Có thể nói, những nhận định của ông đã bao quát được đặc trưng, tình hình nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong các “sách giáo khoa LLVH” Việt Nam từ những ngày đầu cho đến những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Đăng Hai
VẤN ĐỀ NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN TRONG GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1960
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Đăng Hai
VẤN ĐỀ NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN TRONG GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1960
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Cấu trúc của luận văn 11
CHƯƠNG 1 : VẤN ĐỀ NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN TRONG LÍ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1960 ĐẾN NAY 13
1.1 Những tiền đề xã hội và tư tưởng 13
1.1.1 Những tiền đề xã hội 13
1.1.2 Những tiền đề tư tưởng 16
1.2 Tổng quan quá trình nghiên cứu 21
1.2.1 Giai đoạn từ những năm 1960 đến 1985 21
1.2.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay 27
CHƯƠNG 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN XÁC LẬP KHÁI NIỆM NHÂN ĐẠO NHÂN VĂN TRONG GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM 35 2.1 Lược sử khái niệm nhân đạo, nhân văn 35
2.1.1 Phương Tây 35
2.1.2 Phương Đông (Trung Quốc và Việt Nam) 36
2.2 Vấn đề nhân đạo, nhân văn trong cấu trúc các Giáo trình 39
2.2.1 Giai đoạn từ những năm 1960 đến trước 1986 40
2.2.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay 44
2.3 Chủ nghĩa nhân văn và các khái niệm hữu quan 50
2.3.1 Tư tưởng nhân văn và chủ nghĩa nhân văn 50
2.3.2 Tính chất nhân văn 57
2.3.3 Giá trị nhân văn 61
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ NHÂN VĂN – BẢN CHẤT NỘI DUNG VÀ ĐỐI TƯỢNG DIỄN TẢ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN HỌC 64
3.1 Văn học là nhân học 64
Trang 43.1.1 Quan niệm về bản chất “nhân học” trong Giáo trình trước 1986 64
3.1.2 Quan niệm về bản chất “nhân học” trong Giáo trình từ 1986 đến nay 67
3.2 Giá trị nhân văn và sự tiến bộ của văn học 73
3.2.1 Một số quan niệm khác nhau 73
3.2.2 Từ tiêu chuẩn chính trị đến tiêu chuẩn nhân văn 74
3.3 Khảo sát một số luận văn nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong văn học (Trường Đại học Sư phạm TP HCM và Đại học Quốc gia TP HCM) 79
3.3.1 Giới thiệu khái quát về các Luận văn 79
3.3.2 Nhận xét chung 81
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 99
Trang 5DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6M Ở ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sáng tác văn học thường có hai kiểu chính là hiện thực và lãng mạn Tùy theo
sở trường và ý thức thẩm mĩ, nhà văn - chủ thể sáng tạo văn học - lựa chọn một kiểu sáng tác riêng hoặc kết hợp cả hai kiểu sáng tác trong một tác phẩm Nhưng dù là kiểu sáng tác nào thì mọi tác phẩm văn học có giá trị đều phải xuất phát từ con người,
do con người và vì con người Vì vậy, ở Việt Nam hiện nay, các sách, báo, tạp chí nghiên cứu văn học thường nhắc đi nhắc lại câu nói nổi tiếng của nhà văn Nga M.Gorki: Văn học là nhân học Nhận định này đã trở thành nguyên lí có tính phổ
quát
Trong Báo cáo Đề dẫn tại Hội nghị Khoa học về LLVH tổ chức tại Hà Nội ngày 14/01/2005, Thường trực Hội đồng Lí luận – Phê bình Văn học Nghệ thuật
Trung ương đã xác định: “vấn đề hàng đầu trong văn nghệ bao giờ cũng là mối quan
hệ giữa văn nghệ và đời sống, văn nghệ và tư tưởng” [97; tr.22] Trong lĩnh vực tư
tưởng, tư tưởng nhân đạo, nhân văn có vai trò hạt nhân trong đánh giá, thưởng thức
và sáng tạo nghệ thuật: “Hoài nghi, từ bỏ CNNV là tự tước bỏ vũ khí của mình trước các hiện tượng tiêu cực, tự thủ tiêu mình” [97; tr.23] và “tinh thần nhân văn đích thực không bao giờ chết Đó là tư tưởng đã đưa con người từ mông muội đến văn minh, khích lệ con người vượt qua mưa bon bão đạn đi tới giải phóng” [97; tr.23] Chính vì
vậy, giá trị nhân văn luôn là hằng số của văn học; là một trong những yếu tố quan trọng làm nên bản chất của văn chương Vì vậy, nó luôn là thước đo hàng đầu để xác định giá trị, sự tiến bộ trong lĩnh vực văn học nói riêng, trong lĩnh vực nghệ thuật nói
chung “CNNV sẽ trở thành cơ sở và cương lĩnh của phát triển con người lên bậc mới
Nhận thức cũng như thành tựu của LLVH được ghi dấu rõ nét trong các GTr LLVH Từ cuối những năm 1950 của thế kỉ XX, các khoa Văn được thành lập cùng với sự ra đời của các Trường Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm ở miền Bắc Việt Nam Bên cạnh việc hình thành khoa Văn ở bậc ĐH, những GTr LLVH Việt Nam đầu tiên cũng được biên soạn Năm 1958 Nguyễn Lương Ngọc cho công bố GTr
Trang 7LLVH Việt Nam đầu tiên Từ đó đến nay, nhiều bộ GTr về LLVH dành cho SV, GV
ở các trường ĐH, CĐ và các cấp được soạn mới, dịch thuật, bổ sung, chỉnh sửa Ở mỗi GTr, vấn đề nhân đạo, nhân văn đã được đề cập, diễn giải theo những mức độ và quan niệm khác nhau
Như vậy, vấn đề nhân đạo, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc sáng tạo, đánh giá và tiếp nhận các tác phẩm văn chương Hiện nay, trong các GTr LLVH nói riêng, trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam nói chung, tồn tại hai khái niệm “CNNĐ” và “CNNV” Hai khái niệm này vẫn song song tồn tại nhưng chưa có
sự thống nhất về tên gọi và nội hàm giữa các tác giả, cũng như ở các giai đoạn văn học khác nhau Vì vậy khi sử dụng chúng, sinh viên, học viên, thậm chí cả các nhà nghiên cứu, thường lúng túng, khó hiểu, và đôi lúc hiểu lầm
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi nghĩ đề tài “Vấn đề nhân đạo, nhân
văn trong giáo trình lí luận văn học Việt Nam từ 1960 đến nay (Bậc Đại học)”
được thực hiện sẽ có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
GTr LLVH Việt Nam là một trong ba bộ phận chính thể hiện quan điểm, nhận thức và thành tựu của LLVH Việt Nam Trải qua gần 60 năm hình thành và phát triển, nhiều GTr LLVH Việt Nam của các nhà LLVH có uy tín và tâm huyết được xuất bản và tái bản Điều này chứng tỏ sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Nhiều vấn đề trong các GTr LLVH Việt Nam đã được bàn luận sôi nổi trong những năm qua Mỗi nhà nghiên cứu có cách lựa chọn, đánh giá khác nhau Riêng lịch sử nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn từ những năm 1960 đến nay có thể chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn từ những năm 1960 đến trước 1990 và giai đoạn
từ những năm 1990 đến nay
Ở giai đoạn đầu, các nhà nghiên cứu chủ yếu xoay quanh vấn đề đối tượng, tư tưởng của văn học được đề cập trong các GTr LLVH Tiêu biểu cho giai đoạn này là các bài viết của Lê Anh Trà, Hà Minh Đức Trên cơ sở phê phán quan niệm về con
người chung chung, trong “Đọc Sơ thảo nguyên lí văn học của Nguyễn Lương Ngọc”
của Nguyễn Lương Ngọc, Lê Anh Trà cho rằng “cần phải đi đến một định nghĩa cụ thể hơn về đối tượng của văn học” [79; tr.7] và “muốn đánh giá tính đảng của tác
Trang 8phẩm chủ yếu là phải nhằm vào tư tưởng tác phẩm tự toát ra từ tác phẩm, qua hình tượng Vấn đề nghiên cứu thế giới quan của tác giả là cần, nhưng chỉ là để kiểm tra lại nhận xét của ta qua tác phẩm.” [79; tr.8]
Một năm sau, Hà Minh Đức trong bài “Nhân đọc mấy vấn đề nguyên lí văn
học của Nguyễn Lương Ngọc” (Nghiên cứu văn học, số 3, 1961) có “góp một số ý kiến trong việc tìm hiểu nội dung tác phẩm văn học” Trong đó, ông có bàn đến vấn
đề tư tưởng trong tác phẩm văn học nhưng cũng chưa quan tâm đến tư tưởng nhân đạo, nhân văn
Bước sang giai đoạn thứ hai, trong xu hướng chung của văn học: nhận thức lại hiện thực, các nhà nghiên cứu đã có bước phát triển mạnh mẽ khi trực tiếp, thẳng
thắn đề cập đến các “thứ tính” - trong đó, có tính chất nhân văn của văn học trong các GTr LLVH Mở đầu cho giai đoạn này, chúng ta phải kể đến những đóng góp của Lê
Ngọc Trà trong công trình Lí luận và văn học (NXB Trẻ, 1990) Công trình đã đề cập đến nhiều vấn đề thời sự của LLVH Việt Nam Riêng về vấn đề nhân văn trong văn
học, tác giả đã dành một bài viết riêng: “Vấn đề con người trong văn học hiện đại” (ở
phần 1, từ trang 51 đến trang 65) của công trình Có thể nói, những nhận định của ông đã bao quát được đặc trưng, tình hình nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong các “sách giáo khoa LLVH” Việt Nam từ những ngày đầu cho đến những năm
1990 – thời điểm cuốn sách ra đời:
Văn học là nhân học Nhưng đã có một thời người ta rất ngại nói đến “tính con người ”, CNNĐ trong văn học Cho đến mãi hôm nay trong các sách giáo khoa LLVH của chúng ta, CNNĐ (humanism) vẫn chưa trở thành một phạm trù nghiên cứu văn học bên cạnh các khái niệm đã được chú ý nhiều từ lâu như tính giai cấp, tính đảng, tính nhân d ân, tính dân tộc, tính quốc tế [80; tr.55]
Bước sang những thập niên đầu của thế kỉ XXI, trước yêu cầu cấp bách là phải đổi mới nền LLVH nước nhà, đặc biệt là đổi mới nội dung các GTr LLVH, các bài viết tổng kết, nhận xét về các bộ GTr LLVH của Việt Nam được công bố ngày càng nhiều Năm 2005, ở Việt Nam diễn ra hai hội thảo khoa học lớn có quy mô toàn quốc
về nghiên cứu văn học Việt Nam được diễn ra Trước hết là Hội thảo “Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy” do Trường Đại học Sư
Trang 9phạm Hà Nội tổ chức Hội thảo bàn luận đến nhiều vấn đề của nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam từ sau 1975 Cụ thể bàn về GTr LLVH Việt Nam, Phương Lựu có bài “Những trăn trở tiến bước của lí luận văn học giai đoạn 1975 – 1985” Tác giả đề cập đến những chuyển biến trong công tác biên soạn các GTr LLVH Việt Nam trong “thời gian khởi động” Trên cơ sở đó, tác giả cho chúng ta thấy sự ra đời và
những thay đổi về cấu trúc, nội dung bộ GTr Lí luận văn học do chính tác giả chủ
biên và xuất bản từ năm 1986 đến 1988 so với các bộ GTr trước đây của Nguyễn Lương Ngọc
Hội thảo thứ hai chủ yếu dành riêng cho lĩnh vực lí luận, phê bình Đáng chú ý
là bài viết “Góp bàn về lí luận văn học ở Việt Nam trong lịch sử của nó” (Kỉ yếu hội thảo khoa học Lí luận và phê bình văn học – đổi mới và phát triển, NXB Khoa học
Xã hội, HN) Trong bài viết này, Phong Lê đã đúc kết những đặc điểm LLVH của Việt Nam, đặc biệt là từ những thập niên 1960 đến những thập niên 1990 Trên cơ sở
đó, tác giả đặt ra vấn đề cần nhận thức lại về “các thứ tính của văn nghệ”, trong đó,
tác giả trực tiếp đề cập đến nhân tính và nhân loại tính:
Đặt lại một số vấn đề LLVH, ở khu vực các thứ tính vốn chi phối rất nhiều tâm lực và tốn khá nhiều giấy mực của giới lí luận như trên, chúng ta thấy có bao vấn
đề không thể dừng lại ở những cách hiểu cũ Không kể còn một số thứ tính khác, trong đó có nhân tính, nhân loại tính, trên cả hai phương diện: sinh học và xã hội [97; tr.164]
Nhìn chung, vấn đề nhân tính và nhân loại tính đã được tác giả chú ý nhưng
đáng tiếc tác giả cũng chỉ dừng lại ở chỗ nêu lên vấn đề, nhắc đến một cách sơ lược,
phụ họa chứ chưa phải là một vấn đề quan trọng bên cạnh các phạm trù tính Đảng, tính nhân dân, tính dân tộc vốn đã rất quen thuộc trong nghiên cứu văn học
Một năm sau, trong bài viết “Môn lí luận văn học trong trường đại học”
được sử dụng phổ biến trong SV các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả cho rằng “phổ biến nhất là bộ giáo trình của Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hòa, Thành Thế Thái Bình” Cũng theo tác giả, đây là công trình công phu, có sự kế thừa các bộ GTr LLVH trước đó, đồng thời cũng
Trang 10có những sáng tạo, bổ sung “vào nội dung giảng dạy những vấn đề có ý nghĩa khoa học như tư tưởng lí luận văn học cổ ở phương Đông và Việt Nam, tính quốc tế và tính nhân loại của văn học,…” [61; tr.43].
