1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng, tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập vào dạy học chương các định luật bảo toàn vật lí 10, trung học phổ thông

157 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể đạt được mục tiêu đổi mới của dạy học ở trường phổ thông, phương pháp dạy học phải thực hiện các định hướng đổi mới giáo dục nói chung đã được ghi ở luật giáo dục Điều 28: “Phư

Trang 1

Lương Thị Hoa

“CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ 10,

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 2

Lương Thị Hoa

“CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÍ 10,

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết

quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong

bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Lương Thị Hoa

Trang 4

Trong quá trình làm lu ận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và hỗ

tr ợ nhiệt tình từ gia đình, thầy cô, nhà trường và bạn bè Thông qua luận văn, tác giả

mu ốn gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Th ầy giáo, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng đã trực tiếp khuyến khích, động viên, hướng

d ẫn tác giả thực hiện và hoàn thành luận văn bằng tất cả sự tận tình và trách nhiệm Phòng đào tạo sau đại học cùng quý thầy, cô giáo khoa vật lí trường đại học sư

ph ạm thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả trong quá trình học

t ập, nghiên cứu

Ban giám hi ệu cùng quý thầy cô giáo trường THPT Bình Chánh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực nghiệm sư phạm tại trường

T ập thể lớp cao học lý luận và phương pháp dạy học bộ môn vật lí khóa 24, các

b ạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên để tác giả hoàn thành luận văn này

Cu ối cùng, xin kính gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả mọi người

Thành ph ố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015

Tác gi ả luận văn

Trang 5

Trang

L ỜI CAM ĐOAN

L ỜI CẢM ƠN

M ỤC LỤC

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Nh ận thức và các giai đoạn của quá trình nhận thức 6

1.1.1 Nhận thức 6

1.1.2 Các giai đoạn của quá trình nhận thức 6

1.2 Khái ni ệm hứng thú 7

1.2.1 Khái niệm hứng thú 7

1.2.2 Hứng thú học tập 9

1.2.3 Biểu hiện của hứng thú học tập 9

1.2.4 Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học vật lí 10

1.3 V ấn đề phát triển tư duy 10

1.3.1 Khái niệm về tư duy 10

1.3.2 Các đặc điểm của tư duy 11

1.3.3 Các thao tác tư duy 12

1.3.4 Tư duy vật lí 13

1.3.5 Các phương pháp rèn luyện tư duy cho học sinh trong dạy học vật lí 13

1.3.6 Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển 14

1.4 Bài t ập vật lí 15

Trang 6

1.4.3 Các loại bài tập vật lí 22

1.4.4 Nguyên tắc xây dựng bài tập vật lí 26

1.4.5 Phương pháp giải bài tập vật lí 27

1.4.6 Phương pháp sử dụng bài tập vật lí cho một tiết học 28

1.4.7 Thực trạng việc sử dụng bài tập trong quá trình dạy học ở trường THPT 32 Chương 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÍ CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LU ẬT BẢO TOÀN” VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG CHÚNG VÀO D ẠY HỌC NHẰM TẠO HỨNG THÚ VÀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA H ỌC SINH 33

2.1 T ổng quan về chương “Các định luật bảo toàn” vật lý 10, ban cơ bản 33

2.1.1 Cấu trúc chương “Các định luật bảo toàn” 33

2.1.2 Mục tiêu dạy học chương “Các định luật bảo toàn” 33

2.2 Quy trình xây d ựng hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” 35

2.2.1 Xác định mục tiêu của hệ thống bài tập 35

2.2.2 Xác định nội dung của hệ thống bài tập 35

2.2.3 Giới thiệu sơ bộ về hệ thống bài tập 35

2.3 H ệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” 36

2.3.1 Các bài tập bài: Định luật bảo toàn động lượng 36

2.3.2 Các bài tập bài: Công Công suất 47

2.3.3 Các bài tập bài: Động năng 55

2.3.4 Các bài tập bài: Thế năng 61

2.3.5 Các bài tập bài: Định luật bảo toàn cơ năng 67

Trang 7

2.4.2 Giáo án bài: Công Công suất 92

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 105

3.1 L ập kế hoạch thực nghiệm 105

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 105

3.1.2 Thời gian, địa điểm, đối tượng thực nghiệm 105

3.1.3 Xác định cơ sở lí thuyết 105

3.1.4 Nội dung thực nghiệm 106

3.1.5 Các phương tiện hỗ trợ 107

3.1.6 Cách thu thập thông tin 107

3.2 Chu ẩn bị thực nghiệm 107

3.2.1 Liên hệ với đối tượng thực nghiệm 107

3.2.2 Chuẩn bị các nội dung và phương tiện thực nghiệm 107

3.3 Ti ến hành thực nghiệm 111

3.4 X ử lý kết quả thực nghiệm 111

3.4.1 Kết quả quan sát các biểu hiện hứng thú trong học tập của học sinh 111

3.4.2 Sử dụng phần mềm thống kê SPSS16 để xử lý kết quả bài kiểm tra một tiết, cơ sở để đánh giá sự phát triển tư duy 113

3.5 Nh ận xét 117

3.5.1 Về giáo án 117

3.5.2 Về kết quả học tập 118

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 124

PH Ụ LỤC

Trang 8

Vi ết tắt Vi ết đầy đủ

ĐC Đối chứng

GV Giáo viên

HS Học sinh NXB Nhà xuất bản SGK Sách giáo khoa SPSS Statistical Package for social Sciences

(Phần mềm chuyên ngành thống kê)

TB Trung bình

TG Thời gian THPT Trung học phổ thông

TN Thực nghiệm TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 9

Bảng 3.1 Kết quả thi học kỳ 1 của lớp TN và lớp ĐC 110

Bảng 3.2 Biểu hiện hứng thú của học sinh trong giờ học 112

Bảng 3.3 Bảng thống kê các điểm số và phân bố tần suất của lớp ĐC và lớp TN 113

Bảng 3.4 Bảng phân bố tần suất tích lũy của lớp ĐC và lớp TN 115

Bảng 3.5 Các thông số thống kê mô tả lớp ĐC và lớp TN 116

Trang 10

Hình 1.1 Hình vẽ bài tập tìm hợp lực 20

Hình 1.2 Hình vẽ chuyển động bằng phản lực 22

Hình 1.3 Hình vẽ bài tập phản xạ toàn phần 29

Hình 1.4 Hình vẽ bài tập xây dựng định luật Ôm 30

Hình 1.5 Sơ đồ trình tự tổ chức hoạt động nhóm 31

Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc chương các định luật bảo toàn 32

Hình 2.2 Hình vẽ bài tập 1.1 36

Hình 2.3 Hình vẽ bài tập 1.5 40

Hình 2.4 Hình vẽ bài tập 1.9 44

Hình 2.5 Hình vẽ bài tập 1.11 45

Hình 2.6 Hình vẽ bài tập 2.1 47

Hình 2.7 Hình vẽ bài tập 2.2 48

Hình 2.8 Đồ thị bài tập 3.3 58

Hình 2.9 Hình vẽ bài tập 4.3 63

Hình 2.10 Hình vẽ bài tập 4.8 66

Hình 2.11 Hình vẽ bài tập 5.1 67

Hình 2.12 Hình vẽ bài tập 5.3 69

Hình 2.13 Hình vẽ bài tập 5.4 70

Hình 2.14 Hình vẽ bài tập 5.5 71

Hình 2.15 Hình vẽ bài tập 5.7 73

Hình 3.1 Sơ đồ mô hình thực nghiệm 108

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố điểm của lớp ĐC và lớp TN 114

