BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHDƯƠNG ĐÀO TÙNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG ĐÀO TÙNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG
DẠY MÔN CƠ HỌC ĐẠI CƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2003
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Là học viên cao học khoá 11- ngành phương pháp giảng dạy vật lý
Chúng tôi bày tỏ lòng cảm ơn chan thành nhất đến:
Ban Giám hiệu, phòng khoa học công nghệ- sau đại học, ban chủ nhiệm khoa Lý trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình làm luận văn
Các thầy cô đã tận tình giảng dạy, các giảng viên đồng nghiệp và các em sinh viên
đã góp nhiều ý kiến chân thực, bổ ích
Đặc biệt chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tiến sĩ Phạm Thế Dân đã tận tâm hướng dẫn , chỉ bảo những kiến thức quí báu để hoàn thành luận văn
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong được sự góp ý của cá thầy, cô và các bạn
Sau cùng chúng tôi cám ơn hội đồng chấm luận văn cao học ngành vật lý của trường đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Một lần nữa kính chúc sức khoẻ đến quý thầy cô
Trang 4M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 7
1- Lý do chọn đề tài 7
2- Mục đích nghiên cứu: 11
3-Khác h thể nghiên cứu: 11
4- Đối tượng nghiên cứu: 11
5- Giả thuyết khoa học: 11
6- Nhiệm vụ của đề tài: 11
7- Một số quan điểm phương pháp luận: 11
8- Phương pháp nghiên cứu: 12
a) Phương pháp nghiên cứu lí luận: 12
b) Phương pháp điều tra : 12
c)Ph ương pháp quan sát phỏng vấn: 12
d) Phương pháp thực nghiệm: 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 14 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề tự học 14
1.1.1 Vài nét về lịch sử vấn đề tự học thời kỳ cận đại 14
1.1.2 Vấn đề tự học trong giai đoạn hiện đại 15
1.2 Cơ sở lí luận về hoạt động tự học của sinh viên 16
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm tự học của sinh viên 16
1.2.2 Mối quan hệ thầy - trò trong quá trình tự học của sinh viên 18
1.2.3 Vai trò của động cơ trong quá trình tự học 21
1.2.4 Kĩ năng tự học 22
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI
HỌC SƯ PHẠM TPHCM 26
2.1 Khảo sát và phân tích kết quả nhận thức của giáo viên và sinh viên về vấn đề tự học 26
2.1.1 Mục đích khảo sát: 26
2.1.2 Nội dung khảo sát: 26
2.1.3 Phương pháp khảo sát và tiến hành 26
2.2 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học của sinh viên 35
2.2.1 Khái niệm về chất lượng tự học 35
2.2.2 Nguyên nhân chủ quan: 36
2.2.3 Nguyên nhân khách quan: 36
2.3 Một số nhận xét qua thực trạng điều tra hoạt động tự học của sinh viên ĐHSP TP HCM 38
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NĂM I KHOA LÝ ĐHSP TPHCM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY BỘ MÔN CƠ HỌC ĐẠI CƯƠNG 40
3.1 Đặc điểm của bộ môn cơ học đại cương trong khoá trình đào tạo sinh viên khoa Lý trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh 40
3.2 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinh viên năm I khoa Vật lý trường ĐHSP Tp.HCM 41
3.2.1 Sử dụng phối hợp các biện pháp giáo dục động cơ tự học, tự rèn luyện cho sinh viên năm I khoa Lý, tạo điều kiện để họ trở thành người thầy giáo tương lai 42
3.2.2 Hình thành những kĩ năng tự học cho sinh viên 47
3.2.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên khoa Lý ĐHSPTPHCM 60
Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61
4.1 Mục đích thực nghiệm 61
Trang 64.2 Đối tương thực nghiệm 61
4.3 Quy trình thực nghiệm 61
4.4 Kết quả thực nghiệm và phân tích 64
Kết luận và kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 74
Trang 7Đặc thù của quá trình học ở đại học là sinh viên phải biết tự học, đây là một đặc điểm khác cơ bản với cách học ở phổ thông Tự học là hoạt động nhận thức của người học dưới
sự chỉ đạo của giáo viên, đó cũng chính là quá trình tự đào tạo trong nhà trường Sinh viên tiếp nhận tri thức khoa học với đầu óc phê phán, có thể khẳng định, có thể phủ định, hoài
một tác phong làm việc khoa học cho suốt cả thời gian công tác sau này khi sinh viên ra trường
Trong xu hướng đổi mới giáo dục, số lượng trường, số lượng sinh viên phát triển không phải là chính yếu, mà chất lượng giáo dục mới là mục tiêu hàng đầu, là dấu son trên từng chặng đường, đặt "dấu ấn" cho cả một thế hệ mai sau Điều này là đặc biệt quan trọng,
Trang 8nhất là trong hoàn cảnh hiện nay khi chất lượng giáo dục đang cần được quan tâm đến nhiều hơn
Ở nước ta việc đổi mới và cập nhật chương trình giảng dạy còn là công việc chậm chạp Các nước xung quanh ta như Thái Lan, Malaysia, Singapo đã có nền giáo dục được đánh giá là có chất lượng tốt hơn Việt Nam! Nếu chúng ta không mạnh mẽ, nhanh chóng trong việc nâng cao chất lượng của toàn ngành giáo dục, mà trước mắt là chất lượng sinh viên khi ra trường thì sẽ ảnh hưởng lâu dài và quyết định tới toàn bộ sự phát triển xã hội nói chung
Ví dụ, trường Đại học Califonia trong một năm đã loại ra khỏi chương trình đào tạo của trường này 5000 môn học, tất nhiên phải có số lượng môn học mới tương đương đưa vào thay thế Để làm được việc này, họ đã sử dụng rất nhiều kết quả các đề tài nghiên cứu khoa học, ở nhiều lĩnh vực khác nhau: khoa học cơ bản, khoa học xã hội Ngoài nội dung đào tạo luôn đổi mới tập nhật, sinh viên của họ được rèn luyện những kĩ năng đảm bảo khi
ra trường không phải học thêm (hoặc rất ít) bất cứ cái gì mà vẫn thích ứng được với thị trường lao động phát triển ngày càng nhiều và đa dạng.[Báo Tuổi Trẻ 07/08/03]
Với cơ chế thị trường, chắc chắn sinh viên của chúng ta sẽ có những chuyển biến về mục đích, động cơ học tập và tự bản thân sinh viên phải có ý thức tự giác, tích cực học hỏi trong nhà trường để thành đạt trong cuộc sống Phấn đấu trong học tập là con đường tốt nhất
để mỗi sinh viên đạt tới vị trí xã hội xứng đáng với năng lực của họ Trước những đòi hỏi như vậy, nhà trường phải thay đổi nhiều về nội dung, phương pháp đào tạo để có những sản phẩm ngày càng tốt hơn cung cấp cho thị trường lao động, đáp ứng sự phát triển xã hội Vấn
đề này không chỉ riêng đối với các trường đại học nói chung, mà đặc biệt có tầm quan trọng đối với đại học sư phạm nói riêng vì sản phẩm của trường là những thầy giáo tương lai - ảnh
tranh quyết liệt trong môi trường toàn cầu hóa, chất lượng sản phẩm trở thành yêu cầu sống còn của bất kì lĩnh vực nào Khoa học quản lí nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm ngày càng trở nên có ý nghĩa, trở thành mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia Hiện nay việc áp dụng quản lý chất lượng trong giáo dục và đào tạo đang là xu thế mới của nền giáo dục tiên tiến
Trang 9Nghị quyết TW2 (khóa VIII) đã chỉ rõ: "Giáo dục đào tạo nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập cả về qui mô, cơ cấu, chất lượng và hiệu quả; chưa đáp ứng được những đòi hỏi lớn
và ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế, xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" Một trong những nguyên nhân đã được chỉ ra là: "Công tác quản lí giáo dục đào tạo có những mặt yếu kém" [26, 27]
Nhiều ý kiến đánh giá công tác quản lí chất lượng giáo dục đào tạo ở nước ta chưa thực sự được quan lâm đúng mức Vấn đề quản lí như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nói chung và chất lượng đào tạo của sinh viên ngành sư phạm nói riêng đang trở thành một đòi hỏi bức thiết Vì thế việc đổi mới phương pháp dạy ở đại học theo hướng phát huy vai trò của người học là một nhu cầu cấp bách hơn bao giờ hết
Theo số liệu bộ kế hoạch và đầu tư, chỉ số chất lượng giáo dục nước ta ở mức thấp là 3,79 So với Hàn Quốc là 6,91; Trung Quốc là 5,73 và Thái Lan là 4,04 Đứng thứ 11 trong tổng số 12 nước, đứng sau cả một số nước trong khu vực như: Mahiysia, Philippin, Thái Lan Một chuyên gia giáo dục quốc tế nói: " Việt Nam muốn phát triển nhanh thì phải học lại cách học, cách dạy theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo từ người học và người dạy [Báo SGGP 06/10/2003]
Luật giáo dục đã xác định 4 định hướng đổi mới phương pháp dạy học là: phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động tình cảm tâm lý đem lại niềm vui, hứng thú học tập.[26]
Nghị quyết TW2 (khoa VIII) cũng đã chỉ rõ: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, ròn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học "[26]
Ngày 20/04/1999 Bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo đã ra chỉ thị số 15 về việc đẩy mạnh hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong các trường sư phạm Trong đó nhấn mạnh:
Trang 10• Giáo viên các trường sư phạm cần đưa hoạt động đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy, học tập trở thành công việc thường xuyên và coi đó là một tiêu chuẩn đánh giá cán bộ
• Đối với sinh viên: có ý thức xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lí thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Rabubin, Makiguchi, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Hà Thế Ngữ đã khẳng định : tự học là một yêu cầu tất yếu khách quan đối với quá trình đào tạo - học tập ở trường đại học nhất là các trường sư phạm [12,17, 23, 25] Trên thực tế, vấn đề tự học của sinh viên ở các trường đại học nói chung và sinh viên
đọc sách, tìm kiếm tri thức mới mà thụ động trông chờ vào bài giảng trên lớp, điều này không phù hợp với bản chất dạy - học ở đại học Có nhiều nguyên nhân để lí giải thực trạng này, trong đó lí do cơ bản là sinh viên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của tự học, chưa được trang bị kĩ năng tự học Vì vậy, trong quá trình dạy học ở trường đại học sư phạm, muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả tự học cho sinh viên, ngoài việc chú trọng cải thiện các điều kiện học tập (tài liệu, trang thiết bị, hệ thống phòng lab ) thì quyết định hơn cả là phải nâng cao năng lực tự học, đặc biệt là hệ thống các kĩ năng tự học Việc tìm những biện pháp nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên sư phạm có ý nghĩa lớn về mặt lí luận và thực tiễn, không những nâng cao hiệu quả dạy học và đào tạo ở trường mà còn rèn luyện cho sinh viên có đủ năng lực học tập lâu dài, suốt đời
Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Luật giáo dục ghi rõ: "Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng "[26] Như vậy, phương pháp dạy
và học ở các trường đại học, cũng như ỏ trường sư phạm cần thực hiện theo ba định hướng trong đó quan trọng nhất là bồi dưỡng năng lực tự học, tự đào tạo
Từ những phân tích trên, chúng tôi chọn đề tài: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIỀN KHOA LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY MÔN CƠ ĐẠI CƯƠNG",
Trang 11với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đáp ứng được những yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
4- Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động tự học của sinh viên năm thứ I khoa Lý trong quá trình học tập môn cơ học đại cương
5-Gi ả thuyết khoa học:
Chất lượng tự học của sinh viên năm thứ I khoa Lý được nâng cao nếu thực hiện đồng
bộ, khoa học việc giáo dục động cơ học tập với việc bồi dưỡng kĩ năng tự học, tổ chức cho sinh viên thực hiện độc lập các bài tập lý thuyết và thực hành đa dạng, cải tiến quá trình dạy học theo hướng dạy - tự học
6-Nhi ệm vụ của đề tài:
của sinh viên năm thứ I khoa Lý trường Đại học sư phạm TPHCM
Lý trường Đại học sư phạm TPHCM
7-M ột số quan điểm phương pháp luận:
có tầm quan trọng đặc biệt, trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu qua của quá trình đào tạo
của cá nhân nhưng không tách khỏi hoạt động dạy và vai trò chỉ đạo của giáo viên Ngoài học tri thức, sinh viên sư phạm phải học nhân cách làm người thầy tương lai
Trang 12Trong quá trình tự học, sinh viên phải có động cơ học tập đúng đắn và nắm vững các
kĩ năng tự học, để hình thành và phát triển năng lực tự học
8- Phương pháp nghiên cứu:
a) Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích tổng hợp phân loại, hệ thống hóa, khái
quan tới đề tài
lác giả trong và ngoài nước
b) Phương pháp điều tra :
- Đối tượng điều tra: sinh viên khoa Lý, Hóa, Toán đại học sư phạm TPHCM và một
số giáo viên trong trường
- Nội dung điều tra:
Xây dựng và sử dụng 02 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến trên sinh viên và giáo viên nhằm tìm hiểu nhận thức về :
+ Ý nghĩa, tầm quan trọng của tự học
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
+ Mức độ thực hiện các hành động tự học
+ Mức độ cần thiết của các kĩ năng tự học
c) Phương pháp quan sát phỏng vấn:
Trang 13d) Phương pháp thực nghiệm:
hướng dạy - tự học
+ Chọn lớp đối chứng và thực nghiệm
+ Xác định thực trạng ban đầu của sinh viên trước khi tác động
+ Soạn các tài liệu thực nghiệm
+ Tiến hành tác động sư phạm ở lớp thực nghiệm
+ Kiểm tra, đánh giá
+ Xử lí số liệu và phân tích kết quả
Cấu trúc luận án bao gồm phần mở đầu, 4 chương, kết luận của luận án, phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục Bốn chương của luận án là:
Chương 1 : Cơ sở lí luận về hoạt động tự học
Ch ương 2 : Thực trạng tự học của sinh viên Đại học sư phạm TPHCM
Chương 3 :Một số biện pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên năm I khoa Lý
Đại học sư phạm TPHCM trong quá trình giảng dạy môn cơ đại cương
Chương 4 : Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề tự học
1.1.1 Vài nét v ề lịch sử vấn đề tự học thời kỳ cận đại
của tự học
+ Khổng Tử (551 -479 TCN) đã quan tâm tới việc kĩch thích sự suy nghĩ của học trò khi dạy học Ông nói "Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật có bốn gốc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy cho nữa "[Luận ngữ]
