Khái niệm "con đường tơ lụa trên biển" các học giả phương Tây dùng khải ni ệm "Maritime silk road" hay "Silk road on the sea "; các học giả Trung Hoa gọi là là một thuật ngữ được giới
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH MẪN
Trang 23.3.Nh ững vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu về con đường tơ lụa trên biển
và hướng nghiên cứu của đề tài:0T 22
CHƯƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CON ĐƯỜNG
TƠ LỤA TRÊN BIỂN (THẾ KỈ V ĐẾN THẾ KỈ XVI)0T 26
Trang 3CHƯƠNG 2: GIAO LƯU KINH TẾ-VĂN HOÁ GIỮA TRUNG QUỐC
VÀ ĐÔNG NAM Á QUA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA TRÊN BIỂN (THỂ KỈ XIV-XVI)0T 65
Trang 5M Ở ĐẦU
1 LÝ DO CH ỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đông Nam Á là một khu vực có vị trí quan trọng trên con đường biển giữa Ấn
Độ Dương và Thái Bình Dương; những eo biển quan trọng như: Malacca, Sunda được xem như là cửa ngõ vào thị trường rộng lớn Châu Á- Thái Bình Dương Những cảng sâu và rộng thuận tiện cho tàu bè qua lại, dừng đỗ; lại thêm sự đa dạng của các loại tài nguyên sản vật đã tạo nên sức hấp dẫn với thương nhân nước ngoài Họ đến đây để trao đổi, mua bán hàng hoá và nhiều khi chỉ tiện rẽ qua hay buộc phải dừng chân nếu
muốn đi từ thị trường phía đông sang phía tây hay ngược lại, từ Trung Quốc qua Ấn
Độ để đến Tây Á vào Địa Trung Hải Từ giao lưu kinh tế- hàng hoá đã dẫn đến giao lưu và giao thoa văn hoá giữa Đông Nam Á với thế giới bên ngoài Trong số các thương nhân nước ngoài đến khu vực này, có thể nói thương nhân người Hoa đã để lại
những dấu ấn rất đặc biệt
Giao lưu kinh tế - văn hoá giữa Trung Hoa và Đông Nam Á đã có từ rất sớm và
mối quan hệ này phát triển lũy tiến theo thời gian Thương nhân Hoa kiều với tính cách năng động vốn có, tài tháo vát trên thương trường đã dẫn đến sự thành công của
họ trên quê hương thứ hai của mình Dần dần họ đã chọn Đông Nam Á làm nơi tạo
dựng cơ nghiệp, xây dựng cuộc sống mới Văn hoá Trung Hoa đã trở thành một nhân
tố không thể thiếu và làm phong phú thêm nền văn hoá của các quốc gia trong khu
vực
Nghiên cứu lịch sử kinh tế là một lĩnh vực ít thu hút giới nghiên cứu, việc nghiên
cứu quan hệ kinh tế - văn hoá giữa Đông Nam Á và Trung Quốc trong quá khứ cũng
nằm trong bối cảnh đó Mặc dù các thư tịch cổ Trung Hoa cung cấp nhiều tư liệu cho
việc nghiên cứu lịch sử thương mại của Đông Nam Á, nhưng đến nay vẫn có rất ít tác
phẩm đề cập trực tiếp đến vấn đề này hoặc chỉ đề cập sơ lược trong các bài viết riêng
lẻ Một công trình nghiên cứu đề cập đến lịch sử quan hệ kinh tế văn hoá giữa Trung Hoa và Đông Nam Á như một tổng thể hoặc từng giai đoạn cụ thể để phân tích và đánh giá một cách thấu đáo vẫn còn là một khoảng thiếu vắng
Trang 6Thực tế khi nghiên cứu lịch sử khu vực Đông Nam Á, nhất là lịch sử thương
mại, ngay cả những sử gia hàng đầu phương Tây cũng nhận xét rằng: " Rất nhiều
cuốn biên niên sử chỉ quan tâm đến những diễn biến của các triều vua Các văn kiện Trung Hoa giúp ích nhiều hơn trong các lĩnh vực thương mại và các sản phẩm thương
mại, nhưng những văn kiện đó cần có sự giải thích của các chuyên gia, và có rất nhiều
Như vậy, lịch sử kinh tế- trong đó có lịch sử thương mại khu vực Đông Nam Á
đã và đang còn những khoảng trống, thậm chí còn những hoài nghi, bất đồng trong quan điểm Các sử gia phương Tây đã thừa nhận vai trò của thư tịch cổ Trung Hoa trong việc nghiên cứu lịch sử thương mại của Đông Nam Á nhưng họ vẫn nghi ngờ về giá trị khoa học và tính chân thực của loại sử liệu này Do đó thiết nghĩ phải tìm ra
những ẩn số trong bài toán sử liệu cổ để giải quyết vấn đề còn nhiều tranh cãi này Tôi cho rằng cần tìm trong các thư tịch cổ Trung Hoa những luận chứng khoa học và xác
thực, để so sánh, đối chiếu với quan điểm của các sử gia phương Tây nhằm đưa ra
những nhận xét xác đáng về thương mại khu vực Đông Nam Á qua các thời kỳ lịch
sử
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Trung Quốc đã có bước phát triển đáng
kể Là quốc gia đông dân nhất thế giới và có tốc độ phát triển kinh tế được xem là lý tưởng đối với các quốc gia đang tiến lên trở thành nước công nghiệp Trong năm
2005, với các chỉ số phát triển vượt bậc Trung Quốc đã vươn lên đứng thứ sáu trong các quốc gia hùng mạnh nhất thế giới Do đó, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá
Trang 7nền kinh tế hiện nay, Trung Quốc đang được xem là một đối tác chiến lược về kinh tế
của các quốc gia Đông Nam Á Các cuộc họp thượng đỉnh của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á- Asian, quan hệ hợp tác kinh tế Trung Quốc- Asian luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các quốc gia tham dự Tại Việt Nam, thủ tướng Phan Văn Khải đã
đề xuất và ủng hộ tích cực việc thành lập Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc- Asian (CACS) và ngày 20-12-2005 Trung tâm đã được ra mắt tại Hà Nội với sự vui mừng
của cả hai bên Do đó, việc nghiên cứu lịch sử quan hệ kinh tế- văn hoa giữa Trung
Quốc- Đông Nam Á trong quá khứ không chỉ củng cố hiểu biết mà còn xúc tiến mạnh hơn sự tin cậy giữa hai bên, làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc- Asian trong tương lai Xuất phát từ những nhu cầu có tính chất khoa học và thực tiễn
trên, tôi đã chọn đề tài " Vai trò của người Hoa đối với sự phát triển của con
đường tơ lụa trên biển khu vực Đông Nam Á thế kỉ XIV-XVI" làm đề tài luận văn
Thực tế lịch sử cho thấy quan hệ giữa hai bên đã có từ rất sớm, nhưng có thể nói đạt đến đỉnh cao vào thời Minh (1368-1644) với nhiều biểu hiện trong tất cả các lĩnh
vực từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hoá Từ việc xem phát triển kinh tế mậu dịch
biển làm trọng tâm, nhà Minh đã đặt Đông Nam Á vào tầm ngắm trong mưu đồ bành trướng về chính trị lẫn kinh tế Cũng vào thời gian này, di dân Hoa kiều đến Đông Nam Á đạt đến con số chưa hề có Sự phát triển về kinh tế đã dẫn đến những chuyển
biến trong xã hội ở một số quốc gia Đông Nam Á Vậy người Hoa có vị trí và vai trò như thế nào trong nền kinh tế Đông Nam Á trong quá khứ? Một cái nhìn sâu sắc về quá khứ sẽ đem lại những bài học kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai
Tiếp xúc và giao lưu văn hoá là quy luật phát triển của văn minh, một nhu cầu tự nhiên của con người, là quy luật của xã hội loài người, không có giao tiếp, giao lưu văn hoa giữa các dân tộc thì cũng không có sự phát triển Con đường tơ lụa trên bộ hay trên biển đều là những "nhịp cầu" để các nền văn hoá xích lại gần nhau Trung
Quốc- Đông Nam Á là hai khu vực gần gũi về mặt địa lý nên giao lưu kinh tế- văn hoá
là điều tất yếu và có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của cả hai bên Vì thế việc nghiên cứu quan hệ giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc-Đông Nam Á không
chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn mang ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay
Trang 82.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Như tên đề tài luận văn, đối tượng nghiên cứu là vai trò của người Hoa trong
giao lưu kinh tế-văn hoá giữa Trung Quốc và Đông Nam Á qua con đường tơ lụa trên
bi ển Khái niệm "con đường tơ lụa trên biển" (các học giả phương Tây dùng khải
ni ệm "Maritime silk road" hay "Silk road on the sea "; các học giả Trung Hoa gọi là
là một thuật ngữ được giới nghiên cứu khoa học sử dụng phổ biến
những thập niên gần đây trong các tác phẩm hoặc bài viết về lịch sử Đông Nam Ả để
chỉ hoạt động thương mại của người Hoa với các khu vực trên thế giới Tuy nhiên,
thời gian gần đây, trong một số công trình nghiên cứu và chuyên khảo có những ý
kiến khác nhau đưa ra nhằm xem xét nguồn gốc và việc sử dụng thuật ngữ này [49,tr.37], [88,tr.l5] về vấn đề nguồn gốc thuật ngữ, tôi sẽ trình bày nhận thức về tên
gọi này trong phần lịch sử vấn đề Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giao lưu kinh
tế-văn hoá giữa Trung Hoa và khu vực Đông Nam Á từ thế XIV đến thế kỉ XVI, trong giai đoạn nhà Minh đẩy mạnh các hoạt động thương mại xuống khu vực biển Tây thông qua việc thiết lập và nắm giữ con đường tơ lụa trên biển
Do đó, chúng tôi sẽ điểm qua những cột mốc của lịch sử con đường thương mại này, nguyên nhân thúc đẩy sự hình thành cũng như sự thay đổi của nó qua những giai đoạn lịch sử khác nhau
hoá giữa thương nhân Trung Hoa với các quốc gia bản địa và vai trò của họ đối với sự phát triển của nền thương mại Đông Nam Á thế kỉ XIV-XVL Sự có mặt của các thương nhân Trung Hoa tại khu vực đã có từ rất sớm và có những chuyển biến lớn từ
thờiTống- Nguyên Nhưng thực sự đạt đến số lượng và quy mô lớn là từ thế kỉ XIV- khi nhà Minh thành lập Quan hệ kinh tế giữa hai bên càng phát triển khi Tam Bảo thái giám Trịnh Hoà đi xuống khu vực biển Tây- trong đó có khu vực Đông Nam Á-
vì mục đích chính trị nhiều hơn kinh tế Quan hệ kinh tế giữa Trung Hoa- Đông Nam
Á thời kỳ này nổi trội hơn hẳn mặc dù nó diễn ra dưới hình thức "triều cống mậu
dịch" Thời gian sau đó, nền kinh tế Đông Nam Á gần như chịu sự chi phối của công
ty Đông Ấn Hà Lan (V.O.C) hoặc các công ty của thực dân Anh, Pháp Như vậy, quan
hệ kinh tế giữa Trung Hoa và Đông Nam Á cũng như vai trò của người Hoa đối với The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
Trang 9nền thương mại biển Đông Nam Á được đề cập đến trước khi thực dân phương Tây có
mặt tại khu vực vào thế kỉ XVI Sau thế kỉ XVI, con đường tơ lụa trên biển vẫn phát triển nhộn nhịp và nó gần như là con đường giao lưu kinh tế- văn hoá chủ yếu của nhân loại Do đó, khung thời gian mà luận văn đề cập được xem là giai đoạn cực thịnh trong giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và Đông Nam Á
Ở một khía cạnh không kém phần quan trọng, con đường tơ lụa trên biển không
chỉ là con đường thương mại mà còn mang ý nghĩa là con đường giao lưu văn hoá
Một phần không nhỏ của luận văn đề cập là người Hoa đã hoà nhập và tác động như
thế nào vào cuộc sống bản địa ở Đông Nam Á Trong khung thời gian mà luận văn đề
cập, số lượng Hoa kiều di dân đến Đông Nam Á rất lớn số đông họ lấy vợ người bản
