Tác giả xác định Nguyễn Minh Châu ý thức được vấn đề của đời sống hôm nay nên hướng ngòi bút "vào việc phát hiện các hiện lượng đời sống trong chiều sâu triết học và lịch sử, thể hiện n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
TIÊU MINH ĐƯƠNG
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG
TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH - 2002
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DẪN NHẬP 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử vấn đề 6
2.1 Nhận xét chung 6
2.2 Ý kiến bàn về vấn đề “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong truyện của nhà văn 8
3 Phạm vi đề tài 11
3.1 Đối tượng khảo sát 11
3.2 Nội dung vấn đề 13
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp của luận văn 13
6 Kết cấu luận văn 13
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU 15
1.1 KHÁI NIỆM "QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 15
1.1.1 "Quan niệm nghệ thuật về con người" trong nghiên cứu văn học 15
1.1.2 Từ những ý kiến đến cách hiểu khái niệm 19
2.2 CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU 20
2.2.1 Những tiền đề thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người 20
2.2.2 Con người trong truyện của Nguyễn Minh Châu 25
CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU 41
2.1 NHÂN VẬT 41
2.1.1 Nhân vật tư tưởng, nhân vật nhân cách 41
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 47
Trang 42.2 THỂ LOẠI, TÌNH HUỐNG NGHỆ THUẬT, THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN
NGHỆ THUẬT 55
2.2.1 Thể loại 55
2.2.2 Tình huống nghệ thuật 59
2.2.3 Thời gian và không gian nghệ thuật 65
2.3 NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT 69
3.3.1 Lời văn trần thuật 70
3.3.2 Giọng điệu nghệ thuật 75
KẾT LUẬN 79
THƯ MỤC 82
Trang 5DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là nhà văn quân đội; con đường đến với văn chương
cũng như những cây bút cùng thời là con đường quen thuộc và phổ biến: “con người nhà văn lột xác ra từ người lính”, “người lính từ những đam mẽ, bức xúc mà tìm đến văn chương ghi lấy cuộc đời mình” [26] Ông xuất hiện trên văn đàn vào những năm 60 - thế kỷ XX, khi nền văn
học dân tộc trải qua bao thác ghềnh đã trở thành dòng chảy ổn định Có thể nói, đó là một thuận lợi ở buổi đầu đến với nghiệp bút nhưng không vì thế mà làm nên một Nguyễn Minh Châu, một
cây bút với "vị trí nổi bật nhất trong tiến trình vận động và phát triển của nền văn xuôi nước ta
từ thập kỷ 60 đến nay" (Phong Lê) Ông luôn ý thức về tác dụng của văn học đối với cuộc sống cũng như vai trò của nhà văn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng "Là người chiến sỹ trên mặt trận của Đảng" ông luôn tinh nhạy với những đổi thay của hiện thực và sự trăn trở không ngừng trên con đường gian khổ xuyên qua cuộc sống phức tạp "đầy nhọc nhằn" (Phiên chợ Giát) đa tạo
nên một tiếng nói mới lạ, độc đáo, một phong cách nghệ thuật sắc sảo, đặt nền tảng cho nền văn
học thời kỳ mới, xứng đáng là "người mở đường tinh anh" [32;250] của nền văn xuôi Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX
Văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đặc biệt vào thời điểm những năm 80 đã bộc lộ rõ sự đổi mới tư duy nghệ thuật: trong sự thức nhận về con người trên bình diện chiều rộng và cả chiều sâu tạo nên những hiện tượng văn học mới lạ mà Nguyễn Minh Châu là một trong những gương mặt tiêu biểu của dòng văn học ấy Một số truyện ngắn của ông trở thành sự kiện, tạo nên dư ba của làn sóng dư luận, Mặc dù ý kiến có khen lẫn chê nhưng chính từ những đánh giá đó đã chứng
tỏ gương mặt độc đáo của nhà văn trong cuộc kiếm tìm nghệ thuật Và đặc biệt, vào lúc cuối đời
ông để lại tác phẩm Phiên chợ Giát - "Một di chúc nghệ thuật hòa quyện máu và nước mắt"
[32;261] và tập "Cỏ lau" được xuất bản càng trở nên khẳng định trong cuộc kiếm tìm nghệ thuật
có chiều sâu tư tưởng thẩm mỹ về con người của ông
Văn học là nhân học, là sự nhìn nhận, lý giải về con người Bất cứ nền văn học nào cũng lấy con người làm đối tượng chủ yếu Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm bao giờ cũng thể hiện sự
Trang 6quan tâm và lý giải của mình về những vấn đề liên quan đến con người Từ đó nghiên cứu văn học, việc tìm hiểu, lý giải vấn đề con người là nhiệm vụ quan ưọng và hết sức cần thiết
Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện Nguyễn Minh Châu là việc làm
và có ý nghĩa; sẽ xác tập sự tiến bộ của cái nhìn nghệ thuật về con người của nhà văn, hành trình phát triển tư tưởng thẩm mỹ, độ chín của ngòi bút, khẳng định phong cách cá tính sáng tạo của nhà văn đồng thời còn thấy được sự đóng góp tích cực cho quá trình vận động và phát triển của nền văn xuôi nước nhà những năm cuối thế kỷ XX
Với ý nghĩa đó luận văn sẽ là một đóng góp, khẳng định quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu, một sự tiến bộ của tư tưởng nghệ thuật góp phần tạo nên bình diện mới
về con người Việt Nam hiện đại của nền văn học dân tộc ờ thời kỳ mới
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Nhận xét chung
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu gắn liền với từng bước đi của lịch sử dân tộc Đến với văn chương từ những năm 60 và kết thúc sự nghiệp năm 1989, trên dưới 30 năm một sự nghiệp văn học được chia làm hai thời kỳ: Trước và sau những năm 80, và giai đoạn sau đạt được nhiều thành tựu hơn Ý kiến phê bình đánh giá về những sáng tác của nhà văn từ thời kỳ ban đầu
cho đến 1991, đã được tập hợp và sắp xếp có hệ thống trong: Nguyễn Minh Châu con người và tác phẩm [32] Từ 1991 đến nay, còn khá nhiều bài viết được đăng tải trên nhiều tạp chí, báo
trung ương, địa phương, ngoài ra còn những luận văn, luận án đã tiếp cận nghiên cứu về tác giả cũng như tác phẩm của nhà văn Để thấy được sự diễn tiến về những ý kiến phe bình nghiên cứu đối với sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu chúng tôi điểm qua những nét cơ bản sau:
2.1.1 Thời kỳ ban đầu, từ Của sông (1967) đến Dấu chân người lính (1972) đã có số bài
phê bình: 17 bài (theo Tôn Phương Lan) Tuy nhiên thời gian này sáng tác của nhà văn chưa trở thành "tụ điểm" chú ý của giới phê bình văn học Nhưng số lượng đáng kể đó, ít nhiều cho thấy một gương mặt nhà văn độc đáo trong đời sống văn học thời bấy giờ Những ý kiến tiêu biểu như của Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Song Thành Nguyễn Đăng Mạnh xem bước đi ban đầu
này của nhà văn là "bước đi chắc chắn" [32;125] Còn Song Thành xác định nhà văn đã có
"những suy nghĩ, trăn trở trong ngòi bút'' [32;130] Nguyễn Kiên nói cụ thể hơn là nhà văn đã
chú ý đến "người nông dân mặc áo lính", “chăm chú tìm hiểu những biểu hiện mới nhát ừong
Trang 7tính cách của họ đồng thời gợi lên cái bóng dáng nông dân còn đậm nhạt trong tâm hồn họ để giải thích những ưu nhược điểm của họ” [32; 124]
Những ý kiến phê bình trên phần nào cho thấy Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn khao khát tìm tới phần người đã có và lẽ ra phải có để nói cho được cái điều mà mình tâm niệm Đây cũng là nền tảng cho bước đi về sau trong quá trình khám phá, lý giải về con người của nhà văn 2.1.2 Từ sau 1975, gắn với không khí thời đại mới, cái nhìn hướng ngoại kết hợp với cái
nhìn hướng nội nhà văn đã cho ra mắt tác phẩm truyện ngắn qua hai tập: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê (1985) thì ý kiến phê bình đánh giá càng trở nên phong
phú và đa dạng hơn
Chẳng hạn Ngô Thảo cho rằng thế mạnh của ngòi bút nhà văn là "Khả năng phân tích và thể hiện những biến động tâm lý khá phức tạp của con người" [32;160] Nguyễn Thị Minh Thái lại xác nhận: "Nguyễn Minh Châu có cái nhìn ấm áp, nhân hậu" [32; 164] Huỳnh Như Phương
đi vào vấn đề có phần sâu sắc hơn Tác giả xác định nhà văn như: "Cố vượt qua sự kiêng dè" để
"phát hiện những con người mà vẻ đẹp chưa phải được văn chương khám phá hết" Và đây là
"một thể nghiệm mới về nghệ thuật" của nhà văn nhằm "đưa nhân vật đi đến tận cùng sự phân tích bên trong để nhìn rõ chính nó" [32; 169]
Bên cạnh những ý kiến trên còn có cả một cuộc hội thảo về truyện ngắn của nhà văn do tuần báo Văn nghệ tổ chức vào tháng 6 - 1985 Trong cuộc hội thảo này ý kiến còn có khen lẫn chê, sự khen chê có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể thời gian chưa thực sự đầy đủ cho việc đánh giá một hiện tượng văn học; cũng có thể do nhân quan khoa học còn ảnh hưởng tinh thần thời đại trước, lối mòn tư duy tạo nên phương diện chủ quan trong đánh giá Như Bùi Hiển
xác định: "Hình tượng quả có kém đi vẻ chân thật sinh động và sức mạnh chinh phục" [32; 174]; Đào Vũ lại băn khoăn: "Nhân vật truyện ngắn ấy dường như có những con người lạ lẫm quá" [32;173]; Triều Dương nhận xét: "Nguyễn Minh Châu thiếu đi cái nhìn đẹp đẽ hợp lý" [32;191]
Những ý kiến khác có phần đánh giá cao sáng tác của nhà văn Xuân Thiều xác nhận:
Nguyễn Minh Châu "có thiên hướng đi tìm cái đẹp trong đời sống bình thường" nhằm "nói lên tiếng nói riêng của mình, một tiếng nói có sức thuyết phục" [32;108] Lê Thành Nghị khẳng định: Tác giả "thay đổi góc nhìn đề truy tìm tận cùng những biểu hiện tâm lý phức tạp" và “nhà văn tỏ
rõ thêm ( ) tài năng của mình ( ) trong việc đào xới sâu sắc vào phần tâm lý sâu kín và rắc rối của con người” [ 32;186-187]
Trang 82.1.3 Từ sau cuộc hội thảo, những sáng tác mới của nhà văn lần lượt xuất hiện, từ đó ý kiến phê bình ngày càng chú ý tập trung vào xem xét những sáng tác của nhà văn Đặc biệt trong thời gian này lý thuyết Thi pháp học hiện đại được giới thiệu và ứng dụng rộng rãi, từ đó giới nghiên cứu phê bình đã vận dụng soi xét những sáng tác của nhà văn đã đem lại những hiệu quả khả quan Chẳng hạn những ý kiến: Lại Nguyên An, Trần Đình Sử, Ngọc Trai , Trần Đình Sử
xác định:"cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu đang mang lại những đề tài và chủ đề mới
có ý nghĩa bức thiết đối với đời sống hôm nay" [32;212]
2.1.4 Năm 1989, nhà văn để lại tác phẩm cuối cùng Phiên chợ Giát- "Bản di chúc nghệ thuật hòa quyện máu và nước mắt" (từ dùng của Đỗ Đức Hiểu) thì ý kiến các nhà phê bình đánh
giá ngày càng mở rộng và khẳng định thành tựu sáng tác của nhà văn Những ý kiến như của Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Vĩnh Cư, Lã Nguyên Chẳng hạn, Lã Nguyên xem xét tư
duy nghệ thuật để xác định quá trình khám phá con người của nhà văn Tác giả viết: "Ngòi bút của ông (Nguyễn Minh Châu) luôn hướng tới những biểu hiện đầy chấn động của các quá trình
tư tưởng, tình cảm, tâm lý để nắm bắt cái con người đích thực tế con người" [32;289]
2.1.5 Từ 1992 cho đến nay, nghiên cứu về sáng tác của nhà văn ngày càng phong phú hơn, những ý kiến phê bình , luận văn, luận án đã tiếp cận khá kỹ trên nhiều bình diện về tác giả cũng như tác phẩm của Nguyễn Minh Châu Những ý kiến của các nhà nghiên cứu phê bình liên quan
đến vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con người" chúng tôi tạm phân loại và hệ thống những ý
kiến:
2.2 Ý kiến bàn về vấn đề “Quan niệm nghệ thuật về con người” trong truyện của nhà văn
2.2.1 Những ý kiến gián tiếp bàn đến "Quan niệm nghệ thuật về con người" trong truyện của Nguyễn Minh Châu
Nói đến ý kiến gián tiếp, theo người viết là loại ý kiến không đi trực tiếp vào vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con người" của nhà văn mà từ những góc độ khác có đặt ra vấn đề nói trên Trước hết có thể thấy, xuất phát từ góc độ cảm hứng Huỳnh Như Phương đã xem Nguyễn