Hình 3.3 Biểu đồ phân bố tần suất tích lũy của lớp ĐC và lớp TN 114

Hình 3.4 Biểu đồ phân bố tần suất tích lũy của lớp ĐC và lớp TN 116

Hình 3.5 Histograme với đường cong chuẩn của lớp ĐC và lớp TN 117

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện Vị thế của nước ta được

thế giới công nhận và đánh giá trên một tầm cao mới

Tuy nhiên, thế giới đang phát triển như vũ bão Những gì mà chúng ta đã và đang

có so với sự phát triển của thế giới còn rất khiêm tốn Do đó để nước ta có thể phát triển và hội nhập với các nước trên thế giới đòi hỏi nguồn nhân lực phải có kiến thức,

có kỹ năng, tư duy và sáng tạo, sẵn sàng đáp ứng với mọi thử thách trong xu thế hội

nhập với thế giới Điều đó đặt ra cho ngành giáo dục phải có những chuyển biến cơ

bản, mạnh mẽ và toàn diện

Để có thể đạt được mục tiêu đổi mới của dạy học ở trường phổ thông, phương pháp dạy học phải thực hiện các định hướng đổi mới giáo dục nói chung đã được ghi ở

luật giáo dục (Điều 28): “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích

c ực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn h ọc; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào

th ực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo các định hướng trên đòi hỏi phải thực

hiện được chức năng mới của giáo viên và chức năng mới của học sinh Giáo viên là người tổ chức, kiểm tra, hướng dẫn hoạt động học, dạy học sinh phương pháp học

Học sinh ý thức được nhiệm vụ cần giải quyết, chủ động tích cực tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi, tranh luận trong quá trình giải quyết nhiệm vụ

Như vậy, điểm cốt lõi của định hướng đổi mới dạy và học là học tập chủ động,

chống lại thói quen học tập thụ động một chiều Mục đích đổi mới phương pháp dạy

học ở trường phổ thông là thay đổi phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, năng lực hợp tác làm việc, kỹ năng vận dụng kiến thức trong những tình

huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn

Trang 12

Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tự giác, chủ động sáng

tạo là một yêu cầu cấp thiết đòi hỏi sự nghiên cứu nghiêm túc và áp dụng tích cực của

mỗi giáo viên trong nhà trường phổ thông Trong dạy học vật lí, việc nâng cao chất lượng dạy học có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau trong đó việc sử dụng bài tập vật lí nhằm tạo hứng thú học tập và phát triển tư duy của

học sinh là một trong những hướng đang được quan tâm nghiên cứu trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học

Bài tập vật lí là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình dạy và học vật lí Có

thể nói bài tập vật lí vừa nằm trong mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, vừa là công

cụ để đánh giá kết quả dạy học của giáo viên và học sinh Bài tập vật lí không những cung cấp cho học sinh kiến thức vật lí, kỹ năng vận dụng và đào sâu kiến thức đã được

học mà còn có tác dụng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh Việc tìm ra cách giải, tìm ra kết quả bài tập mang lại niềm vui sướng, tạo hứng thú học tập trong học sinh Như vậy bài tập vật lí có vai trò hết sức quan trọng trong

việc thực hiện mục tiêu đào tạo Việc sử dụng bài tập vật lí trong quá trình dạy học góp phần đáng kể trong việc hình thành phương pháp học của học sinh, giúp các em có năng lực tự giải quyết những vấn đề đặt ra trong học tập và trong cuộc sống

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn vật lí, tôi nhận thấy đây là một hướng nghiên

cứu có ý nghĩa thực tiễn và thiết thực góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học

ở trường phổ thông vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng, tuyển chọn và sử dụng

h ệ thống bài tập vào dạy học chương “Các định luật bảo toàn” vật lí 10, trung học

ph ổ thông” làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 13

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu:

Quá trình sử dụng bài tập để dạy học vật lí

+ Khách thể nghiên cứu:

Quá trình dạy học vật lý ở trường THPT

4 Nhi ệm vụ nghiên cứu

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động nhận thức, hoạt động học tập và bài tập

vật lí

+ Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng hệ thống các bài tập vật lý chương Các định

lu ật bảo toàn

+ Nghiên cứu phương pháp sử dụng hệ thống bài tập vật lí vào dạy học nhằm tạo

hứng thú và phát triển tư duy của học sinh

+ Xây dựng các tiến trình sử dụng bài tập để dạy học chương Các định luật bảo

toàn

+ Thực nghiệm sư phạm để đánh giá kết quả của đề tài

5 Ph ạm vi nghiên cứu

+ Nội dung: Hệ thống bài tập định tính và định lượng chương Các định luật bảo

toàn lớp 10, ban cơ bản trong chương trình vật lí THPT

+ Địa bàn: Trường THPT Bình Chánh, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh

+ Thời gian: Từ tháng 01năm 2015 đến tháng 02 năm 2015

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

+ Đọc và nghiên cứu các nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

+ Nghiên cứu nội dung chương trình vật lí THPT, đi sâu vào nghiên cứu chương các định luật bảo toàn lớp 10, ban cơ bản

+ Xây dựng, lựa chọn bài tập vật lí vào dạy hoc chương Các định luật bảo toàn

nhằm tạo hứng thú và phát triển tư duy của học sinh, phù hợp với mục tiêu bài học + Phương pháp phân tích và tổng hợp

+ Phương pháp hệ thống hóa

Trang 14

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Quan sát, điều tra về tình hình học tập bộ môn vật lí ở trường phổ thông

+ Trao đổi kinh nghiệm với giáo viên vật lí về hệ thống bài tập đã xây dựng và phương pháp sử dụng chúng nhằm tạo hứng thú và phát triển tư duy của học sinh + Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính phù hợp và đánh giá hiệu quả của

hệ thống bài tập

6.3 Phương pháp xử lý thông tin

Tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu thống kê kết quả thực nghiệm

7 Gi ả thuyết khoa học

Nếu giáo viên thực hiện tốt việc xây dựng và tuyển chọn được hệ thống bài tập đồng thời có các hướng sử dụng bài tập phù hợp trong quá trình dạy học sẽ tạo hứng thú và phát triển tư duy của học sinh

8 Nh ững đóng góp mới của đề tài nghiên cứu

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động nhận thức và hoạt động dạy học tạo

hứng thú và phát triển tư duy của học sinh

+ Xây dựng và lựa chọn hệ thống bài tập vật lý chương Các định luật bảo toàn,

vật lí 10, ban cơ bản trong chương trình vật lý phổ thông

+ Nghiên cứu phương pháp sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng trong thiết kế bài dạy

9 L ịch sử vấn đề nghiên cứu

Việc xây dựng hệ thống bài tập chương Các định luật bảo toàn từ trước đến nay

đã có nhiều công trình nghiên cứu Chúng tôi xin nêu một vài nghiên cứu gần đây có liên quan đến bài tập vật lí chương Các định luật bảo toàn

- Nguyễn Xuân Phương, Xây dựng hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo

toàn” l ớp 10 PTTH nhằm phát triển năng lực tư duy độc lập và nâng cao hiệu quả tự

h ọc của học sinh, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ Chí Minh, 2007

- Hoàng Thị Thu Hằng, Rèn luyện kỹ năng phân tích - tổng hợp cho học sinh

thông qua d ạy học hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 chương

Trang 15

trình nâng cao, luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2007

- Trần Xuân Kế, Sử dụng hệ thống bài tập vật lí chương “Các định luật bảo

toàn” v ật lí lớp 10 nâng cao theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh, luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP Hồ Chí Minh, 2008

- Phạm Thị Phương, Lựa chọn và xây dựng tiến trình dạy học bài tập vật lí

chương “Các định luật bảo toàn” (vật lí10 – cơ bản) nhằm phát triển tư duy, năng lực sáng t ạo cho học sinh trường dân tộc nội trú trung học phổ thông, 2010

Với mong muốn xây dựng hệ thống bài tập chương “Các định luật bảo toàn” đầy

đủ, đa dạng, phương pháp sử dụng chúng phong phú hơn nên chúng tôi tiếp tục tuyển

chọn, xây dựng và đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống bài tập vào dạy học chương này

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Nhận thức và các giai đoạn của quá trình nhận thức

1.1.1 Nhận thức

Theo tri ết học Mác-Lênin, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực,

tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người trên cơ sở thực

tiễn [1]

Theo cu ốn giải thích thuật ngữ Tâm lý - Giáo dục học, nhận thức là toàn bộ

những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng [34]

Theo t ừ điển Tiếng Việt, nhận thức là nhận ra, biết được và hiểu được [30]

Theo t ừ điển Giáo dục học, nhận thức là quá trình hay kết quả phản ánh và tái tạo

hiện thực vào trong tư duy của con người Như vậy nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới [34]