cách đặt câu hỏi cho người học trò tự tìm ra kết luận
Sang thời kì cận đại vấn đề tự học được quan tâm nhiều hơn nhưng do nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học kĩ thuật mà một thời gian dài, việc tự học chủ yếu vẫn giới hạn trong sự ghi nhớ lời thầy, lấy đó làm mục tiêu cuối cùng của việc học
+ Nhà sư phạm vĩ đại Tiệp Khắc J.A.Comexki (1592 -1670) ông tổ của nền sư phạm cận đại, người đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của giáo dục đã khẳng định:"Không
có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng" [9] Nhiều tác giả đã nghiên cứu tự học dưới nhiều góc độ khác nhau, đã có nhiều tư tưởng, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề tự học [4, 13]
+ Vào thế kỷ thứ VIII - XIX, các nhà giáo dục lỗi lạc như Rutxo (1712 -1778), Pestalôgi (1746- 1827), Dixtecvec (1790- 1866), Usimxki (1824-1890), trong khi quan tâm tới sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của học sinh đã nhấn mạnh cách làm cho người học giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi Điều đó bắt buộc người học độc lập suy nghĩ, tìm kiếm tri thức [6]
thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý Giáo viên không chỉ truyền thụ tri thức có sẵn, mà còn định hướng tổ chức cho học sinh tự mình khám phá ra tri thức mới".[4]
Trang 15Các nước Tây Âu và Mỹ sau chiến tranh thế giới lần 2 đã quan tâm tìm kiếm phương pháp giáo dục mới J.Deway (1859 - 1925), nhà sư phạm Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên, đề cao hoạt động của học sinh đặc biệt là hoạt động thực tiễn J.Deway đề xướng: "Học sinh là mặt trời, xung quanh nó qui tụ mọi phương tiện giáo dục".[26]
+ Dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biến chứng, nhiều nhà giáo dục ở các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ), không những khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học như
cạnh tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tự học Các tác giả nhấn mạnh: Giáo dục động cơ hoạt động đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự học [8, 21, 22, 26]
1.1.2 V ấn đề tự học trong giai đoạn hiện đại
Các nhà giáo dục hiện đại đã đi sâu vào nghiên cứu khoa học giáo dục và đã khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học
rằng: Giáo dục là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kĩch thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc cho bản thân và cho cộng đồng.[16]
+ Năm 1986, hai nhà giáo dục Ấn Độ là S.D.Sharman và Shakti Ahmed đã có tác phẩm "Phương pháp dạy học ở đại học" Trong đó trình bày hoạt động tự học là một hình thức dạy - học có hiệu quả cao Thông qua thực hiện các nhiệm vụ nhận thức được thiết kế,
để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ đã xác định Đó là quá trình điều khiển hoạt động tự học của sinh viên một cách gián tiếp [16]
+ Gần đây, tiến sĩ R.R.Singh (Ấn Độ) đưa ra quan niệm về "Quá trình nhận biết học - dạy" Tác giả cho rằng người học phải là những người tham gia tích cực vào quá trình nhận biết - học - dạy Ông nhấn mạnh: người học là lực lượng tích cực, là lực lượng chủ đạo trong quá trình học kiến thức và việc họ tự khai thác được các tiềm năng của bản thân trong quá trình học là điểm chủ yếu cho định hướng giáo dục Tuy nhiên tác giả vẫn khẳng định : giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình nhận biết - học - dạy.[18]
+ Các nhà giáo dục học Việt Nam như Nguyễn Cảnh Toàn [23, 24], Phan Trọng Luận
Trang 16đổi mới dạy học theo hướng "Lấy người học làm trung tâm", đã coi tự học như một chìa khóa vàng của Giáo dục Việt Nam trong thời đại bùng nổ thông tin Các tác giả cho rằng: trả lại vị trí vốn có của người học là phát huy nội lực của người học dưới sự điều khiển định hướng của giáo viên Các tác giả khẳng định : "Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ và các phẩm chất đạo đức để chiếm lĩnh một lãnh vực tri thức nào đó của nhân loại, biến những tri thức của nhân loại thành những trí thức của chính mình."[9] Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những tác phẩm và những bài nói chuyện của Người, nhất
người cán bộ cách mạng Chính cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời của ý chí, quyết tâm trong học tập và rèn luyện trong gian lao để đạt tới đỉnh cao của tài năng và đạo đức Bác Hồ đã động viên toàn dân: "Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập."[7]
Như vậy, vấn đề tự học của người học trong lịch sử nghiên cứu đã được các nhà giáo dục trong và ngoài nước đề cập đến ở nhiều khía cạnh khác nhau Các tác giả nhấn mạnh vai trò to lớn của tự học, tự nghiên cứu trong hoạt động học tập của người học Để nâng cao chất lượng, hiệu quả tự học của sinh viên, các tác giả cũng đã xác định: sinh viên có động
cơ học tập và tự học mạnh mẽ, có kĩ năng tự học hợp lý là điều kiện cơ bản đảm bảo hoạt động tự học có hiệu quả Đặc biệt, các tác giả quan tâm tới việc thiết kế và tổ chức thực hiện
hệ thống bài lập nhận thức, bài tập tự nghiên cứu, thông qua đó để hoàn thành nhiệm vụ học tập của sinh viên Tự học là hình thức dạy học ở đại học, là hoạt động nhận thức của người học dưới sự chỉ đạo của giáo viên, là quá trình tự đào tạo ngoài quá trình dạy học ở nhà trường Đó là những cơ sở quý báu để chúng ta tiếp thu chọn lọc và vận dựng vào thực tiễn dạy học hiện nay
1.2 Cơ sở lí luận về hoạt động tự học của sinh viên
1.2.1 Khái ni ệm và đặc điểm tự học của sinh viên
Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học, nhằm hướng tới những mục đích nhất định Trong quá trình đó, người học thực sự làm chủ thể của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm
lý tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu
Trang 17Tự học là một hình thức tổ chức dạy học ở đại học Đây là dạng tổ chức nhận thức của
cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo do bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theo hay không theo chương trình mà sách giáo khoa qui định Khi người học tích cực, tự giác phát huy hết những phẩm chất và năng lực của mình vào quá
Các nhà tâm lý học cho rằng: tự học là một quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội về hoạt động lí luận và thực tiễn của cá nhân, bằng cách thiết lập các quan hệ mới, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể
Việc tự học của sinh viên đòi hỏi tính độc lập, tự chủ rất cao, sinh viên phải biết vận dụng các quá trình tâm lý vào điều khiển một cách có ý thức, có lí trí trong công việc học tập của mình
Quá trình dạy học ở đại học là một hệ thống, hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ biện chứng với nhau Hoạt động học là một nhân tố trung tâm mang tính đa dạng,
