1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý

141 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 730,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi tên: Lê Thị Gấm Tôi thực hiện đề tài Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay dưới sự hướng dẫn kho

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Gấm

VẤN ĐỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC TRONG GIÁO TRÌNH

LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ NHỮNG NĂM 1960 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Gấm

VẤN ĐỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC TRONG GIÁO TRÌNH

LÝ LUẬN VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Hoài Thanh

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: Lê Thị Gấm

Tôi thực hiện đề tài Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong

giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay dưới sự

hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Hoài Thanh, tại trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012 Tôi cam đoan việc sử dụng những trích dẫn khoa học có liên quan theo đúng qui định của cơ sở đào tạo Ngoài

ra, những nhận định, đánh giá, kết luận về vấn đề bản chất và đặc trưng văn học trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam là của tôi và chưa được công

bố ở bất cứ công trình khoa học nào khác

Lê Thị Gấm

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13

7 Cấu trúc luận văn 14

Chương 1: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ BẢN CHẤT XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC 15

1.1 Vận động kế thừa 15

1.1.1 Đối tượng của văn học 17

1.1.2 Văn học là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc 20

1.1.3 Văn học và hiện thực 22

1.1.4 Văn học và các hình thái ý thức thượng tầng kiến trúc 24

1.1.5 Tính khuynh hướng của văn học 26

1.1.6 Chức năng của văn học 30

1.2 Vận động đổi mới tư duy về một số vấn đề cơ bản của bản chất xã hội 32

1.2.1 Vấn đề văn học và hiện thực 33

1.2.2 Vấn đề văn học và chính trị 36

1.2.3 Vấn đề chức năng của văn học 40

Chương 2: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT THẨM MỸ CỦA VĂN HỌC 49

2.1 Quan niệm về bản chất thẩm mỹ của văn học trong giáo trình lý uận văn học trước năm 1986 50

2.1.1 Hình tượng nghệ thuật 51

2.1.2 Điển hình nghệ thuật 54

Trang 5

2.2 Quan niệm về bản chất thẩm mỹ của văn học trong giáo trình lý luận

văn học sau năm 1986 57

2.2.1 Lý tưởng thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật 58

2.2.2 Hình tượng nghệ thuật và phản ánh thẩm mỹ 65

Chương 3: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT NGÔN NGỮ CỦA VĂN HỌC 69

3.1 Ngôn từ - chất liệu sáng tạo văn học 72

3.2 Những nhận thức mới về bản chất ngôn ngữ của văn học 78

3.2.1 Giáo trình Dẫn luận thi pháp học (2005) 81

3.2.2 Giáo trình Lý luận văn học (nhập môn) (2010) 84

Chương 4: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC: NHỮNG GUYÊN NHÂN CƠ BẢN 95

4.1 Điều kiện lịch sử xã hội và đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam 95

4.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1986 95

4.1.2 Giai đoạn từ năm 1986 đến nay 97

4.2 Sự phát triển của sáng tác văn học giai đoạn sau năm 1986 98

4.2.1 Bình diện ý thức nghệ thuật 99

4.2.2 Bình diện nghệ thuật sáng tác 104

4.2.3 Bình diện ngôn từ nghệ thuật 106

4.3 Đổi mới tư duy lý luận văn học 107

4.3.1 Nhận thức mới về vị trí, đối tượng, nhiệm vụ của lý luận văn học 107

4.3.2 Đổi mới mô thức lý luận văn học 111

KẾT LUẬN 125

THƯ MỤC THAM KHẢO 129

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được coi là một trong ba dấu mốc quan trọng nhất của nước ta ở thế kỷ XX Từ đây, một chặng đường mới, những vận hội mới được mở ra: giao lưu với các nền kinh

tế, văn hóa khác nhau trên thế giới Mọi phương diện của đời sống thay đổi Văn học cũng không ngoại lệ

Từ năm 1986 đến nay, đặc biệt là thời kỳ đầu đổi mới, hoạt động sáng tác văn học có nhiều tìm tòi, mạnh dạn đổi mới và đạt được thành tựu quan trọng trên nhiều bình diện Kết quả là chúng ta có một bức tranh văn học đa dạng đề tài phản ánh, phong phú thể loại, đặc sắc về phong cách và khuynh hướng thẩm mỹ

25 năm qua, lý luận văn học nước ta cũng có nhiều chuyển biến quan trọng, trưởng thành hơn trong tư duy, nhuần nhị hơn trong kiến giải vấn đề

biến đổi không ngừng, nhiều vấn đề đang đặt ra, đỏi hỏi lý luận văn học cần giải quyết rốt ráo Do đó, đổi mới lý luận hơn nữa là xu hướng tất yếu Bên cạnh đó, lý luận cũng có nhu cầu được “ngoái nhìn” thường xuyên, để đánh giá những thành tựu đạt được và nhận diện những khiếm khuyết ngay trên cơ thể của mình, từ đấy mà xây dựng cơ sở vững chãi cho những thay đổi mới

Trước yêu cầu như vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, nắm bắt diện mạo nền lý luận văn học nước nhà trong chiều vận động lịch sử của nó Giáo trình lý luận văn học (bậc đại học) là một trong những bộ phận quan trọng của diện mạo chung ấy Trong xu hướng nhận thức lại, giáo trình

lý luận đã được nhiều người quan tâm đề cập, khảo sát chuyên sâu và cũng đã đạt được một số thành quả nhất định, đáng trân trọng Tuy nhiên, nhiều vấn

đề quan trọng khác chưa được quan tâm, hoặc đã được nêu ra nhưng chưa giải

Trang 7

quyết rốt ráo Xuất phát từ tình hình thực tế, từ những yêu cầu nội tại của đối

tượng, chúng tôi cho rằng nghiên cứu đề tài Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay là cần thiết và có tính khả thi, nhằm góp một tiếng nói cụ thể, một

góc nhìn thiết thực vào việc đánh giá bức tranh toàn cảnh quá trình vận động đổi mới tư duy lý luận văn học Việt Nam trong hơn năm mươi năm qua

văn Thành phố Hồ Chí Minh đăng bài: Sự vận động của lý luận văn học mác

xít ở Việt Nam từ sau 1954 qua hệ thống giáo trình lý luận văn học của

Nguyễn Văn Hà Tác giả khảo sát 8 bộ giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ

1958 đến 1993 Từ những mô tả khái quát về hình thức và bố cục nội dung các giáo trình, tác giả kết luận: hệ thống vấn đề của lý luận văn học mác xít ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, cách kiến giải các luận điểm ngày càng nhuần nhuyễn, khoa học, khách quan hơn Bên cạnh đó, tác giả cũng cho rằng

hệ thống giáo trình lý luận văn học vẫn còn nhiều điều bất cập như: nặng về

lý thuyết khái quát trong khi đó tính thực tiễn hạn chế, ôm đồm quá nhiều vấn

đề ngoài phạm vi văn học dẫn đến chồng chéo, trùng lặp nội dung Những mặt hạn chế này, theo tác giả là khiến cho giáo trình của nước ta trở nên nặng

nề, không kích thích được tinh thần học tập của đa số sinh viên, học viên

Trang 8

Quan tâm đến vấn đề giáo trình lý luận văn học, nhà nghiên cứu

Nguyễn Ngọc Thiện có bài: Về việc biên soạn giáo trình lý luận văn học bậc

đại học ở ta năm mươi năm qua, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số

5/2006 Ở bài viết này ông không đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận cụ thể, mà chỉ dừng lại ở mức mô tả khái quát đặc điểm bố cục trình bày của các

nước ta đều có điểm mạnh, điểm yếu riêng và nhìn chung việc biên soạn giáo trình lý luận có xu hướng ngày càng hiện đại hơn Ông cũng đề xuất hướng tiếp cận với các giáo trình ở các nước tiên tiến nhằm khắc phục hạn chế và hiện đại hóa hơn nữa giáo trình trong nước

Lấy hệ thống giáo trình lý luận văn học Việt Nam ở hai giai đoạn trước

và sau đổi mới (1986) làm đối tượng nghiên cứu, cả hai bài viết nêu trên đều chỉ dừng lại ở mức mô tả khái quát Có thể tìm thấy ở đây một vài nhận xét về vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học được kiến giải trong các giáo trình, tuy nhiên nhận xét còn ở dạng sơ lược, minh họa, chưa được đào sâu, phân tích kỹ lưỡng

Quan tâm đến các vấn đề của giáo trình lý luận văn học bậc đại học,

nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương có bài: Môn lý luận văn học trong nhà

trường đại học (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 4/2006) Ông cho rằng: “Mỗi

bộ đều có đều có những thế mạnh và ưu điểm riêng…” Những giáo trình ra đời ở thời kỳ sau, về nhiều mặt, đã hiện đại hóa hơn giáo trình ở thời kỳ trước Tuy nhiên, cũng theo ông, lý luận văn học ở ta, trong đó có giáo trình lý luận văn học, đang “chậm trễ, nếu không muốn nói là tụt hậu, so với sáng tác” và

“so với chính nó, nghĩa là so với những yêu cầu đặt ra cho nó như một bộ môn khoa học, vừa quan hệ với sáng tác, mà cũng độc lập so với sáng tác” Trong khi đó “tỉ lệ người đọc sách lý luận văn học đông nhất hiện nay không phải là những nhà sáng tác mà là sinh viên các ngành ngữ văn và văn hóa