Cùng năm, Nguyễn Ngọc Thiện cũng có bài viết “Về việc biên soạn giáo trình
lí luận văn học bậc đại học ở ta 50 năm qua” (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5, năm
2006) Theo dõi công việc biên soạn các bộ GTr LLVH từ những ngày đầu được hình
thành, tác giả cho rằng: “tính nhân văn, bản chất thẩm mĩ của văn học nghệ thuật được đề cao từ góc độ nhận thức rằng văn học được làm ra bởi tài năng của con người và hướng về con người mà tác động nhắn gửi” [69; tr.18]
Gần đây nhất, trong Luận văn Thạc sĩ “Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay” (Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2012), Lê Thị Gấm đã đề cập đến sự vận động của quan niệm về bản chất của văn học, trong đó có vấn đề con người trong các GTr LLVH Việt Nam
Tóm lại, vấn đề nhân đạo, nhân văn trong các GTr LLVH Việt Nam đã được
đề cập, nghiên cứu ở nhiều góc độ, mức độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong các GTr LLVH Việt Nam
2 Xác định vị trí của vấn đề nhân đạo, nhân văn trong các GTr LLVH Việt Nam qua các thời kì;
3 Xác định ý nghĩa của vấn đề nhân đạo, nhân văn trong việc tìm hiểu đặc trưng, bản chất của văn học
Trang 114 Cùng với việc khảo sát trên bình diện lí thuyết, chúng tôi ứng dụng khảo sát nội dung khái niệm trong một số luận văn đã được thực hiện thành công tại khu vực
TP Hồ Chí Minh để xác định rõ hơn khả năng ứng dụng cũng như ý nghĩa của chúng trong nghiên cứu văn học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận văn là quan niệm về vấn đề nhân đạo nhân văn trong các GTr LLVH Việt Nam dùng cho SV các trường ĐH ở Việt Nam giai đoạn từ những năm 1960 đến nay (9/2013) Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khảo sát các bộ GTr LLVH được dịch sang tiếng Việt, các bộ GTr LLVH dành cho các đối tượng khác để
có sự so sánh đối chiếu với đối tượng nghiên cứu khi cần thiết
Để có cái nhìn toàn diện và bao quát về vấn đề nghiên cứu, trong chương 1, chúng tôi tiến hành nghiên cứu một cách khái quát về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong LLVH nói chung Do đó, chúng tôi có mở rộng khảo sát các bài viết tiêu biểu trong nghiên cứu văn học có đề cập đến vấn đề về nhân đạo hoặc nhân văn Trong các công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ chú ý đến các vấn đề khái quát có tính lí luận, không bàn luận đến biểu hiện trong từng tác phẩm văn học cụ thể
Song song với việc khảo sát các giáo trình, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát các luận văn (Thạc sĩ) có vận dụng khái niệm nhân đạo hoặc nhân văn trong nghiên cứu nhằm xác định ý nghĩa của khái niệm trong thực tiễn nghiên cứu Qua đó, chúng tôi đánh giá khả năng và thực tiễn ứng dụng các khái niệm trên trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam Do hạn chế về nguồn tư liệu cũng như thời gian, chúng tôi chỉ khảo sát các luận văn được thực hiện thành công và lưu trữ tại thư viện của hai trường ĐH lớn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh: Thư viện Trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
và Thư viện Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khảo sát và đánh giá lịch sử phát triển, vị trí, tên gọi, nội hàm và giá trị của khái niệm nhân đạo, nhân văn đối với nghiên cứu văn học trong các GTr LLVH Việt Nam
Trang 125 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn được thực hiện sẽ góp phần làm rõ những đặc
trưng và vai trò của khái niệm nhân đạo, nhân văn trong LLVH ở Việt Nam từ những năm 1960 đến nay; phân biệt các khái niệm CNNV, CNNĐ cùng các khái niệm có liên quan để sử dụng một cách chính xác, khoa học
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu
tham khảo hoặc vận dụng vào hoạt động nghiên cứu, phê bình, biên soạn GTr hay giảng dạy văn học cũng như một số lĩnh vực khác ở Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê – miêu tả: thống kê, phân loại các kiểu quan niệm về
nhân đạo, nhân văn Đó là cơ sở để chúng tôi rút ra những phân tích, lí giải, đánh giá khách quan về vấn đề
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn
cần phải đặt trong sự vận động, phát triển của lịch sử tư tưởng, xã hội, xem xét nó như một thành tố thuộc một hệ thống nhất định Từ đó, xác định rõ đặc điểm, nội dung cũng như vị trí của vấn đề nhân đạo, nhân văn trong cấu trúc các GTrLLVH
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: để xác định những đặc trưng của vấn đề
nhân đạo, nhân văn không thể không có sự so sánh, đối chiếu với những vấn đề khác, thậm chí cùng vấn đề ở những nền văn hóa khác; so sánh – đối chiếu giữa các giai đoạn lịch sử khác nhau Từ đó, diễn giải những nét độc đáo, sự vận động, biến đổi của vấn đề nhân đạo, nhân văn trong GTr LLVH Việt Nam
- Phương pháp liên ngành: đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài có sự
liên quan chặt chẽ đến vấn đề lịch sử tư tưởng, xã hội và văn hoá của Việt Nam Do
đó, sự kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa các lĩnh vực triết học, văn hóa, mĩ học và văn học là cơ sở cần thiết cho những phân tích, lí giải sâu sắc hơn Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng linh hoạt các phương pháp trên Tùy từng phần, từng mục đích mà có thể ưu tiên những phương pháp khác nhau
Trang 137 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được cấu trúc với các phần cơ bản sau: phần mở đầu, ba chương và kết luận Các phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Cụ thể như sau:
MỞ ĐẦU
Phần Mở đầu, chúng tôi trình bày những cơ sở lựa chọn đề tài; tổng hợp, phân
tích các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài Trên cơ sở đó, chúng tôi xác định mục đích, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu vấn đề một cách khách quan và khoa học Đây là định hướng quan trọng cho chúng tôi thực hiện trong các chương sau
Chương 1: VẤN ĐỀ NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN TRONG LÍ LUẬN VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1960 ĐẾN NAY
Trên cơ sở đã xác định các nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu, chương một trình bày những tiền đề xã hội, tư tưởng ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển của LLVH Việt Nam Từ đó, chúng tôi khái quát quá trình nghiên cứu vấn đề nhân đạo, nhân văn trong LLVH Việt Nam từ những năm 1960 đến nay để có cái nhìn bao quát
về vấn đề được nghiên cứu
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN XÁC LẬP KHÁI NIỆM NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN TRONG GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM
Trên cơ sở kết quả của phần mở đầu và chương một, chúng tôi xác định nhiệm
vụ trọng tâm ở chương này là trình bày những vấn đề lí luận tiến đến việc xác lập khái niệm nhân đạo, nhân văn trở thành một phạm trù trong các GTr LLVH Việt Nam Các vấn đề khái quát về lược sử khái niệm nhân đạo, nhân văn ở phương Đông
và phương Tây; vị trí của vấn đề nhân đạo, nhân văn trong cấu trúc các GTr LLVH Việt Nam; tên gọi, nội hàm của khái niệm CNNĐ, CNNV được sử dụng trong các GTr LLVH; ranh giới giữa CNNV và các khái niệm liên quan khác
Chương 3: GIÁ TRỊ NHÂN VĂN - BẢN CHẤT NỘI DUNG VÀ ĐỐI TƯỢNG DIỄN TẢ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN HỌC
Ở chương này, chúng tôi xem xét giá trị nhân văn với tư cách là một phạm trù của nghiên cứu văn học Do đó, chúng tôi tập trung phân tích bản chất “nhân học” của văn học được đề cập trong các GTr LLVH Việt Nam Mối quan hệ giữa giá trị
Trang 14nhân văn và sự tiến bộ của văn học Đồng thời, vận dụng khảo sát một số luận văn ở khu vực TP HCM có ứng dụng khái niệm nhân đạo hoặc nhân văn trong nghiên cứu văn học
KẾT LUẬN
Phần kết luận, chúng tôi khái quát và khẳng định lại những kết quả đạt được của luận văn Trên cơ sở đó, đưa ra một số đề xuất về việc sử dụng khái niệm nhân đạo, nhân văn trong nghiên cứu văn học
Trang 15C HƯƠNG 1 : VẤN ĐỀ NHÂN ĐẠO, NHÂN VĂN TRONG LÍ LUẬN
VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1960 ĐẾN NAY
1.1 Những tiền đề xã hội và tư tưởng
Văn học vận động trong môi trường văn hóa - xã hội đặc thù của dân tộc Vì vậy, khi nghiên cứu về văn học nói chung LLVH nói riêng chúng ta không thể không tìm hiểu về bầu không khí nơi nó được sinh thành Ở Việt Nam từ xưa đến nay, như một quy luật, hễ lịch sử có sự thay đổi thì trong văn học nhất định cũng có sự đổi thay Ở phần này, chúng tôi phân tích khái quát những tiền đề tư tưởng và xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển LLVH Việt Nam từ sau năm 1945 đến nay
trong điều kiện dân tộc ta phải tiến hành hai cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt Nền
văn học của giai đoạn lịch sử này có những đặc điểm và quy luật phát triển riêng, có những thành tựu đáng kể đáp ứng đòi hỏi của giai đoạn lịch sử đương thời, trở thành một giai đoạn mới trong tiến trình văn học dân tộc thế kỉ XX
