Lê Ngọc Thúy trong bài viết “Văn chương Tự lực văn đoàn trong đời sống văn học và giáo dục ở đô thị miền Nam 1954-1975” cũng đã đề cập đến “Cái nhìn “biệt nhãn” về giá trị của TLVĐ tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Hồng Mai
TIẾP NHẬN TÁC PHẨM NHẤT LINH, KHÁI HƯNG, THẠCH LAM
TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
Ở MIỀN NAM (1954-1975)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh-2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Hồng Mai
TIẾP NHẬN TÁC PHẨM NHẤT LINH, KHÁI HƯNG, THẠCH LAM
TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
Ở MIỀN NAM (1954-1975)
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN HOÀI ANH
Thành phố Hồ Chí Minh-2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn TS Trần Hoài Anh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề
tài Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn
ở miền Nam (1954-1975) là trung thực và chưa từng công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu nào trước đây
Nếu phát hiện có bất kì sự gian dối nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn Thạc sĩ, cũng như kết quả luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2016
Người cam đoan
Đặng Thị Hồng Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành tới TS Trần Hoài Anh,
người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Thay mặt các học viên cao học khóa 25, chuyên ngành Lý luận văn học tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các giảng viên khoa Ngữ Văn và các cán bộ Phòng Sau đại học đã tạo mọi điều kiện để chúng tôi học tập, nghiên cứu
Tôi rất biết ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của các thủ thư ở thư viện trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, thư viện trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn và thư viện Khoa học tổng hợp
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã hết lòng động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tp.HCM, tháng 09 năm 2016
Học viên
Đặng Thị Hồng Mai
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN TÁC PHẨM NHẤT LINH, KHÁI HƯNG, THẠCH LAM TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Ở MIỀN NAM (1954 -1975) 17
1.1 Giới thuyết về lý thuyết mỹ học tiếp nhận 17
1.1.1 Mỹ học tiếp nhận và sự đề cao vai trò của người đọc 17
1.1.2 Độc giả tinh hoa với hoạt động phê bình văn học 19
1.1.3 Tầm đón đợi và giới hạn của các phương pháp đọc 21
1.2 Tình hình tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1954-1975) 23
1.2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội miền Nam (1954 -1975) 23
1.2.2 Khái lược về diện mạo lý luận, phê bình văn học miền Nam 1954 - 1975 27
1.2.3 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong đời sống phê bình văn học ở miền Nam (1954-1975) 29
Tiểu kết chương 1 35
Chương 2 TIẾP NHẬN TÁC PHẨM NHẤT LINH, KHÁI HƯNG, THẠCH LAM TỪ KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH CHỊU ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG NHO, PHẬT, LÃO 36
Trang 62.1 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ khuynh hướng phê bình chịu bình ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo 36
2.1.1 Giới thuyết về khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư
tưởng Nho giáo 362.1.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình chịu ảnh
hưởng tư tưởng Nho giáo khi tiếp nhận tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn 39
2.2 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam
từ khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo 46
2.2.1 Giới thuyết về khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư
tưởng Phật giáo 462.2.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình chịu ảnh
hưởng tư tưởng Phật giáo khi tiếp nhận tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn 48
2.3 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ khuynh hướng phê chịu bình ảnh hưởng tư tưởng Lão giáo 57
2.3.1 Giới thuyết về khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư
tưởng Lão giáo 572.3.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng
tư tưởng Lão giáo khi tiếp nhận tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn 59
Tiểu kết chương 2 62
Trang 7Chương 3 TIẾP NHẬN TÁC PHẨM NHẤT LINH, KHÁI HƯNG,
THẠCH LAM TỪ KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH TIỂU SỬ
HỌC, PHÂN TÂM HỌC VÀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH 64
3.1 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ khuynh hướng phê bình tiểu sử học 64
3.1.1 Giới thuyết về khuynh hướng phê bình tiểu sử học 64
3.1.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình tiểu sử học khi tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn 66
3.2 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ khuynh hướng phê bình phân tâm học 69
3.2.1 Giới thuyết về khuynh hướng phê bình phân tâm học 69
3.2.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình phân tâm học khi tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn 72
3.3 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ khuynh hướng phê bình hiện sinh 81
3.3.1 Giới thuyết về khuynh hướng phê bình hiện sinh 81
3.3.2 Những biểu hiện của khuynh hướng phê bình hiện sinh khi tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn 83
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Có thể nói nghiên cứu là hành trình khám phá, phân tích đối tượng để tìm lời giải cho những câu hỏi mà chúng ta băn khoăn về chính đối tượng đó Vì vậy, nếu thu được thành quả dù là rất nhỏ thì cũng đã góp phần mở ra một mảnh ghép trong bức tranh muôn màu, muôn sắc của hiện tượng mà chúng ta khao khát nắm bắt…
Giai đoạn 1954 -1975, ở miền Nam, vai trò, vị trí của người đọc đã được khẳng định, đặc biệt là cách đọc của độc giả tinh hoa Đó cũng là tiền đề cho phê bình văn học nở rộ Thuận lợi hơn nữa cho việc tiếp nhận là tác phẩm của Tự lực văn đoàn được phổ biến rộng rãi, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông, đại học… Vì thế, sự phong phú của các bài viết về phong trào cũng như các tác giả, tác phẩm của Tự lực văn đoàn-hiện tượng văn học nổi trội đầu thế kỉ XX cũng là điều dễ hiểu Trào lưu này nhận được sự quan tâm của nhiều soạn giả sách giáo khoa, sách tham khảo như: Võ Thu Tịnh, Đỗ Văn Tú, Thẩm Thệ Hà, Nguyễn Duy Diễn, Lê Hữu Mục…; các nhà nghiên cứu, phê bình như Huỳnh Phan Anh, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sỹ, Tam Ích… Các bài viết, công trình nghiên cứu của họ được in ấn tại nhiều nhà xuất bản có uy tín đương thời như: Khai Trí, Tao Đàn, Đường Sáng, Trường Thi, Tân Việt… và đăng tải trên các báo, tạp chí như: Văn, Văn học, Bách Khoa, Văn nghệ, Sáng tạo, Nghiên cứu văn học, Đại học, Tư tưởng, Trình bầy Nhìn chung, các bài viết chủ yếu đi theo hai hướng: một là hồi tưởng lại ấn tượng, kỉ niệm của những người cùng thời về các nhà văn cũng như phong trào Tự lực văn đoàn, hai là nghiên cứu, phê bình tác phẩm và sự nghiệp văn học của họ Ở góc độ một luận văn về văn chương chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hướng tiếp cận thứ hai Trong đó, tác phẩm của ba tác giả Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam - đại diện cho hiện tượng Tự lực văn đoàn được tiếp nhận nhiều nhất
Trang 9Qua sự sàng lọc khắt khe của lịch sử, đến thời điểm hiện nay chắc hẳn không ai nghi ngờ ảnh hưởng mạnh mẽ cũng như đóng góp to lớn của Tự lực văn đoàn đặc biệt là các tác phẩm của ba tác giả Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong tiến trình vận động và phát triển của văn học dân tộc Tuy nhiên, ở giai đoạn 1954 -1975 trào lưu này đã gây rất nhiều tranh cãi trong vấn đề tiếp nhận Nếu miền Bắc vì nhiều lý do không tiếp nhận, hoặc có tiếp nhận cũng không có một cái nhìn khách quan, công bằng trên tinh thần khoa học đối với hiện tượng Tự lực văn đoàn thì miền Nam lại thể hiện sự “ưu ái” qua các hàng loạt các bài phê bình, nghiên cứu của các tác giả như chúng tôi đã điểm sơ ở
trên Lê Ngọc Thúy trong bài viết “Văn chương Tự lực văn đoàn trong đời sống
văn học và giáo dục ở đô thị miền Nam 1954-1975” cũng đã đề cập đến “Cái nhìn “biệt nhãn” về giá trị của TLVĐ trong giới nghiên cứu phê bình miền Nam.”
