dũng cảm, đổ nhiều mồ hôi, sức lực mới có được những cánh đồng bát ngát để trồng trọt Tuy nhiên, kỹ thuật trồng lúa lúc này còn rất đơn sơ, rất lạc hậu, việc canh tác chủ yếu dựa vào thiên nhiên, có mưa thì được nhờ, cây lúa tốt tươi, thu hoạch đem lại năng suất cao, ngược lại, năm nào hạn hán, lụt lội thì ruộng đất bị bỏ hoang Các công trình thủy lợi như kinh Vĩnh Tế lúc này chưa đủ khả năng đảm đương công tác tưới tiêu cho đồng ruộng Còn người dân, do trình độ nhận thức chưa cao nên chỉ biết cầu đảo mong mưa xuống tưới ruộng Ban đầu, lưu dân chỉ biết trồng lúa cấy ở phần đất cao Để khắc phục nạn
lũ lụt, ngừơi nông dân đã du nhập thêm cho mình cây lúa sạ (còn gọi là lúa nổi) có khả năng tồn tại trên mặt nước trong mùa nước lụt ngập sâu hàng năm ở những vùng trũng về phía Tứ giác Long Xuyên (9)
Thời thuộc Pháp, thực dân rất quan tâm đến khai thác đất hoang để sản xuất lúa gạo nên diện tích canh tác lúa ở Tịnh Biên – An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung tăng lên rõ rệt Điểm đặc biệt đáng chú ý của Tịnh Biên như trên đã nói là vừa có núi, vừa có sông, rạch nên đất trồng lúa cũng được chia làm hai loại là ruộng trên và ruộng dưới
Ruộng trên là nơi đất cao, không bị ngập vào mùa nước nổi nên áp dụng kỹ thuật cấy lúa như các tỉnh khác (gieo mạ, khi mạ đúng tuổi thì nhổ lên cấy lại cho đều) Lúa ruộng trên (còn gọi là lúa nước trời), thường có nhiều ở vùng Bảy Núi thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, tỉnh An Giang Phần lớn các giống lúa ruộng trên có nguồn gốc từ Campuchia,
có khả năng chịu hạn tốt Lúa canh tác hầu như không tưới, chỉ sử dụng nước tự nhiên nên thường được gieo vào đầu mùa mưa, khoảng tháng 5, 6 dương lịch và cấy vào tháng 7, 8 dương lịch Ở Tịnh Biên, phần lớn người Khmer trồng lúa ruộng trên và có tập quán dùng phân bò để cải tạo độ phì nhiêu của đất, ít sử dụng phân hóa học Giống lúa chủ lực của vùng là nàng nhen, ba thiệt, nàng già (nếp), nhiêu lư, so thum, ăng lưa, col trây cho năng suất cao và ổn định
Ruộng dưới thì khác, do ở địa hình thấp, thường xuyên bị ngập lụt vào mùa nước nổi nên áp dụng kỹ thuật sạ lúa phổ biến ở những vùng trũng, đặc biệt là An Giang (gieo thẳng hạt giống xuống đất mà không cần phải cấy lại) Khi gặt, gốc rạ bỏ cho khô, sau đốt thành tro, cày bừa trộn lấp lại trở thành phân tro Cây lúa trồng ở đây là giống lúa nổi (còn gọi là
Trang 20cây lúa sạ), cũng được du nhập từ Campuchia sang (năm 1891) Trồng cây lúa nổi ít tốn công, chi phí thấp, chỉ cần cày qua một lượt (có nơi không cần làm đất), sau đó đem giống
sạ rồi bừa lắp vào đầu mùa mưa, không sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu,
Nhìn chung, sản lượng lúa trong suốt thời kỳ cai trị của thực dân Pháp, sản lượng lúa
có tăng do mở rộng diện tích khai hoang, còn năng suất lúa thì không có gì thay đổi Kỹ thuật canh tác của người nông dân thời kỳ này cũng không thay đổi so với trước đó, vẫn đơn
sơ, vẫn dựa vào nguồn nước mưa Năm nào lụt lớn thì rơi vào cảnh mất mùa, năm nào hạn hán kéo dài thì cũng như trước đây, ruộng đồng bỏ hoang vô số, vì vậy, người dân Tịnh Biên rơi vào cảnh nghèo đói thường xuyên
Hơn hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ tiếp theo, đặc trưng của nông nghiệp trồng lúa huyện Tịnh Biên và các nơi khác của tỉnh An Giang vẫn là độc canh cây lúa Cũng trong giai đoạn này, với âm mưu đưa nông thôn vào quỹ đạo chung của chế độ thực dân mới, chính quyền Sài Gòn đã rất coi trọng vấn đề ruộng đất Nhiều chính sách, chủ trương được ban hành như chính sách “Cải cách điền địa” của Ngô Đình Diệm với các dụ : Dụ số 2 (08/01/1955), Dụ số 7 (05/02/1955) và Dụ số 57 (22/10/1956) quy định mối quan hệ giữa địa chủ và tá điền và giới hạn số ruộng đất địa chủ sở hữu được ở mức vừa phải ; Luật
“Người cày có ruộng” của Nguyễn Văn Thiệu (26/03/1970), cấp “chứng khoán” xác nhận quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, cạnh đó cho du nhập thêm các loại máy móc, phân bón, đầu tư cơ sở vật chất vào nông nghiệp Nhìn chung, các chính sách của chính quyền Sài Gòn ban ra nhằm phục vụ cho chủ trương “Bình định nông thôn” và lôi kéo nông dân xa rời cách mạng nên qua các dụ ta thấy, ruộng đất phần lớn vẫn còn nằm trong tay của địa chủ lớn, địa chủ vừa và nhỏ, chỉ có ruộng của nông dân (tá điền) là bị giới hạn, có một ít nông dân là có đất để cày cấy “Người cày có ruộng” đâu không thấy, chỉ thấy số ruộng mà cách mạng cấp cho nông dân bị xáo trộn, gây mất đoàn kết trong dân Hay nói cách khác, những thành quả ruộng đất của nông dân do chính quyền cách mạng cấp, đến đây bị chính quyền Sài Gòn cướp đi thông qua hình thức khác như là một cách “hợp thức hóa” ruộng đất cho nông dân mà thôi
Khác với chính sách của chính quyền Sài Gòn, chính sách ruộng đất của Đảng ta trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước lại đi đến mục tiêu tăng cường đoàn kết nội bộ nông dân lao động, đảm bảo hài hòa lợi ích của các tầng lớp nông dân (bần, cố và trung nông), … đánh bại được âm mưu của kẻ thù trong việc cướp đất của dân Cụ thể, năm 1971, tại tỉnh Châu Hà, 300 nông dân có lực lượng vũ trang hỗ trợ đã làm thất bại âm mưu của địch cho quân tiến đến vùng Bảy Núi định chuyển dân địa phương đi nơi khác nhằm muốn chiếm 4500 ha ruộng của vùng này giao cho nông dân ở nơi khác đến [69, tr.23]
Ở An Giang, từ năm 1967, những giống lúa thần nông cao sản ngắn ngày của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI du nhập vào, hai giống đầu tiên là thần nông 8 (IR8 hay TN8)
Trang 21và thần nông 5 (IR5 hay TN5), phương pháp chủ yếu là cấy (không phải sạ như trước) Ở Tịnh Biên, cây lúa thần nông chiếm một diện tích đáng kể Tuy nhiên, do tình hình xã hội bất
ổn, dẫn đến cơ cấu ruộng đất cũng thay đổi theo Đất công thổ có 602,76 ha, đất công điền
bị bỏ hoang là 195,59 ha, cộng với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, chưa có sự tác động nhiều của khoa học kỹ thuật, công việc trồng lúa của người nông dân trở nên bấp bênh và thiếu ổn định Đời sống người dân lúc bấy giờ phụ thuộc nhiều vào cây lúa nên vì thế trở nên cơ cực hơn
Sau ngày giải phóng, dưới chế độ mới, người nông dân Tịnh Biên vẫn chưa được yên
ổn trên mảnh đất của mình bởi cuộc chiến tranh Tây Nam Nó tàn phá không ít những của cải vật chất, ruộng vườn của người dân nơi đây, không những thế, sự ảnh hưởng tâm lý của nông dân Tịnh Biên từ sau cuộc chiến này đã tác động rất lớn đến công ăn, việc làm của họ, lúc nào họ cũng ở tình trạng nơm nớp lo sợ sự quay trở lại của bọn Pol Pot Ieng Sari Đến năm 1988, người dân ở các huyện của tỉnh An Giang mới thật sự có được niềm vui An Giang chủ trương tiến hành giao đất ổn định và lâu dài cho nông dân, để họ được tùy nghi
sử dụng, chuyển nhượng cũng được, kế thừa cũng được, có thể tự cải tạo kỹ thuật canh tác nông nghiệp, bởi phần đất Nhà nước giao cho họ đã được ban cấp giấy chứng nhận rõ ràng
Từ đó, nghề trồng lúa, nghề cổ truyền vốn có từ thời dựng nước được người nông dân Tịnh Biên tiếp tục phát huy bằng khoa học của thời đại Tuy nhiên, đối với lúa ruộng trên, do chưa được đầu tư thâm canh đúng mức nên kỹ thuật canh tác không khác trước, lúa chủ yếu vẫn dựa vào nước trời, năm nào hạn hán hay gieo trễ thời vụ thì lúa cũng bị ảnh hưởng nặng, thậm chí mất trắng
Ngoài làm ruộng, trồng lúa, dân Tịnh Biên còn làm rẫy trồng hoa màu và trồng cây ăn trái Địa hình triền núi, đất cát của Tịnh Biên rất thích hợp cho việc lập vườn trồng cây ăn trái, tránh tình trạng bị ngập úng do lụt hàng năm Đồng thời, sau khi thu hoạch lúa, người dân biết tận dụng mảnh ruộng bỏ không (thường là ruộng trên) để trồng thêm hoa màu như