Trang 9

nghệ thuật” Để đáp ứng yêu cầu đổi mới nền lý luận nước nhà như hiện nay thì việc đổi mới chương trình và giáo trình lý luận văn học bậc đại học giữ vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên văn khoa sửa chữa những khiếm khuyết trong tiếp nhận, hình thành công chúng lý tưởng cho đời sống văn học,

từ đó đổi mới toàn bộ cơ thể văn học của chúng ta Vì vậy, ông nêu ra mấy đề nghị cải tiến chương trình giảng dạy và cấu trúc giáo trình Về cấu trúc nội dung, theo ông, “giáo trình lý luận văn học nên tập trung vào bốn chủ điểm là văn học và xã hội, văn học và văn hóa, văn học và cái đẹp, văn học và ngôn ngữ”, giải quyết được các mối quan hệ này sẽ đồng thời giải quyết sáng tỏ vấn

đề cơ bản nhất là bản chất và đặc trưng của văn học

Vẫn với vấn đề thay đổi hệ hình biên soạn giáo trình lý luận văn học,

nhà nghiên cứu Trần Đình Sử chọn góc quy chiếu khác Trong bài: Lý luận

văn học nước ngoài hiện nay và phương hướng biên soạn giáo trình lý luận văn học Việt Nam trong tương lai (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2009),

ông cho rằng để có những đánh giá thỏa đáng đối với hệ thống giáo trình lý luận văn học của nước ta hiện nay, việc tham bác hướng biên soạn giáo trình

ở các nước khác là điều cần thiết Ông viết: “Để có cơ sở đánh giá và xây dựng chương trình cũng như giáo trình lý luận văn học nước nhà hiện nay, một công cụ cần kíp là tìm hiểu chương trình và giáo trình lý luận văn học ở các nước có nền lý luận văn học phát triển” Cũng trong bài viết này, ông đã tìm hiểu hiện tình biên soạn giáo trình lý luận văn học ở các nước tiên tiến như Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Trung Quốc Trên cơ sở tiếp nhận những hạt nhân hợp lý từ nhiều nguồn giáo trình trên thế giới, ông đề xuất hướng biên soạn mới đối với giáo trình lý luận văn học Việt Nam theo 5 điểm: cắt bỏ các vấn

đề lý luận văn học lỗi thời, thay vào đó là những vấn đề lý luận văn học hiện đại; nâng cao tính vấn đề và tính nghiên cứu của khái niệm lý luận nhằm kích thích tư duy người học; cấu trúc hệ thống vấn đề linh hoạt; đa dạng hóa hệ

Trang 10

thống giáo trình lý luận theo mục đích đào tạo của mỗi trường, mỗi cấp học; nội dung giáo trình cần được đầu tư nghiên cứu, kiến giải vấn đề phù hợp thực tiễn văn học Việt Nam

Được đề xuất từ những nhà giáo nhiều năm giảng dạy môn lý luận văn học ở trường đại học đồng thời là những nhà nghiên cứu nhiều kinh nghiệm, những kiến giải nói trên có ý nghĩa quan trọng để cho việc tham khảo hướng hợp lý hóa việc biên soạn giáo trình lý luận văn học bậc đại học Trên thực tế, hai nhà nghiên cứu Trần Đình Sử và Huỳnh Như Phương cũng đã biên soạn

ông đã đặt ra (Trần Đình Sử viết Giáo trình lý luận văn học, tập 1 Bản chất và

đặc trưng văn học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007; Huỳnh Như Phương

viết Lý luận văn học (nhập môn), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố HCM,

Tp HCM, 2010)

Ngoài những công trình và bài báo khoa học lấy giáo trình lý luận văn học làm đối tượng nghiên cứu chính như đã nói ở trên, chúng tôi cũng tìm thấy ở một số công trình, bài báo khoa học khác đã thực hiện khảo sát, tổng quan, đánh giá các chặng đường phát triển của nền lý luận văn học Việt Nam, trong đó có đề cập đến giáo trình lý luận bậc đại học như là một bộ phận của đối tượng cần được nghiên cứu

Nhà nghiên cứu Phương Lựu – người chủ biên đã hai bộ giáo trình lý luận văn học lớn (biên soạn năm 1986-1988 và năm 2002-2006) – luôn quan tâm nhìn nhận, đánh giá mỗi chặng đường phát triển của nền lý luận văn học nước nhà, trong đó có việc biên soạn giáo trình giảng dạy Bởi, theo ông, “khi phải tiến hành một phong trào cải cách thay đổi mạnh mẽ, thì cần phải kiểm

kê lại trước đó, nhất là giai đoạn cận kề đã có những tiền đề gì, những dự báo trăn trở như thế nào, không phải chỉ vì công bằng đối với lịch sử, mà chủ yếu

là để xác định cho thật trúng những bước đi tiếp theo” Năm 2005 chẳng hạn,

Trang 11

khi đã có một độ lùi thời gian nhất định, ông nhìn lại Những trăn trở tiến

bước của lý luận văn học giai đoạn 1975-1985 (Tạp chí Giáo dục – Thời đại,

số 12, tháng 5/2005) Trong bài viết, ông đã dành một phần để bàn về những vấn đề “chung quanh tình hình nghiên cứu giảng dạy lý luận văn học ở đại học” của một thời “vang bóng” Vì, theo ông, “cho dù xét nghiêng ở khía cạnh nào, thì khi nói về tình hình học thuật chung, cũng không thể bỏ qua trường Đại học có thể và cần trở thành một trung tâm khoa học theo đúng mô hình tổ chức khoa học của xã hội hiện đại” Ngoài những phân tích, lý giải tình hình giảng dạy, biên soạn giáo trình lý luận văn học ở Đại học Sư phạm

Hà Nội, chúng ta có thể tìm thấy ở đây những dẫn chứng được phân tích, đối

sánh giữa phần nguyên lý tổng quát của giáo trình Lý luận văn học do ông chủ

biên, xuất bản năm 1986 với giáo trình do Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, xuất bản nhiều lần ở thời kỳ trước đó Ông chỉ ra một số điểm khác biệt, tiến

bộ trong cách bố cục, kiến giải vấn đề bản chất và đặc trưng văn học giữa giáo trình của Đại học Sư phạm Hà Nội xuất bản năm 1986-1988 với những giáo trình lý luận giai đoạn trước Cụ thể là “khắc phục mạnh mẽ căn bệnh xã hội học thường thể hiện bằng lắm thứ “tính”, đặc biệt “không hề nêu tính đảng” ở phần nguyên lý tổng quát mà chuyển nó vào chương “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” ở tập sau (Phương pháp sáng tác và các trào lưu văn học), nghĩa là không còn coi nó như một khía cạnh cố hữu của bản chất và đặc trưng văn học Những vấn đề khác, ông cho rằng, không còn như cũ Tính giai cấp chẳng hạn, giáo trình đã lý giải “một cách biện chứng” Quan trọng hơn, giáo trình này đã “thêm vào những vấn đề đặc trưng văn học” và là giáo trình đầu tiên ở Việt Nam “đề cập đến đặc trưng của văn học với tư cách là một bộ môn nghệ thuật” Sự tiến bộ tư duy lý luận trong giáo trình văn học

cũng từng được ông nhấn mạnh ở Lời nói đầu của giáo trình Lý luận văn học, tập 1, Văn học, nhà văn, bạn đọc (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội,

Trang 12

2001) Ông viết: “Quy luật là cứ 10 năm trôi qua, thì tư duy lý luận văn học mới mẻ, mà nghiêm chỉnh có thể vận dụng vào việc giảng dạy trong nhà trường, không thể hoàn toàn chứa đựng trong cái khung của giáo trình cũ nữa” Điều này cũng có nghĩa, sự thay đổi, tiến bộ trong cách kiến giải các vấn đề lý luận, trong đó có vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học ở các giáo trình là tất yếu

Giáo trình lý luận văn học cũng được Nguyễn Thị Hồng Hạnh quan

tâm, khảo sát trong luận văn Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn

học ở Việt Nam từ 1975 đến nay (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ

Chí Minh, năm 2008) Như đã nói ở phần Mở đầu, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu chính của luận văn tác giả chỉ tập trung khảo sát những bộ giáo trình lý luận văn học có liên quan tới vấn đề chủ nghĩa hiện thực giai đoạn từ

1975 đến nay, mà không đề cập đến các vấn đề nguyên lý tổng quát của văn học ở các bộ giáo trình khác Tuy nhiên ở luận văn này, để làm sáng tỏ vấn đề chủ nghĩa hiện thực tác giả cũng đồng thời khảo sát khái niệm “văn học phản ánh hiện thực” trong các tiểu luận, chuyên khảo về lý luận văn học ở Việt Nam thuộc giai đoạn nói trên Vì vậy, thành quả nghiên cứu của luận văn ít nhiều cho ta một góc nhìn về vấn đề bản chất và đặc trưng văn học trong lý luận văn học Việt Nam giai đoạn sau 1975

Ngoài những công trình nói trên, giáo trình lý luận văn học cũng được

nhắc đến trong các bài báo khoa học, chuyên luận: Một chặng đường đổi mới

lý luận văn học Việt Nam (1986-2011) của Cao Hồng (Nxb Hội Nhà văn, H,

Quốc gia Hà Nội, H, 2005), Lý luận văn học trước yêu cầu đổi mới và phát

triển của Phan Trọng Thưởng (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2004),…

Tuy nhiên, ở những chuyên luận, bài viết này giáo trình lý luận văn học chỉ

Trang 13

được nhắc đến như những ví dụ minh họa riêng lẻ, rời rạc, không tập trung soi

rọi bất cứ vấn đề chuyên biệt nào của giáo trình Riêng ở chuyên luận Một

chặng đường đổi mới lý luận văn học Việt Nam (1986-2011), tác giả Cao

Hồng cung cấp cho người đọc cái nhìn từ bao quát đến chi tiết các vấn đề vận động của lý luận văn học Việt Nam giai đoạn sau 1986, trong đó có một số

giữa văn học và chính trị, văn học và hiện thực Vì vậy, dù chuyên luận này không nghiên cứu chuyên sâu về bản chất và đặc trưng văn học trong lý luận văn học Việt Nam, nhưng một số vấn đề lý luận cơ bản mà tác giả khảo sát có thể cung cấp cho chúng tôi một số thông tin cần thiết để tham bác, đối sánh khi đi vào nghiên cứu sự vận động quan niệm vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong các giáo trình lý luận bậc đại học