Các nhà tâm lý cho r ằng, nhận thức là quá trình phản ánh thực tế khách quan của

con người, để thích nghi với nó hoặc để cải tạo nó Quá trình hoạt động nhận thức đi từ chưa biết đến biết, từ các thuộc tính bên ngoài đến các thuộc tính bên trong (bản chất)

của sự vật hiện tượng [9]

Trong đề tài này chúng tôi định nghĩa khái niệm nhận thức theo triết học

Mác-Lênin, nh ận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế

gi ới khách quan vào trong đầu óc của con người trên cơ sở thực tiễn

1.1.2 Các giai đoạn của quá trình nhận thức

Nh ận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của

quá trình nhận thức Đó là giai đoạn mà con người sử dụng các giác quan để tác động

trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắt các sự vật ấy Trực quan sinh động bao gồm ba hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng

C ảm giác là sự phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi

chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người

Trang 17

Tri giác là hình ảnh tương đối toàn vẹn về sự vật khi sự vật đó đang trực tiếp tác động vào các giác quan

Tri giác nảy sinh trên cơ sở của cảm giác, là sự tổng hợp của nhiều cảm giác

Bi ểu tượng là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn trực

quan sinh động Đó là hình ảnh cảm tính và tương đối hoàn chỉnh còn lưu lại trong bộ

óc người về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động trực tiếp vào các giác quan

Nh ận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp trừu tượng và khái quát những

thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng Đây là giai đoạn nhận thức thực

hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất có tính quy luật của các sự vật hiện tượng Vì vậy, nó đạt đến trình độ phản ánh sâu sắc hơn, chính xác hơn

và đầy đủ hơn cái bản chất của đối tượng Nhận thức lý tính hay tư duy trừu tượng được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán và suy luận

Khái ni ệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh những đặc tính

bản chất của sự vật Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp

biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật hay một lớp sự vật Vì vậy, các khái

niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua

lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển

Phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để khẳng

định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng

Suy lu ận là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri

sống và sự hấp dẫn và tình cảm của nó [7]

Trang 18

X.L Rubinstein thì cho rằng: Hứng thú luôn có tính chất quan hệ hai chiều, nếu

một vật nào đó làm tôi chú ý thì có nghĩa vật đó rất thích thú đối với tôi [17]

A.A.Liublinxkaia cho rằng hứng thú là thái độ nhận thức của con người đối với xung quanh, đối với một mặt nào đó của chính nó, đối với một lĩnh vực nhất định mà trong đó con người muốn đi sâu hơn [14]

Theo tác giả A.A.Xmiếcnôp, hứng thú là một xu hướng nhận thức riêng biệt của

cá nhân đối với những đối tượng và hiện tượng của thực tế [33]

P.A.Rudich thì hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận

thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướng tương đối ổn định của con người đối với các hoạt động nhất định [17]

Theo L.A.Gôđơn, hứng thú là sự kết hợp độc đáo của các quá trình tình cảm ý chí và các quá trình trí tuệ khiến cho tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao [12]

Nhà tâm lý học A.Kossakowski đã không chỉ chú ý tới tính lựa chọn của hứng thú mà còn nhấn mạnh tính tích cực của cá nhân đối với đối tượng có ý nghĩa đối với

họ Theo ông, hứng thú hướng tính tích cực tâm lý vào đối tượng nhất định với mục đích nhận thức chúng, tiếp thu những tri thức và nắm vững những hành động phù hợp,

hứng thú biểu hiện mối quan hệ có tính chất lựa chọn đối với môi trường và kích thích con người quan tâm tới đối tượng, tới tình huống, hành động quan trọng, có ý nghĩa đối với mình hơn là tới đối tượng, hành động khác

Theo Nguyễn Quang Uẩn, trong tâm lý học đại cương, hứng thú là thái độ đặc

biệt của cá nhân với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động [27]

Nhóm tác giả Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy cho rằng: Khi ta có

hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức và hiểu ý nghĩa của

nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do

đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó [9]

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, hứng thú có hai nghĩa: “Biểu hiện của một nhu cầu làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực

Trang 19

để cố gắng thực hiện” và “sự ham thích” [30]

Qua các tài liệu ở trên chúng tôi thấy rằng: Hứng thú là thái độ của cá nhân đối

v ới một đối tượng hay quá trình nào đó, đem lại những khoái cảm, thích thú và kích thích m ạnh mẽ đến cá nhân, đòi hỏi họ có thể huy động sinh lực một cách trọn vẹn để

th ực hiện

1.2.2 Hứng thú học tập

Học tập là một nhiệm vụ quan trọng của học sinh và trong quá trình học tập,

hứng thú học tập giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của quá trình học tập Nhờ hứng thú mà trong quá trình học tập, các em có thể giảm mệt

mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực tìm tòi, sáng tạo

Từ quá trình nghiên cứu hứng thú ở trên, chúng tôi cho rằng hứng thú học tập là

thái độ đặc biệt của người học đối với hoạt động học tập, đem lại những khoái cảm, thích thú, làm cho người học khát khao muốn tìm hiểu, khám phá

Trong hoạt động học tập, đối tượng gây cho người học hứng thú có thể là những

yếu tố bên ngoài của hoạt động học tập như điều kiện, phương tiện, kết quả…và cũng

có thể do những yếu tố nằm bên trong chính hoạt động đó như nội dung, ý nghĩa thực

tiễn, tầm quan trọng của đối tượng…

1.2.3 Biểu hiện của hứng thú học tập

Nhà tâm lý học N.G.Marôzôva cho rằng để phát hiện ra hứng thú học tập có thể căn cứ vào ba nhóm dấu hiệu dưới đây

- Những dấu hiệu đặc thù riêng của hứng thú, đó là những biểu hiện về hành vi

và hoạt động của chủ thể trong quá trình hoạt động học tập trên lớp

+ Tập trung chú ý trong giờ học: Khi hứng thú, cá nhân tập trung tư tưởng, không sao nhãng với vấn đề đang quan tâm

+ Khi theo dõi bài giảng, cá nhân tham gia vào bàn bạc, thảo luận những

vấn đề giáo viên đặt ra cho cả lớp Do đó việc cá nhân hăng hái giơ tay phát biểu

ý kiến xây dựng bài, số lượng và chất lượng của những bài phát biểu… là một

dấu hiệu chứng tỏ cá nhân có hứng thú học tập

+ Nảy sinh các câu hỏi trong quá trình hoạt động học tập Khi hứng thú, cá

Trang 20

nhân muốn đi sâu vào bản chất của đối tượng nhận thức, do đó nẩy sinh các câu hỏi và

sự tìm tòi lời giải đáp cho câu hỏi đó

- Những dấu hiệu của hứng thú có liên quan với sự thay đổi hành vi của cá nhân

ở ngoài giờ học: các cá nhân tranh luận với nhau về vấn đề đặt ra, suy nghĩ về nội dung bài học…

- Những dấu hiệu liên quan tới cách sống của cá nhân ở nhà là biểu hiện độ bền

vững, phát triển cao của hứng thú học tập như ở nhà cá nhân thường đọc những loại sách gì, sử dụng thời gian rảnh rỗi như thế nào, lựa chọn những hình thức ngoại khoá nào…

1.2.4 Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học vật lí

Để môn vật lí tạo ra và duy trì hứng thú học tập, người giáo viên cần phải:

- Chế biến mỗi bài học, mỗi sự kiện là một tình huống để học sinh tham gia giải quyết, không để tiết học trở thành một chuỗi những câu thuyết giảng trừu tượng

Đưa các nội dung bài học vào đời sống thực tế để học sinh nhìn thấy lợi ích của

việc học, thấy cái hay, cái đẹp của vật lí

Gây hứng thú bằng cách sử dụng thí nghiệm vật lí, ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học, sử dụng các sơ đồ, hình vẽ, tranh ảnh…

Gây hứng thú bằng việc sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học: GV nên

thường xuyên thay đổi các phương pháp cho phù hợp với nội dung truyền đạt để giúp

HS hứng thú trong quá trình tiếp nhận tri thức Tránh để cho các em rơi vào tâm trạng nhàm chán, lớp học nặng nề, giảm sút khả năng tiếp nhận tri thức