bí, các loại đậu, bắp, dưa hấu, khoai mì hay rau cải Đây còn là một hình thức dùng để cải tạo đất, vừa nhằm tăng thêm độ màu mỡ cho đất, vừa có thêm thu nhập cho gia đình, lại có thể khắc phục tình trạng độc canh cây lúa
Cây ăn trái ở Tịnh Biên bao gồm cả cây nhiệt đới lẫn ôn đới, nhiều nhất là xoài, mãng cầu ta, chuối xiêm, điều (đào lộn hột), sầu riêng, mít, nhãn, lựu, bơ, Trong huyện, trồng nhiều nhất là điều, thập niên 80 chính là thời kỳ hoàng kim của nó, hạt (hột) điều thường dùng để xuất khẩu Năm 1987, có khoảng 3.706 ha diện tích trồng điều, tập trung ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, nhưng hiện nay, chỉ còn khoảng 640 ha ở Tịnh Biên, tập trung
ở Thới Sơn, An Phú, An Hảo, An Cư Các loại cây ăn trái ở Tịnh Biên là loại cây thích hợp với đất cát và chịu khô hạn tốt Vì vậy, chúng thường trổ hoa và cho thu trái chậm hơn các
Trang 22vùng khác, chẳng hạn như xoài núi thu hoạch chậm hơn xoài đồng bằng khoảng một tháng (trổ tháng 1 - 2, thu hoạch tháng 5 – 6) hoặc sầu riêng thu hoạch cũng hơi muộn hơn các tỉnh khác (tháng 8, 9),
Tịnh Biên có một loại cây khá đặc biệt là cây thốt nốt, loại cây lâu năm chịu hạn rất tốt Thốt nốt có tuổi thọ rất cao (có khi lên đến vài trăm tuổi) và là loại cây hữu dụng Vừa là cây ăn trái, vừa là cây dùng cho sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, vì từ trái, bông, lá đến thân cây, tất cả đều có thể đem lại nguồn thu nhập cho người nông dân
Phần lớn các loại cây này (cây hoa màu và cây ăn trái) chưa được đầu tư chăm sóc hợp
lý, chúng chỉ được bón bằng các loại phân tự nhiên (phân chuồng) nên năng suất đưa đến chưa cao Đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế của địa phương
Nhìn chung, do đặc điểm về mặt địa hình có độ dốc cao nên Tịnh Biên có tập quán làm lúa ruộng trên và thuận lợi cho việc lập vườn trồng hoa màu và cây ăn trái Cũng chính đặc điểm này, cộng thêm thời tiết thường bị khô hạn, điều kiện chăm sóc kém (chủ yếu theo kinh nghiệm của người đi trước), ít sử dụng phân hóa học bón cho cây nên năng suất cho ra rất thấp Những năm gần đây, người nông dân được hướng dẫn áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật gắn với mô hình VRAC (Vườn - Ruộng - Ao - Chuồng), kỹ thuật chăm sóc bón phân, phòng ngừa sâu bệnh, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng Như vậy, bên cạnh việc kế tục nghề truyền thống của ông cha, từ đây người dân Tịnh Biên còn biết phát huy nó lên bằng cách kịp thời nắm bắt kiến thức về khoa học kỹ thuật nông nghiệp Đây là cách thức mà họ đóng góp vào việc làm giàu cho bản thân và cho địa phương thông qua nghề trồng trọt
1.3.2 Chăn nuôi
Chăn nuôi là một nghề truyền thống của huyện Tịnh Biên, cũng là một trong những thế mạnh của huyện So với các huyện khác của tỉnh An Giang, nghề chăn nuôi tại đây chủ yếu mang tính chất gia đình Gia súc, gia cầm chủ yếu được nuôi bằng thức ăn có sẵn, không phải là loại thức ăn chế biến và ít có chuồng trại kiên cố
Tịnh Biên nói riêng, Bảy Núi nói chung có nhiều loại cỏ tuy mọc tự nhiên nhưng lại là loại dùng chăn nuôi gia súc có chất lượng tốt như : cỏ mật, cỏ voi, cỏ đuôi phụng, cỏ lông tây, chiếm ưu thế là cỏ ống và cỏ chỉ Đồng thời, ruộng trên vùng núi Tịnh Biên chỉ có thể cày cấy được một vụ vào mùa mưa, mùa còn lại chúng trở thành những bãi cỏ rộng để chăn thả trâu bò Chính vì vậy, Tịnh Biên từng nổi tiếng là nơi trao đổi, buôn bán trâu, bò, nhất là ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia Xuất phát từ đây mà có câu nói truyền miệng quen thuộc “Lụa Tân Châu, Trâu Nhà Bàng” Bởi trước đây, cứ mỗi tháng ba lần vào các ngày 10, 20 và 30, tại Châu Đốc có phiên chợ trâu, bò dưới chân núi Sam Phiên chợ là nơi tập trung nhiều giống trâu, bò ở khắp nơi tập trung về đây, trong đó, nhiều nhất là giống
Trang 23trâu, bò của huyện biên giới Tịnh Biên Lê Hương trong quyển “Chợ trời biên giới Việt Nam – Cao Miên” có nói là từ thời “thượng cổ”, nhu cầu cày cấy đã đưa người dân ở hai bên đường biên giới Việt – Campuchia đến với nhau trong việc trao đổi, mua bán loại hàng sống là trâu và bò và nghề này “phát triển mạnh nhất trong thời Pháp cai trị Đông Dương” [33, tr.78] Song, để tiếp tục giải quyết nạn khan hiếm sức kéo và thịt, phiên chợ lại chính thức đi vào hoạt động vào ngày 01/01/1953 (chấm dứt hoạt động vào tháng 06 năm 1959) qua Nghị quyết số 2774/CAB/KT ngày 19/12/1952 do Thủ hiến Nam phần Việt Nam ký (12) Tuy nhiên, trong phiên chợ, các nơi khác đến Tịnh biên mua trâu, bò nhiều hơn là bán và ở đây, bò được nuôi nhiều hơn trâu Điều này xuất phát từ địa hình của địa phương là vùng sơn địa và bán sơn địa, rất thích hợp cho việc chăn nuôi bò, trong khi trâu chỉ sống nhiều ở những nơi trũng, nhiều đầm lầy
Người Việt ở Tịnh Biên nuôi bò không nhiều như người Khmer nên thường nhờ họ nuôi, vì cho rằng họ có “tay nuôi”, hình thức này gọi là “nuôi rẻ” Người Khmer lập chuồng trại và nuôi bò ngay trong nhà (tập quán này đến nay vẫn còn), giống chủ yếu là bò ta vàng địa phương và thức ăn cung cấp cho chúng luôn có sẵn trong tự nhiên như rơm rạ, thân cây bắp, lõi bắp, Từ năm 1988, ngành chăn nuôi của huyện được quan tâm phát triển hơn, trong đó, đàn bò tăng bình quân 19% một năm Theo số liệu thống kê năm 1997, đàn bò ở hai huyện miền núi Tri Tôn và Tịnh Biên chiếm đến 2/3 số bò của tỉnh, Tri Tôn có 13.261 con, còn ở Tịnh Biên có đến 13.820 con (nhiều nhất tỉnh)
Vài năm gần đây (những năm của thập niên 90 thế kỷ XX), An Giang có thử nghiệm nuôi lai Sind hóa (13) đàn bò sinh sản hoặc vỗ béo Giống bò này có khả năng chịu đựng kham khổ tốt nên Tịnh Biên đã và đang được khuyến khích thực hiện chương trình Sind hóa đàn bò song song với chương trình xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là cho đồng bào dân tộc Khmer của huyện Ngày nay, xu hướng cơ giới hóa xâm nhập vào nông thôn ngày càng nhanh, nông dân nơi đây cũng bị chi phối, chuyển từ chăn nuôi bò cày kéo sang chăn nuôi
bò lấy thịt ngày càng nhiều và hiệu quả mang lại cho nghề chăn nuôi này khá cao, một đôi
bò thịt sau một năm có thể thu lãi hơn hai triệu đồng
Tập quán nuôi heo nói chung đã có từ lâu đời Ở Tịnh Biên, kỹ thuật nuôi heo trong nhân dân không khác mấy các vùng lân cận Nhưng điểm nổi bật lên là từ xưa đến nay họ vẫn giữ được tập quán nuôi heo trong nhà và kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng vẫn là sử dụng cám, gạo nấu trộn với các loại thức ăn thừa, hoặc trộn với thân cây chuối, rau muống, rau lang xắt nhỏ, khác nữa là các loại cua, ốc, cá vụn băm nhuyễn nấu lên Con heo ở Tịnh Biên phần lớn là heo thịt
Thời thuộc Pháp, người dân Tịnh Biên thường mua heo từ Campuchia, bởi người Khmer Campuchia nuôi heo rất nhiều, nên thường chở qua biên giới Tịnh Biên bán cho
Trang 24người Việt Về sau, do sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Campuchia, việc mua heo gặp khó khăn hơn, nhưng họ vẫn thích mua heo của người Khmer Campuchia, vì giá heo của họ bán không cao lại tiện lợi, không cần phải đi xa, khi cần là được “đáp ứng” ngay Người dân Campuchia cung cấp heo bằng cách chở “lậu” sang Việt Nam quanh năm, nhất là trong tháng nước dâng, mỗi ngày có đến hàng trăm con được đưa sang biên giới, đến với người dân Việt, trong đó có heo giống lẫn heo thịt