Như vậy, theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay nghiên cứu về lý luận văn học Việt Nam có khoảng 10 công trình, bài báo khoa học đề cập đến giáo trình lý luận văn học trên cả hai phương diện tổng quát và cụ thể Đấy chưa phải là con số lớn, nhưng qua các công trình, chuyên luận, bài báo nói trên cho thấy một số nhà nghiên cứu đã nỗ lực bao quát đối tượng và mang đạt được những thành tựu nhất định, đáng trân trọng

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu đã hướng tới bao quát hệ thống giáo trình

lý luận văn học Việt Nam trong lịch sử hình thành và phát triển của ngành, đồng thời nghiên cứu phân tích bố cục giáo trình trong mối quan hệ với chương trình đào tạo thực tế của bậc đại học

Thứ hai, từ chỗ bao quát đối tượng, các nhà nghiên cứu đã hướng tới khái quát thành tựu và hạn chế của giáo trình lý luận văn học bậc đại học, đồng thời phóng chiếu những đặc điểm ấy lên quá trình hình thành và phát triển của nền lý luận văn học Việt Nam Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng hệ vấn đề và cách luận giải vấn đề trong giáo trình lý

Trang 14

luận văn học ở nước ta ngày càng hoàn diện, nhuần nhuyễn, khách quan, và khoa học hơn Ngày nay ở các giáo trình lý luận văn học, giọng điệu chính luận không còn là chủ âm và tư duy lý luận quanh những vấn đề căn bản của văn học cũng có nhiều chuyển biến quan trọng Tuy nhiên, nội dung kiến thức cũng như bố cục của giáo trình vẫn còn nhiều hạn chế cho thấy một khoảng cách không nhỏ giữa lý luận giáo khoa với thực tiễn sáng tác văn học trong nước và trình độ lý luận văn học thế giới

Thứ ba, trước yêu cầu của thực tiễn văn học và đời sống, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều nhận thức: đổi mới là nhu cầu thiết yếu của nền lý luận văn học Việt Nam, trong đó có giáo trình lý luận văn học bậc đại học Nhiều đề xuất, giải pháp đã được đưa ra nhằm hướng đến cải tiến việc biên soạn giáo trình sao cho vừa bắt nhịp đặc thù riêng của đời sống văn học Việt Nam vừa tiến gần nền trình độ chung của lý luận văn học thế giới, mà vẫn phù hợp và đạt hiệu quả tiếp nhận đối với đa số người học

Mặc dù hệ thống giáo trình đã được quan tâm nghiên cứu và đạt được một số thành tựu nhất định, song những công trình, bài viết nói trên vẫn chưa cung cấp đủ cứ liệu cho phép chúng ta hình dung bức tranh cụ thể, toàn diện

về vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong suốt lịch sử biên soạn giáo trình lý luận văn học bậc đại học ở nước ta

Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay ở nước ta chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu sự vận động tư duy lý luận xung quanh vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong lịch sử lý luận văn học Việt Nam nói chung, giáo trình lý luận văn học nói riêng Trong khi đó, bản chất và đặc trưng của văn học là những vấn đề cơ bản, trọng yếu và bao trùm với bất cứ nền lý luận văn học nào Thông qua quan điểm và cách kiến giải những vấn

đề này có thể nhận thấy diện mạo, tính chất của một mô thức lý luận văn học được xây dựng trên nền tảng triết học, mỹ học nào, đồng thời cũng thấy được

Trang 15

ở đấy phần nào đặc điểm tính cách và đặc điểm tư duy của một cộng đồng, dân tộc Tình hình hiện nay của nền lý luận văn học nước nhà đang đặt ra nhiều câu hỏi cần được giải quyết bài bản, rốt ráo Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng mọi vấn đề của lý luận văn học chỉ có thể giải quyết thỏa đáng khi mà những vấn đề thuộc bản chất và đặc trưng của văn học được kiến giải một cách nhuần nhị, thống nhất Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ đã đến lúc cần có một công trình nghiên cứu sự vận động tư duy về vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong lịch sử lý luận Việt Nam Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn, chúng tôi giới hạn nghiên cứu vấn đề này trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX đến nay (2012) Kế thừa thành tựu

khoa học của những người đi trước, chúng tôi kỳ vọng nghiên cứu Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay một cách thấu đáo, có hệ thống nhằm tái

hiện phần nào quá trình vận động tư duy của lý luận văn học nước ta hơn 50 năm qua, góp phần nhận diện, đánh giá một cách khoa học, khách quan về nền lý luận văn học Việt Nam, trong đó có giáo trình lý luận văn học bậc đại học

3 M ục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu Vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học trong giáo trình

lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay, chúng tôi nhằm

hướng đến các mục đích sau:

văn học qua các giáo trình lý luận văn học được biên soạn và giảng dạy phổ biến ở Việt Nam, bậc đại học, từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay (2012)

Trang 16

• Xác định được những điểm tiến bộ và những hạn chế của các giáo trình

lý luận văn học Việt Nam trong quan niệm về vấn đề bản chất và đặc trưng văn học

về bản chất và đặc trưng văn học, chúng tôi kỳ vọng xác định và lý giải được xu hướng vận động tư duy lý luận văn học ở nước

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, người viết đặt trọng tâm nghiên cứu ở những vấn

đề bản chất và đặc trưng của văn học trong lý luận văn học Đây là vấn đề căn bản nhưng phức tạp luôn thu hút sự quan tâm, bàn luận của giới học thuật thế giới và trong nước Trong khuôn khổ luận văn, người viết cố gắng khu biệt vấn đề trên ba phương diện cơ bản: phương diện xã hội, phương diện thẩm

mỹ - nghệ thuật, và phương diện ngôn ngữ Những vấn đề khác của lý luận văn học nếu có nhắc đến ở đây thì chỉ nhằm mục đích minh chứng vai trò

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các giáo trình lý luận văn học Việt Nam được xuất bản từ năm những 1960 đến nay (2012) Giáo trình lý luận văn học theo chúng tôi quan niệm là những công trình lý luận đã, đang được

sử dụng vào mục đích giảng dạy ở khoa văn của các trường đại học Việt Nam, đặc biệt ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh – hai trung tâm học thuật lớn của nước ta Giáo trình có thể được biên soạn bởi những tác giả là nhà nghiên cứu, nhà giáo đang giảng dạy tại các trường đại học Căn cứ theo hai tiêu chí như vậy, chúng tôi thống kê có khoảng 30 giáo trình lý luận được biên soạn trong suốt hơn 50 năm qua Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích nghiên cứu của

đề tài, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát nội dung đối với các giáo trình trình bày những vấn đề nguyên lý lý luận văn học và giáo trình chuyên đề (dành

Trang 17

cho hệ đại học) có nội dung gần với vấn đề bản chất văn học, nhìn từ góc độ

lý luận Theo đó, chúng tôi tiến hành khảo sát vấn đề bản chất và đặc trưng văn học ở 8 giáo trình, xuất bản ở cả hai giai đoạn trước và sau năm 1986 Cụ

thể: Sơ thảo nguyên lý văn học (Nguyễn Lương Ngọc biên soạn, 1961),

Nguyên lý văn học, tập 1 (tập thể tổ lý luận văn học các trường đại học sư

phạm biên soạn,1965; năm 1976 đổi tên là Cơ sở lý luận văn học, tập 1), Cơ

sở lý luận văn học, tập 1(Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, 1980), Lý luận văn học, tập 1(Phương Lựu chủ biên, 1986), Lý luận văn học (Hà Minh Đức chủ

chủ biên, 2002), Giáo trình Dẫn nhập thi pháp học (Trần Đình Sử biên soạn,

với những văn bản xuất bản lần đầu, đặc biệt là các giáo trình xuất bản từ năm

1986 về trước Trong trường hợp này, để đạt được mục đích nghiên cứu,

tâm đến một số công trình, chuyên luận lý luận văn học được xuất bản ở Việt Nam, bao gồm cả những công trình lý luận văn học nước ngoài đã được dịch

ra tiếng Việt Nghiên cứu những công trình này sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát, có cơ sở cho những nhận định, đánh giá về vị trí, vai trò cũng như các bước vận động của đối tượng nghiên cứu theo chiều đồng đại và lịch đại Tuy nhiên, khi nghiên cứu những công trình lý luận ngoài giáo trình, chúng tôi chỉ chọn lọc những quan niệm, kiến giải có liên đến vấn đề bản chất và đặc trưng văn học Và như vậy, mức độ nghiên cứu đối với loại công trình, tài liệu này chỉ mang tính chất tham khảo, đối sánh, góp phần làm sáng tỏ đối tượng

giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay

Trang 18

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của bản thân đối tượng nghiên cứu và theo mục đích của công trình, chúng tôi thực hiện công việc nghiên cứu theo các phương pháp sau:

biên soạn giáo trình lý luận văn học dưới tác động của lịch sử chính trị,

xã hội

đặc trưng văn học trong mối quan hệ với tổng thể của nó (hệ thống vấn

đề, mỗi giáo trình và giữa các giáo trình)

nghiên cứu (các giáo trình ở các trường đại học) cũng như của các nhà biên soạn trong giai đoạn văn học có nhiều biến động này

khác nhau theo chiều đồng đại và lịch đại

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn thành công có có thể làm tài liệu tham khảo học tập cho sinh viên, học viên cao học khi tiếp cận vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học Đồng thời, luận văn cũng có thể được sử dụng như một nguồn tham khảo cho các nhà nghiên cứu để thực hiện biên soạn giáo trình chuyên môn trong thời gian tới