Vậy tại sao các nhà nghiên cứu miền Nam lại đánh giá cao tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn? Khi đưa ra quan điểm, cách nhìn nhận họ đã xuất phát từ góc nhìn nào? Góc nhìn ấy đưa đến kết quả gì? Nó có thỏa đáng không? Sự đánh giá ấy có ý nghĩa như thế nào đối với việc nhìn nhận sáng tác và xác định vị trí của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong lịch sử văn học? Bên cạnh những phương pháp đã có từ thời tiền chiến thì họ đã tiếp thu và vận dụng những phương pháp hiện đại mới du nhập
từ phương Tây như thế nào? Nó có mang lại cái nhìn mới mẻ hay không? Qua
đó có thể giúp chúng ta đánh giá kết quả nghiên cứu của trí thức miền Nam đối với hiện tượng tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam có đáng tin cậy hay không? Những câu hỏi ấy đã thôi thúc chúng tôi đi tìm câu trả lời
và không có cách nào khách quan hơn là tìm chính trong các bài phê bình của các nhà nghiên cứu miền Nam giai đoạn 1954-1975 viết về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam bằng sự dẫn đường của lí thuyết mỹ học tiếp
nhận Tóm lại, chúng tôi khi chọn đề tài: “Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái
Trang 10Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1954 -1975)” đã xuất
phát từ những thắc mắc nảy sinh khi tìm hiểu hiện tượng tiếp nhận văn học này như chúng tôi đã nêu ở trên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chúng tôi không tiến hành nghiên cứu trực tiếp tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam mà sẽ nghiên cứu các bài phê bình, đánh giá, giới thiệu… của các nhà nghiên cứu về các tác phẩm của các nhà văn nói trên trong
Tự lực văn đoàn ở miền Nam, giai đoạn 1954-1975 hay nói cách khác là nghiên
cứu “tiếp nhận của tiếp nhận”
Nhiệm vụ của chúng tôi là khảo sát và sưu tầm các bài phê bình, đánh giá, giới thiệu… của các nhà nghiên cứu về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 trên các báo, trong các tài liệu nghiên cứu, các sách luận đề… Sau đó tiến hành hệ thống, phân loại, đánh giá… các tài liệu thu được dưới ánh sáng của các khuynh hướng phê bình mà các nhà nghiên cứu miền Nam đã sử dụng để đọc tác phẩm Nhất
Trang 11Linh, Khái Hưng, Thạch Lam ở một số bình diện, khía cạnh Cuối cùng là căn
cứ vào ưu điểm và hạn chế của các khuynh hướng phê bình đó để trả lời các câu hỏi: Nhìn từ các khuynh hướng phê bình tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam đã được tiếp nhận như thế nào ở miền Nam giai đoạn 1954-1975? Cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu có gì đặc biệt? Khuynh hướng, phương pháp nào được sử dụng phổ biến và có hiệu quả? Tại sao ở miền Nam người đọc đặc biệt lại tiếp nhận như thế?…
3 Phạm vi đề tài và đối tượng nghiên cứu
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích, phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đối tượng nghiên cứu của chúng tôi ở luận văn này là các khuynh hướng tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn thể hiện qua bài viết trên các báo, tạp chí, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiên cứu… của giới trí thức ở miền Nam (1954 -1975) Chúng tôi chỉ đi sâu vào một số khuynh hướng phê bình như: tiểu sử học, phân tâm học, phê bình hiện sinh, phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo
4 Lịch sử vấn đề
Trang 12Năm 1981, trong bài báo Tự lực văn đoàn trên sách báo ở miền Nam trước
đây Đào Văn A đã đánh giá: “Trong thái độ quay lưng với thực tế khá phổ biến nơi một số thị dân, ở một mức độ nào đó, sách của Tự lực văn đoàn vẫn tỏ ra hợp khẩu vị! (…) Đối với họ thì chỉ có ái tình và mơ mộng.” [1, tr.81] Lí giải từ
góc độ thị hiếu thẩm mĩ Đào Văn A cho rằng độc giả thời kì này đặc biệt ưa thích văn chương lãng mạn cho nên tác phẩm của Tự lực văn đoàn được hoan nghênh Bàn về mối liên hệ giữa bối cảnh xã hội miền Nam (1954-1975) và sự
nở rộ của hiện tượng tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam ông
cũng nhận xét Tự lực văn đoàn được “hệ thống giáo dục văn học thực dân mới ở
miền Nam” “truyền bá” để phục vụ cho mục đích chính trị [1, tr.75]
(…) các sách của nhóm Tự lực văn đoàn được ngụy quyền đem vào giảng dạy trong chương trình giảng văn, lịch sử văn học ở các trường trung học và đại học Hầu hết các sách của nhóm này (truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận…) viết trước năm 1945 hoặc sau 1954 (của Nhất Linh) đều đã được in đi in lại nhiều lần Thêm nữa, hàng lô sách “bình giảng” “khảo cứu”, “luận đề” “tiểu luận” viết về toàn nhóm này hay viết riêng về từng tác giả (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo) cũng được xuất bản [1, tr.75]
Nhận xét về cuốn “Lược sử văn nghệ Việt Nam Nhà văn tiền chiến 1930
-1945”, (Nxb Vàng Son-1974) của Thế Phong và cuốn “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” (tập 3) của Phạm Thế Ngũ, Đào Văn A đã viết: “Về hai tác giả Nhất Linh và Khái Hưng, so với Thế Phong, những trang viết của Phạm Thế Ngũ có phần “chín chắn” hơn Hầu hết các truyện dài, truyện ngắn, kịch ngắn của họ đều được giới thiệu, nhận định, có khen có chê.” [1, tr.79] Sau những
lời nhận xét sơ bộ có vẻ khách quan đó, bằng cách trích dẫn một số câu trong công trình của hai tác giả kể trên, ông đi đến kết luận các nhà nghiên cứu miền Nam đã đánh giá rất chung chung, mơ hồ và thiếu khách quan về các khía cạnh như: kết cấu, tâm lí… trong tác phẩm của các tác giả Tự lực văn đoàn Ông lần
Trang 13lượt chỉ ra những thiếu sót, sai lầm trong cách nhìn nhận của các nhà phê bình
và giải thích nguyên nhân là do lập trường tư sản phản động của họ:
Nhưng cũng như các sách nghiên cứu, phê bình văn học viết theo lập trường tư sản phản động xuất bản ở miền Nam trước ngày giải phóng, một số vấn đề cơ bản đều bị lờ đi hoặc mô tả một cách lệch lạc (…) và
sự khen chê chỉ nhằm vào cái chung chung mơ hồ, hoặc vụn vặt, lúc thì về kết cấu, tâm lý, lúc thì về kỹ thuật, hình thức [1, tr.79-80] Đào Văn A xuất phát từ tư tưởng chính trị để kết luận các nhà phê bình đã dành cái nhìn ưu ái cho Tự lực văn đoàn, gạt hết thiếu sót chỉ lọc cái hay, cái tốt
ra để ca ngợi Thế nhưng, chính ông cũng đứng trên một lập trường trái ngược
để thiếu công bằng với các công trình nghiên cứu của họ Ông khá khắt khe khi nhìn nhận các nhà văn theo khuynh hướng lãng mạn và vì thế cũng khắt khe luôn với các nhà phê bình ngợi ca văn chương lãng mạn Mặc dù có một cái nhìn hệ thống về tình hình tiếp nhận Tự lực văn đoàn nhưng Đào Văn A lại thể hiện sự thiên kiến, chủ quan trong phương pháp nghiên cứu khi đánh giá về vấn
đề tiếp nhận tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói chung và tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng nói riêng… qua nhiều dẫn chứng được ông nêu lên trong bài viết Ngày nay nhìn lại, chúng ta cũng đã công nhận vị trí của văn chương lãng mạn trong nền văn học dân tộc và thấy rằng chỉ nhìn vào tư tưởng để xác định vị trí của một nhà văn hay một trào lưu văn chương thì không đảm bảo sự chính xác và công bằng Việc đánh giá một hiện tượng văn học muốn khách quan, khoa học phải đòi sự cộng hưởng, phối hợp hoặc hỗ trợ từ nhiều phương pháp, nhiều cách nhìn
Năm 2006, Ngô Văn Thư qua cuốn sách “Bàn về tiểu thuyết Khái Hưng,
được chỉnh sửa bổ sung từ luận án tiến sĩ của chính tác giả, đã giới thiệu khái quát về tình hình tiếp nhận tiểu thuyết của Khái Hưng trong đó có đề cập đến vấn đề tiếp nhận tiểu thuyết của tác giả này ở miền Nam Ông cho rằng các nhà nghiên cứu miền Nam giai đoạn này đã có thái độ khác với thời tiền chiến
Trang 14Ngoài việc phát triển các khuynh hướng phê bình đã có từ trước họ còn tiếp thu các phương pháp phê bình hiện đại mới du nhập từ phương Tây Ngô Văn Thư dẫn ra ý kiến của Phạm Thế Ngũ, Thư Trung, Thế Phong về ngôn ngữ, bút pháp, lối viết… của Khái Hưng và kết luận ở miền Nam sau 1954 các nhà phê bình đã
có thái độ khác với thời tiền chiến, không còn quá cực đoan nhưng đa số vẫn là những lời khen có phần nào phiến diện, thái quá [83, tr.12-15] Như vậy, Ngô Văn Thư đã đề cập đến sự thay đổi phương pháp đọc tác phẩm của giới trí thức miền Nam giai đoạn 1954-1975 nhưng ông chỉ dừng lại ở việc nêu ra vấn đề chứ chưa phân tích kĩ lưỡng
Cũng trong năm 2006, Huỳnh Thị Hoa với luận văn thạc sĩ: “Vấn đề tiếp
nhận văn xuôi Tự lực văn đoàn” đã khái quát về quá trình tiếp nhận văn xuôi Tự
lực văn đoàn từ trước 1945 cho đến nay (thời điểm năm 2006) Ở chương 2, mục
“2.2 Vấn đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn ở miền Nam từ 1954-1986” tác giả đề
cập đến các hướng tiếp nhận và những tiền đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn ở giai