Từ 1945 đến 1975, đất nước Việt Nam đã diễn ra nhiều biến cố lịch sử trọng đại, tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội và con người Việt Nam Trước hết, cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đã giật tung xiềng xích hơn tám mươi năm thống trị của thực dân Pháp và tiếp đó là phát xít Nhật, đồng thời lật nhào ngai vàng của chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một trang mới vẻ vang trong lịch sử dân tộc Nhưng thực dân Pháp rắp tâm quay lại chiếm nước ta, cả dân tộc phải tiến hành cuộc kháng chiến kéo dài chín năm đầy gian khổ, hi sinh để bảo vệ nền độc lập mới giành được và chế độ còn non trẻ Tháng 7/1954, Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hòa bình lập lại trên đất nước ta nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai
Trang 16miền, với sự tồn tại của hai thể chế chính trị, xã hội, nền kinh tế và hệ tư tưởng khác biệt giữa hai miền Nam – Bắc kéo dài hơn hai mươi năm Miền Bắc được giải phóng
và đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội Cả dân tộc lại phải tiến hành cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, chống đế quốc Mỹ xâm lược Cuộc chiến đấu kiên trì, bền bỉ và vô cùng ác liệt ấy đã kết thúc với thắng lợi trọn vẹn ngày 30/4/1975, đất nước được thống nhất
Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến, cuộc cách mạng ruộng đất những năm 1953 – 1955, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với phong trào hợp tác hóa nông nghiệp diễn ra rầm rộ ở nông thôn những năm 1958 – 1960 và công cuộc xây dựng đất nước theo mô hình chủ nghĩa xã hội ở thời kì đó, tất cả biến cố lịch sử to lớn ấy đã tác động mạnh mẽ và đưa đến những biến đổi cơ bản trong xã hội Việt Nam
Ở giai đoạn thứ hai, đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đưa lịch sử dân tộc bước sang giai đoạn mới Thêm một lần nữa, chúng ta lại chứng kiến sự chuyển biến mạnh
mẽ trong văn học Những đặc điểm cơ bản của xã hội Việt Nam những năm sau 1975
có nhiều biến đổi to lớn Tựu trung lại, có bốn đặc điểm cơ bản sau:
Trước hết là sự thay đổi từ chính thời cuộc Đây là yếu tố cơ bản dẫn đến
những thay đổi khác Điều này đã được các nhà nghiên cứu nhận định khái quát như sau:
Đây là thời kì giao thoa giữa cái mới và cái cũ Cái cũ vẫn tồn tại, cái mới cũng chỉ vừa manh nha Cả hai yếu tố thuận và nghịch của đời sống kinh tế - xã hội đều tác động đến văn học Những khó khăn và khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 70 đầu những năm 80, tính chất phức tạp và sự chi phối của kinh tế thị trường đẩy tới sự phân cực giữa trắng đen, thiện ác, tốt xấu… [51; tr.5]
Vừa hân hoan với chiến thắng, nhân dân ta đã phải đối mặt ngay với bao gian nan thử thách Đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề Những tàn dư của chế độ cũ chưa thể xóa sạch trong một sớm một chiều Nhiều thế lực phản động không ngừng chống phá Chỗ dựa vững chắc cho đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đã không còn sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông Âu Nền kinh tế bị kiệt quệ và đứng trước nguy cơ khủng hoảng trầm trọng, nhiều chủ
Trang 17trương, chính sách sai lầm của Đảng và Nhà nước khiến lòng tin của nhân dân giảm
Thứ ba là xu hướng mở rộng quan hệ giao lưu, hội nhập với thế giới Đây là xu
hướng tất yếu Sau khi giành được độc lập, bên cạnh việc phát huy nội lực của dân
tộc, tranh thủ sức mạnh bên ngoài là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng
và Nhà nước Do đó, các mối quan hệ với thế giới bên ngoài cũng càng ngày càng được chú ý và mở rộng Việc đẩy mạnh hội nhập với thế giới diễn ra trên nhiều lĩnh vực đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học Trong xu thế chung, LLVH cũng trở nên cởi mở hơn, tầm nhìn được mở rộng hơn Do đó, sách LLVH ở Việt Nam cũng tăng nhanh về số lượng Từ chỗ “đói” thông tin, nay độc giả Việt Nam lại được tiếp nhận thông tin đa chiều hơn Vì thế, việc lựa chọn “tinh hoa” cũng càng trở nên khó khăn, bối rối hơn
Thứ tư là quá trình hội nhập với văn minh nhân loại giúp khoa học kĩ thuật
Việt Nam có bước phát triển mạnh mẽ Sự phát triển của khoa học kĩ thuật vừa là một
tiền đề tốt, vừa là một thách thức đối với quá trình sáng tạo, nghiên cứu và phổ biến văn học Nhờ vào công nghệ in ấn tiên tiến, việc xuất bản sách trở nên nhanh chóng
và dễ dàng hơn; nhờ các phương tiện truyền thông đại chúng và giao thông hiện đại, văn học đến với người đọc mau lẹ hơn, thuận tiện hơn Thế nhưng, không chỉ là một phương tiện hỗ trợ cho văn học, khoa học kĩ thuật còn là một thách thức lớn của văn học Sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã mang đến nhiều hình thức giải trí, nhiều cách thức khai thác thông tin cho con người, thu hút sự quan tâm của công chúng Văn học một mặt vẫn tiếp tục phát triển dựa trên sự phát triển của khoa học kĩ thuật,
Trang 18mặt khác, phải không ngừng cạnh tranh để không đánh mất vị trí đặc biệt của mình Trước tình hình đó, LLVH cũng luôn phải đổi mới để theo kịp sự phát triển của xã hội nói chung và văn học nói riêng Đặc biệt, trong xu thế đa ngành hóa như hiện nay, người làm công tác lí luận cần phải có kiến thức về một số lĩnh vực khác như Văn hóa học, Kí hiệu học, Nhân học văn hóa, Lí thuyết thông tin,… và vận dụng phối hợp một cách linh hoạt để khai thác tối đa các giá trị của văn học
Tóm lại, xã hội Việt Nam từ những năm 1960 đến nay có nhiều vận động, biến đổi sâu sắc Sự vận động và biến đổi ở mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng, vừa
có những đặc điểm của thời chiến, vừa có những đặc điểm của thời bình Giai đoạn trước 1975 đất nước còn chìm ngập trong chiến tranh Bước sang giai đoạn sau 1975,
xã hội Việt Nam là một xã hội của nhiều vận hội và thử thách, văn học nói chung và LLVH nói riêng giờ đây cũng chịu sự chi phối của quy luật mới – quy luật đời thường với những thuận lợi và khó khăn riêng, song phần thuận lợi vẫn là đáng kể hơn
Trong Đề cương văn hóa Việt Nam (1943), Đảng Cộng sản Đông Dương (nay
là Đảng Cộng sản Việt Nam) đã xác định: văn hóa là một mặt trận quan trọng của
cuộc đấu tranh cách mạng Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của
Trường Chinh trình bày tại Hội nghị văn hóa toàn quốc (7.1948) tiếp tục khẳng định
quan điểm ấy và đề ra ba phương châm xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam: dân tộc, khoa học, đại chúng Văn hóa dân tộc, đặc biệt là các giá trị văn hóa của quần
chúng lao động được coi trọng và phát huy cùng với việc tiếp nhận văn hóa xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, Trung Quốc Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh kéo dài và
sự đối lập về ý thức hệ trong thời kì “chiến tranh lạnh” trên thế giới lúc bấy giờ nên việc giao lưu văn hóa bị hạn chế, chủ yếu chỉ trong khối các nước xã hội chủ nghĩa Điều này cũng ảnh hưởng đáng kể đến đời sống văn hóa, văn học ở nước ta giai đoạn
ấy
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và nhân dân cùng với hai cuộc chiến tranh yêu nước vĩ đại đã khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống tinh thần của dân tộc Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần đoàn kết và ý thức
Trang 19cộng đồng Cùng với điều đó, ý thức giai cấp cũng được đề cao, chi phối đến nhiều mặt của đời sống xã hội và quan hệ con người Chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành
hệ tư tưởng chính thống trong xã hội, thay thế vị trí của các hệ tư tưởng khác đã từng
có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam những thời kì trước 1945 Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cộng đồng, lí tưởng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nền tảng
sức mạnh tinh thần của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến mà còn là nền tảng tư tưởng của văn học cách mạng Vì vậy, nền văn học giai đoạn này là sự tập trung thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân trong chiến đấu và sản xuất, nhằm bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà Chủ đề lớn quán xuyến dường như khắp mọi sáng tác cũng như nghiên cứu văn học những ngày này là tình yêu lớn đối với Tổ quốc
Bước sang giai đoạn sau 1975 đến nay, hòa mình vào cuộc sống mới, con người cũng nảy sinh những nhu cầu mới Trên thực tế, tư duy văn học cũ ngày càng
tỏ ra không phù hợp với thời kì mới, lối viết cũ đã không còn đáp ứng được nhu cầu phản ánh hiện thực đa dạng, đa chiều của cuộc sống sau chiến tranh, đôi khi, nó đã trói buộc người cầm bút và tạo nên những tác phẩm kém giá trị Yêu cầu đổi mới văn học ngày càng trở nên bức thiết, từ quan niệm nghệ thuật, quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người đến các thủ pháp nghệ thuật Vì vậy, nhu cầu đổi mới toàn diện diễn ra từ cả phía Đảng lẫn phía văn nghệ sĩ và các nhà lí luận, phê bình
Trước hết, chúng ta phải nói đến chủ trương đổi mới toàn diện của Đảng ta Nếu như đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế là quyết định, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong và phát triển của chế độ, của đất nước thì đổi mới trong văn hóa văn nghệ thực sự cởi trói cho người cầm bút, mang lại một sinh khí mới cho nền văn nghệ
đang mất đần sức sống Nghị quyết Đại hội VI của Đảng nêu rõ: “Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất” Đây chính là sự thể hiện nhận thức mới về CNNV: con người không
phải là phương tiện của mục đích xã hội mà là nhân tố thúc đẩy mọi hoạt động xã hội
và mọi hoạt động xã hội đều phải hướng tới mục tiêu phục vụ con người Trên cơ sở