xứ và tạo ra một thế hệ người Hoa lai, hiện tượng này dẫn đến việc hình thành nhiều
cộng đồng người Hoa sống theo từng khu vực và mang tính địa phương Ngoài ra, cùng với sự có mặt của mình ở Đông Nam Á người Hoa còn mang theo những đặc trưng văn hoá nhờ tính cộng đồng của họ rất cao Những khu phố người Hoa, đồi người Hoa hình thành ở khắp khu vực Đông Nam Á, làm cho nền văn hoá của khu
vực vốn đã đa dạng nay còn thêm phong phú
Như vậy, từ việc nghiên cứu quan hệ kinh tế giữa Trung Hoa và các quốc gia Đông Nam Á trong quá khứ đặc biệt thông qua con đường biển có thể đưa ra những lý
giải về quá trình giao thoa văn hoá của cư dân bản địa với một trong những nền văn minh được xem là có ảnh hưởng lớn ở phương Đông, giao lưu kinh tế đã diễn ra song song với quá trình giao lưu, giao thoa văn hoá trong quan hệ giữa hai bên Từ đó, đưa
ra được những nhận xét xác đáng về vai trò, vị trí của khu vực Đông Nam Á trong quá trình phát triển của nền thương mại biển của Trung Quốc cũng như vai trò của thương nhân người Hoa đối với nền thương mại của khu vực Đông Nam Á trong quá khứ
3.L ỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trung Quốc là quê hương của tơ lụa, và từ rất sớm, tơ tằm cùng các sản phẩm làm từ tơ lụa đã trở thành một món hàng quý giá trong trao đổi, mua bán của thương nhân Trung Hoa và phương Tây Vùng lục địa xuyên ngang đại lục châu Á có con đường buôn bán cổ xưa, nối liền giữa Trung Quốc và phương Tây Trong khoảng
1000 năm kể từ sau thế kỉ I TCN tơ lụa và các hàng hoá khác đã được vận chuyển qua
Trang 10con đường này đến Tây Vực (khu vực biên giới phía tây bắc Trung Quốc), rồi vượt
qua núi non hiểm trở, vận chuyển đến châu Âu để tiêu thụ và thịnh hành khắp châu Âu
một thời Con đường buôn bán cổ xưa này chính là con đường tơ lụa nổi tiếng thế giới
và cũng là con đường giao thông quan trọng giữa phương Đông và phương Tây trong
suốt một thời kỳ lâu dài Giao lưu kinh tế- văn hoá giữa phương Đông và phương Tây
thời cổ đại phần lớn được tiến hành qua con đường này Việc nghiên cứu lịch sử con đường này đã được các sử gia quan tâm từ sớm và có rất nhiều tác phẩm đề cập cũng như nghiên cứu về nó
Khái niệm "con đường tơ lụa" (silk road) được đề cập đầu tiên vào năm 1877 bởi nhà Địa lý học nổi tiếng người Đức Ferdinand von Richthofen (1833-1904) Sau đó
khái niệm này được mở rộng nghiên cứu sâu hơn với nhà Hán học người Pháp Paul
Pelllot trong chuyên kh ảo "Deux itinéraires de Chine en Inde au VIHe siècle " (Hai
này lần đầu tiên Pelliot cũng đề cập đến con đường thương mại trên biển giữa Trung Hoa và Ân Độ Sau Pelliot rất nhiều học giả người Pháp đã mở rộng nghiên cứu về con đường thương mại biển này Từ đó, khái niệm này không ngừng phát triển và trở thành đề tài thu hút giới nghiên cứu phương Tây Có vài ý kiến cho rằng con đường tơ
lụa trên biển (Maritime silk road) là sự kế tục của con đường tơ lụa trên bộ (Overland
đường thương mại biển này nhưng tất cả các học giả phương Tây đều có chung nhận định dù có hay không con đường tơ lụa trên biển thì quan hệ kinh tế- văn hoá giữa Trung Hoa và Đông Nam Á đã diễn ra từ rất sớm và tác động của con đường thương
mại này trong giao lưu kinh tế- văn hoá Trung Quốc- Đông Nam Á là điều không thể bàn cãi
Tại Trung Quốc, do nhiều nguyên nhân khách quan, việc nghiên cứu về con đường thương mại biển giữa Trung Quốc và các nước diễn ra tương đối muộn Điều nghịch lý là người khởi xướng cho việc nghiên cứu lại là một người Nhật- học giả Tam Sam Long Mẫn Năm 1967 ông xuất bản tác phẩm "Nghiên cứu con đường tơ lụa trên biển- thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Trong thời gian này Trung Quốc đang trải qua cơn bão táp của "Đại cách mạng văn
The linked image cannot be displayed The file may have been moved, renamed, or deleted Verify that the link points to the correct file and location.
Trang 11hoá" nên việc nghiên cứu lịch sử con đường thương mại trên biển bị gián đoạn Năm
1980 khi công cuộc cải cách mở cửa của nhân dân Trung Quốc tiến hành không lâu,
việc nghiên cứu quan hệ kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các nước được khởi động lại Người đi tiên phong là giáo sư Trần Viên với hàng loạt báo cáo, bài viết chuyên đề đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước cũng như thế giới, ông cũng
nhận được sự đồng cảm của hai nhà nghiên cứu phương Tây là Jock Makin (úc) và M.A Edwards (Mỹ) Đỉnh cao của phong trào nghiên cứu con đường tơ lụa trên biển
là Hội nghị quốc tế về con đường này do Unesco tổ chức vào năm 1991 tại Manila, Philippin với mục đích tìm hiểu vai trò của con đường thương mại trên biển trong giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các nước ở châu Á, Phi và Mỹ Mặt khác, tìm hiểu con đường tơ lụa trên biển cũng góp phần nghiên cứu các lĩnh vực liên quan
như: lịch sử giao thông, lịch sử hàng hải, lịch sử đóng thuyền, quan hệ quốc tế, lịch sử
lưu văn hoa và khoa học kỹ thuật…Như vậy, việc nghiên cứu lấy Trung Quốc làm chủ
thể trong mối tương hỗ, ảnh hưởng đối với các nước ở tất cả mọi phương diện: kinh
tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao và thương mại Vai trò của con đường không chỉ
dừng lại ở quan hệ hữu hảo và thương mại giữa các bên mà còn thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hiểu biết giữa các dân tộc, thúc đẩy các mối quan hệ về kinh tế- văn hoá trong
hiện tại cũng như tương lai Theo quan điểm của cá nhân, tôi cho rằng khái niệm con đường tơ lụa trên biển là tên gọi dùng để chỉ con đường thương mại biển giữa Trung
Quốc và các quốc gia Giống như con đường tơ lụa trên bộ con đường tơ lụa trên biển không chỉ mang nội hàm là buôn bán tơ lụa, đồ gốm và các hàng hoá khác mà còn là con đường truyền bá các thành tựu khoa học kỹ thuật và văn minh giữa các quốc gia
và khu vực trên thế giới Nói cách khác, con đường thương mại này được xem như con đường "hy vọng", con đường " hiểu biết" lẫn nhau của các dân tộc
Đông Nam Á là một khu vực địa lý quan trọng trên con đường giao thông biển Đông- Tây Khí hậu nhiệt đới gió mùa, sản vật phong phú, tài nguyên khoáng sản đa
dạng làm cho Đông Nam Á có sức hấp dẫn đối với thương nhân Án Độ, Ả rập và Trung Hoa Lịch sử thương mại khu vực bắt đầu khi các thương nhân nước ngoài đến trao đổi, mua bán sản vật với cư dân của những cố quốc đầu tiên ở Đông Nam Á: Phù Nam, Champa, Xích Thổ và cũng từ đây Đông Nam Á cũng được xem là trạm trung
Trang 12chuyển quan trọng trên tuyến giao thông biển nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương Những sử liệu sớm nhất đề cập đến lịch sử khu vực cũng như hoạt động thương mại ở đây là của các sử gia Trung Hoa từ nhà Hán đề Đường, Tống, Nguyên, Minh và Thanh Đa số các tác phẩm này là những ghi chép sau mỗi chuyến đi thực tế
xuống khu vực của các đoàn sứ giả hay thương nhân Đây là một truyền thống có từ lâu đời của xã hội Trung Hoa Đến thế kỉ XX, khi trào lưu nghiên cứu phương Đông phát triển trong giới sử học phương Tây thì các tác phẩm chuyên khảo về Đông Nam
Á ra đời, lãng đãng trong các tác phẩm kể trên, lịch sử thương mại khu vực cũng được
đề cập đến nhưng không nhiều và chưa thành hệ thống Một trong số các tác phẩm đó
đã trở thành kinh điển khi nghiên cứu lịch sử khu vực, D.G.E Hall với Lịch sử Đông Nam Á nằm trong trường hợp này, trong khoảng thời gian tương đối dài quan điểm
của Hall chi phối các sử gia khi nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á Thập niên 80-90 của
thế kỉ XX, lịch sử thương mại khu vực lại càng được đề cập nhiều hơn trong các tác
phẩm của sử gia phương Tây như E.H.G Dobby (1980), K.R Hall (1985), L.N ShaíTer (1996) Kể từ đó đến nay, có rất nhiều công trình đề cập đến vấn đề thương mại khu
vực được công bố dưới nhiều dạng như sách, bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành, bài đăng trong các kỷ yếu hội thảo, hội nghị, luận văn đại học và trên đại học Ngoài
ra, có thể thấy những tác phẩm đề cập đến thương mại giữa Trung Hoa với khu vực Đông Nam Á của các sử gia Trung Hoa như Trần Viên, Cao Vỹ Nòng, Thường Nhậm
Hiệp với ưu thế khai thác tuyệt đối các thư tịch cổ các tác giả đã đưa ra nhiều luận
chứng và luận điểm bất ngờ Dưới cái nhìn của các sử gia Trung Quốc- thương mại Đông Nam Á luôn được nối kết với người Hoa theo chiều dài lịch sử Sự có mặt và
hoạt động của họ tại đây như là một "Phong vũ biểu" cho kinh tế Đông Nam Á Tôi nghĩ rằng cần phải tìm trong những luận điểm của họ những bằng chứng xác thực và
có giá trị khoa học bởi vì họ có cơ sở là các thư tịch cổ qua các triều đại Đây là nguồn tài liệu có độ tin cậy cao trong giới nghiên cứu Việc nghiên cứu lịch sử thương mại Đông Nam Á, trong đó có quan hệ kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các quốc gia
ở khu vực này hiện nay nguồn sử liệu, tư liệu rất phong phú, đa dạng nên luận văn chỉ
đề cập đến những công trình nghiên cứu đã được công bố và liên quan mật thiết đến
đề tài
Trang 133.1.Nh ững công trình nghiên cứu của các sử gia Trung Quốc và Việt Nam
Thế kỉ II TCN, Trung Quốc đã có những tiếp xúc trực tiếp với các quốc gia ở Tây Vực Sau thế kỉ IV nhiều sứ giả, tăng lữ, thương nhân không ngừng đi đến các nước ở khu vực biển Nam Trung Hoa, tiến hành các nghi thức bang giao, thương nghiệp và hoạt động văn hoá Họ không chỉ thúc đẩy giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực mà còn có những cống hiến đặc biệt; thông qua những điều tai nghe mắt thấy trong hành trình của mình họ đã viết thành những
du ký và hồi ký Những thư tịch đó hiện nay vẫn được xem là một loại tư liệu chủ yếu
và quan trọng trong nghiên cứu lịch sử các quốc gia ở châu Á cũng như lịch sử giao thông giữa Trung Quốc với các nước Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó, nhiều nhà sử
học Trung Quốc vào thập niên 50 thế kỉ XX đã bắt tay vào công việc chỉnh lý, chú thích các thư tịch cổ này để phục vụ cho việc nghiên cứu quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia ở khu vực châu Á thời cổ đại Nguyên tắc khi chỉnh lý, chú thích là vẫn
