trong quá trình dạy học môn Vật lí, từ bài giảng lí thuyết, thực hành đến các hoạt động ngoại khóa, giáo viên bộ môn này cần tạo điều kiện để HS quen biết với những ứng dụng của kiến thứ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐỖ HƯƠNG TRÀ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là của tôi Các kết quả trong luận văn là trung
thực và chưa từng được công bố trước đây
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã nhiệt tình dạy dỗ giúp tôi thêm nhiều
hiểu biết và hoàn thiện mình hơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến cô Đỗ Hương Trà, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy cô Trường Trung học phổ thông Quang Trung (Bình Thuận) đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình TNSP, cảm ơn các
em lớp 11A1 đã đồng hành cùng tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN I
L ỜI CẢM ƠN II
M ỤC LỤC III DANH M ỤC CÁC BẢNG VII DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ IX
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY H ỌC DỰ ÁN GẮN VỚI ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGO ẠI KHÓA VẬT LÍ 6
1.1 Phát huy tính tích cực trong học tập 6
1.1.1 Tính tích cực trong học tập 6
1.1.2 Các biện pháp phát huy tính tích cực trong học tập 7
1.2 Dạy học dự án 10
1.2.1 Khái niệm dạy học dự án 10
1.2.2 Mục tiêu của dạy học dự án 10
1.2.3 Đặc điểm của dạy học dự án 11
1.2.4 Tiến trình dạy học dự án 12
1.2.5 Vai trò của giáo viên và HS trong dạy học dự án 14
1.2.6 Tác dụng của dạy học dự án 15
1.3 Tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa 16
1.3.1 Hoạt động ngoại khóa 16
1.3.2 Tác dụng của hoạt động ngoại khóa 16
1.3.3 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí 17
Trang 61.3.4 Quy trình tổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa 19
1.4 Giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông 20
1.4.1 Một số khái niệm 20
1.4.2 Mục đích, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp 22
1.4.3 Định hướng nghề cho HS 23
1.5 Cơ sở thực tiễn của việc định hướng nghề cho HS trong dạy học Vật lí 30
1.5.1 Mục đích nghiên cứu 30
1.5.2 Nội dung nghiên cứu 31
1.5.3 Phương pháp nghiên cứu 31
1.5.4 Kết quả nghiên cứu 31
1.6 Kết luận chương 1 39
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DỰ ÁN QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA PHẦN QUANG HÌNH H ỌC – VẬT LÍ 11 ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ CHO HỌC SINH 40
2.1 Nội dung kiến thức phần Quang hình học - Vật lí 11 cơ bản với nội dung nghề nghiệp 40
2.2 Thiết kế tiến trình tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khóa để định hướng nghề cho HS 41
2.2.1 Dự án 1: Lĩnh lực y học 41
2.2.2 Dự án 2: Lĩnh vực nhiếp ảnh 44
2.2.3 Dự án 3: Lĩnh vực viễn thông 46
2.2.4 Dự án 4: Lĩnh vực giao thông 48
2.2.5 Dự án 5: Lĩnh vực công nghệ sinh học 49
2.3 Kế hoạch thực hiện dự án qua hoạt động ngoại khóa 52
Trang 72.3.1 Chuẩn bị 52
2.3.2 Thực hiện dự án 52
2.3.3 Tổ chức buổi ngoại khóa báo cáo sản phẩm 53
2.3.4 Đánh giá, tổng kết 53
2.4 Công cụ đánh giá dự án 54
2.4.1 Đánh giá tính tích cực, tự lực của HS 54
2.4.2 Đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn nghề nghiệp 60
2.5 Kết luận chương 2 65
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 66
3.2 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 66
3.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm 66
3.4 Những thuận lợi và khó khăn của quá trình thực nghiệm sư phạm 66
3.5 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 67
3.6 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 69
3.7 Kết quả thực nghiệm sư phạm 70
3.7.1 Phân tích diễn biến TNSP và đánh giá định tính 70
3.7.2 Đánh giá định lượng 85
3.8 Kết luận chương 3 98
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 101
PH Ụ LỤC 103
Trang 8DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Th ứ tự Ch ữ viết tắt N ội dung
1 CHBH Câu hỏi bài học
2 CHKQ Câu hỏi khái quát
Trang 9DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Sự liên quan giữa các tri thức ngành nghề với kiến thức vật lí 26
Bảng 1.2 Khó khăn của HS trong việc chọn nghề 31
Bảng 1.3 Nhận thức của HS về tầm quan trọng của hoạt động định hướng nghề 31
Bảng 1.4 Thái độ tích cực của HS khi tham gia các hoạt động hướng nghiệp 32
Bảng 1.5 Khó khăn khi kết hợp nội dung hướng nghiệp vào giờ vật lí 33
Bảng 1.6 Hoạt động tích cực HS được thực hiện trong ngoại khóa vật lí 36
Bảng 1.7 Tần suất và tính hiệu quả việc tổ chức dạy học dự án qua HĐNK Vật lí 37
Bảng 2.1 Mối liên quan giữa kiến thức Quang hình học với một số ngành nghề 39
Bảng 2.2 Tổng quan dự án 1 40
Bảng 2.3 Tổng quan dự án 2 43
Bảng 2.4 Tổng quan dự án 3 45
Bảng 2.5 Tổng quan dự án 4 47
Bảng 2.6 Tổng quan dự án 5 48
Bảng 2.7 Tiêu chí đánh giá thành viên trong nhóm (dành cho HS) 52
Bảng 2.8 Phiếu đánh giá thành viên trong nhóm (dành cho HS) 54
Bảng 2.9 Tiêu chí đánh giá quá trình làm việc nhóm (dành cho giáo viên) 56
Bảng 2.10 Phiếu đánh giá quá trình làm việc nhóm (dành cho giáo viên) 57
Bảng 2.11 Nội dung khảo sát tính tích cực của HS trước và sau tác động 58
Bảng 2.12.Tiêu chí đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn nghề nghiệp 59
Bảng 2.13 Phiếu đánh giá sản phẩm dự án (dành cho mỗi HS) 60
Bảng 2.14 Phiếu đánh giá sản phẩm dự án (dành cho GV) 61
Bảng 3.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 65
Bảng 3.2 Tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 67
Bảng 3.3 Ý tưởng dự án của các nhóm 68
Bảng 3.4 Phân công công việc của nhóm Đứt thì nối 71
Bảng 3.5 Kết quả đánh giá sản phẩm dự án 79
Bảng 3.6 Kết quả đánh giá quá trình làm việc nhóm (GV đánh giá) 79
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp điểm quá trình của các thành viên trong lớp 83
Trang 10Bảng 3.8 Phân bố điểm quá trình của các nhóm 84
Bảng 3.9 Thang đo tính tích cực của HS 85
Bảng 3.10 Điểm thu được từ thang đo tính tích cực của HS 86
Bảng 3.11 So sánh điểm trung bình của lớp TN trước và sau TĐ ở tiêu chí 2 87
Bảng 3.12 Kiểm định thống kê sự khác biệt về điểm trung bình của tiêu chí 2 88
Bảng 3.13 So sánh kết quả từ thang đo tính tích cực của HS trước và sau tác động 89
Bảng 3.14 Kết quả sản phẩm dự án của các nhóm 91
Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả dự án của các thành viên các nhóm 92
Bảng 3.16 So sánh số lượng nghề liên quan đến vật lí mà HS lớp thực nghiệm nêu được trước và sau dự án 93
Trang 11DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Đặc điểm của dạy học dự án [2] 11