mà tự học là một bộ phận không thể tách rời, đảm bao cho sinh viên hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập
Hoạt động tự học của sinh viên có phạm vi rất rộng, được diễn ra dưới nhiều hình thức
và mức độ khác nhau như sau:
Mức 1: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên và những phương tiện kĩ thuật ở trên lớp Trong hoàn cảnh này, sinh viên phải tự phát huy những phẩm chất và những năng lực của mình như khả năng chú ý, óc phân tích, năng lực khái quát hóa, tổng hợp hóa để tiếp thu những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà giáo viên định hướng cho
Mức 2: Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra khi không cỏ sự điều khiển trực tiếp của giáo viên Sinh viên phải tự sắp xếp quỹ thời gian và điều kiện vật chất để tự lĩnh hội,
ôn tập, tự củng cố, đào sâu những tri thức hoặc tự rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo ở một lĩnh vực nào dó theo những yêu cầu trong chương trình đào tạo của nhà trường
Mức 3 : Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra khi không có sự diều khiển trực tiếp của giáo viên, không nằm trong chương trình đào tạo của nhà trường Sinh viên tự tìm hiểu tri thức đổ tự thoả mãn những nhu cầu hiểu biết của mình Ở đây sinh viên phải tự tìm tài
Trang 18liệu, tự đọc lấy mà hiểu kiến thức trong sách, qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách (thiếu kiên trì, dễ thỏa mãn, ) Đó là tự học ở mức cao nhất Như vậy, mức độ khó khăn đối với người học tăng dần từ mức độ 1 đến mức độ 3 Song về bản chất, hoạt động tự học là hoạt động nhận thức độc lập, tích cực, tự giác của sinh viên Hoạt động tự học của sinh viên có tầm quan trọng đặc biệt Nó trực tiếp quyết định chất lượng, hiệu quả học tập, góp phần quyết định chất lượng, hiệu quả đào tạo của nhà trường đại học Mọi sự tác động của giáo viên về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cũng phải thông qua sự nỗ lực hoạt động của mỗi sinh viên mới có hiệu quả
thân mình
Sinh viên không chỉ là đối tượng tác động của giáo viên mà còn là chủ thể tích cực sáng tạo trong quá trình dạy học, thể hiện quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu ở đại học Họ không chấp nhận chân lý một cách thụ động, áp đặt, có ý thức tự mình giải quyết các mâu thuẫn bên trong, giữa một bên là nhu cầu hiểu biết ngày càng cao, khối lượng nhiệm vụ học tập ngày càng lớn và một bên là điều kiện, năng lực học lập, thời gian tự học còn hạn chế Đây là điều khác về bản chất so với hoạt động học tập ở phổ thông
Mâu thuẫn liên tục nảy sinh, liên tục được giải quyết bởi chính bản thân sự nỗ lực của sinh viên, làm cho tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và toàn bộ nhân cách của họ vận động và phát triển từ thấp đến cao Nhờ vậy, sinh viên thích ứng nhanh với thực tiễn đời sống xã hội, với
Do mục đích và phạm vi của dề lài, chúng tôi chỉ xem xét hoạt động tự học của sinh viổn ỏ mức độ 1 và 2, tức là hoạt động tự học của sinh viên dưới sự điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp của giáo viên Sự tổ chức, điều khiển của giáo viên được tiến hành thông qua việc giao cho sinh viên thực hiện các nhiệm vụ học tập và giải quyết các bài tập nhận thức Như vậy, hoạt động tự học mà chúng tôi xét ở đây không tách rời vai trò chủ đạo của giáo viên
1.2.2 M ối quan hệ thầy - trò trong quá trình tự học của sinh viên
Quá trình dạy học ở đại học luôn vận động, phát triển và tuân thủ những qui luật nhất định Trong hệ thống qui luật đó thì hoạt động dạy và hoạt động học phải thống nhất biện chứng với nhau, là qui luật cơ bản của quá trình dạy học Vì vậy cũng như hoạt động học
Trang 19nói chung, hoạt động tự học của sinh viên có mối quan hệ biện chứng và thống nhất với hoạt động của giáo viên, tức là không tách khỏi vai trò chỉ đạo của người thầy
Sự tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ với nhau giữa hoạt động học của sinh viên và hoạt động dạy của giáo viên sẽ quyết định sự tồn tại và vận hành của quá trình dạy học Mặc dù hoạt động tự học chủ yếu thuộc về vai trò tự giác, tích cực, độc lập của sinh viên, nhưng vai trò định hướng, tổ chức điều khiên và quản lý, kiểm tra, đánh giá của giáo viên cũng trực tiếp quyết định đến kết quả tự học của người học
Giáo viên có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên hoàn thành nhiệm vụ tự học đồng thời thường xuyên theo dõi kiểm tra, đánh giá kết quả tự học, từ đó điều chỉnh quá trình nhận thức của họ và điều chỉnh quá trình giảng dạy của chính giáo viên Vai trò chỉ đạo của giáo viên đối với hoạt động tự học của sinh viên không giống như khi trực tiếp tiến
đạo gián tiếp thông qua các nhiệm vụ tự học giao cho sinh viên
Giáo viên không hoàn toàn phó mặc cho sinh viên, cũng không làm thay cho sinh viên trong hoạt động tự học của họ, mà là tổ chức và điều khiển gián tiếp Vì vậy giáo viên phải biết đặt ra cho sinh viên những mục tiêu vừa sức, bảo đảm cho sự trưởng thành và tự nhận biết về mức độ tiến bộ của họ Làm như vậy là giáo viên đã kĩch thích cho sinh viên nảy sinh hứng thú tự học, phát triển mọi năng lực làm chủ hoàn toàn hoạt động nhận thức của
dẫn thông tin
Đồng thời với vai trò điều khiển của mình, giáo viên còn có nhiệm vụ giúp sinh viên
về vấn đề này, Makiguchi đã gợi ý: "Muốn nắm được cách dạy người khác, bản thân người thầy phải tìm ra cách học của chính mình Một khi giáo viên đã tìm được cách học hữu hiệu nhất, họ sẽ hiểu rằng, đó chính là phương pháp phải dùng để hướng dẫn người học".[16] Thông qua những hình thức dạy - học cơ bản ở đại học như: diễn giảng, xêmina, thực hành và tự học thì vai trò tích cực, chủ động của sinh viên được tăng dần còn vai trò trực tiếp của giáo viên thì giảm dần đến gián tiếp ở hình thức hoạt đông tự học của sinh viên
Trang 20+ Khi tiến hành diễn giảng (thuyết trình), giáo viên hoàn toàn chủ động về nội dung, phương pháp, tiến độ và nặng về độc thoại Sinh viên ít có cơ hội tham gia vào tiến trình khám phá tri thức, các tri thức được giáo viên truyền tới sinh viên một cách tuần tự, sinh viên chỉ cần ghi nhớ, hiểu đúng tư tưởng của giáo viên Giáo viên là chủ thể của buổi học
được cảm hứng và rất kinh tế, nhưng dưới góc độ lưu trữ thông tin thì phương pháp này có kết quả rất thấp, người học chỉ giữ được 5% lượng thông tin.[16, 25]
được đưa ra trao đổi, tranh luận trước nhóm, trước tập thể lớp dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên Sinh viên có điều kiện để phát huy sáng kiến, tự trình bày quan điểm của
kế hoạch và tiến độ của giáo viên, và thường giáo viên sẽ là người đưa ra kết luận cuối
thức khoa học trong xemina được sinh viên cùng nhau khám phá nhưng vẫn phải hướng vào làm rõ nội dung bài giảng của giáo viên Như vậy, ở hình thức này, sinh viên đã hoạt động tích cực hơn, giáo viên không còn độc thoại, áp đặt như trong bài giảng