Hiện nay, do tác động của chương trình khuyến nông, nhiều giống heo mới như Yorkshire, Duroc, Landrace, được nhập vào An Giang và phân bổ xuống các địa phương theo những điều kiện nuôi dưỡng phù hợp Song, heo chủ lực ở Tịnh Biên không thay đổi, vẫn là giống heo trắng địa phương, nuôi theo cách riêng của địa phương (ít dùng thức ăn gia súc) và thịt chỉ để cung cấp cho địa phương
Không khác nghề nuôi trâu, bò, heo, nghề nuôi gà, vịt ở Tịnh Biên đã gắn liền với người nông dân nơi đây từ rất lâu rồi Không riêng gì nơi đây, những người nông dân nói chung để tận dụng được thời gian rãnh rỗi sau khi đi đồng về đã tìm nuôi thêm con gà, con vịt trong nhà, làm thức ăn cho gia đình hoặc thiết đãi bạn khi cần Gà, vịt thường được nuôi trong khu vườn trước hoặc sau nhà Cách thức chăm sóc mang tính chất gia đình, thức ăn mang tính tự nhiên lấy từ những thứ có sẵn Gà ăn gạo, thóc ; vịt trước đây có nguồn thức ăn chủ yếu là con trùng, đôi khi là miếng cám hay ốc băm nhuyễn trộn, … hiện nay, người nuôi vịt không cho vịt ăn trùng nữa, nhưng thức ăn vẫn do tự tay họ chế biến từ những thứ cặn, thừa mà không sử dụng thức ăn công nghiệp nhằm chạy theo hiệu quả kinh tế rút ngắn thời gian nuôi
Ở Tịnh Biên, người dân nuôi vịt nhiều hơn gà và thường thấy nhất là hình thức nuôi vịt chạy đồng với giống vịt ta quen thuộc của địa phương Nguồn thức ăn chính của đàn vịt chạy đồng là những hạt lúa rơi vãi, sâu rầy hoặc cá tép trong những đồng lúa mới gặt Khi làm nghề này, người chủ khá vất vả, thường phải thương lượng trước với chủ ruộng có những cánh đồng lúa sắp gặt, gọi là “mua ruộng” Sau khi lúa thu hoạch xong là lùa vịt đến
ăn lúa rụng và phải làm chòi tạm bợ để ngủ qua đêm ngay tại cánh đồng thả vịt để bảo vệ đàn vịt của mình Họ còn phải liên tiếp thay đổi địa điểm, lùa vịt từ cánh đồng này sang cánh đồng khác, từ địa phương này sang địa phương khác Nhưng theo cách này, họ có thể vừa tận dụng được nguồn lương thực dồi dào trên ruộng vào mùa nước lên, vừa tiết kiệm được chi phí thức ăn cho đàn vịt
Nói tóm lại, ngoài làm lúa và làm rẫy, người nông dân Tịnh Biên còn gắn với nghề chăn nuôi Dù hiện nay, tỉnh đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới về giống, vừa tiến hành cho áp dụng lai giống, vừa nhập giống ngoại vào, áp dụng kỹ thuật nuôi dưỡng, thú y, chuồng trại, khuyến khích sử dụng thức ăn công nghiệp, Song, trải qua nhiều thế kỷ, nghề
Trang 25chăn nuôi ở Tịnh Biên vẫn không thay đổi, đặc biệt là ở lối chăm sóc, rất đơn sơ, thức ăn có sẵn trong tự nhiên, chuồng trại chưa kiên cố mang tập quán gia đình Vì vậy, năng suất mang lại rất thấp Hơn nữa, đây chính là hạn chế làm kìm hãm sự phát triển chung của huyện Thật vậy, tập quán lập chuồng trại nuôi bò, nuôi heo trong nhà hay thả vịt chạy đồng
đã gây ô nhiễm cho môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cho bản thân người nuôi và những gia đình xung quanh vì đó là nơi trực tiếp tạo điều kiện cho dịch bệnh phát triển và lây lan ; việc chậm tiếp thu những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, thử nghiệm nuôi dưỡng những giống mới, cũng sẽ là nguyên nhân đưa đến sự tụt giảm các đàn gia súc, gia cầm của huyện Tịnh Biên
1.3.3 Tiểu thủ công nghiệp
Nghề tiểu thủ công nghiệp của địa phương cũng có một lịch sử lâu đời không kém nghề làm ruộng, rẫy và chăn nuôi Bởi Việt Nam là một nước nông nghiệp mà từ trước đó, nông nghiệp và thủ công nghiệp đã không tách rời nhau, gắn liền nhau như hình với bóng Dù hiện nay, thủ công nghiệp nông nghiệp là hai nghề riêng biệt, nhưng nó vẫn tồn tại trong xã hội, những kỹ thuật cổ truyền của các nghề thủ công truyền thống vẫn được duy trì như một minh chứng hùng hồn cho sự tồn tại vững bền của truyền thống dân tộc Tịnh Biên vốn từng tồn tại nhiều nghề mang nặng tính thủ công truyền thống được lưu truyền nhiều thế hệ mà vẫn còn giữ nguyên giá trị không hề phai nhạt, đó là nghề đươn đệm bàng, dệt thổ cẩm và làm đường thốt nốt
Cây bàng là một loại cây thuộc giống cỏ thuộc họ cói (Cyperaceae), có tên khoa học là Lepironia articulata và là một loại cây thân thảo, mọc tự nhiên ở những vùng đất hoang hóa, ngập sâu nhiễm chua phèn, chưa được cải tạo ở các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, [75, tr.469-470]
Đươn (đan) bàng là nghề thủ công dân gian và là cách gọi chung của nghề dùng cỏ bàng đã được xử lý, đươn thành nhiều sản phẩm khác nhau Ban đầu, sản phẩm của cây bàng chỉ là những cái nóp, chiếc đệm đơn sơ dùng để nằm thay chiếu hoặc phơi lúa, làm buồm ghe, những cái bao cà ròn đựng nông sản, đựng muối, Dần về sau, nghề phát triển lên với những sản phẩm vạn năng và duyên dáng như chiếc giỏ đựng rau quả của các bà nội trợ, cái nón để đội, chiếc cặp để học sinh mang đi học,… được nhiều người ưa chuộng, nhất
là người nước ngoài
Trước năm 1975, nghề đươn bàng tập trung nhiều ở các cụm tuyến dân cư thuộc các xã Lương Phi - Ba Chúc (nay thuộc huyện Tri Tôn), Nhà Bàng, Nhơn Hưng Rãi rác ở các xã,
ấp khác chỉ có vài hộ gia đình làm nghề này Sản phẩm làm ra được đem trao đổi, bán phần lớn ở chợ Nhà Bàng, chính vì vậy mà tác giả Trần Thanh Phương khi viết “Những trang về
Trang 26An Giang” đã từng có ngờ vực rằng “Có lẽ ngày trước nơi đây (Nhà Bàng) là nơi trao đổi các mặt hàng bằng bàng nên mới có địa danh ấy chăng ?” [47, tr.135] Đây tuy là câu hỏi, nhưng đồng thời cũng là câu khẳng định, bởi theo người dân thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên thì vùng này trước đây vốn từng là nơi tập trung mua bán, trao đổi hàng hóa có xuất xứ
từ nguyên liệu bàng lớn nhất giữa Việt Nam và Campuchia
Có thể gọi đây là nghề lấy công làm lời, chất liệu lấy từ tự nhiên nên chi phí cho nó không cao Bàng có thân cây rỗng không có bấc, có độ dẽo và bền khi khô Người nông dân lấy về, đem ngâm bùn (hoặc nước) cho đỡ giòn, phơi nắng đến héo rồi đặt từng bó nhỏ trên miếng ván hoặc phiến đá, dùng chày giã cho dẹp hoặc dùng cán quay tay hay động cơ để cán sợi bàng, sau đó phơi lại cho khô hẳn rồi đươn thành những vật dùng hữu dụng Hiện nay, người thợ không tự tay giã bàng mà mua những sợi đã thành phẩm để đươn
Mặc dù vậy, người thợ phải bỏ rất nhiều công sức mới làm xong một sản phẩm, phổ biến là những tấm đệm Nếu làm nhanh, người thợ mất từ một đến ba ngày hoàn thành một chiếc đệm, chậm thì đến bốn hoặc năm ngày Nghề đươn đệm không chỉ có ở người Việt mà người Khmer cũng biết làm, tay nghề không kém gì của người Việt
Đệm được chia làm hai loại : đệm dè dùng để nằm và đệm ngang dùng để phơi lúa, …
Cả hai loại đệm đều được người thợ đươn giống nhau, tức đươn long 2, chỉ khác ở cách kết thúc tấm đệm sau khi đươn Đệm dè vì dùng để nằm nên được thợ bẻ xếp rìa, ghim rồi cắt
bỏ những cọng bàng dư, còn đệm ngang đươn xong không cần làm thêm khâu này Đối với những người thợ có tay nghề cao, họ còn có thể đươn bỏ chữ ở giữa tấm đệm (thường những tấm đệm này được đặt cho các đám cưới, dùng cho đôi tân hôn, trên đó đươn tên của hai người)
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập, hàng hóa thông dụng nước ngoài tràn khắp thị trường Việt Nam, làm cho nhịp độ hoạt động của nghề cũng bị ảnh hưởng theo, không còn rộn rịp như trước nữa Song, nghề đươn đệm bàng ở huyện Tịnh Biên có thể nói là đã bị mai một nhưng sẽ không mất đi, nhất là ở những vùng nông thôn Người dân nơi đây dù đã được làm quen với nệm nhún, chiếu trúc vẫn không quên chiếc đệm bàng mát mẻ ngày nào, trẻ con mới sinh vẫn thường được bà đươn cho tấm đệm để nằm Thiết nghĩ nếu được Nhà nước quan tâm và đầu tư đúng mức trong việc trồng bàng và phát triển nghề đươn bàng thì tập quán này sẽ không bao giờ mất và nghề truyền thống này vẫn mãi là nghề cổ truyền được lưu giữ trong tương lai của huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang
Nghề dệt thổ cẩm là nghề thủ công truyền thống đặc trưng của người Khmer Tịnh Biên, người Việt và người Hoa ở địa phương này không làm nghề dệt Tháng qua tháng, năm đến năm, trải qua nhiều thăng trầm, phạm vi thu hẹp dần nhưng nghề dệt của người Khmer đang được Nhà nước quan tâm và khôi phục trở lại
Trang 27Bên cạnh đó, người Khmer Tịnh Biên còn có nghề làm đường thốt nốt truyền thống Nghề gắn liền với người nông dân Khmer Tịnh Biên và là biểu trưng cho tấm gương lao động cần cù, là sản phẩm gắn liền với màu sắc địa phương phải mất một thời gian dài mới hun đúc nên được
Nói tóm lại, kinh tế Tịnh Biên chủ yếu là nông nghiệp, các hoạt động khác như chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp cũng chỉ là những nghề phụ Song, chúng đều là những nghề căn bản và mang sắc thái địa phương rất đậm Ở mỗi nghề đều toát lên một nét đặc sắc riêng, thể hiện sự cần cù, sáng tạo không mệt mỏi của người dân, nhằm góp phần làm giàu cho kinh tế
và giúp ổn định tình hình xã hội của địa phương
Nhìn chung, Tịnh Biên là huyện tập trung nhiều dân tộc sinh sống với nhiều thành phần khác nhau, trong đó có nông dân, trí thức, những người buôn bán nhỏ, các sư sãi, thầy tu, công nhân-viên chức, … Các thành phần dân cư ấy sống xen cài và cùng lao động, sinh hoạt hòa đồng với nhau
Chính cuộc sống chan hòa của họ đã là một trong những nhân tố góp phần tạo cho vùng đất Tịnh Biên có thêm nhiều yếu tố đa dạng về cả lịch sử lẫn văn hóa, với những nét riêng độc đáo của từng dân tộc
Trong thời khai hoang mở đất, họ không chỉ đoàn kết nhau trong việc cùng nhau dựng nên làng mạc, phố xá mà còn đoàn kết nhau cùng chống lại sự áp bức, bóc lột của quan lại, ngoại xâm, bảo vệ vùng đất mà họ đã phải đổ biết bao công sức mới có được
Hiện nay, do nền kinh tế huyện Tịnh Biên có điểm xuất phát thấp, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế nên thường bị những những phần tử đen tối lợi dụng, âm mưu phá hoại,… Ví
dụ như những cuộc “biểu tình hòa bình” của đồng bào Khmer diễn ra từ tháng 02 năm 2007
đã làm cho tình hình xã hội của huyện bất ổn Bên cạnh đó, huyện còn phải gánh chịu những ảnh hưởng khách quan từ thiên nhiên như thường bị thiên tai, lũ lụt hoặc nắng hạn kéo dài, gây thiệt hại đến tài sản của nhân dân, cơ sở hạ tầng của Nhà nước
Tuy nhiên, chính quyền và nhân dân huyện đang có những cố gắng, nổ lực khôi phục, khai thác những tiềm năng sẵn có của huyện, đề ra nhiều chính sách dân tộc phù hợp giúp huyện được khởi sắc hơn và đời sống nhân dân được cải thiện và ổn định hơn
Mặt khác, Tịnh Biên thuộc vùng núi sâu, xa nên thời khẩn hoang là nơi các lưu dân tìm đến muộn hơn các nơi khác của tỉnh An Giang Đồng thời chính vì là nơi hẻo lánh, hoang sơ có nhiều rừng cây, lại nằm sát biên giới nên Tịnh Biên là nơi gánh chịu nhiều thiên tai, chiến họa nhất, để lại hậu quả nặng nề cho nhân dân
Những hậu quả này hiện nay vẫn còn ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh tế - xã hội làm hạn chế sự phát triển chung của huyện Song, cũng với đặc điểm là vùng sâu, xa đã tạo cho kinh tế - xã hội của nơi này mang những nét rất riêng, nhất là về kinh tế, các nghề
Trang 28truyền thống của huyện hầu như vẫn giữ được nhiều tập quán cổ truyền Trong đó, đáng chú
ý nhất là những nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống của người Khmer trong huyện, nổi bật có nghề dệt thổ cẩm và nghề chế biến đường thốt nốt, là những nội dung chủ yếu sẽ được trình bày ở chương tiếp theo
Trang 29CHƯƠNG 2 : NGHỀ TRUYỀN THỐNG, MỘT NÉT ĐẶC TRƯNG VĂN
HÓA CỦA NGƯỜI KHMER Ở TỊNH BIÊN – AN GIANG
2.1 Khái quát đặc điểm văn hóa của cộng đồng người Khmer Nam Bộ và ở Tịnh Biên
Người Khmer ở Nam Bộ nói chung, Tịnh Biên nói riêng là một dân tộc thiểu số trong đại gia đình dân tộc Việt Nam Trong quá trình chung lưng đấu cật, khai khẩn vùng đất mới, cùng vượt qua những khó khăn từ thiên nhiên và xã hội, người Khmer, người Việt và người Hoa đã trở thành những người láng giềng gần gũi, tương trợ và đùm bọc lẫn nhau Chính trong điều kiện đó, người Khmer đã tiếp nhận khá nhiều những yếu tố văn hóa Việt, văn hóa Hán vào nền văn hóa của mình và ngược lại, người Việt, người Hoa cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ trong văn hóa Khmer Trong đó, ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa Việt – Khmer diễn ra mạnh hơn Tuy vậy, người Khmer vẫn giữ được tính dân tộc và tập quán lâu đời với những nét đặc trưng văn hóa độc đáo của mình
2.1.1 Hôn nhân - gia đình
Đời sống hôn nhân - gia đình, dòng họ, quan niệm đạo đức, lối sống, phong tục của cộng đồng người Khmer thể hiện rất rõ tính dân tộc mà họ vẫn còn lưu giữ
Gia đình Khmer được xây dựng trên nền tảng của hôn nhân một vợ một chồng, theo chế độ phụ hệ Nhưng hiện nay, một số nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer vẫn còn theo chế độ mẫu hệ, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang là một điển hình cho tập tục đó Con gái trong gia đình được trọng hơn và lúc nào cũng được chia gia tài nhiều hơn con trai Trong hôn nhân, ngoại trừ trường hợp kết hôn với người Việt hay người Hoa thì tập tục có khác, nhưng nếu kết hôn trong cùng dân tộc thì phong tục phải tuân thủ theo một trình tự nghiêm ngặt Trước tiên, nhà trai phải nhờ mai mối của đến dạm hỏi cô gái Khi được nhà gái chấp nhận rồi, người con trai đó phải sang nhà vợ sắp cưới làm việc, tối đến lại trở về nhà của mình Cứ như thế, thời gian làm việc của chàng trai bên nhà “vợ” có thể là 1, 2, thậm chí là 3 năm Sau thời gian “thử việc” đó là lễ cưới và thường là nhà gái dẫn cưới, chồng phải sang ở rễ nhà vợ
Mỗi gia đình sống trong một ngôi nhà riêng, cũng có nhiều gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà Tuy vậy, các thành viên trong gia đình trên dưới sống rất hòa thuận, hiếm có trường hợp ly dị hay bỏ nhau
Trang 30xương trong chùa, được về với Phật, nên tập tục mai táng của người Khmer chủ yếu theo lối hỏa táng Người chết được mang đến chùa để thiêu xác, sau đó hài cốt được mang về nhà hoặc gởi ở chùa Đây là tục lệ đã có từ hơn 5 thế kỷ nay của người Khmer Nam Bộ theo Phật giáo Tiểu thừa Ở Tịnh Biên, người Khmer cũng mai táng theo hình thức truyền thống của họ
Tang ma của người Khmer còn tùy thuộc vào kinh tế mỗi gia đình Những gia đình giàu có thường mời các sư sãi đến tụng kinh, làm cổ đãi mọi người (gọi là làm phước) ba hay bảy ngày rồi mới tiến hành hỏa táng Những gia đình có kinh tế eo hẹp hơn thì không để lâu như thế, họ mang đến chùa thiêu người chết ngay Tro cốt của người chết được để trong một cái thố (người Khmer gọi là Kốđ, nắp kốđ có hình dáng trông giống một cái tháp) đặt trong ngôi tháp nhỏ được xây bằng gạch quanh chùa
Một số gia đình Khmer Tịnh Biên cũng dùng hình thức thổ táng như người Việt, tuy vậy, chỉ vài năm sau (tối thiểu 3 năm và tối đa 8 năm), họ lại lấy hài cốt lên và mang thiêu trở lại Trường hợp này rất hiếm, bởi hài cốt sau nhiều năm chôn cất, được lấy lên cũng mời ông lục đến tụng kinh cầu siêu, cũng làm phước vài ngày, vất vả và tốn kém vô cùng
2.1.3 Sinh hoạt tôn giáo
Tương tự như cộng đồng Khmer sống ở những nơi khác của đồng bằng sông Cửu Long, dân tộc Khmer ở Tịnh Biên cũng theo đạo Phật