đó, cách nhìn nhận, thẩm định các giá trị văn học nặng về ý thức hệ dần được điều
Trang 20chỉnh bằng cái nhìn toàn diện và sâu sắc từ trong bản chất của nghệ thuật Những ràng buộc khắt khe của tính tư tưởng có phần thô sơ, máy móc đối với tác phẩm được gạt bỏ Cách cư xử, can thiệp thô bạo làm ảnh hưởng tới số phận nhà văn và tác phẩm
vì không am hiểu hoặc do cực đoan, bất công,… dần dần được khắc phục Với sự thay đổi đó, chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước được thể hiện qua Đại hội VI thực sự là một thắng lợi to lớn:
Đại hội VI thật sự mang lại không khí dân chủ, với tinh thần “nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, tạo điều kiện cho sự chuyển hướng văn học Đây là giai đoạn văn học chuyển mình Một mặt, văn học vẫn bảo tồn những tinh hoa, truyền thống, mặt khác thể hiện sự trăn trở, thể nghiệm để đáp ứng yêu cầu mới sau chiến tranh và để khẳng định mình trong xu thế hội nhập
với văn học thế giới [51 ; tr 6]
Phấn khởi trước tình hình đó, phong trào sáng tác rộ lên trông thấy, như một sự hưởng ứng nhiệt tình trước một chính sách đúng đắn Có thể nói, chủ trương đổi mới của Đảng đã thực sự trở thành “cú hích” kích thích hoạt động sáng tác, mở ra một thời kì xán lạn cho văn nghệ
Tiếp tục tinh thần đó, Đại hội VII đã chỉ rõ: Đảng ta chủ trương xây dựng một
phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ” Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (1987) tập trung vào việc “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lí văn học nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo đưa văn học nghệ thuật
và văn hóa phát triển lên một bước mới” Đây là nghị quyết duy nhất dành riêng cho
văn nghệ từ trước cho tới lúc đó Nó mở ra một cái nhìn mới về vị trí, chức năng, vai
trò và ý nghĩa của văn nghệ Trong đó, văn học được xem là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng và văn hóa,… bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thận, mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội”
Thứ hai là nhu cầu đổi mới trong bản thân giới cầm bút Những điều kiện bên ngoài đã sẵn sàng cho sự đổi mới, vấn đề còn lại là người cầm bút có thực sự đổi mới
Trang 21từ trong chính bản thân mình hay không, có thanh toán được những thói quen cũ, lối nghĩ cũ và cách viết cũ hay không? Thực tế cho thấy, nhu cầu đổi mới trong bản thân giới cầm bút thể hiện cấp bách hơn bất cứ ai Là những người nhạy cảm, quan sát và môt tả cuộc sống, người nghệ sĩ có nhiều điều muốn nói hơn là được nói, thậm chí họ nói cả trước khi được cho phép Chính vì vậy, khi được Đảng tạo điều kiện nói thẳng,
nói thật, họ đã “được lời như cởi tấm lòng”, hăng hái đi sâu hơn để tìm hiểu, thể hiện
sự phức tạp và phong phú đang chờ đợi Tất nhiên, không chỉ bám vào mảnh đất hiện thực, nhiều người đã mở lối đi riêng, tìm đến những vùng đất mới, nơi dành cho
những người giàu trí tưởng tượng và óc sáng tạo Trong Suy nghĩ về một vài hướng tìm tòi đổi mới trong văn học, Hà Minh Đức đã nhận thấy điều này ở nhà văn:
Hiện thực, các mối liên hệ giữa hiện thực và phương thức biểu hiện vẫn là một vấn đề cần được bàn luận Một số nhà văn dường như không tìm được sự hấp dẫn của hiện thực quen thuộc vốn đã hiện hình và được nhận diện kĩ càng nên có xu hướng đi tìm cái lạ Cái lạ trong hiện thực chắc chắn là có sức hấp dẫn rồi vì trong nghệ thuật, nhiều lúc cái quen thuộc, cái cũ tồn tại và kéo dài trong nhiều thập kỉ (…) Cái lạ được chấp nhận cũng là cái mới và không dễ đem lại trong văn chương cái lạ [17; tr.24]
Thay đổi cái nhìn về hiện thực, về đối tượng phản ánh, các nhà văn còn thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người Nếu như trước đây, con người trong văn học kháng chiến thường là những “đồng chí” “có chung một tâm hồn, có chung một khuôn mặt” thì giờ đây, nó hiện lên với đầy đủ sự đa diện, với cả “rắn rết và rồng phượng” và với sự đa chiều
Việc đổi mới quan niệm nghệ thuật cũng bao hàm cả đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật Và, “bây giờ đã đến lúc cần đổi mới ngôn ngữ nghệ thuật” (Nguyễn Khoa Điềm) Trước cuộc sống mới, nhiều người cầm viết cảm thấy ngôn từ cũ như đang
thường, lối viết khác trước, trong văn xuôi, lối kể chuyện cũng có nhiều thay đổi, từ những thay đổi về sự dịch chuyển điểm nhìn sang nhiều nhân vật đến cách sử dụng ngon ngữ đối thoại, ngôn ngữ đời thường,
Trang 22Như vậy, là những người báo hiệu sự đổi mới của văn nghệ nói riêng và xã hội nói chung, khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, các nhà văn cũng trở thành những người tiên phong trong đổi mới từ quan niệm về nghệ thuật cho đến các quan niệm nghệ thuật về hiện thực, về con người hay ngôn ngữ và thủ pháp nghệ thuật
Bên cạnh đó, một quan niệm tiến bộ nữa mà chúng ta cần ghi nhận đó là mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng Nếu trước đây quan hệ đó chỉ thường có một chiều, nhà văn thường giữ vai trò độc diễn thì ngày nay, sự đối thoại giữa tác giả và độc giả được chú trọng Với tính đa thanh, tác phẩm thực sự là sản phẩm của sự kết hợp giữa người sáng tạo và đồng sáng tạo Sở dĩ có sự thay đổi này là vì văn học phải đáp ứng yêu cầu của một đối tượng người đọc mới Khi cái ăn chưa đủ no, nhu cầu tìm tới văn học dù sao đi nữa cũng vẫn không cao Nhưng một khi cuộc sống vật chất
đã được đáp ứng đến một mức độ nhất định thì nhu cầu về tinh thần trở nên bức thiết
Đó cũng chính là hoàn cảnh xã hội ta những năm sau đổi mới
Như vậy, không những tăng về số lượng, độc giả còn có cơ hội thưởng thức nhiều tác phẩm có chất lượng Sự phát triển của ý thức và trình độ thẩm mĩ trong tiếp nhận văn học buộc phải đổi mới từ bên trong Nói một cách công bằng thì không phải nhà văn là người chủ động nhận thấy cần đối thoại với độc giả của mình trong tác phẩm, mà chính độc giả đã buộc nhà văn phải làm như thế, phải trả lại không khí dân chủ cho quan hệ giữa người sáng tác và người tiếp nhận
Thứ ba, nhu cầu đổi mới LLVH là một quy luật khách quan Trong không khí đổi mới chung đó, LLVH Việt Nam sau 1975 cũng có sự chuyển mình Không khí
dân chủ, cởi mở đó đã được Phan Cự Đệ nêu rõ trong Đổi mới và quy luật:
Những cuộc tranh luận công khai, dân chủ đã tạo ra một khí sắc và nhuần nhị hơn nhiều vấn đề như mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, giữa văn nghệ và hiện thực cuộc sống… Những quan điểm bảo thủ hoặc cơ hội, cứng nhắc, giáo điều hoặc xã hội học dung tục đã bị tấn công quyết liệt nhằm làm sáng tỏ hơn những đặc trưng thẩm mĩ của văn học nghệ thuật và sự phát triển mới của lí luận văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.[15; tr.55]
Trang 23Như vậy, có thể nhận thấy văn học nói chung, LLVH Việt Nam nói riêng từ những năm 1960 đến nay tồn tại trong những điều kiện xã hội và tư tưởng phức tạp,
có nhiều chuyển biến sâu sắc Trong đó, ở giai đoạn trước 1975, đất nước phải tiến
hành hai cuộc chiến tranh lâu dài và ác liệt Văn học được xem là “cánh quân” tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Bước sang giai đoạn sau 1975, là một môi trường thấm đẫm tinh thần đổi mới, đổi mới từ chính trong bản thân người sáng tác, người thưởng thức, phê bình cho đến đổi mới từ phía người quản lí sinh hoạt văn ghệ Đó chính là tiền đề quý báu cho văn học thể hiện tính chất nhân văn, hiện đại, đồng thời giúp văn học luôn khẳng định được ý nghĩa, giá trị của nó đối với tinh thần của nhân loại
1.2 Tổng quan quá trình nghiên cứu
Vào những thập niên 50 của thế kỉ XX, cùng với sự ra đời của Ban Văn – Sử - Địa (Ban Nghiên cứu Khoa học Xã hội trực thuộc Trung ương Đảng Lao động Việt Nam - nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) là sự ra đời của Khoa Văn ở các trường ĐH Chính sự ra đời của khoa Văn đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu các vấn đề cơ bản trong đời sống văn học dân tộc và thế giới ở Việt Nam Trải qua hơn 60 năm hình thành, phát triển và biến đổi, nhiều vấn đề của khoa nghiên cứu văn học được nêu ra
và có những vấn đề đã được giải quyết Trong đó, vấn đề nhân đạo, nhân văn luôn là vấn đề hàng đầu trong nghiên cứu văn học những năm qua
Vấn đề nhân đạo, nhân văn được đề cập ở tất cả các bộ môn của khoa nghiên cứu văn học Tuy nhiên, ở đây chúng tôi chỉ tập trung quan tâm đến những vấn đề có tính lí luận được đề cập trong các công trình nghiên cứu văn học Căn cứ vào nội dung, đặc điểm các công trình nghiên cứu, chúng tôi chia quá trình nghiên cứu về vấn
đề nhân đạo, nhân văn ở Việt Nam từ những năm 1960 đến nay làm hai giai đoạn chính: giai đoạn từ những năm 1960 đến 1985 - trước thời kì đổi mới - và giai đoạn
từ 1986 - thời kì đổi mới - đến nay
1.2.1 Giai đoạn từ những năm 1960 đến 1985
Ở giai đoạn đầu này, tựu trung lại, các công trình nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong văn học ở Việt Nam tập trung vào ba nhóm vấn đề chính: 1/ Giới
Trang 24thiệu CNNĐ cộng sản và tư tưởng nhân đạo truyền thống Việt Nam, 2/ Phân tích biểu hiện nhân đạo trong các tác phẩm văn chương của Việt Nam và nước ngoài và 3/ Trực tiếp bàn luận đến các vấn đề lí luận của khái niệm nhân đạo, nhân văn trong văn học Ba vấn đề cơ bản này có sự nặng nhẹ khác nhau ở mỗi công trình, mỗi nhà nghiên cứu và sự phân chia ở đây cũng chỉ mang tính tương đối