Theo thống kê thì khi áp dụng phương pháp này người học lưu trữ được 50% lượng thông tin.[16, 25]
+ Ở mức độ thực hành, sinh viên vận dụng tri thức dưới sự chỉ đạo trực liếp của giáo viên, làm chủ và tự điều khiển hoạt động học tập của mình Ở đây, nội dung bài học vẫn do giáo viên xác định và điều khiển Giáo viên không phải đan dắt sinh viên từng bước, nhưng vẫn có nhiệm vụ hướng dẫn sinh viên đi theo trình tự, nội dung và cách thức đã chuẩn bị trước Tri thức khoa học trong buổi học chứa đựng ở đối tượng nhưng là đối tượng được
được 75% lượng thông tin.[16, 25]
+ Đối với hình thức tự học: sinh viên hoàn toàn chủ động cả về nội dung, phương pháp, kế hoạch và tiến độ thực hiện các hành động Giáo viên giao nhiệm vụ nhận thức cho sinh viên thực hiện Tri thức khoa học của sinh viên cần lĩnh hội trong tự học không chỉ nằm
ở nhiệm vụ tự học được giao mà còn có nhiều dạng phong phú khác, gắn liền với hoạt động tương lai của sinh viên Ở hoạt động tự học, vai trò giáo viên càng mờ nhạt, vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên càng rõ rệt hơn, đối tượng nhận thức độc lập, ngày càng gắn liền
Trang 21với thực tiễn Sinh viên có khả năng diễn đạt, trình bày lại những tri thức đã lĩnh hội được
Độ lưu trữ thông tin ở người học khi áp dụng hình thức này đạt 90% [16, 25]
1.2.3 Vai trò c ủa động cơ trong quá trình tự học
Hoạt động nào của con người cũng đều có mục đích, và được thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động Động cơ hoạt động chính là nguyên nhân trực tiếp, duy trì hứng thú, khát vọng, giúp chủ thể vượt qua mọi khó khăn để đạt tới mục đích đã định Do vậy, động cơ hoạt động
sẽ quyết định kết quả của hoạt động
Hoạt động học tập nói chung và hoạt động tự học nói riêng của sinh viên có hệ thông động cơ phong phú, đa dạng Trong tự học, động cơ hoạt động có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, giành kết quả cao trong học tập, khát vọng nắm vững tri thức, không bằng lòng với kiến thức đã
có
Giáo sư Phạm Minh Hạc viết: "Động cơ tâm lý không phải là cái thuần tuy tinh thần ở bên trong cá thể Nó phải được vật thể hóa (hiện thân, bám vào) ở đối tượng của hoạt động Điều đó có nghĩa là động cơ phải có một hình thức tồn tại vật chất, hiện thực ở bên ngoài Với ý nghĩa đó, đối tượng của hoạt động chính là nơi hiện thân của động cơ hoạt động ấy."[17]
Động cơ tự học của sinh viên được hình thành dần trong quá trình họ đi sâu vào chiếm lĩnh đối tượng học tập Trong quá trình tự học, chính nội dung tri thức khoa học làm nảy sinh trong sinh viên lòng khao khát hiếu biết, ham muốn và say mê nghiên cứu, thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của mình
Rõ ràng, động cơ hoạt động tự học không có sẵn, không thể áp đặt từ bên ngoài mà
Trước hết, động cơ tự học phải được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ tự học Thông
khám phá chiếm lĩnh đối tượng học tập và tri thức khoa học Động cơ tự học cũng nâng dần
từ cấp độ thấp lên cấp độ cao hơn, điều này sẽ thúc đẩy ngày càng mạnh mẽ tính tích cực nhận thức của sinh viên trong tự học
Trang 22Tóm lại, động cơ tự học của sinh viên quyết định kết quả tự học của họ trong quá trình đào tạo Mục đích có nghề nghiệp bền vững khi ra trường chính là cơ sở phát triển động cơ
tự học của sinh viên Kết quả hoạt động tự học sẽ tác động cụ thể vào kết quả học tập của sinh viên Đặc biệt đối với sinh viên sư phạm, động cơ hoạt động tự học của sinh viên còn ảnh hưởng tới sự hình thành phẩm chất nhân cách của người thầy giáo tương lai
1.2.4 Kĩ năng tự học
• V ề khái niệm kĩ năng: các nhà giáo dục học đã coi kĩ năng học tập của sinh viên là
một loại kĩ năng chuyên biệt của hệ thống các kĩ năng sư phạm và được sử dụng để lĩnh hội tri thức, phát triển trí tuệ trong quá trình học lập Khái niệm kĩ năng còn là vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng tựu chung chia làm hai nhóm :
phương tiện thực hiện hành động Người có kĩ măng là người nắm được tri thức về hành động và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không tính đến kết quả của hành động
thực hiện một công việc, tạo ra kết quả trong điều kiện cụ thể Quan niệm này chú ý tới kết quả của hành động
Các ý kiến trên không mâu thuẫn với nhau Đó chỉ là các quan niệm khác nhau về kĩ năng: các tác giả đưa ra khái niệm: "Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động với những điều kiện cho phép Kĩ năng thể hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hành động và kĩ thuật của hành động".[22, 25]
Thực hiện hành động tự học, sinh viên không sao chép máy móc mà họ luôn có hành động tự khám phá, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo những cách học vào từng trường hợp cụ thể- Nguyễn Kỳ đã viết : "Một cấu trúc trí khôn tốt hơn là khối lượng tri thức tích lũy được" [12] Trong đó "Cấu trúc trí khôn" với nghĩa là phương pháp học, hay cách học
• Đặc trưng của kĩ năng tự học:
Trang 23- Kĩ năng tự học là tổ hợp cách thức hành động tự học được người học nắm vững - biểu hiện ở mặt kĩ thuật của hành động tự học và mặt năng lực tự học của mỗi cá nhân Có
ỡi năng tự học là có năng lực tự học ở mức độ nào đó
tự học và có ý nghĩa quyết định đến kết quả tự học
• Hệ thống các kĩ năng tự học:
pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kĩ năng tự học, tương ứng với các hành động tự học như: kĩ năng ghi chép, kỉ năng đọc sách, kĩ năng nghiên cứu tài liệu, kĩ năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, hệ thống hóa và khái quát hóa
Hệ thống các kĩ năng tự học có thể chia làm 3 nhóm chính :
Nhóm 1: Nhóm kĩ năng kế hoạch hóa, bao gồm các kĩ năng: xác định mục tiêu, nội
phối thời gian hợp lý cho từng công việc
Nhóm 2: Nhóm kĩ năng thực hiện kế hoạch, bao gồm các kĩ năng đọc sách, đọc tài liệu, ghi chép, kĩ năng giải bài tập nhận thức Trong đó đặc biệt quan trọng là kĩ năng hệ thống hóa và khái quát hóa
Nhóm 3: Nhóm các kĩ năng kiểm tra đánh giá Bao gồm các kĩ năng xác định nội dung kiểm tra, đánh giá, xây dựng chuẩn mực kiểm tra, đánh giá, chọn cách thức thực hiện, so sánh đối chiếu
•Vai trò c ủa kĩ năng tự học :
sử dụng một cách linh hoạt sáng tạo trong các tình huống khác nhau Hệ thống kĩ năng tự học hình thành trên cơ sở tri thức và những thói quen đã được luyện tập một cách nhuần nhuyễn, có mục đích Nói khác đi, kĩ năng chỉ được hình thành trên cơ sở hệ thống các tri thức tương ứng với nó, trong điều kiện được rèn luyện thường xuyên
Hoạt động tự học của sinh viên không chỉ hướng vào việc tiếp thụ những tri thức, kĩ
thân hoạt động, nói cách khác tiếp thu được cả phương pháp giành tri thức đó Hoạt động tự
Trang 24học của sinh viên được tiến hành bởi các hành động tự học nhằm giải quyết một nhiệm vụ