đoạn này Theo Huỳnh Thị Hoa, có bốn khuynh hướng tiếp nhận đó là: khuynh
hướng tiếp nhận nghệ thuật, khuynh hướng đánh giá cao nhân cách nhà văn, khuynh hướng tiếp nhận từ chủ trương cải cách xã hội và tiếp nhận từ góc độ tôn giáo Có thể nói Huỳnh Thị Hoa đã có phương pháp nghiên cứu khá thuyết
phục: xuất phát từ hiện tượng tiếp nhận rồi mới lí giải nguyên nhân dựa trên bối cảnh văn hóa, lịch sử, thị hiếu thẩm mỹ, tình hình phát triển của lí luận văn học… Vì thế những kiến giải thú vị mà tác giả luận văn đưa ra là có cơ sở khoa học chứ không phải nhận định chủ quan, mơ hồ Đặc biệt, tác giả luận văn cũng
đã dành sự quan tâm cho các phương pháp phê bình: “… quan tâm đến sự đổi
mới nghệ thuật tiểu thuyết của các nhà văn, các nhà nghiên cứu chủ yếu phân tích tác phẩm từ thể loại Họ thường phân loại tác phẩm để thuận lợi cho phân tích, bình luận Đó là cách làm của Phạm Thế Ngũ, Thế Phong, Nguyễn Văn Xung.” [31, tr.62] Huỳnh Thị Hoa đánh giá cách tiếp cận tác phẩm theo đặc
trưng thể loại của các nhà nghiên cứu giai đoạn này nhìn chung vẫn chưa có
Trang 15bước đột phá so với thời tiền chiến Tác giả luận văn đánh giá cao việc tiếp nhận tác phẩm từ nghệ thuật miêu tả tâm lý ở các bài viết của Nguyễn Văn Xung, Thế Phong, Thanh Lãng,… Theo Huỳnh Thị Hoa, nghệ thuật nói chung và nghệ thuật tả tình (miêu tả tâm lý) nói riêng là cơ sở để lí giải cho sự khác biệt trong
tiếp nhận: “Xuất phát từ chỗ coi trọng nghệ thuật nên ở miền Nam việc tiếp
nhận tác phẩm có khác với miền Bắc.” [31, tr.67] Vì thế, Huỳnh Thị Hoa cho
rằng khi phê bình tác phẩm của Khái Hưng, các nhận xét của Phạm Thế Ngũ chưa thật tiêu biểu do nhà nghiên cứu này chỉ chú ý đến tình tiết, cách xây dựng nhân vật, bút pháp… chứ không phân tích thế mạnh về nghệ thuật tả tâm lý Ở góc độ tôn giáo, Huỳnh Thị Hoa cũng bàn sơ về ảnh hưởng của Đạo Phật trong
tác phẩm Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng qua bài phê bình của Tam Ích
Sau khi tìm hiểu thì Huỳnh Thị Hoa đưa ra kết luận về kết quả tiếp nhận
của các nhà nghiên cứu miền Nam như sau: “Dù nghiên cứu về nội dung tư
tưỏng hay nghệ thuật thì nhìn chung, ở miền Nam chưa có công trình nào đánh giá tương đối đầy đủ, toàn diện về tác phẩm Tự lực văn đoàn Trong tiếp cận, đánh giá cũng còn bộc lộ sự lệch lạc, thiếu công bằng và cũng không hoàn toàn xuất phát từ tiêu chí văn chương.” [31, tr.79] Tóm lại, Huỳnh Thị Hoa do
nghiên cứu tiếp nhận Tự lực văn đoàn trên diện rộng nên tình hình tiếp nhận ở miền Nam (1954-1975) cũng chưa được khảo sát thật kĩ lưỡng Tác giả chưa chú
ý phân loại các khuynh hướng phê bình mà các nhà lý luận phê bình ở miền Nam đã vận dụng trong quá trình tiếp nhận tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam Hơn nữa tiếp nhận ở miền Nam được được đặt trong thế đối sánh với miền Bắc nên cách lí giải chủ yếu xoay quanh vấn đề tại sao miền Nam tiếp nhận theo hướng tích cực với nhiều lời khen ngợi còn miền Bắc thì ngược lại? Phương pháp phê bình của các nhà nghiên cứu cũng chưa được Huỳnh Thị Hoa
hệ thống và phân tích thật cụ thể
Ngoài ra, trong phần lịch sử vấn đề của một số luận văn, luận án cũng viết
về việc tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam giai đoạn
Trang 161954-1975, ở miền Nam Năm 2009, Huỳnh Thị Phương Cầm trong đề tài: “Dấu ấn
tiểu thuyết Dostoievski trong Bướm trắng của Nhất Linh” đã trích dẫn một số
đoạn trong bài: “Nhất Linh hay khuynh hướng lãng mạn phản kháng” (tủ sách
Nhân văn xã hội, Sài Gòn, 1972) để khẳng định mối liên hệ về nghệ thuật giữa
“Bướm trắng” với tiểu thuyết Dostoievski [13, tr.4] Cũng với tinh thần như thế, năm 2010, Nguyễn Đăng Vy trong đề tài: “Truyện ngắn Nhất Linh, Khái Hưng
trong văn xuôi nghệ thuật Tự lực văn đoàn” [102] đã dẫn ra một số ý kiến của
Phạm Thế Ngũ về khả năng viết cũng như sự phong phú về đề tài trong mảng truyện ngắn của Nhất Linh, Khái Hưng Còn các nhà nghiên cứu khác của miền Nam chỉ được Nguyễn Đăng Vy liệt kê tên chứ không bàn gì đến cách họ tiếp nhận tác phẩm của hai tác giả trên
Năm 2012, trong tham luận tại Hội thảo khoa học Phong trào thơ mới và
văn xuôi Tự lực văn đoàn-80 năm nhìn lại tổ chức tại trường ĐHSP Tp Hồ
Chí Minh có một số bài viết cũng bàn về tiếp nhận Tự lực văn đoàn nói chung
và bàn về tiếp nhận tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói riêng của tác giả như: Lê Ngọc Thúy, Nguyễn Công Lý, Phan Mạnh Hùng, Trần Hoài Anh…
Lê Ngọc Thúy trong bài “Văn chương Tự lực văn đoàn trong đời sống
văn học và giáo dục ở đô thị miền Nam 1954-1975” đã trình bày sơ lược về số
phận của Tự lực văn đoàn trong bối cảnh lịch sử, văn hóa miền Nam và nhận
xét: “…ngay từ đầu thập niên 60, các tôn chỉ của Tự lực văn đoàn đã trở thành
lạc điệu trong một bầu không khí xã hội thấm đẫm các vấn nạn của thời thực dân mới…” [74, tr.462] đồng thời dẫn ra một số ý kiến của các nhà nghiên cứu
như Võ Thu Tịnh, Lê Xuyên, Lữ Hồ, Võ Hồng…để đi đến kết luận:
Nói chung, sự nghiệp tư tưởng của Tự lực văn đoàn với hai trạng thái được quan tâm nhất trong xu hướng phê bình văn học và giáo khoa tại miền Nam những thập niên 60, 70 chính là thái quá (trong việc đánh
Trang 17giá, ứng xử với truyền thống) và bất cập (trong sự hiểu biết thấu đáo
về cái mới mà mình hô hào)… [74, tr.463]
Như vậy, Lê Ngọc Thúy cho rằng các nhà nghiên cứu miền Nam đã đánh giá những nhân sinh quan, những quan niệm nghệ thuật TLVĐ không đáp ứng được đòi hỏi mới của xã hội, nó chỉ là những kỉ niệm đẹp của một thời Tuy nhiên, không vì thế mà phủ định sạch trơn vai trò, vị trí của Tự lực văn đoàn trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Bằng chứng là Lê Ngọc Thúy đã tiếp tục dẫn ra ý kiến của Võ Thu Tịnh, Lữ Hồ và Nguyễn Văn Xung về phương diện nghệ thuật như ngôn ngữ, hình tượng nhân vật để ca ngợi những đóng góp
của Tự lực văn đoàn: “điều rất thống nhất nơi các nhà phê bình, người viết giáo
khoa chính là đánh giá về cống hiến về phương diện nghệ thuật của các tác phẩm TLVĐ về các thể tài tiểu thuyết, thơ, văn chương trào phúng… là không thể phủ nhận được.” [74, tr.464] Để tóm lại bài viết của mình Lê Ngọc Thúy
một lần nữa khẳng định sự thành công của TLVĐ nói chung và tác phẩm của TLVĐ nói riêng:
Như vậy, tại miền Nam, TLVĐ một mặt đã được xem là một quá khứ văn học hàm chứa nhiều tranh cãi, nhưng mặt khác người ta cũng thực
sự coi đó là một quá trình phấn đấu có nhiều thành tựu, có nhiều tác phẩm xứng đáng đưa vào chương trình quốc văn cho học sinh trung học miền Nam học tập trong xu thế đánh giá, chiêm nghiệm, suy gẫm, thậm chí có thể phản biện trong các thập niên 60, 70 [74, tr.468]
Lê Ngọc Thúy giới thiệu về “TLVĐ trong chương trình quốc văn tại các
trường trung học miền Nam 1954-1975” như sau: văn chương Tự lực văn đoàn
được giảng dạy trong các chương trình đệ nhất cấp, đệ nhị cấp ở miền Nam; các vấn đề văn chương, tư tưởng, quan niệm nghệ thuật… của Tự lực văn đoàn ngoài việc là đề tài thuyết trình trong các cấp lớp còn hiện diện trong các kì thi quan trọng như thi tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp, thi tú tài… [74, tr.464] Lê Ngọc Thúy cũng giải thích thêm về đặc điểm của chương trình giáo dục giai
Trang 18đoạn này là tự do trong việc biên soạn sách và xu hướng “mở” trong cách hiểu,
cách đánh giá về tác phẩm văn chương nên việc tiếp nhận có thể xuất phát từ nhiều quan điểm khác nhau Dựa theo khung chương trình quốc văn, các soạn giả sách giáo khoa, người học, người dạy… có quyền lựa chọn tác phẩm để biên
soạn, học tập và giảng dạy: “Các tác phẩm của TLVĐ được lựa chọn nhiều nhất
để giảng dạy, ra đề thuyết trình, thi lục cá nguyệt (…) là Nửa chừng xuân, Lạnh Lùng của Khái Hưng, Đoạn Tuyệt của Nhất Linh…” [74, tr.465] Lê Ngọc Thúy
tiếp tục dẫn ra một số đề thi tham khảo: năm đề thi trong cuốn Việt văn giản dị,
tự học quốc văn và luyện thi tú tài của Lữ Hồ, mười một đề thi trong cuốn Việt văn đệ nhị ABCD của Võ Thu Tịnh, ba đề trong Việt văn đệ nhị của Thanh Trúc
và Đoàn Văn Thuận, ba đề trong Việt Văn 11 ABCD của Tạ Ký Tổng cộng hai
mươi hai đề thi được đưa ra thì chúng tôi thống kê được trong đó đã có mười một đề trực tiếp nhắc đến tác phẩm hoặc nhân vật trong tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh… Qua các dẫn chứng, chúng tôi thấy rằng tác phẩm của Khái Hưng, Nhất Linh đã được tiếp nhận trong các sách giáo khoa, sách tham khảo
Lê Ngọc Thúy đã tiếp cận vấn đề bằng cách điểm sơ về tình hình tiếp nhận
Tự lực văn đoàn trong nhà trường Tuy nhiên, xuyên suốt bài viết Lê Ngọc Thúy chưa bàn cụ thể tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng được tiếp nhận như thế nào?