Hình 1.2 Các giai đoạn dạy học dự án 13
Hình 1.3 Sơ đồ tam giác hướng nghiệp và các hình thức hướng nghiệp 21
Hình 1.4 Tần suất kết hợp nội dung hướng nghiệp vào các giờ vật lí 33
Hình 1.5 Khó khăn khi kết hợp nội dung hướng nghiệp vào giờ vật lí 34
Hình 1.6 Tỉ lệ HS tham gia hoạt động ngoại khóa Vật lí 35
Hình 2 Sơ đồ các dự án định hướng nghề cho HS 40
Hình 3.1 Nhóm Đứt thì nối báo cáo dự án 74
Hình 3.2 Nhóm Bác sĩ nhãn khoa báo cáo dự án 75
Hình 3.3 Sự yêu thích dự án của HS 80
Hình 3.4 Sự hài lòng về kết quả dự án của HS 81
Hình 3.5 Nhìn lại quá trình thực hiện dự án của một thành viên nhóm Đứt thì nối 82
Hình 3.6 Biểu đồ so sánh phân bố điểm quá trình làm việc nhóm giữa các nhóm 85
Hình 3.7 Đồ thị điểm thu được từ thang đo tính tích cực của HS 87
Trang 12M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
Học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT) luôn trăn trở về nghề nghiệp tương lai
của mình Tuy nhiên vì chưa có một định hướng rõ ràng, thông tin nghề nghiệp còn mơ
hồ nên nhiều em khi nộp hồ sơ thi vào các trường đại học, cao đẳng vẫn chưa đánh giá được đúng năng lực, hứng thú, sở thích với nghề nghiệp mà mình đang chọn Và cũng
bởi nguyên nhân trên mà rất nhiều em HS khi ngồi trên giảng đường đại học, trường chuyên nghiệp mới nhận ra rằng nghề mình chọn không phù hợp với bản thân
Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) là một trong những thành phần tạo nên giáo dục
tổng thể nhằm hình thành và phát triển nhân cách đối với HS Nếu sớm thực hiện GDHN
một cách nghiêm túc cho HS thì đó sẽ là cơ sở để giúp cho các em chọn nghề đúng đắn,
có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội Hơn nữa, việc tăng cường GDHN còn góp phần thực hiện phân luồng trong đào tạo, giữ vai trò rất quan
trọng trong việc giảm thiểu tình trạng mất cân đối trong nguồn nhân lực của nước ta trong
thời gian tới Điều 27 Luật Giáo dục cũng đã khẳng định: “Giáo dục THPT nhằm giúp
HS củng cố và phát triển những kết quả của trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung
cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [5]
Việc định hướng nghề cho HS không chỉ là nhiệm vụ của môn Giáo dục hướng nghiệp, mà đó còn là trách nhiệm của các bộ môn khác, vì “bản thân các kiến thức trong các môn học mà HS lĩnh hội sẽ tạo thành nền móng cho sự tiếp thu kiến thức nghề nghiệp, bởi lẽ đó là hệ thống tri thức cơ bản, chung nhất, được tất cả các ngành nghề lấy
đó làm điểm tựa để bồi đắp dần tri thức chuyên ngành cho giai đoạn tiếp theo” [1] Trong các môn học đó, Vật lí là môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác hướng nghiệp vì nội dung các kiến thức vật lí phản ánh những dạng vận động cơ bản và biến đổi
của vật chất, chứa đựng lượng thông tin nghề nghiệp rất lớn và gần gũi với HS Vậy nên
Trang 13trong quá trình dạy học môn Vật lí, từ bài giảng lí thuyết, thực hành đến các hoạt động ngoại khóa, giáo viên bộ môn này cần tạo điều kiện để HS quen biết với những ứng dụng
của kiến thức vật lí mà các em được học trong thực tiễn cuộc sống, trong các ngành nghề Điều này không những giúp các em có một lượng thông tin bổ ích cho việc chọn nghề trong tương lai mà còn khơi gợi ở các em sự hứng thú học tập môn Vật lí Tuy nhiên người giáo viên nói chung và giáo viên Vật lí nói riêng trong quá trình tích hợp nội dung nghề nghiệp vào môn học của mình không đơn giản chỉ là thông tin nghề cho HS, mà còn
phải thay đổi phương pháp dạy học để giúp chính bản thân các em có được sự tích cực, tự
chủ đi tìm thông tin cần cho mình
Dạy học dự án chính là một trong những phương pháp dạy học tích cực có khả năng đáp ứng những yêu cầu trên Dạy học dự án có khả năng giúp HS có được sự liên kết
giữa kiến thức và thực tiễn, từ đó hướng tới phát triển kĩ năng sống cũng như khơi dậy sự
hứng thú, say mê, tích cực, tự chủ của HS trong học tập
Hoạt động ngoại khóa là hình thức dạy học có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong
việc bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, phát triển các kĩ năng, vận dụng kiến thức vào
thực tiễn, tăng cường lòng đam mê và hứng thú trong học tập Do đó chúng tôi chọn giờ
hoạt động ngoại khóa để tổ chức việc dạy học Vật lí gắn với định hướng nghề cho các
em
Trong số nội dung kiến thức trong chương trình vật lí phổ thông, phần Quang hình
học là phần kiến thức có rất nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật, gắn liền với các công việc thuộc các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, gần gũi và có sức hấp dẫn với HS Trước đây đã có nhiều nghiên cứu về dạy học chủ đề Quang hình học Các nghiên
cứu đó chủ yếu đề cập đến việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học
chủ đề này, như: Vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vào dạy học phần “Quang hình
Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [12], Tổ chức dạy học theo nhóm một số kiến
năm 2012, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [6], Vận dụng phương pháp dạy học
Trang 14Nguyễn Thị Thanh Thảo – Luận văn thạc sĩ năm 2013, Đại học Sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh [13], Xây d ựng tiến trình dạy học một số kiến thức phần quang hình học – vật
lí 11 nâng cao theo các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm nhằm phát huy tính tích
văn thạc sĩ năm 2012, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh [11] Cũng có một số đề tài nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp cho HS phổ thông, tuy nhiên việc định hướng nghề cho HS trong dạy học Vật lí thì chưa được quan tâm đúng mức, mới chỉ có một đề tài nghiên cứu theo hướng này, đó là Tổ chức dạy học dự án với nội dung nghề nghiệp
hoạt động ngoại khóa phần Quang hình học - Vật lí 11 nhằm giúp HS vận dụng kiến thức
vật lí vào thực tiễn nghề nghiệp, phát huy được tính tích cực của HS trong học tập
4 Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung kiến thức phần Quang hình học Vật lí 11
- Hoạt động của giáo viên và HS trong quá trình hoạt động ngoại khóa nội dung nghề nghiệp vận dụng các kiến thức Quang hình học Vật lí 11
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Trang 15- Nhiệm vụ 1: Xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài:
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học tích cực, làm rõ cơ sở lí luận của DHDA và hình thức hoạt động ngoại khóa
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông
- Nhiệm vụ 2: Xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài
+ Tìm hiểu thực trạng dạy học Vật lí theo hướng tích cực ở trường phổ thông
+ Tìm hiểu nhận thức của giáo viên và HS về công tác hướng nghiệp và thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
+ Tìm hiểu thực trạng tổ chức DHDA qua hoạt động ngoại khóa Vật lí ở trường phổ thông
- Nhiệm vụ 3: Phân tích nội dung kiến thức phần Quang hình học - Vật lí 11 và nghiên cứu tổ chức DHDA thông qua hoạt động ngoại khóa vận dụng các nội dung đó kết
hợp với nội dung nghề nghiệp
- Nhiệm vụ 4: Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP), xây dựng các công cụ đánh giá, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm, từ đó rút ra những sửa đổi bổ sung cần thiết
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của dạy học tích cực, làm rõ cơ sở lí luận của DHDA và hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa
+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông
+ Nghiên cứu mục tiêu, nội dung của sách giáo khoa Vật lí 11 chủ đề Quang hình
- Điều tra thực tiễn
+ Điều tra thực trạng dạy học Vật lí theo hướng tích cực ở trường phổ thông
Trang 16+ Điều tra nhận thức của giáo viên và HS về công tác hướng nghiệp và thực trạng Giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
+ Điều tra thực trạng tổ chức DHDA qua hoạt động ngoại khóa Vật lí ở trường phổ thông
- Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức hoạt động ngoại khóa theo kế hoạch
7 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lí luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa các lí luận về dạy học tích cực và giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT, trong đó nhấn mạnh kiểu DHDA và giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học Vật lí
- Về mặt thực tiễn
Luận văn đóng góp các giáo án tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí nhằm định hướng nghề cho HS, giúp HS vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn nghề nghiệp, phát huy được tính tích cực của HS trong học tập
8 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học dự án gắn với định hướng nghề thông qua hoạt động ngoại khóa Vật lí
Chương 2: Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khóa phần Quang hình học – Vật lí 11 để định hướng nghề cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA VẬT LÍ
- Bắt chước: cố gắng làm theo sự hướng dẫn của giáo viên
- Tìm tòi: tìm ra vấn đề cần giải quyết, tìm ra thuộc tính của đối tượng
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới độc đáo, hữu hiệu, nhanh chóng và chính xác Tính tích cực học tập thể hiện ở nhận thức, thái độ, hành vi của người học Dưới đây là một số đặc điểm nhận thức, thái độ và hành vi thể hiện tính tích cực học tập:
+ Hiểu được sự hợp tác sẽ tạo nên hiệu quả cao trong công việc
+ Chú trọng sự nhìn nhận, đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập của bản thân
- Đặc điểm thái độ thể hiện tính tích cực học tập:
+ Có hứng thú học tập
+ Có thái độ học tập độc lập và hợp tác
+ Tập trung chú ý tới bài học/ nhiệm vụ học tập
+ Tự giác tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi thảo luận, ghi chép
Trang 18+ Có trách nhiệm trong quá trình học tập
- Đặc điểm hành vi thể hiện tính tích cực học tập:
+ Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình
+ Thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao
+ Tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm,…
+ So sánh, phân tích, kiểm tra
+ Thực hành, thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ làm lại
+ Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn
+ Giúp đỡ, làm việc chung, liên lạc
+ Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
+ Có sáng tạo trong quá trình học tập
1.1.2 Các bi ện pháp phát huy tính tích cực trong học tập
Tính tích cực bắt nguồn từ lợi ích, nhu cầu của con người, được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động Do đó để phát huy tính tích cực cần [1]:
- Khai thác động lực học tập ở người học để phát triển chính họ
Dạy kiến thức không bằng dạy cách học Nhưng dạy cách học cũng trở nên vô nghĩa khi chính người học không có động cơ học tập Thật vậy, tác động của giáo viên chỉ là
yếu tố ngoại lực và sẽ không tạo được hiệu quả mong đợi khi mà chính yếu tố nội lực của người học không được khai thác Nội lực ở đây chính là động lực học tập HS sẽ không
thể tìm thấy hứng thú khi không có động lực, nên dù có cố gắng học để vừa lòng ba mẹ,
thầy cô hoặc ganh đua với bạn bè thì việc học đó cũng không thể giúp các em phát triển
một cách toàn diện, dễ dẫn đến tâm trạng chán nản, nặng nề Do đó, giáo viên trong quá trình dạy học tích cực phải biết khai thác động lực học tập của HS Khi các em thấy việc
học thật sự có ý nghĩa với bản thân, việc học trở thành niềm vui thì các em sẽ học tập một cách chủ động và có trách nhiệm
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt nhất cho họ thích ứng với đời sống xã hội
Trang 19Đời sống xã hội muôn màu muôn vẻ và đầy thách thức nên cần có sự chuẩn bị tốt
nhất giúp HS có thể thích ứng Nếu nhà trường chỉ là nơi cung cấp kiến thức với cách
thức như nhau với tất cả mọi người trong khi mỗi người lại có nhu cầu khác nhau thì hiệu
quả giáo dục sẽ rất thấp Do đó dạy học tích cực là phải đặt lợi ích, nhu cầu của HS ở vị trí quan trọng số một để giúp mỗi cá nhân trưởng thành hơn, thích nghi tốt hơn với đời
sống xã hội
- Tổ chức các hoạt động của HS và chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Trong dạy học truyền thống, HS thụ động tiếp nhận kiến thức từ giáo viên, ít được
tổ chức các hoạt động học, trong khi chính việc được tham gia trực tiếp thảo luận, quan sát, làm thí nghiệm, phát hiện vấn đề, đề xuất giả thuyết, mạnh dạn trình bày quan điểm
cá nhân,… khi giải quyết một vấn đề học tập có liên quan đến thực tiễn đích thực của các
em sẽ giúp các em không những chiếm lĩnh được kiến thức, kĩ năng mà còn rèn luyện được tính tự giác, sáng tạo, trách nhiệm trong từng việc nhỏ
Không ai có thể truyền thụ cho HS tất cả những tri thức mà các em sẽ cần trong mọi hoàn cảnh, do đó dạy học tích cực xem việc chú trọng rèn luyện phương pháp tự học không chỉ là một biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy
học
- Tăng cường hoạt động học tập của mỗi các nhân, phối hợp với học hợp tác
Song song với việc tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân, giao nhiệm vụ