Minh Châu "Dùng nhiều thứ ánh sáng để soi chiếu vào nhân vật của mình từ những góc độ khác nhau" và "cố gắng đưa nhân vật đi đến tận cùng sự phân tích bên trong để nhìn rõ chính nó"
[32;169]
Mặc dù tác giả xuất phát từ góc độ cảm hứng nhưng việc lý giải có phần dựa trên cơ sở của
quan niệm nghệ Thuật Còn Lại Nguyên Ân tìm hiểu truyện ngắn của nhà văn và xác định: "Tình
Trang 9thế đời sống được đưa ra là để thể hiện một sự chiêm nghiệm lẽ đời hơn là để phê phán một lối sống nào đó", Và kết luận tác giả viết: “Chiều sâu mới mẻ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu chính là sự nảy sinh trong sự đổi mới các bình diện nhận thức đời sống, mạnh dạn đi tìm cách thể hiện khác nhau, tự làm phong phú khả năng nghệ thuật của chính mình và của chung nền văn xuôi chúng ta, vốn đang bước vào một thời kỳ phát triển mới” [32;20l -208]
Trần Đình Sử đi vào tìm hiểu phong cách trần thuật và xác tập tiếng nói nghệ thuật của nhà văn khá sâu sắc Tác giả xác định Nguyễn Minh Châu ý thức được vấn đề của đời sống hôm nay
nên hướng ngòi bút "vào việc phát hiện các hiện lượng đời sống trong chiều sâu triết học và lịch
sử, thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại với chính mình và với ý thức của mình" và từ đó
"cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu mang lại những hiện tượng mới và chủ đề mới có
ý nghĩa bức thiết đối với đời sống hôm nay" [32;209 - 214]
Xuất phát từ nhiều bình diện khác nhau để tiếp cận đánh giá sáng tác của nhà văn các nhà nghiên cứu khi đi vào lý giải vấn đề hầu như đều có đề cập đến phương diện quan niệm nghệ thuật Với những ý kiến đó sẽ là cơ sở gợi cho chúng tôi tham khảo cần thiết đi vào khảo sát tác phẩm của Nguyễn Minh Châu
2.2.2 Những ý kiến trực tiếp bàn đến vấn đề "Quan niệm nghệ thuật về con người" trong truyện của nhà văn
Vấn đề con người trong truyện của Nguyễn Minh Châu được lý giải trước hết có thể thấy
là ý kiến của Ngọc Trai Tác giả xem việc khám phá con người của nhà văn bắt nguồn từ chỗ do
nhà văn đã "nhìn vào cuộc sống bình thường hằng ngày với một mối quan tâm đặc biệt để phát hiện những vấn đề bên trong của nó" và giúp cho người đọc có được "một cách nhìn mới đối với hiện thực" [32;214-219]
Lã Nguyên đi vào phương diện tư duy nghệ thuật và xác định vấn đề quan niệm về con
người của nhà văn Tác giả viết : "Nguyễn Minh Châu không chấp nhận những quan niệm sơ lược, giản đơn về con người và cuộc đời" nên ông “đã mang đến cho người đọc một hệ thống quan niệm mới mẻ về con người và cuộc đời mà nền tảng của nó là chiều sâu của triết học nhân bản” và “bao giờ cũng thể hiện con người như một nhân cách Nghĩa là ngòi bút của ông luôn hướng tới những hiểu hiện đầy biến động của các quá trình tư tưởng, tình cảm, tâm lý ” Từ đó tác giả đi đến khẳng định sự thành công của nhà văn là do "sự gặp gỡ kỳ diệu giữa thời đại và cảm quan nghệ thuật nhạy bén của nghệ sỹ" [32;279 - 290]
Trang 10Nguyễn Văn Hạnh đi vào vấn đề trực tiếp hơn Nhà nghiên cứu xác tập: “Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù đó là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng vai
trò nào đáng kể Nhà văn tập trung sự chú ý vào số phận con người, tính cách nhân vật và đã
huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào, ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và giọng văn trữ tình trầm lắng ấm áp” Từ đó tác giả đi đến khẳng định: "Nguyễn Minh Châu đã cảm nhận được ngày càng rõ nét những chuyển động có ý nghĩa thời đại của cuộc sống và văn học và anh mạnh dạng tự phủ định mình, đổi mới cách viết, từ một cách nhìn mới
về con người, về cuộc sống Điều này thể hiện nổi bật nhất khi nhà văn viết về người nông dân, người dân chài cần cù bao đời nay, về những người lính sau ngày giải phóng Đặc biệt về người phụ nữ, nhân vật thường trực và đầy sức hấp dẫn trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu" [16]
Xem xét con người trong sáng tác của nhà văn, nhà nghiên cứu tập trung đi vào từng vấn
đề biểu hiện ở con người và có những lý giải sâu sắc Tuy nhiên xác tập hệ thống con người trong sáng tác của nhà văn, nhà nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở góc độ con người nhân vật
Tác giả Tôn Phương Lan cũng đi vào vấn đề mang tính trực tiếp Mở đầu bài viết tác giả
khẳng định: “Nguyễn Minh Châu là người chủ trương đưa văn học trở về với những quy luật vĩnh hằng của đời sống con người ( ) tiến tới lấy đời tư con người không những làm miếng đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của các giá trị nhân bản mà còn là điểm xuất phát, là chuẩn mực để nhà văn soi ngắm và định giá thế giới”
Tác giả đi vào phán tích và xác định ngòi bút của nhà văn từ "cái nhìn hướng ngoại" "chuyển dần sang cái nhìn bên trong" như là sự chuyển đổi về tư duy nghệ thuật Mặt khác, tác giả xem
sự lý giải của nhà văn về tính cách nhân vật nhằm để triển khai ý đồ nghệ thuật, đó là “qua con người trước tiên để hiểu con người và sau đó cũng là hiểu tự nhiên, lịch sử”
Trong quá trình lý giải quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, tác giả cũng đề cập
đến phương diện cảm hứng sáng tạo và đi đến xác định ngòi bút của nhà văn "có tính định hướng ngay từ bước đi ban đầu" và “sau này khi đi vào những mặt chưa hoàn hảo, ngòi bút của ông vẫn khơi nguồn theo hướng mỹ cảm với lòng khát khao vươn tới sự hoàn thiện của cuộc sống, của con người” Đó là hướng tìm đến “con người trong nhiều mối quan hệ Ở nhiều cung bậc đã đưa lại khởi sắc trong sáng tác” [35] của ông
Trang 11Dường như tác giả nhận diện lộ trình sáng tác của nhà văn trên tinh thần phản ánh hiện thực, cái ý tưởng nghệ thuật làm nên chất lượng mới cho ngòi bút là nhằm để khẳng định cá tính, phong cách nghệ thuật hơn là đi sâu lý giải vấn đề quan niệm về con người
Phạm Quang Long tìm hiểu “Quan niệm nghệ thuật về con người” của nhà văn có phần thiên về xúc cảm thẩm mỹ Tác giả xem “Thái độ của Nguyễn Minh Châu đối với con người: niềm tin pha lẫn với âu lo”, và đi vào lý giải quan niệm nghệ thuật thể hiện qua hình tượng nghệ
thuật và trên cơ sở của những bài tiểu luận phê bình của nhà văn Hay nói đúng hơn tác giả tập
trung vào phương diện "chủ quan" trong sáng tạo của nhà văn đó là "bộc lộ sự khắc khoải, nỗi lo
về những thiếu hụt của con người, về sự không hoàn thiện của con người, về những cái xấu, thậm chí những mầm ác tồn tại ở trong mỗi con người " mà trang viết thẫm đẫm "ý thức trách nhiệm đầy đủ của một người cầm bút" Từ đó tác giả kết luận "cống hiến lớn nhất (của Nguyễn Minh Châu) là sự thức tỉnh một ý thức mới, đúng đắn hơn trong cách nhìn nhận, đánh giá về con người
về những đổi mới trong phương thức biểu đạt" [43]
Bên cạnh những ý kiến trên còn có những bài viết xem xét những phương diện như; ý thức nghệ thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật nhằm xác định quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn
Trên đây là những ý kiến trực tiếp bàn đến vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Chúng tôi xem nguồn tư liệu trên là cơ sở tham khảo hết sức cần thiết và bổ ích cho
nghiên cứu của mình Tuy nhiên, "quan niệm nghệ thuật về con người" là phạm trù thuộc tư
tưởng nghệ thuật, từ "phạm trù gốc" ấy mà có sự chi phối nghệ thuật đến những phương diện khác của tác phẩm, sáng tác Ở đây chúng tôi cố gắng đi vào khảo sát hệ thống truyện như được giới hạn và trên tinh thần thi pháp học hiện đại để lý giải vấn đề con người mà nhà văn đã tập trung thể hiện qua hình tượng nghệ thuật và từ đó xác định tư tưởng thẩm mỹ của ngòi bút nhà văn
3 Phạm vi đề tài
3.1 Đối tượng khảo sát
Nguyễn Minh Châu là một tác giả văn xuôi Ông viết với nhiều hình thức thể loại như ký, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, truyện viết cho thiếu nhi ngoài ra ông còn viết tiểu luận phê bình Mọi phương diện hầu như đều có sự đóng góp quý báu của nhà văn với văn học dân lộc thời kỳ hiện đại (từ những năm 60 đến nay) Ở đây, với đề tài luận văn, chúng tôi không đi
Trang 12vào toàn bộ sáng tác của nhà văn mà chủ yếu tập trung vào mảng truyện thời kỳ từ sau 1975 đến
1989, khi, gồm có những tập sau:
- Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành - Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1983
- Bến quê - Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1985
- Cỏ lau - Nhà xuất bản Văn học 1994
Tổng cộng gồm có 22 truyện
Quan niệm nghệ thuật về con người là thuộc phạm trù tư tưởng nghệ thuật cho nên chúng
tôi xem truyện trong giới hạn trên như một chỉnh thể nghệ thuật từ đó, có những tác phẩm được
tập trung soi xét trong chừng mực cho phép chứ không phải khảo sát đầy đủ mọi vấn đề của nó
Và bên cạnh, có những tác phẩm, chúng tôi cho rằng, nó sẽ thể hiện sáng rõ quan niệm nhà văn,
độ chín về tư tưởng thẩm mỹ cũng như thể hiện rõ phong cách nghệ thuật thì những tác phẩm ấy
chúng tôi xem là đối tượng chính để tập trung khảo sát phân tích Như những tác phẩm : Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Sắm vai, Giao thừa, Dấu vết nghề nghiệp, Một lần đối chứng, Chiếc thuyền ngoài xa, Khách ở quê ra, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát
Trong quá trình khảo sát những tập truyện trên có vấn đề cần nêu : Trong ba tập truyện trên
thì hai tập truyện đầu : "Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành" và "Bến quê" được in lại có luyển chọn ở "Chiếc thuyền ngoài xa" (Nxb Văn học 1987) gồm có 15 truyện Rồi “Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu” tuyển chọn từ hai tập trên và tập "Cỏ lau" gồm có 15 truyện
(Nxb VH 1999) Tác phẩm được in và tuyển chọn qua những tập khác nhau có nhiều truyện được chọn lọc trùng hợp Chúng tôi xem đó là cơ sở cho việc khảo sát văn bản
Khi tập trung soi tỏ vấn đề chúng tôi có tham khảo hệ thống tác phẩm truyện ngắn cũng như tiểu thuyết trước và sau 1975 của nhà văn, đặc biệt phần nào có đi vào những tác phẩm tiểu
thuyết trước 1975 như Cửa sông, Dấu chân người lính mà chúng tôi cho là tiêu biểu để lý giải, đối chiếu và cả những bài viết liêu luận phê bình được in trong sách "Trang giấy trước đèn"
Để đạt được mục đích chúng tôi tiếp thu có chọn lọc các ý kiến nhận định đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học, những luận văn, luận án đã thể hiện trước Đó là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho chúng tôi thực hiện đề tài của mình
Trang 133.2 Nội dung vấn đề
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù trung tâm của thi pháp học hiện đại,
là vấn đề thuộc tư tưởng nghệ thuật, cơ chế chi phối từng yếu tố nghệ thuật của tác phẩm, tác giả Trên tinh thần lý thuyết thi pháp học hiện đại, chúng tôi đi vào lý giải quan niệm nghệ thuật
về con nyười trong truyện của Nguyễn Minh Châu với hai nội dung cơ bản: Con người trong truyện và nghệ thuật thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn qua ba tập truyện như đã được giới hạn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi lấy phương pháp luận Mácxít làm cơ sở cho việc nghiên cứu
Quá trình viết đề tài chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp phân tích