Và vấn đề tiếp nhận tác phẩm của Thạch Lam cũng không được đề cập Vậy Lê Ngọc Thúy khi đưa ra đánh giá của các nhà phê bình về tác phẩm của Tự lực văn đoàn thì có bao hàm cả tác phẩm của Thạch Lam trong đó hay không? Thiết nghĩ, để giải đáp được những băn khoăn trên chúng tôi cần đi sâu tìm hiểu, khảo sát kĩ hơn để làm rõ vấn đề này
Cũng nghiên cứu về tiếp nhận văn chương Tự lực văn đoàn trong sách giáo
khoa Nguyễn Công Lý viết bài “Văn chương Tự lực văn đoàn và Thơ mới
trong chương trình trung học môn văn ở miền Nam trước 1975” Sau khi khảo
sát Nguyễn Công Lý đã đưa ra nhận xét:
Trang 19Riêng về văn chương Tự lực văn đoàn, (…) việc giới thiệu toàn tác phẩm, đặc biệt là ba tác giả trụ cột của Tự lực văn đoàn là Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo được khảo kỹ về tác giả; giới thiệu kỹ tác phẩm cho đến các bài trích giảng, bài đọc thêm, hệ thống các câu hỏi giáo khoa và đề luận về Tự lực văn đoàn, về ba tác phẩm của ba tác giả trụ cột của văn đoàn được học kỹ trong chương trình lớp 11.” [74, tr.476]
Như vậy, qua bài giới thiệu của Nguyễn Công Lý, chúng tôi có thể hình dung về vị trí của tác phẩm Tự lực văn đoàn trong chương trình quốc văn Đó cũng là cơ sở cho việc khoanh vùng các nguồn tài liệu trong phạm vi đề tài mà chúng tôi tìm hiểu
Phan Mạnh Hùng với bài “Tiếp nhận Khái Hưng ở miền Nam trước
1975” đã nghiên cứu vấn đề tiếp nhận Khái Hưng trước 1975 qua các giai đoạn
Riêng giai đoạn 1954-1975, ông khảo sát được hơn ba mươi bài viết, công trình nghiên cứu phê bình dạng bài báo và sách in, tiến hành phân loại chúng thành các cụm bài để đánh giá Ở mỗi cụm bài tác giả đều lấy ví dụ để chứng minh Riêng cụm bài bàn về tác phẩm ông đã nêu ra hơn mười bài viết trong sách , báo
mà ông cho là đáng chú ý:
Doãn Quốc Sĩ: “Vài ý nghĩ về cuốn Trống mái” (Luận đàm bộ I, số 1960) và Đọc Khái Hưng: “Nửa chừng xuân”(Luận đàm bộ I, số 5- 1961); Dương Nghiễm Mậu: “Nhân nghĩ về Khái Hưng” (Văn, số 22- 1964); Đỗ Minh Vọng: “Nhân vị trong Hồn bướm mơ tiên” (Đại học,
1-số 4+5-1958), Nguyễn Duy Diễn: “Mai, một nhân vật khả ái của Khái
Hưng” (Hiện đại, số 3-1960)… [74, tr.431]
Ngoài ra, ông còn giới thiệu các bài viết về tác phẩm của Nhất Linh, Khái
Hưng trong chương trình giáo dục phổ thông ở miền Nam dưới các sách dạng
“luận đề” về tác giả, tác phẩm:
Trang 20Các tác giả viết sách luận đề về Khái Hưng có thể kể: Doãn Quốc Sĩ:
Tự lực văn đoàn (Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn, 1961), Chu Đăng Sơn: Luận đề về Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Mười điều tâm niệm (Thăng
Long xuất bản, Sài Gòn, 1960); Lê Hữu Mục: Khảo luận về Khái
Hưng (Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên) (Trường Thi xuất bản,
Sài Gòn 1958)… [74, tr.431]
Trong “Thư mục nghiên cứu, phê bình Tự lực văn đoàn và thơ mới”
Phan Mạnh Hùng cũng đã thống kê được 102 mục tài liệu về tiếp nhận Tự lực văn đoàn ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, tuy còn một số sai sót (mục 66: Bài viết “Ý hướng cải tạo xã hội của Tự lực văn đoàn” được ghi là của Nguyễn Triệu Luật nhưng thực ra là của Trần Triệu Luật; mục 83: Tường Hùng bị nhầm
thành Tương Hùng; mục 93: Bài viết của Trần Nhã được đăng trên tạp chí Thời
nay năm 1959 lại bị ghi nhầm là năm 1969…) nhưng thư mục đó cũng đã cung
cấp những gợi ý quan trọng để việc tìm kiếm tài liệu bàn về tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1954-1975) của chúng tôi được thuận lợi hơn Chúng tôi sẽ lọc ra trong thư mục đó
những tài liệu liên quan tới đề tài “Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng,
Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1954-1975)”
Trần Hoài Anh trong bài viết “Tự lực văn đoàn trong cái nhìn của lý
luận-phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954-1975” đã bàn đến việc tiếp nhận trào
lưu Tự lực văn đoàn cũng như một số đánh giá về các tác giả trong trào lưu này Đặc biệt Trần Hoài Anh có đề cập đến vấn đề tiếp nhận tác phẩm của Nhất Linh
qua bài viết của Huỳnh Phan Anh về tác phẩm Bướm trắng, tác phẩm của Khái Hưng qua việc so sánh bài viết của Tam Ích và Lê Huy Oanh về Hồn bướm mơ
tiên và tác phẩm của Thạch Lam qua các bài viết của Thế Uyên, Dương Nghiễm
Mậu…Tuy nhiên, trọng tâm của bài báo vẫn là vấn đề tiếp nhận Tự lực văn đoàn nói chung, vì thế tác giả chỉ điểm sơ chứ không đi sâu vào nghiên cứu một cách
Trang 21hệ thống về tình hình tiếp nhận, khái quát các phương pháp tiếp nhận tác phẩm của ba tác giả kể trên
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới tình hình tiếp nhận Tự lực văn đoàn nói chung và tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói riêng trong giai đoạn 1954-1975, ở miền Nam Tuy nhiên, họ không đi sâu phân tích về phương pháp tiếp cận của các nhà phê bình chỉ mà dừng lại ở việc liệt kê, trích dẫn một số đoạn và tiến hành đánh giá nhận xét để làm cơ sở cho vấn đề mà họ nghiên cứu Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách kĩ lưỡng vấn
đề Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam 1954 -1975 từ góc độ khuynh hướng phê bình nói chung và từ các khuynh hướng phê bình giáo khoa, phê bình tâm lí học, phê bình hiện sinh, phê bình chịu ảnh hưởng của các tư tưởng tôn giáo nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp lịch sử
Phương pháp này gắn với việc đặt các bài nghiên cứu, phê bình… về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn vào bối cảnh lịch sử văn học Việt Nam đương đại để có cái nhìn thấu đáo, tìm ra những tác động của xã hội đến việc nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu trong giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam
5.2 Phương pháp hệ thống
Sau khi phân tích các bài nghiên cứu về Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn chúng tôi mong muốn phân loại chúng theo hệ thống dựa
trên các phương pháp phê bình mà các nhà nghiên cứu sử dụng
5.3 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu, người viết sẽ tiến hành so sánh giữa các bài nghiên cứu về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn với nhau để tìm ra nét chung, nét khác biệt trong cách nhận định đánh
Trang 22giá của các nhà nghiên cứu từ đó tạo tiền đề cho việc phân loại cũng như lí giải nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng một số thao
tác khác như phân tích, tổng hợp…
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Về ý nghĩa khoa học: Góp phần mang lại một góc nhìn về vấn đề tiếp
nhận các tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn của các độc giả tinh hoa ở miền Nam giai đoạn 1954-1975
Về ý nghĩa thực tiễn: Vận dụng Lí thuyết tiếp nhận vào thực tiễn nghiên
cứu văn học, cụ thể là nghiên cứu vấn đề tiếp nhận các tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn Từ đó, có thể hiểu rõ hơn về lí thuyết tiếp nhận để ứng dụng vào việc học tập và giảng dạy
7 Cấu trúc luận văn
Căn cứ vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu chúng tôi đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ở mục này là một vài kiến giải về cách chúng tôi chia bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung chính của luận văn được triển khai theo ba chương:
Chương một: Tổng quan tình hình tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái
Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1954-1975) chúng tôi
đi vào tìm hiểu khái quát về tình hình tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 Khi triển khai vấn đề chúng tôi đã căn cứ vào lí thuyết mỹ học tiếp nhận, cụ thể là các yếu
tố chi phối quá trình tiếp nhận văn học, theo chúng tôi có ba yếu tố chính: tác phẩm (và các bài đánh giá về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam); độc giả (các nhà nghiên cứu, phê bình bàn về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam) và sự tác động của bối cảnh lịch sử xã hội đối với hiện tượng tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam giai đoạn này
Trang 23Chương hai: Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ
khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng các tư tưởng Nho, Phật, Lão
Căn cứ vào thực tế nghiên cứu của các nhà phê bình, ở chương này chúng tôi tập trung đánh giá một số khuynh hướng phê bình có ý nghĩa về mặt tư tưởng
có nguồn gốc từ phương Đông như: khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo
Chương ba: Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam từ
