Trong số các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, ta thấy có những tác giả đã khẳng định được vị trí của mình qua các giải thưởng văn học: Trần Lê Sơn Ý: giải thưởng Lá Trầu 2007 và giải t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Kim Ngọc
SỰ ĐỔI MỚI TRONG THƠ TRẺ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trương Thị Kim Ngọc
SỰ ĐỔI MỚI TRONG THƠ TRẺ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số : 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN HOÀI ANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trương Thị Kim Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học và Đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện cho chúng tôi được học tập tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy lớp Lý luận văn học K.24 đã cung cấp cho chúng tôi nhiều kiến thức quý giá và hướng dẫn chúng tôi phương pháp nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu văn học, tác giả của những tác phẩm và bài viết mà chúng tôi đã tham khảo, sử
dụng trong luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc TS Trần Hoài Anh, người đã
tận tình hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn những người thân và bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn
Trương Thị Kim Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
C hương 1 THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ TRẺ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY 8
1.1 Thơ và thơ trẻ 8
1.1.1 Thơ 8
1.1.2 Thơ trẻ 14
1.2 Các hướng tiếp cận trong nghiên cứu thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay 17
1.2.1 Tiếp cận trên cơ sở bối cảnh thời đại 17
1.2.2 Tiếp cận trên cơ sở ngôn ngữ 19
1.2.3 Tiếp cận dựa trên phong cách của nhà thơ 20
1.2.4 Tiếp cận theo đặc trưng của thể loại thơ 21
1.3 Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay 22
1.3.1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa xã hội 22
1.3.2 Đội ngũ nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay 25
1.3.3 Sự vận động của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay trong dòng chảy thơ ca đương đại 29
Tiểu kết Chương 1 35
Chương 2 SỰ ĐỔI MỚI TRONG THƠ TRẺ THÀNH PHỐ
H Ồ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
NHÌN T Ừ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 36
2.1 Sự đổi mới trên bình diện quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người 36
2.1.1 Quan niệm nghệ thuật về thế giới 37
2.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người 45
Trang 62.2 Sự đổi mới về phương thức phản ánh hiện thực trong thơ 49
2.2.1 Một cái nhìn hiện thực đa diện, đa chiều 49
2.2.2 Một cái nhìn hiện thực hoài nghi và tự vấn 58
2.2.3 Một cái nhìn hiện thực mang màu sắc tâm linh và những nghĩ suy về thân phận 63
2.3 Sự đổi mới của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay trên phương thức phản ánh cái tôi trữ tình 69
2.3.1 Sự vận động từ cái tôi ngoại cảm sang cái tôi nội cảm 70
2.3.2 Khát vọng đi tìm cái tôi bản thể 73
2.3.3 Khát vọng tìm lại cái tôi bản năng mang tính nhân bản 78
Ti ểu kết Chương 2 80
Chương 3 SỰ ĐỔI MỚI TRONG THƠ TRẺ THÀNH PHỐ
H Ồ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY - NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 81
3.1 Sự đổi mới về phương diện thể thơ 81
3.2 Sự đổi mới về phương diện ngôn ngữ thơ 87
3.2.1 Ngôn ngữ thơ trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh có sự chêm xen tiếng nước ngoài trong tiếng Việt 88
3.2.2 Ngôn ngữ thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh mang hơi thở thời đại, dung dị đời thường và thể hiện cảm xúc mãnh liệt theo chiều kích mới 90
3.2.3 Ngôn ngữ thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh ít chú trọng đến việc tạo nhạc điệu cho bài thơ 94
3.3 Sự đổi mới về phương diện hình ảnh, biểu tượng trong thơ 96
3.4 Sự đổi mới về giọng điệu trong thơ 101
3.4.1 Sự đa dạng về giọng điệu 102
3.4.2 Sự xuất hiện những giọng điệu mới lạ 112
Tiểu kết Chương 3 116
K ẾT LUẬN 117
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC p1
Trang 7Nhìn vào đời sống văn học, ta thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về
sự vận động và phát triển của thơ ca giai đoạn sau 1975 Vấn đề nghiên cứu thơ
từ năm 2000 đến nay cũng được quan tâm thể hiện qua những bài viết, tham
luận đăng trên các tạp chí Tuy nhiên, bên cạnh việc đánh giá riêng lẻ các tác
phẩm của các nhà thơ trẻ Thành phố, thiết nghĩ, cần có một công trình nghiên
cứu tổng quát nhằm điểm lại diện mạo thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2000 đến nay
Trong số các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, ta thấy có những tác
giả đã khẳng định được vị trí của mình qua các giải thưởng văn học: Trần Lê Sơn Ý: giải thưởng Lá Trầu 2007 và giải thưởng Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh 2008; Lê Thiếu Nhơn: giải thưởng Hội Nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh 2007 và 2010; Đào Phong Lan, Lê Văn Tâm, Thục Linh, Song May, Trần Hoàng Nhân, Hoàng Thanh Tâm, Trần Đình Thọ đã đạt giải thưởng của các
cuộc thi thơ Áo Trắng, thơ Bút Mới, giải thơ của Nhà xuất bản Kim Đồng, tạp chí Sông Hương… Bên cạnh đó có những nhà thơ trẻ nổi lên như một hiện tượng độc đáo, có thể kể đến Ly Hoàng Ly, Nguyễn Phong Việt, Ngô Liêm Khoan… Ngoài ra, các nhà thơ trẻ khác đang từng bước khẳng định mình: Ngô
Thị Hạnh, Trần Huy Minh Phương, Phùng Hiệu, Trương Gia Hòa, Lê Mỹ Ý, Nguyệt Phạm, Khương Hà, Chiêu Anh Nguyễn, Tuệ Nguyên, Đồng Chuông Tử,
Trang 8Hoa Nip, Lê Văn Tiến, Lê Thùy Vân… Tất cả các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đều đang lao động nghệ thuật rất nghiêm túc Những tác phẩm của họ sẽ góp phần không nhỏ cho sự phát triển của văn học dân tộc Cho nên nghiên cứu
thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh thật sự là điều cần thiết
Bằng sự yêu mến thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh và sự trân trọng những
nhà thơ trẻ đang trên đường tìm tòi sáng tạo, người viết lựa chọn đề tài “Sự đổi
m ới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay” nhằm tổng
h ợp, hệ thống lại các sáng tác của các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
để từ đó tìm hiểu sự đổi mới trong thơ của họ Với đề tài này, luận văn có thể
đóng góp một cái nhìn toàn diện về thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đầu thế kỷ XXI, góp phần làm phong phú hơn cho diện mạo văn học Việt Nam đương đại
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2 1 Đối tượng nghiên cứu: Sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
từ năm 2000 đến nay trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật
lớn trong việc phác họa diện mạo thơ trẻ Tuy nhiên, những bài viết này, phần
lớn đều thiên về cảm nhận đánh giá riêng lẻ, rất ít bài nghiên cứu mang tính hệ
thống như một công trình khoa học hoàn chỉnh
Trang 9Qua khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi chia các bài nghiên cứu ra hai nhóm bài viết chính
3.1 Các bài vi ết về diện mạo thơ trẻ cả nước và thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Lưu Khánh Thơ với bài viết Cách tân nghệ thuật và thơ trẻ đương đại
[36] đã phát họa cơ bản về lực lượng sáng tác từ năm 1975, đặc biệt là sau năm
1986 Trong đó tác giả đặc biệt trình bày về sự xuất hiện của lớp trẻ, sự bứt phá,
khẳng định vai trò của người viết trẻ Tuy nhiên, trong bài viết này Lưu Khánh thơ chỉ đưa ra những nhận định chung mà chưa có những dẫn chứng minh họa, phân tích cụ thể Huyền Vũ trong bài viết Khuynh hướng cách tân trong thơ trẻ đương đại [37] lại đặt vấn đề với thơ cách tân và đưa ra vấn đề về nhu cầu cách
tân thơ trong đời sống văn học hiện nay Dù nhan đề bài viết có nhắc đến thơ trẻ đương đại nhưng trong phần trình bày, người viết lại không đề cập khái niệm,
giới hạn hay đề cập cụ thể đến thơ trẻ đương đại mà chỉ xoay quanh nhiều về thơ cách tân và nhu cầu cách tân trong thơ mà thôi Trần Hoàng Thiên Kim trong bài
viết “Thơ nữ trẻ đương đại và hành trình tìm kiếm cái tôi mới” [38] đã điểm
danh được nhiều gương mặt thơ nữ trẻ, chỉ ra điều kiện xã hội của thế hệ trẻ hiện nay từ đó đánh giá về cái tôi trữ tình của các nhà thơ nữ trẻ Bên cạnh đó, Trần
Hoài Anh với bài viết “Suy nghĩ về sự cách tân của thơ và những người làm thơ trẻ ” [2, tr.156-162] đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến việc cách tân thơ
Đồng thời trong bài viết này, ngoài việc đề câp đến hàng loạt tên tuổi của các nhà thơ trẻ, tác giả còn đánh giá quá trình sáng tạo của các nhà thơ trẻ và đặt ra vấn đề về thái độ của người tiếp nhận đối với thơ trẻ