- tổng hợp và phưưng pháp hệ thống Phương pháp tổng hợp được thể hiện qua những nhận xét, những vấn đề mang tính khái quát Nghĩa là qua quá trình phân tích, lý giải những vấn đề cụ thể, trên cơ sở đó chúng tôi tổng hợp lại và hệ thống hóa kết quả phân tích của từng vấn đề Xem quan niệm nghệ thuật về con người thuộc phạm trù tư tưởng nghệ thuật, chúng tôi khảo trên tinh thần lý thuyết thi pháp học hiện đại nên phương pháp hệ thống rất cần thiết cho việc đánh giá từng vấn đề trong hệ thống,
5 Đóng góp của luận văn
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù trung tâm của thi pháp học hiện đại,
là vấn đề thuộc tư tưởng nghệ thuật Ở đây chúng tôi cố gắng và mong mỏi góp một tiếng nói khoa học về quan niệm nghệ thuật của nhà văn trong nguồn mạch truyện của văn học dân tộc sau
1975 Là vấn đề quan niệm mà đặc biệt là quan niệm về con người nên vấn đề không dễ dàng cho việc lý giải sáng rõ và đầy đủ Với đề tài này, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những ý kiến nhằm
bổ sung thêm cho những nghiên cứu về nhà văn đã có trước Và đặc biệt xác nhận cái nhìn nghệ thuật về con người phương diện chiều rộng cũng như chiều sâu của quá trình phát triển tư tưởng nghệ thuật của một tác giả văn học -Nguyễn Minh Châu
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn có 2 chương:
Chương một: Quan niệm nghệ thuật về con người và con người trong truyện Nguyễn Minh
Châu (36 trang)
Trang 14Chương hai: Nghệ thuật thể hiện quan niệm về con người ương truyện Nguyễn Minh Châu
(51 trang)
Trang 15
CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI VÀ CON
NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU
1.1 KHÁI NIỆM "QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
1.1.1 "Quan niệm nghệ thuật về con người" trong nghiên cứu văn học
Con người là đối tượng trực tiếp đồng thời là mục đích, là cứu cánh của văn học mọi thời đại nên việc tìm hiểu, đánh giá văn học không thể không quan tâm đến vấn đề con người Tuy nhiên, trong lý luận, phê bình văn học vấn đề con người không phải lúc nào cũng được tìm hiểu,
lý giải một cách đầy đủ và nhất quán Có thể thấy trước đây, lý luận phê bình văn học mở ra cách tiếp cận, xem xét con người từ những góc độ như xã hội học, kỹ xảo nghệ thuật mà từ đó hình thành những khái niệm khá quen thuộc như đề tài, chủ đề, tính cách, điển hình, nghệ thuật xây dựng nhân vật Những khái niệm này góp phần cho nghiên cứu văn học có những thành quả đáng kể của thời gian trước đây
Văn học là cuộc sống mà cuộc sống thì muôn màu muôn vẻ và luôn luôn vận động Cái
"cây đời mãi mãi xanh tươi" ấy đòi hỏi phải có một cơ sở lý thuyết phù hợp nhằm cung cấp chiếc
chìa khóa khoa học để mở cánh của lâu đài của nó Chính vì thế, nghiên cứu văn học, đặc biệt là vấn đề con người mà chỉ dừng lại xem xét và lý giai từ những góc độ như trên thì vẫn chưa giải quyết được một cách sáng rõ quá trình vận động và phát triển của đời sống văn học hôm nay (xem: 65, 79, 76 9)
Văn học là một hình thức của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, nhiệm vụ của nó bao giờ cũng
là một khám phá mới về đời sống, con người Nói như Secnưsepxki: người nghệ sỹ không chỉ
"tái hiện hiện thực" mà còn phải "giải thích cuộc sống", “đề xuất sự phán xét với các hiện tượng được miêu tả” [45;249-250] Thi pháp học hiện đại mở ra cách tiếp cận mới về vấn đề con người
Đó là tiếp cận từ góc độ chủ thể sáng tạo nghệ thuật, thể hiện trong chiều sâu của việc miêu tả, xây dựng hình tượng nghệ thuật, trên cơ sở đó khám phá ra những nguyên tác thẩm mỹ chi phối ngòi bút của nhà văn
Khái niệm "quan niệm nghệ thuật", đặc biệt là "quan niệm nghệ thuật về con người" là một phạm trù trung tâm của thi pháp học hiện đại Theo Trần Đình Sử thì đây là "một khái niệm quan trọng bậc nhất", “có ý nghĩa trả về cho văn học bản chất nhân học” [64, 95] Tuy nhiên, cho đến
Trang 16nay khái niệm này được lý giải chưa có sự thống nhất ở các nhà nghiên cứu M.B.Khraptrenkô, một nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi ở Liên Xô (trước đây), trong công trình của mình đã nêu
ra ý kiến như một nhận xét xác đáng, ông viết: “Khái niệm "quan niệm nghệ thuật" là một khái niệm hợp lý xét về thực chất, tuy vậy, đôi khi mang tính chất kết sức mơ hồ Những liên hệ tương quan của quan niệm nghệ thuật với cấu trúc của từng tác phẩm với các thành tố tạo thành của
nó với các tác phẩm khác của nhà văn chưa được phác ra đủ mức sáng tỏ” [30; 194 – 195]
Từ những năm 80 (thế kỷ XX), khi lý thuyết thi pháp học hiện đại được giới thiệu và ứng
dụng rộng rãi trong nghiên cứu phê bình văn học thì cũng từ đó khái niệm "quan niệm nghệ thuật
về con người" trở thành trung tâm của chú ý trong nghiên cứu và phê bình Các nhà nghiên cứu
xây dựng khái niệm để ứng dụng trong công trình nghiên cứu hoặc xây dựng trên bình diện hệ thống lý thuyết có những cách xây dựng khái niệm riêng, Để soi tỏ vấn đề, chúng tôi điểm qua những ý kiến như sau:
1.1.1 Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong chuyên luận thi pháp thơ Tố Hữu khẳng định:
"Không thể lý giải hệ thống văn thơ mà bỏ qua con người được thể hiện ở trong đó" Từ đó, ông
đi đến giải thích khái niệm:
"Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật là vấn
đề giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời" [63, 50]
Chỗ khác, trong sách "Lý luận và phê bình văn học", bài "Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người trong nghiên cứu văn học hiện đại", nhà nghiên cứu đã điểm qua cách hiểu về khái
niệm của các nhà nghiên cứu Liên Xô trước đây và đi đến xác tập:
- Khái niệm quan niệm nghệ thuật “xét về bản chất là một khái niệm về chủ thể” là "khái niệm về sự cắt nghĩa đối tượng và hiện thực Gắn liền với sự cắt nghĩa là ý nghĩa của đối tượng, của hiện thực đổi với chủ thể"
Là "giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật, nó thể hiện một hiện thực khách quan, là tổng thể thống nhất giữa hiện thực được phản ánh và năng tực cắt nghĩa, lý giải của con người" Quan niệm nghệ thuật không phải là thế giới quan mà là “phạm trù về các chỉnh thể nghệ thuật, là công
cụ để tư duy về các hiện tượng nghệ thuật như những chỉnh thể”
Từ cơ sở trên, quan niệm nghệ thuật được xem là:
Trang 17+ "Cơ sở chắc chắn để nghiên cứu tính độc đáo của các sáng tác nghệ thuật cũng như sự tiến bộ nghệ thuật", Và ông nhấn mạnh: "Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người vì là
"quan niệm"(cấp nhận thức tối cao sự ý thức về mục đích cuối cùng) tức là mẫu số chung của mọi tìm tòi nghệ thuật đã cung cấp cơ sở đáng tin cậy để nghiên cứu các loại hình và so sánh các hiện tượng trong lịch sử" Khái niệm nghệ thuật về con người "là vị trí trọng tâm đánh dấu
sự nhân đạo hoá của ý thức lý luận, đưa văn học vào quỹ đạo “nhân đạo” như Goocki đề xuất"
+ Quan niệm vốn có bản chất phương pháp Nghĩa là để sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật thì người nghệ sỹ chí ít phải có quan niệm về thế giới ấy như một điều kiện tiên quyết và với ý nghĩa đó nó là phương pháp sáng tác [64; 93-94]
Trong giáo trình "Thi pháp học" Trần Đình Sử đề cập đến nhiều vấn đề Trong đó có vấn
đề “quan niệm nghệ thuật về con người” và được ông xác định: "là phạm trù rất quan trọng của thi pháp học, Tuy hiện nay, nó chưa được định nghĩa một cách chặt chẽ nhưng nó hướng ta nhìn
về đối tượng chủ yếu của văn học" Từ đó, tác giả đi vào trình bày “vài nét về sự phát triển quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam” Đó là hình ảnh con người trong thần
thoại; truyộn cổ tích; trong văn học cổ, văn học hiện thực phê phán, văn học cách mạng [61; 23 – 37]
Ngoài ra, tác giả còn có những bài viết về vấn đề con người như: "Con người trong văn học Việt Nam sau 1945" (Một thời văn học mới); "Bản lĩnh nghệ sỹ và cái nhìn về con người"
(Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) - Thi hào Nguyễn Khuyến - Đời và thơ - NXB GD - HN - 1994);
“Cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Du trong truyện Kiều” (Tạp chí Văn học số 6.1993)
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã dày công chuyển tải và xác tập cơ sở lý thuyết có hệ thống tạo ý nghĩa mở đường cho nghiên cứu văn học theo hướng thi pháp học hiện đại mà đặc biệt là vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người Đây là một cống hiến rất lớn cho khoa học về văn học
1.1.2 Từ điển thuật ngữ văn học (Lô Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên)
mục từ “quan niệm nghệ thuật” có giải thích:
Quan niệm nghệ thuật “là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có hình thức nghệ thuật đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó", "là cái mô hình nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để khắc họa hình tượng của con người và số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây dựng
Trang 18kết cấu tác phẩm Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật thể hiện khả năng, phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó” [19; 39 - 42]
Có thể thấy "Từ điển thuật ngữ văn học" đã xác tập mối quan hệ và sự khác biệt giữa quan
niệm nghệ thuật với các quan niệm triết học, xã hội học, thế giới quan, ý thức hệ về thế giới và
con người Tuy nhiên, ở đây dường như “Từ điển thuật ngữ” đã quá nhấn mạnh đến vai trò của
quan niệm nghệ thuật Đây cùng là mục đích làm rõ vấn đề mang tính chất công cụ nên đòi hỏi quá trình tiếp cận còn phải nhận thức trong tính hệ thống chứ không phải vấn đề riêng rẽ
1.1.3 Trong "Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ" của hai tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương, phần "Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người" được Huỳnh Như
Phương khai triển:
"Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lý của tác phẩm; quan niệm nghệ thuật chi phối thế giới hình tượng - ngôn từ tác phẩm;
và hình thành cùng một lúc với thế giới đó" Bởi vì thế, thế giới và con người trong văn học "bao giờ cũng là thế giới và con người được quan niệm" Và ông đa nhân mạnh đến tính độc đáo của quan niệm nghệ thuật của nhà văn Đó là "quan niệm của tôi, nghĩa là quan niệm của một cá tính sáng tạo" Nhà nghiên cứu đã xem quan niệm nghệ thuật là một trong những yếu tố chính hình
thành tư tưởng thẩm mỹ Từ đó ông đi vào lý giải phong trào thơ mới 1932 - 1945 [17; 209 – 213]
1.1.4 Tác giả Lê Thị Dục Tú qua công trình nghiên cứu của mình đã giải thích, vấn đề quan
niệm nghệ thuật về con người có phần đơn giản hơn Tác giả xem: "Quan niệm nghệ thuật là cách hiểu, cách cắt nghĩa về con người Quan niệm đó quyết định chiều sâu của việc miêu tả cũng như giải quyết chủ đề, đề tài trong sáng tác" [85; 14]
1.1.5 Nhà nghiên cứu Phạm Quang Trung trong sách "Lý luận trước chân trời mở" có bài
"Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người" đã xác định: "con người là đối tượng hàng đầu
là trọng tâm chú ý của nhà văn" và ông chỉ ra "nhận thức khác nhau (nhận thức đối tượng – TMĐ) sẽ đưa tới cách giải quyết vấn đề không giống nhau", ông viết: "Khi hướng tới đối tượng trung tâm của mình, tác phẩm văn chương không chỉ thể hiện đời sống và phẩm chất của con người, không chỉ đặt ra và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa con người với
Trang 19con người, giữa con người với tự nhiên mà quan trọng hơn là tìm hiểu, khám phá và phát hiện
ra những bí ẩn nằm trong chiều sâu những chiếu kính khúc nhau của con người"
Từ ý kiến trên, ông đi vào xem xét sự vận động của văn học 1945 - 1975 đã sáng tạo ra