Phật giáo Tiểu thừa (còn gọi là Phật giáo Nguyên Thủy – Theravada) được du nhập từ thế kỷ XIII, trở thành tôn giáo độc tôn và chi phối sâu sắc nông thôn Khmer Nam Bộ Có trên 408 ngôi chùa Khmer với một đội ngũ các sư sãi lên đến khoảng 10.620 người [76, tr.75] cùng tồn tại ở Tịnh Biên và các địa phương khác của đồng bằng sông Cửu Long Từ trong quan niệm “sống gửi thác về” của đạo Phật đã đưa cư dân Khmer đến tâm lý rất tin ở kiếp sau Kiếp này họ chỉ cần sống tạm, ăn ở cho tốt để tích đức cho kiếp sau Cho nên, họ rất sùng đạo và sư sãi trong chùa đối với họ có một vị trí rất cao Những nam thanh niên đến tuổi trưởng thành, tuy họ chỉ vào tu ở chùa một thời gian ngắn như là hình thức báo hiếu cho cha mẹ, nhưng cũng rất được coi trọng
Ở mỗi phum đều có một ngôi chùa Nó gắn với cư dân Khmer từ lúc mới lọt lòng mẹ cho đến hết cuộc đời Hầu như đứa trẻ nào cũng được đưa đến chùa học chữ Khmer Vào những ngày lễ (tết) của dân tộc hay có hoạt động gì khác, cư dân đều tập trung đến chùa Qua đó cho thấy, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh, tôn giáo đơn thuần mà còn
là một trung tâm văn hóa, giáo dục, xã hội thực thụ Vì vậy, trong cộng đồng Khmer, tập quán chăm sóc, coi trọng ngôi chùa chính là một cách để họ thể hiện bộ mặt văn hóa của phum, srok mình
Trang 312.1.4 Cư trú
Bước sang cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, ở đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer đã tập trung khá đông đúc và lập thành những vùng dân cư rõ rệt, có thể phân chia như sau :
- Vùng Sóc Trăng - Bạc Liêu (vùng Hậu Giang – Minh Hải trước đây), người Khmer sống đông nhất là ở Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi, …
- Vùng Trà Vinh (vùng Cửu Long trước đây)
- Vùng An Giang – Kiên Giang, người Khmer tập trung đông ở Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng và phía Tây Bắc Hà Tiên
Vùng cư trú của người Khmer ở An Giang – Kiên Giang là địa bàn cư trú cổ xưa của người Khmer Theo Mạc Đường, “Có nhiều khả năng vào trước thế kỷ XV đã có nhiều nhóm Khmer từ miền Hậu Giang và từ nhiều nơi ở Campuchia kéo về đây, chung sống với lớp cư dân cổ phát triển lên Các thành phần cư dân Khmer khác nhau đã họp lại thành vùng
cư trú Khmer An Giang – Kiên Giang ngày nay với những sắc thái riêng về đặc điểm dân tộc” [21, tr.36] Họ tập trung sống chủ yếu ở những vùng gò đồi thuộc vùng núi hoặc dọc theo biên giới Việt Nam – Campuchia ngày nay, điển hình là cách cư trú của người Khmer Tịnh Biên Vì vậy, đây là vùng mang tính cách trung gian giữa Khmer đồng bằng sông Cửu Long và người Khmer Campuchia Người Khmer cư trú ở Tịnh Biên – An Giang một mặt bảo lưu đầy đủ những yếu tố văn hóa của đồng bằng, mặt khác tiếp thu những yếu tố từ Campuchia truyền vào Vì vậy, người Khmer nơi đây có cách ứng xử và mang sắc thái tương đối khác với người Khmer cư trú ở những vùng khác
Đơn vị cư trú truyền thống của người Khmer nói chung là phum, srok (18) Những phum, srok này có thể lớn, có thể nhỏ tuỳ thuộc vào số lượng người cư trú ở đó
Người Khmer miền núi Tịnh Biên xây dựng phum, srok của mình quanh các chân núi, sườn đồi hướng ra cánh đồng lúa theo hình “vành khăn” Nhà ở của họ trong các phum, srok thường tụ sau các lũy tre, dưới những tán cây thốt nốt, trong các khuôn viên nhỏ, có rào tre thấp hay hàng rào là những bụi hoa bao bọc Nhà chủ yếu là một gian, ngăn buồng bằng vách lá rất đơn sơ, tạm bợ, chỉ là nơi dùng để tránh nắng, tránh mưa
Trái ngược với sự đơn giản của ngôi nhà, chùa Khmer lại là nơi có kiến trúc rất cầu kỳ, phức tạp và được chạm trổ khá tinh vi Vật liệu xây dựng chùa từ gỗ đến sắt, gạch, xi măng, đều do các tín đồ quyên góp Cho nên, sự nguy nga, lộng lẫy của ngôi chùa cũng thường phản ánh được hiện trạng kinh tế của phum, srok gần ngôi chùa đó là như thế nào
2.1.5 Nghệ thuật
Người Khmer có một kho tàng nghệ thuật phong phú và độc đáo Có thể nói, người Khmer dù ở bất kỳ vùng nào, cư trú bất cứ nơi đâu, vùng núi (như Tịnh Biên chẳng hạn) hay vùng đồng bằng cũng đều yêu nghệ thuật
Trang 32Nghệ thuật sân khấu dân gian của người Khmer có các điệu múa Rom wong, Lam leu, Xarikakeo, múa chim công, múa gáo dừa, múa trống Xayam …; các bài dân ca như hát ru con (Chầm-riêng Bôn-pê-kôn), hát trong lúc lao động (Chầm-riêng-ka-nghia), hát huê tình trong sinh hoạt hội hè đình đám (Chầm-riêng-luông-luôm), hát trong phong tục tập quán (Chầm-riêng Prô-pây-ní) …; với các loại nhạc cụ như giàn nhạc Ngũ âm (Phlêng pin peat), nhạc dây (Phleng khsè), … Mỗi loại là một bông hoa đẹp điểm tô cho nền nghệ thuật Khmer
Nổi bật nhất trong làng nghệ thuật Khmer là kiến trúc và điêu khắc, thể hiện ở việc xây dựng và chạm khắc những ngôi chùa, với kỹ thuật và nét văn hóa khác biệt đầy tính truyền thống và dân tộc
Người Khmer còn bảo lưu nhiều lễ nghi cổ truyền độc đáo, tiêu biểu có Chol Chnam Thmay (Lễ Vào năm mới), Dolta (Lễ Cúng ông bà), Ok Om Bok (Lễ Cúng trăng), … và những nghi lễ tôn giáo, nông nghiệp khác
Nói một cách khái quát, người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình cộng cư đã không ngừng mở rộng, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các dân tộc khác, làm cho phong tục tập quán truyền thống của các dân tộc có những thay đổi theo chiều hướng ngày càng xích lại gần nhau, song, những yếu tố truyền thống vẫn không bị mất đi So với các địa phương khác của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tập quán của người Khmer Tịnh Biên còn có những đặc trưng riêng Ở họ, nhưng tập tục lạc hậu tuy đã dần biến mất, nhưng lại còn tồn tại tàn dư của chế độ mẫu hệ ; trong các phum, srok lý ra là nơi cư trú
“đặc thù” của những người Khmer có cùng một họ hay có quan hệ thân thuộc với nhau, ở Tịnh Biên có khác, phum, srok không còn là “bầu trời” dành riêng cho người Khmer nữa, trong đó không chỉ có người Khmer mà còn có cả người Việt và người Hoa cùng sinh sống Cho thấy rằng, tuy ít tập trung ở những nơi tấp nập như chợ, nhưng người Khmer Tịnh Biên vẫn được phân bố đều, xen kẻ với các dân tộc khác, dù đó là trong các phum hay các srok Người Khmer Tịnh Biên sống rất hòa đồng, dễ thích nghi, tuy có tập tục riêng nhưng lại có điểm chung là họ đã cùng chung sức khai khẩn ruộng nương, cùng đoàn kết chống lại phong kiến suy tàn và chống ngoại xâm Ngày nay, họ còn cùng với các dân tộc anh em chung lo xây dựng cho sự giàu đẹp của địa phương và đất nước mình Số lượng người trí thức Khmer ngày càng tăng và tham gia nhiều vào các tổ chức chính quyền, đoàn thể địa phương, có thể lấy những con số cụ thể của huyện để dẫn chứng như sau:
Trang 33- 66/441 BCH Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (cấp xã)
- 109 cán bộ cấp xã, trong đó có 1 Bí thư ; 2 Phó chủ tịch HĐND ; 3 Phó chủ tịch UBND ; 25 trưởng, phó các ngành và 78 chức danh khác (15)
Hiện nay, ngoài các phong tục tập quán cổ truyền, người Khmer ở Tịnh Biên còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống độc đáo Chúng là những nghề cổ xưa, gắn liền với văn hóa truyền thống của người Khmer, gắn liền với cả lịch sử thăng trầm của huyện Tịnh Biên
2.2 Nghề dệt thổ cẩm của người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang
Dệt thổ cẩm là một trong những nét văn hóa nổi bật nhất của các dân tộc thiểu số ở nước ta Mỗi dân tộc đều có nét đặc trưng trong cách bố trí màu sắc, thể hiện hoa văn riêng dựa trên cơ sở tập quán, phong tục của dân tộc mình Nghề dệt thổ cẩm của người Khmer (To banh Sopuot) Tịnh Biên – An Giang là một điển hình cho những biểu hiện trên
2.2.1 Địa bàn làng dệt