Về mặt khoa học, vấn đề bản chất và đặc trưng văn học là một hệ vấn

đề cơ bản nhưng phức tạp Cơ bản, bởi nó xác định bản thể của đối tượng Phức tạp, bởi bản thân văn học là một loại hình nghệ thuật đa biến, không dễ

nhau; mặt khác, lý luận văn học, đặc biệt là vấn đề bản chất và đặc trưng văn học, còn chịu sự tác động lớn từ những yếu tố ngoài nó như chính trị, lịch sử -

Trang 19

xã hội, triết học, văn hóa, Muốn đánh giá, cải biến một đối tượng không gì hơn là xuất phát từ những vấn đề thuộc bản thể của chính nó, rồi lấy đó làm nền tảng, cơ sở để phát triển những vấn đề liên quan Đề tài tuy chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở giáo trình lý luận văn học bậc đại học nhưng cũng góp một tiếng nói, một góc nhìn vào việc đánh giá toàn diện nền lý luận văn học nước ta hơn nửa thế kỷ qua

7 C ấu trúc luận văn

Luận văn gồm 3 phần

Phần mở đầu

Các chương

Chương 1: Sự vận động quan niệm về bản chất xã hội của văn học

Chương 3: Sự vận động về bản chất ngôn ngữ của văn học

Chương 4: Sự vận động quan niệm về bản chất và đặc trưng của văn

học: Những nguyên nhân cơ bản

Phần kết luận

Trang 20

Chương 1: SỰ VẬN ĐỘNG QUAN NIỆM VỀ VẤN ĐỀ BẢN

CHẤT XÃ HỘI CỦA VĂN HỌC

Hơn nửa thế kỷ qua, vấn đề bản chất xã hội của văn học trong lịch sử lý luận văn học Việt Nam nói chung, giáo trình lý luận nói riêng luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu Không kể đến các chuyên luận, các bài báo lẻ, chỉ nhìn vào bố cục chương mục của các giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng có thể nhận diện sự ưu tiên, thậm chí tôn xưng bản chất xã hội trong khi trình bày những vấn đề nguyên lý chung của văn học Những vấn đề

thuật hay ngôn ngữ luôn được đặt ra và giải quyết trước hết Ở góc độ tổng quát, có thể phác thảo một bộ khung vấn đề bản chất xã hội của văn học được triển khai gần như đồng bộ trong hầu hết giáo trình lý luận văn học Việt Nam

từ những năm 1960 đến nay, gồm các luận điểm: nguồn gốc, đối tượng của văn học; văn học với hiện thực đời sống xã hội; văn học với các hình thái ý thức xã hội khác; tính khuynh hướng; chức năng của văn học

Mặc dù vậy, quan niệm, cách kiến giải vấn đề bản chất xã hội trong giáo trình lý luận không phải luôn bị đóng khung một chỗ, mà có những bước vận động đáng ghi nhận trên cả hai mạch kế thừa và đổi mới

1.1 V ận động kế thừa

Không có gì khởi đi bằng con số không Sự hình thành và phát triển của giáo trình lý luận văn học Việt Nam cũng vậy, là sự kết hợp và tác động qua lại giữa nhiều yếu tố khách quan, chủ quan trong đó có sự kế thừa những luồng tư tưởng, tri thức trước nó

Phần này, từ góc nhìn lịch đại, chúng tôi chú ý những điểm tương đồng trong quan điểm và cách giải quyết vấn đề bản chất xã hội của văn học giữa các giáo trình, điều mà nhiều người cực đoan gọi là sự “rập khuôn” của hệ

Trang 21

thống giáo trình lý luận văn học Việt Nam Nhưng theo ý chúng tôi, đấy là một trong hai mạch vận động đồng hành trong lịch sử biên soạn giáo trình lý luận ở nước ta: vận động kế thừa Gọi là vận động kế thừa, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến sự chuyển biến nhất định trong những quan điểm tưởng như

ổn định Hay nói cách khác, kế thừa ở đây không có nghĩa là lặp lại giản đơn,

vấn đề đã được nêu ra

Trước khi trình bày những vấn đề về bản chất xã hội của văn học trong

mạch vận động kế thừa, chúng tôi muốn nói đến vai trò của giáo trình Sơ thảo

nguyên lý văn học do Nguyễn Lương Ngọc biên soạn, năm 1961, với tư cách

là cuốn giáo trình lý luận văn học đầu tiên ở nước ta Ngay trong lời tựa, tác giả đã thông báo với người đọc rằng đây là “cuốn sách nhỏ” chỉ đề cập đến

“một số vấn đề chính yếu của văn học”, mà trọng tâm là vấn đề bản chất xã hội của loại hình nghệ thuật này Cuốn sách tuy ngắn gọn, sơ lược nhưng đã trình bày được những vấn đề cơ bản nhất của lý luận văn học theo tinh thần

mỹ học mác xít và có ảnh hưởng không nhỏ đến quan điểm của các giáo trình

nền đắp móng” cho việc biên soạn giáo trình lý luận văn học ở nước ta, mà những người đồng nghiệp và học trò của ông đã thực hiện trong các giai đoạn sau

Kể từ Sơ thảo nguyên lý văn học năm 1961 cho đến nay (2012), việc

triển khai vấn đề bản chất xã hội của văn học trong hầu hết giáo trình lý luận

ở nước ta đều lấy triết học, mỹ học mác xít làm nền tảng Dĩ nhiên, tùy theo biên độ cho phép của điều kiện chính trị, lịch sử xã hội và mức độ thẩm thấu

tư tưởng mà có sự khác nhau nhất định trong cách diễn giải vấn đề ở mỗi giáo trình Trên cơ sở triết học Marx –Lenin, các giáo trình thống nhất quan điểm coi lao động là nguồn gốc của văn học và văn học là một hình thái ý thức xã

Trang 22

hội thuộc kiến trúc thượng tầng Từ đó, văn học được nhìn nhận như là một lĩnh vực ý thức có khả năng “cải tạo hiện thực xã hội” Những vấn đề khác của văn học như đối tượng phản ánh, quan hệ giữa văn học với hiện thực, văn học các hình thái ý thức xã hội khác, tính khuynh hướng, chức năng của văn học,…đều được triển khai xoay quanh trục mỹ học xã hội học mác xít

Phương, xuất bản năm 2010, được viết ở góc nhìn khác – góc nhìn của nguyên lý mỹ học sự sáng tạo Dù vậy, ông vẫn khẳng định bản chất xã hội của văn học với sự tương tác của những yếu tố thiết thân, như: nguồn gốc phát sinh, nhà văn – chủ thể sáng tạo, độc giả - chủ thể tiếp nhận, điều kiện

1.1.1 Đối tượng của văn học

Vấn đề văn học phản ánh cái gì luôn được các tác giả quan tâm trình bày trước hết Nói đối tượng văn học, tức là nói đến cái mà văn học quan tâm phản ánh và chiếm lĩnh Trên lập trường mỹ học mác xít, giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay luôn khẳng định: con người cùng các mối quan hệ phức tạp của nó là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn học

Tác giả Nguyễn Lương Ngọc viết trong giáo trình lý luận Sơ thảo

nguyên lý văn học (1961): “Đối tượng chủ yếu của văn học là con người Văn

học miêu tả chủ yếu con người, hoàn cảnh của con người và thái độ của con người đối với hoàn cảnh… Cũng có thể có những tác giả không trực tiếp biểu hiện và miêu tả con người; song, nói chung, tác phẩm của họ vẫn nói đến con người, đến sự liên hệ và quan hệ giữa người với sinh hoạt xã hội” [51, tr.112]

Tác giả Nguyễn Vịnh trong giáo trình Cơ sở lý luận văn học (1976), tức

Nguyên lý văn học, 1965) khẳng định: “Hình ảnh con người luôn luôn là trung

Trang 23

tâm chú ý của văn học nghệ thuật… Con người được phản ánh trong văn học nghệ thuật là con người toàn vẹn, sinh động, với mọi đặc tính và quan hệ phức tạp của nó như chính trong đời sống thực” [82, tr.24, 25] Ông cũng nhấn mạnh: “Văn học là một ngành nghệ thuật, và các ngành nghệ thuật có

lý luận văn học (tập 1), do Nguyễn Lương Ngọc chủ biên, được xuất bản, vẫn

tiếp tục đặt ra và phát triển vấn đề này đi xa hơn Đối tượng trung tâm của văn học vẫn là con người, nhưng, tác giả Bùi Ngọc Trác nhấn mạnh, đấy là “con người xã hội” chứ không phải con người sinh lý như là đối tượng tiếp cận của các hình thái ý thức khác Ông lập luận: “Tất cả các hình thái ý thức xã hội đều có một nguồn gốc chung là thực tại” [52, tr.56] Nhưng, “do phương tiện phản ánh cuộc sống riêng biệt” nên mỗi hình thái “đều có một lĩnh vực hiện thực đặc biệt làm đối tượng ưu tiên của nó” Trong thế giới hiện thực muôn màu muôn vẻ ấy, văn học quan tâm trước hết đến “những số phận con người, những thách thức và những mối quan hệ của con người Những cái đó tạo thành đối tượng chủ yếu của văn học nghệ thuật” [52, tr.57] Nói như vậy, không có nghĩa là văn học tự hạn chế mình trong một phạm vi nhất định Ông nhấn mạnh: “Đối tượng của văn học không chịu sự ràng buộc về không gian

và thời gian của thế giới tự nhiên và đời sống xã hội”; “văn học nhận thức và phản ánh hiện thực trong tính tổng thể, toàn vẹn, phong phú và phức tạp của

học với tư cách là đối tượng phản ánh cơ bản và có tính chất quyết định của

sự phản ánh chứ không phải ở chỗ văn học miêu tả một cách trực tiếp cuộc sống con người” [52, tr.59] Còn thiên nhiên, theo ông: “Thiên nhiên được miêu tả trong văn học nghệ thuật là thiên nhiên đã được khúc xạ qua tấm lăng kính cảm thụ của nghệ sĩ giữ một vai trò không nhỏ trong việc làm phong phú thêm thế giới tinh thần, đời sống tâm hồn của con người, giúp con người phát