những con người: “con người hiện thực, con người hành động, con người xã hội, con người giai cấp, con người cộng đồng và con người phi thường” Rồi đến văn học sau 1975, ông xác định
do những "đòi hỏi lớn hơn, triển vọng cao hơn" nên "đã đến lúc cần lưu tâm đến toàn diện bản chất người, tính đa dạng của quan hệ người", và ông đặt ra "nhà văn cần coi trọng tới con người siêu việt, con người tâm tinh, con người tự nhiên, con người cá thể và con người đời thường”
Và ông giải thích vì sao phát có những quan niệm như vậy qua sự vận động đời sống, văn học
“Tất cả những phương diện và quan hệ vừa nêu chỉ bổ sung cái nhìn nghệ thuật về con người thêm biện chứng và thực tế” và đây là “sự thay đổi phương thức hiểu hiện về con người" [60; 21
- 26] của văn học hôm nay
1.1.2 Từ những ý kiến đến cách hiểu khái niệm
Quan niệm nghệ thuật về con người là sự cắt nghĩa, lý giải của nhà văn về con người - đối tượng chiếm lĩnh, phản ánh của nghệ thuật, xét trong những mối quan hệ của nó Quan niệm nghệ thuật về con người bị chi phối bởi tư tưởng thẩm mỹ, từ đó quyết định chiều sâu của việc miêu tả, xây dựng hình tượng nghệ thuật, giải quyết đề tài, chủ đề cũng như khả năng kiến tạo,
tổ chức nghệ thuật trong tác phẩm của nhà văn
Quan niệm nghệ thuật về con người mang tính thời đại - lịch sử Một mặt nó bị chi phối bởi
cá tính sáng tạo, đồng thời nó còn là sản phẩm của thời đại
Như vậy quan niệm nghệ thuật về con người không đồng nhất với quan điểm nghệ thuật của nhà văn Mặc dù nó không tách rời nhưng nó không phải là một Bởi vì quan điểm nghệ thuật
là do thế giới quan chi phối tạo nên tập trường tư tưởng xã hội của nhà văn mà từ đó quy định cho sáng tác
Quan niệm nghệ thuật cũng không phải là thế giới quan mà là thế giới quan trong hành
động sáng tạo Bởi vì nó là "phạm trù về các chỉnh thể nghệ thuật, là công cụ để tư duy về các hiện tượng nghệ thuật như những chỉnh thể" [64;93] Và quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn chỉ thể hiện trong thế giới nghệ thuật thông qua hình tượng là "hình tượng bên trong của
sự chiếm lĩnh đời sống, là hệ quy chiếu ẩn chứa trong hình tượng nghệ thuật" [19:224], còn quan
Trang 20điểm, thế giới quan có nội dung rộng hơn, không chỉ đóng khung trong hình tượng mà còn chi phối cơ chế khác của hoạt động nhà văn
Trong quá trình tiếp cận, đánh giá các hiện tượng văn học, việc chú ý đến thế giới quan của nhà văn là rất cần thiết Những vấn đề cơ bản là nếu không nhận ra quan niệm nghệ thuật về con người sẽ không những dẫn đến những cắt nghĩa lệch lạc mà còn bỏ qua đặc trưng thẩm mỹ của
văn chương Từ ý nghĩa đó, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận xét "không thể lý giải hệ thống thơ văn mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó" [63;90]
Chúng tôi đi vào tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu qua
hệ thống truyện giai đoạn sau 1975 cũng là nhằm mục đích trên
2.2 CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGUYỄN MINH CHÂU
2.2.1 Những tiền đề thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người
Là nhà văn quân đội trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu luôn dõi theo bước đi của hiện thực, theo nhịp đời sống của lịch sử dân tộc Dấu ấn thời đại luôn in đậm trong sáng tác của ông Ở đây, nhà văn không phải mô phỏng
hiện thực để cho ra đời những bức "ký hoạ" lịch sử mà chính là sự vận động tư duy nghệ thuật,
đổi mới quan niệm trong sáng tạo Như con sóng lượn mình cùng dòng chảy tư tưởng, quan niệm nghệ thuật về con người ngày càng có thêm nhiều thức nhận mới trong viễn cảnh mới của đời sống
Trong công cuộc xây dựng xã hội và con người trong thời đại mới thì văn học là một trong
những "động tực" cần thiết góp phần tích cực cho công cuộc xây dựng đó Từ đó đối với người viết văn, theo ông không chỉ là tiếng nói về cái được cái mất mà là ở chất lượng nghệ thuật, "cái phần chủ yếu là tiếng nói của anh ta trước những vấn đề mà đông đảo mọi người quan tâm đến" [8; 25], cho nên "ở mỗi nhà văn có tài năng có thể mang đến góp vào văn học dân tộc một phương diện nào đó sở trường nhất của mình" đó là cái "chủ đề tư tưởng của cả đời văn" (Trang giấy trước đèn) Khát vọng thể hiện "cái chủ đề tư tưởng" thiết nghĩ không chí có riêng ở Nguyễn
Minh Châu mà trong lao động sáng tạo nghệ thuật, từ trong sâu thẳm của mỗi nhà văn đã tỏ rõ
cái "động tực" của ngòi bút mình trong việc thể hiện nghệ thuật Dù nhà văn có phát biểu trực
tiếp hay không thì trong sáng tạo nghệ thuật luôn thể hiện mục đích ấy Ma Văn Kháng đã để
cho nhân vật của mình phát biểu: "Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể
Trang 21mình ở chiều sâu tâm hồn chứ đâu phải là đi lấy cái váng bọt nổi trên bề mặt của ngoại vật" (Trăng soi sân nhỏ)
Nguyễn Minh Châu không nói lời trực tiếp như Ma Văn Kháng nên cái "chủ đề tư tưởng của cả đời văn" có cái gì đó tưởng chừng như còn khuất lấp đâu đó Theo chủ quan của người viết, "chủ đề tư tưởng của cả đời văn" ở Nguyễn Minh Châu là phương diện “ứng xử” Đó là sự ứng xử đạo đức, văn hóa giữa người với người, giữa người với xã hội, với tự nhiên, với truyền thống dân tộc, với chính bản thân mình Có thể nói Nguyễn Minh Châu là nhà văn của ứng xử - ứng xử có văn hóa Văn hóa là "chìa khóa" của phát triển, là động tực của mọi cuộc cách mạng
Thời kỳ chiến tranh vệ quốc, cả dân tộc hướng về cuộc sống lớn, với lý tưởng thể hiện khát vọng độc tập tự do và thống nhất đất nước Bối cảnh lịch sử ấy đã hun đúc cho văn học - nền văn học thời chiến, góp phần động viên cổ vũ, là nguồn sức mạnh cho công cuộc kháng chiến kiến quốc Cảm hứng lịch sử và tư duy sử thi đã xây dựng nên hình tượng con người có lý tưởng cách mạng và tinh thần xả thân vì nghĩa lớn Họ gánh trên vai một trách nhiẹm đối với lịch sử, với dân tộc Họ có đầy đủ tài năng, ý chí và nghị tực để vượt qua mọi gian khó, luôn lạc quan tin tưởng
vào chiến thắng Tâm hồn họ như "những viên ngọc tỏa sáng, đẹp một cách rực rỡ không có tỳ vết, khó có thể tìm thấy khiếm khuyết trong phẩm chất của họ" [67;122] Đó là thời kỳ mà Chế Lan Viên đã xác nhận: "cả nước có chung một tâm hồn, một khuôn mặt" (Con mắt Bạch Đằng)
Chính vì thế, trong nhìn nhận luôn có sự phân biệt rạch ròi địch - ta, tốt - xấu, cao cả - thấp hèn,
lý tưởng - phi lý tưởng Trong dòng chảy ấy, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu càng tỏ rõ sự
đóng góp tích cực, Những "Cửa sông", "Dấu chân người lính" "Mảnh trăng cuối rừng", "Nguồn suối" là những tác phẩm tiêu biểu Với "Dấu chân người lính", không khí và con người chiến trường của chiến dịch Khe Sanh được miêu tả như một bản "anh hùng ca chiến trận" Và ở đó con người là những người tiếp bước nhau từ thế hệ này đến thế hệ khác, "lớp cha trước, lớp con sau, chung câu đồng chí, chung câu quân hành" (Tố Hữu) Người cha anh hùng như chính ủy Kinh và người con luôn tâm niệm lý tưởng như Lữ: “Chúng tôi đã chịu ơn lớp người sinh ra mình và chúng tôi cần xứng đáng là những đứa con” Luôn tâm niệm cái điều "xứng đáng", Lữ
hy sinh bằng hành động dũng cảm, anh sẵn sàng gọi pháo của ta rót xuống đầu kẻ thù và cũng chính là trên đầu của mình khi đã biết mình không thoát khỏi tay giặc Vẻ đẹp của Lữ cũng là vẻ đẹp của Khuê, Lượng, Cận, những người cùng thế hệ Bởi họ có chung một mục đích đánh giặc
giữ nước, giành lại độc tập, thái bình cho dân tộc nên họ “từ giã gia đình, trường học, từ giã cuộc
Trang 22sống tương lai đẹp đẽ hết sức bao đảm đã bắt đầu dựng cho họ, từ bỏ trái hạnh phúc đang ửng hồng trong vườn nhà để đi vào cuộc sống đầy vất vả, hy sinh khá là vô tư lạc quan tươi trẻ” (Dấu chân người lính) Và chính vì thế, họ gặp nhau nơi chiến trận, trong cái bầu không khí
“không tài nào phân biệt hoặc đếm được có bao nhiêu đơn vị, cũng không thể biết đây là đường rừng hay quảng trường, là rừng cây hay rừng súng đạn, rừng người Người ta chỉ biết đông đúc
và chật chội là tiếng ồn ào của cuộc sống, là đàn ông cần lao đang san một nửa tổ đi đánh giặc Không thể nào tả hết những khuôn mặt chiến sỹ, những khuôn mặt chỉ huy, những khuôn mặt tầng tầng lớp lớp người đang nối tiếp nhau đi ra từ trên dốc, từ dưới suối, từ khắp các ngỏ ngách của rừng, mặt nào cũng đầm mồ hôi như say” (Dấu chân người lính), Có thể nói, giai
đoạn trước 1975 Nguyễn Minh Châu đã đóng góp vào cuộc chiến đấu vĩ đại, tuyên truyền, cổ vũ cho kháng chiến bằng những sự kiện, những nhân vật anh hùng, bằng những hình tượng con người giàu lý tưởng, có đủ phẩm chất, năng tực, ý chí Đó là những con người như Thùy, Bân,
bác Thỉnh (Cửa sông), Nguyệt, Lãm (Mảnh trăng cuối rừng) Tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” là thái độ đúng đắn của những con người của nhiều thế hệ, những người từ nhân dân
mà ra
Thái độ ứng xử đạo đức của "con người này" là ứng xử với lý tưởng, với dân tộc, lịch sử
Mặt bằng đạo đức được cân đo trên tinh thần dân tộc, lịch sử và lý tưởng anh hùng
Tuy nhiên, trong quá trình nêu cao tâm gương con người anh dùng, xả thân, tinh thần tiên phong cách mạng thì cũng là lúc nhà văn trăn trở trước đời sống hiện thực cũng như văn học Ở ông, tấm lòng đôn hậu luôn trỗi dậy dòng máu nóng của lương tâm, trách nhiệm người cầm bút
ý thức nghề nghiệp, luôn "có một mối quan tâm thường trực về vận mệnh dân tộc, về số phận và khát vọng của nhân dân trong những năm đầy sóng gió" nên không lẽ nào "có thế viết những câu văn trái với nhiều người chung quanh hiện đang lo nghĩ để chiến thắng giặc" [8: 25] Và từ đó, hiện thực đời sống chiến tranh như “một cánh rừng già chưa khai phá”, "những vấn đề còn ẩn náu trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, những vấn đề con người của chúng ta" mà văn học chưa "ôm cho hết vòng tay mình" nên tác phẩm viết ra còn "nhạt nhẽo"."Hình như cuộc chiến đấu anh hùng, sôi nổi hiện nay đang được văn xuôi và thơ ca đôi khi tráng lên một lớp men hơi dày cho nên ngắm nó thấy mỏng manh bè nhỏ và óng chuốt khiến ta phải ngờ vực", cho nên
"cuộc sống kháng chiến vĩ đại và anh hùng của chúng ta khiến thế giới phái khâm phục trở nên
bé bỏng và tầm thường đi" "Đôi khi chúng ta hơi nôn nóng trong chức năng giáo dục hoặc do
Trang 23sự hiểu lầm hoặc do non tay nên có nhiều chuyện đáng lẽ phải gợi cho người đọc tự suy nghĩ thì người viết vội vàng đưa ni những lời kết luận như một bài luân lý nên ít sức thuyết phục và bao trùm lên tất cả, là ít thấy phần ký thác của người viết đó chính là tư tưởng, là tinh hồn của những tác phẩm văn học" [8; 115 - 153]
Ở đây không phải là sự phủ nhận "hành trình lý tưởng" của văn học một thời Nhưng cái khát vọng của nhà văn chính là tư tưởng, là tâm huyết, "là cái điều chiêm nghiệm có tính triết học của cả một đời người viết văn" [8; 24 - 25] Cho nên việc "đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người" là nhằm để soi tỏ cho con người, cho cuộc sống bởi “văn học và cuộc sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người” thì văn học phải "tham gia trợ tực vào cuộc giao tranh, giữa cái tôi và cái xấu trong mỗi con người" Và từ đó, "bằng ngòi bút, đào sâu cho đến cùng cái đáy thật chứa đầy bí ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người" [8; 21]
Từ trong ý thức sâu sắc đó mà những "Cửa sông", "Dấu chân người lính", “Mảnh trăng cuối rừng” không hoàn toàn cùng dạng với những cây bút văn xuôi thời bấy giờ Và nhà văn đã tạo nên "bộ mặt" riêng trong đời sống văn học - bộ mặt của ứng xử đạo đức và nhân cách Nhà nghiên
