1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản tự sự cho học sinh trung học cơ sở

100 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 665,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng đặt vấn đề về quan sát, không chỉ quan sát bằng mắt mà bằng tấm lòng, nắm bắt chi tiết quý báu từ đời sống và đưa vào trong tác phẩm [39, tr.61-66]… Những

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

Thành phố Hồ Chí Minh – 2007

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Đặng Ngọc Lệ, người

đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trường Đại học Sư Phạm TP HCM đã tận tâm hướng dẫn, giảng dạy chúng tôi trong thời gian qua

Xin cám ơn Khoa Văn, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau đại học trường Đại học Sư phạm TP HCM, lãnh đạo Phòng Giáo Dục Quận 6, Hiệu trưởng các trường THCS, các đồng nghiệp là giáo viên mạng lưới và giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở Quận 6 đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin được dành lời cảm ơn cho gia đình và bạn bè đã động viên, khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

MỤC LỤC 4

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu : 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 13

7 Cấu trúc luận văn : 13

CHƯƠNG 1 ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN TỰ SỰ VÀ VIỆC TẠO LẬP VĂN BẢN TỰ SỰ CHO HỌC SINH THCS 14

1.1 Khái niệm, đặc điểm VBTS 14

1.1.1 Khái niệm văn bản 14

1.1.2 Phương thức biểu đạt 14

1.1.3 Phương thức tự sự 15

1.1.4 Mục đích giao tiếp của tự sự 15

1.2 Đặc điểm VBTS : 15

1.2.1 Sự việc và nhân vật 16

1.2.2 Chủ đề và dàn bài trong văn tự sự 18

1.2.3 Thứ tự trong văn tự sự 19

1.3 Đặc điểm ngôn ngữ của VBTS 20

1.3.1 Lời văn tự sự 20

1.3.2 Đoạn văn tự sự : 23

1.3 3 Ngôi kể 25

1.4 Vai trò, ý nghĩa việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS cho HS THCS 26

Chương 2 : VẤN ĐỀ DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN TỰ SỰ Ở CHƯƠNG TRÌNH THCS 29 2.1 Đối chiếu VBTS với văn bản miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành 29

Trang 5

2.1.1 Văn bản miêu tả 29

2.1.2 Văn bản biểu cảm 29

2.1.3 Văn bản thuyết minh 30

2.1.4 Văn bản nghị luận 30

2.1 5 Văn bản điều hành (hành chính – công vụ) 31

2.1.6 Nội dung chương trình dạy tạo lập VBTS ở cấp THCS 31

2.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy tạo lập VBTS 33

2.3.1 Thuận lợi : 33

2.3.2 Khó khăn : 34

2.3.3 Thực tế bài làm của HS THCS 37

Chương 3 : PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG TẠO LẬP VĂN BẢN TỰ SỰ 43

3.1 Rèn luyện dùng từ, viết câu, viết đoạn văn, bài văn tự sự 43

3.1.1 Chọn ngôi kể : 43

3.1.2 Rèn luyện dùng từ 46

3.1.3 Rèn luyện viết câu : 52

3.1.4 Rèn luyện làm văn tự sự theo bố cục của bài văn 54

3.2 Vận dụng thiết kế một số bài dạy cụ thể có chú trọng rèn luyện ngôn ngữ ở chương trình THCS 61

3.2.1 Thiết kế giáo án thực nghiệm 61

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 94

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp dạy học là cuộc cách mạng trong ngành giáo dục từ nhiều thập niên qua nhằm phát huy tính chủ động, tích cực của HS, góp phần đào tạo những con người năng động, sáng tạo, những người chủ tương lai đất nước Đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn cũng nằm trong quỹ đạo chung ấy, nhất là từ chương trình và SGK mới thực hiện từ năm

2002 đến nay

Phương pháp dạy làm văn đã được trang bị trong quá trình đào tạo tại các trường sư phạm, được tập huấn trong các đợt bồi dưỡng thay SGK nhưng việc dạy TLV ở cấp THCS còn gặp rất nhiều khó khăn GV tỏ ra lúng túng trong quá trình tổ chức, thiết kế giờ dạy, giải quyết việc phân tích mẫu để hình thành khái niệm, luyện tập rèn kĩ năng tạo lập văn bản cho HS… Đối với HS, thực tế cho thấy các em rất ngán ngại viết bài TLV và chưa có hứng thú học tập phân môn một cách tích cực Thực tế đó đòi hỏi người dạy phải nỗ lực không ngừng để trang bị cho HS kiến thức lý thuyết làm văn, kĩ năng vận dụng tiếng Việt vào việc tạo lập văn bản

Chương trình TLV THCS tập trung giảng dạy 6 kiểu văn bản gồm tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính công vụ VBTS nổi lên như một phương thức quan trọng, xuyên suốt từ đầu cấp đến cuối cấp Nhưng việc dạy và học tạo lập VBTS chưa được đầu

tư đúng mức, có xu hướng xem nhẹ GV và HS thường cho đây là thể loại đơn giản, được học từ chương trình Tiểu học, chỉ cần nghĩ gì viết ấy, hoặc thấy gì viết đó… Tâm lí này gây sự chây lười trong việc rèn luyện tạo lập VBTS của HS

Tự sự là phương thức phản ánh đời sống chân thực Vấn đề lý thuyết tự sự ngày càng được quan tâm phổ biến Bởi vì lý thuyết tự sự cung cấp một bộ công cụ cơ bản, sắc bén nhất giúp cho người ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu khác “Tự sự học phải liên kết với các ngành khác để hiểu biết con người và hiểu biết sự vật.” [75] Nghiên cứu lý thuyết của VBTS và các vấn

đề liên quan khác là nhằm tìm hiểu đặc trưng VBTS và dạy HS tạo lập VBTS theo yêu cầu của nhà trường, nhất là ở cấp THCS Tạo lập VBTS chính là cách bồi dưỡng khả năng quan sát cuộc sống, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm đẹp, góp phần hình thành nhân cách cho HS

Vận dụng kiến thức của tiếng Việt vào việc tạo lập văn bản là nhiệm vụ của chương trình môn Ngữ văn nhằm hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt Tạo lập VBTS như thế nào từ cách sử dụng từ ngữ, câu, đoạn văn, các phương tiện liên kết … trở thành một vấn

đề quan trọng giúp HS có kiến thức và kĩ năng làm tốt bài văn trong nhà trường THCS Đề tài luận văn đặt trọng tâm ở việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS có cơ sở khoa học từ vị trí, mục tiêu, quan điểm xây dựng và phát triển chương trình của bộ môn Ngữ văn