Từ những năm 1960 đến trước 1986, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm tới việc giới thiệu tư tưởng nhân đạo cộng sản – tư tưởng của giai cấp vô sản và tư tưởng
truyền thống Việt Nam Những tư tưởng này đã được đề cập ở nhiều công trình khác
nhau nhưng trực tiếp nhất vẫn là hai công trình Chủ nghĩa nhân đạo của chúng ta (Lê
Xuân Vũ, NXB Sự thật, 1984) và Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản với vấn đề giáo dục
thế hệ trẻ, (Tập hợp các bài viết của nhiều tác giả, NXB Giáo dục, 1984)
Chủ nghĩa nhân đạo của chúng ta là một công trình có tính chất triết học, giới
thiệu về quá trình ra đời, đặc điểm của CNNĐ cộng sản - CNNĐ của giai cấp vô sản
Đó cũng chính là “CNNĐ của chúng ta” Cũng theo Lê Xuân Vũ, CNNĐ cộng sản là
sự “kết tinh những giá trị nhân đạo chủ nghĩa đã có của loài người” Một mặt, tác giả thừa nhận CNNĐ là giá trị chung của nhân loại mặt khác đề cao một cách tuyệt đối
CNNĐ cộng sản: “CNNĐ với tư cách là một giá trị chung của xã hội loài người đã
và đang ngày càng phong phú cao đẹp với sự xuất hiện và thắng lợi của CNNĐ cộng sản” [94; tr.7] Đề cập đến truyền thống nhân đạo Việt Nam, tác giả cho rằng, nó được kết tinh qua truyền thống “nhân ái”: “thương nước - thương nhà, thương người
Công trình tập thể Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản với vấn đề giáo dục thế hệ trẻ
(NXB Giáo dục, 1984), tập hợp nhiều bài viết của những nhà nghiên cứu khác nhau Đúng như tên gọi, công trình một mặt giới thiệu những tư tưởng nhân đạo tiến bộ của giai cấp vô sản và việc vận dụng chúng trong việc biên soạn, giảng dạy môn Văn học trong nhà trường, giáo dục tư tưởng cho thế hệ trẻ
Tóm lại, ở giai đoạn này các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một số nét về tư tưởng nhân đạo cộng sản và truyền thống “nhân ái” của dân tộc
Trang 25Trong đó, cảm hứng chủ đạo của các nhà nghiên cứu là ngợi ca CNNĐ cộng sản, kịch liệt phê phán, thậm chí phủ nhận giá trị của CNNV phương Tây – CNNV tư sản
Những tư tưởng nhân văn của các giai đoạn, các trào lưu, trường phái, các dân tộc khác chưa được chú ý nghiên cứu, giới thiệu Vì vậy, có thể nói, vấn đề nhân đạo, nhân văn ở thời kì này hiện lên như một bức tranh “thủy mặc”, chỉ có hai màu: đen và trắng, tốt và xấu
Bên cạnh các chuyên luận giới thiệu về tư tưởng của CNNĐ cộng sản và truyền thống “nhân ái” dân tộc, lí luận, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn này còn xuất hiện nhiều bài phê bình bàn luận đến biểu hiện nhân đạo trong các sáng tác của văn
học Việt Nam và nước ngoài Các bài viết chủ yếu được công bố trên tạp chí Nghiên cứu văn học (hay Tạp chí văn học)
Các bài phê bình về các tác phẩm, các nhà văn tiêu biểu của văn học nước ngoài
như “Chủ nghĩa nhân đạo trong tác phẩm Sêkhốp” (Nghiên cứu Văn học, số 2, 1960)
và “Iliat, bài ca hùng tráng, bài ca nhân đạo của người Hy Lạp cổ” (Nghiên cứu Văn học, số 9, 1962) của La Côn; “Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Tagor” của Cao Huy Đỉnh (Nghiên cứu Văn học, số 4, 1961, in lại trong Tạp chí Văn học, số 8,
1995), Nhìn chung, các bài viết mới chỉ tập trung vào những sáng tác của các nhà văn lớn ở một số nền văn học tiêu biểu, đặc biệt là hai nền văn học thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc Còn các bài phê bình chủ yếu đề cập đến
tinh thần nhân đạo lại xuất hiện trong văn học Việt Nam Điển hình cho khuynh hướng này là các công trình: “Trào lưu tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa trong văn học
Việt Nam thế kỉ XVIII” (Nghiên cứu Văn học, số 1, 1961) của Nguyễn Đức Đàn;
“Thử tìm hiểu về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi (Nghiên cứu Văn học, số 4,
1963) của Trần Nghĩa; “Bàn thêm về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi” (Tạp chí Văn học, số 3, 1964) của Bùi Văn Nguyên; “Chủ nghĩa nhân đạo và một số khuynh hướng văn học công khai trong vùng tạm chiếm miền Nam” (Tạp chí Văn học, số 4,
1972); “Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX và
sự ra đời của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa” (tr.81-127) in trong Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX (NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp,
Trang 261976) của Nguyễn Lộc; “Những truyền thống nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Việt Nam” (Tạp chí Văn học, số 2, 1984) của Hoàng Trinh,
Điểm qua các công trình trên, chúng tôi nhận thấy tinh thần nhân đạo, nhân văn trong văn học nước ngoài còn ít được quan tâm nghiên cứu so với văn học Việt Nam Đồng thời, bức tranh về tinh thần thần nhân đạo, nhân văn trong văn học chưa toàn diện, chưa bao quát được các nền văn học, các khuynh hướng tư tưởng khác nhau Do
đó, quan niệm về nhân đạo, nhân văn trong phê bình văn học cũng chỉ mới dừng lại ở lòng nhân ái
Mỗi công trình có mục đích, đặc điểm, phong cách, cách tiếp cận riêng Vì thế, kết quả cũng khá đa dạng Nhìn chung, đề cập đến vấn đề nhân đạo, nhân văn, các nhà nghiên cứu giai đoạn này cũng có nhiều điểm tương đồng
Điểm tương đồng đầu tiên là các nhà phê bình đều ưu tiên sử dụng khái niệm nhân đạo trong các công trình của mình Nếu như trước những năm 1960, khái niệm nhân văn được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu văn học thì đến giai đoạn này,
trong lí luận, phê bình, các nhà nghiên cứu chỉ sử dụng khái niệm nhân đạo (“nhân đạo”, “chủ nghĩa nhân đạo”, “tinh thần nhân đạo chủ nghĩa”, “trào lưu nhân đạo chủ nghĩa”, “truyền thống nhân đạo chủ nghĩa”, “bài ca nhân đạo”) Chúng tôi
chưa tìm thấy bài viết nào sử dụng khái niệm nhân văn Khái niệm nhân văn, nếu được sử dụng, chỉ để nói đến “bọn nhân văn” và những tư tưởng lệch lạc, phản nhân đạo của họ Mặc dù, các nhà nghiên cứu chỉ sử dụng khái niệm CNNĐ trong các bài phê bình của mình nhưng họ đều cho rằng khái niệm CNNĐ và CNNV là những ngữ đồng nghĩa Điều này cũng đã được Nguyễn Đức Đàn chú thích chi tiết: thuật ngữ
CNNĐ được dịch từ “chữ Humaisme, thay chữ chủ nghĩa nhân bản và chủ nghĩa nhân văn trước” [11; tr.28]
Điểm tương đồng thứ hai là về nội hàm khái niệm Mỗi bài viết có những luận điểm, cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung khái niệm nhân đạo được các tác giả sử dụng với nội hàm chủ yếu là: 1/ Kêu gọi tinh thần đấu tranh giai cấp, chống áp bức bóc lột, giải phóng dân tộc; 2/ Thể hiện sự đồng cảm với những khổ đau của con người, đặc biệt là những người nghèo khổ trong xã hội; 3/ Khát vọng vươn lên một cuộc sống tự do, hạnh phúc; 4/ Phê phán các thế lực chà đạp lên quyền sống con
Trang 27người; lối sống tư sản, cá nhân chủ nghĩa, một số trào lưu triết học “suy đồi”; và 5/ Không thừa nhận mặt tự nhiên, bản năng của con người (Phản nhân đạo)
Điểm tương đồng thứ ba là về giá trị của tinh thần nhân đạo Các công trình
nghiên cứu tuy không trực tiếp nêu ra vai trò của giá trị nhân đạo như giá trị hiện thực
hay các thứ tính: tính Đảng, tính nhân dân, nhưng đọc các bài viết chúng ta có thể
dễ dàng nhận thấy, giá trị nhân đạo được các nhà lí luận, phê bình Việt Nam xem như
là một tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá giá trị của các tác phẩm và các nhà văn
So với các lĩnh vực khác, các công trình mang tính lí thuyết đòi hỏi ở người nghiên cứu sức khái quát và khả năng trừu tượng hóa cao Do đó, ở giai đoạn này, LLVH Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề nhân đạo có tính chất lí thuyết trong văn học nói chung, văn học Việt Nam nói riêng Các công trình lí luận ở giai đoạn này chủ yếu đề cập đến các vấn đề cơ bản như tính “nhân học” của văn học, tính người, phân biệt các khái niệm,
Tính người là một trong những vấn đề quan trọng nhưng phức tạp, nhạy cảm
và khó đi đến cùng Từ rất sớm, Vũ Đức Phúc (“Bàn về thuyết tính người trong văn
học”, Nghiên cứu Văn học, số 5, 1962) đã trực tiếp nêu ra vấn đề tính người trong văn
học Mục đích chủ yếu của bài viết không phải là xác lập những vấn đề có tính lí luận
về tính người trong văn học mà là mang tính luận chiến, nhằm mục đích phê phán
“thuyết tính người” của văn học tư sản - “tính người trừu tượng” Từ đó, tác giả phủ
nhận tính người trong văn học nói chung, quy tính người về tính giai cấp:“chỉ có tính người cụ thể, không có tính người trừu tượng, trong xã hội, tính người phải có tính giai cấp” [58; tr.8] và, tác giả viết tiếp: “từ khi bắt đầu có loài người đến nay không
có một thứ tính người nào đẹp hơn và trong hơn tính giai cấp vô sản với CNNĐ của nó ” [58; tr.8] Đây cũng là quan niệm phổ biến ngự trị trong nhiều công trình nghiên cứu văn học giai đoạn này khi bàn luận về vấn đề tính người trong văn học
Đến những năm 80 của thế kỉ XX, xuất hiện nhiều công trình lí luận bàn về
vấn đề con người trong văn học Cụ thể là Tìm hiểu văn học của Lê Đình Kỵ (NXB
TP HCM, 1984) Đây là một chuyên luận có giá trị về những vấn đề nguyên lí của
Trang 28LLVH Tuy đây không phải là công trình dành riêng cho vấn đề nhân đạo, nhân văn
nhưng bản chất “nhân học” của văn học vẫn được tác giả trực tiếp khẳng định và đề
cao ở nhiều góc độ: “Văn học là nhân học Từ đối tượng, nội dung đến ý nghĩa, vấn
đề sống còn của văn học là vấn đề con người” [39; tr.47] Cũng như nhiều công trình