cứu Nguyễn Văn Long đa nhận ra điều đó:
"Điều đáng nói ở cây bút tài năng này (Nguyễn Minh Châu) là ngay từ thời đó (thời Cửa sông, Dấu chân người lính), nhà văn đã cảm nhận được những chiều sâu vô tận và bí ẩn mỗi thế giới tinh thần và tâm hồn con người không dễ gì khám phá tường tận được"[42,77]
Chiến tranh và người lính, nông thôn và nông dân ngay từ lúc ban đầu này nhà văn đã nhìn nhận, soi chiếu trên tinh thần hòa mình trong đời sống lớn Trong dòng chảy lớn ấy, hấp thụ từ
vẻ đẹp truyền thống và trên tinh thần thời đại, hình tượng ấy trở nên thiết thực và hữu ích cho đời sống, cho cách mạng Ở đây nói người lính, người nông dân là nói về phương diện quan tâm
lý giải của nhà văn hơn là phương diện đề tài của tác phẩm
Đại thắng mùa xuân 1975 đã kết thúc một giai đoạn trường chinh lớn và hào hùng của dân tộc đem lại độc tập tự do cho dân tộc, thống nhất tổ quốc và cũng khép lại một thời kỳ văn học Chiến tranh đã qua đi nhưng âm vang khói lửa chiến tranh không để nguội tắt trong lòng mọi người Đồng thời, cuộc sống thời bình có những yêu cầu bức bách đời thường mà từ đó trong đời
sống có sự nảy sinh những pha "lệch chuẩn" Phong Lê - nhà nghiên cứu văn học, gọi đó là một
cuộc chiến giữa đời thường "chiến trường trong đời thường không khói súng" [37; 9] Từ đó văn học góp phần vào phục vụ đời sống không thể đóng khung như ở giai đoạn trước Cơ sở lịch sử
Trang 24xã hội ấy làm nảy sinh ý thức văn học, “sự hiện diện của viễn cánh trong tư duy nghệ thuật”
[46;106] Ở đây không phải văn học đoạn tuyệt với quá khứ mà đó là tinh thần kế thừa và phát triển tạo nên cái mới phù hợp với yêu cầu cuộc sống (mà cái mới trong văn học trước hết là ở cái
nhìn, cách nhìn, cách đánh giá; Huỳnh Như Phương - "Những tín liệu mới") Rồi tinh thần đổi mới tư duy, "nhìn thẳng vào sự thật" tạo cơ sở cho người cầm bút có điều kiện nhìn lại văn học
cũng như tìm tòi một hướng đi mới Trở về với đời thường, con người không chỉ được soi xét phương diện xã hội mà còn mở rộng bình diện đời tư cá nhân, những bình diện tồn tại riêng lẻ của những mảnh đời, số phận Trong viễn cảnh ấy, quan niệm nghệ thuật về con người chẳng những sâu hơn, đa dạng, phong phú hơn mà còn khẳng định thành tựu từng bước trong quá trình phát triển của nó Ta bắt gặp những nhà văn như Nguyễn Trọng Oanh, Nguyễn Minh Châu Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Chu Lai, Ma Văn Kháng, Lê Tựu, Khuất Quang Thụy, Thái Bá Lợi Các nhà văn mở rộng những chiều kích về tâm hồn, đạo đức văn hóa đời sống, con người ở bản thân nhà văn trên cơ sở sở trường của mình mà từ đó có sự nhìn nhận lý giải riêng Chẳng hạn
Ma Văn Kháng lấy "tình đời, tình người và sự hồn nhiên" để trò chuyện về con người và cuộc đời nhằm vào việc “đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn” thì đó cũng là cơ sở trả về cho văn học
bản chất của đời sống, dòng đời chảy trôi miên viễn [55|
Có thể nói, sau 1975 văn học từng bước mở ra những chiều kích mới nhằm để khám phá,
lý giải đời sống và con người góp phần xây dựng con người, xã hội Nguyễn Đăng Mạnh xem
đó là cuộc "tìm đường" của văn học [70] Cuộc tìm đường này nhằm đưa văn học vào vị trí xứng
đáng với cuộc sống, trả nó về với bản chất của nó
Trong dòng chảy ấy, ngòi bút của Nguyễn Minh Châu trở nên có một vị trí đặc biệt Nhờ
sự mẫn cảm của ngòi bút và ý thức thường trực về vai trò của văn học, cũng như lương tâm và
trách nhiệm của người cầm bút - "là người chiến sỹ trên mặt trận cửa Đảng", mà quan niệm nghệ
thuật về con người của ông ngày một sâu sắc hơn, đa dạng hơn Đó là sự đổi mới về chất trong sáng tạo nhà văn Nếu trước đây ông đã đặt vấn đề về con người ý thức trước đời sống lớn thi hôm nay càng tập trung hơn vào phương diện tự ý thức, tự nhận thức, tinh thần phản tỉnh, sám hối của con người Đó là qúa trình đi tìm hạt nhân nhân cách, đạo đức của con người - tinh thần ứng xử đạo đức, nhân cách, sở trường của ngòi bút ngày càng được đào sâu trong sáng tạo Nói
như Lại Nguyên Ân “Đời sống được đưa ra như là để thể hiện một sự chiêm nghiệm lẽ đời hơn
Trang 25là để phê phán một lối sống nào đó”[32; 25] Còn nhà nghiên cứu Phong Lê xem là "niềm khắc khoải lớn về nhân sinh, về cõi đời" [39;65]
2.2.2 Con người trong truyện của Nguyễn Minh Châu
2.2.2.1 Con người sử thi
Văn học 30 năm chiến tranh là nền văn học tập trung vào "một hướng lớn và đi tới đỉnh cao" "là quan niệm về con người sử thi, Đó là con người đại diện đầy đủ cho tầm vóc sức mạnh
ý chí và khát vọng của cộng đồng dân tộc" [42:41]
Như chất bột để gột nên hồ quen tay của người thợ, con người sử thi vẫn được thể hiện trong một số sáng tác của nhà văn sau 1975 Tuy nhiên, việc nhìn nhận thể hiện không hoàn toàn thuần túy như trước 1975 Ở đây chất men tâm hồn trầm lắng và bản tính đôn hậu của nhà văn như nguồn nhiệt năng tạo nên cảm hứng trong sáng tác - cảm hứng trước cái đẹp con người gánh trên vai trách nhiệm đối với lịch sử trở nên ấm áp Và chính vì thế, con người được nhìn nhận, miêu tả càng trở nên đầy đặn, vừa phần người lịch sử vừa phần người riêng tư Thông qua cái nhìn như thế, nhà văn tiếp cận người lính chinh chiến cũng như người lính từ nhân dân, đặc biệt
là nông dân mà ra, càng trở nên sâu sắc mang vẻ đẹp truyền thống dân tộc
Có thể thấy, nếu từ lúc đầu đến với nghiệp bút, nhà văn đã quan tâm đến người nông dân
và người lính, người nông dân mặc áo lính thì hôm nay như sự ám ảnh ngòi bút, hình ảnh người lính được thể hiện vần tươi nguyên vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất đạo đức và văn hóa
Trong "Bức tranh", người lính đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, góp phần vào việc
giành độc tập thống nhất tổ quốc nay trở về dù có những thiệt thòi nhưng vốn không quen đòi hỏi, anh bằng lòng làm người thợ hớt tóc ở quán khuất bên trong ngỏ vắng, giản đơn như chiếc bóng âm thầm mà thánh thiện cao cả Ở đây nhà văn không đi vào mô tả chiến tranh mà đi vào
thể hiện "lòng độ lượng của người chiến sỹ làm đậm nét bức chân dung tinh thần của những người lính không có thói quen nhiều lời để đòi hỏi sự đền đáp" [58; 37] Điểm nhìn từ hiện tại
để soi rọi quá khứ và tương lai như vén tấm màn phông cuộc sống mà từ bấy lâu nay che chắn bởi cuộc sống lớn Cái phần người lịch sử là sứ mệnh thiêng liêng cao cả nhưng phần người riêng
tư còn khuất lấp trong góc nhỏ Đó là "cái vẻ mặt và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần", "làm người thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội anh vẫn sống như vậy" (Bức tranh)
Trang 26
Nếu trước 1975 ngòi bút của nhà văn tập trung vào tô điểm tinh thần, ý chí của cảm hứng ngợi ca thì hôm nay trên tinh thần ngợi ca đó nhà văn cũng đồng thời đi vào phân tích, mở rộng bình diện đạo đức, ứng xử nhằm mở rộng thang giá trị nhân thế
Hình lượng có sức ám ảnh là hình lượng nhân vật người trung đoàn trưởng - người trung
đoàn trưởng trác tuyệt tài năng Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành "đã xếp sách vở lại một cách nhẹ nhõm và vui vẻ" để bước vào cuộc sống lính irận với "mười hai năm làm lính" Cũng
vì ước mơ được sống, học hành và làm việc mà anh đà góp sức tực của mình vào sự nghiệp giải phóng chống giặc ngoại xâm Cái hoài bão khoa học, một hoài bão hết sức chân chính cùng xuất phát từ mong muốn góp phần vào xây dựng đời sống con người nơi quê hương máu thịt, mong muốn làm kỹ sư chế tạo máy để thay thế tay chân Ước mơ sống cuộc đời hữu ích đối với xã hội nên ngay khi bước vào đời sống lính trận anh đã làm nên chiến công, ở đây dường như nhà văn
cố tập trung thể hiện vẻ đẹp con người về trí tuệ, tài năng cũng như khát vọng cháy bỏng của
người trung đoàn trưởng Đó là con người như hiện thân của sự "tập trung trí tuệ và tài năng trác tuyệt của nhân dân và mang trong lòng tất cả khát vọng cháy bỏng của nhân dân" Người đàn bà trên chuyển tàu tốc hành Vẻ đẹp của họ không chỉ là vẻ đẹp tâm hồn mà còn là vẻ đẹp
về tư chất, phẩm chất đạo đức của nhân dân
Truyền thống yêu nước và giữ gìn đất nước của dân tộc đã có một bề dày lịch sử, thậm chí
"giặc đến nhà đàn bà cũng đánh", từ đó ta mới thấy tinh thần xã thân, lòng quyết tâm đánh giặc
của người trung đoàn trưởng tài năng là hiện thân vẽ đẹp văn hóa truyền thống dân tộc Ở đây, con người anh hùng được thể hiện bằng cảm hứng ngợi ca, tôn vinh, tất nhiên qua cái nhìn của
nhân vật kể lại - nữ y sỹ Quỳ, nhưng vẫn là âm hưởng của tinh thần "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" hôm nào ở "Dấu chân người lính", "Cửa sông" Hình tượng con người anh hùng sánh
"ngang tầm chiến lũy" đã được thể hiện ở Lữ, Khuê (Dấu chân người lính), Thùy, Bân (Cửa sông) hôm nào thì nay vẫn còn tươi nguyên xán lạn Nhưng trong quá trình thể hiện nghệ thuật,
nhà văn còn để cho người đọc không những thấy vẻ đẹp của người lính mà còn cảm nhận được nổi nhức nhối, oan nghiệt do chiến tranh gây nên
Trong "Cỏ lau", Tực đã hiến dâng một đời tuổi trẻ cho sự nghiệp đánh giặc giữ nước,
"không hề mảy may hối tiếc đã dốc tất cả tuổi trẻ vào đấy để cống hiến" Ước mơ của anh rất
chân chính, đánh giặc để đem lại hòa bình độc lập cho đất nước, cho dân tộc, để sống và làm
lụng, "Biến cỏ lau thành ruộng cày" Qua hai cuộc chiến tranh, người lính trở về trong màu áo
Trang 27bạc màu thì cũng là lúc con người phái đối diện với sự thật - sự thật nghiệt ngã đau lòng Ở đây nhà văn không mô tả chiến tranh mà là liếng vọng chiến tranh bên trong tâm trạng người lính, Nhà văn lấy điểm nhìn hiện tại soi chiếu quá khứ đồng thời mở rộng về tương lai trước cái được cái mất để từ đó đặt ra một cách nghiêm túc thái độ ứng xử đạo đức của con người Tực tâm sự:
"Chiến tranh, kháng chiến không phải như một số người khác, đến bây giờ tôi không hề mảy may hối tiếc dốc tất cả tuổi trẻ vào đấy cống hiến cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ" (Cỏ lau)
Tực trở về như “người khách lạ đến không đúng lúc” nên nổi nhức nhối trong tâm khảm
nét nhập nhòa tâm thức là khát vọng làm người trong cõi người của Tực
Hình ảnh người lính trong chiến tranh cũng như trở về sau chiến tranh được Nguyễn Minh Châu thể hiện thông qua chất men đạo đức mà từ đó con người hiện ra với đầy đủ phẩm chất văn hóa, tinh thần nhân văn cao cả Ở đây hình anh người lính vừa giàu phẩm chất truyền thống vừa
là hiện thân của tinh thần thời đại Nếu con người khí phách anh hùng, xả thân quên mình vì nghĩa lớn trước đây là một đóng góp của ông thì hôm nay con người ấy được tô điểm thêm về nhân cách, đạo đức cá nhân, từ đó làm ánh lên vẻ đẹp của những giá trị mới Cái nhìn về chiến tranh và người lính của Nguyễn Minh Châu không giống như cái nhìn của những nhà văn khác như Bảo Ninh, Lê Tựu, Khuất Quang Thụy mà ở đây thấm đẫm tinh thần đạo đức ứng xử vươn
tới những giá trị cao cả Đó là những người lính như Phác, Lưu (Mùa trái cóc ở miền Nam) Thăng (Cơn giông), Dung (Phiên chợ Giát).,
Có thể nói, trong quá trình tập trung tô điểm vẻ đẹp của người lính mang tầm vóc thời đại
thì cũng là lúc nhà văn nhận ra những oan khiên, oan khuất, những mầm móng của tội ác "Chiến tranh làm cho nhân cách con người tốt đẹp hơn và cũng có thề làm cho nhân cách con người biến dạng" (Trang giấy trước đèn) Từ đó tác giả mở ra những dự báo, âu lo trên tinh thần ứng