khả thi và phát huy tối đa khả năng của người học, giáo viên cũng cần chú trọng tạo điều
kiện để HS học hợp tác Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, HS được trình bày quan điểm cá nhân; trong quá trình làm việc nhóm, HS sẽ rèn được kĩ năng hợp tác, giao
tiếp, hình thành thói quen tự giác, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau và biết chịu trách nhiệm Như vậy không những hiệu quả học tập được nâng cao mà HS còn rèn luyện cho mình
những phẩm chất cần thiết trong tương lai
- Chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của HS, nhu cầu và lợi ích của xã hội Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, HS được lựa chọn những vấn đề mà mình quan tâm ham thích để giải quyết và trình bày kết quả Các chủ đề có thể do HS đề xuất hoặc
Trang 20do giáo viên định hướng Các chủ đề phải gắn với nhu cầu, lợi ích của HS và thực tiễn xã
hội
Cần thiết kế tình huống học tập sao cho kích thích lôi cuốn được sự tham gia tích
cực của người học Vì khó đảm bảo chủ đề đưa ra đều gây hứng thú cho tất cả HS nên người giáo viên cần linh hoạt, động viên, khuyến khích và hỗ trợ kịp thời để đảm bảo tất
cả HS đều tham gia vào các hoạt động một cách tích cực
- Coi trọng hướng dẫn, tìm tòi
Nhiệm vụ học tập phải có tính thách thức với người học, đòi hỏi HS phải tìm tòi
mới giải quyết được Việc coi trọng sự tìm tòi của HS trong học tập sẽ giúp các em phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề và có được phương pháp học thông qua hoạt động Sự hướng dẫn kịp thời và tích cực của giáo viên sẽ giúp cho sự tìm tòi của HS đạt kết quả
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Nếu đánh giá chỉ là nhiệm vụ của giáo viên và chỉ tập trung vào điểm số của HS qua các cuộc kiểm tra thi cử thì sẽ dẫn đến cách học thụ động, đối phó Đánh giá không chỉ
nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS mà còn nhằm
mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của giáo viên
Tự đánh giá là hình thức HS tự liên hệ nhiệm vụ đã thực hiện với mục tiêu của quá trình học tập HS sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ, phát hiện những điểm cần
khắc phục để hoàn thiện bản thân Đồng thời thông qua tự đánh giá, HS sẽ rèn luyện thói quen chịu trách nhiệm cho việc làm của mình
Giáo viên cũng cần tổ chức cho HS đánh giá lẫn nhau (còn gọi là đánh giá đồng đẳng) dựa trên các tiêu chí định sẵn do giáo viên cung cấp hoặc các tiêu chí được xây
dựng dựa trên sự thống nhất giữa giáo viên và HS Từ đó HS có thể so sánh nhìn nhận lại
kết quả của mình, học hỏi kinh nghiệm của các bạn và chia sẻ kinh nghiệm của bản thân Giáo viên cần làm rõ thái độ trung thực khi HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng Đây là kĩ năng quan trọng trong tương lai, giúp các em biết nhìn nhận một vấn đề nào đó,
hoặc đánh giá bản thân và người khác một cách khách quan
Trang 211.2 D ạy học dự án
1.2.1 Khái ni ệm dạy học dự án
Dạy học dự án (Project Based - Learning) là một mô hình dạy học lấy HS làm trung tâm, trong đó GV hướng dẫn HS thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực
tiễn và kết quả là phải tạo ra được những sản phẩm thực tế
Dự án đặt HS vào vai trò tích cực như: người giải quyết vấn đề, người ra quyết định, điều tra viên hay người viết báo cáo, … Chủ yếu HS sẽ làm việc theo nhóm và hợp tác
với các chuyên gia và cộng đồng để trả lời các câu hỏi và hiểu sâu hơn nội dung, ý nghĩa
của bài học
1.2.2 M ục tiêu của dạy học dự án
- Hướng tới phát triển tư duy bậc cao (phân tích – tổng hợp, đánh giá và sáng tạo) Đây là một mục tiêu rất quan trọng của giáo dục nhưng với dạy học truyền thống thì
rất khó thực hiện được Bởi dạy học truyền thống chỉ giúp tư duy của HS phát triển một cách tuần tự do kiến thức bài sau được xây dựng dựa trên nền tảng kiến thức bài trước, nhìn chung, HS chỉ dừng lại ở mức độ biết, hiểu, và vận dụng chủ yếu trong giải bài tập
Để thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, HS cần phải biết chọn lọc thông tin, phân tích - tổng hợp, vận dụng một cách sáng tạo, có tư duy phê phán, đánh giá Do đó
mà khi học theo dự án, HS có nhiều cơ hội để phát triển tư duy bậc cao của mình
- Hướng tới phát triển kĩ năng sống (hợp tác, giao tiếp, quản lí, tổ chức, điều hành,
ra quyết định, tích hợp công nghệ thông tin vào giải quyết công việc và thực hiện các sản
phẩm,…)
DHDA có ưu thế trong việc hiện thực hóa mục tiêu này HS tham gia vào dự án
phải biết tổ chức học tập, hợp tác với nhau, biết lắng nghe, tôn trọng nhau, tìm kiếm và
chọn lọc thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin,…
- Khơi dậy sự hứng thú, say mê, tích cực, tự chủ của HS trong học tập
Dự án là những vấn đề mang tính thách thức, gắn với thực tiễn, không thể giải quyết
bằng cách học vẹt nên dễ khơi dậy sự hứng thú, say mê của HS Để hoàn thành một dự án
cần có sự tích cực, tự chủ của HS, nhờ đó mà việc học của HS trở nên có ý nghĩa
Trang 221.2.3 Đặc điểm của dạy học dự án
DHDA có 3 đặc điểm cốt lõi: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng
sản phẩm Tác giả Nguyễn Văn Cường [2] đã cụ thể hóa 3 đặc điểm trên như sau:
Hình 1.1 Đặc điểm của dạy học dự án [2]
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của thực
tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống
- Có ý nghĩa xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường
với thực tiễn đời sống, xã hội
- Định hướng hứng thú: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp
với khả năng và hứng thú cá nhân
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên
cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua
DẠY HỌC DỰ
ÁN
Định hướng thực tiễn
Có ý nghĩa xã hội
Định hướng hứng thú
Định hướng hành động Định
hướng sản phẩm
Tính tự lực cao của người học
Mang tính phức hợp
Cộng tác làm việc
Trang 23đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra
Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn,
thực hành Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
- Tính tự lực cao của người học: Trong DHDA, người học cần tham gia tích cực và
tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức
độ khó khăn của nhiệm vụ
- Mang tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực
hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó
có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự
án
1.2.4 Ti ến trình dạy học dự án
Dạy học dự án có thể chia thành 5 giai đoạn [14]:
Trang 24Hình 1.2 Các giai đoạn dạy học dự án
- Giai đoạn 1: Xây dựng ý tưởng dự án Quyết định chủ đề