khuynh hướng phê bình tiểu sử học, phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh
Mục đích của chúng tôi khi viết chương này là nhấn mạnh một số khuynh hướng phê bình nổi bật và có nguồn gốc từ phương Tây mà giới nghiên cứu ở miền Nam đã vận dụng để đánh giá tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam đó là: khuynh hướng phê bình Tiểu sử học, Phân tâm học và Hiện sinh Tuy nhiên, trong thực tế các nhà nghiên cứu không chỉ sử dụng riêng lẻ từng phương pháp mà họ có sự phối hợp, đan xen rất nhiều phương pháp Cho nên nghiên cứu riêng lẻ một khuynh hướng phê bình nào đó là điều rất khó thực hiện Vì thế các khuynh hướng phê bình tiểu sử học, tâm lí học, hiện sinh có khi được chúng tôi nhìn trong sự kết hợp với các khuynh hướng phê bình khác Chúng tôi chia bố cục ba chương như trên để có cái nhìn đối sánh giữa các phương pháp phê bình có nguồn gốc từ phương Đông với các phương pháp phê bình có nguồn gốc từ phương Tây
Trang 24Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN TÁC PHẨM NHẤT LINH, KHÁI HƯNG, THẠCH LAM TRONG TỰ LỰC VĂN ĐOÀN Ở MIỀN NAM (1954 -1975) 1.1 Giới thuyết về lý thuyết mỹ học tiếp nhận
1.1.1 Mỹ học tiếp nhận và sự đề cao vai trò của người đọc
Vai trò, vị trí của người đọc chỉ thực sự được quan tâm đúng mức khi lý
thuyết tiếp nhận văn học ra đời Mỹ học tiếp nhận và sự khẳng định vị trí của người đọc gắn liền với tên tuổi của hai nhà nghiên cứu người Đức: Wolfgang Iser và Hans Robert Jauss Lý thuyết này được đón nhận ở Việt Nam thông qua quá trình giao lưu văn hóa, văn học với các nước phương Tây Vấn đề người đọc-trung tâm của lý thuyết mỹ học tiếp nhận được các nhà lý luận, phê bình Việt Nam đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu của mình
Trong Lược khảo văn học tập 1, Nguyễn Văn Trung đã bàn đến điều kiện
để một văn bản trở thành tác phẩm: “…một tác-phẩm văn-chương Nếu không
có người cầm lấy và đọc, nó chỉ là trang giấy trắng có những dòng chữ đen vô hồn, trống rỗng, vô nghĩa Tác-giả, tác-phẩm, độc-giả là một, hay nói cách khác
là những yếu- tố cấu-tạo vũ-trụ văn-chương.” [89, tr.227] Và một người viết
văn chỉ được gọi là tác giả khi có độc giả: “Tác giả chỉ là tác giả vì có độc giả
và cho độc giả Do đó độc giả là một yếu tố cấu tạo của tác phẩm Gọi là yếu tố cấu tạo vì nếu không có độc giả thì không thể có tác phẩm được” [89, tr.227]
Nguyễn Văn Trung đã nhận thức rõ vai trò, vị trí của người đọc: “… khi
người đọc đi vào tác-phẩm, người đọc dựng lại vũ-trụ mà tác-giả đã xây-dựng
và hoàn-thành bằng tưởng-tượng, trí-óc, tình-cảm từ những vết-tích là những chữ mà tác-giả đã vạch, ghi trên giấy như những dấu-hiệu” [89, tr.228] Ông đề
cao tính sáng tạo của người đọc trong việc tạo nên những giá trị mới cho tác
phẩm: “Hơn nữa, độc-giả không phải chỉ là dựng lại tác-phẩm như tác-giả đã
Trang 25làm, mà đôi khi có thể còn vượt giả bằng cách tô-điểm bồi bổ thêm cho phẩm phong-phú mãi mãi” [89, tr.228]
tác-Đặng Tiến thông qua một sự liên tưởng mới lạ và thú vị đã nhìn thấy sự tương đồng giữa việc khám phá một tác phẩm văn chương và yêu một người đàn
bà: “Yêu một tác phẩm nghệ thuật, giống như yêu một người đàn bà ở điểm là
mỗi lần yêu chúng ta khám phá ở người tình một trinh tiết mới Yêu một tác phẩm là sáng tạo một trinh tiết mới cho tác phẩm.” [85, tr.9]
Sau này, Trần Đình Sử, qua các công trình lý luận văn học hiện đại đã
khẳng định “Tác phẩm văn học được sáng tác ra là nhằm để thưởng thức, tiếp
nhận” [73, tr.300] Vì thế có thể xem tiếp nhận là một hoạt động văn học có vị
thế ngang với sáng tác Nếu sáng tác đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn thì tiếp nhận đề cao tính sáng tạo của người đọc [73, tr.301]
Đỗ Lai Thúy cũng nhận định: “…nói đến tác phẩm văn học không thể thiếu
được vai trò người đọc như là kẻ đồng sáng tạo.” [79, tr.21] Sự sáng tạo của
người đọc hiện đại được Đỗ Lai Thúy phân tích cụ thể như sau: “Nếu văn bản
chỉ chứa đựng một lớp nghĩa gọi là nghĩa tồn tại thì người đọc trong quá trình tiếp xúc với tác phẩm làm nảy sinh một lớp nghĩa thứ hai là nghĩa kiến tạo.”
[79, tr.92] Ông đề cập đến việc nghiên cứu vô thức sáng tạo của nhà văn theo lý
thuyết Phân tâm học của Freud: “Nếu văn bản chỉ chứa đựng những chủ ý của
tác giả, thì người đọc còn khám phá ra những cái ngoài chủ ý do vô thức của tác giả hay vô thức của văn bản tạo nên Mà tầm cỡ của tác phẩm thì, hình như, lại tỉ lệ thuận với độ lớn của cái phần không chủ ý này” [79, tr.92] Theo Đỗ Lai
Thúy, độ lớn của phần vô thức sẽ quyết định tầm cỡ của tác phẩm văn chương vì thế độc giả thành công là người có khả năng thâm nhập, khai phá tầng sâu vô thức ấy
Như vậy, lý thuyết mỹ học tiếp nhận ra đời đã khẳng định vị thế của người đọc Một văn bản không thể trở thành tác phẩm nếu như không có độc giả Sự sáng tạo trong phương pháp đọc khiến người đọc trở thành một khâu then chốt
Trang 26của tiến trình văn học (nhà văn-tác phẩm-người đọc) Giá trị của tác phẩm văn học lúc này là kết quả của sự cộng hưởng giữa khả năng sáng tạo của nhà văn với khả năng sáng tạo của độc giả
1.1.2 Độc giả tinh hoa với hoạt động phê bình văn học
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò của độc giả nói chung và đặc biệt là độc giả tinh hoa nói riêng trong việc định hướng xu thế phát triển của văn học
Roland Barther qua cuốn Tiểu luận phê bình đã đề cập đến nhiệm vụ của nhà
phê bình và nhấn mạnh vai trò của hệ thống lí thuyết đối với hoạt động phê bình văn học:
Nhiệm vụ của phê bình chỉ là, như một thợ mộc lành nghề gắn khít hai
bộ phận của một đồ gỗ tinh xảo một cách “có trí tuệ”, gắn ngôn ngữ của thời đại cung cấp cho phê bình (chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Marx, phân tâm học) vào ngôn ngữ, có nghĩa là vào hệ thống hình thức của những quy tắc logic được tác giả tạo nên theo chuẩn mực của thời đại anh ta […] Sự thể nghiệm của phê bình, nếu có, sẽ phụ thuộc vào khả năng dùng ngôn ngữ phê bình để bao trùm lên tác phẩm được nghiên cứu bằng cách đạt hiệu quả nhất, chứ không phải vào khả năng phát hiện ra tác phẩm ấy [82, tr.181]
Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam đã dẫn ý kiến của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu Theo Dương Quảng Hàm phê bình cũng là một thể loại văn học:
Thể văn phê bình là một thể văn ta mới mượn của Pháp văn Không phải xưa kia các cụ không hề phê bình, nhưng các lời phán đoán khen chê của các cụ chỉ xen vào trong một bài văn hoặc một cuốn sách chứ chưa hề biệt lập thành một văn thể riêng Mãi đến gần đây, các văn gia mới phỏng theo thể phê bình của người Pháp mà viết tác phẩm thuộc thể ấy [47, tr.289]
Trang 27Đỗ Lai Thúy trong bài viết Khi người đọc xuất hiện đã bàn về vấn đề phân loại người đọc Theo ông, người đọc cổ điển là kiểu người đọc đứng ngoài tác
phẩm, không hề có một ảnh hưởng nào đến thuộc tính nội tại của tác phẩm Kiểu người đọc này chỉ nhận xét tác phẩm theo cảm tính hoặc theo nhu cầu cá nhân chứ không có những đánh giá thực sự Còn các nhà phê bình, đối tượng mà
chúng tôi quan tâm thì Đỗ Lai Thúy gọi là siêu người đọc Kiểu người đọc này cũng có nguồn gốc từ người đọc cổ điển, tuy nhiên họ có chuyên môn hoặc
chuyên nghề hơn [32, tr.87-88] Chính vì có chuyên môn nên phương pháp đọc của các nhà phê bình sẽ khách quan, khoa học, có hệ thống và có ý nghĩa thúc đẩy quá trình sáng tác văn học
Các nhà phê bình sẽ sáng tạo nên những tác phẩm phê bình nhưng không
phải bằng chất liệu lấy trực tiếp từ đời sống mà thông qua việc tái tạo chất liệu
tác phẩm của nhà văn Vì thế, văn bản phê bình được tiếp nhận cũng sẽ trở thành
tác phẩm văn chương và “những khám phá lý thuyết của những tác phẩm phê
bình lớn còn có thể làm thay đổi hệ hình giá trị thẩm mỹ, mở cho nhà văn những thời đại sáng tác mới.” [32, tr.94]
Trong cảm hứng này Trần Thái Học cũng nhấn mạnh vai trò của phê bình
văn học khi ông cho rằng “Phê bình là một khoa học và từ lâu được coi là một
trong ba phân môn chính thuộc khoa nghiên cứu văn học Tính khoa học của nó không chỉ được xác định bởi đối tượng nghiên cứu mà còn ở chủ thể đọc và phương pháp đọc [32, tr.19] Như vậy sự khác biệt về phương pháp đọc chính là
điểm phân biệt giữa người đọc phê bình với các kiểu người đọc khác “Nhà phê
bình là người đọc chuyên nghiệp có trình độ văn hóa và học vấn sâu rộng, có năng lực tư duy khoa học và khả năng cảm thụ sâu sắc.” [32, tr.19] Và “Đọc phê bình không chỉ để thưởng thức mà còn để đối thoại và tích cực phản biện.”