xử, đặc biệt phương diện phản tỉnh, sám hối, tự nhận thức để hoàn thiện nhân cách là "cái nhìn đặc sắc, đầy xác thực về con người, có những dự báo kiến giải có ý nghĩa về cuộc sống xã hội,
từ hướng ngoại đến hướng nội, từ sự kiện, vấn đế đến con người, từ số phận cộng đồng đến sổ phận cá nhân từng con người" [26] Đây là một đóng góp nghệ thuật của nhà văn trong viễn cảnh
mới của thời kỳ hòa bình, xây dựng đất nước của dân tộc
2.2.2.2 Con người thế sự đời tư
2.2.2.2.1 Con người đời tư cá nhân
Trang 28Kể từ sau 1975, trong viễn cảnh của thời đại mới văn học đã mở ra nhiều bình diện khám phá và lý giải vấn đề con người Việc nhận thức, lý giải con người ở góc đọ đời tư cá nhân là một trong những phương diện quan trọng Nếu trong xã hội ý thức cá nhân là dấu hiệu phát triển vai trò của cá thể trong mối tương quan với đời sống nhằm đề cao phẩm chất, năng tực, cá tính của con người thì trong văn học mở rộng cũng như đào sâu vấn đề con người cá nhân là tiếng nói mang tính ưu việt của quá trình phát triển văn học
Nói đến con người cá nhân là nói đến những nhu cầu cho sự tồn tại của con người, từ nhu cầu tự nhiên đến nhu cầu tinh thần Sự tồn tại của những nhu cầu bao giờ cũng gắn với sự tồn tại của phương diện cá tính, phẩm chất, tư chất, năng tực và nhân cách mà từ đó xác tập sự hiện hữu tồn tại của cá nhân C Mác đà xác định :
"Đặc điểm sức mạnh của bất cứ con người nào cũng chính là cái bản chất riêng của họ Vì vậy cũng chính là cách thức riêng của việc khách quan hoá của họ, tức là cách thức riêng của cái thực thể sinh động của họ, thực thể khách quan và thực tế"[7; 24]
Trong văn học con người cá nhân đã được phát hiện từ lâu Mặc dù khả năng lý giải và mức
độ phản ánh có những biểu hiện khác nhau nhưng đó là biểu hiện của dấu hiệu khát vọng nhận thức, lý giải, khám phá sự tồn tại của con người trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, với
xã hội và với chính mình Văn học trung đại theo quan niệm chung là dòng văn học "phi ngã"
nhưng thực tế vấn đề con người cá nhân đã nảy sinh và có những hình thức biểu hiện của nó
A.Gurcvich xác định : "Trở về thời trung cổ trước hết cần thấy rằng chính trong thời đại này khái niệm cá nhân đã được hình thành một cách trọn vẹn"[65]
Ta bắt gặp những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ đã được thể hiện một cách có hệ thống (xem: vấn đề con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam) Theo
Nguyễn Hữu Sơn thời trung đại cũng có những "chuẩn mực, định hướng, lực hướng tâm chi phối" nhưng "có các nhà văn nghiệm sinh nỗi đau nhân thế (Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng, Truyện Kiều - Nguyễn Du) mới đã sức mạnh nội tâm vượt qua vòng cương tỏa của các khuôn mẫu và quy tắc để có những đóng góp riêng Sự "phá chấp" của
họ chính là nằm trong quy luật vốn đầy nghịch lý của sự sáng tạo nghệ thuật vươn tới những giá trị nhân bản trường tồn" Và đỏ cũng là “lúc bột khởi những rung động nghệ thuật đích thực, từ
đó khởi động những suy cảm cá nhân” [60;26-27]
Trang 29Trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, vấn đề con người cá nhân càng được thể hiện, quan tâm, lý giải Các khuynh hướng văn học (theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu thì văn học giai đoạn này có văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn, văn học cách mạng) đã
quan tâm đến con người cá nhân và con người cá nhân được khám phá lý giải không chỉ là "sự nghiệm sinh nổi đau nhân thế" hay ở tài, tình của văn học Trung đại mà mở rộng những chiều
kích đời sống riêng tư, về thân phận, số phận, không chỉ có cá nhân xuất hiện với nhu cầu hưởng hạnh phúc lứa đôi mà còn thể hiện những khát vọng của một cá nhân tồn lại Ý kiến của Hoài
Thanh về thơ mới có một ý nghĩa đối với văn học bấy giờ : "Lần đầu tiên chữ tôi xuất hiện trên
thi đàn Việt Nam, nó bỡ ngỡ Nó như lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm
chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân" ( người viết nhân mạnh ) [73; 53]
Có thể nói, với văn học trước cách mạng tháng Tám, con người cá nhân đã hình thành đầy
đủ diện mạo của nó Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đa khẳng định : "Văn học 1930 - 1945, có thể nói ý thức cá nhân là cây tháp ngà giữa ngã ba đường đứng đâu cũng nhìn thấy" [65]
Văn học giai đoạn 1945 – 1975, do yêu cầu của hoàn cảnh lịch sử văn học phải góp phần vào việc đấu tranh chống ngoại xâm gìn giữ độc tập thống nhất đất nước nên con người đời tư cá nhân ít được tập trung soi xét Con người phải hướng về đời sống lớn, về công cuộc cách mạng của dân tộc nên cá nhân phải sống vì cái chung của cộng đồng xã hội, vì lợi ích của dân tộc Đó
là con người lịch sử Theo Trần Đình Sử : "Con người cầm súng và quyết thắng lấn át con người bình thường; con người tinh thần, ý chí nổi lên trên con người vật chất, con người vì nghĩa lớn lấn át con người riêng tư, tính thống nhất của các thế hệ nổi bật hơn vấn đề riêng của họ và cái
"bất biến" của nghìn năm dân tộc đứng trên cái "vạn biến" của hoàn cảnh môi trường" [64; 199]
Văn học thời kỳ chống Mỹ là nền văn học của tinh thần chủ nghĩa anh hùng cách mạng,
thời kỳ "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ" nên con
người trong văn học thời kỳ này là con người xả thân, là hiện thân của ý chí, khát vọng độc lập
tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội Họ là lớp người “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai” (Tố Hữu)
Đại thắng mùa xuân 1975 đã đem lại nền độc lập, thống nhất đất nước, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội đã mở ra viễn cảnh mới cho xã hội và văn học Từ đó sự nhận thức về con người cá nhân trở thành trung tâm điểm của sự chú ý, cho sự đổi mới cái nhìn của văn học, với
những tác phẩm "Ngày đẹp trời" của Ma Văn Kháng, "Sống với thời gian hai chiều" của Vũ Tú
Trang 30Nam, "Một cõi nhân gian bé tí", "Cha và con và " của Nguyễn Khải, "Gió từ miền cát" của Xuân Thiều, “Ngôi nhà trên cát” của Dương Thu Hương Trở về với con người cá nhân ở một
trình độ mới, văn học sau 1975 có sự đổi thay quan niệm nghệ thuật về con người, mở rộng những chiều kích khám phá hiện thực, thay đổi những nguyên tắc thể hiện từ đó đưa văn học trở
Trên tinh thần đó, với cảm quan nghệ sĩ nhạy bén, ông mạnh dạn tự vượt lên chính mình
để dự báo cái "lược đồ" thời đại mới trước khi tinh thần đổi mới đem đến Ngòi bút của ông tách
sâu vào đời sống thăm dò những mạch ngầm từ bên trong tâm hồn con người, những miền khuất lấp sâu kín để trả con người về với tất cả những gì thuộc về nó với những nhu cầu, khát vọng, hạnh phúc hình thành nên nhân cách cá nhân Con người cá nhân trở thành một phát hiện mới của cái nhìn nghệ thuật đó, có thể nói khi đi vào khám phá con người đời tư cá nhân, nhà văn
"đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào, ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống"[16]
mà từ đó mỗi con người hiện ra đầy đủ nỗi niềm riêng tư, những đam mê hạnh phúc, những nhu cầu tồn tại, những khát vọng cháy bỏng của con người cõi đời
Trước hết tập trung vào cuộc đời riêng tư của con người trang văn của ông thấm đẫm tinh
thần "nghiệm sinh nỗi đau nhân thế" của cõi đời, cõi người do hoàn cảnh chiến tranh gây nên
Không một ai muốn có chiến tranh nhưng khi đất nước gặp chinh biến thì mỗi con người đứng lên gánh vác cái trọng trách đánh giặc giữ nước Đó cũng là vẻ đẹp truyền thống của người Việt
Nam khi "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh" Nhưng khi chiến tranh qua đi, những thiệt thòi mất
mát về tình yêu, về hạnh phúc, về những nhu cầu cuộc sống là nỗi day dứt khôn nguôi của từng
con người riêng lẻ, Cuộc đời của Lực (Cỏ lau) qua hai cuộc kháng chiến trở về trong mầu áo bạc
màu, làm đoàn trưởng đoàn chính sách đi tìm hài cốt liệt sĩ thì cũng là lúc đi tìm cuộc đời riêng khi gặp lại người cha già và người vợ của mình đã có chồng khác Nổi dằn vặt trăn trở trước cái được cái mất làm cho Lực trở thành một nạn nhân của cái lưới đời nghiệt ngã do chiến tranh gây
nên Lực cảm thấy mình "như một người khách lạ đến không đúng lúc", "quấy rầy số phận đã
Trang 31an bài" vì trong lòng cùa mỗi người thân thì Lực đã chết Chính vì thế Lực như con người lạc
loài bất hạnh, đầy bi kịch
Cái nhìn nghệ thuật soi chiếu vào số phận bằng chất men đời đưa người đọc đi cùng hành
trình riêng tây của cõi lòng nhân vật Chiến tranh với Lực "không phải như một số người khác, không hề mảy may hối tiếc đã dốc tất cả tuổi trẻ vào đấy cống hiến" nhưng nó hết sức nghiệt ngã
"như một nhát dao phạt ngang chia cuộc đời tôi làm hai nửa khó gắn liền lại như cũ Nhưng đau hơn là không bị lìa hẳn" (Cỏ lau) Như tiếng vọng của tâm hồn, Lực nhận ra sự thiệt thòi
đầy xót xa, đã mất đi những gì mà mình đã có Và cuối cùng Lực vẫn là một con người cô đơn,
một nạn nhân của lửa đỏ chiến tranh "Và rồi cuối cùng giữa những hình người đàn bà bằng đá đầy cô đơn giữa trời xanh đứng nhìn xuống một vùng thung lũng đất đai được tưới bón đã trở nên phì nhiêu, có một người lính già sống suốt đời ở đấy cùng với một ông bố trồng sắn, gieo lúa trên một vạt đất chỉ có một ngôi mộ, thỉnh thoảng một mình chèo một chiếc thuyền gỗ xuôi dòng sông Đồng vôi về làng chơi" (Cỏ lau)
Chiến tranh không chỉ làm cho con người đánh mất nhau về hạnh phúc, trở nên cô đơn mà
nó còn làm tắt lịm ước mơ khát vọng của tuổi trẻ, làm chết đi những tài năng đang độ chín Cuộc
đời của Hòa (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành) 29 tuổi thì có 12 năm làm lính, đã bỏ lại
sau lưng bao ước mơ, hạnh phúc Trước lúc chết anh nói lời tâm sự chất chứa khát vọng chân chính :
"Em ạ ngày chiến thắng rồi sẽ đến, chiến tranh rồi sẽ qua đi Anh sẽ vui biết mấy, sung sướng biết mấy, nếu được sống, miễn là được sống, miễn là được sống cùng mọi người ở trên đời và được yêu nhau" (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành)
Nguyễn Minh Châu lấy số phận con người để soi tỏ cuộc đời bằng ánh sáng nhân văn, làm cho trang văn chất chứa những điều nhức nhối của cõi đời Viết về chiến tranh Nguyễn Minh Châu không đi vào miêu tả, tái hiện không khí chiến trận ngột ngạt đầy khói lửa như những nhà văn khác, tác giã tập trung vào chân dung số phận con người như những mảnh đời riêng mà chiến
tranh làm rướm máu Đó là những người như người lính (Bức tranh), Thăng (Cơn giông), Phác, Lưu (Mùa trái cóc ở miền Nam)
Trở về với con người trong cõi đời, nhà văn còn khám phá cái hành trình riêng lẻ Cuộc đời
của Quỳ (Người đàn bà trên chuyên tàu tốc hành) là một hành trình riêng tây không có người đồng hành chung chuyến Khát vọng đi tìm “thánh nhân giữa đời thường” và không quen chấp
Trang 32nhận những gì bình thường giản đơn làm cho Quỳ trở thành một nhân vật mới trng văn học "con
người riêng tây “Giữa hơi thở của cuộc đời, con tàu tâm tưởng của Quỳ lại lăn bánh trên một hành trình mà chính chị tự chọn” [58; 43]
Khám phá con người đời tư cá nhân, ngòi bút của nhà văn đã chạm đến những phần khuất lấp riêng tư, những vấn đề căn cốt của đời sống con người như tự do, hạnh phúc, nhân phẩm, lương tri và chính vì thế chuyến tàu tốc hành của Quỳ cũng là những chuyến tàu của những tính cách, cá tính con người trong cuộc đời cần được tôn trọng
Hành trình khám phá con người cá nhân đã mở rộng tầm nhìn cho nhà văn quan sát đời
sống Có thể thấy như phương diện tính cách, cá tính trong lao động sáng tạo (Sắm vai), sự đối sánh giữa những tương quan đời sống để nhận ra những cuộc đời đau khổ, bất hạnh (Chiếc thuyền ngoài xa)