khác, theo tác giả, vấn đề “sống còn” của văn học không phải là những vui buồn, khổ đau, hạnh phúc, thường tình của con người mà phải là vấn đề đấu tranh giai cấp,
giải phóng con người, dân tộc: “Tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa mà tách rời tư tưởng giải phóng thì chỉ còn là một điều trừu tượng trống rỗng” [39; tr.47] Hay, “Chủ nghĩa nhân đạo tích cực, chủ nghĩa nhân đạo cách mạng không bằng lòng với tình thương chung chung” [39; tr 37]
Ở một khía cạnh khác, xem xét văn học trong tiến trình lịch sử dân tộc, Lê Trí
Viễn (Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư
phạm TP HCM, 1984), cho rằng tư tưởng nhân văn là một trong hai luồng tư tưởng
biểu hiện và nội dung của tư tưởng nhân văn có sự khác nhau ở các giai đoạn lịch sử dân tộc Bàn về tên gọi và nội hàm khái niệm, ông cho rằng “nhân đạo”, “nhân văn”,
“nhân bản” hay thậm chí “nhân ái” chỉ là những cách gọi khác nhau của cùng một khái niệm:
Khái niệm nhân đạo có những tiền thân của nó Trong lời nói thông thường, đó là
“tình thương, lòng thương người” Trong thuật ngữ văn học trước đây, người ta dùng “nhân bản, nhân văn” Nay, có khi cũng nói “nhân ái” Thông dụng hiện nay là thuật ngữ “nhân đạo” Nói nhân đạo là nói con người, ý thức về con người[91; tr 184]
Có thể nói, năm 1984 lí luận, phê bình văn học Việt Nam đạt được nhiều thành tựu khi có nhiều công trình trực tiếp bàn về vấn đề nhân văn trong nghiên cứu văn học Tuy những quan niệm, nhận thức đó còn sơ lược, đôi khi còn mang tính phiến diện, định kiến, chủ quan nhưng các nhà nghiên cứu đã góp phần từng bước xác lập
cơ sở lí luận cho việc xác lập bản chất “nhân học” của văn học Họ cũng nhận thức được con người là vấn đề sống còn của văn học Đây cũng là dấu hiệu khơi nguồn
Trang 29cho nhu cầu nhận thức, lí giải những vấn đề cấp thiết của vấn đề nhân văn trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam các giai đoạn tiếp theo
Tóm lại, ở giai đoạn từ những năm 1960 đến trước 1986 vấn đề nhân đạo, nhân văn còn ít được quan tâm, bàn luận trong nghiên cứu văn học Trong ba xu hướng chính đề cập đến vấn đề nhân văn trong lí luận, phê bình văn học giai đoạn này, xu hướng phân tích, tìm hiểu biểu hiện tinh thần nhân đạo trong các tác phẩm văn học thu hút được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bài bàn luận đến Các bài viết mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên một hoặc một vài biểu hiện nào đó của giá trị nhân đạo trong các tác phẩm văn học Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi so với những công trình LLVH - thường có tính khái quát và trừu tượng cao - những bài biết dạng này thường là những bài cảm nhận, chia sẻ Nhưng đây lại là những “chất liệu” quan trọng giúp các nhà lí luận khái quát thành các nguyên lí chung về vấn đề nhân văn trong nghiên cứu văn học
1.2.2 Giai đoạn từ 1986 đến nay
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu về vấn đề nhân văn ở giai đoạn trước, bước sang giai đoạn từ sau những năm 1986, ba xu hướng cơ bản trên vẫn tiếp tục được khơi sâu, mở rộng Bên cạnh đó, LLVH cũng có sự khôi phục và phát triển thêm nhiều vấn đề cũ - mới của phạm trù nhân văn trong nghiên cứu văn học
Khác so với giai đoạn trước, ở giai đoạn từ 1986 đến nay, bên cạnh việc giới
giới thiệu “CNNV hiện thực” của giai cấp vô sản, các nhà nghiên cứu còn chú ý giới thiệu về “CNNV trừu tượng” của giai cấp tư sản Bên cạnh việc giới thiệu tư tưởng nhân văn trong văn học phương Đông còn có sự giới thiệu tư tưởng nhân văn trong văn học phương Tây Vì vậy, bức tranh về vấn đề nhân văn trong nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn này trở nên đa sắc màu, đa góc cạnh hơn
CNNV thời kì Phục hưng vẫn là một sức hút lớn đối với các độc giả cũng như các nhà nghiên cứu ở Việt Nam Vì vậy, bài viết: “Những vấn đề cơ bản và sự biểu
hiện của CNNV thời đại phục hưng ở châu Âu (thế kỉ XIV - XVI) ở châu Âu”
Trang 30phần, ở phần một, tác giả đã trình bày khái quát những vấn đề cơ bản của CNNV: khái niệm, lịch sử ra đời, tư tưởng cơ bản, mối liên hệ với các khái niệm lân cận và bốn đặc trưng làm nên bản chất của CNNV Phục hưng Ở phần 2, bài viết phân tích những biểu hiện của CNNV Phục hưng thông qua sự hình thành, phát triển văn minh công nghiệp và tâm thế con người châu Âu thời Phục hưng
Cùng với việc giới thiệu về những tư tưởng của CNNV trong văn học thời Phục hưng, ở thời kì này, các nhà nghiên cứu cũng chú ý giới thiệu một cách có hệ thống về những tư tưởng nhân văn trong các phong trào, các nền văn học khác ở cả phương Đông lẫn phương Tây Những tư tưởng nhân văn truyền thống phương Đông
đã được Trần Ngọc Vương phân tích, lí giải trong công trình “Giới hạn của nội dung
nhân đạo chủ nghĩa trong văn chương Nho giáo” (Tạp chí Văn học, số 7, 1996) Một
mặt, tác giả khẳng định vai trò của CNNV trong sự phát triển của văn học, mặt khác, theo ông, giới hạn của nội dung nhân văn chủ nghĩa trong văn chương Nho giáo được
thể hiện tập trung trong phạm trù Nhân - Nghĩa: “nhân nghĩa có nội dung nhân đạo chủ nghĩa, và mặt khác, nó có nội dung phản nhân đạo” [99; tr 21] Đặc biệt, ở thời
kì này xuất hiện công trình Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học hiện đại (sưu tập chuyên đề)” do Viện Thông tin Khoa học Xã hội - Ủy ban Khoa học Xã hội Việt
Nam tập hợp tám bài viết, dịch thuật của bảy nhà nghiên cứu có uy tín ở Việt Nam Công trình vừa “có tính chất giới thiệu những bộ mặt của nghiên cứu văn học xét từ góc độ của chủ nghĩa nhân đạo” [96; tr.1-2] vừa có tính lí luận sâu sắc Công trình là
cột mốc quan trọng góp thêm tiếng nói khẳng định nhu cầu đổi mới tư duy LLVH ở Việt Nam, đặc biệt là đổi mới cách nhìn nhận, đánh giá về con người trong văn học dưới ánh sáng nhân văn
Như vậy, so với giai đoạn trước, các công trình ở giai đoạn này có tính hệ thống, tính khái quát cao hơn Đó là một bước tiến mới trong nhận thức, nghiên cứu
về vấn đề nhân văn trong văn học Mỗi bài viết giới thiệu một bức tranh chung của một nền văn học dưới ánh sáng nhân văn Tổng hợp lại, cho chúng ta một bức tranh tương đối hoàn chỉnh về các nền văn học trên thế giới từ ánh sáng của giá trị nhân văn Qua các bài viết, chúng ta có thể chia công trình làm hai phần: phần đầu giới thiệu khái quát về CNNĐ cộng sản, với bài viết “Về chủ nghĩa nhân đạo cộng sản”
Trang 31của Hoàng Ngọc Hiến; phần 2 là các bài viết giới thiệu tư tưởng nhân văn trong các nền văn học khác nhau trên thế giới Đó là các nền văn học của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa quen thuộc như Xô viết, Rumani, Trung Quốc: “Về lòng nhân ái” của Granin do Lê Sơn dịch (tr.29 - 35), “Chủ nghĩa nhân văn trong sáng tác của Dostoevskij” do Đỗ Thúy Hà tổng thuật (tr.16 - 28), “Tinh thần nhân đạo của văn học
Xô Viết” do Hà Minh Thắng lược thuật (tr.36 - 46), “Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Rumani hiện đại” do Nguyễn Văn Dân tổng thuật (tr.47 - 53), “Việc phản ánh con người thực tại trong văn học Trung Quốc hiện nay” do Lý Thế Vọng tổng thuật (tr.65 - 73); đó còn là những nền văn học còn mới lạ như văn học Mĩ Latin: “Tư tưởng nhân đạo trong văn học Mỹ Latin của Nguyễn Thị Khánh tổng thuật (tr.54 - 64), hay văn học như phương Tây hiện đại: “Thân phận con người và trách nhiệm của nhà văn trong văn học phương Tây hiện đại” do Nguyễn Văn Dân viết (tr.74 - 82)
Các bài viết đề cập đến những vấn đề khác nhau của tư tưởng nhân văn trong các nền văn học nhưng nhìn chung đều tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:
1/ Khẳng định vai trò to lớn và bền vững của CNNV đối với sự phát triển của văn học nói riêng, đối với con người và xã hội nói chung Trong bài “Tư tưởng nhân đạo trong văn học Mĩ Latin”, có đoạn:
C ác tác phẩm, các nhà văn, có thể có các dạng thái khác nhau, nhưng nếu không chủ nghĩa nhân đạo thì sẽ dẫn đến cái vô nghĩa ( ) nó can dự vào nhiều lĩnh vực khác nhau, nó luôn luôn được coi là một điểm chuẩn, một dấu hiệu chỉ đường và thậm chí còn là dấu hiệu của tiềm năng sáng tạo Nó là một tiêu chuẩn định hướng, làm cho con người hòa hợp với chính mình, với sản phẩm, tư tưởng và hành động của nó [96; tr.52-53]
Do đó, “tư tưởng nhân đạo là giá trị bền vững nhất, là cảm hứng chủ đạo của các nhà văn lớn” [96; tr.56]
2 Một nền văn học được xem là nhân văn “nghĩa là nó quan tâm tối đa tới con người, tới những giá trị của con người” [96; tr.52] Sự quan tâm tới con người ở mỗi
dân tộc có những điểm riêng Bên cạnh những giá trị của tư tưởng nhân văn truyền thống (chủ yếu trong văn học dân gian) của các dân tộc như lòng yêu thương, trân trọng đối với con người vẫn tiếp tục được kế thừa, thì ở các bài viết cũng từng bước
Trang 32xác lập và khẳng định những giá trị, phẩm chất cá nhân, cá tính trong mỗi con người Chính sự thấu cảm trước những nỗi cô đơn, dục vọng của con người đã làm nên CNNV riêng của Dostoeveski
Các bài viết đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về tư tưởng nhân văn trong các nền văn học khác nhau trên thế giới Từ đó, có sự đối chiếu,
so sánh với tư tưởng nhân văn trong văn học Việt Nam Đây là điều mà ở giai đoạn trước chúng ta chưa làm được Đồng thời, công trình còn được xem như “cách én báo hiệu một mùa xuân mới sắp về”