3.2 Các bài vi ết về diện mạo thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Về diện mạo thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh cũng có rất nhiều bài viết:
Trần Hoài Anh trong hai bài “Đội ngũ viết văn trẻ Thành phố Hồ Chí Minh tiềm năng và triển vọng” [3, tr.194-204] và bài “Diện mạo văn học Thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ phương diện đội ngũ nhà văn và người đọc” [3, tr.205-213] đã
Trang 10phần nào phác họa được đời sống văn học Thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây về đội ngũ, sự đóng góp, sức sáng tạo của họ Huỳnh Như Phương với
bài viết Những lá trầu [70, tr.16-24] là bài giới thiệu về gương mặt thơ nữ trẻ
như Trần Lê Sơn Ý Bên cạnh đó cũng giới thiệu những gương mặt thơ có tuổi đời lớn hơn như Từ Hy, Trương Thị Kim Dung, Đinh Thị Như Thúy…
Ngoài ra còn nhiều bài viết khác nhưng chúng chỉ mang tính chất như
những bài giới thiệu sơ lược gương mặt thơ cũng như giới thiệu tập thơ của các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Những bài viết này dù có đi vào tìm hiểu
đánh giá về thơ nhưng chưa thể hiện rõ tính chất nghiên cứu: Bốn nhan sắc thơ Sài Gòn c ủa Hoài Hương [25, tr.77-80]; Cắt lát 3 dòng thơ nữ Sài Gòn đương đại của Inrasara [25, tr.81-85]; Nồng nàn nắng và thơ của Trần Hữu Dũng [25,
tr 86-87]; N ắng lên từ phía Mẹ của Nguyễn Thị Ngọc Trâm [25, tr.88-92];
M ỏng manh thơ tìm khao khát tình yêu của Nguyễn Đức Thiện [25, tr 93-95];
Về bài thơ “Hổ khóc”của Ngô Thị Hạnh của Hàn Quốc Vũ [25, tr.96-97];
Nh ững con nắng ám thị của Lê Vũ [24, tr.98-102]; Nghe thơ và đọc thơ Ngô Thị
H ạnh của Võ Công [25, tr.103-105]; Đọc “Thơ tình với Sài gòn” của Ngô Thị
H ạnh của Nhị Ka [39]; Đã thấy vô thường đã thấy duyên sinh của Đỗ Hồng
Ngọc [39] ; Phùng Hiệu và những biến tấu cuộc đời của Hàn Thanh Nhân [39]; Trong thế giới ngụy trang của Phùng Hiệu của Đặng Huy Giang [39]; Nhà thơ Phùng Hi ệu và những phận người được “ngụy trang” của Trần Hoàng Nhân [39]; M ột bước thay đổi bất ngờ thơ Phùng Hiệu của Thanh Dung – Nam Trần [39]; M ột cách ngụy trang trong thế giới của Phạm Sỹ Sáu [39]; Phùng Hiệu những lời thơ thế sự của Đynh Trầm Ca [39]; Ngô Liêm Khoan kẻ quên mình cho thơ của Đặng Huy Giang [39]; Ngô Liêm Khoan trăn trở phận người của
Trần Huy Minh Phương [39]; Vương Chi Lan rót nhớ vào đêm của Hoàng Thúy
[39]; Ly Hoàng Ly người gọi hồn cho đêm của Trần Hoài Anh [2, tr.254-266];
Tr ần Huy Minh Phương gió đang mặn dần lên của Phùng Hiệu [39]; Trần Huy Minh Phương giọng thơ mang nhiều nỗi niềm hoài niệm của Nguyễn Văn Hòa
Trang 11[39]; Gi ọng thơ trắc ẩn - Trần Huy Minh Phương của Mai Khoa [39] Bên cạnh
đó cũng có nhiều bài viết khác về các nhà thơ trẻ nhưng chỉ với tư cách là bài
phỏng vấn: Ngô Liêm Khoan mang trên tay xá lợi trái tim mình do Nguyễn
Xuân Thúy thực hiện [38]; Ngô Liêm Khoan:“Thật khó nhọc khi vừa làm thơ
v ừa mưu sinh” do Thoại Hà thực hiện [42] Những bài phỏng vấn này dù không
phải là bài nghiên cứu nhưng cũng góp phần vào việc phát hiện quan điểm, tư tưởng của các nhà thơ trẻ về thơ Từ đó người viết có thêm cơ sở để đi vào đánh
2000 đến nay
4.2 Phương pháp loại hình
Sử dụng phương pháp loại hình đề xác định những đặc trưng của thể loại thơ, từ đó đi sâu vào tìm hiểu sự đổi mới trên phương diện nội dung lẫn nghệ thuật trong thơ trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
4.3 Phương pháp lịch sử
Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử
xã hội đến cảm hứng sáng tác, phương thức sáng tác của các nhà thơ nhằm làm căn cứ tìm hiểu sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
4.4 Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu giữa thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay với thơ trẻ cả nước Để từ đó thấy được sự sự vận động phát triển có tính kế thừa của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh cũng như
thấy được sự khác biệt của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh với thơ trẻ cả nước
Trang 124.5 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Phương pháp này được vận dụng để tìm hiểu, phân tích những đặc điểm
nổi bật về mặt thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu và tính hình tượng trong vấn đề làm rõ những đổi mới trên phương diện nghệ thuật của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng một số thao tác
và phương pháp bổ trợ: Phương pháp nghiên cứu liên ngành giữa văn học và văn hóa; thao tác thống kê, phân tích - tổng hợp… để làm sáng tỏ vấn đề đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay một cách có hệ thống và toàn diện
Khẳng định sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật qua các sáng tác của các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
Chỉ ra những đổi mới của các nhà thơ trẻ nhằm góp thêm tiếng nói khẳng định vai trò của các nhà thơ trẻ trong tiến trình phát triển của thơ ca thành phố
Hồ Chí Minh và thơ ca đương đại Việt Nam
Góp phần làm phong phú thêm tư liệu nghiên cứu về sự đổi mới trong thơ Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, thơ Việt Nam nói chung, từ đó góp một cái nhìn toàn cảnh về diện mạo thơ trẻ Việt Nam
6 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương
Chương 1 Thơ và diện mạo thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2000 đến nay
Trong chương 1, chúng tôi trình bày những quan niệm về thơ của các thế
hệ nhà thơ đi trước cũng như các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Chương này cũng đề cập đến những hướng tiếp cận trong nghiên cứu thơ trẻ và
Trang 13thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh với những vấn đề về bối cảnh, đội ngũ, sự vận động
Chương 2 Sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay - nhìn từ phương diện nội dung
Ở chương này, chúng tôi đi vào khai thác những đổi mới của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh trên phương diện nội dung đó là quan niệm nghệ thuật
về thế giới và con người, phương thức phản ánh hiện thực, phương thức phản ánh cái tôi trữ tình
Chương 3 Sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay - nhìn từ phương diện nghệ thuật
Ở chương 3, chúng tôi tìm hiểu trên bình diện nghệ thuật xoay quanh các
vấn đề thể thơ, ngôn ngữ thơ, hình ảnh biểu tượng thơ và giọng điệu trong thơ
Trang 14Chương 1 THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ TRẺ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY
1.1 Thơ và thơ trẻ
1.1.1 Thơ
Không phải ngẫu nhiên, Blaaga Dimitrova, một nhà thơ nổi tiếng của Ba Lan đã than thở: “Ôi nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi đã chẳng khổ sở thế” [8,tr.298] Nhiều thế kỷ qua, người ta không ngừng làm thơ, đọc thơ, cảm nhận
thơ Nhưng đến nay, câu hỏi Thơ là gì? vẫn còn là một ẩn số Đối với các nhà
thơ cũng như những người yêu thơ, thơ là nỗi trăn trở, là sự ám ảnh, khiến họ
suốt đời phải nghĩ về, phải chạy theo Và thơ thật kỳ lạ khi “Lúc ta cất công tìm
nó, thì nó ch ạy đi đâu, còn lúc tình cờ, ta chợt nghe trong mình một tiếng nói, cứ như ai mượn ta hay nhập vào ai, không rõ bắt đầu, không định kết thúc” [81, tr.25] Cõi thơ là cõi ma lực Cõi ma lực ấy có thể dẫn lối những người yêu thơ
một cách tài tình Đường đến thơ là một mê cung, tìm được lối đi trong mê cung mãi là khát vọng của con người
1.1.1.1 T ừ quan niệm thơ của những nhà thơ lớp trước
Thơ trong mối quan hệ với hiện thực đời sống
Mối quan hệ giữa thơ và đời sống xã hội là một vấn đề được đặt ra từ lâu
Từ văn học dân gian giá trị hiện thực đã được xác định đến những khuynh hướng thơ của thời kỳ lịch sử sau này hiện thực xã hội càng in đậm Đặc biệt khi Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra một hướng lớn cho thơ đi vào phản ánh đời sống cách mạng Đem tiếng nói thơ phục vụ cho cuộc đấu tranh cách
mạng, trong giai đoạn này, các nhà thơ ý thức rõ mối quan hệ giữa thơ và cuộc
sống Từ đó, thơ được quan niệm “Thơ ca không thể tách với cuộc sống Trước hết nó phải có ích Thơ ca cần thiết như mặt trời cần thiết, cần thiết ánh sáng,
c ần thiết hoa lá vũ khí… Thơ ca không thể kéo dài cuộc sống con người nhưng
nó làm cho cu ộc sống có dung tích hơn” [93, tr.40] Với quan niệm này, thơ đặc
Trang 15biệt được nhấn mạnh vai trò “vị nhân sinh” Cuộc sống vốn là chất liệu, là đối tượng phản ánh của thơ nhưng đồng thời thơ cũng góp phần làm cuộc sống trở nên ý nghĩa Nhận thức được mối quan hệ giữa thơ và hiện thực đời sống, chuẩn
mực thẩm mĩ khi tiếp nhận thơ cũng thay đổi: “Ta chỉ yêu thứ thơ nào cho ta
hi ểu sâu xa cuộc sống, yêu cuộc sống của ta hơn, cho ta thêm sức sống, sức chi ến đấu cho hạnh phúc con người” [33, tr.441) Đặt trong bối cảnh đấu tranh
của dân tộc, quan niệm thơ cần có ích, có ý nghĩa là điều thiết yếu