Trang 7

Từ những lí do trên, tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ của văn tự sự để rèn luyện cho HS kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS trở thành nhu cầu cấp thiết góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng học tập bộ môn, hoàn thành tốt mục tiêu của môn học

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Sách giáo khoa

SGK chương trình cũ (chương trình cải cách (1986), chương trình chỉnh lí (1995)) : TLV được coi là một phân môn trong môn Tiếng Việt, nhưng vẫn có SGK riêng mang tên TLV bên cạnh SGK Văn và Tiếng Việt Phân phối chương trình quy định dạy TLV về Kể chuyện ở lớp 7, sau khi HS đã được học về Trần thuật, Miêu tả (lớp 6) Tường thuật (lớp 7) Các kiểu bài miêu tả, trần thuật, tường thuật, kể chuyện chỉ tập trung vào hai khối lớp đầu cấp 6, 7

Chương trình và SGK mới THCS (2002) được xây dựng trên quan điểm tích hợp ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và TLV Theo tinh thần này, cả ba phân môn có mối liên hệ hết sức chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ lẫn nhau trong mỗi bài học và xuyên suốt với các bài học khác trong chương trình Phương châm của việc tích hợp là nhằm hướng cho HS hệ thống các tri thức riêng của từng phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn và gắn kết những tri thức có quan hệ với nhau giữa các phân môn, giúp HS biết vận dụng những kiến thức đã học vào việc cảm nhận, thẩm định cái hay, cái đẹp của văn bản, tạo lập văn bản, phục vụ cho hoạt động giao tiếp trong đời sống hàng ngày Chương trình THCS được chia thành hai vòng, theo vòng tròn đồng tâm Vòng một (lớp 6, 7) sẽ giữ vai trò cung cấp các kiến thức cơ bản Vòng hai (lớp 8, 9), HS sẽ được học các kiến thức mới trên cơ sở những điều đã học một cách nâng cao, sâu sắc hơn TLV về VBTS được bố trí cả ở hai vòng Lý thuyết và kĩ năng làm bài văn Tự sự luôn được ôn luyện và nâng cao Chương trình mới đã có sự cải tiến rõ rệt trong việc bố trí thời lượng dạy tạo lập VBTS, giúp HS có điều kiện ôn luyện, thực hành và nâng cao kĩ năng làm bài Sự tập trung cho thể loại Tự sự ở các cấp lớp cũng thể hiện sự phong phú của thể loại này trong việc giảng dạy và học tập trong chương trình THCS

SGK Ngữ văn 10, tập I [35] - chương trình Trung học phổ thông (2006) tiếp tục hướng dẫn HS thực hành và rèn luyện viết văn tự sự ở mức độ cao hơn THCS Điều đó cho thấy chương trình đã quan tâm và dành nhiều thời gian cho HS phổ thông học tập và rèn luyện tạo lập VBTS

Trong quá trình xây dựng chương trình, các bài dạy cung cấp cho HS kiến thức và hướng dẫn luyện tập cách làm bài nhưng vấn đề sử dụng ngôn ngữ như thế nào và cách thức rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ ra sao chưa được quan tâm đúng mức

Trang 8

2.2 Các sách tham khảo về ngôn ngữ tiếng Việt và dạy học TLV tự sự

Từ điển Văn học (bộ mới) [29], Từ điển thuật ngữ Văn học [21], Từ điển Tiếng Việt [71]

đã giải thích về thuật ngữ Tự sự trên nhiều phương diện từ định nghĩa, nêu đặc điểm, các phương tiện, biện pháp tự sự, hình thức tự sự, ngôi kể, người trần thuật… Tự sự chỉ một trong ba phương thức biểu đạt của văn học (bên cạnh trữ tình và kịch) “Tự sự tái hiện hành động diễn ra trong thời gian và không gian, tái hiện các tiến trình biến cố trong cuộc đời các nhân vật… Nét đặc thù của tự sự là vai trò tổ chức của trần thuật với ngôn từ chủ yếu làm chức năng thông báo về cái đã xảy ra từ trước…”[29] Tự sự là phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan [21] Khái niệm tự sự trong các sách trên đã được giải thích khá toàn diện và thống nhất, là cơ sở

lý luận trong quá trình nghiên cứu về đặc trưng VBTS

R Barthes và tự sự học (Lời giới thiệu của Đỗ Lai Thuý, Tôn Quang Cường dịch từ bản

tiếng Nga - http

Roland Barthes (1915 –1980) là một nhà phê bình văn học, nhà văn hoá học, một trong những đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái kí hiệu học Pháp Tự sự học cấu trúc của R Barthes được xác định như là sự phân tích các thành tố và những cơ chế của truyện kể, nó trình bày một câu chuyện qua hành động kể, sự kể Tự sự học quan tâm đến truyện kể như một phương thức trình bày bằng ngôn từ Nó trả lời câu hỏi : ai kể cái gì và như thế nào ? Tác phẩm tự sự học tiêu biểu của R

Barthes và của cả tự sự học cấu trúc nói chung là Đường vào phân tích cấu trúc truyện kể Sau

phần nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể, mục một trình bày ngôn ngữ các VBTS với đặc điểm chủ yếu là vượt ra giới hạn của câu Theo quan điểm cấu trúc, bất cứ VBTS nào cũng đều được xây dựng theo mô hình của câu, bất cứ một truyện nào cũng là một câu lớn và câu kể chính

là một sự tỉnh lược của một câu nhỏ Các “chủ thể” lẫn cụm chủ vị trong VBTS cũng đều tuân thủ quy tắc cấu tạo câu Nhưng giữa câu ngôn bản tồn tại các mối quan hệ đồng đẳng khi lưu ý đến mặt hình thức của chúng Những mục tiếp theo về chức năng, hành động, tường thuật, hệ thống VBTS đã được đề cập chi tiết Barthes đã đi tìm định nghĩa cấu trúc về nhân vật, vấn đề chủ thể, tình huống kể,…và đưa ra các cấp độ của từng đơn vị nghiên cứu Các vấn đề mà Barthes đặt ra có giá trị phương pháp luận khi nghiên cứu về VBTS và rèn luyện các kĩ năng tạo lập VBTS

Văn miêu tả và kể chuyện – Vũ Tú Nam - Phạm Hổ - Bùi Hiển - Nguyễn Quang Sáng –

Nxb GD 2001 [39] Sách ghi lại những kinh nghiệm quý báu của các nhà văn có sở trường về miêu tả và kể chuyện Những đặc điểm của bài văn kể chuyện như nhân vật, cốt truyện, tình huống, tình tiết đã được các tác giả cụ thể hóa bằng những mẩu minh họa sinh động Các nhà văn cũng lưu ý về nghệ thuật kể chuyện, nhất là kĩ năng mở bài và kết thúc câu chuyện [39, tr.23-38]