Bên cạnh đó, sự vận dụng tìm biểu hiện nhân văn trong các tác phẩm văn chương đăng trên các tạp chí, hay tuyển in trong một số sách vẫn tiếp tục được phát
triển Chẳng hạn như các công trình: “Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh” (Tạp chí Văn học, số 5, 1995) của Lưu Liên; “Chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ độc đáo của Nam
Cao – Sự ý thức về cá nhân” (Tạp chí Văn học, số 9, 1996) của Hà Bình Trị; Cảm hứng dân tộc – cảm hứng nhân văn qua thơ Nôm vịnh sử của Lê Thánh Tông (Tạp chí Văn học, số 8, 1997) của Bùi Văn Dân; “Chất hiện đại trong tư tưởng nhân văn và nghệ thuật viết truyện của Nam Cao” (trong sách Văn học, văn hóa: Vấn đề và suy nghĩ, NXB Khoa học Xã hội, 2002, tr.564 – tr.576) của Nguyễn Văn Hạnh; “Cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Minh Châu qua hai truyện ngắn Cỏ lau và Phiên chợ
tr.206 - 213) Của HoàngThị Văn; “Bi kịch tự ý thức – nét độc đáo trong cảm hứng
nhân đạo của Nam Cao” (trong Bích Thu tuyển chọn và giới thiệu (2005), Nam Cao
về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo Dục, tr.151 – 154) của Đinh Trí Dũng; Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam sơ kì trung đại (NXB Giáo dục, 2007) của Đoàn Thị
Thu Vân; “Cảm hứng nhân văn trong tiểu thuyết Vi Hồng” (Nghiên cứu Văn học, số
10, 2011) của Đào Thủy Nguyên, “Ý thức phản tỉnh - một nét đẹp nhân văn trong thơ
thời Trần” của Đoàn Thị Thu Vân (http://www.hcmup.edu.vn) và nhiều bài viết khác đăng trên các trang mạng
Điểm qua các bài viết của một số nhà nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy bên cạnh
khái niệm nhân đạo vẫn được một số nhà nghiên cứu sử dụng (“chủ nghĩa nhân đạo”,
Trang 33“cảm hứng nhân đạo”) thì ở giai đoạn này còn có sự “hồi sinh” của khái niệm nhân văn (“tư tưởng nhân văn”, “cảm hứng nhân văn”, “nét đẹp nhân văn”, “con người nhân văn”) Trong đó, khác với giai đoạn trước, khái niệm nhân văn được các nhà
nghiên cứu ưu tiên lựa chọn và sử dụng ngày càng phổ biến hơn
Thứ hai, nội hàm khái niệm nhân văn cũng có sự mở rộng sang nhiều lĩnh vực, nhiều nghĩa mới Ở giai đoạn trước, các nhà nghiên cứu sử dụng khái niệm này chủ yếu nói về lòng yêu thương gắn liền với ý thức đấu tranh giai cấp, thì ở giai đoạn này, những khía cạnh bị phê phán trước đây lại được khẳng định như bi kịch cá nhân, sự
tự ý thức về cá nhân, Xu hướng “hướng nội” đã bổ sung cho xu hướng “hướng ngoại” trước đây khi nhìn nhận, đánh giá về con người
Thứ ba, giá trị nhân văn tiếp tục được xem là tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá giá trị của văn học
Cùng với chuyển biến trong công tác giới thiệu tư tưởng nhân văn trên thế giới
ở Việt Nam và phê bình văn học từ góc độ nhân văn, ở giai đoạn này, vấn đề nhân văn cũng được bàn luận thẳng thắn ở nhiều bài viết, chuyên luận, sách tham khảo, của các nhà lí luận hàng đầu ở Việt Nam Tiêu biểu như các công trình “Chủ nghĩa
nhân đạo trong văn học nghệ thuật” của Phùng Quý Nhâm (trong Lí luận văn chương (sơ giản) (1986), Trường ĐH Sư phạm TP HCM); “Nội dung và ý nghĩa của chủ nghĩa hiện thực trong văn học” (Tạp chí Văn học, 1987) của Nguyễn Văn Hạnh; Nhìn lại tư tưởng văn nghệ thời Mỹ ngụy (NXB TP HCM, 1987) của Lê Đình Kỵ; “Tính nhân loại và văn học” (Báo Văn nghệ số 1, 2, năm 1988 và được in lại trong tuyển tập
Lý luận và phê bình văn học (NXB Văn học, 1993; NXB Giáo dục, 1996, 2003, 2012) của Trần Đình Sử; Lí luận và văn học (1990) của Lê Ngọc Trà; Lí luận văn học: vấn đề và suy nghĩ (1991) của Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương; Những tín hiệu mới (NXB Hội Nhà văn, 1994) của Huỳnh Như Phương; Quy luật phát triển văn học (NXB Giáo dục, 1999) của Lê Trí Viễn, “Chủ nghĩa nhân văn hiện thực trong văn học, nghệ thuật” của Phùng Quý Nhân (Lí luận, phê bình văn học, nghệ thuật, số 5, 2013),
Trang 34So với giai đoạn trước, ở giai đoạn này, các công trình bàn về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong LLVH có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng Đồng thời, cũng chính những vấn đề này đã đem lại những thành công nhất định cho các nhà nghiên cứu Các bài viết đã bàn luận đến nhiều vấn đề lí luận của phạm trù nhân văn trong LLVH như mối quan hệ giữa CNNV và chủ nghĩa hiện thực, tính người trong văn học, giá trị và biểu hiện của CNNV trong văn học, Chẳng hạn trong bài “Tính nhân loại và văn học”, Trần Đình Sử đã trực tiếp phê phán và tiến tới bác bỏ những quan điểm dung tục phủ nhận tính người trong văn học hay những quan niệm cho rằng, trong xã hội có giai cấp, tính người đã được thay thế bằng tính giai
cấp Và, tư tưởng của các nhà mác xít là “khẳng định tính người, không đồng nhất tính giai cấp vào tính người ( ), bởi vì điều đó có nghĩa là thủ tiêu giai cấp cũng tức
là thủ tiêu tính người hoặc nếu không thì chỉ là thay thế tính giai cấp này bằng tính
bỏ qua bản thân mục đích cuối cùng của tiến bộ” [65; tr 71] Cũng theo tác giả, tính
người không phải ổn định, bất biến, bên cạnh những “cái phẩm chất cao nhất” vẫn tồn tại, nó còn không ngừng được bổ sung thêm “các phẩm chất mới” của con người
ở những thời đại sau
Đáng chú ý, từ cuối những năm 1980 của thế kỉ XX, vấn đề nhân văn đã có một bước tiến mang tính “cách mạng” khi nó chính thức đặt chân vào nhà trường Xu hướng nghiên cứu mới, chính quy ở các trường ĐH, CĐ trong cả nước với các khóa luận, luận văn, luận án của các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học đánh dấu một bước phát triển mới của vấn đề nhân văn trong nghiên cứu văn học Việt Nam Đây là xu hướng chưa từng xuất hiện ở giai
đoạn trước 1986 Chẳng hạn như các công trình: Giá trị nhân văn trong “Thương sơn thi tập” của Miên Thẩm (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, 2000) của Ngô Thời Đôn; Vấn đề nhân đạo chủ nghĩa trong truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám – 1945 (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội, 1989) của Nguyễn Thế Hinh, Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh) của Phạm Thanh Hùng, Chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng giải thoát trong thơ thiền
Trang 35thời Lý - Trần (Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2003) của Lê Thị Ngọc Hạnh, Cảm hứng bi kịch nhân văn trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH Sư phạm
Hà Nội, 2004) của Bùi Lan Hương, Tìm hiểu chủ nghĩa nhân văn trong trào lưu tư tưởng khai sáng Pháp thế kỷ XVIII (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội,
2008) của Phạm Thị Thu Hương,
Các Luận án, Luận văn, Khóa luận đã góp phần giới thiệu tư tưởng nhân văn của các tác giả, tác phẩm ở những nền văn học, ở những thời kì khác nhau đến đông đảo bạn đọc Việt Nam Qua đó, chúng ta thấy sự thay đổi trong quan niệm, cách nhìn nhận và đánh giá về vấn đề nhân văn trong nghiên cứu văn học Nhiều tác phẩm, nhà văn trước đây bị lên án, phê phán nay được soi xét lại từ góc độ nhân văn, đem lại nhiều phát hiện mới Những vấn đề này sẽ được chúng tôi phân tích kĩ hơn trong chương 3 của Luận văn này
Tóm lại, những tiền đề xã hội và tư tưởng Việt Nam từ những năm 1960 đến nay có nhiều vận động, biến đổi sâu sắc Chủ nghĩa Mác – Lênin vốn du nhập vào nền văn hóa Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đã trở thành hệ tư tưởng chính thống trong
xã hội, thay thế vị trí của các hệ tư tưởng khác đã từng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Việt Nam những thời kì trước 1945 Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công đến 1975, đất nước chìm ngập trong khói lửa chiến tranh giải phóng dân tộc Do
đó, chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, cùng với tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng, ý thức giai cấp trở thành tư tưởng chủ đạo, chi phối mọi mặt hoạt động của con người, trong đó, có hoạt động sáng tác, nghiên cứu văn học
Từ sau 1975, đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, đội ngũ các nhà lí luận có điều kiện chuyên tâm vào công việc nghiên cứu của mình Môi trường giao lưu văn hóa cởi mở là cơ hội lí tưởng để các nhà LLVH Việt Nam được tiếp xúc với
hệ thống các quan điểm hiện đại trên thế giới, đưa nền LLVH Việt Nam bắt nhịp với
sự phát triển chung của nền LLVH hiện đại thế giới Sự phát triển của khoa học kĩ thuật sẽ là nhịp cầu đưa các nhà lí luận của Việt nam và thế giới gần nhau hơn, đến gần độc giả hơn, đồng thời cung cấp cho họ những phương tiện mới để khám phá giá trị cũng như nắm bắt các quy luật của văn chương tốt hơn Nền kinh tế thị trường sẽ
Trang 36là một cuộc cạnh tranh dân chủ, tự do, bình đẳng Đó sẽ là sàn đấu mà chỉ những ai
có đủ bản lĩnh mới trụ lại được Với những thuận lợi ấy, chúng ta đã có đủ lạc quan
để vượt qua những khó khăn thử thách Đây chính là cơ hội mới, vận hội mới cho sự đổi mới đi lên của LLVH Việt Nam, một nền lí luận đến thời điểm này đã lạc hậu so với thế giới Hòa chung không khí đổi mới đó, nghiên cứu vấn đề nhân đạo, nhân văn, một vấn đề còn nhiều tranh cãi trong LLVH, tất yếu sẽ có nhiều điều đáng quan tâm