Trước đây, nghề dệt rất phổ biến trong cộng đồng người Khmer ở Tịnh Biên – An Giang Cho nên, những phụ nữ (phần lớn là phụ nữ lớn tuổi) ở các xã có đông đồng bào Khmer sinh sống trong huyện như Văn Giáo, An Cư, Vĩnh Trung, Tân Lợi, … đều biết dệt Tuy nhiên, qua nhiều biến động của lịch sử, mà chủ yếu là do chiến tranh và đời sống kinh
tế khó khăn gây ra, người Khmer ở những nơi này phần lớn đều bỏ nghề, những tiếng sầm sập của khung cửi lúc này chỉ còn đọng lại trong tâm trí họ Duy chỉ có tại một ấp nhỏ của
xã Văn Giáo, nghề vẫn được duy trì
Xã Văn Giáo là một xã dân tộc miền núi thuộc huyện Tịnh Biên có 81,27% người Khmer sinh sống Đa số dân trong xã sống bằng nghề nông, chỉ có một vài hộ chuyển sang
mô hình trồng rừng, nuôi thủy sản Đồng bào Khmer trong xã vì yêu nghề đã theo đuổi và giữ vững nghề dệt thổ cẩm nhiều năm
Sự tồn tại âm ỉ của nghề có dịp được thổi bùng lên khi cùng lúc được sự quan tâm, giúp
đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước Hợp tác xã Dệt Văn Giáo chính là một thành quả góp phần tạo nên bước ngoặt cho sự tiến triển của nghề
Thật vậy, nhằm tạo cơ sở để người dân tộc phát triển tiềm năng sáng tạo và giữ gìn truyền thống văn hóa, kinh tế của tổ tiên, ngày 11/01/2001, Hợp tác xã Dệt lụa của người
Khmer ở xã Văn Giáo - Tịnh Biên ra đời, theo quy chế của Nghị định 44 của chính phủ về
Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Mô hình theo hình thức phân tán tại từng gia đình Trụ sở
cũng đặt tại một hộ trong một ấp nhỏ của xã
Sau khi được thành lập đến nay, hoạt động của Hợp tác xã ngày càng mạnh, nghề dệt thổ cẩm tiếp tục được củng cố và phát huy cả về quy mô lẫn kỹ thuật Tuy nhiên, phải nói thêm rằng, Hợp tác xã còn chưa phát triển đúng mức, các máy móc, thiết bị còn thô sơ, lạc
Trang 34hậu, chưa cải tiến kịp tiến độ sản xuất, sự thiếu đồng bộ, thiếu hiểu biết về truyền thống, về giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của nghề, của sản phẩm đã chưa mang lại hiệu quả cho sự tiến triển của nghề cũng như hiệu quả kinh tế chưa cao Đồng thời, về kỹ thuật, chuyên môn, mẫu mã chưa thật sự thỏa mãn nhu cầu của các đối tác, nguồn nguyên liệu phải lấy từ Bảo Lộc là chủ yếu, không phải là nguồn nguyên liệu tại chổ của địa phương Khung dệt cổ xưa, các công đoạn đều làm thủ công bằng tay nên năng suất đem lại rất thấp, chậm, một thành phẩm phải mất từ 15 đến 30 ngày mới xong Vì vậy, nhằm mục tiêu tiếp tục nhân rộng tiếng vang của nghề dệt thổ cẩm Khmer Tịnh Biên, nhằm xây dựng nên một bức tranh toàn diện
về nhu cầu phát triển nghề dệt truyền thống của người Khmer, tiếp tục giữ gìn, thừa kế và phát huy truyền thống văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc của người Khmer, khơi lại bức tranh lịch sử sống động đầy thăng trầm của địa phương, … năm 2004, Trung tâm hỗ trợ phát triển cộng đồng dân tộc tại thành phố Hồ Chí Minh cho thông qua dự án thành lập làng dệt thổ cẩm truyền thống tại xã Văn Giáo - Tịnh Biên
Làng dệt của người Khmer Tịnh Biên đặt ở ấp Sray Skoth, là một trong bốn ấp của xã Văn Giáo, có đông người Khmer nhất xã Nghề nghiệp chính của dân trong ấp là làm ruộng, làm rẫy, làm mướn nhưng nổi tiếng là nhờ nghề dệt tơ tằm của bà con người Khmer Toàn
ấp có 581 hộ gia đình với 2.813 nhân khẩu, trong đó chỉ có 13 hộ gia đình là người Kinh với
58 nhân khẩu ; 122 hộ gia đình trong ấp làm nghề dệt, hầu hết những hộ này vừa làm nghề dệt, vừa làm ruộng, chỉ có hai hộ gia đình làm nghề dệt thuần túy [5, tr.5] Đây là nơi duy nhất của huyện, nói đúng hơn là của tỉnh, của khu vực đồng bằng sông Cửu Long còn bảo lưu và tập trung nhiều những người thợ có tay nghề Với quan niệm đơn sơ “bỏ nghề sẽ không có đồ mặc theo đúng cách như thời xưa để đi đám cưới, đám làm phước hay vô chùa cúng kiến vào các ngày lễ tết”, bà con nơi đây đã quyết duy trì nghề dệt
Khi vào làng dệt, trong những ngôi nhà, ngoài bàn thờ Phật còn thấy có bàn thờ ông tổ nghề dệt Tơ - pica của người Khmer Ông tổ Tơ - pica sẽ giúp người theo nghề thực hiện ước muốn có đôi mắt tốt khi dệt Thế nên, theo truyền thống, mỗi khi bắt đầu mười mặt hàng mới, làng có lệ cúng ông bà và vị tổ nghề Tơ - pica Cách thức rất đơn giản, họ chuẩn
bị thân cây chuối để cắm hoa và trầu cau gọi là Slathua, vật cúng là những thứ không thể thiếu trong các đám lễ, người lớn tuổi sẽ đại diện mọi người đứng ra cầu xin tổ nghề và tổ tiên giúp cho con cháu có đôi mắt tinh anh để theo nghề được lâu dài
Như vậy, xuất phát từ tâm tư nguyện vọng của chị em phụ nữ trong ấp muốn được khôi phục lại nghề dệt của cha ông, Tỉnh Hội Liên hiệp Phụ nữ An Giang cho xây dựng dự án dệt lụa Khmer Dù vậy, những bước đi đầu tiên cho việc khôi phục lại nghề, vận động tham gia
tổ dệt không dễ, bởi những người có tâm huyết với nghề thì ít, còn những người phải vất vả
lo cho đời sống hàng ngày thì quá nhiều, họ rất lo ngại cho sự bấp bênh của nghề cổ truyền này Tuy nhiên, cũng trong năm 2004, được sự tài trợ của JICA (Nhật Bản), tổ chức
Trang 35Craftlink Development còn cho khởi xướng dự án “Nâng cao năng lực quản lý cho phụ nữ dân tộc” đã nâng cao nhận thức của cộng đồng về nghề dệt lụa truyền thống Khmer, nhất là nhận thức của chị em phụ nữ
Bên cạnh đó, từ sau khi có sự hỗ trợ của CARE Việt Nam về kỹ thuật nhuộm và dệt, vốn và nguyên liệu, những sản phẩm đầu tay sau nhiều năm vắng bóng, có kết hợp giữa kỹ thuật cổ truyền và hiện đại được tham gia triển lãm tại Hội chợ Giảng Võ – Hà Nội, đã khơi màu trở lại cho nghề dệt của người Khmer Tịnh Biên Nguyện vọng của phụ nữ Khmer trở thành hiện thực, số lượng người tham gia tổ dệt ngày càng nhiều và ấp Sray Skoth trở thành nơi tập trung những nghệ nhân có tay nghề cao và nghề dệt trở thành nghề đem lại nguồn thu nhập chính trong năm của chị em phụ nữ Dệt thổ cẩm không còn là nghề phụ, nhịp điệu giòn giã của khung cửi lại vang lên và nhiều hộ gia đình chuyển sang thuần dệt
Sự phát triển của nghề cho thấy xu hướng dần tách khỏi nông nghiệp thành nghề độc lập đang dần hình thành Tuy nhiên, để đảm bảo cuộc sống, một số hộ vẫn phải làm thêm nghề khác (chủ yếu là làm nông) Sự kết hợp đa nghề này là một yếu tố cùng thúc đẩy nhau
để phát triển thủ công nghiệp và nông nghiệp
Việc khôi phục được nghề thổ cẩm truyền thống đã góp phần tạo nên sự thay đổi cho
ấp Sray Skoth Cách nay ước chừng 15 năm, khi ruộng cấy chỉ được một vụ, hoa màu không được trồng thêm vì khô hạn, nghề dệt chưa được quan tâm nhiều để phục hồi, đời sống của người dân Khmer gặp nhiều khó khăn, nhà cửa tồi tàn, lụp xụp, đường xá đi lại còn xấu, xã không có trường, trẻ phải đi học xa Cái nghèo cộng với những bất cập khách quan tác động đến làm cho họ buông xuôi nhiều thứ, bỏ nghề đi làm mướn, cho con em bỏ học Sự tụt hậu
về tri thức là nguyên nhân tụt hậu về kinh tế, về ý thức cần thiết giữ gìn những gì mang yếu
tố truyền thống
Nay nhờ sự khởi sắc của nghề, bộ mặt của xã, ấp cũng thay đổi theo Đường được tráng nhựa dọc theo chiều dài ấp, nhiều ngôi nhà mới được dựng lên Năm 1999, ngôi trường Tiểu học được xây dựng, trẻ em lại được đến trường, người lớn được phổ cập hóa, tầm hiểu biết của người dân Khmer được nhân rộng lên, đặc biệt là hiểu biết trong việc bảo lưu nghề dệt truyền thống Điều này có ý nghĩa là nó không chỉ giúp họ có cuộc sống ổn định hơn, mà còn vì mục đích dân tộc
Có thể nói, Hợp tác xã Dệt Văn Giáo đi lên từ con số không Nhưng nay nó đã trở thành một làng dệt đang trên đà phát triển