Việc lựa chọn chủ đề dự án tùy thuộc vào sự hứng thú, quan tâm và kinh nghiệm
của HS Giáo viên đề xuất một số hướng đề tài để HS chọn lựa Cần tạo ra một tình
huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống
- Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án
Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án
Học sinh lập kế hoạch làm việc, phân công lao động
Xây dựng ý tưởng dự án Quyết định chủ đề
Giáo viên tạo điều kiện để học sinh đề xuất ý tưởng dự án, quyết định chủ đề,
xác định mục tiêu dự án
Trang 25Với sự hướng dẫn của giáo viên, HS xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, trong đó
phải xác định những công việc cần làm, nguồn lực cần thiết (vật liệu, kinh phí, tài liệu tham khảo, “chuyên gia”), thời gian dự kiến, phương pháp tiến hành, sự phân công công
việc
- Giai đoạn 3: Thực hiện dự án
Các thành viên thực hiện công việc như kế hoạch Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kết thúc giai đoạn này nhóm phải có được sản phẩm của dự án
- Giai đoạn 4: Giới thiệu sản phẩm dự án
Các nhóm giới thiệu sản phẩm dự án Các sản phẩm có thể được trình bày dưới
dạng bài trình chiếu, bài thu hoạch, văn bản, áp phích hay tờ rơi,… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành Sản phẩm của dự án cũng có
thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức
một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội
- Giai đoạn 5: Đánh giá
Trong dạy học tích cực nói chung và DHDA nói riêng, đánh giá đóng một vai trò quan trọng Không phải sản phẩm dự án mà chính quá trình làm việc của HS mới cần được có một sự đánh giá đúng đắn, từ đó HS rút được kinh nghiệm cho mình Do đó cần
có đánh giá sản phẩm và đánh giá quá trình với nhiều hình thức như: giáo viên đánh giá,
HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng,…
1.2.5 Vai trò c ủa giáo viên và HS trong dạy học dự án
- Vai trò của HS
+ HS phải tham gia tích cực vào các giai đoạn của quá trình học tập
+ HS đóng vai thuộc những ngành nghề khác nhau trong xã hội, hoàn thành vai trò
của mình dựa trên những kiến thức, kĩ năng nhất định
+ HS được giao những nhiệm vụ cụ thể, có thật trong cuộc sống, bằng những kiến
thức theo sát chương trình học và có phạm vi liên môn và bằng những kĩ năng sống của người lớn, qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho mình
Trang 26+ HS được tự quyết định cách tiếp cận vấn đề và các hoạt động
+ HS phải hoàn thành dự án với một số sản phẩm cụ thể: mô hình, bài trình diễn, trang web, vở kịch, clip,…
- Vai trò của giáo viên
+ Tạo vai trò cho HS và làm sao để gắn vai trò của HS với nội dung bài học, lập kế
hoạch, thiết kế dự án và các tài liệu hỗ trợ
+ Hướng dẫn, trợ giúp, kiểm tra
1.2.6 Tác d ụng của dạy học dự án
- Tác dụng của DHDA đối với việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn
+ DHDA làm cho nội dung học tập có ý nghĩa hơn vì nó được tích hợp các vấn đề
của đời sống thực
+ DHDA gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thực
- Tác dụng của DHDA đối với việc phát huy tính tích cực học tập
+ DHDA kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học
+ DHDA vừa tạo điều kiện, vừa bắt buộc HS phải chủ động, tích cực học tập
+ DHDA cho phép người học tự chủ nhiều hơn trong công việc, từ việc lên ý tưởng, xây dựng kế hoạch đến việc thực hiện dự án, tạo ra các sản phẩm Nhờ vậy DHDA phát huy tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn
Việc tổ chức DHDA đòi hỏi thời gian, vì vậy, trong thực tiễn dạy học hiện nay ở
Việt Nam, tổ chức DHDA thông qua hoạt động ngoại khóa sẽ khắc phục được đòi hỏi về
thời gian trong khi thực hiện các nhiệm vụ của dự án
Trang 271.3 T ổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa
1.3.1 Ho ạt động ngoại khóa
Thời gian lên lớp trong chương trình chính khóa bị hạn chế, trong khi tri thức thì không ngừng gia tăng, đồng thời những yêu cầu về kĩ năng, tính tích cực, sự sáng tạo đối
với HS lại ngày càng cần thiết, do đó các hoạt động ngoại khóa cần được quan tâm tổ
chức thường xuyên để tạo điều kiện cho HS mở rộng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển sở trường về một mặt hoạt động nào đó, giúp các em phát triển toàn diện hơn
Hoạt động ngoại khóa là thuật ngữ chỉ các hình thức hoạt động kết hợp học tập với vui chơi ngoài lớp, nhằm mục đích gắn việc dạy và học trong nhà trường với thực tế xã
hội Hoạt động ngoại khóa “tạo điều kiện cho HS có thể mở rộng, đào sâu tri thức, phát triển hứng thú, năng lực riêng của từng HS và góp phần hướng nghiệp cho họ”[7]
1.3.2 Tác d ụng của hoạt động ngoại khóa
Hoạt động ngoại khóa có nhiều tác dụng tích cực nếu được triển khai ở trường phổ thông [3]:
- Tác dụng giáo dưỡng
Hoạt động ngoại khóa góp phần củng cố, bổ sung kiến thức cho HS Khi tiến hành
hoạt động ngoại khóa, HS phải suy nghĩ tìm tòi, nghiên cứu, tranh luận với bạn bè, nhờ
đó sẽ hiểu kiến thức một cách sâu sắc hơn, góp phần phát triển trí lực và khả năng sáng
tạo của các em
Trong chương trình nội khóa, vì thời gian hạn hẹp nên giáo viên không thể mở rộng nhiều kiến thức, do đó hoạt động ngoại khóa là cơ hội để bổ sung cho vốn kiến thức của
HS
Trang 28- Tác dụng giáo dục kĩ thuật tổng hợp, định hướng nghề nghiệp
Qua hoạt động ngoại khóa, HS được vận dụng các kiến thức vào thực tiễn nghề nghiệp, được rèn luyện các kĩ năng như: tập nghiên cứu, thuyết trình, sử dụng những thiết
bị thường gặp trong đời sống Từ đó sẽ nảy nở ở HS tình cảm nghề nghiệp và bước đầu
có ý thức về nghề nghiệp mà HS sẽ chọn trong tương lai
- Hoạt động ngoại khóa tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên thử nghiệm các phương pháp dạy học
Có thể tổ chức hoạt động ngoại khóa dưới nhiều hình thức khác nhau như: câu lạc
bộ, hội thi, thảo luận chuyên đề, trò chơi, giao lưu, tham quan ngoại khóa,…
1.3.3 Các hình th ức tổ chức hoạt động ngoại khóa vật lí
Ngoại khóa Vật lí có tác dụng bổ sung kiến thức lý thuyết, kĩ năng thực hành, giới thiệu những ứng dụng của vật lí, quá trình phát triển của vật lí,… cho HS, giúp HS hiểu
rõ hơn các hiện tượng vật lí, thấy được vai trò to lớn của vật lý trong đời sống và sản
xuất, làm tăng hứng thú của HS với môn học, phát triển tư duy logic, rèn luyện kĩ năng
giải quyết vấn đề
Dưới đây là một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa Vật lí có thể tổ chức ở trường phổ thông:
- Câu lạc bộ Vật lí
Câu lạc bộ là loại hình hoạt động ngoài giờ lên lớp tập hợp những HS cùng sở thích,