Trang 24

huy thêm cảm xúc thẩm mỹ, biết trân trọng và yêu quý thêm mọi vẻ đẹp trên đời” [52, tr.61] Cuộc sống xã hội, mà trong đó con người là trung tâm, là nguồn nuôi dưỡng của văn học nghệ thuật nói chung Nhưng đối tượng của văn học nghệ thuật, theo ông, “cũng không phải là cái vĩnh hằng, bất biến, mà

Luận điểm con người là đối tượng phản ánh trung tâm của văn học tiếp tục được các tác giả giáo trình lý luận văn học thời đổi mới khẳng định và

phát triển lập luận Tác giả Trần Đình Sử, trong giáo trình Lý luận văn học,

năm 1986, cũng khẳng định con người là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn nghệ Bên cạnh đó, ông còn cho rằng trong muôn mặt vấn đề của con người thì tính cách của con người là trung tâm của đối tượng của văn nghệ Ông viết: “Văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội Văn nghệ không miêu tả thế giới như khách thể tự nó, mà tái hiện chúng trong tương quan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người Văn nghệ không phải ánh hiện thực dưới dạng những bản chất trừu tượng, mà tái hiện

nó trong tính toàn vẹn, cảm tính sinh động Khái niệm trung tâm của đối tượng của văn nghệ là các tính cách của con người, những con người sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động mang bản chất xã hội, lịch sử” [41, tr.127]

Phần biên soạn này được tiếp tục sử dụng trong giáo trình Văn học, nhà văn,

bạn đọc, do Phương Lựu chủ biên, nhà xuất bản Đại học Sư phạm ấn hành

năm 2002

Năm 1992, dưới sự chủ biên của Hà Minh Đức và sự tham gia biên soạn của nhóm giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà

Nội, một giáo trình Lý luận văn học mới được ra đời và tiếp tục khẳng định

con người xã hội là trung tâm phản ánh của văn học Tác giả Trần Khánh Thành viết: “Đối tượng chủ yếu của nghệ thuật là con người… Nghệ thuật quan tâm trước hết đến bản chất xã hội của con người Bản chất đó thể hiện

Trang 25

qua tinh thần, đạo đức, tác phong, hành vi xã hội, tình cảm, cảm xúc và đời sống tâm linh của con người” [19, tr.16]

1.1.2 Văn học là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc

Xác định lao động là nguồn gốc hình thành và con người với đời sống

xã hội muôn màu vạn sắc là đối tượng phản ánh chủ yếu của văn học, các tác giả giáo trình, trên cơ sở tư tưởng mỹ học mác xít, tiếp tục phân tích bản chất

xã hội của văn học ở vị thế là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, chịu sự chi phối của hạ tầng cơ sở và phản ánh đời sống xã hội qua

sự tương tác với các hình thái ý thức khác

Trong chương II, Văn học là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng

kiến trúc, giáo trình Sơ thảo nguyên lý văn học (1961), Nguyễn Lương Ngọc

khẳng định: “Không có lý do gì mà phủ nhận tính chất thượng tầng của văn học nghệ thuật”, bởi ai trong chúng ta cũng có thể nhận thấy “những biến đổi căn bản trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật thường trùng với những biến đổi căn bản trong chế độ kinh tế của xã hội”, và “chịu ảnh hưởng của sự biến đổi của hạ tầng cơ sở” [51, tr.88, 90] Ông phản đối quan điểm xuất phát từ tính chất trung gian của ngôn ngữ để phủ nhận tính thượng tầng của văn học:

“Ngôn ngữ chỉ là phương tiện của văn học chứ không phải là văn học Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người, bất kể con người thuộc giai cấp nào; trái lại, văn học nói chung là một vũ khí đấu tranh giai cấp sắc bén” [51,

những là sai lầm lớn về phương diện lý luận mà còn là “nối giáo cho giặc” và rơi thỏm vào chủ nghĩa “nghệ thuật vị nghệ thuật” phản động nữa [51, tr.90]

Thừa nhận “văn học là một hình thái ý thức nằm trong thượng tầng kiến trúc, do cơ sở kinh tế quy định”, tác giả Trần Văn Bính, trong giáo trình

Cơ sở lý luận văn học (1976), cho rằng: “Phải hiểu mối quan hệ này một cách

Trang 26

đúng đắn, biện chứng, tránh máy móc hay thô bạo”; “Phải thấy rằng cơ sở kinh tế không phải là nhân tố quyết định duy nhất, vì ngoài cơ sở kinh tế ra văn học còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác…” [82, tr.37] cùng thuộc thượng tầng kiến trúc, chính trị chẳng hạn

Trong phần Văn học và đời sống xã hội (Cơ sở lý luận văn học, tập 1,

Trần Văn Bính về “tính chất quyết định của điều kiện kinh tế và hoàn cảnh xã hội đối với sự phát sinh và phát triển của văn học nghệ thuật”, và “nhìn chung tương ứng với những cơ sở kinh tế và xã hội nhất định là những nền văn nghệ nhất định” [52, tr.76] Cũng như tác giả Trần Văn Bính đã chỉ ra sự tác động của các nhân tố khác trong thượng tầng kiến trúc đối với văn học nghệ thuật,

ở đây tác giả Bùi Ngọc Trác nâng quan điểm ấy lên thành mối quan hệ giữa văn học và đời sống xã hội Đời sống xã hội được hiểu không chỉ cơ sở kinh

tế của xã hội, mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ giữa người với người về mặt tổ chức và phân phối lao động, về chính trị, đạo đức, pháp luật, về quan

hệ giữa con người với thiên nhiên Nói văn học phản ánh thực tại, theo ông, là phản ánh những mối quan hệ chằng chịt và phức tạp như thế chứ không chỉ phản ánh sự phát triển của cơ sở kinh tế

với các giáo trình giai đoạn trước đổi mới trong cách đặt và giải quyết vấn đề

bản chất xã hội của văn học Chương II, Nguồn gốc, bản chất và quy luật phát

triển của văn nghệ, tác giả Trần Đình Sử khẳng định cơ sở kinh tế xã hội “quy

định sự tồn tại và phát triển của văn nghệ về cả nội dung lẫn hình thức”, văn nghệ “tác động tích cực trở lại đối với cơ sở hạ tầng” [41, tr.52] Tác giả

Phạm Thành Hưng trong giáo trình Lý luận văn học năm 1992, và tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng trong giáo trình Văn học, nhà văn, bạn đọc năm 2002

cũng có những nhận định tương tự

Trang 27

1.1.3 Văn học và hiện thực

Mối quan hệ văn học và hiện thực là vấn đề trung tâm, thể hiện rõ “bản chất xã hội căn bản” của văn học Đây cũng là một trong những vấn đề thể hiện rõ nỗ lực đổi mới tư duy của lý luận văn học Việt Nam nói chung, giáo trình lý luận văn học nói riêng Nói như vậy không có nghĩa là sự phủ định toàn diện của giáo trình sau với giáo trình trước nó, mà bên cạnh những luận điểm mới vẫn có những luận điểm mang tính ổn định, được các giáo trình đi sau tiếp thu, khẳng định, phát triển

“Văn học phản ánh hiện thực” là một mệnh đề quen thuộc đối với nhiều thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam Nói như vậy để thấy, quan điểm chung của giáo trình lý luận văn học nước ta từ những năm 1960 đến nay là khẳng định tính tất yếu của việc phản ánh hiện thực trong văn học, hay mối quan hệ khăng khít, thiết thân của hai lĩnh vực này Cơ sở tư tưởng của vấn đề này là triết học Marx – Lenin – một “cơ sở vững chắc để lý giải mối quan hệ phức

tạp” như Phương Lựu đã nói trong giáo trình Lý luận văn học năm 1986

Khẳng định tính hiện thực là thuộc tính tất yếu của tác phẩm văn học, các tác giả cũng nhấn mạnh tính chân thật trong phản ánh như là một phẩm chất mang lại giá trị nhận thức cho tác phẩm

Bàn về vấn đề này, tác giả Nguyễn Lương Ngọc (Sơ thảo nguyên lý văn

học, 1961) cho rằng: “Hiện thực mà văn học phản ánh đây chính là “hiện thực

người”, kể cả những hiện tượng tự nhiên” [51, tr.130] Và dĩ nhiên, theo ông,

nó bao gồm “tính chất xã hội, tính chất nhân dân” [51, tr.130] Nói cách khác, tính chất “người”, tính chất xã hội của hiện thực mà văn học phản ánh là “sự tham gia cải tạo hiện thực bởi con người” ([51, tr.131] Bởi vì, không chỉ đối tượng phản ánh của tác phẩm, mà “ngay con người tác giả cũng phải là một

bộ phận của lực lượng đấu tranh” Tác giả Nguyễn Vịnh kế thừa và phát triển

luận điểm này trong giáo trình Cơ sở lý luận văn học năm 1976 Ông viết:

Trang 28

“Phản ánh hiện thực là một quy luật của văn học” Một vấn đề đã trở thành quy luật thì “nhà văn dù muốn hay không muốn, thì văn học vẫn cứ là sự phản ánh hiện thực khách quan theo cách này hay cách khác” [82, tr.54) Năm

1980, một lần nữa người đọc bắt gặp quan điểm này được khẳng định trong

cứ tác phẩm văn học trong bất kể trường hợp nào cũng đều là sự phản ánh

thực tại khách quan” [52, tr.82]

quan hệ giữa văn học với hiện thực đời sống trên các phương diện: nhận thức, biểu hiện, phản ánh và tác động Theo đó, tác giả một lần nữa khẳng định điều

mà các giáo trình trước năm 1986 đã đề cập: tính hiện thực là “thuộc tính tất yếu của văn nghệ” và tính chân thật là một “khái niệm chỉ phẩm chất” Phần

biên soạn này của tác giả tiếp tục được đưa vào sử dụng ở giáo trình Văn học,

nhà văn, bạn đọc (2002)

Kế thừa quan niệm của các tác giả trước, tác giả Phạm Thành Hưng,

triển trong sự ràng buộc tự nhiên với đời sống xã hội”; “Những giá trị nghệ thuật chân chính từ xưa tới nay đều là những sáng tác bắt rễ sâu xa trong mảnh đất thực tế của thời đại mình”, nhờ đó mà văn học trở thành “một vũ

Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn của mỹ học sáng tạo, tác giả Huỳnh Như Phương cũng thừa nhận: văn học dù thế nào vẫn nhận “ánh phản chiếu của xã hội trong nội dung của tác phẩm”, dù nhà văn “đang ở giữa hoang đảo của lòng mình” [59, tr.15], và “mọi tác phẩm văn học, suy cho cùng cũng là sản phẩm của một xã hội nhất định” [59, tr.16]

Trang 29

1.1.4 Văn học và các hình thái ý thức thượng tầng kiến trúc

Bàn về vấn đề bản chất xã hội, các tác giả giáo trình lý luận văn học của trước và sau đổi mới đều dành sự quan tâm, nghiên cứu văn nghệ trong thế đối sánh với các hình thái ý thức xã hội khác, nhằm tìm ra đặc thù, lý do tồn tại của lĩnh vực này Sự tác động qua lại giữa văn nghệ và các hình thái ý thức thượng tầng được thống nhất trình bày ở tất cả giáo trình thời kỳ đổi mới Trong mối quan hệ với các hình thái ý thức khác như khoa học, chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo,… mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị được nhấn mạnh hơn cả Tuy nhiên, đây là vấn đề có nhiều biến đổi mạnh mẽ nhưng phức tạp, như chính sự biến đổi của đời sống xã hội Trong vấn đề này,

sự tương đồng quan điểm có thể được tìm thấy ở các giáo trình lý luận giai

đoạn trước năm 1986 Cả ba giáo trình ở giai đoạn này là Sơ thảo nguyên lý

văn học, năm 1961, Cơ sở lý luận văn học, năm 1976 và Cơ sở lý luận văn học, năm 1980 đều thống nhất khẳng định: chính trị lãnh đạo văn học, văn

học phục vụ chính trị

kháng, dù muốn dù không, dù có ý thức hay không có ý thức, văn học cũng phản ánh khuynh hướng giai cấp, khuynh hướng chính trị của giai cấp; do đó,

ta thấy văn học có mối quan hệ mật thiết với chính trị Không có văn học nào không ảnh hưởng của chính trị; không có văn học nào không phục vụ chính trị, hoặc nhiều hoặc ít Văn học phản ánh đấu tranh giai cấp, phản ánh đấu tranh chính trị” [51, tr.32] Và nói chung “chính trị lãnh đạo văn học; văn học phục vụ chính trị” Hơn cả nghệ thuật, chính trị trở thành tiêu chí hàng đầu để định giá giá trị một tác phẩm văn học Nhưng, tác giả Nguyễn Lương Ngọc nhấn mạnh, sự lãnh đạo của chính trị là về “đường lối, về phương hướng, trong đó có cả đường lối nghệ thuật” Với đường lối, phương hướng của

Trang 30

mình, tác giả Nguyễn Lương Ngọc cho rằng, chính trị “không những chỉ chú trọng đến những ý kiến mà tác giả phát biểu rạch ròi trong sáng tác, mà còn chú ý đến tư tưởng của tác giả thể hiện trong hình tượng, trong cách miêu tả sinh động hiện thực”; và chính trị có đủ khả năng “hiểu một cách “nhạy”, một

Về điều này, tác giả Trần Văn Bính (Cơ sở lý luận văn học, tập 1,

1976) cũng đưa ra lập luận không khác quan điểm của Nguyễn Lương Ngọc

là bao Trang 45, ông viết: “Văn học là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc, vì vậy văn học phải phục vụ cho cơ sở kinh tế đẻ ra nó Chính trị cũng nằm trong thượng tầng kiến trúc do cơ sở kinh tế đẻ ra, nhưng chính trị là sự thể hiện trực tiếp và tập trung nhất yêu cầu của cơ sở kinh tế” Vì thế,

“nói văn học phục vụ cho cơ sở kinh tế đẻ ra nó có nghĩa là văn học phải phục

vụ cho một đường lối chính trị nhất định” [82, tr.49]

Thực tiễn phê bình văn học Việt Nam giai đoạn này có không ít trận ba đào bởi lối phê bình xã hội học dung tục, máy móc soi rọi vấn đề chính trị, xã

hội vào văn chương Do vậy, năm 1980 khi chấp bút giáo trình Cơ sở lý luận

văn học, tập 1, tác giả Bùi Ngọc Trác thống nhất quan điểm “văn nghệ phục

vụ chính trị” mà hai tác giả trước đã nêu Bên cạnh đó, ông cũng nhấn mạnh một lần nữa điều mà Nguyễn Lương Ngọc đã đưa ra trong giáo trình năm

1961, nhưng dường như ít được người đọc lĩnh hội Ông viết: “Văn học nghệ thuật không phải là sự minh họa giản đơn của những tư tưởng chính trị Và tư tưởng chính trị không phải là thứ trang sức của nghệ thuật Ý nghĩa chính trị của văn nghệ nằm trong cơ cấu nghệ thuật nội tại của bản thân tác phẩm” [52, tr.107]

Từ năm 1986 đến nay, điều kiện chính trị - xã hội đã có nhiều biến đổi Quan niệm của các tác giả giai đoạn này, nhìn chung, có cách lập luận khác, thậm chí đối ngược giai đoạn trước Dĩ nhiên đấy là một quá trình dài và

Trang 31

tương đối phức tạp Vì vậy, chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau - vận động đổi mới tư duy

1.1.5 Tính khuynh hướng của văn học

Nếu phản ánh hiện thực là bản chất xã hội của văn học thì tính khuynh hướng được coi như là những đặc trưng của bản chất ấy Hầu hết giáo trình lý luận văn học Việt Nam từ những năm 1960 đến nay đều dành một số lượng trang nhất định để bàn về tính khuynh hướng của văn học Nhiều vấn đề được

sử dụng lại và cũng có những thay đổi nhất định trong cách nhìn nhận, lập luận

Trước năm 1986, những vấn đề như tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại được xem là những thuộc tính, biểu hiện khuynh hướng tư tưởng, đặc trưng của bản chất xã hội của văn học Trong những thuộc tính nói trên, tính giai cấp, tính đảng và tính nhân dân được các giáo trình lý luận thống nhất trình bày Liên quan đến tính huynh hướng là thế giới quan sáng tác Từ thế giới quan sáng tác làm nảy sinh khuynh hướng tư tưởng của tác phẩm

Phương Lựu, trong giáo trình Cơ sở lý luận văn học, năm 1980, lập

luận: “Cái gọi là bản chất xã hội của văn học thật ra phải thông qua thế giới quan của nhà văn mà được thể hiện trong sáng tác Mối quan hệ khăng khít giữa thế giới quan và sáng tác, do đó, gắn rất chặt với các vấn đề tính tư tưởng (tính đảng, tính nhân dân,…) và tính chân thật của sáng tác văn học” [52,

thế giới quan đúng đắn là thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin, mà Đảng Cộng sản là “ngọn hải đăng” chỉ đường cho nhà văn đi theo thế giới quan ấy Đến đây, vấn đề tư tưởng văn học đã gắn liền tư tưởng chính trị Và chính

Nguyễn Lương Ngọc, tác giả Sơ thảo nguyên lý văn học cũng đã nhấn mạnh

Trang 32

rằng tiêu chí chính trị đưa lên hàng đầu, trước khi xem xét tiêu chí nghệ thuật Quan điểm này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sáng tác và phê bình văn học nước ta giai đoạn trước năm 1986 Nguyễn Minh Châu gọi đấy là thời kỳ văn học “minh họa” cho quan điểm chính trị, vì người sáng tác đã đánh mất “cái đầu” và chấp nhận đi trong “hành lang hẹp”

Sau năm 1986, tình hình chính trị - xã hội đã cởi mở hơn, văn học phần nào nói lên tiếng nói của chính mình Nhiều vấn đề lý luận chung được đưa ra

văn học vẫn được lựa chọn trình bày trong một số giáo trình, đặc biệt là hai giáo trình do Phương Lựu chủ biên Mặc dù vậy, nhìn chung vấn đề tính khuynh hướng của văn học từ năm 1986 đến nay ít nhiều có thay đổi nhất định trong quan niệm Trước hết, trong lập luận của mình, các tác giả không nhấn mạnh nó như là những biểu hiện của khuynh hướng tư tưởng gắn liền với những lập trường chính trị, mà xem đó như là những phẩm chất thuộc giá trị nhân văn, cho phép văn học, vượt lên trên cả những vấn đề chính trị, lưu giữ và lan tỏa cái đẹp, cái cao cả ra cộng đồng xã hội Từ góc độ mỹ học sáng tạo, các tác giả giáo trình lý luận văn học giai đoạn từ 1986 đến nay đã lựa chọn trình bày có thể một hoặc nhiều thuộc tính được cho là quan trọng, thiết thân với sự sáng tạo nghệ thuật