[32, tr.19]
Tuy các giáo trình lý luận văn học ở nước ta đến năm 1986 mới có bài tiếp nhận văn học, nhưng hoạt động tiếp nhận văn học đã có từ lâu đời song song với
Trang 28quá trình sáng tác văn học Trần Đình Sử chứng minh trong lịch sử văn học đã
có nhiều quan điểm tiếp nhận như: cách đọc tri âm, kí thác ở phương Đông, hay lối phê bình ấn tượng, phê bình khách quan ở phương Tây… [73, tr.307-308]
Như vậy, có thể thấy các nhà phê bình với nhiều phương pháp pháp đọc, nhiều con đường tiếp cận tác phẩm khác nhau sẽ góp phần hình thành diện mạo
của văn học trong tiến trình lịch sử Như Hans Robert Jauss từng nói: “Lịch sử
văn học thực chất là lịch sử của những cách đọc.” [32, tr.19] Trình độ đọc của
cộng đồng độc giả nói chung và độc giả tinh hoa nói riêng sẽ quyết định giá trị của một tác phẩm ở một thời đại nhất định
1.1.3 Tầm đón đợi và giới hạn của các phương pháp đọc
Khái niệm “Erwartungshorizont” của Hans Robert Jauss được, Nguyễn Văn Dân và Trần Đình Sử dịch là “tầm đón nhận”; Trương Đăng Dung dịch là
“tầm đón đợi” Theo Nguyễn Văn Dân có một số người còn dịch là “chân trời
chờ mong” hay “chân trời chờ đợi” Chúng tôi thấy rằng“tầm đón đợi” sẽ cho
thấy sự chủ động hơn của chủ thể tiếp nhận so với “tầm đón nhận” cho nên cách dịch “tầm đón đợi” của Trương Đăng Dung đề cao sự chủ động của người đọc
trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học [16], [24], [73]
Trương Đăng Dung đã giới thiệu về cách phân biệt hai loại tầm đón đợi của
Hans Robert Jauss: “Một là ảnh hưởng được xác định thông qua văn bản, hai là
sự tiếp nhận được xác định thông qua người đọc.”[23, tr.27]
Nguyễn Văn Dân cũng trích dẫn và diễn giải về nội hàm của khái niệm
“tầm đón nhận” theo cách hiểu của Jauss:
… “tầm đón nhận” của công chúng là “hệ quy chiếu có thể trình bày
được một cách khách quan mà đối với mỗi tác phẩm ở thời điểm lịch
sử xuất hiện của nó, hệ quy chiếu đó sẽ được rút ra từ ba yếu tố cơ bản: kinh nghiệm có trước của công chúng về thể loại của tác phẩm; hình thức và hệ đề tài của các tác phẩm trước nó mà nó yêu cầu phải
Trang 29tìm hiểu; và sự đối lập giữa ngôn ngữ thi ca và ngôn ngữ thực tế, giữa thế giới tưởng tượng và thực tế hàng ngày [16, tr.201-202]
Tầm đón đợi không cố định, bất biến mà luôn thay đổi theo lịch sử tiếp nhận của người đọc ở mỗi thời đại, mỗi bối cảnh xã hội khác nhau mà người ta gọi đó là trường tiếp nhận Tác phẩm mới xuất hiện có thể kéo theo sự thay đổi tầm đón nhận cũ của độc giả Nếu như tác phẩm có khoảng cách thẩm mĩ càng
xa với tầm đón đợi của người đọc thì càng dễ gây nên những phản ứng trái chiều trong cộng đồng độc giả [16, tr.202]
Thế nên, khi bàn đến vai trò quyết định của tầm đón nhận trong việc định
giá tác phẩm văn học ở mỗi thời đại Trần Đình Sử cho rằng: “Quyết định số
phận sáng tác mỗi thời là tầm đón nhận của người đọc, thế hệ người đọc.” [73,
“tung tẩy” đến đâu trong cách đọc thì cũng chỉ tung tẩy trong giới hạn
của một vài cách đã được quy định từ trước, gọi là tầm đón đợi
[79, tr.22]
Như vậy, tuy cách dịch hơi khác nhau, song các nhà nghiên cứu đã có sự
thống nhất trong cách hiểu về nội hàm của khái niệm“Erwartungshorizont”
Tầm đón đợi (Erwartungshorizont) sẽ quy định phương pháp đọc của từng thời
đại khác nhau Vì thế, phê bình văn học ở mỗi giai đoạn lịch sử dù ít hay nhiều cũng chịu sự chi phối của hệ thống các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ở thời đại đó Nghiên cứu các phương pháp đọc trong tác phẩm phê bình văn học sẽ giúp chúng ta phát hiện ra khoảng cách thẩm mĩ giữa văn bản văn chương và văn bản phê bình Từ đó, có thể kết luận về ưu điểm, hạn chế của
Trang 30các phương pháp đọc mà các nhà nghiên cứu sử dụng để tiếp cận tác phẩm văn học Đánh giá một tác phẩm phê bình thành công có nghĩa là tác giả của tác phẩm ấy đã vận dụng hợp lí các phương pháp đọc để sáng tạo những giá trị mới cho tác phẩm
Thế Phong trong Lược sử văn nghệ Việt Nam đã nêu lên nguyên tắc phê
bình văn học phải gắn với thời điểm lịch sử, bối cảnh xã hội và sự đánh giá phải
dựa trên những phương pháp mà nhà phê bình sử dụng: “… người phê bình phải
mở rộng khuynh hướng để nhìn Và đánh giá một tác giả chỉ nên nhìn xem tác phẩm, tác giả ấy trong khuynh hướng ấy, đạt mục đích nghệ thuật cao chưa? (…) phê bình Khái Hưng, ta phải dựa tác phẩm ấy song hành với hoàn cảnh chính trị thời ấy [63, tr.34] Như vậy, tiếp nhận văn học cũng bị giới hạn bởi tầm
đón đợi và cách lựa chọn hệ tiêu chí của các khuynh hướng lí thuyết mà người đọc sử dụng Và đây cũng là một giới hạn của sự đọc trong việc tiếp nhận văn học Bởi lẽ không thể có một hệ mỹ học nào có thể thỏa mãn cho mọi sự đọc trong việc giải mã các hiện tượng văn học trong quá trình tiếp nhận Bởi vậy việc dùng nhiều hệ tư tưởng triết mỹ làm hệ quy chiếu khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng sẽ góp phần giúp người đọc tiệm cận hơn với chân lý nghệ thuật
và chân lý cuộc sống được nhà văn thể hiện trong tác phẩm văn học
1.2 Tình hình tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn ở miền Nam (1954-1975)
1.2.1 Bối cảnh lịch sử xã hội miền Nam (1954 -1975)
1.2.1.1 Giai đoạn 1954-1963
Sau hiệp định Genève ký kết vào tháng 7-1954, Cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến
17 bị “cắt đôi” phân chia dải đất hình chữ S thành hai miền với hai thể chế chính
trị khác nhau Nếu miền Bắc tiếp tục đi theo con đường của dân tộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Thì miền Nam lại thành lập chính phủ Việt Nam cộng hòa, “tự do” dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ Hiệp định Genève cho phép dân chúng hai miền Nam Bắc có quyền di cư sang lãnh thổ do bên kia kiểm soát trong thời
Trang 31gian quân đội hai bên tập kết Vì nhiều lí do, khoảng một triệu người Bắc đã di
cư vào Nam Trong số đó, có những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật như: Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Đỗ Đức Thu, Đinh Hùng, Mai Thảo, Nguyên Sa, Tạ Tỵ, Thanh Tâm Tuyền, Thế Phong, Tam Ích, Trần Bích Lan…
Kể từ khi thành lập cho đến cuối năm 1963, chính phủ Việt Nam Cộng hòa
do tổng thống Ngô Đình Diệm đứng đầu Trong chín năm nắm quyền, bên cạnh một số chính sách khả quan như: khôi phục kinh tế; ổn định cuộc sống cho người dân; xây dựng cơ sở vật chất; mở thêm trường học, viện đại học; cải cách giáo dục… Ngô Đình Diệm đã thi hành nhiều chính sách độc tài để củng cố quyền lực chính trị như: gia đình trị, thiên vị công giáo, đàn áp Phật giáo… Ông
và Ngô Đình Nhu tổ chức Đảng Cần lao Nhân vị; thành lập các cơ cấu mật vụ, dẹp các đảng phái quốc gia; đàn áp phe đối lập…Những chính sách đó đi ngược với nguyện vọng của quần chúng nhân dân Vì thế, mặc dù Ngô Đình Diệm đã
nỗ lực để xây dựng miền Nam trở thành một quốc gia độc lập đối trọng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc nhưng chính quyền họ Ngô cũng chỉ tạo ra được sự ổn định bề mặt ở mấy năm đầu
Từ năm 1959 trở đi, đã có nhiều vụ ném bom, nhiều cuộc biểu tình chống chính quyền Mỹ-Diệm, đặc biệt là phong trào đồng khởi nổ ra ở Bến Tre Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời tập hợp những lực lượng vốn không hài lòng với chính phủ và các chính sách của chính quyền họ Ngô, để tiến hành đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước
Phật giáo đã phát triển mạnh mẽ và đi sâu vào đời sống tinh thần của người
dân miền Nam từ đầu thế kỉ XX: “Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của
quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.” [95, tr.1] Thế nhưng, Ngô Đình Diệm lại là tín đồ sùng đạo Thiên chúa
Ngô tổng thống không những thiên vị Thiên chúa giáo mà còn đàn áp Phật giáo
Trang 32bằng nhiều chính sách rất nặng nề Hành động cấm treo cờ Phật-lá cờ tượng trưng cho ánh hào quang của đức Phật trong ngày lễ Phật Đản của ông như đổ thêm dầu vào lửa trong bầu không khí sôi sục ở miền Nam Ngày 11-6-1963, để phản ứng lại sự xúc phạm nặng nề của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng-Lê Văn Duyệt Sau sự kiện chấn động ấy, kéo theo hàng loạt vụ tự thiêu của các tín đồ Phật giáo phản đối chính quyền, ngọn lửa đấu tranh của Phật tử lan rộng khắp miền Nam… làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm Ngày 7-7-1963, nhà văn Nhất Linh tự tử vào đúng ngày “song thất” - ngày kỉ niệm nhậm chức của Ngô Đình Diệm Theo lệnh của nhà cầm quyền, đám tang Nhất Linh phải tổ chức đơn giản, nhanh chóng Tuy vậy, cái chết của văn sĩ đã để lại niềm tiếc thương cho những người ngưỡng mộ tài năng của ông và nó gây nên phản ứng mạnh mẽ trong dư luận Sau này, khi hồi tưởng về Nhất Linh trên tạp chí Văn số
156, Vũ Bằng đã viết về cái chết trầm lặng nhưng đầy ý nghĩa của lãnh tụ phong
trào Tự lực văn đoàn: “Anh (…) đã đi nhẹ nhàng, êm ái như đi ngủ, sau khi viết
lại một bức thư lên án chế độ Ngô gia với những câu cũng nhẹ nhàng, êm ái như thế nhưng làm cho cả nước xót xa anh và uất hận Ngô gia gấp trăm vạn lần.”