giữ nguyên bản của tác giả nhưng thêm phần chú thích địa danh tương đương các địa điểm ngày nay và các sản vật có nghĩa tương đương Tuy nhiên khi tham khảo loại tư
liệu này, tôi còn thấy các tác giả khi hiệu chú còn đóng góp về mặt văn bản học và
ngữ nghĩa, bởi vì toàn bộ các tác phẩm đều viết theo lối cổ văn chứ không theo nguyên tắc của chữ Hán hiện đại Một trong những người tiên phong trong lĩnh vực này là giáo sư Hướng Đạt Năm 1958 ông đã chỉnh lý và chú thích "Tây Dương Phiên
Quốc Chí- '; "Trịnh Hoa Hàng Hải Đồ- và "Lưỡng
Chủng Hải Đạo Châm Năm 1966, Hướng tiên sinh tạ thế và cũng là
thời gian Trung Quốc đang lao đao trong cơn bão táp "Văn Cách" của bọn phản động trong Đảng cộng sản Đến cuối thập niên 70, Trung Hoa Thư Cục quyết định phục hồi
và xuất bản bộ sách này dưới tên gọi "Trung ngoại giao thông sử tịch tùng san-
[56-65], giáo sư Tạ Phương được giao trách nhiệm chủ trì Từ năm 1979 đến nay bộ sách này đã xuất bản được 23 tác phẩm, nếu cộng với 3 tác
phẩm của Hướng Đạt tiên sinh thì con số lên đến 26 Để thuận tiện cho việc biên tập,
xuất bản Trung Hoa thư cục quyết định gộp các tác phẩm có cùng niên đại thành một
và xuất bản trọn bộ sách trong 16 tập Trong thời gian tìm tư liệu phục vụ đề tài tại thư
viện Đại học Bắc Kinh, tôi đã sưu tập được những tác phẩm có liên quan để phục vụ
Trang 14cho việc thực hiện đề tài Các sự kiện cung cấp trong các thư tịch cổ này sẽ làm tư liệu đối chiếu trong việc so sánh quan điểm của các tác giả trong các tư liệu khác nhau
Một nguồn tài liệu khác có liên quan đến đề tài là các thư tịch cổ Việt Nam Mặc
dù chỉ phản ánh mối quan hệ chính trị, kinh tế, văn hoa và bang giao giữa Trung Hoa
và Việt Nam nhưng đây là tư liệu để so sánh, đối chiếu với các thư tịch cổ Trung Hoa Chúng tôi tập hợp các tư liệu có liên quan từ các tác phẩm "Đại việt sử ký toàn thư"
của Ngô Sĩ Liên, "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú có những ghi chép về quan hệ buôn bán, mậu dịch ngoại thương giữa quốc gia Đại Việt với triều Minh [2,tr.20]
Nghiên cứu lịch sử di dân của Hoa kiều xuống khu vực Đông Nam Á, Chu Kiệt
Cần đã đóng góp với tác phẩm "Malaysia- Singapore Hoa kiều
sử-, tác phẩm đã hệ thống hoá quá trình buôn bán, di dân của các thương nhân Trung Hoa qua các triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh Quan hệ buôn bán
giữa các quốc gia trong khu vực và Trung Quốc được tác giả trình bày khá chi tiết, đặc biệt là quan hệ mật thiết giữa Trung Hoa và Hồi quốc Malacca, dưới cái nhìn của ông sự có mặt của thương nhân Trung Quốc luôn tạo nên "nhịp điệu" cho nền thương
mại khu vực, cái nhìn đó có thái quá chăng? "Khúc hoà tấu" này đâu chỉ do các lái buôn Trung Quốc tạo nên
Để có được sự hiểu biết về sự phát triển của nền thương mại Trung Hoa trong
mối tương quan với nền thương mại Đông Nam Á chúng tôi thiết nghĩ phải tìm hiểu
lịch sử kinh tế Trung Quốc thời phong kiến, chính sự hiểu biết cơ sở kinh tế của các vương triều phong kiến sẽ giúp ích cho việc lý giải tại sao nền thương mại của Trung
Quốc lại chuyển hướng mạnh về phía biển trong khoảng thời gian thế kỉ XIV- XVI, đóng góp cho vấn đề này là "Trung Quốc cổ đại kinh tế sử cảo: phần Tống, Nguyên,
Cơ sở cũng như sự phát triển của các ngành kinh tế Trung Quốc qua các thời kỳ được tác giả trình bày khá rõ
Không ai có thể phủ nhận quan hệ giao lưu kinh tế giữa Trung Quốc và Đông Nam Á qua con đường thương mại biển Nam Trung Hoa Nhưng tác giả Thường
Nhậm Hiệp lại nhìn tác động của con đường này dưới góc độ văn hoá với tác phẩm
Trang 15"Con đường tơ lụa trên biển và giao lưu văn hoấ- [75] Dưới cách nhìn của ông giao lưu kinh tế đã dẫn đến giao lưu văn hoa giữa hai bên và làm cho nền văn hoa của khu vực Đông Nam Á thêm đa dạng, phong phú
Vùng duyên hải phía đông nam Trung Quốc là khu vực có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai màu mỡ nên từ sớm nơi đây đã có một nền kinh tế phát phiền mạnh
và bền vững Nơi đây cũng được xem là điểm xuất phát của con đường thương mại
biển giữa Trung Quốc và Đông Nam Á với những cảng biển nổi tiếng: Tuyền Châu, Dương Châu và Ninh Ba…Do đó, việc nghiên cứu các cảng thị này cũng được các nhà nghiên cứu Trung Quốc quan tâm, Chu Giang với tác phẩm "Dương Châu cảng
nổi tiếng của con đường tơ lụa trên biển- "Cảng Tuyền Châu và con đường
tơ lụa trên biển- [85] của Hội đồng thành phố Tuyền Châu; Lâm Sĩ Dân và Thẩm Kiến Quốc với "Vạn lý tơ lụa- [19] nói về vai trò của cảng Ninh Ba với con đường tơ lụa trên biển
Bán đảo Malaya từ lâu đã nổi tiếng trong giới thương nhân Trung Hoa về sự phong phú lâm thổ sản và tài nguyên thiên nhiên, hương liệu và gia vị Các nhà sử học Trung Hoa với ưu thế tuyệt đối về khai thác các thư tịch cổ đã đưa ra những luận điểm thú vị Trong tác phẩm "Căn biến thiên nhiên như tẩu mã- Hoàng Kim bán đảo trong con mắt của người Ả rập và Trung Quốc cổ-
[82] của Cao Vỹ Nòng- học giả chuyên nghiên cứu về Đông Nam Á của Đại học Ký Nam-Trung Quốc Tác giả đã trình bày cách đánh giá nhận thức của các thương nhân về bán đảo này khá rõ, quá trình này đi
từ mông lung, mơ hồ đến một cách trực tiếp, cụ thể Qua khai thác các tài liệu tiếng Hoa và tiếng Ả rập, tác giả cũng nêu lên được mối quan hệ mật thiết của bán đảo Mã Lai và thương nhân Trung Hoa trong giao lưu kinh tế- văn hoá Các cổ quốc tại bán
đảo Malaya như Mã Lục Giáp (Malacca), Bành Hưởng (Pahang), Nhu Phật (Johore) Được tác giả trình bày chi tiết từ vị trí, quá trình hình thành phát triển, khí
hậu đặc biệt là các sản vật triều cống triều Minh Ngoài ra, tác phẩm còn triển khai nghiên cứu dựa trên căn cứ là các tuyến hàng hải (các tuyến hàng hải Đông-Tây, các
Trang 16địa lý của người xưa về bán đảo Mã Lai, phải chăng tác giả muốn nhấn mạnh sự có
mặt của thương nhân người Hoa tại khu vực là từ rất sớm cũng như vai trò không thể thiếu của họ đối với sự phát triển của thương mại khu vực (?)
Trong những sử gia Trung Quốc đương đại nghiên cứu về con đường tơ lụa trên
biển, có thể nói tên tuổi giáo sư Trần Viên đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc Ông là giáo
sư Đông phương học của Đại học Bắc Kinh đồng thời kiêm nhiệm giáo sư Đại học Ninh Ba, giáo sư hướng dẫn tiến sĩ Đại học Giao Thông Hoa Đông, Hội trưởng danh
dự hội nghiên cứu Trịnh Hoà Côn Minh Ông dành trọn đời nghiên cứu về con đường
tơ lụa trên biển, đồng thời là người khởi xướng và chủ trì nhiều hội nghị quốc tế về con đường thương mại biển, trong đó tiêu biểu là Hội nghị quốc tế về con đường tơ
lụa trên biển do Unesco tổ chức tại Manila, Philipin vào năm 1991
Những bài báo và chuyên khảo của ông về vấn đề này được tuyển chọn và in trong tác phẩm mang tên "Con đường tơ lụa trên biển và giao lưu văn hoa giữa Trung
phẩm có giá trị khoa học, mang tính định hướng và rất đáng tham khảo cho những ai nghiên cứu về con đường thương mại trên biển Từ những khảo chứng thực tế và tìm tòi, đối chiếu các thư tịch cổ Trung Hoa, giáo sư Trần Viên đã khái quát bức tranh về
sự hình thành, phát triển và suy vong của con đường tơ lụa cũng như đưa ra những
nhận xét, đánh giá vai trò của con đường trong việc thúc đẩy giao lưu kinh tế- văn hoá
giữa Trung Quốc và các nước- đặc biệt là khu vực Đông Nam Á Tôi quan tâm đến bài viết "Lược luận về con đường tơ lụa trên biển"[88,tr.27] trong tác phẩm của ông,
với tư duy logic, tư liệu phong phú và lập luận xác đáng ông đã đưa ra những lý giải khoa học khi con đường tơ lụa trên bộ chuyển hướng ra phía biển Tuy nhiên, trong
suốt những bài viết của mình giáo sư Trần Viên lại luôn đề cao những "cống hiến" của con đường trong việc thúc đẩy giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và văn minh thế giới mà không lý giải theo chiều ngược lại Do đó, khi tham khảo phục vụ
luận văn tôi cố gắng không đi theo con đường quá đề cao, hoặc hạ thấp mà luôn đặt các đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ tương hỗ và có sự chi phối lẫn nhau
nhằm đưa ra những nhận định tương đối khoa học
Ngoài ra, tôi còn tham khảo các tác phẩm của các tác giả Đái Dật[68-71], Tiền
Trang 17Hạo[72], Lưu Cảnh Hoa[73], Quốc Phong[83], Lý Quảng Tri[84] và Vương Vanh[87]
có nội dung liên quan để thực hiện luận văn
Nghiên cứu về Đông Nam Á đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam
Những vấn đề liên quan đến lịch sử khu vực đã được các tác giả đề cập trong các bài
viết của mình Tuy nhiên các học giả trong nước chủ yếu chỉ đề cập đến sự phát triển
của ngoại thương trên những vùng đất cổ của Việt Nam xưa nên một cái nhìn toàn
diện cho nền thương mại khu vực chưa được đề cập đến Trong luận án Tiến sĩ về
"Champa"[18] của tác giả Hà Bích Liên cũng chỉ đề cập đến một phần quan hệ thương
mại của vương quốc cổ này trên nền chung của các mối quan hệ
Đề cập trực tiếp đến nội dung mà luận văn nghiên cứu phải kể đến tác phẩm
"Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thế kỉ XV- đầu thế kỉ XVI" của Tạ Ngọc
Liễn Tác giả đã tập hợp các nguồn tư liệu Việt Nam, Trung Quốc để phác hoa bức tranh tổng thể quan hệ giữa hai nước từ chính trị, ngoại giao đến kinh tế trong một thế
kỉ -sau sự kiện khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Mục đích của tác giả là muốn đóng góp vào lịch sử nghiên cứu quan hệ Việt-Trung trong quá khứ mà theo tác giả giai đoạn XV-XVI còn khá trống vắng Cách lập luận và phân tích các luận điểm trong tác
phẩm đã giúp người đọc có được những nhận thức cơ bản về quan hệ chính trị lẫn giao lưu kinh tế- văn hoa giữa quốc gia Đại Việt mới Minh triều Tác giả đã chỉ ra được "chân tướng" lạc hậu của chế độ phong kiến Trung Hoa trong quan hệ với các nước nhỏ xung quanh, đặc biệt với Việt Nam Tôi tâm đắc với luận điểm mà tác giả nêu ra: " để từ đó hiểu rõ tất cả các kiểu quan hệ này không phải là quan hệ của nhân dân hai nước vốn có nhiều mối quan hệ mật thiết với nhau về văn hoá, kinh tế, tình
cảm "[19,tr.21]
Trong tác phẩm "Một số vấn đề về lịch sử-văn hoá Đông Nam Á" [13] của tác
giả Lê Phụng Hoàng đã trình bày lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á (cho đến nữa đầu thế kỉ XX), tác giả cho rằng " người gốc Hoa đóng một vai