Nói tóm lại, là nơi có đông dân tộc Khmer sinh sống, còn là nơi duy nhất của huyện còn bảo lưu nghề dệt thổ cẩm truyền thống, ấp Sray Skoth trở thành nơi bảo tồn nền văn hóa lâu đời của địa phương và là cái nôi của nghề dệt Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long Sản phẩm dệt của phụ nữ Khmer trong ấp được coi là sản phẩm tốt hơn và bền đẹp hơn so với các làng nghề khác trong vùng (như huyện Tri Tôn chẳng hạn) Rồi đây, được sự chú ý
Trang 36đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn từ các nguồn ở trong và ngoài nước, làng dệt thổ cẩm của ấp Sray
Skoth xã Văn Giáo - Tịnh Biên – An Giang sẽ trở nên điểm sáng điển hình về bảo tồn và
phát triển nghề dệt truyền thống của người Khmer khu vực đồng bằng sông Cửu Long và
những con người trong cộng đồng dệt Khmer Văn Giáo cũng sẽ trở thành những con người
làm nên những trang lịch sử mới của nghề
2.2.2 Nghệ nhân dệt Khmer ở Tịnh Biên
Nghề dệt thường do phụ nữ đảm nhận và những nghệ nhân dệt Khmer Tịnh Biên phần
lớn là phụ nữ lớn tuổi Trước năm 1975, tuy không phải là “thời vàng son” của thổ cẩm
Khmer như lụa Tân Châu, nhưng vẫn được coi là “thời thịnh” của nó ở Tịnh Biên Bởi trong
khi các nơi khác của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhất là ở Cầu Kè, Cầu Ngang (Trà
Vinh) hàng dệt của người Khmer bị hàng hóa nước ngoài bóp nghẹt, nghề dệt của họ hầu
như bị thất truyền và dần đi vào con đường tàn lụi Nhưng tại nơi miền núi này, người thợ
vẫn đang miệt mài ngày đêm bên khung cửi, đến bất kỳ phum, srok nào cũng nghe thấy
tiếng rộn rã của khung cửi Nguyên nhân xuất phát từ việc Tịnh Biên có địa bàn hẻo lánh, xa
xôi, người dân ít có điều kiện tiếp xúc với bên ngoài nên còn nhiều lạc hậu Trong đó phải
kể đến cư dân Khmer, nhiều tập tục cổ truyền cả trong văn hóa lẫn trong ngành nghề vẫn
còn được họ lưu giữ có thể nói là gần như nguyên vẹn Chính vì vậy mà đã giúp nơi đây bảo
tồn và duy trì nghề dệt truyền thống của mình
Thế nên, sản phẩm họ làm ra lúc bấy giờ không còn nhằm phục vụ cho nhu cầu về
trang phục của gia đình và các thành viên trong cộng đồng Khmer ở địa phương nữa, mà
theo đường biên giới vươn ra thị trường nước bạn Campuchia Hàng hóa nước ngoài không
thể len lỏi vào cũng không thể đánh gục được những mặt hàng thủ công do tự tay những
người thợ Khmer nơi đây sáng tạo ra
Tuy nhiên, từ sau ngày đất nước được giải phóng hoàn toàn đến năm 1999, những biến
động của lịch sử địa phương, hậu quả của cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam đã tác động
trực tiếp đến những con người nơi đây Thợ dệt bỏ nghề đi làm mướn hàng loạt Hơn nữa,
cuộc sống nơi miền núi quá cơ cực, chiến tranh làm tan hoang ruộng vườn, bám giữ đất thì
không đủ no, mong muốn tiếp tục nghề dệt cũng không thành vì không có vốn và nguyên
liệu, khung dệt phần lớn bị xếp lẻ loi vào góc nhà Toàn ấp lúc này chỉ còn khoảng 36 người
có tay nghề cao còn luyến tiếc và quyết tâm quay trở lại với nghề dệt, trong đó phải kể đến
gia đình của bà Neáng Nhây
Với suy nghĩ “Bà con mình có nghề trong tay mà cứ để cái đói, cái nghèo đeo bám thì
xấu hổ lắm”, bà Neáng Nhây ở ấp Sray Skoth, xã Văn Giáo, huyện Tịnh, tỉnh An Giang đã
quyết tâm khôi phục lại nghề cổ truyền của ông cha Bà được truyền nghề từ mẹ, cuộc sống
khó khăn không làm bà nản chí mà âm thầm truyền lại nghề cho ba cô con gái của mình, âm
Trang 37thầm lôi khung dệt ra lau chùi, sửa sang, đóng lại những chổ bị hư của khung dệt, đóng lại
xa quay Bà còn thôi thúc bà con cùng ấp quay trở lại với khung cửi Trong quá trình dệt, thiếu vốn thì họ chỉ mua ít tơ làm nguyên liệu, dệt xong đem bán, bán xong lại lấy tiền mua
tơ khác Cứ như thế mà những phụ nữ Khmer ấp Sray Skoth xã Văn Giáo vẫn duy trì được nghề Đồng thời còn khẳng định được là họ đã có thể tự sống được bằng nghề dệt như một nghề độc lập của phụ nữ Khmer Ước mong nối tiếp nghề của ông bà được họ thực hiện bằng chính nghị lực của mình Nhóm Khmer silk ra đời
Sự đầu tư thỏa đáng của các ban ngành tỉnh và tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam chính là luồng sinh khí mới tiếp sức cho nghề dệt của người Khmer Tịnh Biên phát triển nhanh hơn Cho nên, từ chổ chỉ có 36 thợ dệt, tăng lên 126 người có tay nghề cao và 113 lao động phụ với 100% là nữ, đáp ứng được nguyện vọng của người phụ nữ Khmer trong việc khôi phục lại những giá trị truyền thống của dân tộc
Cùng hoạt động trong một tổ dệt, được chú ý bồi dưỡng của các cấp, nhận thức về cộng đồng trong cư dân Khmer phát triển Họ cùng hợp tác, cùng trao đổi cho nhau kinh nghiệm,
có sáng tạo được mẫu mã mới là mang đi dạy cho các thành viên của tổ dệt khác trong Hợp tác xã, không còn xem kinh nghiệm, mẫu sáng tạo của mình là bí truyền như trước Đồng thời quan niệm “đèn nhà ai nấy sáng”, “mẫu của người nào làm ra thì chỉ có người đó biết” cũng không còn tồn tại trong cộng đồng người Khmer nơi đây nữa Trong lao động sản xuất biết phân công rõ ràng, nam lo việc đồng áng, nữ chuyên tâm lo dệt, thanh niên ngoài thời gian đến trường có thể phụ giúp thêm cho cha, mẹ, đặc biệt là các bé gái, các em đã được
mẹ truyền nghề cho nên rất thích thú với công việc mới này Không chỉ có thế, nhờ sinh hoạt cộng đồng thường xuyên, tính cộng đồng trong họ gắn chặt hơn, biết quan tâm đến nhau, đến thời sự, tin tức của địa phương, của cả nước, tham gia hoạt động văn hóa, kinh tế với các nơi khác, tầm hiểu biết và ý thức được nâng cao, triển vọng cho nghề, cho địa phương được mở ra
Tuy nhiên, nghề còn mang tính chất hộ gia đình, không phải là những cơ sở có nhiều lao động tham gia như một doanh nghiệp, chỉ là những thành viên trong nhà thay phiên nhau dệt, cung cấp sản phẩm cho Hợp tác xã phân phối ra cả nước và xuất khẩu ra nước ngoài, hoặc tự mình bán cho một số tỉnh có đông người Khmer sinh sống như Sóc Trăng, Trà Vinh, … hay theo đường biên giới bán sang Campuchia
2.2.3 Kỹ thuật dệt
Làng dệt Khmer Văn Giáo chỉ sử dụng một loại sợi duy nhất để dệt là sợi tơ tằm, và
sản phẩm chính của làng là loại thổ cẩm (trơn : Pa muônl hay có hoa văn : Hônl, gọi theo tên phổ biến hiện nay là Icat) như khăn choàng, khăn đội đầu, chăn, vải trang trí trong chùa,
trong gia đình hay cho các nghi thức tôn giáo
Trang 38Những nghệ nhân trong làng dệt thường là những người thuộc lớp cao niên, nhưng lại
là những nhà tạo mẫu điêu luyện, họ không ngừng sáng tạo ra nhiều mẫu mã mới để không làm giảm thị hiếu của người tiêu dùng đối với sản phẩm dệt của mình Tay nghề của họ cũng cao, có khả năng dệt được những sản phẩm với hoa văn cầu kỳ, phức tạp Chính quyết tâm và tính sáng tạo của người thợ dệt đã giúp họ có được nhiều sản phẩm độc đáo và tinh xảo như thế
Trước đây, từ công đoạn ươm tơ đến se sợi cũng được họ làm rất đơn giản theo lối cổ truyền Kén cho vào nồi nước sôi, xong kéo mối tơ quấn vào bánh xa quay, sau đó người thợ một tay lấy đũa khuấy liên tục vào nồi nấu kén, tay kia quay đều đầu bánh xe để cuộn tròn các sợi tơ, cứ như vậy, quay cho đến khi kén tằm hết tơ Tiếp sau đó, tháo ra và se lại thành sợi Khâu nhuộm cũng được tiến hành giản đơn, họ dùng phẩm màu tự nhiên được lấy
từ các loại lá cây, vỏ cây, rễ cây hay trái cây để cho ra các màu đen, đỏ, vàng, … mà nhuộm Trong đó, nhựa của vỏ cây bror hoot làm thuốc nhuộm màu vàng rất được ưa chuộng, đặc biệt, màu đen của trái mặc nưa (16) thuộc loại cây chỉ mọc ở trên đất cao, cũng là màu được người Khmer Tịnh Biên dùng nhuộm vải nhiều nhất Nhà nào cũng có khung dệt, tiếng sập của khung dệt vang lên đều đặn từ các nhà trong srok, nhất là vào những lúc nông nhàn Nguyên liệu tại chổ, cách xử lý thô sơ, phẩm màu cũng tự nhiên nhưng sản phẩm rất đẹp và bền