sở trường hoặc năng khiếu về một lĩnh vực hoặc chuyên đề nào đó để các em cùng nhau
học tập, sinh hoạt, rèn luyện, vui chơi, tạo điều kiện giúp HS phát triển định hướng của mình, đồng thời câu lạc bộ cũng là môi trường giúp các rèn luyện các kĩ năng cần thiết để
vận dụng vào đời sống xã hội Câu lạc bộ Vật lí là điều kiện tốt để các cá nhân yêu thích
vật lí có môi trường phát huy khả năng của mình
Một số hoạt động của câu lạc bộ Vật lí: tổ chức các buổi thảo luận về các vấn đề của
Vật lí học, biểu diễn các thí nghiệm vật lí, tổ chức các trò chơi có ứng dụng kiến thức vật
lí, tổ chức các buổi giao lưu tìm hiểu kiến thức, viết báo nội bộ trong phạm vi câu lạc bộ
Trang 29Hoạt động câu lạc bộ rất có ý nghĩa trong việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của
HS HS có thể lựa chọn các câu lạc bộ phù hợp với sở thích và định hướng của mình Tham gia các câu lạc bộ, HS sẽ được thỏa mãn nhu cầu hoạt động và tự thể hiện mình Như vậy câu lạc bộ là hình thức ngoại khóa đóng vai trò tích cực vào công tác giáo dục toàn diện của nhà trường và quá trình phát triển nhân cách của HS
- Thảo luận chuyên đề
Thảo luận chuyên đề là hình thức giáo dục trong đó HS cùng nhau trao đổi, tranh
luận về các vấn đề khác nhau xoay quanh một chủ đề đã được lựa chọn nhằm giúp HS đạt được một sự hiểu biết chung và có được những thái độ phù hợp với những vấn đề đó
[10]
Trong buổi thảo luận chuyên đề, HS sẽ có cơ hội bày tỏ những ý kiến, quan điểm
của cá nhân trước tập thể một cách dân chủ, thông qua đó hình thành cho HS kĩ năng nói, thuyết phục người khác, bảo vệ chính kiến của mình và biết lắng nghe
- Tham quan ngoại khóa
Tham quan ngoại khóa là hình thức tổ chức dạy học trong thực tế nhờ quan sát trực
tiếp của HS dưới sự hướng dẫn của giáo viên và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự
vật, hiện tượng cần tìm hiểu trong nội dung dạy học [3]
Giáo viên có thể tổ chức cho HS tham quan tìm hiểu máy móc, thiết bị dùng trong
sản xuất công, nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tham quan cơ quan khoa học kĩ thuật,
Thông qua các chuyến tham quan ngoại khóa vật lí HS sẽ được mở rộng tầm hiểu
biết của mình về những ứng dụng của vật lí học, phát triển óc quan sát, tính tò mò khoa
học, nâng cao hứng thú học tập, đồng thời có những nhận thức đúng đắn về lao động của con người, bồi dưỡng lòng yêu lao động và có những trải nghiệm thực tế giúp ích cho quá trình định hướng nghề nghiệp tương lai của mình
- Hội vui vật lí
Hội vui vật lí là một hình thức phổ biến của hoạt động ngoại khóa vật lí Có thể tổ
chức các hội vui vật lí với các nội dung như: nói chuyện về lịch sử vật lí, sự phát triển
của vật lí và tiểu sử các nhà vật lí học, biểu diễn thí nghiệm, giới thiệu máy móc, thiết bị
Trang 30kĩ thuật ứng dụng kiến thức vật lí trong khoa học kĩ thuật và đời sống, giới thiệu các vấn
đề mở rộng ngoài chương trình, tổ chức các trò chơi dùng kiến thức vật lí,…
Hội vui vật lí còn có thể tổ chức dưới dạng các buổi tọa đàm, thảo luận về các vấn
đề, một buổi nói chuyện chuyên đề
Tham gia hội vui vật lí, HS không những được mở rộng vốn hiểu biết về vật lí, trao đổi kiến thức mà còn được tham gia các hoạt động giải trí có ý nghĩa gắn liền với môn
học, nhờ vậy mà sự hứng thú được nâng cao
Trên đây là một số hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa phổ biến hiện nay ở các trường phổ thông Để tránh nhàm chán và đạt hiệu quả cao thì giáo viên nên linh động kết
hợp nhiều hình thức lại với nhau.Trong đề tài này chúng tôi chọn hình thức Hội vui Vật lí
để HS thuyết trình báo cáo sản phẩm dự án, kết hợp với các trò chơi liên quan đến chủ
đề
Trên cơ sở lí luận của DHDA và hoạt động ngoại khóa trình bày ở trên ta nhận thấy DHDA có thể được triển khai trong hoạt động ngoại khóa Mục tiêu của DHDA và hoạt động ngoại khóa đều hướng đến giáo dục HS một cách toàn điện, không chỉ tập trung vào
kiến thức mà quan trọng hơn là bồi dưỡng sự hứng thú, tích cực và rèn luyện các kĩ năng
cần thiết trong cuộc sống Các đặc điểm của DHDA cũng được thể hiện trong các hoạt động ngoại khóa Đặc biệt, trở ngại lớn nhất của DHDA là vấn đề thời gian dẫn đến khó triển khai trong giờ học chính khóa thì sẽ được khắc phục khi triển khai trong các giờ ngoại khóa
1.3.4 Quy trình t ổ chức dạy học dự án thông qua hoạt động ngoại khóa
- Bước 1: Dự thảo kế hoạch tổ chức
+ Lựa chọn chủ đề: Đây là giai đoạn giáo viên cùng HS quyết định chủ đề dự án, lên ý tưởng và xác định mục tiêu dự án
+ Lập kế hoạch: Giáo viên hướng dẫn HS xây dựng bộ câu hỏi định hướng HS lập
kế hoạch thực hiện, phân công công việc
Trang 31+ Hình thức tổ chức, địa điểm: Giáo viên chọn hình thức và địa điểm tổ chức ngoại khóa, cần tổ chức kết hợp nhiều hình thức khéo léo sao cho HS có thể báo cáo sản phẩm nhưng vẫn không gây cảm giác nhàm chán, nặng nề
- Bước 2: Chuẩn bị nội dung, cơ sở vật chất, kinh phí
Giáo viên hướng dẫn HS làm việc nhóm và cá nhân như kế hoạch, tạo ra sản phẩm Giáo viên theo dõi để hướng dẫn HS kịp thời; tổ chức các buổi ngoại khóa bổ trợ kiến
thức về các kĩ năng làm việc nhóm, soạn bài trình chiếu, thuyết trình; kiểm tra tiến độ; chuẩn bị kịch bản, kinh phí, cơ sở vật chất cho buổi báo cáo sản phẩm
- Bước 3: Tổ chức thực hiện buổi ngoại khóa báo cáo sản phẩm dự án
- Bước 4: Tổng kết, rút kinh nghiệm, khen thưởng
Tiến hành đánh giá dự án, nhìn lại quá trình thực hiện dự án, rút kinh nghiệm và khen thưởng với những cá nhân, tập thể có sự nỗ lực cao
1.4 Giáo d ục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông
1.4.1 M ột số khái niệm
- Nghề nghiệp
Theo từ điển tiếng Việt thì nghề nghiệp là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội [9]
Theo tác giả E.A.Klimov thì: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động
vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình
để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển” Bất cứ nghề nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị: tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, truyền thông, hiệu
quả do nghề mang lại Hoạt động trong bất kỳ nghề nào, mỗi cá nhân phải tiêu tốn một lượng vật chất (thể xác) và tinh thần (tâm lý) nhất định [4]
Từ một số quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp là một dạng lao động
cần thiết cho xã hội, đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu
cầu của dạng lao động tương ứng
Trang 32- Hướng nghiệp