Qua việc phân tích tổng quan quá trình nghiên cứu về vấn đề nhân đạo, nhân văn trong văn học, chúng tôi nhận thấy sự tiếp thu tư tưởng nhân đạo, nhân văn của các phong trào, các học thuyết, trường phái trên thế giới ở Việt Nam nhìn chung là thiếu tính hệ thống, chưa triệt để Chúng ta chủ yếu chỉ vận dụng, bàn luận đến một
số luận điểm thích thú nào đó Thêm nữa, chúng ta còn có biểu hiện đi từ phủ nhận đến chấp nhận xô bồ, thiếu tinh thần phản biện, phê phán Sự tiếp nhận còn phụ thuộc nhiều vào lập trường chính trị, giai cấp chứ chưa xuất phát từ đặc trưng, bản chất của văn học Đồng thời, vấn đề nhân đạo, nhân văn có vị trí, vai trò khác nhau ở mỗi giai đoạn lịch sử
Trang 37C HƯƠNG 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN XÁC LẬP KHÁI NIỆM NHÂN ĐẠO NHÂN VĂN TRONG GIÁO TRÌNH LÍ LUẬN VĂN
HỌC VIỆT NAM
Vấn đề nhân đạo, nhân văn luôn là vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu văn học,
ở cả phương Tây và phương Đông Đây là khái niệm có tính lịch sử và tính dân tộc sâu sắc Ở chương này, chúng tôi sẽ bàn luận đến các vấn đề lí luận cho việc xác lập khái niệm nhân văn trở thành một phạm trù, một phẩm chất của văn học trong các GTr LLVH Việt Nam
2.1 Lược sử khái niệm nhân đạo, nhân văn
2.1.1 Phương Tây
Ở phương Tây, khởi nguyên của chủ nghĩa nhân văn (humaism) như một
chương trình giáo dục – văn hóa được các nhà bác học, triết học xây dựng nên bởi các bài học, lí luận triết học, đạo đức học về đạo làm người được khai sinh lần đầu tiên ở Greece (Hy Lạp) vào thế kỉ IV – V trước Công nguyên Chương trình này nhằm phát triển toàn diện tài năng và sự sáng tạo cao nhất những sở trường của con người trong những lĩnh vực mà họ có khả năng Mặc dù vậy, trong ngôn ngữ của người Hy Lạp, không có từ “CNNV” Tuy nhiên, mối quan tâm đối với con người và những chân giá trị của họ luôn trở thành tâm điểm trong tư duy của người Hy Lạp ở giai đoạn này trong nhiều lĩnh vực như triết học, lịch sử, kịch
Mãi đến thế kỉ thứ XIX mới xuất hiện tên gọi “CNNV” (hay còn gọi là
“CNNĐ”), các tiếng dòng Latin như tiếng Anh gọi là “humanism” Nó vốn gốc tiếng
Latin là Humanus, có nghĩa là thuộc về con người và Humanitas, có nghĩa là môn học nghiên cứu về con người và tự nhiên, nghiên cứu bản chất, vị trí, giá trị, cá tính của con người Môn học này nhằm làm thế nào để có được nền giáo dục có thể phát huy tối đa tài năng của con người Thuật ngữ “CNNV” theo chữ Latin “humanismus” được dùng trong nhà trường Đức từ năm 1806 Năm 1836 nhà sử học Georg Voigt
người Đức chuyển dịch thuật ngữ này sang tiếng Anh là “humanism” Thuật ngữ
“humanism” được dùng để mô tả phong trào văn hóa thời kì Phục hưng (thế kỉ XIV - XVI), bắt đầu từ nước Italia sau đó lan rộng khắp châu Âu Nội hàm cơ bản của khái
Trang 38niệm là xem con người là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên chứ không phải do chúa trời tạo ra; đề cao cuộc sống trần thế và trong thế giới này quan trọng nhất là con người, tôn vinh nhân phẩm, chú ý tới những gì con người quan tâm, đề cao các
năng lực của con người, nhất là năng lực duy lí
Đó là những nội dung cơ bản làm nên bản chất của CNNV thời Phục hưng Một bước đột phá mang tính cách mạng rất sâu sắc trong tư duy của con người thời đại Nói một cách khác, tư tưởng của CNNV Phục hưng đã đề cao con người thành chủ thể của thế giới Con người tự quyết định cuộc sống của mình chứ không phải Chúa trời Con người cũng là động vật, cho nên dục vọng tự nhiên hay quyền con người (human right) cũng được thừa nhận Do đó, cái tự nhiên trở thành cái tất nhiên, trở thành điểm tựa của đạo đức và là tiêu chuẩn của chân – thiện – mĩ Những tư tưởng này đã nhanh chóng lan tỏa và bắt rễ khắp mọi nơi trên thế giới bất kể những bất đồng về văn hóa, chính trị hay những xa cách về mặt không gian và thời gian Những tư tưởng của CNNV cũng đã được bổ sung, phát triển ở các giai đoạn tiếp theo Tuy nhiên, ở mỗi nền văn hóa khác nhau, lại có sự tiệp nhận không giống nhau
Ở phương Đông, đặc biệt là Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng của Tam giáo: Nho giáo, Phật giáo và Lão giáo, buổi đầu, tư tưởng nhân văn là tổng hòa các tư tưởng dân chủ thời cổ đại, học thuyết nhân nghĩa của Nho giáo, tư tưởng “từ bi bác ái” của Phật giáo, những yếu tố giải phóng tư duy con người trong tư tưởng Lão – Trang Tư tưởng nhân văn phương Đông thường chú trọng đến sự hài hòa giữa con người với tự nhiên
Thuật ngữ “CNNV” đi vào nền văn hóa Trung Quốc và có ý nghĩa như ngày nay vốn được các trí thức của họ tiếp thu và chuyển dịch từ Nhật Bản Tuy nhiên, đây vốn là những từ đã có sẵn trong nền văn hóa truyền thống Trung Quốc nhưng đã được biểu thị một nội hàm mới
Văn hóa truyền thống của người Trung Quốc, trước khi tiếp nhận nội hàm khái
niệm “CNNV” của phương Tây, tồn tại cả hai khái niệm: nhân đạo và nhân văn
Theo Doãn Chính, nhân đạo “là khái niệm thường dùng trong triết học Trung Quốc, trong Nho gia, trừ số ít ngoại lệ, phần lớn đều quan niệm nhân đạo là nhân
Trang 39luân, đạo lí của con người, cái để con người trở thành người Đạo gia coi nhân đạo
và thiên đạo đối lập nhau, coi nhân đạo theo nghĩa xấu: “mất đạo mới có đức” [4;
tr.465] Theo ông, nội hàm khái niệm nhân đạo trong nền triết học truyền thống Trung Hoa bao gồm các nghĩa cơ bản sau: 1/ Nhân đạo là con đường để con người trở
thành người (Chu Dịch, Thuyết quái truyện); 2/ Nhân đạo chính là nhân luân (Trang
Tử, Lễ Ký, Lễ thư); 3/ Nhân đạo là khuôn mẫu, quy tắc luật lệ của nhân gian (Đạo đức kinh); 4/ Nhân đạo là có làm mới có tích lũy (Trang Tử) và 5/ Nhân đạo tức việc của người (Kinh Dịch) [4; tr.465-466]
Ở Trung Quốc, nhân đạo hay CNNĐ là một khái niệm thuộc phạm trù lớn hơn
là “đạo” - một trong những phạm trù cơ bản, phức tạp nhất của nền triết học Trung Quốc Trải qua lịch sử tiếp biến văn hóa, nó cũng có nhiều biến đổi, có sự hòa quyện giữa tư tưởng văn hóa truyền thống Trung Quốc và tư tư tưởng văn hóa hiện đại của nhân loại
Khái niệm “nhân văn” vốn có nguồn gốc trong Kinh dịch (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ (bậc thánh nhân quan sát nhân văn như lễ nhạc thi thơ để giáo hóa nhân loại cho nên người) Nhân văn là:
Phạm trù triết học văn hóa và đạo đức trong triết học Trung Quốc cổ đại, nguyên
để chỉ cái văn vẻ, tốt đẹp của con người trong xã hội Cái tốt đẹp văn vẻ của con người, theo quan điểm “Thiên nhân tương đồng” của Nho gia, đó chính là biểu hiện sự hài hòa, hanh thông, giữa cứng mềm, sáng tối, âm dương…của trời đất và tro ng đời sống con người, là tri thức, đạo đức, quan hệ đời sống hài hòa, tốt đẹp cùng với lòng vị tha, yêu thương của con người [4; tr.484]
Ngày nay, theo Lâm Ngữ Đường, người Trung Quốc quan niệm CNNV bao
gồm ba điểm chính: “điểm nhất là quan niệm chính xác về mục đích tối hậu của đời người, điểm hai là tin tưởng trọn vẹn vào những mục đích đó, điểm ba là theo tinh thần tình cảm và lí trí của nhân loại để đạt được mục đích đó” [18; tr.159] Còn theo các tác giả Từ điển Trung Hoa, không có sự phân biệt giữa CNNV và CNNĐ:
khoan dung, lòng yêu thương mênh mông, niềm tin vào sức mạnh và phẩm giá con người” (dẫn theo [23; tr.59])
Trang 40Có thể nói, hiện nay, ở Trung Quốc cũng không có sự phân biệt giữa hai khái niệm CNNV và CNNĐ Tư tưởng triết học Trung Quốc xem con người và xã hội là trung tâm nghiên cứu, nó nhấn mạnh đến tinh thần nhân văn và sự tu dưỡng đạo đức, coi trọng hành vi cá nhân Về nhận thức, nó chú trọng khai thác sự cảm nhận trực giác của trí tuệ con người mà coi nhẹ luận chứng logic và thực chứng khoa học trong phạm trù nhận thức luận
Khái niệm Humaism đi vào Việt Nam thường được chuyển ngữ thành CNNV
thì Nhân là người, Đạo là đường lối và Văn tức là văn hóa Vậy, Nhân đạo là “đặc
tính của con người phù hợp với đường lối là phải có cảm tình, tình thương yêu, tử tế”
[35; tr.1302]; Nhân văn là “văn hóa của nhân loại ( ) Ngày nay, chữ nhân văn có nghĩa lấy văn hóa của nhân loại nói chung dùng làm đối tượng đề nghiên cứu” [35;
tr 1305]
Theo các tác giả Từ điển Bách khoa thư Việt Nam, “CNNĐ thời phục hưng cũng gọi là CNNV” [84] Đó là “xu hướng tư tưởng thể hiện sự tôn trọng phẩm giá, quyền tự do và sự phát triển toàn diện của nhân cách cá nhân, bảo vệ tính người trong quan hệ xã hội.” Và, “CNNĐ có nhiều sắc thái khái nhau: 1) CNNĐ biểu hiện cuộc đấu tranh của nông dân, thợ thủ công, giai cấp tư sản đang lên chống lại những hình thức bóc lột và áp bức phong kiến.”; 2) CNNĐ xã hội chủ nghĩa.” [84]
Như vậy, tư tưởng nhân văn với tư cách là triết học về con người, ở cả phương Đông và phương Tây đều có những điểm tương đồng và khác biệt Đều cùng quan tâm đến con người, nhưng phương Tây đặt sự chiếm lĩnh vai trò trung tâm vũ trụ, thế giới cho con người, truất bỏ uy quyền của Thượng đế, chinh phục tự nhiên, chống lại những gì đè nén quyền đòi hỏi hạnh phúc của con người Quan niệm này sẽ được phương Đông chia sẻ khi giai cấp thống trị đã coi Nho gia là hệ ý thức tư tưởng, liên kết trời đất, thần linh và cả thiên nhiên trong sự đè nén áp bức người dân Về một phương diện văn hóa thì ngay từ đầu, tư tưởng nhân văn phương Đông cũng đã xác định một vị trí khá đặc biệt cho con người: đồng đẳng với trời đất, tiêu biểu cho trời đất về những phẩm cách nên sống hài hòa với tự nhiên không phải chỉ vì lòng yêu mến thiên nhiên mà còn vì khát vọng hài hòa theo lí tưởng Tam tài Tất cả diễn ra tự