trò cực kì quan trọng, thậm chí ở một vài nước (Indonesia, Singapore) còn mang tính
quyết định Không có họ, nền kinh tế của các nước trong vùng chắc chắn sẽ vấp phải không ít khó khăn" [13,tr.3] Những nhận xét này đáng để suy nghĩ về vai trò của người Hoa trong nền kinh tế Đông Nam Á và càng có ý nghĩa khi tìm hiểu vai trò của
Trang 18họ xưa kia đối với nền kinh tế khu vực
Ở một góc nhìn khác, Trần Khánh trong tác phẩm "Vai trò kinh tế người Hoa trong nền kinh tế Đông Nam Á"[15] ở chương I đã đưa ra nhận định: "Từ cuối thế kỉ XIU trở về trước, các thương nhân người Hoa xuất dương ra nước ngoài hầu như chỉ
dừng lại ở mức độ buôn bán và thăm dò môi trường buôn bán ngoại thương Đông Nam Á thời kỳ đó chủ yếu do người Ả rập và Ẩn Độ kiểm soát, người Hoa không chỉ buôn bán với người bản địa mà còn với các nhà buôn từ Ấn Độ đến" [15, tr.27] và quan hệ kinh tế Trung Quốc- Đông Nam Á sang trang khi " sang đầu thế kỉ XV, nhà Minh (1368-1644) đẩy mạnh hom chính sách bành trướng xuống vùng biển phía nam
bằng các cuộc xâm lược Đây là những nỗ lực của nhà Minh nhàm mở rộng buôn bán
và thu vét tài nguyên Đông Nam Á" [15,tr.32] Những nhận định trên của tác giả liệu
có xác đáng? Thời kỳ nhà Minh các thương nhân Hoa kiều có vai trò như thế nào đối
với nền kinh tế Đông Nam Á? Tất cả những câu hỏi đó tôi cho rằng phải tìm ra những câu trả lời hợp lý
3.2.Nh ững công trình nghiên cứu của các sử gia phương Tây
Tác giả đầu tiên phải đề cập đến đó là D.G.E Hall, giáo sư danh dự bộ môn Lịch
sử Đông Nam Á, trường Đại học Luân Đôn, tác phẩm "Lịch sử Đông Nam Á" của ông
là một công trình khoa học nghiêm túc và có giá trị Dựa trên nguồn sử liệu phong phú, tác giả đã phát họa một bức tranh sinh động về lịch sử hình thành và phát triển
của các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, quá trình đấu tranh xây dựng các quốc gia
thống nhất ổn định như ngày nay; đồng thời tác giả cũng cho chúng ta thấy rõ quan hệ giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các nước Đông Nam Á và các quốc gia, khu vực khác
đã có từ sớm, trong đó có giao lưu kinh tế Tuy nhiên, lịch sử thương mại của khu vực trong khoảng một thời gian dài (từ thế kỉ I-XVI) chỉ được tác giả đề cập đến trong
chương 11, phần I hoặc rải rác trong lịch sử từng quốc gia [1l,tr.339] Mặt khác, có
một số nội dung của cuốn sách khác với cách đánh giá của nhiều học giả khác, cũng như có một số tư liệu và sự kiện tác giả sử dụng chưa khớp với những tư liệu đã được
đa số giới nghiên cứu thừa nhận Nhưng nhìn chung tác phẩm đã đem lại cho người đọc những hiểu biết cơ bản về quá trình hình thành, phát triển của các quốc gia dân
tộc trong mối bang giao khu vực và tiếp xúc quốc tế
Trang 19Sự hình thành và phát triển của con đường thương mại biển ở khu vực Đông Nam Á không phải là ngẫu nhiên Khi nghiên cứu vấn đề này, các học giả phương Tây đều có nhận xét người có công khai thông con đường này là nhà sư Pháp Hiển
của Trung Quốc, đó là kết quả của chuyến đi mạo hiểm từ Srilanka trở
về quê hương ông- vùng Sơn Đông, Trung Quốc Những ghi chép của ông trong chuyến đi về sau được ghi chép thành bộ sách "Pháp Hiển truyện" có nhiều giá trị lịch
sử Năm 1965, J Ceggetranse đã viết một trước tác về ghi chép của Pháp Hiển mang
tên "A record of Buddhistic kingdom: being on account hy the Chinese Monk Fâ-Hien
[45] Mặc dù còn nhiều hạn chế về chú thích và đánh giá nhưng tác giả cũng đã chứng
tỏ khả năng uyên thâm về Hán học cũng như đưa ra nhận xét xác đáng về chuyến đi
của nhà sư Pháp Hiển Khi sử dụng tôi vừa đối chiếu nguyên tác Hán văn với phần
dịch tiếng Anh để đảm bảo tính chính xác, khoa học trong nghiên cứu
Đề cập đến vấn đề thương mại Đông Nam Á một cách trực tiếp, K.R Hall trong tác phẩm "Maritime trade and state development in southeast Asia "[49] đã phác họa
bức tranh thương mại khu vực Đông Nam Á từ thế kỉ I đến thế kỉ XVI Song song với
sự hoàn thiện về thể chế chính trị của các quốc gia Đông Nam Á cổ đại, nền thương
mại khu vực cũng dần được hình thành Trình bày theo nguyên tắc lịch đại, sự phát triển của nền thương mại khu vực được tác giả trình bày trong lịch sử từng quốc gia cổ đại, tác giả đề cập nhiều đến hoạt động thương mại của thương nhân La Mã, Ấn Độ và Ảrập mà ít khi đề cập đến hoạt động của thương nhân Trung Hoa Do đó phần khuyết
của tác phẩm là quan hệ thương mại giữa Trung Hoa và Đông Nam Á trong một thời gian dài, chí ít là từ những thế kỉ đầu công nguyên đến khi thực dân châu Âu có mặt
tại Đông Nam Á
Khác với K.R Hall, Norrence Shaffer- giáo sử học Đại học Tuft, Columbia, chỉ
đề cập đến lịch sử khu vực Đông Nam Á hải đảo trong tác phẩm "Maritime Southeast
Asia to 1500"[53] Trong đó vấn đề mà bà quan tâm là lĩnh vực thương mại biển Nhưng do tập trung nghiên cứu lịch sử và nền thương mại biển của thế giới hải đảo nên bà đã đề cao vai trò của người Java, dưới cái nhìn của N Shaffer người Java đóng
Trang 20một vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền thương mại khu vực qua các thời
kỳ cũng như đóng một vai trò quan trọng trong thế giới hải đảo Bà gọi Đông Nam Á
là vùng đất vàng (El Dorado) [53,tr.2] và có sức hấp dẫn rất lớn đối với thương nhân
Ân Độ, Ả rập
Nói đến quan hệ giữa Trung Quốc- Đông Nam Á thời Minh, không thể không đề
cập đến một nhân vật đã thúc đẩy mối quan hệ này lên một bước cao hơn-đó là Tam
Bảo thái giám Trịnh Hoa Năm 2005 cũng là năm kỉ niệm 600 năm (1405- 2005)
Trịnh Hoa đi xuống vùng biển Đông Nam Á, Tây Á Để kỉ niệm sự kiện trọng đại này, nhiều hội thảo và trước tác đã đề cập đến thân thế và sự nghiệp của nhân vật này Trong chuyến thực tế tìm tài liệu tại Trung Quốc trung tuần tháng 6- 2005, chúng tôi may mắn tìm được một trước tác của nhà nghiên cứu người Mỹ Louise Levathes có nhan đề "When China rule the sea- "[74] đã được dịch sang bản trung văn do Khau Trọng Lân đảm nhiệm và được chuyên gia hàng đầu về lịch sử triều Minh Từ Hoàng hiệu đính Tác phẩm bao gồm 11 chương và phần kết luận đã trình bày khá tường tận thân thế của Trịnh Hoà và sự nghiệp viễn dương vĩ đại của ông Mặc dù Louise Levathes chỉ sử dụng những tư liệu thứ cấp để viết tác phẩm nhưng nó vẫn được các học giả Trung Quốc đánh giá rất cao Trọng tâm của tác phẩm xoay quanh vấn đề: Trung Quốc đánh giá mình như thế nào và có vị trí như thế nào trên thế giới? và dưới cách nhìn của mình Louise Levathes thì Trung Quốc đã xưng bá
ở vùng Thái Bình Dương vào thế kỉ XU- XV Đây là câu nói điển hình
của giới sử học phương Tây về một thế lực nào đó đang lên trong một thời điểm nhất định Tác phẩm cũng nêu lên vấn đề tuy cũ nhưng vẫn mới: tại sao người Trung Quốc đang ở đỉnh cao của sự phát triển hàng hải lại không phát triển mà lại rơi vào tình
trạng tụt hậu? Tác giả đã đưa ra những lý giải của bản thân về vấn đề này Do đó, khi nghiên cứu tác phẩm tôi lại thấy sự khác biệt của sử gia phương Tây và giới sử học Trung Quốc về thời kỳ lịch sử này
Quá trình giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và Đông Nam Á đã dẫn đến hệ quả là ngày càng có nhiều Hoa kiều di dân đến vùng đất mới Sự có mặt của người Hoa ở Đông Nam Á làm cho lịch sử văn hóa Đông Nam Á thêm phong phú, đa
dạng Nghiên cứu về người Hoa và cách thức tổ chức cộng đồng của họ cũng là đề tài
Trang 21được rất nhiều sử học gia phương Tây quan tâm Maurice Freedman với "The Chinese
in southeast Asia: a longer view" và Victor Purcell v ới "The Chinese in southeast
Asia" là những tác giả, tác phẩm tiêu biểu Đặc biệt Victor Purcell nghiên cứu vấn đề
một cách tỉ mỉ và có hệ thống, ông giành phần I để trình bày về lịch sử người Hoa trước khi thực dân phương Tây xâm lược Đông Nam Á, nhưng quan hệ kinh tế giữa hai bên thời kỳ này được tác giả trình bày sơ lược chủ yếu là qua những sự kiện chính như chuyến đi của Ân Kính và Trịnh Hoà [51,tr.17-18] Nội dung tác giả trình bày và phân tích khá kỹ là hoạt động kinh tế và tổ chức xã hội của Hoa kiều từ thế kỉ XVI trở
về sau ở từng quốc gia cụ thể, trong đó nổi bật là quan hệ kinh tế- chính trị giữa Hoa
kiều và chính quyền thực dân tay sai
J.K Well đã đóng góp khi nghiên cứu về các cảng thị ở Đông Nam Á, những "ốc
đảo" trên con đường vượt trùng dương với tác phẩm "The southeast Asia port and
pollicity: rise and demise”, ông đánh giá cao vai trò của các cảng thị đối với nền chính
trị ở Đông Nam Á Các cảng thị cũng là đầu mối cho giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Đông Nam Á và các khu vực khác, trong đó có quan hệ với Trung Quốc Cùng với hệ
thống bản đồ phong phú, tác phẩm giúp cho những ai quan tâm đến lịch sử các cảng
thị có một cái nhìn toàn diện về những biến đổi lịch sử chính trị khu vực qua các giai đoạn lịch sử
Thuộc giới nghiên cứu mới và trẻ về Đông Nam Á gần đây có Momoki Shiro, giáo sư sử học người Nhật thuộc trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Bắc Illinois Trong chuyên khảo "Dai Viet and the South China sea trade from the 10th to
trong khoảng 5 thế kỉ Qua mô tả và nhận xét của ông hàng hoá mang tính đặc sản
quốc gia là điểm ngắm của các lái buôn Trung Hoa Nguồn tài liệu mà ông khai thác
vẫn là thư tịch cổ Việt Nam và Trung Hoa
Ngoài các tác phẩm kể trên, lịch sử thương mại của khu vực còn được đề cập
đến trong các tác phẩm: Southeast Asia in the Age of comerce 1450-1680 của A Reid;
andpolitical geography của A.F Charles
Trang 223.3.Nh ững vấn đề còn tồn tại trong nghiên cứu về con đường tơ lụa trên biển và hướng nghiên cứu của đề tài:
Như phần trên tôi đã đề cập, phân tích, đánh giá những công trình nghiên cứu về con đường thương mại biển giữa Trung Quốc và Đông Nam Á Các học giả nước ngoài, nhất là các học giả phương Tây, trong các tác phẩm nghiên cứu về Đông Nam
Á thường chưa tập trung đến quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á trước khi chủ nghĩa thực dân có mặt tại khu vực vào thế kỉ XVI Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, chủ yếu là do nguồn tư liệu ít ỏi và sự hoài nghi của họ đối với những thư tịch