Trang 9

Nhà văn Vũ Tú Nam đưa ra kinh nghiệm quan sát thiên nhiên và loài vật và nhấn mạnh nội dung phải được thể hiện một cách tự nhiên, dung dị qua các chi tiết sinh động của cảnh và vật đồng thời dùng câu chữ cho chính xác, sinh động, gợi cảm [39, tr.7-8] Nhà văn Phạm Hổ đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho một bài kể chuyện có các tình huống hợp lý, đúng sự thật, làm cho

người đọc, người nghe tin là có thật Nhà văn Bùi Hiển thì nêu kinh nghiệm viết văn kể chuyện của mình là sự quan sát, xuất phát từ tình cảm chân thành, chi tiết hợp lý, phù hợp với lô gích tâm

lý Các điều kiện không thể thiếu cho bài văn kể chuyện là câu chuyện phải tự nhiên, sự việc được coi như có thể xảy ra thực và liên kết các sự việc trong chuyện sao cho câu chuyện ý vị, hấp dẫn, nhiều kịch tính [39, tr.39-60] Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng đặt vấn đề về quan sát, không chỉ quan sát bằng mắt mà bằng tấm lòng, nắm bắt chi tiết quý báu từ đời sống và đưa vào trong tác phẩm [39, tr.61-66]… Những kinh nghiệm thực tiễn của các nhà văn – những người viết văn chuyên nghiệp đã giúp ích GV rất nhiều trong quá trình dạy HS làm văn theo yêu cầu, mục tiêu của nhà trường, đồng thời giúp HS sáng tạo một cách tự tin khi tạo lập VBTS

Sách Làm văn (Giáo trình đào tạo GV THCS hệ Cao đẳng Sư phạm (Lê A – Nguyễn Trí –

NXBGD – 2001) [1, tr.167-214] : Sách đã hướng dẫn cụ thể từ “Khái quát về văn kể chuyện” đến

“Phương pháp làm bài văn kể chuyện” và các bài tập thực hành, trang bị cho sinh viên những kiến thức khá toàn diện về chương trình giảng dạy và về văn kể chuyện Từ việc nêu vai trò của văn kể chuyện nói chung, văn kể chuyện được dạy trong nhà trường, đặc điểm văn kể chuyện và cách phân loại, các tác giả đã đưa các ví dụ minh hoạ và phân tích chi tiết Phần “Phương pháp làm bài kể chuyện” gồm các bước tìm ý, chọn ý và xác định ý nghĩa cho câu chuyện, lập dàn ý, viết bài văn… Ở phần viết bài văn, các tác giả đã có chú ý đến mở đầu và kết thúc câu chuyện, đến viết lời kể (giới thiệu, thuyết minh) về nhân vật và sự việc, miêu tả trong văn kể chuyện và chú ý đến ngôi kể Các phương pháp này nhằm phục vụ cho việc giảng dạy văn kể chuyện trong chương trình của nhà trường hiện hành lúc bấy giờ Những vấn đề về lý thuyết được đề cập khá chi tiết Vấn đề rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS chưa được đề cập

Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn – Nguyễn Trọng Báu – Nguyễn Quang Ninh –

Trần Ngọc Thêm, Nxb Giáo Dục, Hà Nội (1985) [7] trình bày một cách tinh giản những vấn đề

và kết quả nghiên cứu hiện có trong lĩnh vực ngữ pháp văn bản và dạy làm văn như một ứng dụng và thiết thực nhất của ngữ pháp văn bản Các tác giả đã đưa ra một số vấn đề cơ bản của ngữ pháp văn bản như lĩnh vực trên câu, sự ra đời của ngữ pháp văn bản, liên kết câu, chỉnh thể trên câu đoạn văn Đặc biệt trong “Thay phần kết luận, các tác giả đã “thử ứng dụng ngữ pháp văn bản vào việc dạy làm văn và giảng văn” Phần ứng dụng này còn trình bày còn dè dặt và sơ lược [7, tr.144-151] một số ứng dụng, việc ứng dụng các kiến thức tiếng Việt trong dạy TLV chưa đặt thành trọng tâm

Trang 10

Phương pháp dạy học tiếng Việt - Lê A chủ biên, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán,

NXB GD, 2003, chương 7 trình bày phương pháp dạy học Làm văn [2, tr.185-238] Các tác giả

đã cung cấp một số tiền đề lý thuyết của việc dạy làm văn Phương pháp dạy học Làm văn đề cập đến phương pháp dạy lý thuyết, phương pháp dạy thực hành, phương pháp ra đề làm văn, phương pháp chấm và trả bài làm văn Phần cuối chương là một số kĩ năng làm văn cần rèn luyện cho HS gồm sáu kĩ năng Đó là kĩ năng xác định nội dung, yêu cầu của đề bài và phương hướng triển khai bài viết, kĩ năng lập ý, kĩ năng viết đúng theo dàn ý, kĩ năng lập luận, kĩ năng hành văn, kĩ năng hoàn thiện bài viết Ở kĩ năng hành văn, các tác giả đặt vấn đề : “Có thể gộp vào kĩ năng hành văn cả những năng lực sử dụng các đơn vị ngôn ngữ ở HS Đó là kĩ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn” [2, tr.236] Vì khi HS làm văn, về cơ bản, chỉ chú ý chạy theo nội dung, bám sát các

ý, chưa quan tâm tới việc lựa chọn phương tiện thể hiện nội dung đó như thế nào một cách đầy

đủ Hoặc trong bài viết có ý, có nội dung nhưng do vốn từ ít, nắm không vững các kiểu kết cấu ngữ pháp của câu, hoặc do ít được vận dụng, ít được luyện tập… nên ý không thoát và lời không đạt Tuy không trình bày các phương pháp dạy cụ thể cho từng kiểu văn bản, các tác giả cũng đã

đề cập đến một số kĩ năng cần rèn luyện cho HS Đây là nội dung mà đề tài luận văn hướng đến

Hướng dẫn dạy TLV lớp 7 – Trần Đình Sử – Vũ Nho – Nguyễn Trí, Nxb GD (1998) [56] :

sách có tính chất tham khảo với mục đích giúp HS nắm vững lý thuyết cơ bản, tăng cường kĩ năng thực hành Phần lý thuyết trình bày ngắn gọn, cụ thể lý thuyết kiểu bài và cách làm bài kể

chuyện Phần thực hành gồm nhiều đề cho HS luyện tập Sau đó là các bài kham khảo TLV Sách

đã cung cấp cho HS một hệ thống đề, dàn ý, những bài văn tham khảo, giúp HS có một số tư liệu cần thiết trong quá trình làm TLV Tuy nhiên, sách cũng chưa đặt vấn đề hướng dẫn HS sử dụng ngôn ngữ, rèn các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS như thế nào trong quá trình viết bài văn kể chuyện