cụ thể trong những điều kiện cụ thể Hành động tự học của sinh viên được thực hiện bằng hệ thống các thao tác trí tuệ (so sánh, phân tích, trừu tượng hóa, khái quát hóa ), tuy thuộc vào những mục đích, điều kiện, tri thức, kĩ năng mà sinh viên đã có Những thao tác trí tuệ tham gia thực hiện những hành động này chính là những hành động được tổ chức lại và trở thành phương thức chiếm lĩnh, hoàn thành các nhiệm vụ tự học khác Nhờ những kĩ năng này mà
kết luận, những khái niệm, những định luật, định lí mà họ chiếm lĩnh chúng bằng các hoạt động tự khám phá theo phương thức riêng của mình Như vậy, trong quá trình tự học, sinh
chúng một cách linh hoạt, sáng tạo trong những trường hợp, điều kiện cụ thể
Thực chất của việc hình thành các kĩ năng trong tự học là hướng dẫn cho sinh viên nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi, sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ học tập cụ thể Do đó trong hoạt động tự học, luôn đòi hỏi sinh viên tính chủ động, sáng tạo trong cách học hơn là những tri thức thu lượm được Các nhà tâm lí học đã khẳng định: mục đích của làm chủ trí tuệ không phải là biết nhắc lại hay bảo tồn chân lý đã có, mà phải là học chiếm lĩnh bằng chính bản thân mình.[17,25]
Như vậy, để tự học đạt chất lượng và hiệu quả, sinh viên phải có tri thức và kĩ năng tự
học, là điều kiện vật chất bên trong để sinh viên biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và
là m cho sinh viên tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ
Kết luận của chương 1:
trường, cho thấy rằng hoạt động này từ lâu đã được quan tâm đến và nghiên cứu theo nhiều hướng khác nhau Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học thực sự
là chủ thể của nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt mục tiêu đã định Hoạt động tự học của sinh viên được thực hiện ngoài giờ
Trang 25+ Đặc điểm cơ bản của dạy và học ở trường đại học là tính giao lưu suy nghĩ, giao lưu nhận thức và trí tuệ sinh động, là một cuộc đối thoại đa chiều giữa thầy và trò, giữa trò với trò, giữa nhận thức cũ và nhận thức mới, giữa cái đã biết và chưa biết, giữa cái khẳng định
và hoài nghi mà ở đó ai cũng trình bày ý kiến riêng của mình về cùng một vấn đề trên cơ sở
tự học, tự nghiên cứu trước đó
+ Động cơ tự học và kĩ năng tự học là hai yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng học tập và chất lượng tự đào tạo của sinh viên, quyết định chất lượng "sản phẩm" khi
ra trường Việc nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên là vấn đề có ý
nghĩa lớn trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy -học ở trường đại học hiện nay
+ Đặc biệt đối với sinh viên sư phạm, vì "sản phẩm" khi ra trường đóng vai trò cực kì quan trọng, là nhân tố chính tác động đến nền giáo dục của cả một xã hội, có ảnh hưởng tới
cả một thế hệ cho nên việc nâng cao chất lượng đào tạo của sinh viên đại học sư phạm là yêu cầu cấp bách hơn bao giờ hết, mang ý nghĩ sống còn Chất lượng của sinh viên đại học
sư phạm khi ra trường là bộ mặt giáo dục, là nền tảng của xã hội trong tương lai Muốn được vậy thì trường sư phạm phai thực sự là "máy cái", là công nghiệp nặng của ngành giáo dục
Trang 26
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH
VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TPHCM
2.1 Kh ảo sát và phân tích kết quả nhận thức của giáo viên và sinh viên về vấn đề tự
h ọc
2.1.1 M ục đích khảo sát:
viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
2.1.2 N ội dung khảo sát:
Để biết được thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Đại học Sư phạm TPHCM, chúng tôi tìm hiểu một số nội dung sau:
2.1.3 Phương pháp khảo sát và tiến hành
viên trường đại học sư phạm bằng cách dùng các phiếu điều tra kết hợp với quan sát và trao đổi trực tiếp Trước khi khảo sát, chúng tôi trực tiếp nập sinh viên, giáo viên để có nhận xét
sơ bộ Từ đó chúng tôi thiết kế 02 mẫu trưng cầu ý kiến: (phần phụ lục.)
Trang 27Sau khi xử lý: 45 phiếu KS 01 và 300 phiếu KS 02, kết hợp với quan sát, chúng tôi thu được những kết quả sau :
của họ Đặc biệt 93% sinh viên nhận thấy tự học sẽ giúp sinh viên đạt kết quả cao trong các
kì thi hay kiểm tra
mình 79,4% sinh viên cho rằng tự học giúp họ hình thành nề nếp làm việc khoa học 61,4% sinh viên nhận thấy tự học giúp họ hình thành kĩ năng tự học
năng vận dụng tri thức vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập, đạt kết quả cao trong kì thi Trên 92% giáo viên khẳng định tự học giúp sinh viên hình thành nề nếp làm việc khoa
Trang 28học, kĩ năng tự học, thói quen tích cực, tự giác, độc lập, giúp sinh viên tự tin vào bản thân mình
trò, tác dụng to lớn của hoạt động tự học Điều đó không những có ý nghĩa đến việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển toàn diện nhân cách của người giáo sinh khi ra trường trong tương lai
Số liệu bảng 2 cho thấy:
tích cực tới hoạt động tự học Họ coi đó là yếu tố bên trong thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên
giao sinh viên nhiều bài tập đa dạng, vừa sức với người học
hưởng tới hoạt động tự học cua sinh viên
Trang 29- 91,3% giáo viên và 95,6% sinh viên cho rằng điều kiện vật chất, tài liệu và phương tiện thiếu thốn ảnh hưởng xấu đến tự học của sinh viên
sinh viên ảnh hưởng lớn đến hoạt động tự học
Trang 301- Mong muốn đạt kết quả cao trong kì thi, kiểm tra
Số liệu bảng 3, 4 cho thấy thực trạng về động cơ tự học của sinh viên :
Kết qủa khảo sát cho thấy động cơ tự học của sinh viên phát triển không đồng đều, mạnh
mẽ Có 96,4% sinh viên cho rằng vào thời điểm thi, kiểm tra mới thôi thúc mình tự học, ôn tập mong đạt kết quả cao Đây là động cơ mang tính hình thức, động cơ "gần" không mang tính tích cực chiếm lĩnh tri thức
vọng chiếm lĩnh tri thức
Thực tế cho thấy nhiều sinh viên khi mới vào năm thứ nhất, đã suy nghĩ theo hướng không có kiểm tra hàng tháng như ở phổ thông thì không việc gì phải vội, cứ ghi chép xong
là hoàn thành nhiệm vụ đi học Đến khi thi chờ câu hỏi ôn tập rồi mới bắt đầu học Như vậy việc học của sinh viên nhằm mục đích đối phó, trả nợ, chỉ cần điểm số - tức là bằng cấp - không cần tri thức thực tế "thấm" vào người như thế nào
Vì việc học chỉ dồn vào kì thi, nên chất lượng thấp, thời gian không đủ để học hết những câu hỏi ôn tập, làm nảy sinh những tiêu cực khi thi Hệ quả là chất lượng tự học kém, sinh viên ra trường không đủ tri thức đảm đương công việc trong môi trường mới, lâu dài làm ảnh hưởng đến cả một "thế hệ"
Trang 311- Chỉ học theo bài giảng trên lớp
Trang 323- Thường xuyên kết hợp học theo bài giảng và tài liệu tham khảo
Số liệu bảng 5, 6 cho thấy mức độ thực hiện các hành động tự học của sinh viên
quá trình độc lập học lập nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập đề ra Lựa chọn kĩ năng tự học như thế nào để đạt chất lượng và hiệu quả cao trong tự học phụ thuộc vào tính linh hoạt, sự sáng tạo của mỗi sinh viên