Sắp xếp lại các bài tập vật lí, sử dụng chúng có ý đồ phát triển rõ rệt, không biến các bài tập thành những công việc trả nợ cho thầy Các dạng bài tập phong phú, cách

sử dụng đa dạng sẽ khai thác được tối đa tác dụng của chúng trong quá trình dạy học

1.3 V ấn đề phát triển tư duy

1.3.1 Khái niệm về tư duy

Theo M.N Sađacôp, tư duy là sự nhận thức khái quát, gián tiếp các sự vật, hiện

tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của

Trang 21

chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượng mới, riêng rẽ

của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hoá đã thu nhận được [18]

Theo tác gi ả Bùi Văn Huệ, tư duy là một quá trình nhận thức lý tính xuất phát từ

hoàn cảnh có vấn đề, trong đó ta chủ yếu sử dụng ngôn ngữ và các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa nhằm chế biến các dữ kiện hiện

có (tài liệu nhận thức cảm tính) để tìm ra những thuộc tính mới, quan hệ mới, những thuộc tính bản chất giúp ta giải quyết được vấn đề [10]

Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng,

những mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu được vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán được những thuộc tính, hiện tượng, quan hệ mới [19]

Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà ta chưa biết [11]

Qua các tài liệu ở trên chúng tôi cho rằng: Tư duy là một quá trình nhận thức

khái quát và gián ti ếp phản ánh những thuộc tính bản chất, những liên hệ và quan hệ

có tính ch ất quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà ta chưa

bi ết

1.3.2 Các đặc điểm của tư duy

+ Tư duy chỉ bắt đầu từ một tình huống có vấn đề: Vấn đề là một câu hỏi, một

nhiệm vụ mà bằng những kiến thức, kinh nghiệm cũ không thể trả lời hoặc không thể

giải quyết được Tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý trong đó học sinh nhận thức được vấn đề và có nhu cầu giải quyết vấn đề đó, trên cơ sở đó, tư duy được bắt đầu + Tư duy có tính khái quát và gián tiếp Tư duy có tính khái quát vì nó phản ánh

những thuộc tính chung, những mối quan hệ, liên hệ chung cho một loạt các sự vật,

hiện tượng Tư duy có tính gián tiếp vì nó phải sử dụng công cụ là ngôn ngữ

+ Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ Không có ngôn ngữ làm phương

tiện thì không thể có quá trình tư duy vì ngay từ khâu mở đầu của tư duy là tình huống

Trang 22

có vấn đề đến quá trình thực hiện các thao tác tư duy và cuối cùng là sản phẩm của tư duy là khái niệm, phán đoán, suy lý đều phải sử dụng ngôn ngữ

+ Tư duy không tách rời nhận thức cảm tính Tư duy thường bắt đầu từ nhận thức

cảm tính và trong quá trình tư duy phải sử dụng nguồn tài liệu do nhận thức cảm tính thu nhận được Ngược lại, những kết quả của tư duy làm cho nhận thức cảm tính tinh

vi và nhạy bén hơn

1.3.3 Các thao tác tư duy

+ So sánh: là dùng trí óc đối chiếu các đối tượng hoặc những thuộc tính bộ

phận… để xem xét chúng giống nhau hoặc khác nhau, chúng đồng nhất hay không đồng nhất

Thao tác so sánh rất quan trọng K.Đ Usinski viết: “so sánh là cơ sở của mọi

hiểu biết tư duy Chúng ta nhận biết thế giới không ngoài cách thông qua so sánh và phân biệt với một sự vật gì khác thì chúng ta không thể có một ý niệm nào, và không

thể nói lên một điểm nào về sự vật đó cả” [10]

Còn Sêsênốp thì gọi “khả năng so sánh là kho tàng trí tuệ quý báu nhất của con người

+ Phân tích và t ổng hợp:

Phân tích là dùng trí óc phân chia đối tượng, hiện tượng thành những bộ phận, thuộc tính, quan hệ

Phân tích theo Đề-các là chia sự khó khăn càng nhiều phần càng nhỏ càng tốt để

có thể giải quyết chúng một cách dễ dàng hơn [10]

T ổng hợp là dùng trí óc để kết hợp những đối tượng, thuộc tính quan hệ…thành

một toàn thể

Phân tích và tổng hợp tuy trái ngược nhau nhưng liên quan chặt chẽ với nhau

Tổng hợp mà không phân tích thì trở thành chung chung, Đây là hai thao tác gắn bó

với nhau như hình với bóng

Trong khi tiến hành những thao tác này có thể phân tích mở đường cho tổng hợp,

hoặc có khi tổng hợp trước rồi phân tích, hoặc có khi cả phân tích và tổng hợp đều

diễn ra cùng một lúc

Trang 23

+ Tr ừu tượng hóa và khái quát hóa:

Tr ừu tượng hóa là dùng trí óc gạt bỏ khỏi đối tượng những bộ phận, thuộc tính,

quan hệ không cần thiết và chỉ giữ lại những yếu tố nào cần thiết để tư duy

Khái quát hóa là dùng trí óc bao quát nhiều đối tượng khác nhau trên cơ sở một

số thuộc tính, quan hệ bộ phận giống nhau sau khi đã gạt bỏ những đặc điểm khác nhau

1.3.4 T ư duy vật lí

Tư duy vật lí là kỹ năng quan sát các hiện tượng vật lí, phân tích một hiện tượng

phức tạp thành những bộ phận thành phần và xác lập ở trong chúng những mối liên hệ

và những sự phụ thuộc xác định; tìm ra những mối liên hệ giữa các mặt định tính và định lượng của các hiện tượng và của các đại lượng vật lí; đoán trước được các hệ quả

từ các lí thuyết và áp dụng được kiến thức của mình [25]

1.3.5 Các phương pháp rèn luyện tư duy cho học sinh trong dạy học vật lí

+ Nêu v ấn đề: Vì tư duy bắt đầu từ một vấn đề nên cần phải đặt rõ vấn đề cần

giải quyết trước khi cho học sinh học kiến thức mới hoặc khi rèn luyện kỹ năng Tất cả các bài học vật lí đều nhằm giải quyết một vấn đề nhất định, cái quan trọng là phải

nhấn mạnh vấn đề đó trước và sau khi kết thúc bài học

+ T ổ chức và tạo ra một tình huống có vấn đề: Hoạt động tư duy của học sinh chỉ

diễn ra tích cực khi vấn đề đặt ra kích thích và làm cho học sinh thích thú tìm hiểu vấn

đề Tình huống có vấn đề là một tình huống trong đó nảy sinh vấn đề cần đặt ra cho

học sinh và phải làm cho học sinh thích thú, tự giác, tích cực tìm hiểu vấn đề Sau đó trong suốt quá trình giải quyết vấn đề, người giáo viên phải bằng những phương pháp,

những biện pháp và những thủ thuật thích hợp nhằm cuốn hút học sinh theo dõi và tham gia vào hoạt động học tập

+ Rèn luy ện ngôn ngữ nhất là ngôn ngữ của các khái niệm, các đại lượng và các

định luật vật lí là nội dung cơ bản của việc rèn luyện tư duy Điều này đòi hỏi trước hết các kiến thức vật lí trên phải được giảng dạy chính xác, đầy đủ và có hệ thống Việc

nắm vững các kiến thức này không phải chỉ diễn ra trong đầu của học sinh mà phải

Trang 24

được phát biểu ra bằng lời thông qua việc mô tả các hiện tượng vật lí, giải thích chúng Tìm trong đó những đại lượng đặc trưng và các định luật chi phối các hiện tượng

+ Rèn luy ện và kích thích năng lực quan sát Vì tư duy chỉ có thể diễn ra trên cơ

sở các dữ kiện thu nhận được của nhận thức cảm tính nên việc rèn luyện và kích thích năng lực quan sát của học sinh là điều quan trọng Hoạt động quan sát của học sinh

diễn ra trong suốt quá trình học kiến thức và rèn luyện kỹ năng vật lí Thường cho học sinh quan sát những hình ảnh, hình vẽ, sơ đồ, mô hình, thí nghiệm hoặc quan sát trong tưởng tượng qua mô tả của giáo viên, của sách Quá trình quan sát này phải diễn ra dưới sự hướng dẫn và định hướng của giáo viên