Phát triển ngôn ngữ cho HS phổ thông - Trương Dĩnh - Nxb Đà Nẵng (2000) [17] đề cập

ý nghĩa, nội dung, nguyên tắc, phương pháp cụ thể đối với việc phát triển ngôn ngữ, khai thác các biện pháp rèn luyện từ chính âm đến từ ngữ, ngữ pháp, phong cách với các mô hình và ví dụ cụ thể Các quan điểm hiện đại về dạy học tiếng Việt như các mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ngôn ngữ và nhân cách, ngôn ngữ và giao tiếp… được dẫn giải dễ hiểu Tập sách chưa đặt vấn đề

về rèn luyện và phát triển kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong một phương thức tạo lập văn bản, cụ thể là VBTS

Các sách tham khảo khác : Những bài làm văn tự sự và Miêu tả 6 –Nguyễn Quang Ninh – Nxb Giáo dục 2005 [44] ; Hướng dẫn TLV 6 - Vũ Nho chủ biên – Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị Nga, Trần Thị Thành –– Nxb Giáo dục 2004 [41] ; Rèn kĩ năng làm văn tự sự và miêu tả 6 -

Trang 11

Đoàn Thị Kim Nhung, Phạm Thị Nga –Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh 2006 [42] ; Tư liệu dạy Ngữ văn 6, 7, 8, 9 - Đỗ Ngọc Thống– Nxb Giáo dục 2003 – 2006 [61] ; Các dạng bài TLV và cảm thụ thơ văn 6, 7, 8 , 9 - Cao Bích Xuân –– Nxb Giáo dục 2003- 2006 [69] ; Một số kiến thức, kĩ năng và bài rập nâng cao Ngữ văn 6, 7, 8, 9 - Nguyễn Thị Mai Hoa – Đinh Chí

Sáng – Nxb Giáo dục 2003 – 2006 [23] và các tác giả khác với các quyển những bài làm văn chọn lọc, những bài làm văn hay các lớp 6, 7, 8, 9,…Đây là các sách bài tập và tham khảo theo chương trình SGK mới 2002 Nội dung trình bày của các sách trên có những điểm chung là tìm hiểu khái quát về tự sự và đặc điểm của văn tự sự, các kiểu bài tự sự thường gặp, những điều cần lưu ý, phương pháp làm bài văn tự sự, các bài tập rèn luyện và một số bài văn mẫu Tuy nhiên cũng có rất nhiều sách chỉ cung cấp cho HS, GV và phụ huynh những bài văn mẫu mà không định hướng phương pháp cũng như rèn những kĩ năng hình thành năng lực viết VBTS cho HS

Qua các tài liệu tham tham khảo, khái niệm và đặc điểm về văn tự sự được trình bày khá thống nhất, luận văn kế thừa thành quả nghiên cứu vào việc tìm hiểu đặc điểm của VBTS Việc rèn luyện về kĩ năng sử dụng ngôn ngữ được trình bày lồng ghép trong các yêu cầu, phương pháp làm bài văn tự sự, chưa đặt thành vấn đề cụ thể để hướng dẫn HS rèn luyện

Đặc trưng của VBTS được xếp vào loại các văn bản nghệ thuật, bản thân nó vốn là một loại văn bản vừa mang tính thực tế vừa có tính sáng tạo cao Đưa vào chương trình giảng dạy trong nhà trường, quá trình rèn luyện viết VBTS không chỉ cần thiết có các phương pháp đi từ dễ đến khó, từ cơ bản đến nâng cao…, mà còn chú trọng cho HS cách dùng từ ngữ, câu, liên kết câu cũng như những định hướng đúng để tạo lập được VBTS đạt yêu cầu cao… Đây là một lĩnh vực nghiên cứu còn nhiều hứa hẹn, góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn, giúp HS có kĩ năng làm bài, đồng thời tạo sự yêu thích học văn trong HS, tạo cơ sở để bồi dưỡng và nâng cao năng lực của HS trong việc tạo lập văn bản, nhất là VBTS

Dạy tạo lập VBTS chú ý rèn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ thể hiện rõ quan điểm dạy học tích hợp của chương trình Ngữ văn mới Luận văn kế thừa những nghiên cứu về phương pháp dạy TLV và tiếng Việt của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo đồng thời nghiên cứu về nội dung, chương trình và soạn giảng một số bài dạy tiêu biểu của chương trình nhằm rèn luyện kĩ năng làm bài cho HS, phát huy năng lực sử dụng tiếng Việt cho HS trong tạo lập VBTS

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :

- Mục đích của luận văn là nhằm trang bị thêm cho GV một số cách thức cụ thể, khả thi

về phương pháp dạy TLV tự sự đạt hiệu quả và giúp HS thực hành bài văn tự sự một cách tự tin, đúng yêu cầu, sáng tạo, sử dụng ngôn từ chuẩn xác, kể chuyện hấp dẫn… Luận văn thiết kế một

số bài giảng chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS cho HS THCS Từ thực tiễn học tập của HS, luận văn tìm giải pháp và đề xuất một số kiến nghị cho việc

Trang 12

giảng dạy tạo lập VBTS ở chương trình THCS đạt kết quả, nhằm góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy TLV, phục vụ cho việc giảng dạy chương trình và SGK mới

- Nhiệm vụ của luận văn là ứng dụng lý thuyết tự sự trong việc soạn giảng các bài dạy TLV tự sự, chú trọng rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS THCS Để thực hiện nhiệm vụ trên, tác giả luận văn đã tiến hành dự giờ, khảo sát thực tế giảng dạy và học tập về VBTS của GV

và HS ở Quận 6 thành phố Hồ Chí Minh, tìm hiểu những thuận lợi khó khăn từ chương trình SGK, từ GV, HS,… đối với việc dạy tạo lập VBTS ; thiết kế giáo án và ghi nhận những việc đã làm được và chưa làm được trong việc dạy thể nghiệm đồng thời đề xuất các phương pháp giảng dạy tạo lập VBTS có chú trọng rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các bài dạy trong SGK và sách GV lớp 6, 7, 8, 9 về tạo lập VBTS cấp THCS, các tiết dạy của GV về tạo lập VBTS và các bài viết TLV tự sự của HS một số trường ở Quận 6 thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu là chương trình TLV tự sự THCS, cụ thể ở các lớp 6, 7, 8, 9 phân

bố trong học kì I

5 Phương pháp nghiên cứu

Từ mục đích, nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu nghiên cứu trên, chúng tôi vận dụng các phương pháp sau trong luận văn :