chỉ làm đầy đủ nhiệm vụ, bài tập do giáo viên yêu cầu Theo chúng tôi đây là cách học truyền thống, phổ biến ở nhiều nhà trường và nhiều môn học khác nhau ở cá học sinh và sinh viên Ưu điểm của cách học này là sinh viên thu được những kiến thức cơ bản, trọng tâm, đã được giáo viên lựa chọn định hướng Tuy nhiên, nhược điểm của cách học này là, làm mất đi tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên Chất lượng và kết quả trong quá trình học tập sẽ không cao
Trang 33Số liệu bảng 7 cho thấy đánh giá mức độ cần thiết cua kĩ năng tự học Có khá nhiều sinh viên cho rằng mình chưa thể thực hiện được các kĩ năng tự học Phần lớn sinh viên tự đánh giá kĩ năng tự học của mình ở mức thấp:
rằng cần thiết phải lập kế hoạch 34,7% sinh viên cho rằng không cần ghi chép tài liệu đã đọc
58,3% sinh viên cho rằng không nhất thiết phải giải quyết các nhiệm vụ nhận thức học tập trong quá trình tự học
Những phương pháp tự học mà sinh viên ít sử dụng như: chỉ có 32,4% sinh viên hệ thống hóa, tóm tắt phân loại; 33,4% đề xuất thắc mắc; 33,9% kết hợp bài giảng và tài liệu
Trang 34tham khảo; 46,6% đọc giáo trình trước khi học bài mới; 69,6% chỉ thực hiện theo yêu cầu
Như vậy, động cơ tự học của sinh viên ĐHSP TP HCM còn thiếu và yếu, không đều
Do vậy cần phải được quan tâm xây dựng, thường xuyên giáo dục động cơ hoạt động tự học đúng đắn, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của tự học - tự đào tạo Điều đó trước hết
là trách nhiệm chung ở cả sinh viên, giáo viên cũng như toàn bộ máy đào tạo của nhà trường
Những phương pháp trên nếu được sử dụng thường xuyên và hợp lý sẽ mang lại chất lượng, hiệu quả cao trong học tập và tự học Các phương pháp này đòi hỏi sinh viên phải lao động trí óc căng thẳng, có sự động não, phát huy tính tích cực, tự lực và tự giác, giúp sinh viên hiểu sâu kiến thức, nắm vững chuyên môn, đạt chất lượng và kết quả cao trong học tập Tuy nhiên, thực tế khảo sát cho thấy số sinh viên sử dụng các biện pháp tự học trên còn rất
ít, không thường xuyên Đa số sinh viên vẫn theo phương pháp học cổ điển, ảnh hưởng từ trường phổ thông, thụ động, không đào sâu, nắm chắc vấn đề Tình hình đó làm cho kết quả
tự học của sinh viên thấp, không đạt mục đích dạy học đề ra Như vậy, người học chưa có kĩ năng tự học hợp lý để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động học tập
Kết quả điều tra cho thấy phần lớn giáo viên và sinh viên đều cho rằng: trong điều kiện thực tế hiện nay ở trường ĐHSP, có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động tự học của sinh viên Từ tình hình cụ thể này chúng ta sẽ tìm ra những biện pháp khắc phục, hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng tự học, tự đào tạo của sinh viên ĐHSP
Tóm lại, phần lớn sinh viên chưa nhận thức được rằng cần phải có kĩ năng để đạt được kết quả trong hoạt động tự học Có khá nhiều sinh viên cho rằng các kĩ năng tự học là không cần thiết Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng học tập, đào tạo của sinh viên sư phạm Sinh viên mới chỉ học lại các bài giảng của giáo viên, cố gắng hoàn thành các bài tập
mà các thầy cô giao cho, các hành động tự học mang tính dập khuôn, qua loa, chiếu lệ Vì vậy nhiệm vụ của giáo viên không chỉ giáo dục động cơ học tập đúng đắn, mà phải hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng tự học cho sinh viên
Trang 352.2 Nh ững nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tự học của sinh viên
2.2.1 Khái ni ệm về chất lượng tự học
Chất lượng giáo dục là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có không ít những ý kiến giống và khác nhau khi trao đổi trong lĩnh vực này Nhìn chung, chất lượng thường được quan niệm là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sự việc
Chất lượng giáo dục biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách người học - người được đào tạo, giáo dục Ở trường đại học, chất lượng giáo dục có hai bộ phận cơ bản: chất lượng dạy học và chất lượng tự học
- Chất lượng dạy học: được quan niệm như là kết quả giảng dạy và học tập, xét cả về
mặt định tính và định lượng so với các mục tiêu bộ môn cũng như góp phần vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Chất lượng dạy học thể hiện tập trung nhất
ở chất lượng học tập của sinh viên
- Chất lượng tự học: chỉ xuất hiện khi có những biến đổi tích cực trong nhận thức,
trong hành vi và trong thái độ của người học
+ Tri thức: khối lượng tri thức mà sinh viên thu lượm, tích lũy được qua quá trình tự học và độ bền vững của nó
+ Kĩ năng: những năng lực mới được hình thành
+ Thái độ: biểu hiện ở phản ứng của cá nhân trước những sự việc, hiện tượng
Tóm lại, chất lượng tự học được xem như một sự chuyển biến tích cực ở người đọc, thể hiện tập trung nhất ở mặt nhận thức, thái độ, hành vi khi họ tích cực, tự giác chiếm lĩnh
ảnh hưởng đến chất lượng tự học của sinh viên là nhằm tạo ra sự chuyển biến bên trong của
cá nhân người học
Chất lượng hoạt động tự học của sinh viên đại học sư phạm còn thấp do nhiều nguyên
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động tự học của sinh viên trong quá trình học tập,
là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan
Trang 362.2.2 Nguyên nhân ch ủ quan:
Chất lượng học tập nói chung và chất lượng hoạt động tự học nói riêng phụ thuộc phần lớn vào bản thân của mỗi sinh viên, cũng chính là phụ thuộc vào sự tự giác, tích cực hoạt động của mỗi người trong suốt quá trình đào tạo
khăn, chưa xác định được mục đích, động cơ học tập đúng đắn, chưa tìm thấy hứng thú trong học tập và rèn luyện Theo kết quả khảo sát, đây là nguyên nhân có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng và hiệu quả tự học (94,8%)
việc phát triển toàn diện nhân cách của người giáo viên tương lai Chính vì vậy, sinh viên chưa kết hợp được tự học với việc tự rèn luyện bản thân
đó, những hình thức tự học phát huy cao tính tích cực nhận thức, tính sáng tạo, và có hiệu quả thì sinh viên ngại khó, ít sử dụng
hoạt động tự học của mình và dẫn đến sự lãng phí thời gian Những trường hợp có lập kế hoạch thì lại thiếu tính khả thi, mang nặng hình thức, đơn giản, kém hiệu quả Việc đầu tư
nhân này càng thể hiện rõ nét đối với sinh viên năm thứ nhất, mới rời khỏi nhà trường phổ thông, bước chân vào đại học, còn rất nhiều bỡ ngỡ và đặc biệt chưa thích nghi được với phương pháp dạy học ở đại học
Tóm lại: Hoạt động tự học của sinh viên hiện nay còn mang tính tự phát, không có nề nếp, thiếu hệ thống kĩ năng tự học Do đó hoạt động tự học kém hiệu quả, không thực hiện được các nhiệm vụ tự học cụ thể
2.2.3 Nguyên nhân khách quan:
Ngoài những nguyên nhân chủ quan kể trên, chất lượng hoạt động tự học của sinh viên đại học sư phạm thấp còn do một số nguyên nhân khách quan khác nhau ảnh hưởng đến Cụ thể:
viên chưa được thường xuyên, cụ thể Công tác giáo dục chỉ chung chung, thường được