Qua nghiên cứu, chúng tôi cũng nhận thấy ở các giáo trình lý luận văn học thời đổi mới vấn đề tính đảng không còn đưa vào trình bày như trước

Tính giai cấp được trình bày trong giáo trình Lý luận văn học năm 1986 và Lý

luận văn học năm 2002 Ở giáo trình Lý luận văn học năm 1986, phần viết

này do tác giả Phương Lựu biên soạn, nhưng chủ yếu sử dụng lại bài viết của

luận văn học năm 2002, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng phụ trách biên soạn

Trên thực tế, nội dung trình bày trong bài viết của tác giả Nguyễn Nghĩa

Trang 33

Trọng được dựa trên những luận điểm và cách lập luận của Phương Lựu ở giáo trình trước

năm 1986, do Phương Lựu chủ biên, giáo trình Lý luận văn học năm 1992, do

Hà Minh Đức chủ biên và giáo trình Văn học, nhà văn, bạn đọc năm 2002, do

Phương Lựu chủ biên Giáo trình năm 1986 sử dụng lại bài viết của tác giả Phương Lựu trong giáo trình năm 1980 với rất ít sự điều chỉnh, bổ sung Tìm hiểu vấn đề tính nhân dân trong giáo trình lý luận văn học thời đổi mới, chúng tôi thấy mặc dù được viết bởi các tác giả khác nhau với độ lùi thời gian khoảng mười năm nhưng quan điểm của các giáo trình vẫn không mấy thay đổi Đại thể, các tác giả chỉ ra tính lịch sử của khái niệm tính nhân dân, thừa nhận tính nhân dân không chỉ là một thuộc tính mà còn là một phẩm chất của nền văn học tiến bộ Bởi vì, theo lý thuyết mác xít thì nhân dân, tức số đông người lao động, tạo ra tất cả sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội Nhà văn dù “tái hiện một khía cạnh nào đó của đời sống hiện thực thì các hiện thực ấy, ở mức độ này hay mức độ khác đã chứa đựng những yếu tố của tính

bao giờ cũng đứng về phía quyền lợi nhân dân lao động, nói lên tư tưởng, tình cảm của nhân dân, “tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển tiến bộ của một cộng đồng quốc gia, dân tộc nhất định” [42, tr.129] Các tác giả thống nhất quan điểm về tiêu chuẩn tính nhân dân trong tác phẩm văn học là phải

“miêu tả chân thực cuộc sống nhân dân, phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp lý tưởng thẩm mỹ của nhân dân…” [42, tr.131], và phải đảm bảo trong sáng cả

về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật

Năm 1980, giáo trình Cơ sở lý luận văn học đề xuất thêm tính dân tộc

vào nội dung tính khuynh hướng của văn học Tác giả nhận thấy đấy cũng là một “vấn đề quan trọng trong lý luận văn học mác xít” Nói về những biểu

Trang 34

hiện của tính dân tộc trong tác phẩm văn học, ông cho rằng: “Tính dân tộc xuyên thấm từ hình thức đến nội dung, cho nên có thể nói có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm là có bấy nhiêu chỗ để tính dân tộc thể hiện” [52, tr.246] Ông cũng phân biệt hai khái niệm “thuộc tính dân tộc” và “phẩm chất dân tộc”

trong khi đó, khái niệm “phẩm chất dân tộc” chỉ được sử dụng với hàm ý tích cực

Tính dân tộc được trình bày trong hầu hết giáo trình lý luận văn học thời đổi mới và được xem như là một trong những phẩm chất nhân văn của văn học cần được giữ gìn, phát huy, nhất là ở thời điểm hiện nay sự phát triển

vũ bão của công nghệ đang đặt phẩm chất dân tộc vào nguy cơ xói mòn trong một thế giới thu hẹp Nếu văn học, như cách gọi của tác giả Phương Lựu

dân tộc”, thì tính dân tộc có thể coi là “đôi mắt của gương mặt ấy” [44, tr.142]

và dĩ nhiên, “đôi mắt” ấy chỉ có hồn dân tộc khi nó “gắn chặt với tính nhân dân, với tính chân thật và tính nghệ thuật” [42, tr.144] Nói cách khác, tác phẩm văn học mang phẩm chất dân tộc là tác phẩm phản ánh chân thật cuộc sống, cuộc chiến đấu của nhân dân, đồng thời qua đó nói lên được tinh thần, tính cách dân tộc Tác giả Huỳnh Như Phương xem tính dân tộc như một biểu hiện của tinh thần nhân đạo Ông viết: “Một nhà văn yêu nước chưa hẳn là một nhà văn nhân đạo, nhưng một nhà văn nhân đạo bao giờ cũng là một nhà văn yêu nước, có tinh thần dân tộc sâu sắc” [59, tr.32] Bên cạnh việc đề cao tinh thần dân tộc, các tác giả giáo trình cũng cho rằng cần phân biệt tinh thần dân tộc với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, giữ gìn bản sắc dân tộc đi liền với mở rộng cửa đón nhận, chọn lọc cái mới Bởi: “Dân tộc là một thực thể luôn vận động và phát triển, phẩm chất dân tộc cũng là một thực thể luôn thay đổi và

bổ sung, không thể bắt nó đông cứng trong một khuôn khổ nào” [59, tr.34]

Trang 35

1.1.6 Chức năng của văn học

Bản chất xã hội của văn học còn được thể hiện ở những tác động của nó đối với đời sống cộng đồng, nhân loại Nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ là ba chức năng luôn được các giáo trình lý luận văn học giai đoạn trước và sau đổi mới khẳng định

văn học ở Việt Nam Mặc dù năm 1961, khi viết Sơ thảo nguyên lý văn học

ông không đề ra vấn đề chức năng văn học nhưng qua những trang bàn về văn học và hiện thực lại cho thấy chức năng nhận thức được nhấn mạnh Ở

chương III, Văn học phản ánh hiện thực, ông viết: “Văn học nghệ thuật, một

hình thức đặc biệt để nhận thức hiện thực, cũng nảy sinh trong quá trình tác dục của người đối với mọi mặt của hiện thực Văn học nghệ thuật có trách nhiệm giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới một cách chính xác” [51,

đầu và chỉ những tác phẩm đạt được phẩm chất chân thực mới có giá trị nhận thức Những điều Nguyễn Lương Ngọc nêu ra trong giáo trình đầu tiên này được các thế hệ học trò của ông tiếp tục phát triển sâu rộng trong các giáo

sở lý luận văn học (tập 1, 1980), vấn đề chức năng văn học được trình bày

thành một mục riêng, được phân tích thấu đáo hơn Cả hai tác giả Nguyễn Vịnh và Bùi Ngọc Trác đều nhấn mạnh ba phương diện chức năng văn học, gồm nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ Chúng xuyên thấm, bổ sung cho nhau và cùng hướng đến mục đích cải tạo xã hội (về mặt tư tưởng, tình cảm)

luận văn học (1976), thừa nhận văn học chỉ thực hiện được chức năng nhận

thức khi nó phản ánh hiện thực một cách chân thật Tuy nhiên, ông nhấn mạnh: nhận thức nghệ thuật khác nhận thức khoa học ở chỗ khoa học nhận

Trang 36

thức bằng khái niệm, còn nghệ thuật nhận thức bằng hình tượng thẩm mỹ [82, tr.28) Bởi vì, “nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội riêng, có bản chất thẩm mỹ của nó” [82, tr.26) Do đó, bên cạnh việc giúp con người nhận thức

cũng “chính là một mục đích, một chức năng của văn nghệ” [82, tr.27] Thực chất, mỹ cảm mà văn nghệ mang lại cho con người cũng không xa rời hiện thực đời sống Bởi “mỹ cảm là một hình thức cao của cảm xúc con người, không phải là những xúc động của bản năng thấp kém; nó là sự cảm xúc cái đẹp, kinh qua sự nhận thức những hiện tượng thiên nhiên và xã hội mà văn

mỹ của văn học giúp con người khám phá, nhận thức những cái đẹp trong đời sống, lao động, chiến đấu Thông qua chức năng thẩm mỹ, văn học còn thực hiện một chức năng khác nữa cũng không kém phần quan trọng: chức năng giáo dục Trang 29, tác giả viết: “Đặc trưng phương pháp giáo dục của văn nghệ là giáo dục bằng hình tượng có giá trị nhận thức – thẩm mỹ, là giáo dục tình cảm” Cả ba chức năng nhận thức – giáo dục – thẩm mỹ “xâm nhập vào nhau, tác động lẫn nhau, gắn liền nhau một cách hữu cơ, đến nỗi có thể xem như ba mặt của một vấn đề, của một chức năng” [82, tr.27-28] Ông xác nhận, ngay cả khi “nền văn học xã hội chủ nghĩa có tính đảng của chúng ta đặc biệt nhấn mạnh chức năng giáo dục” và “trong việc đánh giá một tác phẩm nghệ thuật chúng ta công khai nói rõ: tiêu chuẩn chính trị được đặt ở hàng đầu”

“nhận thức được mối liên hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau giữa ba chức năng

ấy, văn nghệ mới làm tròn được sứ mệnh nặng nề của nó: sứ mệnh của một vũ khí sắc bén để giáo dục con người, cải tạo xã hội” [82, tr.32]