Tháng 10 – 1980, Hội nghị lần thứ 9 những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa họp tại La-ha-ba-na đã thống nhất khái niệm hướng nghiệp như sau: “ Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu
xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với những năng lực, sở trường
và tâm sinh lí cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lí và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dự trữ có sẵn của đất nước” [4]
Theo K.K Platonop, “Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo
dục, y học, nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa chọn cho mình
một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xã hội, vừa phù hợp với hứng thú năng lực của bản thân Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa quyền lợi của xã hội với quyền
lợi của cá nhân"[4]
Từ định nghĩa trên, K.K Platonop đưa ra sơ đồ tam giác hướng nghiệp
Hình 1.3 Sơ đồ tam giác hướng nghiệp và các hình thức hướng nghiệp
Đặc điểm tâm lý và sinh lý c ủa cá nhân
Định hướng nghề
Trang 33Tam giác hướng nghiệp được tạo thành từ ba cạnh: (1) Đặc điểm, yêu cầu của các ngành/ nghề trong xã hội; (2) nhu cầu nhân lực của thị trường lao động; (3) đặc điểm tâm
lý và sinh lý của cá nhân Sự kết hợp khác nhau của các cạnh tạo nên các hoạt động khác nhau trong hướng nghiệp là Định hướng nghề, Tư vấn nghề và Tuyển chọn nghề Sự hợp
nhất của ba hoạt động này giúp cho HS trong hoạt động hướng nghiệp có thể chọn được
một nghề nào vừa phù hợp với khả năng và nghề đó đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
Như vậy, từ việc phân tích những quan niệm ở trên, theo chúng tôi hướng nghiệp được hiểu là một hệ thống các biện pháp tác động của xã hội (gia đình, nhà trường, xã
hội) đến nhận thức, thái độ và hành vi lựa chọn nghề của cá nhân
- Định hướng nghề
Theo Platonop, định hướng nghề là một hoạt động trong tam giác hướng nghiệp, trong quá trình này, giáo viên cung cấp cho HS những hiểu biết về thế giới nghề và đặc điểm, yêu cầu của những nghề HS định chọn Đồng thời giới thiệu những ngành nghề mà
xã hội và địa phương đang có nhu cầu nhân lực hàng năm Từ đó, HS lựa chọn được
những nghề để học và làm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động
Theo Nguyễn Văn Hộ [4], định hướng nghề nghiệp là một quá trình hoạt động được
chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một logic hợp lí về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào đó
Như vậy, chúng tôi hiểu định hướng nghề cho HS là một quá trình hoạt động của chính bản thân HS dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được tổ chức chặt chẽ theo một logic hợp lí về không gian, thời gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chính bản thân HS có được nhằm tìm hiểu về thế giới nghề và đặc điểm, yêu cầu của các nghề trong
xã hội để chọn cho mình một nghề phù hợp
1.4.2 M ục đích, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
Trang 34Mục đích chung của hướng nghiệp là hình thành năng lực tự chủ trong việc lựa
chọn nghề của HS trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú sở thích cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong các hoạt động đa dạng của đời sống xã hội Tuy nhiên
với đặc điểm khác nhau của từng cấp học thì mục đích trên được chia thành những mục đích bộ phận phù hợp
Đối với HS THPT, mục đích của hướng nghiệp là giúp cho HS có được ý thức như
là chủ thể trong sự lựa chọn nghề, có định hướng đúng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu
biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động xã hội và năng lực, sở trường của bản thân [4]
Giáo dục hướng nghiệp có những nhiệm vụ [4]:
- Nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp cho HS phù hợp với trình độ phát triển tâm lí và lứa tuổi cấp học
Số lượng nghề trong xã hội rất đa dạng, do đó việc nâng cao năng lực nhận thức nghề nghiệp, mở rộng sự hiểu biết về các nghề cho HS sẽ mở ra cho các em một thế giới động các hướng đi trong tương lai của mình Tùy thuộc vào đặc điểm tâm lí, giới tính, lứa
tuổi mà triển khai nhiệm vụ này ở các hình thức khác nhau để HS có thể lĩnh hội được
- Tạo điều kiện thuận lợi để HS được trực tiếp tham gia vào hoạt động xã hội nhằm bước đầu hình thành năng lực thích ứng nghề cho HS
- Thực hiện xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp nhờ việc phối hợp, liên kết với các tổ
chức, các cơ sở sản xuất nằm trong các thành phần kinh tế xã hội
1.4.3 Định hướng nghề cho HS
1.4.3.1 Định hướng nhận thức đối với nghề nghiệp
“Nhận thức nghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản của nghề nghiệp, những biểu hiện định giá của xã hội trong những điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội cụ thể với giá trị của nghề nghiệp và những đặc điểm phát triển tâm lý, sinh lý của
những con người làm việc trong nghề nghiệp đó” [4] Nhận thức đúng đắn, đầy đủ về
Trang 35nghề nghiệp sẽ định hướng cho hành động lựa chọn nghề của HS, giúp HS chọn được nghề phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình
Nhận thức nghề nghiệp bao gồm nhận thức về những đòi hỏi của xã hội đối với nghề nghiệp, nhận thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu đặc trưng của nghề nghiệp định chọn và nhận thức về những đặc điểm cá nhân Như vậy nhận thức đúng đắn
về nghề nghiệp tức là HS có sự hiểu biết về tính chất và đòi hỏi của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường lao động, biết bản thân mình thích gì, có nguyện vọng
gì, tính cách và năng lực có phù hợp với nghề định chọn hay không Chính sự tri thức về
thế giới nghề nghiệp và sự thấu hiểu bản thân sẽ giúp cho sự lựa chọn nghề đi đúng hướng, phù hợp với những đặc điểm của mỗi cá nhân
1.4.3.2 Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp
Thái độ nghề nghiệp là một thuộc tính cấu thành nhân cách, nó biểu thị sắc thái tình
cảm về mức độ say mê của cá nhân đối với hoạt động nghề nghiệp, gồm 3 yếu tố:
- Tình cảm: Bao gồm các cảm xúc chấp nhận hoặc thờ ơ với nghề nghiệp
- Nhận thức: Là quan niệm và hiểu biết của cá nhân về một nghề cụ thể nào đó mà
họ có dự định lựa chọn
- Hành vi: Là sự thể hiện quan niệm và tình cảm của mình thành hành động Hành động này có thể là chú ý học tốt những môn có liên quan tới sự lựa chọn nghề, tìm đọc các tài liệu nói về nghề đó, tuyên truyền nghề đó cho bạn bè[4]
Đặc trưng cơ bản nhất của thái độ nghề nghiệp được biểu hiện thông qua động cơ
chọn nghề HS cần hình thành nhu cầu và động cơ chọn nghề đúng đắn, bởi chúng sẽ chi