Mặt khác, các nhà thơ dù ý thức được tầm quan trọng của hiện thực với
thơ nhưng không phải vì thế quan niệm “Thơ ca không thể tách với cuộc sống”
được xem như “khuôn vàng thước ngọc” trong quá trình sáng tạo Các nhà thơ
hiểu được “Thơ là cuộc sống vì có đời sống mới có thơ nhưng thơ không sao chép cu ộc sống mà tìm hiểu và đặt những vấn đề với cuộc sống” [16, tr.96] cho
nên có thể nói “thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống” [86] Thơ gắn với hiện
thực đồng thời là tiếng nói của tâm hồn, là sự thôi thúc thầm kín nhưng vô cùng mãnh liệt của nội tâm Thơ không thể khai sinh nếu bên cạnh phần chất
liệu hiện thực thiếu sự lắng nghe quan sát, sự rung cảm
Cũng trong mối quan hệ giữa thơ với hiện thực đời sống, có quan niệm cho rằng: “Thơ có thể vừa là thực, vừa là không thực Thực vì bắt đầu từ cuộc đời hằng ngày, không thực vì bao giờ cũng vượt xa nó Thơ đưa chúng ta vào
m ột thế giới huyền ảo, sâu xa của tưởng tượng, tôn giáo, thần thoại Thế giới đó không ph ủ nhận cuộc đời hằng ngày nhưng chỉ khác biệt thôi” [52, tr.70] Quan
niệm trên có một phần khác biệt với quan niệm thơ gắn liền với cuộc đời nhưng trong sự khác biệt đó không mang hàm ý đối lập Bởi theo như Thanh Thảo:
“M ỗi nhà thơ đi qua cuộc đời này theo một lối riêng [82, tr.265] Thơ bắt nguồn
từ chất liệu chung là cuộc sống, nhưng sự quan sát, cảm xúc là “gia vị” riêng của
mỗi nhà thơ Chính vì thế “hiện thực đời sống được phản ánh trong thơ không
ch ỉ là hiện thực cuộc sống bên ngoài mà còn là hiện thực bên trong” [2, tr.106]
Theo quan niệm này thì biên độ phản ánh hiện thực trong thơ đã được mở
Trang 16rộng:“Thơ phản ánh đời sống con người trên toàn diện sinh động của nó từ mặt
t ầng (hành động) tới đáy tầng (tâm linh) qua hết mọi phương diện xã hội” [80,
tr.48] Hiện thực cuộc sống cũng được nhìn đa diện đa chiều hơn, không chỉ là
hiện thực của ý thức mà còn là “hiện thực cuộc sống được phản ánh trong ý
th ức, tiềm thức, vô thức của thi nhân” [2, tr.106] Dù muốn hay không, thơ cũng
không thể chối bỏ mình trong thế giới huyền diệu của tâm linh: “Thơ khởi di từ đời sống Nhưng nó không hề tại những dự kiện ghi nhận được qua hoạt cảnh đời sống Nó vượt lên trên tất cả Nó qua cái hữu hạn để nổ tung, vỡ lớn trong
vô cùng miên viễn Do đấy, nếu nhìn từ một khía cạnh nào đó, từ đời sống thì thơ là một phản đề”[51, tr.98] Đi vào cõi huyền diệu của tâm linh, thơ lại càng
khó nắm bắt, và dù khởi di từ đời sống nhưng cuối cùng thơ lại như một mặt khác của đời sống đó Hơn thế, thơ còn là cõi mị thường: “Thơ là mộng trong
m ộng Mộng đã là khó bắt gặp được huống còn là mộng trong mộng nữa, thì còn khó b ắt gặp biết bao Cuộc thế dầu là thực thể vẫn là một thực thể mị thường Hình bóng thơ không phải là một thực thể Như vậy, thơ còn mị thường hơn hình bóng mị thường [31, tr.14] Ta không những phải nhìn nhận phương
diện hiện thực của thơ mà còn phải nhìn thấy phương diện mộng mị, khôn cùng
của nó Nếu thơ có lúc bắt nguồn từ trong ý thức thì cũng có lúc thơ là tiếng nổ tung bất ngờ của vô thức Hay nói cách khác thơ không thể tách mình ra khỏi
đời sống hiện thực cũng như tâm linh:“Thơ phải chăng là dòng sông vắt mình qua hai b ờ hư thực” [2, tr.108] mà “chúng ta không thể tách lập được hẳn thực
hư và chia đôi địa trấn bằng một bờ sao rõ rệt Cõi mộng và cõi đời thâm nhập
ở nhiều nơi, và ở nhiều nơi đã thấm trộn cùng nhau trong một cuộc giao hòa bí
m ật” [87, tr.1256]
Thơ là tiếng nói tâm hồn
Như trên đã đề cập, thơ lấy phần hiện thực làm chất liệu, nhưng lăng kính tâm hồn của mỗi nhà thơ lại không giống nhau Bên cạnh đó“Thơ cần cả triết
h ọc và phi triết học, cần cả những khám phá trí tuệ lẫn những trạng thái vô lý,
Trang 17vô nghĩa của tâm hồn Ở những bài thơ kết hợp được hai điều ấy, lập tức nó đáp ứng, nó tác động trực tiếp đến người đọc” [82, tr.247] Cho nên, yếu tố tâm hồn
trong thơ là vấn đề vô cùng quan trọng, nó đóng vai trò cốt yếu trong việc phác
họa chân dung thơ của mỗi nhà thơ Mặt khác“Thơ không thể chấp nhận và không bao gi ờ chấp nhận sự trần trụi đến lạnh lùng với những lọc lừa trí trá đầy
bu ồn nôn của đời sống Giá trị của thơ bao giờ cũng là sự kết tinh giá trị từ
nh ững mỹ cảm chân thực của tâm hồn”[2, tr.145] Chính vì thế bên cạnh phần
“trí tuệ” được chắt lọc các nhà thơ quan niệm: “Thơ là tiếng nói của tâm linh, tiếng nói của chiêm nghiệm nhiều khi cả đời người, của nhiều đời ngươi Ở
nh ững tập thơ có giá trị cao, chúng có thể là “kinh thánh của tâm hồn” là thứ không th ể mua và không thể bán” [82, tr.233] Thơ luôn hướng con người đến
chân, thiện, mỹ, thơ không mang giá trị vật chất tầm thường bởi thơ thuộc về thế
giới tâm hồn, mang giá trị tinh thần.Thơ đại diện cho những xúc cảm, ưu uất trong tâm hồn cất lên tiếng nói “Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh
h ồn thương nhớ ước ao trở lại trời” [20, tr.126-127] Không những thế, các nhà thơ nhìn nhận “Thơ biểu hiện tâm hồn hay thơ là tâm hồn, nhưng thơ không
bi ểu hiện tuyệt đối tâm hồn Thơ là một cái gì tự tại hình thành bởi những yếu tố riêng bi ệt” [80, tr.92] Các nhà thơ nhấn mạnh phần tâm hồn trong thơ cũng như
cho thấy sự cần thiết của những yếu tố khác trong thơ
Thơ là sự sáng tạo
Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo Với thơ, sự sáng tạo trở thành yêu
cầu thiết yếu“Thơ được làm nên bởi những nhà thơ, do đó sự khác nhau chính
là sự tồn tại và ngược lại sự giống nhau là cái chết” [81, tr.249] Thơ không
được phép đi lại những nẻo đường có sẵn, thơ phải là một ngã rẽ mới, đi về phía trước, là sự phát hiện, là tương lai Nhà thơ phải có cái nhìn phát hiện, mang đến
cho con người những rung cảm mới, bởi“Thơ chẳng giống ai, chẳng ai mong giống ai và không có lối nào đi chung cho hai nhà thơ cả Đó là thách thức và cũng là cái làm nên sức quyến rũ của thơ” [82, tr.239] Biết bao nhà thơ bị lu
Trang 18mờ vì thiếu một phong cách, cá tính riêng trong sáng tạo và bản thân người cầm bút cũng không mong mình là bản sao, là cái tôi nhợt nhạt giữa nhiều cái tôi khác Biết bao tiếng nói thơ đã không tồn tại lâu dài vì nó không mang lại điều
gì mới cho con người, muốn tồn tại thơ phải mở ra điều xưa nay chưa có
Trong một mục nhỏ của luận văn, chúng tôi không nghĩ rằng mình có thể
giải quyết hết những vấn đề về thơ Ở đây, chúng tôi chỉ trình bày một số quan
niệm của các nhà thơ, nhà lý luận phê bình mà chúng tôi cho rằng đó là cơ sở để tìm hiểu quan niệm về thơ của các nhà thơ trẻ thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay
1.1.1.2… Đến quan niệm thơ của các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Thơ là chính tôi hay bạn
Với các nhà thơ trẻ thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay, thơ như
một thực thể sống “Thơ đối với tôi rất đặc biệt, như là chính tôi, như là bạn tôi
và đôi khi như là kẻ thù của tôi Tôi bốc cháy cũng vì nó, nguội lạnh cũng vì nó”
[25, tr.78] Các nhà thơ trẻ quan niệm thơ như một cá thể luôn biến đổi xung quanh mình, là bạn, là thù, là chính bản thân Mối quan hệ giữa thơ và nhà thơ
từ đó được nhìn nhận như mối quan hệ gắn kết trong xã hội “Một bài thơ ra đời giúp tôi giải tỏa được nhiều điều, thơ còn mang đến cho tôi nhiều sự động viên chia sẻ và cả… bạn bè nữa” [25, tr.78] Không những thế thơ còn mang đến
những trải nghiệm bất ngờ, lý thú cũng như những suy ngẫm: “Thơ như một chuy ến xe kỳ thú, tôi bước lên và cứ thế mà đi Không biết đến đâu và dừng lại đâu Khi dõi theo những suy nghĩ riêng tư của mình, tôi tự hỏi suy nghĩ của người bên cạnh Khi ngồi hè đường, nhìn những bước chân đi qua, nhìn bàn tay khu ấy cà phê, nhìn những nét mặt, tôi tự hỏi điều gì đang đi cùng họ, cuộc đời,
s ự hân hoan, nỗi muộn phiền của họ…” [100, tr.4] Thơ mở ra nhiều cảm xúc
mới cho nhà thơ Trong thơ, nhà thơ tìm được sự động viên, chia sẻ, những người bạn, và cả bản thân Thơ là một người bạn đồng hành Khi bước lên chuyến xe thơ, nhà thơ không quan tâm đến trạm dừng cuối cùng, bởi trên
Trang 19chuyến xe thơ đó nhà thơ luôn có thơ qua những suy tư, sự đồng cảm với những
hỉ, nộ nhân gian
Xem thơ như người bạn, các nhà thơ trẻ cũng ý thức được rằng: “cần đối
x ử tử tế với thơ, khi khai sinh nó” [25, tr.79] Một bài thơ ra đời, nhà thơ không
chỉ có trách nhiệm mà còn phải biết trân trọng, bởi thơ không còn là một trang
viết mà “là một góc hiện hữu trong đời sống” “là một phần cuộc sống, là một
ph ần của vui chơi, làm việc, suy nghĩ, giao tiếp, vui buồn… ” [25, tr.79] Và nếu
xem thơ như người bạn thì cũng cần cho thơ những khoảng không tự do gặp gỡ
“dành th ời gian cho nhau nhiều hay ít” và niềm tin “gặp hay không vẫn nghĩ về nhau” [25, tr.78]
Thơ là cảm xúc
Khi đến với thơ, những người yêu thơ luôn mong muốn thể hiện quan