Dường như khi tập trung đi vào vấn đề con người đời tư cá nhân ngòi bút của ông càng
khẳng định hơn qua "Khách ở quê ra" và ''Phiên chợ Giát" Tập trung cái nhìn soi chiếu con
người số phận càng làm nổi bật lên hình ảnh người nông dân lão Khúng Đó là người nông dân
tay lấm chân bùn, còn lưu giữ tính cách, tâm lý, "tàn dư tư tưởng phong kiến", "cải cách sống sáng suốt giữa thiên nhiên", "phần bản năng hồn nhiên còn lại của nhân loại" (Trang giấy trước đèn)
Lấy cái nhìn lịch sử số phận, nhà văn khám phá ra cuộc đời của Khúng trong nhiều mối quan hệ, tính đa chiều kích của tâm hồn
Khúng ý thức vẻ việc bảo tồn nghề nghiệp truyền thống, chăm lo đời sống gia đình từ đó càng trở nên khẳng định vị trí trụ cột gia đình cũng như trong lao động, xây dựng đời sống, chăm
lo cho con cái Đời sống của người Việt Nam cổ truyền gắn liền với phương thức sản xuất nông nghiệp, từ đó hình thành nên một ý thức mưu cầu cuộc sống: mưu cầu lập danh và mưu cầu lập nghiệp Với Khúng, một người nông dân thực tế, lập nghiệp là một hình thức bảo tồn cuộc sống của gia đình con cái lão Từ đó đất đai trở thành nguồn tài sản quí giá đối với sự sống của gia
đình lão Lão cho rằng "chỉ nên sống với cái hòn đất", “phải giữ lấy cái nghề gốc của ông bà”
nên suốt cuộc đời lão không ngừng bươn chải nhặt đá khẩn hoang biến đất rừng thành đất thuộc Lão không ngần ngại đổ máu và mồ hôi tưới bón cho cái mảnh đất dưới chân mình Quá trình
biến đất rừng thành đất thuộc làm cho thân hình của lão trở nên xù xì, mấu mắc "như một cái thân cây khô", bàn tay thì cóc cày xương xẩu "đẩy những chỗ nổi u, nổi cục, các ngón vặn vẹo
Trang 33và bọc một lớp dạ giống như một tòa rễ cây vừa mới đào dưới đất lên" Qua cái hình hài đầy
hoang sơ của lão, người đọc không những thấy được một con người yêu lao động mà còn nhận
ra sự khắc nghiệt của tự nhiên Đó là cái vùng đất "có sức nhai người ghê gớm Nó nghiền nát những con người ra rồi vắt vặn theo cái hình thù đã có từ nghìn đời của nó rồi bắt những con người ấy phải sống theo cái luật cũng đã có từ nghìn đời" (Khách ở quê ra), ở đây nhà văn tập
trung thể hiện con người yêu lao động đồng thời cho người đọc nhận ra những suy nghĩ, toan
tính, ý thức thiết thực của cái đầu óc nông dân cổ hủ Với lão "cỗ xe trâu" bao giờ cũng tiện lợi
và thiết thực hơn so với ô tô, tàu hỏa Bởi nó là một phương tiện đắc lực phục vụ cho cuộc "cách mạng kỹ thuật" của gia đình lão Mặc dù ý thức lập nghiệp chưa đi đôi với bước tiến của thời đại
nhưng với lập trường của lão, một người lạc hậu, bảo thủ, lại là một tiện lợi rất lớn: chở đá trong khe đá dầu, chở lúa thóc phân tro, chở cả nhà về quê Có thể nói rằng cuộc đời của lão là một
cuộc đời gắn liền với lao động và chính vì thế “hương đồng cỏ nội” đã thấm sâu vào trong máu
thịt, trong mồ hôi trong hơi thở của lão, biến lão thành con người hoàn toàn thua thiệt, Bên cạnh, cũng vì lối suy nghĩ thiết thực, mà lão phải chấp nhận cái thỏa ước của Huệ Có thể nói cuộc đời
của lão Khúng là một cuộc đời của con người vất vả, lam lũ và đầy thua thiệt Đến khi "quyết định xé bỏ cái thỏa ước" thì cũng là lúc lão nhận ra những đắng cay của cuộc đời “Toàn thân lão run lẩy bẩy như người lên cơn sôi và trong tâm hồn lão tự nhiên dâng lên một nỗi niềm cô độc, lão lẩm bẩm gọi tên thằng Dũng, lão lần lượt gọi tên từng đứa con đang ở nhà, lão cầu xin đàn con đừng bõ lão mà đi, mà hãy ở lại với lão, hãy ở lại với đất cát” (Khách ở quê ra)
Đến Phiên chợ Giát, tác phẩm mang lại nhiều tầng nghĩa hơn Ở đây con người cá nhân là
hiện thân của mảnh đời lao động lam lũ Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh của hai giấc mơ với cảnh chết chóc rùng rợn, sự trộn lẫn máu và nước mắt Đó là tiếng vọng của lương tri, tiếng vọng
của kiếp đời "đầy trần ai và nhọc nhằn" Hình tượng lão Khúng hiện ra qua nét nhòe tương phản đầy dữ dằn như một lên "hung thần đồ tế" Đó là “một cuộc giao tranh” trong lương tâm, ngõ sáng của tâm hồn khi biết rằng "đang cột cái chết vào cổ con vật" Đối với lão bán con bò là một thực tế bởi lão phải “nâng giấc” cho đứa con ở xa nhưng nó lại quá ư là hệ trọng vì bán con bò,
cái con khoang đen nhà lão, là bán đi cái con vật suốt đời nai lưng kéo cày của gia đình lão Như
một tình cảm mở ra dự báo mà từ đó lão cảm thấy mình như một tội nhân "Lão Khúng chợt rùng mình vô cớ, có lẽ bởi lão thấy đêm vẫn bát ngát và sâu hút chẳng có vẻ gì đêm củn cõi dương gian cả" Bán con bò là một việc trọng đại, quá ư là trọng đại đối với lão Trong cái giờ phút
Trang 34trọng đại mụ Huệ đa thức dậy và thết đãi con bò Hai vợ chồng "đứng nhìn con bò rồi nhìn nhau một lúc trong đêm vắng, Cả hai vẫn lặng im" Ở đây mọi vật dường như trở về trạng thái tĩnh
lặng, sự ngưng lặng từ trong tâm hồn của vợ chồng lão Khúng Cái không gian tịch mịch của
đêm tối và sâu làm cho người đọc có một cảm giác rợn người như cảm giác của lão Khúng "Đêm tối thui và sâu, Đấy, đã từ lâu lắm lão Khúng lại mới cảm thấy một vẻ im ắng về ban đêm như thế này khiến cho lão hơi sờ sợ, một nỗi sợ nguyên thủy y như có ai vừa ném lão trở vào một cái làng đất sâu hun hút và tối tăm" (Phiên chợ Giát)
Lấy số phận đời tư làm đối tượng miêu tả, Nguyễn Minh Châu đã đi vào những miền khuất lấp sâu kín của tâm hồn con người và từ đó làm hiện lên bi kịch của người nông dân trong đời sống hiện đại Ở đây theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến là một giả thuyết về số phận của người nông dân Cho nên việc lão Khúng bán con bò cũng là bán chính mình Và vì thế việc giải thoát cho con bò trở về với kiếp sống hoang dã như tổ tiên của nó cũng là một ý nghĩa tự giải thoát cho kiếp đời nông dân của lão Thế nhưng kiếp bò khoang chẳng dễ thay đổi, hành động
quay trở lại của con bò là đời sống bản năng muôn đời của nó, quen sự chăn dắt, nó "ngước cặp mắt nhẫn nhục và đầy sầu não lên nhìn lão Khúng Đó là cái nhìn của một sinh vật tự nguyện chấp nhận số phận Đứng lặng thinh bên chiếc xe đầy củi mà lão thay nó toát mồ hôi một mình kéo về được đến đây, lão cũng chả biết nói gì với con vật, lại càng không thể trách móc, lão chỉ đưa mất nhìn cũng đầy sầu não và phiền muộn" (Phiên chợ Giát), Qua cái nhìn của lão Khúng
và cái nhìn của con bò khoang, người đọc như thấu tỏ và cảm thông về "cõi đời, kiếp người",
"đầy sầu não và phiền muộn" Ở đây nhà văn như muốn gởi đến người đọc cái thông điệp về sự
chấp nhận số phận Sự thông cảm và đồng cam của lão Khúng cũng chính là nỗi lòng của nhà văn về số phận người nông dân Đây là một đóng góp nghệ thuật của nhà văn Nếu người nông
dân trong văn học như Chí Phèo (Chí Phèo - Nam Cao) khát vọng đi tìm lương thiện, chị Dậu (Tắt đèn - Ngô Tất Tố) khát vọng thoát khỏi cuộc sống bế tắt quẩn quanh, lão Quyềnh (Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường) cam chịu số phận thì ở đây lão Khúng muốn vươn tới hạnh phúc và ấm no Mặc dù chưa có giải pháp nhưng trong đêm "tối thui tối mò" lão vẫn tìm được lối đi Nói như Đồ Đức Hiểu : "Bằng bản năng và cảm giác nông dân, bằng kinh nghiệm
và thói quen nhiều đời nông dân lão Khúng vẫn dò được đường, lần ra lối để đi trong đêm"[32,
268]
Trang 35Hành trình khám phá con người đời tư cá nhân đã nâng tầm vóc của nhà văn lên tầm cỡ lớn Cái nhìn về con người cá nhân từ nhiều góc độ mà từ đó càng mở rộng hơn tầm soi chiếu,
phát hiện ra “con người trong con người” tạo nên những giá trị mới mẻ độc đáo, đóng góp cho
nền văn xuôi dân tộc thời hiện đại
2.2.2.2.2 Con người đạo đức thế sự
Trong dòng đời chảy trôi miên viễn, con người là một thực thể tồn tại, nơi qui tụ những mối quan hệ đời sống Văn học khám phá con người không thể không đề cập đến những mối quan hệ đời sống đó Trước 1975 trong dòng chảy đời sống lớn của dân tộc, con người được văn học quan tâm bởi tầm nhìn chiến lược, ý chí cách mạng, tinh thần quật khởi Nhưng từ sau 1975 đất nước thống nhất, sự quan tâm của văn học đối với đời sống mở ra tầm nhìn của cõi đời gần gũi, trong
"Cõi nhân gian bé tí" (Nguyễn Khải), vấn đề con người đạo đức thế sự trở thành một trong những
đặc điểm cơ bản cho sự đổi mới tư duy nghệ thuật của văn học, chẳng hạn qua những sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu Với Nguyễn Minh Châu, ông sớm ý thức những vấn đề nhân sinh của con người mà từ đó mở rộng đường biên hiện thực thâm nhập vào đời sống, con người mở ra cái nhìn mới mẻ, độc đáo Cái nhìn về con người đạo đức thế sự đã làm thay đổi những nguyên tắc thể hiện, thay đổi cấu trúc trong sáng tác của ông thời kỳ mới
Con người đao đức thế sự được Trần Đình Sử xác định : "Có thể hiểu đạo đức thế sự là bình diện đời sống, trong đó con người xem như hiện thân cho một trạng thái, khuynh hướng xã hội, cho một môi trường nhất định trong xã hội đó, hoặc cho các chuẩn mực ứng xử giữa người
và người" [64; 202]
Quan tâm đến con người đạo đức thế sự, trước hỏi Nguyễn Minh Châu đi vào phương diện quan hệ ứng xử như một yêu cầu tất yếu mà con người đời sống cần quan tâm, nhận thức Trong quan hệ đời thường, sự ứng xử của con người nhiều khi nhiêu khê thất tín Nhưng dưới cái nhìn
của nhà văn, thất tín là một tội lỗi, thất tín có thể đem đến những hậu quả khó lường Trong Bức tranh cũng vì người họa sĩ thất tín, không giữ đúng lời hứa mà người mẹ của người chiến sĩ
tưởng rằng đứa con trai của mình đã hy sinh nên khóc lòa cả hai mắt Ở đây hình tượng nhân vật
hiện lên trong bối cảnh gặp gỡ giữa người họa sĩ và người thợ hớt tóc (Người chiến sĩ), và thái
độ "bình lặng" của người thợ hớt tóc làm cho người họa sĩ tự đối diện với lương tâm của mình
Đoạn độc thoại nội tâm của người họa sĩ, vừa như muốn biện hộ cho hành động thất tín, vừa như muốn tự thú cũng là quá trình sám hối đạo đức, tự đối diện với chính mình để nhận ra hành động
Trang 36phạm tội của mình Ở đây cái nhìn soi chiếu vào nội tâm làm cho thông điệp thẩm mỹ của tác
phẩm thêm nhiều ý nghĩa Lời biện hộ “phục vụ cho số đông” của người họa sĩ là hành động ứng
xử của thói quen một thời của con người trong dòng cháy đời sống lớn Nhưng hiện tại mỗi con người là một tồn tại riêng tư, vì thế trong ứng xử đó là một hành vi phản đạo đức, vì đời sống lớn
mà quên đi những mảnh đời bé nhỏ đau khổ Nhà văn đặt ra vấn đề phê phán, đồng thời mở ra
dự báo về hành vi ứng xử của con người, thất tín là mầm mống gây tội ác cho nên mỗi con người phải tự ý thức để có sự ứng xử phù hợp
Ứng xử đạo đức của con người còn là hình thức của nhân cách Thông thường những nhà
văn khác khám phá vấn đề "mình vì mọi người, mọi người vì mình" thì Nguyỗn Minh Châu "đi tìm hạt ngọc ẩn dấu trong bề sau tâm hồn con người" từ đó, mở ra những bình diện khám phá
đời sống qua những hình thức nghịch lý của tồn lại Đối với ông, cuộc sống luôn tạo ra những bất ngờ mà không thể nào cùng một lúc thấu rõ được Trong một lần đối chứng, cái bản năng loài vật là qui luật ứng xử của nó nên con người dẫu có đầy đủ ý thức, cái lý trí minh mẫn hay dùng thứ tình cảm trong sáng, lòng độ lượng bao dung vẫn không thể áp đặt lên cái qui luật tồn tại bản năng của con vật Mèo vẫn là mèo Cuộc sống không chỉ có đóng khung trong cái quan
niệm của con người mà sự tồn tại tự nhiên làm cho cuộc sống "trượt ra ngoài phạm vi của "không gian", "liên tưởng”, "nhân cách hoá" thường tình!" [64;222]