phối mọi hoạt động hướng nghiệp của họ Để tạo lập động cơ mạnh mẽ trong việc chọn nghề thì các em cần có sự định hướng đúng trong việc hình thành hứng thú tích cực đối
với nghề nghiệp Sau đó dựa trên hứng thú và nhu cầu của bản thân, mỗi cá nhân xác định cho mình nguyện vọng nghề nghiệp xác thực và chính đáng
Định hướng thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp sẽ có tác động mạnh mẽ đến hành
vi chọn nghề của mỗi HS và tạo nên sự say mê đối với công việc đã lựa chọn
1.4.3.3 Định hướng nghề cho HS trong dạy học các môn khoa học
Trang 36Bản thân kiến thức trong các môn học sẽ tạo nền móng cho sự tiếp thu nghề nghiệp
của HS vì đó là hệ thống những tri thức cơ bản, chung nhất, được các ngành nghề lấy đó làm điểm tựa để bồi đắp tri thức chuyên ngành Quá trình lĩnh hội các kiến thức trong các môn khoa học góp phần giúp hình thành và phát triển khuynh hướng, sở thích, sở trường
của HS
Kiến thức trong các môn học chứa đựng lượng thông tin nghề nghiệp phong phú, đa
dạng Lượng thông tin này dù chưa phải là thông tin về tính chất cụ thể của mỗi nghề, nhưng chúng đem lại cho HS sự hiểu biết về ý nghĩa và công dụng của tri thức đã học đối
với các nghề trong xã hội
Dưới đây là một số ví dụ về thông tin nghề nghiệp chứa trong một số môn khoa học
- Toán học: những kiến thức tọa độ, đồ thị được sử dụng để tính toán trong các ngành hàng hải, thăm dò địa chất, du hành vũ trụ; những kiến thức về đạo hàm, tích phân
là công cụ của các lập trình viên,…
- Vật lí: HS được làm quen với cấu tạo, nguyên lí hoạt động của một số thiết bị máy móc trong các ngành nghề (động cơ điện, máy biến áp,…); có hiểu biết về một số quy
luật phổ biến của vận động vật chất được sử dụng trong sản xuất (chuyển động và truyền chuyển động trong các máy cơ học, nguyên lí bảo toàn công và năng lượng trong biến đổi năng lượng,…)
- Hóa học: các kiến thức trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp như sản xuất đá vôi,
muối ăn, xà phòng, sản xuất giấy, cao su nhân tạo, vải tổng hợp,…
- Văn học: các tác phẩm văn học cho thấy rõ giá trị của lao động và con người lao động; quan hệ giữa người với người, giữa con người với tự nhiên trong quá trình lao động;…
- Địa lí: kiến thức địa lí có liên quan trực tiếp tới những cơ sở chung của nghề nghiệp nguyên liệu, nhiên liệu, giao thông, nhân lực, môi trường,…
…
Giáo viên dạy các môn khoa học có thể tham gia vào hoạt động định hướng nghề cho HS bằng một số cách như:
Trang 37- Cung cấp cho HS một số hiểu biết về nghề nghiệp có ứng dụng kiến thức trong nội dung bài học
- Phát hiện kịp thời và có biện pháp thích hợp bồi dưỡng năng lực của HS đối với
bộ môn
- Tổ chức ngoại khóa để đáp ứng sở thích, năng lực hiểu biết, sáng tạo kĩ thuật của HS; liên hệ với các cơ sở sản xuất để có các buổi tham quan thực tế cho HS;…
Làm tốt việc định hướng nghề cho HS thông qua dạy các môn khoa học không
những giúp phát hiện năng khiếu của HS, cung cấp cho các em sự hiểu biết về hệ thống nghề mà còn góp phần giáo dục ý thức lao động ở các em và rèn luyện cho các em các phương pháp, kĩ năng cần thiết cho nghề nghiệp trong tương lai Chính những điều này sẽ
giảm bớt tính ngẫu nhiên trong việc lựa chọn nghề của các em Vấn đề đặt ra là phải lựa
chọn những thông tin nghề phù hợp với đặc thù của từng môn học để triển khai nhiệm vụ hướng nghiệp cho hiệu quả Trong các bộ môn khoa học thì Vật lí là bộ môn có nhiều ưu
thế để tổ chức hoạt động định hướng nghề cho HS
1.4.3.4 Định hướng nghề cho HS trong dạy học Vật lí
Nội dung kiến thức vật lý phản ánh tương đối đầy đủ các dạng vận động và biến đổi
của vật chất (cơ, nhiệt, điện, quang, nguyên tử,…), chứa đựng lượng thông tin nghề nghiệp rất lớn và gần gũi với HS Với những ưu thế như vậy, giáo viên vật lí cần tạo
những điều kiện thuận lợi để HS được làm quen với thực tiễn nghề nghiệp có liên quan
với nội dung bài học trong quá trình giảng dạy Vật lí của mình, từ giờ lý thuyết, thí nghiệm đến các giờ ngoại khóa
Dưới đây là một số ví dụ về sự liên quan giữa các tri thức ngành nghề với kiến thức
vật lí [8]:
Bảng 1.1 Sự liên quan giữa các tri thức ngành nghề với kiến thức vật lí
Ngành c ấp
1
Ngành nh ỏ Ki ến thức vật lí phổ thông liên quan
Khai khoáng - Hiện tượng dính ướt và không dính ướt (lọc quặng) Công nghiệp Sản xuất kim - Chất rắn, biến dạng và sự nở vì nhiệt của chất rắn
Trang 38chế biến,
chế tạo
loại và các sản
phẩm đúc từ kim loại
(chế tạo khuôn đúc và sản phẩm từ khuôn đúc)
- Hiện tượng điện phân, hiện tượng dương cực tan (mạ điện và luyện kim)
- Dòng điện trong chất khí, hồ quang điện (hàn điện)
- Áp suất Hóa chất - Hiện tượng điện phân
Sản xuất thiết
bị điện
- Dòng điện, nguồn điện, điện năng, công suất điện
- Dòng điện trong các môi trường
- Nguyên lí nhiệt động lực học (động cơ nhiệt, máy
lạnh)
- Tính chất từ của vật liệu (sản xuất nam châm trong các thiết bị, rơ le từ)
- Dòng điện Fu-co (bếp điện từ)
- Sự nở vì nhiệt của kim loại (rơ le nhiệt)
- Hiện tượng cảm ứng điện từ, dòng điện xoay chiều
và các loại máy điện (máy biến áp, máy phát điện, động cơ điện)
- Cơ học chất lưu, sự chảy ổn định, đường dòng (hình
dạng khí động học của ô tô, máy bay)
- Định luật Bernoulli (hình dạng cánh máy bay)
- Định luật bảo toàn động lượng (động cơ phản lực)
- Dòng điện Fu-co (phanh điện từ)
Trang 39- Bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
- Sản xuất và truyền tải điện năng
- Pin và acquy
- Công và công suất
Xây dựng
- Tĩnh học vật rắn (cân bằng của các công trình)
- Năng lượng, bảo toàn và chuyển hóa năng lượng (các máy móc dùng để vận chuyển vật liệu, phá dỡ)
Sự nở vì nhiệt của chất rắn (tôn lợp, xây dựng đường
- Khúc xạ ánh sáng
- Thấu kính, dụng cụ quang Nghiên cứu - Tất cả các lĩnh vực vật lí
Hoạt động khí tượng, thủy văn
- Lực hấp dẫn (thủy triều)
- Dòng điện trong chất khí (sét)
- Điện thế, hiệu điện thế, điện trường, vật dẫn và điện môi trong điện trường (các phương pháp phòng chống sét)
Trang 40- Sự chuyển thể (các hiện tượng thời tiết như mưa, sương mù, …)
của cơ, xương, các chuyển động của cơ thể)
- Dòng điện không đổi (điện tâm đồ, dòng điện trong
- Sóng cơ (siêu âm)
- Sóng điện từ (diệt khuẩn, chụp điện)
- Phản xạ toàn phần (nội soi)
- Laser (thay dao mổ trong mổ nội soi, phẫu thuật
- Sóng âm, nhạc âm, nguồn âm, hộp cộng hưởng âm
nhạc)
- Hấp thụ và lọc lựa ánh sáng, màu sắc ánh sáng (hội
họa)
- Động học chất điểm, động lực học chất điểm, tĩnh
học vật rắn (biểu diễn xiếc)
Thể thao - Động học và động lực học chất điểm (chuyển động
khối tâm của bóng trong các môn bóng đá, bóng