niệm của riêng mình về thơ Các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm
2000 đến nay cũng không ngoại lệ Ngoài việc tiếp thu những quan niệm thơ của các nhà thơ lớp trước: thơ là sự sáng tạo, là hiện thực, là tiếng nói của tâm hồn Các nhà thơ trẻ thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay đặc biệt lưu tâm
đến phần cảm xúc trong thơ Họ quan niệm “Thơ, trước hết bắt nguồn từ xúc cảm, mối quan tâm của nhà thơ tập trung vào đâu thì khuynh hướng sáng tác thể hiện ở đó” [38] Tuy nhiên, đó không là những xúc cảm thông thường, nhẹ
nhàng, mà “Bài thơ là những cảm xúc bộc phát, rất mạnh và bất thường” [25,
tr.78]Và thơ là sự chắt lọc trong tâm hồn nhưng đôi khi cũng là những rung
động đến bất ngờ, mạnh mẽ “Khi câu thơ bật lên trong tâm trí, thì nó tự động được khai sinh, không có sự lựa chọn với thơ ca, mà đôi khi nó như duyên nợ, thơ đã chọn mình, tình yêu đã chọn; chứ mình đi tìm hay chọn nó, nó biến mất tăm” [25, tr.78] Trong cuộc sống đầy màu sắc, thơ “là cách ghi lại xúc cảm, ghi nh ận đời sống quanh mình nhanh nhất” [25, tr.79] Mặt khác, kế thừa quan
niệm thơ của thế hệ đi trước, các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh quan niệm
thơ cần có ích, có thể tác động lên đời sống con người, bởi vì: “Nghệ thuật,
Trang 20trong đó có thơ ca, trước hết đó là nhu cầu tự thân, nhưng đều hướng đến sự tác động Nếu một bài thơ đến từ một sự rung động, một cảm xúc riêng tư thiên về
c ảm tính vẫn có tác động đến nhiều người, nhưng đó là những tác động nặng về
c ảm xúc” [42], chứ chưa “có tính định hướng cho hành động” [42]
Đọc thơ, nghĩ về thơ, nói về thơ, có lẽ là một việc không bao giờ có hồi
kết Bởi lẽ ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ thời đại cũng không hết những những người yêu thơ, quan tâm thơ Và trong những người yêu thơ, quan tâm thơ đó
phần vì sự khác nhau về lập trường quan điểm, phần vì“Thế giới thơ là thế giới không cùng Đi vào bản thể thơ cũng là con đường sâu thẳm” [2, tr.121] Cho
nên, sẽ còn có những quan niệm khác, mới về thơ Những quan niệm trên về thơ chưa thể xem hoàn chỉnh, và có lẽ không bao giờ có một quan niệm hoàn chỉnh
bởi định nghĩa thơ là một điều không thể Vì thế cho tận bây giờ, các nhà thơ cũng không thôi cảm hứng đi tìm bản thể của thơ
1.1.2 Thơ trẻ
Trong quá trình tìm hiểu những quan niệm về thơ, ta không thấy quan
niệm phân chia “thơ trẻ” hay “thơ già” Bởi lẽ, thơ không có tuổi, thời gian không làm thơ già đi mà chỉ có tác dụng thẩm định giá trị của thơ “Thơ trẻ” được chúng tôi sử dụng trong luận văn này không nhằm vào tính chất, đặc điểm
của thơ Chúng tôi xem “thơ trẻ” như một hạn từ, nhằm thu hẹp phạm vi nghiên
cứu thơ
Để hiểu hơn về hạn từ “thơ trẻ”, tạo tiền đề hiểu rõ hơn về “thơ trẻ Thành
phố Hồ Chí Minh” thiết nghĩ cũng nên nhắc lại quan niệm của một số tác giả khi dùng hạn từ “thơ trẻ”
Hạn từ “thơ trẻ” được nhắc đến khá nhiều từ sau năm 1986 Hoàng Hưng, trong bài viết trên báo Lao động năm 1994, nói về phiên đổi gác trong thơ sử
dụng cách gọi “thơ của lớp người trẻ” [42] để đề cập đến sáng tác của những
nhà thơ Trinh Lê, Lê Thu Thủy, Lê Viết Hoàng Mai, Nhật Lệ, Nguyễn Quyến Vào thời điểm này, các nhà thơ vừa kể đến có tuổi đời chưa đến hai mươi Hạn
Trang 21từ “thơ trẻ” có thể được sử dụng khi nói về họ Đến năm 2006 (hơn mười năm sau bài viết trên báo Lao động 1994), Hoàng Hưng trong bài trả lời phỏng vấn khác, dùng lại hạn từ “thơ trẻ”, tuy nhiên đối tượng cho hạn từ này không phải là
những nhà thơ trước đây đã đề cập mà là sáng tác của nhóm nhà thơ trẻ tuổi khác: “Căn cứ vào những gì tôi được đọc trong vòng môt năm trở lại đây, tôi
cảm thấy lực lượng thơ trẻ đã bắt đầu hùng mạnh Mười năm trước tôi đã viết
một bài báo, đề cập đến hy vọng về một “phiên đổi gác” của thơ Việt Nam Có thể, lúc đó tôi đã quá lạc quan Nhưng đến năm nay, hy vọng của tôi được hâm
nóng lại Thơ trẻ đã có nhiều giọng điệu, cả sâu lắng và tinh tế chứ không chỉ
ồn ào hay chăm chắm vào sex và những chủ đề gây sốc mà người ta vẫn kêu ca
Đó là một tín hiệu dự báo khả năng của một "phiên đổi gác" thực sự, sớm muộn cũng xảy ra dù cho là ngoài ý muốn của nhiều người” [42] Ở đây, có thể hiểu,
Hoàng Hưng dùng hạn từ “thơ trẻ” để chỉ những nhà thơ có tuổi đời còn trẻ nói chung, hay sáng tác của những nhà thơ trẻ tuổi ấy Cho nên, trong hai khoảng thời gian chênh lệch mười năm, Hoàng Hưng vẫn sử dụng cách nói “thơ của lớp người trẻ” hay “thơ trẻ” vào hai đối tượng khác nhau Những đối tượng này có điểm chung, vào thời điểm được nói đến họ đều là những nhà thơ rất trẻ
Cũng khoảng thời gian 2006 khi Hoàng Hưng sử dụng hạn từ “thơ trẻ”,
Trần Hoài Anh trên Tạp chí Nhà Văn trong một bài viết có tiêu đề “Suy nghĩ về
sự cách tân của thơ và những người làm thơ trẻ” đã sử dụng đến hạn từ này
Cũng trong bài viết đó Trần Hoài Anh khi hệ thống tên của các nhà thơ đã nói
“Nhìn lại thời gian gần đây, ta thấy xuất hiện hàng loạt các nhà thơ trẻ mà tên
tuổi của họ luôn được nhắc đến trên thi đàn như Vi Thùy Linh, Văn Cầm Hải, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly,…” [2, tr.156] Theo cách sử dụng hạn từ “thơ
trẻ” như trên, Trần Hoài Anh đã quan niệm “thơ trẻ” chình là sáng tác của những nhà thơ trẻ tuổi
Từ đó, ta có thể thấy “thơ trẻ” là một hạn từ có thể sử dụng cho bất cứ giai đoạn nào của thơ, nhằm chỉ các nhà thơ trong độ tuổi còn trẻ, cũng như các
Trang 22sáng tác của họ Cần phải nói thêm, sự phân chia nhà thơ theo độ tuổi trẻ hay già chỉ mang tính tương đối Bởi điều đó còn phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan của tác giả
Nói về thơ thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 1975 đến nay, đội ngũ sáng tác thơ có thể nói vô cùng đông đảo Trong đó, tạm chia ra ba thế hệ Thế hệ thứ nhất là những người cầm bút ngay từ những năm đầu giải phóng Họ sinh ra vào thập niên năm mươi của thế kỷ XX, có thể kể đến: Đoàn Vị Thượng, Đỗ Trung Quân, Bùi Chí Vinh, Nguyễn Nhật Ánh, Thanh Nguyên, Lê Minh Quốc, Trương Nam Hương, … Cho đến nay, các nhà thơ này đã vươn cao, vươn xa trong chân
trời sáng tạo Thế hệ thứ hai được đánh dấu bởi những tác giả sinh vào thập niên sáu mươi, đầu thập niên bảy mươi như: Nguyễn Trọng Nghĩa, Phan Thị Vàng Anh, Phan Triều Hải, Phan Hoàng, Nguyễn Hữu Hồng Minh… Ngay khi mới
xuất hiện các sáng tác của các tác giả này đã tạo được sự chú ý của dư luận Thế
hệ thứ ba, những nhà thơ sinh vào giữa cuối thập niên bảy mươi trở đi, là các nhà thơ: Khương Hà, Ngô Thị Hạnh, Trương Gia Hòa, Ngô Liêm Khoan, Ly Hoàng Ly, Chiêu Anh Nguyễn, Lê Thiếu Nhơn, Nguyệt Phạm, Trần Huy Minh Phương, Nguyễn Phong Việt, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý… Là thế hệ trẻ nhất trong đội ngũ thơ thành phố từ sau 1975 đến nay
Khi đưa ra quan niệm “thơ trẻ” trong luận văn này, một mặt chúng tôi kế
thừa quan niệm của những người nghiên cứu trước sử dụng Mặt khác, chúng tôi
dựa trên sự phân chia các thế hệ nhà thơ trong đội ngũ thơ ca Thành phố Hồ Chí Minh Với tính chất tương đối của khái niệm “thơ trẻ”, chúng tôi rất mong sự đồng tình, ủng hộ từ phía người tiếp nhận
Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay được hiểu là những sáng tác của các nhà thơ tuổi đời còn trẻ (từ bốn mươi tuổi trở xuống theo phạm vi nghiên cứu trong luận văn chúng tôi) là những nhà thơ thuộc thế
h ệ trẻ nhất trong lực lượng sáng tác thơ ca Thành phố Hồ Chí Minh Trong quá
trình vận động, phát triển, Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã chịu sự chi phối
Trang 23của yếu tố thời đại Cho nên, ngoài tính chất trẻ của lứa tuổi, còn có chất trẻ trong suy nghĩ, cảm xúc, góp phần to lớn vào sự đổi mới trong thơ
1.2 Các hướng tiếp cận trong nghiên cứu thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
từ năm 2000 đến nay
Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay vốn là một giai đoạn thơ
rất mới Các nhà thơ trong giai đoạn này có người đã khẳng định vị trí của mình nhưng cũng có người đang trong quá trình chinh phục Cho nên, để người đọc đến với thơ trẻ một cách dễ dàng, thiết nghĩ chúng ta cần đưa ra một số hướng
tiếp cận Mặt khác, thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh là giai đoạn văn học còn đang tiếp diễn Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh trong sự đa dạng còn ẩn chứa
sự phức tạp Cho nên việc đưa ra những hướng tiếp cận vì thế sẽ có chút khó khăn và cũng chỉ mang tính chất tương đối
Nguyễn Đăng Điệp trong bài nghiên cứu mang tiêu đề Thơ Việt Nam sau
1975 - một cái nhìn toàn cảnh [38] đã đưa ra ba quan điểm tiếp cận trước khi
đi vào trình bày những vấn đề của thơ sau 1975 Theo đó Nguyễn Dăng Điệp