Vấn đề nghịch lý tồn tại không phải là một hình thức giản đơn của đời sống mà đòi hỏi từ trong sâu thẳm con người phải thấu rõ, từ đó mới mong ứng xử phù hợp Người trưởng phòng
thông minh (Chiếc thuyền ngoài xa) mong có một tờ lịch với bức ảnh "tĩnh vật hoàn toàn" mà
người nhân viên phải lặn lội về vùng kháng chiến cũ để tìm cảnh trời biển, sương khói chụp ảnh
Và cũng từ đó người nghệ sĩ nhiếp ảnh mới bừng tỉnh trước cuộc sống: đằng sau cái vẻ đẹp toàn bích, cảnh thuyền và biển trong làn sương mờ ảo lại là những mảnh đời, những cuộc đời đau khổ
và bất hạnh Cái sự thật đầy nghiệt ngã đã xua tan cái làn khói lãng mạn khiến người đọc phải
giật mình "Người đàn bà chỉ quen sống giữa mặt nước", "với những đường nét thô kệch", "mặt rỗ" luôn bị người chồng hành hạ đánh đập "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng" mà vần "một vè cam chịu đầy nhẫn nhục", không bao giờ muốn từ bỏ chồng Cuộc đời có nhiều lý
lẽ nhưng cái lý lẽ phép tắc, công bằng luật pháp vẫn không đủ thuyết phục để đưa người đàn bà
ra khói cái lưới nghiệt ngã của cuộc sống Với người đàn bà, cái lý ở đây thật giản đơn "là người làm ăn" và "là người làm ăn" mới thật sự hiểu được nguồn cơn ấy Nói như người đàn bà : "Các
Trang 37chú đâu có phải là người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ, khó nhọc" (Chiếc thuyền ngoài xa)
Đời sống và nghệ thuật không phải lúc nào cũng hòa điệu Sáng tạo nghệ thuật là làm ra cái đẹp để tô điểm đời sống Nhưng cái đẹp không phải là lớp màu chữ nghĩa sơn son lấp loáng mà đằng sau cái lớp màu, đằng sau chữ nghĩa phải là cái cuộc sống nhầy nhụa, cựa quậy, phải là một
phát hiện "sự thật về con người" (Lê Ngọc Trà) Và có như thế nghệ thuật mới nâng đỡ cuộc
sống, giúp cho con người làm người trong cõi người Đi tìm cái đẹp không vì con người nhiều
khi đưa ta đến chỗ “đơn giản hoá” mà từ đó làm xao nhâng đi cái bản chất đời thường đầy nghiệt
ngã như ý muốn của người trưởng phòng trong truyện
Từ cái nhìn nghịch lý của tồn lại nhà văn còn phê phán cái nhìn một chiều giản đơn, những
quan niệm sáo mòn, "quan niệm con người là trò chơi nghiệt ngã trong lòng bàn tay số phận" Trong Hương và Phai, trò chơi gán ghép của hai em bé lớp năm đã đem lại kết qủa tác thành hạnh phúc cho anh chị của chúng Hay một người từng đặt chân khắp mọi nơi, "từng đi không sót một xó xỉnh nào trên trái đất" mà lại xa lạ với cái mảnh đất bến quê bên kia bờ sông (Bến quê) Hay một người từng xông pha trận mạc, từng chiến đấu giải phóng miền Nam lại không
thể giải thoát cho một người đàn bà bất hạnh Có thể nói trong mối quan hệ nhân sinh đầy phức tạp, nhà văn - bằng những tác phẩm, những bài học kinh nghiệm - đem đốn cho người đọc bài học ứng xử phù hợp trong dòng đời chảy trôi của đời sống Cái nhìn của nhà văn về nghịch lý tồn tại đã mở rộng những mối quan hệ ứng xử xã hội Ở đây không chỉ có ý thức những vấn đề
"đại sự" mà còn phải thấy được những việc giản đơn tưởng chừng như sơ sài không hệ trọng nhưng lại là vấn đề gây ảnh hưởng cuộc sống, một tác nhân đau khổ của cuộc đời Trong Cỏ lau,
câu chuyện về người lính sau hai mươi năm kháng chiến trở về, trước cái được cái mất người đọc nhận ra cái sự thật nghiệt ngã do chiến tranh gây nên Đề cập đến cuộc sống con người sau chiến tranh, đạc biệt về người lính trở về sau chiến tranh không phải là một vấn đè mới mẻ Nghịch cảnh chiến tranh đã được văn học nhận thức từ lâu, không chỉ trong nền văn học dân tộc
mà cả những nền văn học trên thế giới, không chỉ có hôm nay mà có từ trước đây Nhưng ở đây
đi vào số phận con người do nghịch cảnh chiến tranh gây nên, bằng cái nhìn hướng nội, nhà văn
đã khám phá đầy đủ cái thế giới bên trong của con người để từ đó soi tỏ nhân cách, đạo đức của con người
Trang 38Lực là một nạn nhân của chiến tranh Chiến tranh đối với Lực không giống như những
người khác Bởi chiến tranh “như một nhát dao phạt ngang” chia cuộc đời Lực ra làm hai nửa
"khó gắn liền lại như cũ" Vì thế, sự trở về của Lực "như mọt người khách lạ đến không đúng lúc" Không phải dễ dàng nhận ra nghịch cảnh nếu không phải là người trong cuộc, là người
trong nhiều suy nghĩ cân nhắc Hiện tại đối với Lực :
"Ông già tôi đã đi qua nỗi mất mát từ bao nhiêu năm nay, giờ ông già tôi hẳn cũng đã quên tôi Thai cũng vậy, giờ Thai đã có một cuộc đời khác với một lũ con cái, nỗi đai khổ ghê gớm vì mất tôi cũng đã qua đi từ lâu Vậy cho nên, đáng lẽ chỉ còn là một kỷ niệm về người đã khuất, việc tôi đang còn sống đối với hạnh phúc gia đình riêng của Thai hiện tại sau bao nhiêu năm vất
vả chả khác nào một người khách đến không đúng lúc Tôi chỉ làm rối thêm cuộc sống, tôi chỉ quấy rầy số phận đã an hài" (Cỏ lau)
Thái độ cân nhắc của Lực là một thái độ ứng xử đạo đức ở đời sống Bởi cái lưới tình cảm
không giản đơn để cho con người ta tỉnh táo, vả lại tình cảm của Lực là tình cảm gia đình riêng
tư nên chỉ có trên bình diện đạo đức nhân sinh mới thấu tận tường lý lẽ Cái sự thật trớ trêu đầy
nghiệt ngã mà Lực lại là người trong cuộc, Lực cũng chỉ là một con người và cũng biết rằng “chỉ
có người đàn bà đi bên cạnh (Thai) mới có thể xoa dịu bao nhiêu vết thương mà chiến tranh đã
để lại trong lòng” của Lực Ở đây nhà văn đã mở rộng tối đa cái nhìn đối với đời sống mà từ dó
con người nạn nhân được đặt trong hệ qui chiếu nhiều chiều Vì thế mà nhân vật như được tường
tận lẽ phải, nhận ra hiện tại: "Cuộc sống đã an bài Thai chẳng dễ thay đổi được hoàn cảnh" (Cỏ lau)
Mặt khác trong quá trình tập trung vào hoàn cảnh hiện tại của Lực cũng là lúc để cho Lực nhận ra những sai lầm của mình trong quá khứ Đó là vì một chút tư thù mà Lực đã đảy người
lính đi vào chổ chết Nói như nhà văn trong con người bao giờ cũng có hai phương diện: "rồng phượng" và “rắn rết” (Bức tranh) Vì thế việc nhận thức lại mình của Lực là quá trình đi tìm hạt
nhân nhân cách của con người Sự cắn rứt lương tâm khi đối diện với hoàn cảnh thực tại làm cho
Lực "mỗi đêm là một chuyện tự thú" để nhận chân lẽ phải
Nguyễn Minh Châu lấy điểm nhìn thế sự để khám phá con người tạo ra chiều sâu tư tưởng của ngòi bút Ở đây Lực hiện ra là toàn bộ cuộc sống của con người trong dòng đời trôi chảy chứ không phải chỉ là người cách mạng hay người chiến sĩ Mô típ tự thú, sám hối, tự ý thức là một
Trang 39hình thức chuyển tải tư tưởng của quá trình khám phá đời tư thế sự của con người Đây là một bình diện mới của ngòi bút nhà văn
Bằng điểm nhìn thế sự, nhà văn còn khám phá ra bản chất con người hám danh phản bội
Nếu trong Cơn giông Quang được miêu tả là “con chuột” thì trong Mùa trái cóc ở miền Nam bàn tay sắt của Toàn được hiện lên "như mỏ con chim ác" Từ dáng điệu, cử chỉ đến tâm hồn được
nhà văn miêu tả một cách đầy đủ để từ đó người đọc nhận ra kẻ phản bội Quang hiện ra qua cái
nhìn ban đầu của một cô gái với "cái vẻ bề ngoài đầy quyến rũ" luôn hiện lên "một cái gì đó khó nắm bắt, qui lụy nhưng lại tàn ác" Hay như Toàn, vì lợi ích chức quyền mà bạc đãi người mẹ
lặn lội từ Bắc vào Nam để tìm con; vì chức quyền mà hãm hại đồng đội
Trong cuộc sống, thiện và ác, hoàn thiện chưa hoàn thiện, ánh sáng và bóng tối là hai mặt luôn bao trùm lên cuộc sống Và nói như một người nào đó, trong cuộc sống cái thiện phải chạy
theo cái ác, vì thế, theo nhà văn cần có một sự "đối chứng" và “tạm ngưng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình” (Bức tranh) Ở đây nhà văn nhân danh bản
thiện để cùng người đọc nhận chân đạo đức cũng như sự không ngừng ý thức về chính mình và đời sống quanh mình để hướng đến cái bản thiện cuộc đời
Nguyễn Minh Châu lấy điểm nhìn lịch sử để khám phá số phận con người trong mối quan
hệ đời sống thể hiện qua Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát, ở đây nhà văn có một cái nhìn mới
mẻ về người nông dân, trong muôn ngàn sợi dây ràng buộc của cuộc sống tạo thành những mối
tương liên vô hình mà con người phải nếm trãi Trong Khách ở quê ra, Khúng là một người nông dân cần cù yêu lao động, một người luôn ý thức gìn giữ cái "nghề gốc của ông bà" Theo Khúng,
“họ nhà mình chỉ nên sống với cái hòn đất” và do đó công việc khai phá khẩn hoang là thiết thực
đối với cuộc đời của Khúng Lão càng ý thức chăm lo cho gia đình thì lại càng bươn chải, bất chấp những khó nhọc để biến đất hoang thành đất thuộc, không chấp nhận những cải tiến của xã
hội mang lại sự “tha hoá” với thời đại Thang chuẩn mực đạo đức ở Khúng là sự bảo tồn gia đình cũng như gia sản để rồi thức nhận về cuộc sống trở nên "chật chưởng, trái khoáy" Khám phá
con người lao động sản xuất, nhà văn không chỉ lý giai về bản chất nông dân cố hữu mà còn đi vào phương diện những quan hệ xã hội từ đó nhận ra được cuộc sống bất hạnh của họ Người nông dân là người làm ra của cải nuôi sống xã hội nhưng một khi xã hội phát triển thì họ không tránh khỏi những bi kịch Lời của mụ Huệ như một ý nghĩa mời gọi, hiểu và cảm thông cho
nhưng kiếp đời lam lũ "Chỉ có Huệ mới hiểu hết được tất cả nỗi đau đớn, tù túng của một cuộc
Trang 40đời bị bưng bít và cách biệt với chung quanh, dù kẻ thông minh và hiểu biết đến đâu cũng sẽ trở thành hẹp hòi và thiển cận không tránh được" (Khách ở quê ra)
Đến Phiên chợ Giát, tác phẩm mở ra nhiều lớp ý nghĩa hơn Người nông dân tay lấm chân
bùn được nhà văn khám phá cả những miền tâm linh vô thức Nếu cái ý thức bảo tồn cho đàn con, cho gia đình khiến lão Khúng phải thức khuya dậy sớm không quản cực nhọc thì những
miền tâm linh vô thức đã cho lão sự “bừng tỉnh” về kiếp đời tồn tại Cái đời sống muôn màu vẻ,
đầy trần ai và nhọc nhằn làm cho lão phải quẩn quanh tưởng chừng như không lối thoát Và chính
vì thế những mối quan hệ với xã hội bao giờ cũng để cho lão những bài học cảnh giác theo kinh nghiệm đời sống nông dân của lão Lão cũng vì một phút cao hứng đã động viên con mình đi làm nhiệm vụ ở chiến trường Campuchia nhưng khi đứa con hi sinh thi nỗi đau mất mát không
gì bù đắp được Cái khoảng trống tâm hồn làm cho lão thêm nhiều nghi hoặc Rồi trong quan hệ
xã hội – đặc biệt với những người chức sắc - làm cho lão trở nên dè dặt hơn
Hành động giải thoát cho con bò khoang như được bắt nguồn từ tiếng gọi sâu thẳm của tâm hồn Đó cũng là sự giải thoát tinh thần của kiếp đời lam lũ
Ở đây Khúng như hiện thân của tất cả những gì tồn tại của bản chất con người Nói như Berdiaev :
"Theo bản chất nội tại của nó mỗi con người là một thế giới lớn, một vũ trụ vi mô, trong đó phản ánh và tồn tại toàn bộ thế giới hiện thực và tất cả những thời đại lịch sử lớn Chỉ trong chiều sâu của chính mình von người mới có thể tìm thấy một cách thực sự chiều sâu của các thời đại bởi chiều sâu của các thời đại là những tầng bí ẩn thầm kín nhất ngay trong con người, những tầng bị che khuất, bị đẩy lùi sang bình diện thứ hai, thứ ba do sự hạn hẹp của ý thức"
[16]
Quan tâm đến con người trong dòng đời sống nhân sinh thế sự, nhà văn đã mở rộng nhiều mối quan hệ cũng như tạo ra chiều sâu tư tưởng và từ đó làm cho con người hiện ra trong đầy đủ của tồn tại Có thể nói bằng việc mở rộng đường viền hiện thực, nhà văn đã tạo thêm nhiều ý tưởng sâu sắc trong việc nhìn nhận khám phá con người Đây là điểm tiến bộ của ngòi bút, độ chín về tư tưởng trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
Tìm hiểu con người trong truyện của Nguyễn Minh Châu theo sự phân biệt trên chỉ là mang tính tương đối Bởi tưởng nghệ thuật là tư tưởng "toát" ra từ hình tượng nên việc phân loại chỉ nhằm mục đích cho việc khảo sát tác phẩm