cổ Trung Hoa Ngoài ra, khi nghiên cứu vấn đề chúng tôi nhận thấy có sự khác nhau trong quan điểm nhìn nhận vấn đề, trường hợp của Louise Levathes là một điển hình Dưới cái nhìn của họ Trung Quốc đã tiến hành xưng bá ở vùng biển Nam Trung Hoa vào thế kỉ XV Mặt dù được giới nghiên cứu Trung Quốc quan tâm nhưng những luận điểm của tác giả vẫn còn những bất đồng, tranh cãi Tóm lại, các tác phẩm của các sử gia phương Tây là nền tảng cho việc nhận thức lịch sử khu vực qua các thời kỳ, nhưng
việc nghiên cứu của họ vẫn còn những khoảng trống, quan điểm của họ trong một thời gian dài chi phối giới nghiên cứu trong khu vực, do đó vấn đề cần giải quyết trong
luận văn là tìm hiểu và lấp đầy các khoảng trống đó bằng những luận chứng khoa học
bị nhấn mạnh một cách quá đáng, việc suy nghĩ về tác dụng của sự giao lưu này đối
với Trung Quốc chưa được lưu tâm đúng mức
Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã đề cập đến vấn đề người Hoa tại Đông Nam Á nhưng không bàn nhiều đến con đường thương mại biển Những tác phẩm chủ
yếu nêu bật quá trình hình thành các cộng đồng người Hoa tại Đông Nam Á và vai trò
Trang 23của họ đối với nền kinh tế bản địa, trong đó có mối quan hệ với chính quyền thực dân Quan hệ Trung Quốc và Đông Nam Á thời kỳ tiền thực dân được đề cập sơ lược, chưa
hệ thống và chi tiết
Từ những nhận xét, đánh giá trên về những vấn đề còn tồn tại trong việc nghiên
cứu vai trò của người Hoa đối với sự phát triển của con đường tơ lụa trên biển khu
vực Đông Nam Á thế kỉ XIV- XVI, những vấn đề còn tồn tại mà đề tài luận văn của tôi cần giải quyết là:
- Tìm hiểu sự chuyển hướng của con đường tơ lụa trên bộ ra phía biển trong quá trình phát triển của nền thương mại Trung Quốc cũng như khái niệm, quá trình hình thành, phát triển và suy vong của con đường tơ lụa trên biển
- Tìm hiểu sự giao lưu kinh tế giữa Trung Quốc và Đông Nam Á diễn ra trên con đường thương mại này Trực tiếp là hoạt động thương mại của các thương nhân Hoa
Kiều dưới nhiều hình thức khác nhau cũng như những đóng góp của họ cho nền kinh
tế khu vực trong quá khứ
- Sự hình thành các cộng đồng Hoa Kiều tại các quốc gia Đông Nam Á và những đóng góp của họ đối với sự phát triển văn hoá của khu vực Đông Nam Á.Từ đó đưa ra
những nhận xét, đánh giá về vai trò của của con đường tơ lụa trên biển trong giao lưu kinh tế- văn hoa giữa Trung Quốc và Đông Nam Á trước khi thực dân phương Tây có
mặt tại khu vực (thế kỉ XIV- XVI)
4.NGU ỒN SỬ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1.Ngu ồn sử liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: "Vai trò của người Hoa đối với sự phát triển
của con đường tơ lụa trên biển khu vực Đông Nam Á thế kỉ XIV-XVI", tôi có thuận
lợi trong việc tiếp cận nhiều nguồn tài liệu phong phú :
1 Thư tịch cổ Trung Hoa qua các triều đại có ghi chép về quan hệ mậu dịch giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á Các tác phẩm đa phần do các sứ thần và các nhà lữ hành đương thời ghi chép nên khi sử dụng chúng tôi cố gắng tham khảo các
bản gốc trên cơ sở so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu tương ứng như Minh sử,
Trang 242 Nguồn tài liệu mà thư tịch cổ Việt Nam cung cấp chủ yếu tôi khai thác từ ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí có đề cập đến
quan hệ chính trị, kinh tế và ngoại giao giữa quốc gia Đại Việt và triều Minh Đây là nguồn tư liệu quan trọng để phác họa mối quan hệ giữa hai bên trong thời kỳ này Ngoài ra, các sự kiện trong các thư tịch cổ Việt Nam còn được so sánh, đối chiếu với thư tịch cổ Trung Hoa
3.Các tác phẩm, bài báo nghiên cứu, chuyên khảo của các sử gia phương Tây trong thế kỉ XX có Hên quan trực tiếp đến đề tài
4.Các tác phẩm, bài nghiên cứu của các sử gia Trung Quốc và Việt Nam hiện đại
đề cập đến quan hệ ngoại thương giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á
5.Các tạp chí trong và ngoài nước, luận văn, luận án có liên quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sứ dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
và Đông Nam Á trong bối cảnh khu vực và thế giới thời cổ- trung đại Quan hệ này
vừa là thành tố tham gia và chịu sự tác động của các mối quan hệ trong khu vực Đây
là cơ sở để chúng tôi xem xét các vấn đề trình bày trong luận văn
tương đối mới, vừa mang tính chất khoa học xã hội vừa mang tính khoa học tự nhiên
Do đó chúng tôi chú trọng phương pháp này trong quá trình thực hiện đề tài trên cơ sở
tư liệu của các phân ngành: lịch sử học, địa lý học, thiên văn học, hàng hải học và
khảo cổ học
3.Là một đề tài lịch sử, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ phương pháp lịch
trình bày các luận điểm trên cơ sở bám sát các sự kiện lịch sử, trình bày lịch sử như nó
từng có
Trang 255.NH ỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Trên cơ sở tập hợp, chọn lựa và xử lý về căn bản một khối lượng tài liệu tương đối đầy đủ, có xuất xứ từ nhiều nguồn khác nhau, luận văn đã mô tả lại một cách chân
thực bức tranh tổng thể quan hệ giao lưu kinh tế- văn hứa giữa Trung Quốc và các
quốc gia Đông Nam Á từ thế kỉ XIV- XVI, thời kỳ nhà Minh đẩy mạnh quan hệ đối ngoại mậu dịch biển với các quốc gia trên thế giới- trong đó có khu vực Đông Nam
Á Tôi hy vọng luận văn có thể cung cấp hệ thống thư mục trong và ngoài nước cũng như các luận điểm cơ bản của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, góp phần bổ sung vào việc nghiên cứu giai đoạn lịch sử được xem là khá trống vắng này
Không dừng lại ở việc hệ thống hoá các nguồn tư liệu và luận điểm cơ bản của các nhà nghiên cứu phương Đông và phương Tây, luận văn còn đi sâu phân tích, giải thích những nhân tố thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á qua con đường thương mại biển Trong lịch sử phát triển hai bên đều có tác động tương hỗ, ảnh hưởng lẫn nhau Trung Quốc được xem là thị trường đầy tiềm năng của Đông Nam Á và ngược lại Đông Nam Á là cửa ngõ để Trung Quốc vươn ra thế giới Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay, tôi hy vọng luận văn cũng sẽ góp một tiếng nói trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế của hai bên trong tương lai
Cuối cùng, nội dung của luận văn có thể là nguồn tư liệu phục vụ cho việc giảng
dạy, học tập và nghiên cứu lịch sử thế giới cổ- trung đại nói chung và lịch sử Trung
Quốc và Đông Nam Á nói riêng
6.B Ố CỤC LUẬN VĂN
Luận văn được trình bày trong 111 trang, bao gồm phần mở đầu, 2 chương nội dung và phần kết luận
Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CON ĐƯỜNG TƠ
L ỤA TRÊN BIỂN (THẾ KỈ V ĐẾN THẾ KỈ XVI)
Chương 2: GIAO LƯU KINH TẾ - VĂN HOÁ GIỮA TRUNG QUỐC VÀ ĐÔNG NAM Á QUA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA TRÊN BIỂN (THỂ KỈ XIV- XVI)
Trang 26
CHƯƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA TRÊN BIỂN (THẾ KỈ V ĐẾN THẾ KỈ XVI) 1.1.S ự xuất hiện và ưu thế của con đường tơ lụa trên biển
1.1.1.Pháp Hi ển- người khai thông con đường thương mại trên biển qua khu vực Đông Nam Á
Pháp Hiển sống rất lâu ở Trường An, kinh đô thời Đông Tấn, nơi mà đạo Phật
rất phát triển Do nhu cầu của việc hành đạo, Phật tử rất cần những bộ kinh mang tính giáo lý sâu sắc để tu trì Trong ba tạng kinh cơ bản của Phật giáo là Kinh, Luật, Luận thì sách kinh về Luật thiếu nhiều nhất Năm 399 CN ở tuổi 65, Pháp Hiển quyết định
rời tu viện ở Trường An để hành hương về quê hương của chân lý mà mình đang theo đuổi- Ấn Độ với hai mục đích tu học và cầu chân kinh Cuộc hành trình của ông rất
mạo hiểm nhưng đầy ý nghĩa, bởi nó không đơn giản là mang lại ánh sáng Phật pháp cho chúng sinh ở Trung Quốc qua những gì mà ông thu thập được ở Ân Độ, mà nó còn là chuyến đi mang ý nghĩa mở đường cho sự giao lưu, mở rộng quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực bằng đường biển
Khởi hành từ Trường An, Pháp Hiển tìm đường đến Ấn Độ theo vết chân của thương nhân các nước trên con đường tơ lụa Ông đi cùng một số đồng đạo trong tu
viện tại Trường An như: Huệ Cảnh, Đạo Chính, Huệ Ứng Chuyến đi của ông đầy cam go, khắc nghiệt vì con đường này chỉ dành cho những người có ý chí phiêu lưu,
mạo hiểm Để đến được Ấn Độ ông phải vượt qua những sa mạc nóng bỏng ở Trung
Á, dãy núi Karakoram với nhiều hẻm núi nguy hiểm với độ cao 1500 mét Đây là đoạn đường thử thách sức khoẻ của ông với điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên
Năm 415, ở tuổi 80 ông thực hiện chuyến đi trở về quê hương Ông không muốn
lập lại hành trình của mình trước kia, nên đã quyết định hành trình bằng đường biển Nhưng những gì ông cảm nhận được trong chuyến đi cũng không dễ chịu so với chuyến đi đường bộ ban đầu Ông xuất phát từ một cảng ở Srilanka, trên một thuyền buôn với 200 hành khách, phía sau thuyền có kéo theo một con thuyền nhỏ phòng khi
sự cố Lúc bấy giờ các thuyền xuất phát từ Srilanka đã có khả năng đi biển dài ngày nhưng đây vẫn là chuyến đường đầy mạo hiểm và mang tính chất thử nghiệm Sau hai
Trang 27ngày xuất phát thuyền của ông đã gặp một cơn bão kéo dài đến hơn 20 ngày Cảm giác sau cơn bão biển lần đầu tiên chạm trán trong đời, Pháp Hiển đã ghi lại trong hồi
ký của mình như sau:
"Đại hải di mạn vô biên, bất thức đông tây, duy vọng nhật nguyệt tinh xá nhi
tiến, nhược âm vũ thời, vi trục phong vân, diệc vô chuẩn…chí thiên tịnh dĩ, nãi tri
đông tây, hoàn phục vọng chính nhi tiến" (biển lớn không ranh giới, không biết đông
tây, ch ỉ biết quan sát mặt trời, mặt trăng, các sao mà đi, lúc gặp mưa giông lớn, chỉ đi
đông tây, mới đi thẳng theo con đường phía trước).[&2,ư 35]
Sau khi trời quang mây tạnh, mọi người trên tàu phát hiện tàu bị hư nặng và có
khả năng chìm Lúc đó họ chạy xung quanh một hòn đảo không biết tên, nguy cơ cạn
kiệt lương thực đang đến gần, nên thuyền quyết định đỗ lại tại một cảng gần nhất ở vùng biển Nam Trung Hoa Nhà sư Pháp Hiển đã có 5 tháng sống ở hòn đảo này, ông không thích cuộc sống nơi này và lên án sự dị giáo của đạo Bà La Mô- tôn giáo chủ
yếu của cư dân trên đảo Trên quảng đường thứ hai, từ cảng này về Trung Hoa theo tàu buôn của các thương nhân Mã Lai, thuyền ông tiếp tục gặp bão lớn Sau 70 ngày lênh đênh trên biển không phương hướng, thủy thủ đoàn không thể xác định lục địa