+ Rèn luy ện các thao tác tư duy trên các đối tượng vật lí Trong quá trình dạy

kiến thức và rèn luyện kỹ năng vật lí, học sinh bắt buộc phải sử dụng các thao tác tư duy ở các mức độ khác nhau Vì vậy giáo viên cần có những biện pháp để học sinh chủ động tư duy và biết phương pháp tư duy có hiệu quả

1.3.6 Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển

- Tái hiện được kiến thức và sử dụng kiến thức đó một cách chính xác, hợp lý

- Thiết lập được mối liên hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng riêng rẽ, rút ra được cái riêng và cái chung của các sự vật hiện tượng đó

- Có thái độ hoài nghi khoa học, luôn học tập hoàn thiện tri thức, biết tự bồi dưỡng bản thân, tự xây dựng phương pháp học tập cho riêng mình

- Sử dụng kiến thức, kỹ năng trong tình huống mới một cách độc lập, sáng tạo, không theo khuôn mẫu

- Nhanh chóng nhận ra phương hướng giải quyết vấn đề và đề ra cách giải quyết

Trang 25

1.4 B ài tập vật lí

1.4.1 Khái niệm về bài tập vật lí

Theo nghĩa chung nhất, thuật ngữ “bài tập” (tiếng Anh là exercise, tiếng Pháp là exercice) dùng để chỉ một loạt hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ) [27]

Trong giáo dục, theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, thuật ngữ

“bài tập” có nghĩa là “bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”[32] Theo Thái Duy Tuyên “bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều

kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời

giải đáp mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra” [27]

Theo thầy giáo Phạm Hữu Tòng, bài tập vật lí được hiểu là một vấn đề đặt ra đòi

hỏi phải giải quyết nhờ những suy lý lôgic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ

sở các định luật và các phương pháp vật lí [25]

Qua các tài liệu trên thì một bài tập vật lí phải chứa đựng những thông tin về vật

lí (bài tập cho biết cái gì, yêu cầu cái gì), từ những thông tin đó, người học phải sử

dụng những kiến thức vật lí đã học (khái niệm, định luật, thuyết…) kết hợp với những suy luận toán học để giải quyết Do đó chúng tôi cho rằng bài tập vật lí bao gồm

nh ững điều kiện và yêu cầu đặt ra đòi hỏi người học phải sử dụng những kiến thức vật

lí (đôi khi cả kiến thức toán học) để giải đáp

1.4.2 Vai trò của bài tập vật lí

Trong các tài li ệu lý luận dạy học vật lí, bài tập vật lí có các vai trò sau đây:

1.4.2.1 Bài t ập giúp cho việc ôn tập, đào sâu, mở rộng kiến thức

Trong giai đoạn xây dựng kiến thức, học sinh đã nắm được cái chung, cái khái quát của các khái niệm, định luật và cũng là cái trừu tượng Trong các bài tập học sinh

phải vận dụng những kiến thức khái quát, trừu tượng đó vào những trường hợp cụ thể

rất đa dạng; nhờ thế mà học sinh nắm được những biểu hiện cụ thể của chúng trong

thực tế, phát hiện ngày càng nhiều những hiện tượng thuộc ngoại diên của các khái

niệm hoặc chịu sự chi phối của các định luật hay thuộc phạm vi ứng dụng của chúng

Trang 26

Quá trình nhận thức các khái niệm, định luật vật lí không thể kết thúc ở việc xây dựng

nội hàm của các khái niệm, định luật vật lí mà còn ở giai đoạn vận dụng vào thực tế Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kỹ thuật, bài tập vật lí sẽ giúp cho học sinh

thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẽ trong thực tiễn của các kiến thức đã

học

Vật lí học không phải chỉ tồn tại trong óc chúng ta dưới dạng những mô hình trừu tượng do ta nghĩ ra, mà là sự phản ánh vào trong óc chúng ta thực tế phong phú, sinh động Tuy nhiên, các khái niệm, định luật vật lí thì rất đơn giản, còn biểu hiện của chúng trong tự nhiên thì lại rất phức tạp, bởi vì các sự vật hiện tượng có thể bị chi phối

bởi nhiều định luật, nhiều nguyên nhân đồng thời hay liên tiếp chồng chéo lên nhau Bài tập sẽ giúp luyện tập cho học sinh phân tích để nhận biết được những trường hợp

phức tạp đó

Bài tập vật lí là một phương tiện củng cố, ôn tập kiến thức sinh động Khi giải bài tập, học sinh phải nhớ lại các kiến thức đã học, có khi phải sử dụng những kiến

thức thuộc nhiều chương, nhiều phần của chương trình

1.4.2.2 Gi ải bài tập vật lí rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào

th ực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát

Bài tập vật lí là một trong những phương tiện rất quý báu để rèn luyện kỹ năng,

kỹ xảo vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát đã thu nhận được để giải quyết các vấn đề của thực tiễn

1.4.2.3 Gi ải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh

Trong khi làm bài tập do phải tự mình phân tích các điều kiện của đề bài, tự xây

dựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra được nên

tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tính kiên trì được phát triển

1.4.2.4 Gi ải bài tập vật lí góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh

Trang 27

Có nhiều bài tập vật lí không chỉ dừng lại trong phạm vi vận dụng những kiến

thức đã học mà còn giúp bồi dưỡng cho học sinh tư duy sáng tạo Đặc biệt là những bài tập giải thích hiện tượng, bài tập thí nghiệm, bài tập thiết kế dụng cụ…

1.4.2.5 Gi ải bài tập vật lí để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh

Bài tập vật lí cũng là một phương tiện có hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững

kiến thức của học sinh Tuỳ theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độ nắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến

thức của học sinh được chính xác

* Theo chúng tôi thì ngoài các vai trò được nêu ở trên, bài tập vật lí còn có thêm các vai trò sau:

1.4.2.6 Bài t ập vật lý có tác dụng định hướng tư duy cho học sinh

Mở đầu bài học nghiên cứu bài mới, để giúp học sinh định hướng tư duy, giáo viên có thể giao cho các em một bài tập chứa đựng những mâu thuẩn trong nhận thức

của các em mà các em có nhu cầu giải quyết (tình huống có vấn đề) Khi đó các em làm việc (tư duy) không ngoài mục đích giải quyết vấn đề đã nêu tức là nó đã định hướng cho các em suy nghĩ, tìm tòi hay nói cách khác định hướng tư duy

1.4.2.7 Bài t ập vật lý giúp học sinh tự xây dựng kiến thức mới cho mình

Thông qua hoạt động giải bài tập các em sẽ tự rút ra kiến thức mới cho mình, đây

là một cách để giúp các em xây dựng kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc, củng

cố niềm tin khoa học, tập cho học sinh làm quen với phương pháp nghiên cứu Ngoài

ra nó còn giúp các em nhớ kiến thức lâu hơn, vận dụng chúng linh hoạt hơn

1.4.2.8 Bài t ập vật lí có tác dụng phát triển tư duy của học sinh

Khi đọc bài tập, các em phải sử dụng các thao tác của tư duy như phân tích để

biết được bài tập cho biết cái gì, cần tìm cái gì, sau đó các em phải sử dụng các thao tác phân tích hoặc tổng hợp hoặc cả phân tích và tổng hợp để thiết lập các mối quan hệ

giữa các đại lượng, rút ra kết quả cần tìm Đặc biệt, với bài tập được sử dụng để xây

dựng kiến thức mới thì càng giúp cho tư duy của các em phát triển vì sau khi phân tích

đề, các em phải tư duy để xác lập các mối liên hệ giữa các đại lượng Giai đoạn này khó khăn hơn nhiều so với giải các bài tập luyện tập vì không có con đường đi sẵn, các

Trang 28

em phải làm việc như một nhà nghiên cứu khoa học tự tìm kiếm đường đi, và khi bài

tập được hoàn thành các em lại dùng thao tác của tư duy là so sánh để thấy được đặc trưng riêng của đại lượng vừa tìm ra (tức kiến thức mới) Để xây dựng được kiến thức

mới tổng quát thì các em lại dùng thao tác của tư duy là trừu tượng hóa, khái quát hóa Như vậy cứ mỗi bài tập được giải, tư duy của các em lại phát triển lên một mức