Hiện nay, do không không phải tất bật lo cho việc chăn tằm, lấy tơ nên nghề dệt trông rất nhàn nhã, không phải một nắng hai sương như nghề làm ruộng, làm rẫy hay buôn bán, nhưng muốn thành thục được nghề phải mất đến hàng chục năm
Trước tiên, để rèn luyện cho chân và tay được nhịp nhàng cũng phải mất cả tháng Dệt được chiếc khăn choàng ô vuông đội đầu đơn giản mất thêm năm tháng nữa, những thứ hoa văn thổ cẩm phức tạp khác thời gian dành cho nó còn lâu hơn mới có thể nhuần nhuyễn được Mỗi lần thay đổi mẫu mã thì người thợ phải học lại từ đầu, rất cực Thế nên, chỉ có những người trong gia đình mới đủ kiên nhẫn theo nghề, người dạy theo sát, kèm cặp, chỉ bảo và truyền trao kinh nghiệm của mình lại cho người học trong từng khâu một, mỗi ngày một ít, người ngoài không học được vì rất lâu mới có thể thành thợ
Ngoài ra, để cho ra đời một sản phẩm hoàn chỉnh phải trải qua rất nhiều khâu : nhuộm
tơ, quay tơ, căng sợi, buộc dây tơ và cuối cùng là khâu dệt Ở bất kỳ khâu nào cũng đòi hỏi
sự khéo léo và có kỹ thuật từ người thợ
Đầu tiên là khâu nhuộm Thuở còn trồng dâu, nuôi tằm, người thợ còn trải qua khâu lấy
tơ và se tơ Giờ đây, nguồn nguyên liệu tơ được lấy từ Bảo Lộc (Lâm Đồng) hay Tân Châu nên công đoạn luộc để lấy và se tơ được bỏ qua và khâu nhuộm trở thành khâu đầu tiên trong dệt thổ cẩm của người Khmer Tịnh Biên Cách nhuộm tơ cũng đòi hỏi có kỹ thuật Khi chưa dự lớp tập huấn do chuyên gia nước ngoài hướng dẫn, các nghệ nhân Khmer vẫn
Trang 39sử dụng lối dệt cổ, đơn giản, dùng phẩm màu tự nhiên từ các loại cây cho màu, không có thì dùng thêm màu hóa học để nhuộm, màu cho ra cũng rất đẹp, nhưng lại hạn chế trong giặt (không được giặt), nhất là ở những loại vải có hoa văn nhiều màu, màu từ các sợi tơ sẽ lan với nhau Nên thường thì mặc xong chỉ đem phơi nắng rồi xếp cất Sau khi hoàn thành lớp học, kỹ thuật nhuộm của bà con trong làng nghề có tiến bộ, cách luộc, nấu, xả tơ để phẩm màu ngấm vào tơ, làm sợi tơ óng ả, khi dệt và mặc không bị xù lông được họ tiến hành theo phương pháp mới, đem lại hiệu quả rõ rệt, sản phẩm cho ra có thể giặt hay ủi thoải mái mà màu vẫn không phai
Khâu khó nhất là khâu buộc dây tơ (còn gọi là bắt bông, tức khâu tạo hình cho sản phẩm), nó quyết định đến chất lượng của sản phẩm nên đòi hỏi phải tuân theo một trình tự nhất định Bước đầu, người thợ phải xác định được độ dài ngắn của hình ảnh, chuẩn bị khung gỗ, căng tơ vào đó rồi theo hình mẫu buộc dây trên tơ sao cho những đoạn bị buộc không thấm thuốc nhuộm cho lần nhuộm kế tiếp của đoạn không quấn dây Màu nào ra màu
đó, có bao nhiêu màu trên hoa văn là bấy nhiêu lấn quấn dây, buộc dây và nhuộm tơ Để hoàn thành công đoạn này mất đến một tháng (đôi khi hơn), bởi người thợ phải buộc, nhuộm năm đến sáu lần, có khi đến hàng chục lần đối với những hoa văn nhiều màu sắc Giai đoạn dệt cũng đòi hòi sự công phu và khéo léo không kém Sau khi hoàn thành công đoạn buộc, nhuộm, để giữ cho hình ảnh không bị lệch vị trí ban đầu, khi đưa vào khung dệt, từng lọn chỉ được ghi dấu và quấn kỹ theo trình tự Mỗi đoạn chỉ được dùng cho
từ bốn đến năm lần đưa thoi được người thợ quấn vào chiếc đũa tre thứ nhất Người thợ quấn tiếp đoạn thứ hai, có chiều dài cũng bằng bốn, năm lần đưa thoi vào chiếc đũa thứ hai
và cứ như thế cho đến khi hoàn tất hết chỉ [67, tr.152] Khi bắt tay vào dệt, người thợ cần tuân thủ nghiêm ngặt cách đưa thoi theo thứ tự của từng đũa chỉ, vừa đưa thoi, vừa sửa chỉ cho hợp với hoa văn rồi mới tiến hành kéo bàn dập Với tốc độ này, mỗi ngày người thợ chỉ
có thể dệt được vài tấc vải Đối với vải trơn không đòi hỏi nhiều kỹ thuật thì tốc độ khá nhanh, còn những hoa văn phức tạp thì tốc độ rất chậm
Trong quá trình dệt, kỹ thuật đưa thoi rất quan trọng, cẩn thận từng li một Con thoi của người thợ dệt Sray Skoth không giống với thoi dệt của người Việt, người Chăm hay các dân tộc Tây Nguyên Nó chỉ là một chiếc đũa tre được quấn chỉ, đặt vào một ống trúc rỗng có gắn khối gỗ nhọn ở một đầu dùng để đưa qua lại khi dệt Chiếc thoi đơn giản này luồn trong những sợi tơ được kéo căng trên một khung cửi cũng rất thô sơ (giống khung gỗ hơn là khung dệt) thế mà chúng đã tạo ra những sản phẩm hết sức đặc sắc
Từ những chiếc khăn rằn sọc ô vuông (Krama) gắn bó với mọi phụ nữ nông thôn Nam
Bộ trong lao động và trong chiến đấu, điểm tô thêm nét độc đáo, duyên dáng cho chiếc áo
bà ba khi quàng thêm chiếc khăn trên cổ, hay dùng để đội đầu khi che nắng, lau mồ hôi cho chị em khi đi chợ, làm việc đồng áng; đến những tấm chăn trơn hay sặc sỡ nhiều hoa văn
Trang 40với những bông dâu, bông dừa, … được phụ nữ Khmer mặc xúm sính đi lễ chùa, đám tiệc ; những tấm vải dệt tuồng tích dùng để treo trong các ngôi chùa, … Tất cả những sản phẩm dệt của người Khmer nơi đây được làm ra dù để sử dụng cho mục đích nào đi nữa thì mỗi sản phẩm cũng đều là một tác phẩm nghệ thuật, thể hiện được sự sáng tạo mang đậm bản sắc
Tuy hiện nay, trang phục thổ cẩm ít được mặc trong đời sống hàng ngày Thường chỉ
có những cụ cao niên là hay sử dụng chăn bằng thổ cẩm nhưng là loại thổ cẩm trơn, màu sắc tối, màu ưa chuộng là nâu và đen Những chiếc khăn rằn ô vuông được dùng phổ biến hơn
Dù vậy, thổ cẩm vẫn giữ một vị trí quan trọng trong cộng đồng người Khmer (không riêng
gì người Khmer Tịnh Biên), dù giá có đắt nhưng họ vẫn dành dụm để có ít nhất là một cái Trong các đám tiệc, đám làm phước, đám cưới, đám cúng hay đi lễ chùa, từ các cụ già cho đến các em nhỏ, ai ai cũng diện lên mình những chiếc sa rong với nhiều loại hoa văn lộng lẫy, múa những điệu Romwong, Xarikakeo, … ngời lên niềm tự hào dân tộc
2.2.4 Thị trường
Việc dệt thổ cẩm của người thợ dệt ấp Sray Skoth có điểm xuất phát ban đầu là từ nhu cầu sử dụng trong gia đình, phục vụ cho các nghi thức tôn giáo nên những mặt hàng của họ chủ yếu là những chiếc khăn choàng, chăn, vải trang trí Ngày nay, mọi sản phẩm đã trở thành hàng hóa trên thị trường, nên để đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, sản phẩm do họ làm ra không chỉ là những chiếc khăn đội đầu, tấm chăn đơn thuần mà còn là những chiếc nón, cái ví, túi xách, khăn tay, khăn choàng cổ rất xinh với nhiều hoa văn mang đậm nét văn hóa của người Khmer
Chính việc đa dạng hóa các sản phẩm đã gây thêm sự chú ý cho nhiều giới thuộc nhiều dân tộc khác nhau ở trong và ngoài nước Và chính sự linh hoạt trong sáng tạo mẫu mã của nghệ nhân Khmer nơi đây là bước đường giúp cho nghề dệt của họ có triển vọng, vì thị trường của những mặt hàng thổ cẩm này không ngừng được mở rộng, đối tượng tiêu thụ không còn là những người thuộc cộng đồng Khmer nữa mà lan ra phục vụ rộng rãi cho đông đảo quần chúng người Kinh, người Hoa, … và khách du lịch Tuy nhiên, thị trường chính vẫn tập trung ở những khách hàng là người Khmer ở các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long : An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, … xuất khẩu qua Campuchia phục vụ cho cư dân nước bạn
Trong làng chỉ có một vài hộ, điển hình là hộ của bà Neáng Nhây và con gái, dệt xong
là bán trực tiếp cho khách, còn phần lớn các hộ khác đều thông qua Hợp tác xã phân phối hàng theo nhiều kênh : tiếp thị qua các đại lý của Craftlink tại Hà Nội, tham gia các Hội chợ : Hàng Việt Nam chất lượng cao tại An Giang, Hội chợ thành phố Hồ Chí Minh, Hội chợ triển lãm Giảng Võ - Hà Nội, các lễ hội, các khu du lịch (Công ty du lịch An Giang, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang) để bán cho khách du lịch theo tour ; giới thiệu sản phẩm