nằm ở hướng nào Nhưng viên thuyền trưởng quyết định rẽ trái (đông bắc) bởi vì kinh
nghiệm cho ông biết lục địa châu Á nằm ở hướng đó Cuối cùng họ cũng đến bờ, nơi này thuộc Sơn Đông cách điểm đến chính thức của họ ở phía bắc hơn 1500 km Đoàn thuyền cũng chưa biết mình đang ở đâu, nhưng chính Pháp Hiển đã xác định đây là Trung Hoa qua việc phát hiện một loại rau của dân tộc mình
Sau chuyến đi của Pháp Hiển từ Ấn Độ về Trung Hoa bằng đường biển đã loé lên tia hy vọng cho sự phát triển của con đường tơ lụa trên biển Thời gian trước đó,
những nhà lữ hành Trung Hoa đã đến Đông Nam Á bằng đường biển từ rất sớm, nhưng chưa có ai có thể đến được Ấn Độ bằng đường biển qua hai eo Malacca và Sunda Mặc dù thời gian này các thương nhân Ân Độ và Ả rập đã quen thuộc với các tuyến hàng hải ở khu vực Đông Nam Á Thực tế này rất dễ nhận thấy khi văn hoá Ấn
Độ ảnh hưởng mạnh đến Đông Nam Á trong thời kỳ đầu sau công nguyên Thương
nhân người Hoa chỉ có thể đến eo đất Kra (cho hẹp nhất của bán đảo Malaya) sau khi
Trang 28vượt eo đất này bằng đường bộ rồi mới xuống thuyền đi tiếp tục đến Ấn Độ, nguyên nhân có thể là: "Để thực hiện ước mơ đi hoàn toàn bằng thuyền đến Ấn Độ họ phải hành trình xuống phía nam thêm 1600 dặm, những mối nguy hiểm ở cực nam bán đảo này là những dòng hải lưu cạn và chảy ngược và dọc theo bờ biển phía nam là khu
vực hoạt động của những băng cướp biển nguy hiểm" [53,tr.20] Cho nên sự trở về quê hương bằng đường biển của Pháp Hiển đã đánh dấu một giai đoạn phát triển mới
của ngành hàng hải- giai đoạn người Hoa bắt đầu khám phá và đẩy mạnh các hoạt động thương mại biển với các quốc gia ở phía tây thông qua các eo biển ở khu vực Đông Nam Á
1.1.2.Nguyên nhân chuy ển hướng từ đường bộ sang đường biển của con đường thương mại giữa Trung Quốc và các nước
Từ sau khi Trương Khiên khai thông con đường tơ lụa qua Tây vực, tơ lụa Trung
Quốc đã được vận chuyển với một số lượng lớn qua phương Tây Trong lần thứ hai sang Tây vực số Tệ Bạch (tơ lụa) mà ông mang theo được miêu tả là " sổ thiên cự
vạn" (nhiều vô số kể) Sau đó, công chúa nhà Hán là Lưu Tế Quân khi gả cho vua Ô Tôn (m ột tiểu quốc ở Tây vực) cũng đã mang một số lượng tơ lụa lớn để tặng cho
nhân dân nước này về sau, cứ cách năm triều đình đều mang "Duy trướng cẩm tú" để
tặng công chúa, dần mà thành định lệ Thời Hán Chiêu Đế (86-74 TCN), Phó Giới Tử
đi sứ sang Tây vực cũng mang một số lượng lớn tơ lụa để làm cống phẩm Đến khi các thương nhân và các nhà lữ hành Trung Quốc mang tơ lụa đến mua bán trao đổi với
cư dân các quốc gia ở Tây Á, Trung Á thậm chí đế quốc La Mã, thì số lượng lên đến
rất nhiều, phạm vi trao đổi rộng Từ đó, hình thành nên con đường thương mại đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây- "Con đường tơ lụa"
Thời Đông Hán, con đường tơ lụa này phát triển thành một mạng lưới giao thông Thời Hoà Đế (89-105 CN), người Ấn Độ nhiều lần qua Tây vực để đến Trung
Quốc Đương thời các quốc gia ở Trung Á như An Tức (Iran ngày nay), Đại Hạ (Afganistan) đều đến Ấn Độ qua các đường nhánh sau đó đến Tây vực, hình thành nên
một mạng lưới giao thông dày đặc Trên con đường thương mại này xuất hiện hiện tượng buôn bán tấp nập, nhộn nhịp người qua kẻ lại Các sứ giả Trung Quốc cũng theo
con đường này mà đến các quốc gia ở phía Tây như Đại Tần (La Mã), An Tức (Iran),
Trang 29Điều Chi (Irắc), Đại Hạ (Afganistan), Ấn Độ Đồng thời các sứ giả thương nhân của
các quốc gia Trung Á và Tây Á cũng theo con đường này để đến Trung Hoa Thời Hán kinh đô Trường An được xem là nơi tụ hội của các sứ giả và thương nhân nước ngoài khi đến Trung Hoa
Thời Ngụy, Tấn, Nam- Bắc triều, tuy Trung Nguyên diễn ra chiến tranh liên miên nhưng quan hệ với các nước Trung Á, Tây Á không hề bị gián đoạn Thời tây
Tấn, Đại Uyển hai lần tặng Hãn Huyết Mã, vua Tấn cũng nhiều lần cử sứ giả đến Đại
Uyển tặng tơ lụa Đến thời Bắc Ngụy Vương Ân Sinh, Hứa Cương và Đổng Uyển nhiều lần mang tơ lụa đến giao hảo với các quốc gia ở Tây vực Kết quả của các chuyến đi này là 16 nước ở Tây vực đã cử sứ giả theo Đổng Uyển hồi triều để triều
cống Tại kinh đô Lạc Dương của Bắc Ngụy có một khu chợ riêng biệt được xây dựng
để tiếp đón các thương nhân Trung Á, Tây Á đến mua bán, trao đổi hàng hoá
Thời Tùy, Trương Dịch từng là một trung tâm mậu dịch Đông- Tây, thời kỳ hưng thịnh có hơn 40 quốc gia đến tiến hành hoạt động mậu dịch tại đây Đương thời nơi này do Bùi Cử quản lý Trong thời gian quản lý nơi này, phàm có thương nhân nước ngoài đến, ông đều cử người đến tìm hiểu phong tục tập quán, địa thế của nước
đó, sau đó các tư liệu trên được tích lũy lại Năm 608 (năm Đại Nghiệp thứ 4) viết
thành tác phẩm "Tây Vực Đồ Ký" ghi chép tường tận ba hướng Bắc, Trung, Nam của con đường tơ lụa Tác phẩm này là một văn hiến có giá trị và quan trọng khi nghiên
cứu con đường tơ lụa trên bộ
Sơ Đường, thời kỳ Trinh Quán của Đường Thái Tông (627-649), khu vực Tát
Mã Nhĩ Hãn, có 25 sứ đoàn cùng tuy tùng và thương nhân đến Trung Quốc tiến hành
hoạt động mậu dịch hữu hảo Năm 643, quốc vương Phật Lâm (chỉ đế quốc Đông La
Tông cũng đã đáp lễ bằng tơ lụa và vàng bạc Sau khi nhà Đường bình định được phía tây Đột Quyết, con đường tơ lụa càng được khai thông, kinh tế văn hoa càng phát triển
phồn vinh Nhiều nhà lữ hành thời Đường sau khi đi qua con đường tơ lụa đã có
những ghi chép về những tiểu quốc tồn tại trên con đường cũng như hoạt động thương
mại giữa Trung Quốc với các quốc gia ở Tây và Trung Á [56, tr.57] Đây chính là
biểu hiện cho sự hưng thịnh của con đường tơ lụa trên bộ đầu thời Đường
Trang 30Bắt đầu thế kỉ Vin, Đại Thực (đế quốc Ả rập) tiêu diệt Ba Tư, khống chế và thay
thế vai trò của Ba Tư trên con đường tơ lụa và đặt quan hệ mật thiết với nhà Đường Vua Đại Thực đã 37 lần cử sứ giả đến triều cống Theo ghi chép số thương nhân Đại
Thực, Ba Tư đến Trung Quốc mua bán, mậu dịch không dưới 10 vạn người Tại khu
vực phía tây của kinh đô Trường An có một nơi để thương nhân Đại Thực và Ba Tư mua bán, trao đổi hàng hoá với cư dân bản địa Họ sống ở Trường An tương đối lâu, trên dưới 40 năm, họ đã kết hôn với người bản địa chủ yếu là ở thành Trường An và
Lạc Dương Do đó, thời kỳ trước nhà Đường được xem là thời kỳ "Hoàng Kim" của con đường tơ lụa trên bộ
Tuy nhiên, thời đại "Hoàng Kim" của con đường tơ lụa trên bộ kéo dài không lâu, đến thời trung Đường thì bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu suy thoái, tình trạng này
bắt nguồn từ những nguyên nhân sau đây:
- Vương triều Abbass của Đại Thực (Irắc ngày nay) sau khi thành lập (750-
1258) đã định đô ở Bagdah Năm 751, nhà Đường và vương triều này giao chiến ở Tây Vực, kết quả nhà Đường thua và quyền thống trị Tây Vực do vương triều này
nắm giữ
- Sau đó không lâu, ương nước lại xuất hiện "An- Sử chi loạn" (755-763), triều đình phải rút tất cả tướng sĩ về phòng thủ phía đông, biên cương phía tây hoàn toàn bỏ
trống Thổ Lỗ Phồn (quốc gia ở Tây Vực) nhân cơ hội này đã tiến lên phía bắc chiếm
một vùng đất đai rộng lớn Con đường tơ lụa qua hành lang phía tây Trung Quốc bị
cắt đứt thành nhiều đoạn, không thể thông thương Sự suy thoái của con đường tơ lụa trên bộ không phải hoàn toàn xuất phát từ sự biến An- Sử mà sự suy thoái của con đường tơ lụa trên bộ và sự hưng khởi của con đường tơ lụa trên biển có quan hệ mật thiết với nhau, nói một cách hình ảnh thì đây chính là cái bắt tay chuyển giao sứ mạng
giữa cái cũ và cái mới Sự thay thế con đường tơ lụa trên bộ do không phù hợp với yêu cầu thực tế bằng con đường tơ lụa trên biển là điều tất yếu của lịch sử
Ngoài những nguyên nhân kể trên, còn có một số nhược điểm mà con đường tơ
lụa trên bộ không thể khắc phục được:
1 Con đường tơ lụa chỉ đi qua một số quốc gia nhất định, nói cách khác nó phụ thuộc rất nhiều vào các quốc gia dân tộc mà nó đi qua Nếu như một trong những quốc
Trang 31gia dân tộc đó xảy ra sự biến gì hoặc xuất hiện các thế lực lũng đoạn và chi phối con đường sẽ dẫn đến sự tồn tại của toàn bộ hệ thống Các cuộc chiến tranh, loạn lạc ở khu
vực Trung Á và Tây Á- phần giữa của con đường- là một hiện tượng dễ tìm thấy trong
lịch sử thời kỳ này
2.Con đường tơ lụa nằm ở phía tây Trung Hoa, cách xa nội địa Hàng hoá vận chuyển buôn bán trên con đường chủ yếu là tơ lụa, gốm sứ, hương liệu chủ yếu phát triển ở vùng ven biển phía đông Vận chuyển đến được điểm bắt đầu của con đường tơ
lụa thì rất bất tiện và không kinh tế Hàng hoá đến được nơi cần bán cũng trở nên đắt
đỏ và khan hiếm
3.Điều kiện tự nhiên của con đường tơ lụa trên bộ rất hạn chế, phần lớn qua
những thảo nguyên, sa mạc, hẻm núi ít người sinh sống Phương tiện vận chuyển chủ
yếu chỉ là lạc đà, khối lượng vận chuyển hạn chế, thời gian vận chuyển lâu và phí vận chuyển lại cao
4.Theo đà phát triển của sản xuất hàng hoá và thương nghiệp Khối lượng hàng hoá trao đổi mua bán ngày càng nhiều Cách thức vận chuyển như trên không thể nào thích ứng với sự phát triển của kinh tế thương nghiệp Đây chính là mấu chốt cho sự chuyển hướng của con đường tơ lụa ra phía biển
Như vậy, trong khoảng thời gian từ nhà Hán đến thời Đường, con đường tơ lụa trên bộ giữ vai trò như nhịp cầu nối trong quan hệ kinh tế-văn hoá giữa phương Đông
và phương Tây Đến thời Đường, do nhiều yếu tố khách quan tác động con đường gặp
một số trở ngại trong quá trình phát triển Thời kỳ sau nhà Đường, con đường vẫn tiếp
tục tồn tại nhưng đây cũng là thời gian đánh dấu cho sự hình thành và phát triển của con đường thương mại mới- con đường thương mại bằng đường biển hay còn gọi là con đường tơ lụa trên biển Con đường thương mại biển được hình thành và phát triển
do những ưu điểm vượt trội so với con đường cũ và khả năng thích ứng trước nhu cầu phát triển của lịch sử thương mại thế giới thời kỳ này
1.1.3 Ưu thế của con đường tơ lụa trên biển
Những nhược điểm của con đường tơ lụa trên bộ lại được khắc phục bởi ưu điểm
của con đường tơ lụa trên biển Trung Quốc có bờ biển duyên hải phía đông dài hơn