đã đứng trên quan điểm tìm hiểu ngôn ngữ, sự đa dạng về phong cách và giọng
điệu, yếu tố thời đại để tiếp cận khi nghiên cứu thơ đương đại Những quan điểm tiếp cận của Nguyễn Đăng Điệp đứng trên lập trường rất vững vàng để
đưa ra trong bài nghiên cứu về Sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh t ừ 2000 đến nay chúng tôi cũng xin dựa vào ba quan điểm tiếp cận trên
để nghiên cứu
1.2.1 Tiếp cận trên cơ sở bối cảnh thời đại
Có lẽ, chúng ta đều biết, khi nghiên cứu bất cứ một tác phẩm văn học nào
dù lớn hay nhỏ vấn đề đầu tiên cần tìm hiểu và phân tích chính là thời đại mà tác
giả đã và đang sống Thời đại là bầu không khí chung trong đó bao hàm các yếu
tố hoàn cảnh lịch sử - xã hội, văn hóa Bầu không khí chung này có tác động
lớn, trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm của tác giả Vì thế, khi nghiên cứu bất cứ
một giai đoạn văn học hay một tác phẩm văn học nào cũng cần xét đến những
Trang 24biến cố, sự kiện xã hội lớn, những xung đột trong xã hội Hay nói cách khác là
những gì có khả năng tác động đến tư tưởng, tình cảm của tác giả trong quá trình sáng tạo ra tác phẩm Hồ Chí Minh quan niệm “Xã hội thế nào, văn học thế ấy”
Cùng quan niệm như thế Trần Đăng Suyền nhấn mạnh:“Xét đến cùng, một trào lưu, một tác gia, một tác phẩm văn học ra đời cũng chỉ có thể xuất hiện trong
m ột hoàn cảnh lịch sử - văn hóa, xã hội cụ thể Không thể có tác phẩm văn học nào xu ất hiện một cách vu vơ Ở đây nếu có ngẫu nhiên, tình cờ thì từ trong bản
ch ất sâu xa, nó vẫn mang quy luật tất yếu” [72, tr.35] Ở một khía cạnh nào đó
có thể nói tác phẩm văn học chính là con đẻ của thời đại, mang dấu ấn của thời đại Thời đại tạo ra nhà văn, thông qua nhà văn sáng tạo ra tác phẩm văn học
Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh cũng thế.“Mỗi nhà thơ đều phải sống trong m ột thời đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể Vì thế thơ họ, một mặt, thể hiện những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác, những suy tư
ấy phải thể hiện được tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại mình” [38]
Dẫu biết rằng thơ là đứa con tinh thần, là sản phẩm riêng của mỗi nhà thơ
Nhưng nhà thơ không thể không “hít thở bầu không khí của thời đại mình đang sống, trực tiếp hoặc gián tiếp, ít nhiều đều chiu sự chi phối bởi hoàn cảnh lịch
sử - xã hội, văn hóa của thời đại đó” [72, tr.34] Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí
Minh cũng chịu sự ảnh hưởng nhất định của thời đại Bỏ qua yếu tố thời đại nghĩa là bỏ quan điểm lịch sử khi xem xét và đánh giá Như vậy, sẽ không có cái nhìn khách quan khi nghiên cứu thơ trẻ thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
Cần phải nói thêm, khi nghiên cứu thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, ta sẽ thấy những nhà thơ trẻ dù cùng thời đại, thở chung một bầu không khí nhưng mỗi tác giả do bản chất tư tưởng, hoàn cảnh, môi trường sống khác nhau Vì thế,
họ tiếp nhận tác động của bầu không khí chung không giống nhau Hiểu được điều này, chúng ta sẽ thấy sự đa dạng, phong phú trong sáng tác của các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 251.2.2 Tiếp cận trên cơ sở ngôn ngữ
Vai trò của ngôn ngữ trong văn học từ lâu đã được khẳng định Ngôn ngữ
được xem là “công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học được gọi
là loại hình nghệ thuật ngôn từ” [19, tr.215] Trong mỗi tác phẩm văn học, ngôn
ngữ cũng là một trong những yếu tố quan trọng để thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Như thế việc tìm hiểu tác phẩm văn học trong bất cứ giai đoạn nào, thiết nghĩ cũng cẩn xét đến vai trò của ngôn ngữ
Với thơ, ngôn ngữ càng đóng vai trò quan trọng Nhà thơ Trần Dần đã
khẳng định “Tôi giản dị đồng nhất thơ với chữ” [dẫn theo Nguyễn Đăng Điệp,
38] và nhà thơ Lê Đạt cũng cho rằng “chữ bầu lên nhà thơ” [dẫn theo Trần Hoài
Anh, 2] Nói như thế, ngôn ngữ quả thật đóng vai trò thiết yếu trong quá trình sáng tạo của nhà thơ Đứng trên lập trường quan điểm này, lao động của nhà thơ
chính là đào sâu trên từng con chữ Và vì thế “nhà thơ không coi rẻ con chữ như những vật vô tri vô giác, những công cụ quẳng đi khi đã hết tác dụng mà tôn trọng chữ như những linh vật có hồn, lắng nghe tiếng nói của chữ và vai trò của chữ như những nhà ngoại cảm lắng nghe và trò chuyện với chữ như thế giới bên kia” [14, tr.131] Mặt khác, từ phương diện của một người nghiên cứu, Nguyễn
Đăng Điệp cũng từng nói: “Lao động thơ trước hết là lao động chữ Chính con chữ qua cấu trúc nghệ thuật của nhà thơ cho ta hiểu được chiều sâu và sự vang ngân của tình ý, giọng điệu và tư tưởng nghệ thuật của họ” [38] Như vậy, ngôn
ngữ trước hết là công cụ là chất liệu cơ bản để sáng tác thơ Nhưng ngôn ngữ không đơn thuần là cái vỏ của tư duy, mà còn là tư duy của tác giả
Bên cạnh đó, khi nhìn vào khuynh hướng chung của thơ sau 1975 ta thấy
“cái tôi cũng bị xóa mờ đi, để vai trò của chữ nổi bật lên và các chữ trong bài thơ như là tự nó tạo ra mọi tác động đến độc giả” [53, tr.24].Trong thơ đương
đại, vai trò của ngôn ngữ càng được đề cao, nhấn mạnh Sự đổi mới thơ sẽ gắn liền với sự đổi mới ngôn ngữ thơ Thiết nghĩ, chúng ta khi nghiên cứu về thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh nếu bỏ qua yếu tố ngôn ngữ sẽ không thể nào giải mã
Trang 26được hết tư duy của các nhà thơ trẻ Bởi như trên đã nói, thơ chính là tư duy của tác giả Và như thế để có thể nhìn thấy tận cùng những tâm tư, khát vọng những nghĩ suy, lo lắng mà các tác giả trẻ đã gửi gắm vào thơ nhất định phải nhập được vào mà ngôn ngữ thơ của họ
1.2.3 Tiếp cận dựa trên phong cách của nhà thơ
Phong cách được nói đến ở đây là phong cách nghệ thuật Đây là “một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [19, tr.255] Khi nghiên cứu thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi
nhận thấy trong thơ trẻ có sự đa dạng về phong cách Hơn ba mươi nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi người đều có cái nhìn nghệ thuật riêng của mình
Có nhà thơ đi theo lối thơ truyền thống, lại có nhà thơ đi theo lối cách tân Có nhà thơ quan tâm đến vấn đề đang xảy ra trong xã hội thì cũng có nhà thơ quan tâm đến những cảm xúc sâu lắng của bản thân Có nhà thơ bộc trực, táo bạo cũng có nhà thơ nhẹ nhàng kín đáo Tất cả đã tạo nên sự đa dạng về phong cách trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên “không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách Chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo” [19, tr 256] Đội ngũ các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh vốn xuất
hiện chưa lâu trên thi đàn, lại là những người trẻ tuổi, cho nên, vấn đề xây dựng một phong cách riêng độc đáo là rất khó Vì thế trong số hơn ba mươi nhà thơ trẻ, dù rằng mỗi người có nét riêng nhưng vẫn không thể tránh khỏi sự gần gũi, tương đồng về quan niệm về phong cách Điều này ở một khía cạnh nào đó góp phần hình thành xu hướng thơ trong diện mạo thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Như vây, khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà thơ, ta không những có thể đào sâu, làm rõ từng cá tính sáng tạo mà còn có thể tìm thấy xu hướng thơ chung đang diễn ra của thời đại Cho nên theo chúng tôi, đây là một
Trang 27trong những hướng tiếp cận quan trong khi nghiên cứu sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
1.2.4 Tiếp cận theo đặc trưng của thể loại thơ
Phân tích một tác phẩm văn học phải gắn với đặc trưng của thể loại Mỗi
tác phẩm đều thuộc một thể loại nhất định Nó“chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [55, tr.339] Nói tới thể
loại là nói tới một phương thức tái hiện đời sống một cách có tổ chức của tác phẩm Đặc trưng của thể loại thơ là bộc lộ trực tiếp ý nghĩ cảm xúc, trong đó tình cảm là mạch then chốt của tác phẩm Nếu như trong tác phẩm tự sự, nhà văn xây dựng nhân vật trung tâm với đường nét tính cách, số phận riêng; trong kịch người viết xây dựng nhân vật bằng đối thoại, độc thoại, hành động qua những xung đột thì trong thơ thế giới nội tâm con người được các nhà thơ bộc lộ trực tiếp làm thành nội dung thơ Nếu ở các thể loại khác, người ta cho phép trải dài tác phẩm theo chiều rộng thì thơ lại là sự chắt lọc Bên cạnh đó, thơ không chỉ bộc lộ chân thành tinh tế những rung động, nỗi niềm riêng tư, chủ quan mà còn có thể đi sâu vào nội tâm của người tiếp nhận để đạt đến tầm khái quát nghệ thuật cao
Có thể nói thơ là một thể loại văn học có phạm vi phổ biến sâu rộng Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm của thơ có được còn do ngôn ngữ thơ, tính hàm súc, giàu hình ảnh nhịp điệu của thơ Ngoài ra sự phân dòng, hiệp vần, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu… làm tăng sức âm vang lan tỏa, thấm sâu của thơ Ý thức về thể loại giúp người nghiên cứu định hướng đúng mục tiêu chính của việc phân tích tác phẩm văn học