[10, tr.55] Nguyễn Duy Diễn cho rằng Nhất Linh đã dùng cái chết của mình để
cảnh cáo chế độ độc tài: “Cái chết của anh quả là một lời cảnh cáo nặng nề đối
với ông Ngô Đình Diệm nói riêng, và đối với tất cả bọn độc tài nói chung.” [20,
tr.40] Ngoài ra, còn rất nhiều các bài viết thể hiện lòng tiếc thương đối với nhà
văn tài hoa, bạc mệnh này: “Bệnh tật và cái chết của Nhất Linh” của Trần Văn Bảng, “Hoài niệm Nguyễn Tường Tam” của Hiếu Chân, “Ngày 7 tháng 7” của Dương Kiền, “Những ngày cuối cùng của thân phụ tôi” của Nguyễn Tường Thiết, “Sự thật về cái chết của văn hào Nhất Linh đối với Tổng thống Ngô Đình
Diệm” của Phan Kim Thịnh, “Nhất Linh, con Phượng Hoàng gẫy cánh” của
Nguyễn Hữu Trọng… [9], [12], [43], [76], [77], [86]
Trang 33Mặc dù đánh giá ông Diệm là người có tài dẹp yên các cuộc nổi loạn, đàn
áp các phong trào đấu tranh nhưng trước sự làn sóng phẫn nộ của quần chúng,
Mỹ đã giật dây lật đổ chính quyền họ Ngô để xoa dịu dư luận Ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh thực hiện một cuộc đảo chính đẫm máu, lật đổ Diệm-Nhu Sau cuộc đảo chính, ở miền Nam, không ai đủ khả năng thay thế vị trí Ngô Đình Diệm, vì trước đó Mỹ đã cho phép Diệm tùy ý loại bỏ những người có khả năng
đe dọa địa vị của ông ta ra khỏi hệ thống chính trị
1.2.1.2 Giai đoạn 1964-1975
Từ năm 1964, Mỹ liên tục thay đổi chiến lược chiến tranh ở Việt Nam và ngày càng bộc lộ những bất ổn trong bộ máy chính trị Khủng hoảng về lãnh đạo chính trị xảy ra liên tiếp cho tới khi Nguyễn Văn Thiệu thiết lập nền Đệ nhị cộng hòa thay thế cho Đệ nhất cộng hòa của Ngô Đình Diệm Ở miền Nam lúc bấy giờ, bên cạnh phong trào đấu tranh của các lực lượng cách mạng, phong trào phản chiến của lực lượng trí thức có tư tưởng tiến bộ dâng cao
Năm 1965, trước tình hình Mỹ đổ quân vào miền Nam trực tiếp tham chiến, Phong trào Dân tộc Tự quyết quy tụ nhiều tầng lớp ra đời đòi đàm phán
để tìm giải pháp hòa bình Năm 1966, phong trào chống Nguyễn Văn Thiệu bùng nổ dữ dội, mà nòng cốt là phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên và trí thức yêu nước Phong trào này đã hình thành, phát triển thành cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ, đòi hòa bình thống nhất, đòi người Mỹ rút khỏi miền Nam trao quyền tự quyết vận mệnh đất nước cho nhân dân Việt Nam Và đây là một trong những sức mạnh tổng hợp góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc vẻ vang ngày 30/4/1975
Tình hình chính trị, lịch sử, xã hội này đã tác động rất sâu sắc đến đời sống văn học nghệ thuật ở Đô thị miền Nam 1954 -1975, mà rõ nhất là ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và văn hóa Mỹ ngập tràn ở miền Nam Với một xã hội tự
do “Kiểu Mỹ”, việc tiếp nhận các trào lưu văn hóa nước ngoài vào miền Nam
Trang 34như một tất yếu và điều này chúng ta đã phản ánh khá rõ trong đời sống văn học miền Nam trước 1975
1.2.2 Khái lược về diện mạo lý luận, phê bình văn học miền Nam 1954 -
1975
Sự phức tạp của tình hình chính trị, xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 nói chung và nền lý luận – phê bình nói riêng Đây là giai đoạn các lý thuyết phê bình văn học có sự đan xen, phối hợp, đấu tranh, giằng co giữa hai luồng tư tưởng Đông – Tây Cũng chính
vì thế mà lý luận phê bình phân hóa thành nhiều xu hướng phức tạp và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Có thể nói thế kỉ XX ở miền Nam là thế kỉ của phê bình văn học
Một mặt, lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam vẫn chịu sự ảnh hưởng của lý luận phê bình văn học phương Đông, đặc biệt là Trung Hoa Tư tưởng phương Đông như Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo… từ lâu đã trở thành nền tảng tinh thần của người dân Việt vì thế sáng tác và phê bình văn học không thể tránh khỏi sự tác động của các tư tưởng này:
Về khảo cứu, tinh hoa triết lý Nho, Phật, Đạo đã hình thành cội nguồn
tư tưởng của văn hóa dân tộc tạo nên một làn sóng học thuật cho đời sống tinh thần trong lãnh thổ Việt Nam cộng hòa trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây Thành tựu này gắn với những tên tuổi mà một số công trình của họ hiện nay đang được tái bản: Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Thích Minh Châu… [8, tr.187]
Mặt khác, giai đoạn 1954 - 1975 ở miền Nam đã tập hợp được một đội ngũ các nhà lý luận – phê bình rất đông đảo Họ có trình độ ngoại ngữ, am hiểu văn hóa, văn học phương Tây Các công trình dịch thuật của Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sĩ… đóng vai trò quan trọng trong việc giới
Trang 35thiệu các lý thuyết, phương pháp nghiên cứu văn học ở phương Tây như: chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học… vào miền Nam
Có thể nói, từ năm 1954-1963, lý luận – phê bình miền Nam chỉ trong giai đoạn định hình mà chưa thật sự phát triển Với những hoạt động sơ khai như điểm sách, điểm tình hình thời sự văn học hay tổ chức các cuộc trao đổi, thảo luận lý luận – phê bình đã bước đầu khẳng định vị trí của mình Các tạp chí
Bách khoa, Sáng tạo giai đoạn này có nhiều bài viết liên quan đến các vấn đề lý
luận – phê bình của các trào lưu tư tưởng phương Đông lẫn phương Tây Đến giai đoạn 1964-1975, lý luận – phê bình được tổ chức dưới hình thức tranh luận văn học, tổng kết văn học trong nước và thế giới… tạo nên sự đa dạng trong hình thức tổ chức sinh hoạt Đây là một trong những điểm mới cần được ghi nhận Chính sự tổng hợp các hình thức sinh hoạt này tạo nên đời sống lý luận – phê bình phong phú ở miền Nam như Trần Hoài Anh đã ghi nhận:
Với việc đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt lý luận – phê bình, việc
mở rộng, giới thiệu nhiều trường phái triết học, mỹ học, lý luận, phê bình phương Tây, sự phát triển của đội ngũ các nhà lý luận – phê bình Đời sống lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1964-1975 đã
có những bước phát triển nhanh chóng, sinh động [2, tr.53]
Tình hình “tao loạn” và phức tạp của xã hội miền Nam đã tạo ra sự phân hóa trong việc hình thành các khuynh hướng lý luận – phê bình Về cơ bản, có một số khuynh hướng chủ yếu và phát triển đáng ghi nhận Trong đó, khuynh hướng phê bình chịu ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây phát triển đa dạng với các hình thức phê bình như phê bình giáo khoa, phê bình phân tâm học, phê bình hiện sinh Khuynh hướng phê bình mang nét truyền thống Á Đông với tư tưởng Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo vẫn được duy trì… Chính sự đa dạng này làm cho việc ghi nhận những giá trị văn học cũng trở nên phong phú Các hiện tượng văn học lúc này được đánh giá, nhìn nhận trên nhiều hệ quy chiếu khác nhau Dù
Trang 36phức tạp và khó thống nhất nhưng chính sự đa dạng trong lý luận phê bình giúp thức nhận nhiều giá trị văn học đương thời
1.2.3 Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong đời
sống phê bình văn học ở miền Nam (1954-1975)
Ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói chung và tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói riêng được lưu hành rộng rãi, công khai, không chịu sự cấm đoán của chính quyền Chính điểm này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận của người đọc đối với các tác phẩm của Tự lực văn đoàn nói chung và tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói riêng
Mỗi nhà văn khi viết đều phải hướng đến một đối tượng độc giả nhất định Đối tượng độc giả mà các nhà văn Tự lực văn đoàn hướng đến theo Nguyễn Văn
Trung là giới trung lưu, thành thị: “Những tiểu-thuyết của nhóm
Tự-lực-văn-đoàn thường nhằm một hạng độc-giả thuộc giới trung-lưu, thành-thị vì phẩm hiện-thực cuộc đời của họ.” [89, tr.233] Lí giải cho nhận định trên ông
tác-dựa trên sự tương đồng về mặt xã hội của nhà văn và người đọc: “Do đó, một
cách tổng-quát, văn-chương hiện-thực nếp-sống của giới nào, của khu-vực hội nào thì nhằm độc-giả trong khu-vực hay giới đó Những độc-giả đó gọi là độc-giả thực-sự, khi họ coi đó là những nhà văn của họ.” [89, tr.233]
xã-Chiếu theo nhận định của Nguyễn Văn Trung thì độc giả chủ yếu của Tự lực văn đoàn sẽ là giới trí thức miền Nam Để hình dung về đội ngũ độc giả tinh hoa tham gia nghiên cứu tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, chúng tôi tạm chia họ thành ba nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất là các soạn giả sách giáo khoa như: Nguyễn Duy Diễn, Phạm Văn Diêu, Thẩm Thệ Hà, Vũ Hân, Lữ Hồ, Nguyễn Khuê, Lê Hữu Mục, Thư Trung, Bằng Phong, … Họ viết các bài phê bình, nghiên cứu, đánh giá về tác phẩm của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn theo yêu cầu chương trình Việt