độ cao hơn tức là tư duy phát triển

Ví dụ: Khi nghiên cứu bài mới về định luật bảo toàn động lượng, giáo viên có thể cho các em làm bài tập sau:

M ột hệ gồm hai vật m 1 và m 2 tương tác với nhau Vận tốc trước và sau va chạm

Phân tích đề: Bài toán có tương tác giữa hai vật, do đó có lực tương tác Như

v ậy mỗi vật vừa chịu tác dụng của nội lực, vừa chịu tác dụng của ngoại lực Dưới tác

d ụng của các lực này trong thời gian Δt thì trạng thái của mỗi vật thay đổi

L ập luận (sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp):

a) Bi ến thiên động lượng của vật 1: m1v'1−m1v1 =(f21+F1 )∆t

m

v

m  +  −  +  = ∆

)(

)''

Hay p−p =F∆t

'

Trang 29

V ới p và 'p là động lượng của hệ trước và sau va chạm FFF

Rút ra k ết luận: Khi không chịu tác dụng của ngoại lực, động lượng của hệ hai

v ật là một đại lượng bảo toàn

So sánh

H ệ ta xét có đặc trưng riêng: Hệ không chịu tác dụng của ngoại lực, từ đó xây

d ựng khái niệm hệ cô lập

H ệ cô lập là hệ không chịu tác dụng của ngoại lực hoặc nếu có thì các ngoài lực

ấy cân bằng nhau

Tr ừu tượng hóa:

Trong h ệ, ta chỉ quan tâm đến khối lượng và vận tốc của các vật mà không quan tâm đến hình dạng, kích thước, màu sắc, cấu tạo của vật…

Khái quát hóa để hình thành kiến thức mới tổng quát:

N ếu hệ cô lập gồm nhiều vật tương tác với nhau thì ta cũng rút ra được động lượng của hệ trước tương tác bằng động lượng của hệ sau tương tác:

Trang 30

Đề tài của chúng tôi nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập sử dụng trong toàn bộ

tiết học do đó các em học sinh sẽ được làm bài tập nhiều, các bài tập cũng đa dạng Do

đó chúng tôi tin tưởng rằng tư duy của các em cũng sẽ phát triển hơn

1.4.2.9 Bài t ập vật lí tạo cho các em hứng thú học tập

Th ứ nhất, bài tập vật lí kích thích tính tò mò của các em học sinh làm cho các

em h ứng thú với bài học

Trong các tiết học nghiên cứu bài mới, bài tập nêu vấn đề được sử dụng để mở đầu bài học gây sự chú ý ban đầu, kích thích hứng thú, khởi động tiến trình nhận thức

của học sinh vì trong bài tập nêu vấn đề có chứa đựng những mâu thuẫn trong nhận

thức giữa một bên là nhiệm vụ cần giải quyết với một bên là kiến thức, kỹ năng, phương pháp đã biết không đủ để giải quyết vấn đề hoặc mới nhìn không thấy rõ mối liên quan giữa chúng với vấn đề cần giải quyết

Ví dụ: Để mở đầu bài học quy tắc hợp

l ực song song cùng chiều, giáo viên đưa ra

bài t ập nêu vấn đề như sau

V ới bài tập này thì các em dễ dàng tìm được hợp lực của hai lực có giá đồng quy

b ằng quy tắc hình bình hành đã học Nhưng còn trường hợp hai lực song song, làm

th ế nào để tìm được hợp lực của hai lực này Các em rất tò mò muốn biết hợp lực của hai l ực này có phương, chiều, độ lớn như thế nào, có quy tắc nào để sử dụng tìm hợp

l ực của hai lực song song cùng chiều không Như thế có nghĩa là bài tập này đã kích thích h ứng thú học tập của các em

Th ứ hai, việc tìm ra cách giải, tìm ra kết quả bài tập mang lại niềm vui sướng,

t ạo hứng thú học tập cho các em

Có những bài tập chỉ cần áp dụng các công thức vừa học là có thể giải được nhưng cũng có những bài tập muốn giải được các em phải sử dụng kiến thức tổng hợp

của nhiều chương, nhiều phần Nhưng như thế các em vẫn chưa thể giải được vì khi

Trang 31

kết hợp kiến thức của nhiều chương, nhiều phần thì lượng kiến thức rất nhiều và có

những kiến thức không liên quan tới bài tập cần giải do đó buộc các em phải tư duy xem thử đề bài cho cái gì, cần tìm cái gì, ta cần sử dụng các kiến thức nào trong chương nào, phần nào để lập luận, để tìm ra kết quả Có khi làm theo cách này không được thì phải chuyển qua làm cách khác Điều này cho thấy hoạt động giải bài tập là

một hoạt động đòi hỏi người học phải tập trung trí lực, phải làm việc tích cực, phải cẩn

thận… Vì vậy khi làm xong mỗi một bài tập các em sẽ cảm thấy rất thư thái, rất vui vẻ

vì mình đã hoàn thành một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp Nếu bài tập càng khó thì khi

giải được các em lại càng vui, các em lại càng hứng thú, càng muốn làm những bài tập khó hơn nữa

th ấy công việc của mình thật có ý nghĩa do đó các em sẽ thấy hứng thú hơn

Kiến thức mới mà các em tìm ra khi giải bài tập trong tiết học bài mới sẽ được sử

dụng để giải bài tập nêu vấn đề, giải các bài tập củng cố, vận dụng và bài tập về nhà Không những thế kiến thức mới mà các em tìm ra lại được sử dụng để xây dựng các

kiến thức mới khác làm cho các em thấy mình có đóng góp sức lực và trí tuệ vào việc xây dựng tri thức khoa học do đó các em lại càng hứng thú hơn với việc học

Ví dụ: Để xây dựng công thức tính công tổng quát, giáo viên ra cho các em bài

tập như sau:

M ột lực Fkhông đổi có độ lớn 10 N tác dụng vào một vật làm vật di chuyển

m ột quãng đường 1m, hướng của lực hợp với hướng chuyển dời một góc α Tìm công

c ủa lực Ftrong các trường hợp sau:

a) α = 0 0

b) α = 60 0

Sau khi gi ải bài tập này, các em rút ra được công thức tính công tổng quát:

A = Fscosα

K ết quả này được sử dụng để giải bài tập nêu vấn đề, bài tập củng cố, vận dụng

và bài t ập về nhà có liên quan đến công cơ học Ngoài ra kiến thức mới này còn được

s ử dụng để xây dựng kiến thức mới khác như động năng, thế năng và cơ năng

Trang 32

Th ứ tư, giải bài tập vật lí giúp các em giải đáp được các hiện tượng trong thực

t ế tạo cho các em hứng thú với việc học

Bằng cách giải bài tập, các em giải đáp được những hiện tượng vật lí trong tự nhiên hoặc biết được những nguyên tắc hoạt động của các loại máy móc được sử dụng trong thực tế làm cho các em thấy thích thú

Ví d ụ: Khi nghiên cứu về chuyển động bằng phản lực giáo viên có thể ra bài tập sau:

M ột tên lửa đang bay với tốc

độ v 0 = 100 m/s Trong giây đầu

tiên tên l ửa đã phụt ra phía sau

m ột khối khí m = 1 tấn với tốc độ v

= 400 m/s

a) Tìm xung lượng của lực tác dụng lên khối khí trong thời gian trên

b) Tìm l ực tác dụng lên khối khí Từ đó suy ra phản lực tác dụng vào tên lửa

Sau khi giải bài tập này, các em sẽ biết nguyên tắc chuyển động của tàu vũ trụ,

của tên lửa…đó là nguyên tắc chuyển động bằng phản lực

Th ứ năm, cứ sau một bài tập được giải, tư duy của các em được nâng cao lên

m ột bậc, các em sẽ thấy vui hơn, hứng thú hơn

Học tập không ngoài mục đích mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ Như trên đã trình bày, giải bài tập vật lí giúp phát triển tư duy của học sinh Do đó cứ sau mỗi bài

tập được giải, các em khẳng định được trình độ nhận thức của mình được nâng lên một

bậc, có nghĩa là mục đích nâng cao trình độ đang từng bước được thực hiện Do đó các

em hứng thú hơn, tâm trạng thoải mái hơn Sẵn sàng chờ đón những nhiệm vụ mới khó khăn và phức tạp hơn