Trang 3218000 km với rất nhiều thành thị và cảng biển phát triển phồn thịnh Con đường tơ lụa trên bộ chỉ đến được một số quốc gia nhất định còn con đường tơ lụa trên biển thì đến được hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia hải đảo và khu vực cách đại dương
lớn Con đường trên biển ít bị khống chế bởi các thế lực chính trị, dễ dàng lưu thông,
ít chịu tác động bởi những biến loạn và thay đổi của các quốc gia mà nó đi qua Sau khi Ba Tư thao túng con đường tơ lụa trên bộ thì năm 166 hoàng đế La Mã đã cho thiết lập con đường thương mại biển với các nước phương Đông là một minh chứng Ngoài ra, bờ biển phía Đông Trung Quốc còn rất phong phú các chủng loại hàng hoá:
tơ lụa, gốm sứ, trà, đồ thủ công và là khu vực có ngành đóng tàu và kỹ thuật đi biển phát triển Việc dùng thuyền vận chuyển hàng hoá có nhiều lợi thế so với việc sử dụng
lạc đà, khối lượng hàng hoá vận chuyển nhiều, chi phí thấp và tính an toàn cao là
những ưu điểm mà con đường tơ lụa trên bộ không có được
Nếu nhìn từ góc độ lịch sử phát triển, con đường tơ lụa trên biển còn có lịch sử lâu đời hơn con đường tơ lụa trên bộ Hoạt động hàng hải đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu từ thời kỳ Tần-Hán, nhưng thật sự phát triển vào thời Đường-Tống, đạt cực thịnh vào thời Nguyên- Minh Tần Thủy Hoàng vì mưu cầu trường sinh bất lão đã sai các sứ thuyền đến các nơi ở biển Đông để tìm linh dược Thời Tây Hán, Hán Võ Đế đã cho các sứ thuyền đến nhiều nơi ở Ấn Độ Dương, tiến hành trao đổi tơ lụa với các đặc sản các quốc gia ở Nam Á, Đông Nam Á, khai phá con đường buôn bán trên biển ở khu
vực biển Nam Trung Hoa Nhưng do lúc bấy giờ kỹ thuật đóng tàu và đi biển chưa phát triển nên "Khổ phùng phong ba nhược tử, bất giả sổ niên lai hoàn" (không may
[88,tr.20] Thời Đông Hán (166 CN), vua Đại Tần (La Mã) là An Đôn (Antonius) cử
sứ giả theo đường biển đến vùng ngoại vi quận Nhật Nam, sau đó đến giao hảo với triều đình Đây là lần đầu tiên hai quốc gia hùng mạnh nhất ở phương Đông và phương Tây tiến hành quan hệ hữu hảo bằng đường biển Thời Tam Quốc, Đông Ngô
đã cử Chu ứng, Khang Thái vượt biển đến Phù Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á Thời Đông Tấn, cao tăng Pháp Hiển xuống thuyền từ Tư Lý Lan Kha
(Srilanka ), qua Da Phò Đề (đảo Java, Indonesia) hy vọng về đến Quảng Châu, nhưng
do giữa đường gặp bão nên lênh đênh vài tháng và cuối cùng thì về đến được vùng Thanh Châu của Sơn Đông Thời Tùy, giao thông biển giữa Trung Quốc và các quốc
Trang 33gia Đông Nam Á rất phát triển, triều đình còn cử Thường Tuấn đi sứ đến Xích Thổ
(trung ph ần bản đảo Malaya) mang theo 5000 cuộn tơ lụa làm lễ vật và được vua
Xích Thổ đón tiếp rất trọng hậu
Cuối thế kỉ VIII, giao thông và mậu dịch Đông- Tây phát triển phồn vinh làm cho con đường tơ lụa trên biển có những đột phá mới, chủ yếu thể hiện ở những mặt sau đây:
1 Thời trung Đường trở về sau, Trung Quốc mở rộng các tuyến hàng hải dài ngày đến vịnh Ba Tư thậm chí đến vùng bờ biển phía đông châu Phi Hàng hải Trung
Quốc tuy lấy Ấn Độ làm điểm đến ở phía tây nhưng đa số lại hoạt động ở khu vực
biển Nam Trung Hoa và phía nam Ấn Độ Dương Chỉ đến thời trung Đường, khi mà
nước Đại Thực (Ba Tư) định đô ở Bagdah thì con đường biển từ Trung Hoa đến vịnh
Ba Tư mới có những đột phá mới Cuối thế kỉ VIII, tể tướng và cũng là nhà địa lý học
nổi tiếng thời Đường Giả Đàm đã viết trong "Quảng Châu thông hải di đạo" chi tiết về tuyến hàng hải từ Quảng Châu qua eo biển Malacca đến nam Ấn Độ, sau đó qua phía tây chuyển hướng phía bắc để đến được khu vực vịnh Ba Tư mà đoạn cuối của tuyến
hải trình là kinh đô Bagdah Ông còn ghi chép từ vịnh Ba Tư men theo bờ của bán đảo
Arab để đến bờ biển phía đông châu Phi với điểm cuối của hải trình là Tam Lan (ngày
biển các quốc gia phía đông châu Phi
2 Sau thời trung Đường, nhiều thương nhân Ả rập và Ba Tư đến sinh sống và làm ăn tại các thành thị vùng duyên hải phía đông Trung Hoa Đây chính là bằng
chứng cho sự phát triển của con đường tơ lụa Nhìn một cách tổng quan vào thời Đường do giao thông và mậu dịch đối ngoại phát triển, Hoa kiều di dân ra sinh sống làm ăn ở các nước ngày càng nhiều và cũng không ít thương nhân nước ngoài chọn Trung Quốc làm quê hương thứ hai Điều đáng nói là trước thời Đường những di dân đến Trung Quốc chủ yếu qua con đường tơ lụa trên bộ, họ là cư dân của các quốc gia Trung Á, Tây Á Họ chọn những địa phương ở phía bắc để sinh sống, chủ yếu là Trường An và Lạc Dương Sau thời trung Đường do giao thông và thương mại biển phát triển, các di dân đến Trung Quốc là người Ả rập và Ba Tư ngày càng nhiều và họ
chủ yếu tập trung ở những cảng thị nổi tiếng ở vùng duyên hải phía đông Trung Quốc
Trang 34Từ thời trung Đường trở đi thì Quảng Châu không những là một cảng mậu dịch quốc
tế lớn, nơi tập trung hàng hoa đông tây mà còn được xem là nơi "Hán phiên tạp cư"
Quảng Châu rất nhiều, nơi sống của họ gọi là "Phiên phường" Theo nhà hải hành nổi
tiếng người Ảrập là Masudi thì đứng đầu phiên phường là một "Phường trưởng" do
bầu cử và được chính quyền nhà Đường công nhận, có quyền lực quản lý hộ tịch, tôn giáo của các cư dân nước ngoài Ông còn nói số thương nhân nước ngoài sinh sống ở
Quảng Châu lên đến 12 vạn người Từ đó có thể thấy Quảng Châu trở thành một thương cảng quốc tế có nhiều thương nhân nước ngoài sinh sống, họ còn lập Thanh Chân tự và Hoài Thánh tự ở Quảng Châu để làm nơi cúng tế, lễ bái
3.Nền kinh tế- chính trị nhà Đường sau sự biến An- Sử có nhiều thay đổi: thế lực nhà Đường mất dần ở Tây Vực, con đường tơ lụa trên bộ rơi vào khủng hoảng và bế
tắc Kinh tế lưu vực sông Hoàng Hà do chiến tranh kéo dài đã bị tàn phá nghiêm
trọng Nhưng khu vực hạ lưu Trường Giang thì lại ngược lại, kinh tế- xã hội tương đối
phồn vinh, trọng tâm kinh tế Trung Quốc dịch chuyển từ phía bắc xuống phía nam
Nếu như lấy tơ lụa là mặt hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc lúc bấy giờ thì sản lượng tơ phía nam vượt xa sản lượng các tỉnh phía bắc Kỹ thuật đóng thuyền và sản
xuất sành sứ ở các tỉnh duyên hải Đông Nam cũng không ngừng phát triển, đồng thời
giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu thủ công nghiệp cả nước đã làm cơ sở vật chất cho sự phát triển của con đường tơ lụa trên biển
4.Đế thích ứng với sự phát triển không ngừng của nhu cầu buôn bán gốm sứ, hương liệu ra nước ngoài, vận chuyển bằng đường biển không ngừng được mở rộng
Thời cổ đại, ngoài tơ lụa ra gốm sứ cũng được xem là mặt hàng xuất khẩu chủ lực
Gốm sứ là một mặt hàng tương đối dễ vỡ khi vận chuyển, khi vận chuyển với số lượng lớn ưu thế của vận chuyển bằng đường biển so với vận chuyển bằng đường bộ
là rất lớn do những con thuyền có dung lượng vận chuyển lớn và tính ổn định cao Do
đó, có nhiều học giả cho rằng nên gọi "con đường tơ lụa trên biển" là "con đường gốm
sứ" hay "con đường tơ gốm" [85,tr.63] [88,tr.23] Điều này phản ánh trong quá trình phát triển của con đường thương mại biển này, tơ lụa và gốm sứ có một mối liên hệ
nhất định với nhau Ngoài ra, trong các sản phẩm đưa vào Trung Quốc thời kỳ này,
Trang 35gia vị và hương liệu có một vị trí trọng yếu Các loại hương liệu này được sử dụng
rộng rãi trong các bài thuốc Đông y, nguồn gốc của chúng là ở các quốc gia Đông Nam Á và chúng được vận chuyển vào Trung Quốc đa số bằng đường biển Do đó, cũng có học giả cho rằng nên gọi con đường thương mại này là "con đường gia vị- hương liệu" [49][53] Do đó có thể xem gia vị- hương liệu cũng có tác động nhất định đến sự phát triển của con đường thương mại biển này
5.Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, thời kỳ này kỹ thuật đóng thuyền và
đi biển được nâng cao rất nhiều Người ta có thể chinh phục đại dương bằng những con thuyền có trọng tải lớn Nếu như thời Hán các con thuyền chỉ đến được bờ biển phía nam Ấn Độ trong vài tháng và bị đe doa bởi "Khổ phùng phong ba nhược tử, bất
giả sổ niên lai hoàn" thì đến thời điểm này thời gian rút ngắn lại chỉ còn 89 ngày như
những ghi chép trong "Quảng Châu thông hải di đạo" Lúc bấy giờ, kỹ thuật đóng thuyền của Trung Quốc được xem là phát triển bậc nhất trên thế giới, các xưởng đóng thuyền phân bố khắp nơi trong cả nước Như huyện Dương Tử (ngày nay là Nghĩa
thuyền có năng lực đóng 500 thuyền đi biển loại lớn Trong đó có một loại rất trứ danh gọi là là một loại thuyền đi biển dài 20 trượng và có thể chở 600- 700 người [88,tr.23] Ngoài ra, có một loại khác tên "Du Đại Nương" có khả năng chở vài trăm tấn hàng hoá Kỹ thuật và chất lượng của người Trung Quốc trong đóng tàu còn được các thương nhân nước ngoài thừa nhận, trong "Trung Quốc- Ấn Độ
kiến văn lục" ghi chép như sau: "chỉ có những con thuyền lớn của Trung Quốc mới vượt qua những con sóng dữ để đến vịnh Ba Tư" [88,tr.24] Như vậy, sự phát triển của
kỹ thuật đóng tàu và đi biển dài ngày đã tác động trực tiếp đến sự phát triển của con đường tơ lụa trên biển
6.Sự xuất hiện của con đường tơ lụa trên biển đã thúc đẩy quan hệ mậu dịch lẫn quan hệ đối ngoại giữa Trung Quốc và các khu vực, quốc gia trên thế giới và nó cũng phù hợp với sự phát triển của nhu cầu giao lưu kinh tế- văn hoá giữa phương Đông và phương Tây Trong đó giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các khu vực gần gũi về mặt địa lý như Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á ngày càng có điều kiện để phát triển
Trang 36Trên đây là những ưu điểm của con đường tơ lụa trên biển so với con đường tơ
lụa trên bộ Những ưu điểm này đã tạo điều kiện cho con đường tơ lụa trên biển phát triển và trở thành nhịp cầu nối kết trong giao lưu kinh tế- văn hoá giữa Trung Quốc và các quốc gia khu vực trên thế giới
1.2.Các giai đoạn phát triển của con đường thương mại trên biển
1.2.1 Giai đoạn hình thành (thế kỉ V - thế kỉ VII)
Trước khi nhà sư Pháp Hiển khai thông con đường thương mại biển qua khu vực Đông Nam Á vào thế kỉ thứ V, có giả thuyết cho rằng con đường tơ lụa trên biển có
lịch sử tồn tại từ trước đó rất lâu, bắt đầu từ thời nhà Chu- thế kỉ XI TCN Năm 1112 TCN Chu Vũ Vương đã tặng guồng quay tơ cho người Triều Tiên để "dạy dân nước
đó biết ươm tằm dệt vải"[Hán thư, Địa lý chí] Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất lục