Trang 281.3 Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
1.3.1 Bối cảnh lịch sử - văn hóa xã hội
Bốn mươi năm kể từ năm 1975, văn học Việt Nam luôn gắn bó với sự phát triển xã hội Những bước thăng trầm của đất nước đã tạo ra những biến đổi sâu sắc kiến tạo diện mạo mới cho nền văn học
T ừ sau tháng 4 năm 1975 đến 1985
Trong những năm nửa cuối thập kỉ 70 đến những năm đầu thập kỉ 80 sau khi kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tình hình kinh
tế xã hội của đất nước gặp khó khăn chồng chất và rơi vào khủng hoảng trầm
trọng Trong bối cảnh đó, ở những năm nửa cuối thập kỉ 70, nền văn học vẫn
tiếp tục phát triển theo những quy luật và với những cảm hứng chủ đạo trong
thời kỳ chiến tranh chống Mĩ cứu nước Với thơ, trong giai đoạn này, ở những trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ, cái tôi sử thi và cái tôi thế hệ vẫn
là chủ đạo, tuy nhiên trong đó cái nhìn sử thi được bổ sung bằng những trải nghiệm cá nhân Đến những năm đầu thập kỉ 80, khi tình hình kinh tế đất nước
vẫn còn khủng hoảng, văn học chững lại và không ít người rơi vào bối rối, không tìm thấy phương hướng sáng tác Xã hội đã bước vào giai đoạn sau chiến tranh nhưng số đông người viết và công chúng chưa chuyển biến kịp với thực
tiễn xã hội Tuy vậy, đây cũng chính là thời gian diễn ra sự vận động chiều sâu
của đời sống văn học
T ừ năm 1986 đến đầu năm 2000
Đại hội VI của Đảng tháng 12 năm 1986 đã quyết định thực hiện đường
lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kì mới cho đất nước vượt qua thời kì
khủng hoảng để bước vào giai đoạn phát triển manh mẽ và ngày càng vững
chắc Đường lối mới của Đảng không những tác động tích cực đến sự phát triển các ngành sản xuất và dịch vụ, đời sống vật chất mà còn thổi một luồng gió lớn vào đời sống văn học nghệ thuật, mở ra thời kỳ đổi mới của văn học trong tinh
thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật
Trang 29Giai đoạn đầu thời kì đổi mới, văn học phát triển mạnh mẽ, sôi nổi, tư duy văn học mới hình thành, làm thay đổi quan niệm chức năng văn học, về mối quan hệ giữa văn học và đời sống , nhà văn và bạn đọc, về sự tiếp nhận văn học
Về thơ, với sự đổi mới, cái tôi sử thi trong thơ mờ dần, thay vào đó là cái tôi thế
sự với những cả xúc mới Thơ tập trung vào đời sống riêng tư, bản thể con người, cái tôi cá nhân đươc khai thác trên mọi bình diện, mọi quan hệ, khám phá
thế giới tâm linh, vô thức bí ẩn ở mỗi con người
Khoảng mười năm sau thời kỳ đổi mới, trong xu thế ổn của xã hội, văn
học ổn định với những xu thế đổi mới đã đề ra trước đó Tuy nhiên trong giai đoạn này ngoài nhu cầu cốt lõi là đổi mới xã hội và khát vọng dân chủ, văn học quan tâm nhiều hơn đến sự đổi mới chính nó
Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
Với phương châm Việt Nam muốn làm bạn và đối tác tin cậy với tất cả các nước Việt Nam mở rộng hợp tác với các nước trên thế giới Trong bối cảnh toàn cầu, Việt Nam phát triển với nhiều thuận lợi cũng như khó khăn thách thức Toàn cầu hóa tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế, chuyển giao khoa học công nghệ Trong điều kiện mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, cùng với nhu cầu nội
tại của đời sống văn hóa tinh thần trong nước, văn học ngày càng gia tăng tính
hiện đại Về thơ, trong giai đọan này tiếp tục vận động với những nổ lực cách tân đã đưa đến nhiều thể nghiệm mới theo hướng hiện đại chủ nghĩa, thu hút nhiều sự chú ý của công chúng
B ốn mươi năm đời sống văn học thành phố Hồ Chí Minh
Trong bốn mươi năm qua, thành phố Hồ Chí Minh đã chứng kiến nhiều bước chuyển mình của lịch sử Cùng với cả nước Thành phố tiến hành nhiều
hoạt động trên lĩnh vực kinh tế, xã hội để góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, củng cố và phát triển Giờ đây, Thành phố là trung tâm kinh tế, văn hóa xã
hội hàng đầu cả nước, là nơi thị trường văn chương phát triển nhộn nhịp Nơi đây hội tụ nhiều gương mặt văn hóa, văn học có tên tuổi Văn học Thành phố
Trang 30Hồ Chì Minh có sự phát triển cân đối về các thể loại Riêng thơ, có sự tiếp nối nhau giữa nhiều thế hệ sáng tác, giữ cho dòng mạch thơ ca luôn chảy mãi Với
sự tiếp thu của các thế hệ đi trước, sự thuận lợi về phương tiện thông tin, sự phát triển của công nghệ in ấn, xuất bản cũng như sự đón nhận từ phía người đọc, thơ
ca Thành phố Hồ Chí Minh nói chung và thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay nói riêng có điều kiện phát triển hơn bao giờ hết
S ự ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử xã hội đến các nhà thơ trẻ
Sự phát triển kinh tế tạo tiền đề cho sự phát triển văn hóa, xã hội Giáo
dục được chú trọng, trình độ học vấn của người dân được nâng cao, tìm hiểu nhóm các nhà thơ trẻ thành phố Hồ Chí Minh, ta nhận thấy đa số các nhà thơ đều có bằng cử nhân hay trên cử nhân, điều này đánh dấu sự khác biệt của lực lượng sáng tác giai đoạn này với những giai đoạn khác Với kiến thức nền tảng
vững chắc các nhà thơ trẻ có thể cảm nhận cũng như lý giải những hiện tượng đời sống một cách bình tĩnh và sâu sắc, có cơ sở lý luận khoa học
Mặt khác với sự phát triển của toàn xã hội, các nhà thơ trẻ có điều kiện
tiếp thu một cách nhanh nhất các nguồn thông tin trong nước và quốc tế Thế
giới xung quanh các nhà thơ trẻ không còn trong phạm vi nhỏ bé, vấn đề các nhà thơ đặt ra vì thế cũng mang tính toàn cầu
Đặc biệt với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quan hệ quốc tế mở
rộng, các nhà thơ trẻ có thể tiếp thu một cách đầy đủ những trào lưu văn hóa,
những lý thuyết văn học hiện đại Vấn đề chọn lọc đúng đắn khi tiếp thu sẽ mở
ra những quan niệm mới mẻ mang tính thời đại về thế giới và con người, cũng như góp phần xuất hiện từ ngữ mới lạ mà thơ trước đây không có
Tuy nhiên, với nền kinh tế thị trường mới bắt đầu, với tính chất mở cửa
những luồng tư tưởng văn hóa khác nhau ồ ạc kéo vào, làm nảy sinh hiện tượng
những giá trị truyền thống văn hóa lâu đời mất đi trong khi những giá trị văn hóa
mới chưa thật sự hình thành Điều này một mặt tác động trực tiếp đến thế giới
Trang 31quan của các nhà thơ trẻ nhưng mặt khác sự tác động của chúng lên những đối tượng khác sẽ là sự tác động gián tiếp đến cách nhìn nhận của các nhà thơ
Đội ngũ các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đất nước có nhiều thay đổi, sự thay đổi này đã ảnh hưởng không nhỏ đến các nhà thơ Sự phát triển cũng như các vấn đề còn
tồn tại tất cả đều được thể hiện sâu sắc qua các sáng tác của các nhà thơ trẻ, hay nói cách khác đọc thơ trẻ trong giai đoạn này chúng ta như đang xem bức tranh
về thế giới chúng ta đang sống Có tươi đẹp, có bi ai, có những sáng tác chỉ riêng là cảm nhận nhưng cũng có những sáng tác sâu sát với cuộc đời
1.3.2 Đội ngũ nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay
Với những người làm thơ, trái tim của họ luôn nhạy cảm trước những vấn đề của cuộc sống Bắt đầu thời kỳ đổi mới, những biến đổi xã hội không ngừng tác động đến tư duy, ý thức sáng tạo của các nhà thơ, đặc biệt là những nhà thơ trẻ Mặt khác, Thành phố Hồ Chí Minh vốn là một trong những đô thị lớn nhất nước ta Trong thời kỳ đổi mới, Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng biến động về mọi mặt Điều này góp phần không nhỏ đến việc hình một tư duy thơ mới
Bên cạnh đó“Khi nghiên cứu một nền văn học hay một vùng văn học không thể không nói đến đội ngũ nhà văn, những người đã và đang làm nên diện mạo đời sống của vùng văn học đó” [3, tr.205] Nhìn vào đội ngũ nhà thơ trẻ
Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay, chúng ta sẽ phải ngạc nhiên vì số
lượng đông đảo Theo nhà thơ Phan Hoàng “Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tập trung nhiều cây bút trẻ có tài có tâm, nhiệt huyết sáng tạo và đã có nhiều tác phẩm đóng góp xứng đáng vào nền văn học Thành phố, nếu không muốn nói họ đang là lực lượng quan trọng làm thay đổi diện mạo văn học Thành phố những năm gần đây” [39] Thật vậy, thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến
nay, xuất hiện rất nhiều gương mặt mới Họ là lực lượng tiếp nối sáng tạo của nhiều thế hệ nhà thơ Thành phố Hồ Chí Minh trước đây
Trang 32Trong Tuyển tập Thơ Văn trẻ Thành phố Hồ Chí Minh (2006 -2011), chỉ
sáu năm, nhưng số lượng các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh được chọn
trong tuyển tập này là hai mươi chín tác giả Riêng nói về những tập thơ mà
các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã xuất bản từ năm 2000 đến nay, đó
là một con số khá lớn bốn mươi sáu tập thơ Đó là Ly Hoàng Ly với Lô lô,