Trang 37quan niệm cho rằng đó là việc của bên công tác chính trị, bên Đoàn và Đảng Giáo viên chỉ
là người dạy chuyên môn Chính vì vậy sinh viên hiểu biết và xây dựng động cơ học tập chưa đúng đắn, do đó động cơ tự học cũng chỉ mang tầm nhìn "gần", không phải tầm "xa",
nhượng, không thường xuyên kiểm tra đánh giá và có yêu cầu cao về chất lượng tự học của sinh viên Vì thế sinh viên ít quan tâm đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập Số liệu khảo sát cho thấy 77,5% sinh viên có cùng quan điểm này Việc chưa có chính sách khen thưởng động viên kịp thời, xử phạt nghiêm minh cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng
tự học của sinh viên (80,5%)
lượng tự học Tập thể lớp chưa tác động, lôi cuốn các thành viên tham gia tích cực trong học tập, tự học Các hình thức học tập thể ít được sinh viên quan tâm sử dụng Tập thể lớp ít tổ chức trao đổi kinh nghiệm tự học, rút ra những bài học quý báu, nêu gương điển hình về học tập, tự học Phần lớn sinh viên hiện nay vẫn tự học theo kinh nghiệm cá nhân, tự tích lũy, tự thể nghiệm trong quá trình tự học Họ chưa có kĩ năng tự đánh giá, tự kiểm tra
mê tìm hiểu trong nhận thức Điều này thể hiện rõ trong những môn "khó hiểu", nặng về lí luận, ít bài tập
kĩ thuật phục vụ cho thực tập, thực hành của nhà trường còn thiếu, nhiều thiết bị đã hư hỏng, lạc hậu Nhiều môn hục chưa kịp cập nhật những thông tin mới đã được khoa học xác nhận Điều này làm hạn chế đến chất lượng tự học, hiệu quả học tập và tự học của sinh viên
Tóm lại: Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng tự học của sinh viên sư phạm còn yếu
mật thiết tới chất lượng học cũng như chất lượng đào tạo sinh viên khi ra trường của Đại học sư phạm TPHCM Vì vậy, việc tìm hiểu các nguyên nhân để tìm ra biện pháp khắc phục
là nhiệm vụ bức thiết của giáo viên và sinh viên Đại học sư phạm TPHCM trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay
Trang 382.3 M ột số nhận xét qua thực trạng điều tra hoạt động tự học của sinh viên ĐHSP TP HCM
+ Đa số sinh viên chưa xác định rõ mục đích, động cơ, hứng thú say mê trong học tập Phần lớn hành động tự học được xuất phát bởi động cơ muốn đạt kết quả cao trong kì thi, kiểm tra
trước mắt của hoạt động tự học đối với kết quả học tập mà chưa thấy tác dụng lâu dài của hoạt động này đối với sự hình thành phẩm chất nhân cách của người giáo viên trong tương lai Sinh viên cũng đã nhận thức được ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan đến hoạt động tự học, trong đó những yếu tố quan trọng nhất là thiếu động cơ học tập đúng đắn và thiếu kĩ năng tự học sẽ ảnh hưởng rất xấu đến kết quả học tập
+ Phần lớn sinh viên thiếu nỗ lực, khắc phục khó khăn trong học tập, chưa kết hợp được việc tự học và tự rèn luyện, chưa nỗ lực cố gắng thực hiện các nhiệm vụ của mình trong quá trình học tập Việc tự học còn thụ động, chưa phát huy được vai trò tích cực chủ động sáng tạo trong học tập
+ Sinh viên thực hiện kém hiệu quả hoặc không thực hiện được các nhiệm vụ tự học vì còn thiếu hệ thống kĩ năng tự học, đặc biệt là những kĩ năng đòi hỏi phải phát huy cao tính năng động, tích cực và tính hiệu quả Vì vậy chất lượng tự học còn rất hạn chế
thuộc về giáo viên và các cấp quản lí Các giáo viên còn ít quan tâm đến hoạt động tự học của sinh viên Cụ thể, chưa có nhiều giáo viên quan tâm hướng dẫn cho sinh viên áp dụng các kĩ năng tự học trong học tập
Những kết quả trên đây trong quá trình khảo sát cho thấy nhiệm vụ nặng nề và phức tạp của cả giáo viên và sinh viên trong việc nâng cao chất lượng tự học - tự đào tạo, là một đặc thù cơ bản của quá trình dạy - tự học ở môi trường đại học nói chung và ĐHSP TPHCM nói riêng
Kết luận chương 2:
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn khảo sát qua các phiếu trưng cầu ý kiến về hành động tự học đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận :
Trang 39♦ Tự học là hình thức tổ chức dạy học, có quan hệ mật thiết với các hình thức dạy học khác Nhưng tự học là hình thức học tập cơ bản nhất ở đại học Đã từ lâu, các nhà giáo dục học luôn nghiên cứu tìm ra vai trò, đặc điểm, bản chất của hoạt động tự học trong nhà trường đại học, tìm ra những phương pháp đổi mới tích cực trong giáo dục, nhằm không
nâng cao chất lượng của toàn ngành giáo dục thì hệ quả để lại sẽ rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cả một thế hệ, ảnh hưởng đến việc hội nhập quốc tế của Việt Nam
♦ Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân sinh viên Hai yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng
tự học là động cơ tự học và kĩ năng tự học
Tóm lại, chất lượng học tập cũng chính là chất lượng tự học, tự đào tạo cua sinh viên
ch ỉ có thể được nâng cao nếu sinh viên được giáo dục động cơ học lập đúng đắn và được trang bị những kĩ năng tự học cần thiết Việc nghiên cứu và đề ra những biện pháp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên mang ý nghĩa quyết định trong việc
c ải thiện chất lượng dạy và học của các trường đại học nói chung và ĐHSP TP.HCM nói riêng
Trang 40
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ
H ỌC CỦA SINH VIÊN NĂM I KHOA LÝ ĐHSP TPHCM TRONG QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY BỘ MÔN CƠ HỌC ĐẠI CƯƠNG
3.1 Đặc điểm của bộ môn cơ học đại cương trong khoá trình đào tạo sinh viên khoa Lý trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
môn Vật lý đại cương, bao giờ cũng được dạy cho sinh viên mới nhập học, tức là sinh viên năm I
tốt môn cơ học đại cương thì sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc học các môn Vật lý đại cương tiếp theo ở đại học như: nhiệt, điện, quang, vật lý nguyên tử Sau này khi học năm thứ ba, sinh viên cũng thuận lợi hơn rất nhiều khi học môn ai học lí thuyết - có liên quan mật thiết đến ai học đại cương và cơ học lượng tử
tạo thuận lợi căn bản cho sinh viên tốt nghiệp ra trường Khi về các trường Trung học phổ thông nhận công tác, phần lớn sinh viên khoa Lý được phân công dạy lớp 10, tức là dạy môn cơ học đại cương Hoàn thành tốt công tác này sẽ tạo tính say mê, hứng thú, lòng yêu nghề cho người thầy giáo mới vào đời Đây là động lực ban đầu, nhưng bền vững cho toàn
bộ quá trình công tác dạy học của người giáo viên ở trường phổ thông, đặc biệt nâng cao uy tín, tự tin khi giáo viên tham gia giảng dạy các lớp cuối cấp
Lý trường ĐHSP TPHCM Nội dung môn học mới tiếp cận thì tưởng dễ vì các hiện tượng, qui luật xảy ra ngay xung quanh cuộc sống, chúng ta cảm nhận "sờ mó" được Nhưng đi sâu vào bản chất thì càng thấy phức tạp Hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề trong bộ môn cơ học
mà sinh viên đã được học một phần ở trường phổ thông Điều này rất hữu ích cho hoạt động học tập của sinh viên Dựa vào vốn kiến thức về cơ học ở phổ thông, sinh viên sẽ có cơ sỏ