Nghiên cứu vấn đề này, tác giả Bùi Ngọc Trác, trong Cơ sở lý luận văn

học (1980), cho rằng: văn học chỉ có một chức năng, đó là chức năng xã hội

Trang 37

Chức năng xã hội của văn học, theo ông, là “có tính tổng hợp”, gồm nhiều mặt khác nhau, xuyên thấm vào nhau, trong đó nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ

là ba mặt chính yếu Gọi là chức năng xã hội bởi xét về phương diện nhận thức, giáo dục hay thẩm mỹ thì văn học đều hướng đến mục đích cuối cùng là mang lại sự thay đổi tích cực cho xã hội Xã hội, đó là “lý do tồn tại của văn học”, là nơi văn học thực hiện những chức năng của mình Nhưng ông cũng cho rằng, chức năng của văn học không phải luôn ổn định, bất biến Bởi xã hội - cái lý do tồn tại của văn học - thay đổi cùng với sự thay đổi của thời đại

Có điều, dù ở thời đại nào, phương diện nào của chức năng văn học được đề

xã hội

Ba chức năng này vẫn tiếp tục được đề cập ở hầu hết giáo trình lý luận giai đoạn từ 1986 đến nay Tuy nhiên, quan điểm và lập luận của các tác giả giai đoạn này có nhiều đổi mới, thậm chí có những kiến giải trái ngược với kiến giải ở giáo trình giai đoạn trước

1.2 V ận động đổi mới tư duy về một số vấn đề cơ bản của bản chất xã hội

Làm nên diện mạo của giáo trình lý luận văn học Việt Nam mấy chục năm qua không chỉ có mạch vận động kế thừa mà còn một mạch vận động khác đồng hành, đấy là vận động đổi mới tư duy Nghiên cứu bản chất xã hội của văn học trong lịch sử giáo trình lý luận văn học Việt Nam, chúng tôi tập trung vào một số vấn đề mà ở đó các luồng tư tưởng, các quan điểm và kiến giải của những người biên soạn va đập có khi tương đồng, có khi đối nghịch nhau Đó là những vấn đề phức tạp, không dễ bàn Nhưng quan trọng hơn, đấy còn là những vấn đề có ý nghĩa cốt yếu thể hiện tư duy của người làm lý luận trong việc nỗ lực nắm bắt bản chất, đặc trưng của một đối tượng đa biến như văn học

Trang 38

1.2.1 Vấn đề văn học và hiện thực

Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực là vấn đề cơ bản nhưng phức tạp vào bậc nhất của lý luận văn học Cách kiến giải mối quan hệ này như thế nào là phụ thuộc vào cơ sở tư tưởng triết học và lăng kính thẩm mỹ của nhà nghiên cứu Đây chính là mấu chốt của sự vận đội đổi mới tư duy của giáo trình lý luận văn học Việt Nam xung quanh vấn đề bản chất và đặc trưng của văn học, trong đó có vấn đề bản chất xã hội

Chúng ta có thể nhận thấy sự khác biệt trong cách kiến giải vấn đề văn học và hiện thực giữa các giáo trình xuất bản trước và sau năm 1986, mặc dù chúng cùng được triển khai trên cơ sở triết học và mỹ học mác xít

1986 nhấn mạnh giá trị nhận thức của tác phẩm văn học đối với việc cải tạo hiện thực đời sống Tác giả Nguyễn Lương Ngọc quan niệm: “Văn nghệ là một bộ phận hoạt động thực tế để cải biến hiện thực, là một vũ khí đấu tranh giai cấp Nhiệm vụ của văn học nghệ thuật là phản ánh sự nhân loại tham gia đấu tranh sản xuất và đấu tranh giai cấp” [51, tr.134] Hiện thực trong văn học, theo đó, là những gì con người chúng ta có thể nhìn tận mắt, sờ tận tay Giá trị của tác phẩm “được quyết định trước tiên không phải ở những “xúc động chân thành”, “tinh thần rực cháy”, hay ngôn từ tuyệt mỹ nào, mà ở chỗ

nó phản ánh đúng đắn đến mức nào hiện thực khách quan, giúp cho người ta nhận thức đến mức nào chân lý cuộc sống, tác động đến mức nào công cuộc

cải tạo cuộc sống” [82, tr.55] Tác giả Bùi Ngọc Trác (Cơ sở lý luận văn học,

1980) nhấn mạnh thêm: “Việc mở rộng một cách vô hạn độ khái niệm “hiện thực” trong văn học tức là tức là nhập cục chủ nghĩa hiện thực với các trường phái nghệ thuật suy đồi, tức là mở cửa cho văn học tự do thoát khỏi hiện thực,

tự do quay lưng lại cuộc sống” [52, tr.84]

Trang 39

Từ năm 1986 trở đi, ở hầu hết các giáo trình, các tác giả đều nhấn mạnh giá trị thẩm mỹ, hay nói đúng hơn là tình cảm thẩm mỹ của văn học Dĩ nhiên, cái thẩm mỹ ở đây, theo quan niệm của các tác giả, phải gắn liền với cội nguồn của nó là đời sống xã hội Ở vị thế là một loại hình nghệ thuật, một hình thái ý thức xã hội có đặc thù thẩm mỹ, văn học không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn biểu hiện – theo nghĩa rộng nhất của từ này – thế

giới chủ quan nữa Phương Lựu đề xuất quan niệm như thế trong giáo trình Lý

luận văn học, năm 1986 Một cách diễn đạt khác, hiện thực trong văn học là

hiện thực chủ quan về thế giới khách quan, một hiện thực được sáng tạo theo quy luật của cái đẹp nhằm bồi dưỡng thế giới tinh thần của con người thêm giàu có, chứ không phải là hiện thực theo nghĩa chỉ bao hàm sự chiến đấu và lao động sản xuất vật chất Như vậy, cùng trên một góc nhìn mỹ học nhưng cách kiến giải vấn đề phản ánh hiện thực giữa hai giai đoạn của giáo trình đã

có sự khác nhau rõ rệt Từ sự khác biệt này dẫn đến sự khác biệt trong những quan niệm khác

tác giả giáo trình trước năm 1986 yêu cầu xem xét tiêu chí tính chân thực trong phản ánh như là tiêu chí hàng đầu để xét giá trị của tác phẩm đối với cộng đồng xã hội Đánh giá tính chân thực trong tác phẩm là đánh giá “tính sinh động của hình tượng thông qua “sự chính xác của các chi tiết” [82, tr.71-72) Để làm được điều này, theo Nguyễn Lương Ngọc, nhà văn phải nghiên cứu một cách tường tận và khoa học mọi mặt của hiện thực, phải tìm ra

nhà văn “phải chịu trách nhiệm về sự phản ánh hiện thực của mình” [82, tr.56]

Ngược lại, với quan niệm rộng mở về hiện thực, tác giả lý luận thời đổi mới xem tính chân thật chỉ có ý nghĩa tương đối Bởi vì, như Phương Lựu đã

Trang 40

viết trong Lý luận văn học năm 1986, “văn học nghệ thuật nhiều lắm cũng chỉ

là một sự phản ánh gần đúng với hiện thực mà thôi” Cho nên, ông viết tiếp:

“Nếu xem sự thật trong tác phẩm nghệ thuật là sự thật nguyên vẹn của chính cuộc sống và đòi hỏi nghệ sĩ phải luôn có thái độ chính xác trong việc mô tả hiện thực thì rất sai lầm” [41, tr.74] Tác giả Trần Đình Sử cũng chia sẻ quan

điểm này trong Văn học, nhà văn, bạn đọc (2002) Ông viết: “Trong thế giới

nghệ thuật không hề bày ra một quyền lợi thiết thực nào cả, cho dù rất tự nhiên và chính đáng đi nữa Văn nghệ là một thứ hoàn toàn “hình thức”, hiểu theo nghĩa rất rộng về mặt triết học của từ này Nghệ thuật chỉ là bóng dáng của cuộc đời, chứ không phải là bản thân cuộc đời đích thực” [42, tr.62] Tính chân thật nghệ thuật, theo ông, không phải là sự chuẩn xác của các chi tiết hay

sự logic tình huống như cuộc đời thực mà là sự “vô tư”, sự chân thành của cảm xúc Với sự vô tư, chân thành ấy khi đến với nghệ thuật, cả người sáng tác lẫn người thưởng thức đều “không vướng víu bởi những quyền lợi và đòi hỏi quá thiệt thực, cho dù nó cần thiết và cấp bách đến đâu”, “tâm hồn vốn là, hoặc phải là trong sáng vô ngần, hư tâm và thành tâm vui sướng hoặc đau khổ trước số phận con người, vận mệnh của đất nước, hướng đi của lịch sử, vốn là những vấn đề xã hội lớn lao, liên quan đến mọi người” [42, tr.62]

Từ một góc nhìn khác là mỹ học của sự sáng tạo, tức là xuất phát đặc

trưng bản thể của đối tượng, nhưng tác giả Huỳnh Như Phương (Lý luận văn

học nhập môn, 2010) cũng thừa nhận tính hiện thực của văn học là thuộc tính

tất yếu Bởi vì “nhà văn, chủ thể sáng tạo, cũng là một sản phẩm xã hội, mang

con người, văn học làm sao có thể lảng tránh những vấn đề thiết thân với số phận và cuộc sống con người” [59, tr.16] Điều này cũng có nghĩa, tác phẩm văn học là tiếng nói tình cảm, chủ quan của nhà văn về thế giới khách quan Văn học, do đó, nếu có thể cải tạo đời sống thì cũng chỉ trên phương diện tư

Ngày đăng: 02/01/2021, 12:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w