5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành : vận dụng và kế thừa thành tựu nghiên cứu của nhiều ngành : ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học, giáo dục học, lý luận văn học, tâm lý học,… trong đó đặc biệt chú ý đến việc vận dụng phương pháp giảng dạy TLV và Tiếng Việt trong tạo lập VBTS Luận văn tìm hiểu chương trình giảng dạy về TLV tự sự trong nhà trường, tham khảo các tài liệu về lý thuyết văn tự sự, về phương pháp giảng dạy TLV và Tiếng Việt qua các sách, báo, tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ, tạp san, báo cáo chuyên đề…

5.2 Phương pháp quan sát, điều tra, phỏng vấn : dự giờ GV giảng dạy các tiết về tạo lập VBTS, điều tra, thăm dò, phỏng vấn các GV THCS ở quận 6 để tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của chương trình giảng dạy cũng như việc tiếp thu, thực hành làm văn tự sự của HS

5.3 Phương pháp thống kê : thống kê các lỗi sai từ bài làm của HS trong việc dùng từ, dùng câu, viết đoạn, viết VBTS

5.4 Phương pháp thực nghiệm : thực hành soạn giảng một số bài dạy về tạo lập VBTS trong chương trình chú trọng đến rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS

Trang 13

5.5 Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá : tổng hợp các vấn đề lý thuyết của VBTS ; phân tích nguyên nhân lỗi sai của HS từ kết quả thống kê bài làm và đánh giá những đóng góp của luận văn

6 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

Cơ sở khoa học : Mục tiêu của môn Ngữ văn cấp THCS là hoàn thiện kiến thức cơ sở về

từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt ; cung cấp kiến thức về văn bản học, lí luận văn học ; hình thành ở

HS năng lực tiếp nhận và tạo lập các kiểu VBTS, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh và hành chính - công vụ Luận văn thể hiện sự tích hợp giữa lý thuyết TLV và đặc điểm ngôn ngữ của VBTS để rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong VBTS, vận dụng đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động trong hoạt động dạy học TLV đáp ứng yêu cầu giao tiếp, phát huy năng lực sử dụng tiếng Việt làm công cụ để giao tiếp và tư duy

Cơ sở thực tiễn : luận văn được thực hiện theo chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS

và SGK mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo được áp dụng đại trà từ năm 2002 đến nay Luận văn khảo sát thực tế giảng dạy của GV môn Ngữ văn và chất lượng học tập bộ môn của HS THCS ở Quận 6 Thành phố Hồ Chí Minh năm học 2006 -2007

7 Cấu trúc luận văn :

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương :

Chương I : Đặc trưng VBTS và việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS cho HS THCS

Chương II : Vấn đề dạy học tạo lập VBTS ở chương trình THCS

Chương III : Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS THCS trong tạo lập VBTS

Trang 14

CHƯƠNG 1 ĐẶC TRƯNG VĂN BẢN TỰ SỰ VÀ VIỆC TẠO LẬP VĂN

BẢN TỰ SỰ CHO HỌC SINH THCS 1.1 Khái niệm, đặc điểm VBTS

1.1.1 Khái ni ệm văn bản

Văn bản trong ngôn ngữ học được định nghĩa rất phức tạp Theo Từ điển thuật ngữ văn học,

với nghĩa rộng : 1) Bản ghi bằng chữ viết hoặc in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng) ; 2) Phương diện tri giác của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận bằng các kí hiệu ngôn ngữ ; 3) Đơn vị nhỏ nhất (có tính thống nhất tương đối và tính độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ Với nghĩa hẹp : văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận).[ 21, tr.270-271]

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học : “Văn bản là chuỗi các đơn vị

kí hiệu ngôn ngữ làm thành một thể thống nhất bằng mối liên hệ ý nghĩa mà thuộc tính cơ bản của nó là sự hoàn chỉnh về hình thức và nội dung ; sản phẩm của lời nói được định hình dưới dạng chữ viết hoặc in ấn.” [70, tr.413]

Theo SGK Ngữ văn 6 : “Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất,

có liên kết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đích giao tiếp” [47, tr.17] Khái niệm trên chú ý đến những tính chất cơ bản tạo thành văn bản để thực hiện giao tiếp, cung cấp cách hiểu cơ bản về văn bản cho HS cấp THCS

1.1.2 Phương thức biểu đạt

Thuật ngữ “phương thức biểu đạt” là một khái niệm được dùng phổ biến trong chương trình và SGK mới Phương thức là cách thức và phương pháp (nói tổng quát) [71, tr.766], biểu đạt là làm cho nội dung tư tưởng được tỏ rõ ra bằng hình thức nào đó [71, tr.63] Phương thức biểu đạt được hiểu như là cách thức biểu đạt nội dung cần thể hiện, cách thức miêu tả, phản ánh

và tái hiện lại đời sống (thiên nhiên, xã hội, con người) của người viết, người nói Mỗi phương thức biểu đạt phù hợp với một mục đích, ý đồ phản ánh, tái hiện nhất định và được thực hiện bởi một thao tác chính nào đó [64]

Tùy theo mục đích giao tiếp mà người ta sử dụng các kiểu văn bản với các phương thức biểu đạt phù hợp Có thể chia ra sáu phương thức biểu đạt như tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận (lập luận), điều hành (hành chính – công vụ) Phương thức biểu đạt là căn cứ để

xác định kiểu văn bản Ứng với sáu phương thức biểu đạt này là sáu kiểu văn bản tương ứng Kiểu văn bản là hình thức biểu đạt cơ bản nhất của mọi biểu đạt Mỗi kiểu văn bản tương ứng với

Trang 15

phương thức biểu đạt chính Một kiểu văn bản có thể bao chứa trong nó các phương thức biểu đạt khác

sự

“Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa.” [47, tr.28] Phương thức tự sự ở TLV tập trung vào hành động kể việc, thuật việc, trình bày diễn biến sự việc

Thể loại tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình

và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học [21, tr.263] Thể loại tự sự bao hàm

cả kể và miêu tả sự việc, sự vật

VBTS lớn hơn phương thức tự sự vì có chứa nhiều phương thức biểu đạt

1.1.4 M ục đích giao tiếp của tự sự

Mục đích kể chuyện là để biết, để nhận thức con người cũng như ngoại giới và phương thức

kể là kể từng việc, lần lượt có đầu có đuôi, có tính liên tục, có nguyên nhân, kết quả Kể không theo trình tự đầu cuối, sắp xếp các tình tiết không hợp lí, người đọc không nắm được sự việc, tức

là không đạt được mục đích giao tiếp

Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê [47, tr.28]

1.2 Đặc điểm VBTS :

Phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi của con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc hoạ đầy đủ nhiều mặt hơn hẳn nhân vật trữ tình và kịch Trong tác phẩm tự sự cốt truyện được triển khai, nhân vật được khắc hoạ nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú đa dạng, bao gồm chi tiết

sự kiện xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tính cách, chi tiết nội thất,

Trang 16

ngoại cảnh, phong tục, đời sống văn hoá, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng, tưởng tượng, hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được

Những điểm nói trên làm cho tác phẩm tự sự trở thành loại văn học có khả năng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người hiện đại… [21, tr.263-264]

1.2.1 S ự việc và nhân vật

- Cốt truyện :

Từ điển Văn học (bộ mới) giải thích “Thuật ngữ cốt truyện chỉ sự phát triển của hành động, của tiến triển các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự và kịch, đôi khi cả trong tác phẩm trữ tình” [29, tr.324-326] Cốt truyện có chức năng quan trọng là bộc lộ các mâu thuẫn của đời sống, tức là thể hiện xung đột Bản thân thuật ngữ “cốt truyện” của tiếng Việt, dễ bị hiểu như cái “lõi”,

“bộ xương”, cái “sườn”, “cơ sở” của truyện chứ chưa phải là truyện Gorki coi cốt truyện là hệ thống các quan hệ qua lại của các nhân vật, là “lịch sử phát triển và sự tổ chức một tính cách nào đó” Cái dệt nên cốt truyện là hành động của các nhân vật (hành động là sự thể hiện các cảm xúc,

ý nghĩa, ý định của con người vào các hành vi, hoạt động, lời nói, cử chỉ, nét mặt … của họ) Chương trình giảng dạy tự sự cấp THCS đưa vấn đề cốt truyện vào sự việc, nhân vật và xác định đây là hai yếu tố then chốt của VBTS

- Sự việc

“Sự việc là yếu tố quan trọng, cốt lõi của tự sự.” [47, tr.79], là “cái xảy ra được nhận thức

có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái tồn tại khác” [70, tr.846] Sự việc là những việc xảy

ra và những việc do con người làm ra Muốn tự sự phải chọn sự việc và tổ chức sự việc sao cho thể hiện được điều muốn nói Sự việc tạo thành chuyện phải tiêu biểu, có vai trò dẫn dắt câu chuyện, khắc họa đặc điểm tính cách nhân vật tác động của sự việc phải gây biến đổi, nhằm bộc

lộ bản tính, nguyên nhân gì bên trong của con người hay sự vật thì mới tạo thành chuyện

Trong VBTS có thể chỉ một sự việc được kể cùng một số chi tiết làm ra sự việc đó Nhưng thường thì câu chuyện được kể là một chuỗi sự việc từ khởi đầu, phát triển đến cao trào và kết thúc Truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh có các sự việc sau [61, tr.33-34] :

 Sự việc khởi đầu : Vua Hùng kén rể

 Sự việc phát triển : Sơn Tinh, Thuỷ Tinh cầu hôn, Vua Hùng ra điều kiện

 Sự việc cao trào : Sơn Tinh được vợ, Thuỷ Tinh tức giận đánh Sơn Tinh

 Sự việc kết thúc : Thuỷ Tinh thua và thường xuyên trả thù

Sự việc trong văn tự sự phải được kể cụ thể : do ai làm, việc xảy ra ở đâu, lúc nào, nguyên nhân, diễn biến, kết quả Chính các yếu tố này làm truyện được cụ thể, sáng tỏ Truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh có các yếu tố tự sự cụ thể :

 Ai làm (nhân vật là ai) : Sơn Tinh và Thuỷ Tinh

Trang 17

 Việc xảy ra ở đâu (địa điểm) : Thành Phong Châu

 Lúc nào (thời gian) : Đời Vua Hùng thứ 18

 Nguyên nhân : Thuỷ Tinh căm tức vì không lấy được Mỵ Nương

 Diễn biến : Hai chàng trai tài giỏi cùng muốn lấy Mỵ Nương, Thuỷ Tinh thua cuộc, Thuỷ Tinh và Sơn Tinh đánh nhau quyết liệt

 Kết quả : Thuỷ Tinh thất bại

“Sự việc trong VBTS được trình bày một cách cụ thể : Sự việc xảy ra trong thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả,… Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt” [47, tr.38] Tuy nhiên sự việc cần được kể một cách đầy đủ, chứ không bắt buộc phải kể đủ các yếu tố đó trong mọi văn bản Chuỗi sự việc không phải lúc nào cũng được kể theo tuần tự diễn biến tự nhiên Nhưng dù kể theo cách nào cũng phải thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt và tạo được hứng thú cho người nghe Sự việc có quan hệ với nhau và với nhân vật, với chủ đề tác phẩm Trong tự sự, chuỗi sự việc tạo thành cốt truyện của văn bản

- Nhân vật

Trong văn tự sự, nhân vật là yếu tố luôn đi cùng với sự việc

Vậy thế nào là nhân vật trong VBTS ? Hiểu theo nghĩa hẹp, nhân vật là những con người được nói tới trong VBTS “ Nhân vật trong văn tự sự là kẻ thực hiện các sự việc và là kẻ được thể

hiện trong văn bản” [47,tr.38] Những nhân vật đó có thể có tên như chị Dậu, Nghị Quế (Tắt đèn

Ngô Tất Tố), Thu (Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng),… có thể không có tên như anh thanh niên, ông hoạ sĩ, cô kĩ sư (Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long), ông giáo (Lão Hạc - Nam Cao),… Hiểu theo nghĩa rộng, nhân vật là tất cả những chủ thể tạo nên hành động trong tác phẩm Theo nghĩa này, nhân vật có thể là người, có thể không phải là người, có thể là vật, có thể

đóng vai nhất định trong truyện như nhân vật “tôi” trong Tôi đi học của Thanh Tịnh, hoặc “tôi”

trong Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng… Nhân vật, đó là cá thể làm ra sự việc và là sản phẩm

của lời kể Có nhiều cách thể hiện nhân vật và phân loại nhân vật như nhân vật chính diện và

nhân vật phản diện (Thạch Sanh, Lí Thông), nhân vật chính và nhân vật phụ (Đôn Ki-hô-tê, chô Pan-xa ) Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại nhân vật như nhân vật tích cực (Nho, Phương

Trang 18

Xan-Định – Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê), nhân vật tư tưởng (Nhĩ - Bến quê – Nguyễn

Minh Châu)… Nhân vật được thể hiện qua các mặt : tên gọi, lai lịch, hình dáng, tính nết, việc

làm, suy nghĩ, hành động, tâm trạng (Thúy Kiều - Truyện Kiều - Nguyễn Du),…

Trong các VBTS nghệ thuật, sự việc và nhân vật không tách rời, vì nhân vật là kẻ làm ra

sự việc và nhân vật chỉ có thể hiện lên trong các sự việc đó qua lời kể Tương tự, mỗi sự việc đầy