Quà; Lê Thiếu Nhơn với Phố tình riêng, Trong bóng người xưa, Bản tường trình giấc mơ đi vắng; Ngô Liêm Khoan với Trở mình trong máng xối, Những tấm ván trên cầu Hiền Lương; Trần Lê Sơn Ý với Cơn ngạt thở tình cờ; Trương Gia Hòa với Sóng sánh mẹ và anh; Ngô Thị Hạnh với Vang vọng, Rơi ngược, Nắng từ những ngòn chân, Thơ tình với Sài gòn; Đinh Thu Hiền với Hiền là Hiền, Đồng Chuông Tử với Thèm ăn, Mùi thơm của im lặng; Minh Đan với Tình riêng, Dấu chân hầm hô, Ngày không bọt, Phút 89, Đa mang anh (in chung); Nguyễn Kiên Giang với Gió; Khương Hà với Dự báo phi thời tiết (in chung); Kim tuyến đỏ; Phùng Hiệu với Tình không dám ngỏ, Thức giấc, Trong thế giới ngụy trang; Vương Chi Lan với Rót nhớ vào đêm; Thục Linh với Thời gian qua tay; Kiều Maily với Giữa hai khoảng trống, Tuệ Nguyên với Những giấc mơ đa chiều; Chiêu Anh Nguyễn với Chiêu; Trần Hoàng Nhân với Nằm m đợi nắng thức, Người mong khoảng cách để mà nhớ thương; Bùi Tuyết Nhung với Quê nắng, Nguyệt Phạm với Mắt giấy; Trần Huy Minh Phương với Gió mặn; Trần Đình Thọ với Bài ca thành phố ban chiều; Nguyễn Phong Việt với Đi qua thương nhớ, Từ yêu thương đến yêu thương, Sinh ra để cô đơn; Lê
Mỹ Ý với Căn phòng bóng tối… Và còn nhiều nhà thơ khác dù chưa có những
tập thơ riêng nhưng đã có nhiều bài thơ in trên báo, tạp chí Số lượng lớn các tập thơ kể trên đã minh chứng cho sức sáng tạo dồi dào của đội ngũ nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Hơn thế, trong những tập thơ đã xuất bản của các nhà thơ trẻ Thành phố
Hồ Chí Minh có tập thơ được giải thướng của Hội Nhà văn Thành phố Điều này đã minh chứng cho sự lao động nghiêm túc của các nhà thơ trẻ Lê Thiếu
Trang 33Nhơn hai lần được tặng thưởng của Hội Nhà văn Thành Phố Hồ Chí Minh với
tập thơ Trong bóng người xưa (năm 2007) và Bản tường trình giấc mơ đi vắng (năm 2010); Trần Lê Sơn Ý với tập thơ Cơn ngạt thở tình cờ đã nhận được
tặng thưởng giải thưởng của Hội Nhà văn Thành Phố Hồ Chí Minh (năm 2008)
và được giải thưởng Lá Trầu (năm 2007) Ngoài ra các nhà thơ trẻ còn đạt nhiều giải thơ khác: giải Bút mới của Nhà xuất bản Trẻ, giải của tập chí Sông Hương, báo Tuổi Trẻ… Điều này, chứng tỏ đội ngũ thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh không những đông về lực lượng mà còn đa dạng phong phú về chất lượng Đội ngũ thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần đáng kể vào sự phát triển của thơ ca đương đại, đồng thời khẳng định vị trí, vai trò của thơ trẻ trên thi đàn
Một điều đặc biệt, trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy, các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh xông xáo, năng động, đầy cá tính và bản lĩnh Trong đó các nhà thơ nữ như Ly Hoàng Ly, Nguyệt Phạm, Minh Đan, Khương
Hà, Ngô Thị Hạnh, Đinh Thu Hiền, Trương Gia Hòa, Vương Chi Lan, Chiêu Anh Nguyễn, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý… và nhiều nhà thơ nữ trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh khác đang dần “hé lộ” những vẻ đẹp thi ca khác nhau của mình Ly Hoàng Ly là một trong những gương mặt trẻ ghi dấu ấn lớn trong dòng chảy thơ
ca đương đại Từ Cỏ trắng đến Lô lô rồi Quà, Ly Hoàng Ly đã khắc họa được
chân dung của mình qua những đường nét, tư tưởng, nghệ thuật đặc sắc, mang dấu ấn riêng Ly Hoàng Ly đã vượt qua những nhà thơ nữ đi trước tạo ra một con đường mới trong thơ ca Là gương mặt thơ trẻ gặt hái được nhiều thành công ngay từ khi bắt đầu xuất hiện, Ly Hoàng Ly đã đem lại một không khí rất gợi mở và lạc quan cho thơ ca Thành phố nói riêng và cả nước nói chung Tiếp
sau Ly Hoàng Ly có thể kể đến gương mặt thơ nữ trẻ Trần Lê Sơn Ý Với Cơn ngạt thở tình cờ Trần Lê Sơn Ý đã được giải thưởng Lá Trầu năm 2007 đồng
thời cũng nhận được tặng thưởng Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh năm
2008 Đây có thể xem là bước khởi đầu thành công của nhà thơ trẻ, “trong sự co
Trang 34dãn của thể thơ tự do, chị biết tiết chế cảm xúc và ngôn từ để vươn đến sự hàm súc Thơ chị mang sắc thái hiện đại, nhưng cái gốc tình cảm của người thơ vẫn
là một khát vọng hạnh phúc thư nhàn bình dị” [69, tr.18] Trần Lê Sơn Ý đã thật
sự góp phần làm nên nhan sắc thơ Thành phố Bên cạnh đó, trên thi đàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay từng có sự hiện diện của nhóm Ngựa Trời gồm các nhà thơ nữ 8x Thành phố: Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, Khương
Hà, Phương Lan, Lynh Bacardi với tập thơ in chung Dự báo phi thời tiết Khi
vừa mới ra đời tập thơ đã khuấy động dư luận vì bị cho là “quái đản”, không phù hợp với văn hóa Việt Nam Các nhà thơ nữ trẻ này đã không chùng bước mà tiếp
tục tìm cách khẳng định bằng phong cách thơ khác (Nguyệt Phạm ra mắt Mắt giấy, Khương Hà với Kim tuyến đỏ)
Bên cạnh các nhà thơ nữ, từ năm 2000 đến nay xuất hiện khá nhiều gương mặt thơ nam ghi dấu ấn bởi phong cách thơ mang đậm chất suy tư Trong số những nhà thơ nam trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Phong Việt có lẽ là cái tên được độc giả quan tâm nhiều nhất Sau ba lần đoạt giải thưởng bút mới của báo Tuổi trẻ, Nguyễn Phong Việt ngày càng khẳng định vị trí của mình khi lần
lượt ra mắt các tập thơ Giữa năm 2012, Nguyễn Phong Việt xuất bản tập thơ Đi qua thương nhớ, chỉ sau mười ngày tác phẩm đã phát hành được hơn ba ngàn
bản, tạo nên một hiện tượng hiếm hoi trong giới xuất bản Việt Nam và trong giới thơ trẻ Thành Phố Cuối năm 2013, Nguyễn Phong Việt tiếp tục ra mắt tập
thơ thứ hai Từ yêu thương đến yêu thương, tập thơ này lại tạo nên một hiện
tượng thú vị trong ngành xuất bản Việt Nam khi phải tái bản trong lúc bản chính
còn chưa xuất hiện Đến cuối năm 2014, với tập thơ Sinh ra để cô đơn, có lẽ
trong lòng độc giả Nguyễn Phong Việt đã có một vị trí vững chắc Thơ Nguyễn Phong Việt có cách diễn đạt rất bình dị, từng lời thơ của anh dễ dàng chạm đến những cảm xúc sâu nhất trong lòng người đọc Mặc dù cả ba tập thơ của Nguyễn Phong Việt chưa nhận được những giải thưởng văn học thế nhưng sự đón nhận nồng nhiệt của độc giả đã đánh dấu sự thành công của Nguyễn Phong Việt Lê
Trang 35Thiếu Nhơn là một gương mặt khá xuất sắc khi vinh dự ba lần là đại biểu tại Hội nghị nhà văn trẻ toàn quốc và hai lần được tặng thưởng Hội Nhà văn Thành phố
Hồ Chí Minh cho tập thơ Trong bóng người xưa năm 2007, và Bản tường trình giấc mơ đi vắng năm 2010 Và gần đây nhất, Ngô Liêm Khoan với tập thơ Những tấm ván trên cầu Hiền Lương, viết về chiến tranh và số phận con người
cũng tạo được sự quan tâm của người nghiên cứu Dù dư luận có nhiều ý kiến trái chiều về tập thơ này nhưng Ngô Liêm Khoan đã đánh dấu cho sự xuất hiện một tư duy thơ mới về hiện cuộc sống, con người
Những nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang cố gắng hết mình cho thơ Con đường sáng tạo các nhà thơ trẻ đang bước đi và sắp bước tới còn nhiều trắc trở Những khó khăn sẽ trở thành động lực để các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục đi đến chân trời sáng tạo Với sức vóc và tầm nhìn của người trẻ hứa hẹn một tương lai mới cho thơ ca Thành phố Hồ Chí Minh
“Chính kinh nghiệm từ phong trào thơ Mới cho ta bài học, để tạo một
cuộc Cách mạng trong thơ ca cần tin vào những người trẻ tuổi” Hoài Thanh
trong Thi nhân Việt Nam cũng từng viết: “Hôm nay đã phôi thai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ Các thời đại vẫn liên tiếp cùng nhau và muốn rõ đặc sắc của mỗi thời phải nhìn vào đại thể” [78, tr.54] Trong
quá trình tìm sự đổi mới trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay chúng ta cũng sẽ thấy cái “cũ ít nhiều còn rớt lại” ấy, nhưng xin bỏ qua điều
đó để có thể nhìn “đại thể” nhằm thấy được sự đổi mới trong thơ
1.3.3 Sự vận động của thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay trong dòng chảy thơ ca đương đại
Từ lúc bắt đầu dòng văn học đương đại đến nay, thời gian không quá dài nhưng cũng đủ để thơ đương đại khẳng định vị trí của mình trong văn học dân
tộc Trong bốn mươi năm qua, thơ ca đương đại đã chịu biết bao thăng trầm để
có thể tồn tại và tiếp tục phát triển Có khi thơ đương đại được hân hoan đón
nhận bởi sự cách tân, đổi mới, nhưng cũng có khi bị điều tiếng gay gắt bởi cái
Trang 36mới khó lòng được mọi người tiếp nhận và cũng bởi còn những tồn tại khi cách tân Thế nhưng thơ đương đại vẫn luôn được sự quan tâm của mọi người bởi sự
vận động không ngừng của chính bản thân Sự vận động của thơ ca đương đại đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên phẩm chất của Thơ trẻ Thành
phố Hồ Chí Minh từ 2000 đến nay