quốc đã cho người mang kỹ thuật dệt lụa sang Triều Tiên bằng đường biển qua Bột
hải để dân ở đó biết "kỹ thuật dệt tơ lụa ra sao" [Hậu Hán thư, Đông di truyện] Như
vậy, kỹ thuật trồng dân, nuôi tằm dệt lụa của Trung Quốc thời cổ đại đã được truyền
bá ra bên ngoài bằng đường biển Cũng vào thời Tần Thủy Hoàng, Tần Phúc Đông đến Nhật Bản mang theo "hàng nghìn đồng nam đồng nữ cùng tơ lụa, ngũ cốc với hàng trăm thuyền bè" [Tây di, Quảng ký] Đến nay hằng năm người Nhật Bản đều đến
mộ của Từ Phúc Đông và Thần Xã để cúng tế, không chỉ vì ông là ông tổ nghệ dệt lụa
mà còn là người khai thông quan hệ giữa hai nước Nhật- Trung bằng đường biển
Thời kỳ này cũng đánh dấu sự xuất hiện quá trình giao lưu và tiếp xúc văn hoa giữa Trung Quốc và các nước lân cận Nhưng thời kỳ này những giao lưu văn hoa này diễn
ra còn rất ít do nhiều nhân tố khách quan tác động Vả lại những tiếp xúc này lại diễn
ra trên qui mô hẹp nên nó chỉ được xem là giai đoạn xác lập cho các mối quan hệ bằng đường biển giữa Trung Quốc và các nước
Thời Tây Hán, thuyền đi biển Trung Quốc xuất phát từ Từ Văn, Hợp Phố thuộc bán đảo Lôi Châu mang theo một lượng lớn tơ lụa và vàng bạc đến nước Hoàng Chi
(ngày nay ở phía nam Ấn Độ) ở Ấn Độ Dương Chuyến đi này đã đi qua các quốc gia
Việt Nam, Thái Lan đến trung bộ bán đảo Malaya thì vượt đường bộ qua eo Kra sau
đó đến phía tây thì đổi thuyền đến Miến Điện, Ấn Độ Trên đường trở về thì đi ngang các quốc gia cổ ở đảo Java, Sumatra lấy tơ lụa đồi lấy đặc sản các nước (Trân Châu,
Trang 37B ảo Thạch) và trở về nước [Hán thư, Địa lý chí hạ] Đây là những ghi chép đầu tiên
về những chuyến đi đầu tiên của thuyền bè Trung Quốc xuống biển Nam Trung Hoa
Thời kỳ cổ đại đã có những mối quan hệ từ biển giữa Trung Hoa với Nhật Bản, Triều Tiên, các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Srilanka điều này cũng nói lên với kiến thức địa lý và kỹ thuật đi biển người Trung Quốc đã có thể đi đến các địa phương ở biển Nam Trung Hoa, Ấn Độ Dương bằng đường biển Nhưng đến thời kỳ này thuyền bè Trung Quốc vẫn lệ thuộc rất nhiều vào eo đất Kra (trung phần bản đảo Malaya hiện
nay) do điều kiện kỹ thuật và khả năng đi biển chưa cho phép xuôi xuống phía nam bán đảo Malaya Mặc khác, con đường tơ lụa trên bộ thời kỳ này vẫn là con đường thương mại chủ yếu giữa phương Đông- phương Tây Trong khi người Hoa đang bước đầu tiến hành các hoạt động thương mại biển thì thương nhân Ấn Độ và Ả rập đã khá quen thuộc và hoạt động tấp nập ở khu vực Đông Nam Á thời kỳ này Một thực tế cho
thấy dấu ấn văn hoá Ấn Độ ảnh hưởng sâu sắc đến Đông Nam Á trong giai đoạn sơ kỳ
thể hiện qua các công trình kiến trúc, văn hoá và tôn giáo
Đông Ngô thời Tam Quốc các địa phương duyên hải phía đông có kỹ thuật đóng thuyền và đi biển rất phát triển Chu ứng và Khang Thái đã đi sứ đến Phù Nam để tìm
hiểu và thiết lập quan hệ giữa thiên triều và các quốc gia cổ đại Đông Nam Á Chuyến
đi này của hai ông đã mang lại những kiến thức thực tế qua tai nghe mắt thấy và được
tập họp trong hai thư tịch cổ "Phù Nam dị vật chí" và "Phù Nam truyện" (trong "Ngô
thời ngoại quốc chỉ") Đây là những tư liệu gốc có giá trị nghiên cứu cao khi nghiên
cứu giao thông biển giữa Trung Quốc và các nước ở Đông Nam Á
Đến thế kỉ V, nhà sư Pháp Hiển thời Đông Tấn từ Ấn Độ qua Srilanka sau đó trở
về nước bằng đường biển Những ghi chép sinh động của ông trong "Phật quốc kí" (còn gọi là "Pháp Hiến truyện") đã miêu tả chi tiết tuyến hàng hải từ Sư tử quốc
(Srilanka ) qua Da Phò Đề (Java) và cuối cùng là vùng Sơn Đông Chuyến đi của ông
mang tính lịch sử vì nó đã khai thông con đường giao thông biển từ biển Nam Trung Hoa đến Ấn Độ Dương qua các eo biển ở khu vực Đông Nam Á hải đảo Do đó, cột
mốc đánh dấu sự hình thành của con đường tơ lụa trên biển là sau chuyến trở về bằng đường biển của Pháp Hiển Thời gian trước đó, chỉ nên xem là khoảng thời gian định hình cho hoạt động thương mại biển của Trung Quốc Vai trò của người Hoa trong
Trang 38giai đoạn này chưa để lại dấu ấn đậm nét đối với nền thương mại khu vực Đông Nam
Á như thương nhân Ấn Độ và Ả rập
Thời Nam triều, con đường tơ lụa trên biển lại bước sang một giai đoạn phát triển mới, nhiều tăng lữ, thương nhân, sứ giả của triều đình đã đi đến các quốc gia
bằng đường biển Thương nhân, tăng lữ của các quốc gia Đông Nam Á, Nam Á đã
đến Quảng Châu, Dương Châu, Kiến Khang (Nam Kinh) để tiến hành hoạt động mậu
dịch và truyền giáo Một sử gia Ả rập đã nói như sau: "hậu bán thế kỉ V, tại thành Hy
Lạp ở sông Âu Phát Lạp Đề (Enphrates) thường thấy các thuyền Trung Hoa neo
đậu"[88,tr.l67] Điều này cho thấy phạm vi hoạt động của các thuyền bè Trung Quốc
đã mở rộng đến tận vịnh Ba Tư
Tuy Dưỡng Đế sai Thường Tuấn đi sứ đến Xích Thồ (bản đảo Malaya) tặng
quốc vương nước này 5000 cuộn tơ lụa Thường Tuấn đã nhận được sự tiếp đón trọng
hậu của vua Xích Thồ sau đó cùng con trai của quốc vương Xích Thổ trở về nước để Xích Thổ thăm viếng đáp lễ Đây là thắng lợi đầu tiên trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao bằng "tơ lụa" và không lâu sau đó thì rất nhiều đoàn triều cống của các nước Đông Nam Á đã đến Trung Hoa hàng năm để tiến hành dâng cống và buôn bán trao đổi hàng hoa1 với cư dân bản địa Lúc bấy giờ ở kinh đô Lạc Dương đã hình thành một khu vực gọi là "giao dịch hội", hình ảnh này cho thấy hoạt động thương mại
biển rất phát triển, đây cũng là tiêu chí để đánh giá con đường tơ lụa trên biển đang
trải qua "đêm trước" của thời kỳ phát triển
1.2.2 Giai đoạn phát triển (thế kỉ VlII-thế kỉ XVI)
Đường, Tống, Nguyên là thời kỳ con đường tơ lụa có những thay đổi và phát triển lớn Năm Khai Nguyên thứ hai thời Đường (714) triều đình thiết lập Thị Bách
thông và mậu dịch giữa Trung Hoa và các quốc gia bằng đường biển rất nhộn nhịp,
phồn thịnh, trong "Quảng Châu thông hải di đạo" của Giả Đàm ghi chép rất chi tiết các địa danh trong suốt tuyến hải trình từ Quảng Châu đến vịnh Ba Tư Nếu như lấy
những ghi chép của Giả Đàm so sánh với những ghi chép trong phần "Hán thư, địa lý chí" về giao thông biển thì có thể thấy thời Đường phạm vi hoạt động của thuyền bè
Trang 39Trung Quốc không những được mở rộng mà số địa điểm mà thuyền bè ghé lại nhiều hơn, ghi chép rõ ràng cụ thể hơn Trước chuyến đi lịch sử của Trịnh Hoà thì đây được xem là tuyến hàng hải dài nhất của người Trung Quốc lúc bấy giờ
Đến thời Tống kỹ thuật hàng hải lại có sự đột phá mới- bắt đầu sử dụng chỉ nam (ỉa bàn) trong việc đi biển Giai đoạn Tống- Nguyên có đến 7 địa phương có Thị Bách
Ti, ngoài ra còn lập ra Thị Bách Vụ- để phụ trách giao thiệp với các thuyền buôn nước ngoài Đây là tiêu chí để đánh giá nhà Tống- Nguyên đã xem trọng giao thông- mậu dịch biển cũng như có những chính sách khuyến khích và phát triển Từ
thời lưỡng Tống trở đi đồ gốm đã trở thành một mặt hàng buôn bán chủ yếu trên con đường thương mại biển này Tình hình mua bán mặt hàng này được miêu tả trong
"Bình Châu khả đàm" như sau: "thuyền sâu gần l0 trượng, thương nhân ở lẫn với hàng hoá, ngày ngồi đêm nằm, đồ gốm đa dạng lớn nhỏ đều có, nhiều không đếm
xuể"[88,tr.l68] Trong "Lĩnh ngoại đại đáp" của Chu Khứ Phi và "Chư Phiên chí" của Triệu Nhữ Quát thời Tống đã ghi chép không ít quan hệ mậu dịch giữa Trung Quốc và các quốc gia ở Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á, bán đảo Ả rập thậm chí đến tận bờ
biển Đông Phi
Đến thời Nguyên con đường tơ lụa trên biển không ngừng phát triển, cổ vũ sự
mở rộng của ngành thương mại biển Ngành đóng thuyền đi biển cũng không ngừng khuyếch trương bởi lợi nhuận rất cao Cảng Tuyền Châu thuộc tỉnh Phúc Kiến thời điểm này đã phát triển vượt xa thương cảng Quảng Châu Thương nhân Ả Rập lúc bấy
giờ còn cho rằng Tuyền Châu là một trong những thương cảng lớn nhất thế giới Việc buôn bán tơ lụa và đồ gốm thời Nguyên được Uông Đại Uyên ghi chép rất kỹ lưỡng trong "Đảo di chí lược" Trong "Chân Lạp phong thổ ký" của Chu Đạt Quan còn ghi chép kim lộ (la bàn) từ Ôn Châu đến Chân Lạp
Như vậy, từ thời Tấn đến thời Tuy- Đường là "giai đoạn hình thành" và quá độ đến "giai đoạn phát triển"; giai đoạn Tống, Nguyên, Minh là giai đoạn "phát triển cao độ" Trong quá trình hình thành và phát triển trường kỳ đó có thể thấy sự phát triển
của con đường có những đặc điểm sau:
1 Kỹ thuật đóng thuyền, kinh nghiệm đi biển dài ngày và kiến thức thiên địa lý của người Hoa được tích lũy và phát triễn lũy tiến theo thời gian Đây chính là
Trang 40văn-cơ sở cho sự phát triển của con đường tơ lụa trên biển qua các giai đoạn
2 Xuất phát từ nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hoa phạm vi hoạt động thương
mại của người Hoa ngày càng được mở rộng Từ khu vực Đông Á, đến Đông Nam Á,
Nam Á và xa hơn đến tận biển Ả Rập, bờ biển phía đông châu Phi Trong xu thế phát triển đó, quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc với các quốc gia cũng không ngừng được
mở rộng Đây chính là cơ sở vật chất và động lực cho chuyến đi lịch sử của Trịnh Hoa- người đã đưa con đường tơ lụa trên biển phát triển đến giai đoạn cực thịnh
1.3 Nhà Minh đẩy mạnh các hoạt động thương mại biển (thế kỉ XIV - XVI)
1.3.1 Chính sách đối ngoại mậu dịch biển của triều Minh
Những năm đầu niên hiệu Hùng Võ của Minh Thành Tổ, triều Minh đã có những chính sách nhằm phát triển ngành thương mại biển chưa được quan tâm đúng mức ở các triều đại trước Biện pháp đầu tiên để thực hiện kế hoạch này là tái lập các Thị Bách Ti để đón các tàu buôn nước ngoài đến triều cống và miễn thuế khi buôn bán với dân bản địa Ba tỉnh đầu tiên được chọn để lập các Thị Bách Ti là Nam Kinh, Triết Giang và Phúc Kiến Cũng trong thời gian này nhà Minh cũng bắt đầu một
chế độ mậu dịch biển mới gọi là "triều cống mậu dịch chế độ", chế độ này được giải thích trong "Tục thông khảo" quyển 26 như sau:
Năm Hùng Võ thứ 4, như Thị Bách Ti ở Phúc Kiến, thuyền của Chân Lạp đến
đánh thuế nhưng triều đình ra lệnh đều miễn thuế
Tháng 10 năm Vĩnh Lạc nguyên niên, vua nước Tỏa Lý ở biển tây sai sứ giả đến
trưng thuế, nhưng trên hạ lệnh miễn thuế Sau đó cống thuyền các nước Thích Nê, Hồi