ắp chi tiết về nhân vật

1.2.2 Ch ủ đề và dàn bài trong văn tự sự

- Chủ đề là yếu tố nội dung không thể thiếu của VBTS “Chủ đề là vấn đề chủ yếu được quán triệt trong nội dung một tác phẩm văn học nghệ thuật, theo một khuynh hướng nhất định” [71, tr.168] Khái niệm chủ đề của văn bản thường gợi ra nhiều cách hiểu xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận Khi nhà văn sáng tạo ra tác phẩm thì chủ đề của văn bản là tư tưởng của tác giả gửi gắm qua tác phẩm, là thông điệp nghệ thuật của nhà văn Khi người đọc tiếp nhận văn bản thì vấn đề đời sống toát lên từ câu chuyện là chủ đề tác phẩm Nói một cách đơn giản, “chủ đề là vấn

đề chủ yếu mà người viết muốn đặt ra trong văn bản [47,45] “Chủ đề là điều mà câu chuyện muốn đề cao, muốn ca ngợi, khẳng định hoặc muốn lên án, phê phán, chế giễu Chủ đề thấm nhuần trong sự việc, trong mâu thuẫn và trong cách giải quyết mâu thuẫn của truyện Người kể phải chọn các sự việc thích hợp với chủ đề, phải có cách kể sao cho chủ đề được biểu hiện ra để người đọc nhận thấy Chọn các sự việc không hợp chủ đề sẽ làm cho bài văn lạc đề, rời rạc.” [51, tr.9]

Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long [50, tr.180 -188] khắc họa thành công

hình ảnh những con người lao động bình thường, mà tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượng ở một mình trên đỉnh núi cao Qua đó, truyện khẳng định vẻ đẹp của con người lao động và

ý nghĩa của những công việc thầm lặng Tác giả muốn nói với người đọc : “Trong cái lặng im của

Sa Pa, có những con người làm việc và lo nghĩ cho đất nước” [54, tr.200] Chủ đề tác phẩm cũng gợi ra những vấn đề ý nghĩa và niềm vui của lao động tự giác, vì những mục đích chân chính đối

với con người

- Dàn bài bài văn tự sự thường gồm ba phần :

▪ Mở bài : giới thiệu chung về nhân vật, sự việc và tình huống xảy ra câu chuyện (Cũng có khi nêu kết quả của sự việc, số phận nhân vật trước.)

▪ Thân bài : kể diễn biến của sự việc theo một trình tự nhất định nhằm thể hiện chủ

đề (Trả lời các câu hỏi : Câu chuyện diễn ra ở đâu? Khi nào? Với ai? Như thế nào?…)

Trong khi kể, người viết thường phải kết hợp miêu tả sự việc, con người và thể hiện tình cảm, thái độ của mình trước sự việc và con người được miêu tả

Trang 19

▪ Kết bài : kể kết cục của sự việc, cảm nghĩ của người trong cuộc (người kể chuyện hay một nhân vật nào đó) hoặc khẳng định chủ đề của truyện

“Dàn bài là sự sắp xếp bên ngoài, mà chủ đề là mối liên hệ bên trong Chủ đề có lúc thể hiện ở những câu then chốt trong phần mở bài hoặc kết bài, có lúc thể hiện ở chi tiết, hành động.” [53, tr.49] Dàn bài chỉ nêu lên một cách chung nhất sự sắp xếp cơ bản của bài văn tự sự Thực tế bài văn tự sự hoàn chỉnh rất linh hoạt, nhất là phần mở bài và kết bài

Truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh [49] đã diễn tả những kỉ niệm trong sáng của tuổi

học trò trong buổi tựu trường đầu tiên Trình tự diễn tả những kỉ niệm của nhà văn trong tác phẩm :

▪ Mở bài : từ hiện tại mà nhớ về dĩ vãng : biến chuyển của trời đất cuối thu và hình ảnh mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón là mẹ lần đầu tiên đi đến trường gợi cho nhân vật “tôi” nhớ lại mình ngày ấy cùng những kỉ niệm trong sáng

▪ Thân bài : diễn biến tâm trạng của nhân vật “tôi” :

• Tâm trạng, cảm giác trên con đường cùng mẹ tới trường

• Tâm trạng, cảm giác khi nhìn nhìn ngôi trường ngày khai giảng, khi nhìn mọi người, các bạn, lúc nghe gọi tên mình và phải rời bàn tay mẹ

để vào lớp

• Tâm trạng lúc ngồi vào chỗ

▪ Kết bài : tâm trạng của nhân vật “tôi’ đón nhận giờ học đầu tiên

1.2.3 Th ứ tự trong văn tự sự

Khi kể chuyện, người viết có thể kể các sự việc nối tiếp nhau theo trình tự thời gian, việc

gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, lần lượt cho đến hết chuyện Nhưng trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải theo trình tự thời gian, để làm cho câu chuyện bất ngờ, tạo hứng thú cho người đọc, bộc lộ tình cảm với nhân vật, người viết có thể kể kết quả hoặc kết thúc câu chuyện trước rồi mới dẫn dắt người đọc vào các sự việc diễn ra trước đó hoặc diễn biến tiếp theo của câu chuyên Có khi người ta kể chuyện bắt đầu từ mốc thời gian giữa câu chuyện rồi

kể lại từ đầu, sau đó kể tiếp câu chuyện

Truyền thuyết Con Rồng, cháu Tiên ; Bánh chưng, bánh giầy [47] kể theo thứ tự thời gian

có sự tiếp nối ngay cả khi câu chuyện đã kết thúc Truyện ngắn Chiếc lược ngà của nhà văn

Nguyễn Quang Sáng [50] bắt đầu từ mốc thời gian hiện tại Nhân vật ông Ba đang kể chuyện cho đồng đội về một kỉ niệm sâu sắc trong cuộc đời mình, sau đó là toàn bộ diễn biến câu chuyện và kết thúc câu chuyện và những tình cảm của người kể

Trang 20

1.3 Đặc điểm ngôn ngữ của VBTS

Đặc điểm ngôn ngữ của VBTS nằm trong đặc điểm chung của kiểu văn bản này Việc tách riêng thành đặc điểm ngôn ngữ của VBTS nhằm mục đích nhấn mạnh đến đặc thù về ngôn ngữ

mà đề tài luận văn hướng đến

1.3.1 L ời văn tự sự

“Lời văn là hình thức diễn đạt bằng ngôn ngữ được viết thành văn” [71, tr.566] Lời văn tự

sự là hình thức diễn ngôn tự sự Lời giới thiệu, kể sự việc, miêu tả, đối thoại, độc thoại, bình luận

là các bộ phận tạo thành lời văn tự sự

Lời văn tự sự hết sức phong phú, đa dạng Có thể phân làm 2 loại lớn là lời giới thiệu nhân vật và lời văn kể việc