Chính đặc trưng của xã hội sẽ là một trong những yếu tố không thể thiếu cho sự vận động phát triển của thơ ca Trước năm 1945 phong trào Thơ Mới ra đời, phát triển trong sự biến động lớn lao của lịch sử, xã hội cùng với sự ảnh hưởng từ thơ ca lãng mạn, tượng trưng Pháp, tạo ra cuộc cách mạng trong thơ, đưa thơ thoát khỏi những khuôn khổ sáo mòn trước đó Sau 1945, nhất là trong
những năm chiến tranh Việt - Mỹ Tại miền Nam, xã hội chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Mỹ những năm 1960, thơ Sài Gòn chủ yếu nằm trong nhóm Sáng Tạo
tạo nên làn sóng mới Các nhà thơ đã tìm lối biểu đạt mới mẻ, những câu thơ tự
do, những nhịp điệu bất thường Trong khi đó, ở miền Bắc, bắt đầu chặng đường chuyển đổi trong văn học nhằm phù hợp với hiện thực cách mạng nóng bỏng Đến sau 1975, đặc biệt là sau 1986 xã hội bước vào thời kỳ hội nhập thế giới,
bắt đầu luồng gió mới trong văn học Như vậy, chính đặc trưng của bối cảnh xã
hội làm nên quan niệm về vũ trụ, nhân sinh của con người từ đó thúc đẩy quá trình vận động phát tiển của thơ ca
Trong bối cảnh đương đại, mọi người nhận ra xung quanh mình là xã hội
hiện đại, con người cũng có quan điểm cách sống mới phù hợp với xã hội ấy Đó
là lúc chủ thể sáng tạo cần tìm lại mình từng bị khuất lấp trong chiến tranh, đánh
thức những miền ký ức vốn đang ngủ sâu và những tiềm thức chờ ngày trổi dậy
Là lúc nhà thơ không còn phải gánh trên vai trọng trách, họ sống như là chính mình, nhìn nhận công bằng hai phần sáng tối đang đấu tranh trong cơ thể Là lúc
thể hiện những khát khao, nhìn vào sự thật những ham muốn của bản thân… Thơ từ đây mà đổi mới Sự đổi mới này không phải như cuồn phong dữ dội rồi
biến mất mà như con suối từ thượng nguồn bắt đầu dòng chảy liền mạch, có lúc
Trang 37chảy qua những hòn cuội nhỏ, có lúc vòng qua những tảng đá to cũng lúc tới điểm phải đổ ập thành thác lớn rồi tiếp tục thẳng dòng hoặc rẽ hướng tìm dòng
chảy mới
Những người đi đầu trong sự cách tân có thể kề đến Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Dương Tường, Hoàng Hưng những cách tân thơ của họ đã tạo ra làn sóng dư luận khi mới xuất hiện Sáng tác của Hoàng Cầm
(Lá diêu bông, Mưa thuận thành, Về Kinh Bắc), Trần Dần (Mùa sạch) mang dấu
ấn siêu thực; Lê Đạt viết các bài thơ mang dấu ấn hậu hiện đại (36 bài tình, Bóng chữ)… Các bài thơ này dù xuất hiện rất lâu trước công cuộc đổi mới
nhưng lại trở thành tiêu điểm cho những cuộc tranh luận sôi nổi đầu tiên về thơ hiện đại vào khoảng những năm từ 1993 đến 1995
Thế hệ thứ hai là những cây bút xuất hiện và trưởng thành sau 1975 như: Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Quyến, Dư Thị Hoàn, Tuyết Nga, Trần Quang Đạo, Đặng Huy Giang,…đa số các nhà thơ đều có điều kiện giao lưu văn hóa Âu Mỹ Chính họ đã đưa những yếu tố siêu thực, phi lý, phi tuyến tính, hình thức thơ văn xuôi của thơ hiện đại và hậu hiện đại phương Tây vào những bài thơ bộc lộ những khuất lấp của đời sống
Đến thời gian gần đây ta thấy xuất hiện hàng loạt các nhà thơ được nhắc đến khá nhiều trên văn đàn: Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Vĩnh Tiến, Trương Quế Chi… đây có thể xem là lực lượng trẻ trong thơ ca đương đại Ngoài những bứt phá về thi pháp, họ còn xoáy sâu, bộc lộ những khát khao cá nhân các tác phẩm của họ Lần đầu tiên ra mắt hầu như đều ghi được dấu ấn Tuy còn khá trẻ nhưng đã thể hiện được phẩm chất có thể khiến họ đi xa hơn và tạo được những thành tựu trong thơ
Mặt khác, trong mỗi thời đại đều có những khuynh hướng sáng tác nổi
trội Việc xác định xu hướng sáng tác trong thơ đương đại nhằm làm cơ sở cho
Trang 38việc tìm hiểu những đổi mới trong thơ trẻ Thành Phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay
Trong những năm qua, đã nhều bài nghiên cứu chỉ ra những xu hướng
nổi trội của thơ ca đương đại Đáng chú ý là bài nghiên cứu của Nguyễn Đăng Điệp, Nguyên Văn Long, Nguyễn Bá Thành, Inrasara… Mỗi tác giả khi nghiên cứu về thơ đương đại đều đứng trên lập trường, quan điểm khác nhau Cho nên, khi đưa ra những xu hướng nổi trội cho thơ ca đương đại cũng có
về với cái tôi cá nhân; Đi sâu khai thác con người bản thể ở phần tâm linh, vô thức; Thiên về cách tân hình thức theo hướng hiện đại chủ nghĩa [53, tr.23] Trong khi đó, Nguyễn Bá Thành lại chỉ ra một số xu hướng khác Xu hướng đối thoại dân chủ và cảm hứng phê phán; Xu hướng chối bỏ các thể thơ truyền thống; Xu hướng duy trì các thể thơ truyền thống; Thế tục hóa và dung tục hóa biểu tượng thi ca; Đổi mới về chức năng xã hội và xu hướng thơ chơi [79,
tr.423-596] Bên cạnh đó, Inrasara có cách phân chia xu hướng thơ (năm 1996
đến 2010) là Thơ “cổ truyền”; thơ tân hình thức; thơ nữ quyền luận; thơ thị giác; thơ hậu hiện đại [39]
Ngoài ra, trong một bài viết của Nguyễn Thanh Tâm, tác giả cũng chia ra theo ba khuynh hướng lớn: Khuynh hướng bảo tồn những giá trị thơ ca truyền
Trang 39thống; Khuynh hướng cách tân; Khuynh hướng cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống [40]
Nằm trong dòng chảy chung của thơ đương đại, về mặt nội dung, nổi bật trong Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh là xu hướng trở về và tìm lại cái tôi bản thể, cũng như đi sâu vào những vùng mờ tâm linh Chưa bao giờ nhu cầu tìm lại cái tôi lại cao như trong văn học đương đại Đặc biệt là với các nhà thơ trẻ, bởi hơn ai hết họ là những người trăn trở nhiều nhất về bản thân Thơ trẻ từ việc đơn thuần bộc bạch những tình cảm riêng đến thể hiện cảm xúc theo chiều sâu về cuộc sống, về con người Họ mong muốn tìm lại cái tôi bản thể trong mối quan
hệ xung quanh và hơn thế họ mong muốn “tìm hiểu cấu trúc cái tôi trong quan
hệ với chính nó” [53, tr.381]
Xu hướng thứ hai thường thấy trong thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay là thể hiện những âu lo, khúc mắc trong đời sống thường nhật Sự lo âu này dường như dàn trải ở khắp mọi mặt của đời sống, sẽ không còn lạ nếu trong thơ trẻ xuất hiện những câu thơ nhìn nhận về cuộc sống chỉ là
“thế giới của tiếng cười đùa ẩm đục nhạt / thế giới của tụ hợp ảo ảnh người [35,
tr.12] hay hoài nghi về sự tồn tại của hạnh phúc “Có thật nắng không / khi lũ chim sẻ mang rơm về làm tổ/ con đường thăng hoa xin chỉ có một mình [24,
tr.48]… Các nhà thơ trẻ thật sự nhạy cảm với những biến đổi của xã hội Chính
vì thế lời thơ như lời chất vấn cuộc đời nhưng cũng là lời tâm sự Ngày tháng
trôi qua trong một xã hội nhiều biến đổi chính “Là những ngày nhìn rõ mặt yêu thương / Nhìn rõ mặt bình yên / Nhìn thảnh thơi và hạnh phúc / Nhìn tận mặt sợ hãi / là những ngày ngủ dài và nhiều màu sắc, nhiều gương mặt người / Là những tôi được viết, được vui, được nhìn thấy thực tại của mình…” [100, tr.53-
54] Có thể nói đây là một trong những xu hướng rất tiểu biểu trong thơ trẻ Cảm hứng này xuất hiện trong thơ trẻ cũng là điều dễ hiểu Bởi lẽ, với một người làm thơ cảm xúc đến trước nhất từ những gì gần gũi, diễn ra xung quanh họ
Trang 40Ở Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay, cũng thấy xuất
hiện xu hướng viết về chiến tranh, như Nguyễn Đăng Điệp nói: “Trước đây, hiện thực hiện lên trong tác phẩm thường là hiện thực “nhìn thấy” thì trong thơ sau 1975, chiến tranh chủ yếu hiện lên trong ký ức” [53, tr.381] Trong Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm , với cái nhìn của người trẻ “sinh ra sau chiến tranh, sinh ra trước chiến tranh, sinh ra trong chiến tranh đều có một mẫu số chung là chi ến tranh; phần bề nổi, bề mặt có thể khác nhau nhưng cùng chung
tr ải nghiệm ấy, chiếc bóng ấy Có sự khác nhau không giữa việc trải nghiệm chiến tranh bằng thực tế và việc trải nghiệm chiến tranh bằng ký ức Trải nghi ệm bằng thực tế thì ngưng tiếng súng có thể có khoảng lặng; nhưng trải nghi ệm bằng ký ức thì chiến tranh dù đã qua rất lâu rồi nhưng ký ức vẫn còn ủ
l ửa” [38], sự khác nhau về cách trải nghiệm chiến tranh giọng điệu thơ viết về
chiến tranh vì thế cũng khác, thể hiện được suy ngẫm của nhà thơ trẻ về lịch sử
đã qua
Với các nhà thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, việc tạo nên một phương
thức phản ánh mới trong không phải lúc nào cũng được mọi người đồng tình, ủng hộ và đón nhận Tuy nhiên, tiếp thu được những ý kiến trái chiều, Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh sẽ ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong dòng thơ đương đại
Thơ trẻ Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay vận động trong dòng chảy chung của thơ ca đương đại và việc mang những nét đặc trưng của thơ ca đương đại là điều tất yếu Trong khoảng mười lăm đầu thế kỷ XXI thơ trẻ Thành phố cũng như thơ trẻ cả nước với tính chất năng động và tiềm ẩn một sức bật lớn cũng như khả năng dồi trong sự tiếp cận và sáng tạo Sự tham gia của họ vào thơ ca đương đại có phần mạo hiểm nhưng cũng rất thú vị khi đã mang đến một triển vọng cho thơ