Trang 37Văn của Bộ Quốc gia giáo dục Đó là các soạn giả: Phạm Văn Diêu với Việt
Nam văn học giảng bình (Nxb Hoành Sơn, 1970); Nguyễn Khuê với Nghị luận văn chương (Nxb Đường-Sáng, 1972); Tạ Văn Ru-Nguyễn Duy Diễn với Luận
đề về Tự lực văn đoàn (tập 2) (Nxb Thăng Long, 1959), Lê Hữu Mục với Khảo luận về Khái Hưng (Nxb Trường Thi, 1958) và Khảo luận về Đoạn tuyệt (Nxb
Khai Trí, 1959); Nguyễn Văn Xung với “Bình giảng về Tự lực văn đoàn” (Nxb
Tân Việt, 1958); …[21], [42], [53], [54], [66], [105]… Các bài viết của họ chủ yếu bàn về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng vì hai tác giả này rất được chú trọng trong chương trình sách giáo khoa Tác phẩm của Thạch Lam thường chỉ được nhắc sơ qua khi bàn về Tự lực văn đoàn Nhìn chung ở các sách giáo khoa, sách tham khảo cách trình bày vấn đề thường theo khuôn mẫu để tiện cho việc học tập của học sinh Chẳng hạn: các sách giáo khoa thường lược khảo về tác giả, sự nghiệp sáng tác trước rồi mới đi vào lược khảo và bình giảng một số đoạn trong tác phẩm Sách tham khảo như: luận đề, khảo luận thường giới thiệu khái quát rồi trình bày các vấn đề, một số sách còn có thêm phần giảng văn Ví
dụ: Khảo luận về Đoạn tuyệt của Lê Hữu Mục bắt đầu từ việc giới thiệu sơ về
cách làm luận, sau đó khảo luận về năm vấn đề đặt ra trong tác phẩm, tiếp theo
ông tiến hành giảng một số đoạn trong Đoạn tuyệt…; Luận đề về Tự lực văn
đoàn của Nguyễn Duy Diễn thì dành phần một để giới thiệu sơ lược về Tự lực
văn đoàn còn phần hai thì bàn về năm vấn đề liên quan tới trào lưu này qua năm luận đề lần lượt là: Xét về lối văn tả chân qua một tác phẩm của nhóm T.L.V.Đ; Thế nào là tiểu thuyết luận đề? Hãy phê bình một tiểu thuyết luận đề của một
văn sĩ trong T.L.V.Đ; Phê bình “Tự lực văn Đoàn”, giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “Đối với phong tục cũ của ta phái đó nhất thiết đều cho là hủ, là đáng bỏ,
thành thử có lúc không đáng công kích mà cũng công kích.” Anh (hay chị) nghĩ
sao về ý kiến trên;Văn chương lãng mạn là gì? Hãy dùng một tác phẩm của
T.L.V.Đ mà anh chị biết để chứng minh; Phân tích và nhận định giá trị một tác
Trang 38phẩm của Khái Hưng về loại tiểu thuyết lý tưởng, loại ông có nhiều đặc sắc nhất
Nhóm thứ hai là các nhà văn, nhà thơ, nhà báo như: Đỗ Đức Thu, Dương Nghiễm Mậu, Đinh Hùng, Thế Uyên… Họ vừa sáng tác văn học, vừa tham gia phê bình văn học; nhiều người trong số đó có quan hệ anh em, họ hàng, bạn bè hoặc từng cộng tác với ba tác giả Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam Do có điều kiện tiếp xúc và thấu hiểu cuộc đời, tính cách của các nhà văn nên khi tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam họ thường liên tưởng, hồi
tưởng tới cuộc đời tác giả Trên các tạp chí như Văn, Văn học, Giao điểm có
những số báo chuyên đề về Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam như: Văn số 14
với chủ đề “Tưởng-niệm Nhất-Linh” ra ngày 15/7/1964, Văn số 22 “Tưởng
niệm Khái Hưng” ra ngày 15/11/1964, Văn số 36 “Tưởng niệm Thạch Lam” ra
ngày 15/6/1965, Văn số 156 “Hoài-niệm Nhất-Linh” ra ngày 15/6/1970, Văn học số 109 “Hồ sơ cái chết Nhất Linh” ra ngày 15/7/1970, Giao điểm số 1 “Viết
về Thạch Lam” ra ngày 12/12/1971… Tác phẩm của Thạch Lam chủ yếu được
nhận định thông qua các bài viết trên tạp chí Giao điểm (số 1-1972) như: Dương Nghiễm Mậu: Thời của Thạch Lam; Đào Trường Phúc: Thạch-Lam Những lời
thủ thỉ của truyện ngắn; Huỳnh Phan Anh: Thạch Lam, tiểu thuyết gia; Nguyễn
Nhật Duật: Thạch-Lam: Hương thơm và nỗi u hoài … [22], [5], [51], [64] và Văn (số 36-1965) như: Thư Trung: Thạch Lam thân thế và tác phẩm; Đỗ Đức Thu: Thạch Lam… [44], [87] Ngoài ra còn một số bài viết nằm rải rác trên các báo: Thời nay (số 1-1959): Thạch Lam nhà văn của tuổi trẻ [57], Giáo dục phổ thông (số 45-1959): Thạch Lam (1912 -1942)…[62] Tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng cũng được tiếp nhận rộng rãi: Lê Huy Oanh: “Hoàng Ngọc Phách,
Nhất Linh, Khái Hưng, Hồ Biểu Chánh, Ngô Tất Tố qua các tác phẩm Tố Tâm, Đoạn Tuyệt và Bướm Trắng, Hồn Bướm Mơ Tiên, Ngọn Cỏ Gió Đùa, Tắt Đèn”,
“Đọc lại Nhất Linh qua Đoạn Tuyệt và Bướm Trắng”, “Đọc lại Bướm Trắng
của Nhất Linh”, “Đọc lại Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng”… (Thời tập,
Trang 391974) [58], [59], [60], [61]; Doãn Quốc Sĩ: “Vài ý nghĩ về cuốn Đôi bạn” (Luận
đàm bộ I, số 2-1961), “Vài ý nghĩ về cuốn Trống mái” (Luận đàm bộ I, số
1-1961), “Đọc Khái Hưng: Nửa chừng xuân” (Luận đàm bộ I, số 5-1961)… [67], [68], [69], [70]; Đặng Tiến: “Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh” (Văn, số
37-1965) [84] ; Vũ Hạnh: “Cô Mai” (Bách Khoa, số 186-1964)… [27]
Nhóm thứ ba là nhà lí luận-phê bình được trang bị các lí thuyết về tiếp nhận văn học qua quá trình học tập, nghiên cứu, dịch thuật như: Thanh Lãng, Doãn Quốc Sĩ, Phạm Thế Ngũ, Nguyễn Văn Trung… Họ có những công trình
có giá trị về mặt khoa học cũng như thực tiễn: Thanh Lãng với Phê bình văn học
thế hệ 1932, Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 3, văn học hiện đại (1862-1945), Doãn Quốc Sĩ với Văn học và tiểu thuyết;
Nguyễn Văn Trung với Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, Lược khảo văn học tập
1, 2, 3, Nhận định 4… [49], [55], [71], [89], [90], [91], [92]
Cách phân chia của chúng tôi cũng chỉ mang tính tương đối bởi vì có những nhà nghiên cứu rất đa dạng trong cách viết, khó có thể xếp họ vào bất cứ một nhóm nào Chẳng hạn như trường hợp Doãn Quốc Sĩ bên cạnh công trình
mang tính chất lí luận-phê bình: Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết; lại có những bài phân tích tác phẩm: Vài ý nghĩ về cuốn Trống mái, Đọc Khái Hưng: Nửa chừng
xuân, Vài ý nghĩ về cuốn Đôi bạn… đăng trên tạp chí Luận đàm
Điểm chung của các nhà nghiên cứu kể trên là họ không chỉ phong phú về mặt tư tưởng mà còn có nhiều sự trải nghiệm trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật
Theo Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam, Thẩm Thệ Hà vừa viết văn,
viết báo, viết sách giáo khoa vừa giảng dạy văn chương Ngoài ra ông còn dịch thuật và làm biên tập cho nhiều tờ báo [26, tr.841-843]; Dương Nghiễm Mậu vừa là nhà văn với nhiều truyện ngắn tiêu biểu cho sáng tác hiện sinh, vừa là nhà báo, phóng viên quân đội [26, tr.136-137]; Doãn Quốc Sĩ vừa sáng tác văn chương, vừa dạy học Ông còn có thời gian du học tại Hoa Kì… [26, tr.131-132]
Trang 40Tầm soát tài liệu, tìm kiếm các bài viết, các đoạn đánh giá của các nhà nghiên cứu về tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam ở miền Nam giai
đoạn 1954-1975 là nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi khi thực hiện đề tài “Tiếp nhận tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn
ở miền Nam (1954-1975)” Đây là một công việc không dễ dàng bởi phần lớn
báo, tạp chí, sách giáo khoa, sách nghiên cứu… của miền Nam giai đoạn này đã
bị mất mát do những biến cố của lịch sử; một số ít còn sót lại được lưu giữ trong các phòng đọc hạn chế của các thư viện và một số nữa nằm rải rác trong các hiệu sách cũ… Vì vậy việc mong muốn có đầy đủ tư liệu nghiên cứu về Tự lực văn đoàn nói chung và ba nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói riêng
để khảo sát về tình hình tiếp nhận các tác phẩm của các nhà văn này là một điều không thể, nên đây cũng là một hạn chế khi chúng tôi thực hiện đề tài này Vì thế, những điều chúng tôi luận giải ở đây cũng chỉ căn cứ trên tư liệu mà chúng tôi tìm được trong điều kiện hiện nay
Tuy vậy qua các tài liệu tìm được chúng tôi nhận thấy: các bài phê bình, đánh giá về tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam ở miền Nam (1954-1975) được đăng tải trên các báo, tạp chí và in trong sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiên cứu Có thể nói người đọc đặc biệt ở miền Nam đã rất quan tâm đến hiện tượng Tự lực văn đoàn nói chung và tác phẩm Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam nói riêng Điều này được thể hiện qua sự phong phú của các bài viết và sự đa dạng của các hướng tiếp cận
Chúng ta có thể thấy rõ điểm này khi nhìn lại cách tiếp cận tác phẩm Nhất
Linh, Khái Hưng, Thạch Lam qua các bài viết được đăng trên các báo như: Luận
đàm, Thời tập, Giao điểm, Thời nay, Văn… Nhiều bài đề cập trực tiếp đến tác
phẩm cụ thể như: Đôi bạn trong bài viết “Vài ý nghĩ về cuốn Đôi bạn” (Doãn Quốc Sĩ) [67]; Bướm trắng trong các bài viết: Đọc lại Bướm Trắng của Nhất
Linh (Lê Huy Oanh) [60], Nhất Linh và Bướm trắng (Huỳnh Phan Anh) [4]… Hồn bướm mơ tiên trong các bài viết: Nhân vị trong Hồn bướm mơ tiên [99],