Nói tóm lại, bài tập vật lí là một phương tiện rất tốt trong việc tạo hứng thú học

tập của học sinh Khi đã hứng thú, các em sẽ huy động toàn bộ sinh lực, trí lực để thực

hiện do đó chất lượng học tập sẽ được nâng cao hơn

1.4.3 Các loại bài tập vật lí

Có nhiều cách phân loại bài tập vật lí

Trang 33

 D ựa vào các phương tiện giải, bài tập vật lí được chia thành bài tập định tính, bài t ập định lượng, bài tập thí nghiệm và bài tập đồ thị

 Bài t ập định tính

Bài tập định tính là những bài tập mà khi giải, học sinh không cần phải thực hiện các phép tính phức tạp mà chỉ phải làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được Muốn giải những bài tập định tính, học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic, do đó phải hiểu rõ bản chất (nội hàm) của các khái niệm, định luật vật lí và nhận

biết được những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể Đa số các bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một số hiện tượng xảy ra trong

những điều kiện xác định

Bài tập định tính có rất nhiều ưu điểm về mặt phương pháp học nhờ đưa được lý thuyết vừa học lại gần với đời sống xung quanh, các bài tập này làm tăng thêm ở học sinh hứng thú với môn học, tạo điều kiện phát triển óc quan sát của học sinh Vì phương pháp giải những bài tập này bao gồm việc xây dựng những suy lý logic dựa trên các định luật vật lí nên chúng là phương tiện rất tốt để phát triển tư duy của học sinh Việc giải các bài tập đó rèn luyện cho học sinh hiểu rõ được bản chất của các

hiện tượng vật lí và những quy luật của chúng, dạy cho học sinh biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn Việc giải các bài tập định tính này rèn luyện cho học sinh chú ý đến việc phân tích nội dung vật lí của các bài tập tính toán

 Bài t ập định lượng

Bài tập định lượng là những bài tập mà muốn giải chúng ta phải thực hiện một

loạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng, tìm giá trị một đại lượng

vật lí

Có thể chia bài tập định lượng ra làm hai loại:

- Bài t ập tập dượt: Là những bài tập cơ bản, đơn giản trong đó chỉ đề cập đến

một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản Những bài tập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho học sinh hiểu rõ ý nghĩa

của các định luật và các công thức biểu diễn chúng Sử dụng các đơn vị vật lí và thói quen cần thiết để giải các bài tập phức tạp hơn

Trang 34

- Bài t ập tổng hợp: Là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụng nhiều khái

niệm, định luật, dùng nhiều công thức Những kiến thức cần sử dụng trong việc giải bài tập tổng hợp có thể là những kiến thức đã học trong nhiều bài trước Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúp học sinh đào sâu mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữa các phần của chương trình vật lí, tập cho học sinh biết phân tích

những hiện tượng thực tế phức tạp ra thành những phần đơn giản tuân theo một định

luật xác định

 Bài t ập thí nghiệm

Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải

lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập Những thí nghiệm này thường là những thí nghiệm đơn giản với những dụng cụ đơn giản có thể tìm hoặc

tự giáo viên làm được

Bài tập thí nghiệm có tác dụng tốt về cả ba mặt giáo dưỡng, giáo dục và giáo dục

kỹ thuật tổng hợp, đặc biệt làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn

 Bài t ập đồ thị

Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phải tìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại, đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trình, diễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị

 D ựa vào trình tự dạy học, bài tập vật lý được chia thành:

 Bài t ập nêu vấn đề

Bài tập nêu vấn đề là bài tập được sử dụng để mở đầu bài học, nó chứa đựng tình

huống mà nếu dùng các kiến thức cũ học sinh không thể giải quyết được Bài tập nêu

vấn đề nhằm định hướng tư duy của học sinh, kích thích tính tích cực nhận thức của

học sinh, khêu gợi hứng thú và sự chú ý của học sinh

Bài tập nêu vấn đề cần hướng tới nội dung kiến thức cần xây dựng và việc tìm tòi

để giải quyết bài tập sẽ dẫn tới câu trả lời phải xây dựng kiến thức mới

 Bài t ập xây dựng kiến thức mới

Để giải quyết vấn đề nêu ra ở phần mở đầu bài học, cần phải xây dựng kiến thức

mới Từ những dữ kiện đã cho trong bài tập, các em phải tự lập luận để giải quyết yêu

Trang 35

cầu của đề bài Quá trình làm bài sẽ xuất hiện những đại lượng mới với những đặc trưng riêng Trên cơ sở đó xây dựng kiến thức mới

 Bài t ập củng cố, vận dụng

Việc củng cố kiến thức, kỹ năng được thực hiện gắn liền với việc lĩnh hội tri thức

mới Học sinh phải sử dụng những kiến thức mới vừa xây dựng được để giải bài tập Khi củng cố tri thức cần chú ý nhấn mạnh những cái cốt lõi, bản chất quan trọng nhất, giúp cho học sinh nắm chắc và ghi nhớ

Bài tập vận dụng là những bài tập tổng hợp và những bài tập có ứng dụng kiến

thức vật lý vào thực tiễn Bài tập vận dụng giúp học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng, phát triển các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh

 Bài t ập về nhà

Theo chúng tôi thì bài tập về nhà được hiểu như sau:

Sau khi học xong bài mới, giáo viên sẽ giao cho học sinh một số bài tập để học sinh làm ở nhà Những bài tập này thường chủ yếu là sử dụng những kiến thức vừa học

để giải, nhưng cũng có những bài tập phải kết hợp với kiến thức của các chương đã

học để giải

Việc giao bài tập về nhà cho học sinh giúp cho các em ôn tập và sử dụng các kiến

thức đã học thông qua đó rèn luyện tư duy, rèn luyện tính tự lực, tự giác và tạo ra thói quen học tập để việc học trở thành một nhu cầu của các em

Căn cứ vào hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải, bài t ập vật lí được chia làm hai loại: bài tập cơ bản và bài tập phức hợp

kiến thức ấy học sinh không thể nghĩ ra Ta có thể phân bài tập cơ bản thành hai loại:

vận dụng kiến thức đã biết và tìm kiếm thông tin tự nhiên

Trang 36

Bài tập cơ bản vận dụng kiến thức đã biết bao gồm bài tập dự đoán và giải thích

hiện tượng

Bài tập cơ bản tìm kiếm thông tin tự nhiên bao gồm bài tập quan sát; phân tích

một hiện tượng phức tạp thành những hiện tượng đơn giản; tác động vào tự nhiên để chi phối hiện tượng và khống chế nó; đo lường các đại lượng vật lí; tìm những mối quan hệ giữa những cái đo được, quan sát được để xác lập những tính chất, những mối quan hệ bên trong sự vật, hiện tượng, biểu thị bằng các đại lượng, quy tắc, định luật

vật lý; xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng và đại lượng vật lí

Bất kỳ loại bài tập vật lí nào dù là cơ bản hay là bài tập phức hợp khi giải chúng đều phải phân tích hiện tượng nêu lên trong bài tập, tức là phải căn cứ vào điều kiện cụ

thể của đầu bài mà vận dụng kiến thức đã biết để xem xét hiện tượng ấy thuộc loại

hiện tượng nào và tuân theo quy luật nào đã biết

1.4.4 Nguyên tắc xây dựng bài tập vật lí

a) Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp (phạm vi và số lượng các kiến thức, kỹ năng cần vận dụng từ một đề tài đến nhiều đề tài, số lượng các đại lượng cho biết và các đại lượng phải tìm…) giúp học sinh nắm được phương pháp

giải các loại bài tập điển hình

b) Mỗi bài tập phải là một mắt xích trong hệ thống bài tập, đóng góp một phần nào đó vào việc củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức

c) Hệ thống bài tập cần bao gồm nhiều thể loại bài tập: Bài tập giả tạo và bài tập

có nội dung thực tế, bài tập luyện tập và bài tập sáng tạo, bài tập mang tính chất ngụy

biện và nghịch lý, bài tập có nhiều cách giải khác nhau

Trang 37

- Bài t ập giả tạo là bài tập mà nội dung của nó không sát với thực tế, các quá

trình tự nhiên được đơn giản hoá đi nhiều hoặc ngược lại, cố ý ghép nhiều yếu tố thành

một đối tượng phức tạp để luyện tập nghiên cứu Bài tập giả tạo thường là bài tập định lượng có tác dụng giúp học sinh sử dụng thành thạo các công thức để tính đại lượng nào đó khi biết các đại lượng khác có liên quan

- Bài t ập có nội dung thực tế là bài tập có đề cập tới những vấn đề có liên quan

trực tiếp tới đối tượng có trong đời sống, kỹ thuật nhưng được thu hẹp và đơn giản hoá

đi nhiều so với thực tế

- Bài t ập luyện tập được dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng các kiến thức đã

học để giải từng loại bài tập theo mẫu xác định Việc giải những bài tập loại này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủ yếu cho học sinh luyện tập để nắm vững cách giải đối với từng loại bài tập nhất định

- Bài t ập sáng tạo là bài tập mà các dữ kiện cho trong đầu bài không chỉ dẫn trực

tiếp hay gián tiếp cách giải Các bài tập sáng tạo có tác dụng rất lớn trong việc phát triển tính tự lực và sáng tạo của học sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức chính xác, sâu sắc và mềm dẻo

1.4.5 Phương pháp giải bài tập vật lí

Mục tiêu cần đạt tới khi giải một bài tập vật lí là tìm được câu trả lời đúng đắn,

giải đáp được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học chặt chẽ

Các bước chung của việc giải một bài toán vật lí:

Bước thứ nhất: Tìm hiểu bài

+ Đọc ghi ngắn gọn các dữ kiện xuất phát và cái phải tìm

+ Mô tả lại tình huống được nêu trong đề bài, vẽ hình minh họa

+ Nếu đề bài yêu cầu thì phải dùng đồ thị hoặc làm thí nghiệm để thu được các

dữ liệu cần thiết

Bước thứ hai: Xác lập các mối liên hệ cơ bản của các dữ kiện xuất phát và của

cái phải tìm

+ Đối chiếu các dữ liệu xuất phát và cái phải tìm, xem xét bản chất vật lí của tình

huống đã cho để nghĩ đến các kiến thức, các định luật, các công thức có liên quan

Trang 38

+ Xác lập mối liên hệ cơ bản cụ thể của các dữ liệu xuất phát và của cái phải tìm + Tìm kiếm, lựa chọn các mối liên hệ tối thiểu cần thiết, sao cho thấy được có

mối liên hệ của cái phải tìm với các dữ liệu xuất phát, từ đó hy vọng có thể rút ra cái

cần tìm

Bước thứ ba: Rút ra kết quả cần tìm

Từ các mối liên hệ cần thiết đã xác lập được, tiếp tục luận giải, tính toán để rút ra

kết quả cần tìm

Bước thứ tư: Kiểm tra, xác nhận kết quả

Để có thể xác nhận kết quả cần tìm, cần kiểm tra lại việc giải theo một số cách sau đây:

+ Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi, xét hết các trường hợp chưa

+ Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không

+ Kiểm tra thử nghiệm xem có phù hợp không

+ Xem xét kết quả về ý nghĩa thực tế có phù hợp không

+ Kiểm tra kết quả bằng thực nghiệm xem có phù hợp không

+ Giải bài toán theo cách khác xem có cùng kết quả không

1.4.6 Phương pháp sử dụng bài tập vật lí cho một tiết học

Theo chúng tôi, với từng giai đoạn khác nhau thì cách sử dụng bài tập cũng khác

nhau

Giai đoạn 1: Mở đầu bài học

Đây là giai đoạn tạo bầu không khí học tập tích cực cho toàn bộ tiết học Với

những bài tập sử dụng để mở đầu bài học (bài tập nêu vấn đề) phải đơn giản, chứa đựng những mâu thuẩn trong nhận thức của các em mà các em mong muốn giải quyết

Những bài tập đó có thể là bài tập chưa đủ dữ kiện, cũng có thể các em chưa đủ kiến

thức để làm… Để từ đó hình thành

câu hỏi tức vấn đề cần nêu

Ví d ụ: Để mở đầu bài học

ph ản xạ toàn phần giáo viên có thể

ra m ột bài tập như sau:

Trang 39

Chi ếu một tia sáng từ môi trường nước có chiết suất 4/3 tới mặt phân cách giữa hai môi trường nước và không khí dưới góc tới i (hình 1.3) Tìm tia khúc xạ trong các trường hợp sau:

a) Góc t ới i = 30 0

Câu a các em áp d ụng định luật khúc xạ ánh sáng sẽ tìm ra được góc khúc xạ Câu b s ẽ tạo bất ngờ cho học sinh khi các em áp dụng định luật khúc xạ không thể tìm được góc khúc xạ do sinr >1 Từ đó các em đặt câu hỏi, tại sao trong trường hợp này

l ại không tìm được tia khúc xạ? Trong trường hợp này tia sáng đã đi đâu?

Giai đoạn 2: Nghiên cứu bài mới

Ngay sau khi nêu vấn đề, giáo viên lại tiếp tục hướng dẫn học sinh nghiên cứu để xây dựng kiến thức mới

Mỗi bài tập đã chứa đựng các thông tin (bài tập cho biết gì, cần tìm cái gì) Các

em phải dựa vào đó để xác lập các mối liên hệ, rút ra kết quả Nhưng không như các bài tập các em đã làm trước đó, bài tập xây dựng kiến thức mới không có phương pháp

giải chung nào được xây dựng, tức không có con đường đi sẵn mà các em phải tự tìm tòi để vạch ra các hướng giải quyết vì thế nên tư duy của các em sẽ rất phát triển Để

hỗ trợ các em, vừa giúp các làm bài vừa giúp các em phát triển tư duy thì giáo viên chỉ đưa ra các gợi ý, các câu hỏi mang tính chất định hướng chứ không phải là những gợi

ý hay câu hỏi cụ thể

Ví d ụ: Để xây dựng định luật

Ôm cho h ọc sinh bằng suy luận toán

h ọc, giáo viên có thể yêu cầu học

sinh làm bài t ập sau:

Cho m ột mạch điện như hình vẽ (hình 1.4)

Tìm m ối liên hệ giữa cường độ dòng điện chạy trong mạch với suất điện động, điện trở trong và điện trở mạch ngoài

V ới bài tập này, sau khi cùng các em phân tích đề bài, giáo viên có thể định hướng cho các em làm việc bằng các câu hỏi như sau:

Câu h ỏi 1: Nguồn điện có tác dụng gì?(nguồn điện có tác dụng tạo ra và duy trì

hi ệu điện thế giữa hai cực của nguồn)

Trang 40

Câu h ỏi 2: Vậy nguồn điện tạo ra và duy trì hiệu điện thế giữa hai cực của nguồn

b ằng cách nào?(Nguồn điện thực hiện công – công của nguồn điện)

Câu h ỏi 3: Khi hai cực của nguồn được nối thành một mạch kín với một điện trở

R thì năng lượng do nguồn điện tạo ra sẽ được dùng làm gì?(tỏa nhiệt)

Câu h ỏi 4: Từ định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, chúng ta suy ra điều gì?

Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em sẽ tự rút ra được

r R

Sau đó giáo viên có thể đưa ra một số bài tập để học sinh củng cố và vận dụng

những kiến thức vừa mới xây dựng được

Với những bài tập củng cố, vận dụng, đầu tiên giáo viên nên chọn những bài tập đơn giản có sử dụng kiến thức mới vừa xây dựng để các em nhớ kiến thức Sau đó

mức độ khó của bài tập tăng lên từ từ để kích thích các em tư duy, từ đó các em sẽ

hứng thú hơn Tránh tình trạng chỉ ra các bài tập quá đơn giản (chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ và áp dụng công thức có sẵn) làm các em thấy dễ rồi sinh ra chủ quan và lơ là

với việc học, hạn chế khả năng tư duy

Để tăng hứng thú, rèn luyện kỹ năng làm việc tập thể của các em giáo viên nên tổ

chức hoạt động nhóm cho học sinh tự làm việc

Trình tự tổ chức hoạt động nhóm được trình bày trong hình 1.5

Ngày đăng: 02/01/2021, 11:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w