Lời giới thiệu nhân vật là yếu tố rất cơ bản của lời văn tự sự Bất kì VBTS nào cũng

có lời giới thiệu nhân vật Đó là những thông tin về nhân vật, từ tên, họ, lai lịch, quan hệ cho đến tính tình, tính cách, tài năng, ý nghĩa của nhân vật, sự ảnh hưởng của nhân vật trong tiến trình phát triển của truyện Lời giới thiệu cũng bao gồm cả sự bày tỏ thái độ khen chê của người viết

Ví dụ, lời giới thiệu nhân vật trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh [31, tr.45] :

Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái tên là Mị Nương, người đẹp như hoa, tính nết hiền dịu Vua cha yêu thương nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng

Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ : vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi ; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi Người ta gọi chàng là Sơn Tinh Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém : gọi gió, gió đến ; hô mưa, mưa về Người ta gọi chàng là Thủy Tinh Một người là chúa vùng non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng

Hai đoạn văn trên giới thiệu về vua Hùng và Sơn Tinh, Thủy Tinh Cách giới thiệu đầy đủ,

cô đọng :

Đoạn 1 : gồm 2 câu, giới thiệu về vua Hùng và Mị Nương

Câu (1) : Cung cấp thông tin xác định cụ thể vua Hùng của đời thứ mười tám, có một cô

con gái xinh đẹp, nết na tên gọi Mị Nương

Câu (2) : Giới thiệu về tình cảm của vua Hùng dành cho con gái và nguyện vọng kén

chồng xứng đáng cho con

Đoạn 2 : gồm sáu câu, giới thiệu về Sơn Tinh, Thủy Tinh Câu 1 giới thiệu chung, câu 2, 3 giới thiệu lai lịch, tài năng Sơn Tinh, câu 4, 5 giới thiệu cũng giới thiệu lai lịch, tài năng Thủy Tinh, cuối câu 5 là sự khẳng định tài năng của hai người đều xứng đáng làm rể vua Hùng

Trang 21

Các kiểu câu thường được dùng trong giới thiệu nhân vật là :

 Câu trần thuật có nòng cốt câu có từ “có” :

 Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái…

 Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn

 Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ…

▪ Câu trần thuật đơn có từ “là” :

 Người ta gọi chàng là Sơn Tinh

 Người ta gọi chàng là Thủy Tinh

 Một người là chúa vùng non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng

Các loại từ thường dùng là danh từ, đại từ, tính từ chỉ tính cách, thuộc tính của con người

- Lời văn kể việc

Ngoài giới thiệu nhân vật, văn tự sự còn kể việc Thông thường, trong lời kể có lời dẫn dắt

cốt truyện, giới thiệu thời gian, không gian, lời kể về sự kiện diễn ra trong truyện

Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm của nhân vật, những thay đổi do các hành động

ấy đem lại cũng như kết quả của hành động, câu chuyện Lời văn kể việc thường là lời thông báo, thuyết minh về sự việc Yếu tố kể sự việc bao gồm thứ tự, quan hệ của hành động, sự việc và

cách dùng động từ Lời văn kể việc trong truyện Thánh Gióng[47, tr.20] :

Giặc đã đến chân núi Trâu Thế nước rất nguy, người người hoảng hốt Vừa lúc đó,

sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng biến thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong, lẫm liệt Tráng sĩ bước lên vỗ vào mông ngựa Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa Ngựa phun lửa, tráng sĩ thúc ngựa phi thẳng đến nơi có giặc, đón đầu chúng đánh giết hết lớp này đến lớp khác, giặc chết như rạ Bỗng roi sắt gãy Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc Giặc tan vỡ Đám tàn quân giẫm đạp lên nhau chạy trốn, tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc (Sóc Sơn) Đến đấy, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi giáp sắt bỏ lại, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời

▪ Các sự việc được kể tuần tự :

Sự việc 1 : Giặc đã đến chân núi Trâu, thế nước nguy cấp (Câu 1, 2)

Sự việc 2 : Sứ giả mang áo giáp sắt, ngựa sắt đến (Câu 3)

Sự việc 3 : Các hành động, việc làm của Thánh Gióng chuẩn bị lên đường và giết giặc

(Câu 4 - 10)

Trang 22

Sự việc 4 : Giặc thua (Câu 11 -12)

Sự việc 5 : Hành động của Thánh Gióng sau khi thắng giặc (câu 13)

Lời văn kể việc là lời văn có nhiều câu chỉ hoạt động, các câu có nhiều động từ chỉ hành động, có sử dụng từ chỉ thời gian (ngày xưa, bấy giờ, một hôm, bèn, từ đấy, hiện nay,…)

Trong VBTS thường xuất hiện rất nhiều lời miêu tả Miêu tả cảnh trong văn tự sự không chỉ vẽ lên cảnh tượng mà còn tạo không gian, điều kiện để bộc lộ nhân vật Miêu tả người trong VBTS không chỉ vẽ lên một chân dung mà còn lột tả một tính cách nào đó “Mặt lão đột nhiên co rúm lại Những vết nhăn xô lại nới nhau, ép cho nước mắt chảy ra Cái đầu lão nghẹo về một bên

và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít Lão hu hu khóc ” (Lão Hạc – Nam Cao) [49]

Miêu tả chi tiết ngoại hình đau đớn của lão Hạc bị dằn xé trong tiếng khóc, tác giả diễn tả sự ân hận, đau đớn của lão Hạc dường như đến tột cùng khi lão nghĩ mình đã đánh lừa một con chó

Lời văn tự sự không chỉ là lời văn giới thiệu, kể việc, miêu tả tâm lí nhân vật gắn với hành động, diễn biến tâm tư của nhân vật để bộc lộ tính cách mà còn là lời đối thoại, độc thoại của nhân vật ; lời nhận xét, biểu cảm, bình luận của tác giả về sự việc, nhân vật,… Lời văn tự sự đôi khi là lời biểu cảm, bình luận của tác giả về sự kiện hoặc nhân vật “Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết… một người như thế ấy ! Một người đã khóc vì trót lừa một con chó! một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng… Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót Binh Tư để có ăn ư ? Cuộc đời

quả thật cứ mỗi ngày thêm đáng buồn…” (Lão Hạc – Nam Cao) [49] Đây là suy nghĩ của nhân

vật ông giáo ngộ nhận việc lão Hạc xin bã chó để làm điều xấu Đó là sự thất vọng và sụp đổ niềm tin vào con người của ông giáo Lời văn thể hiện tình cảm của ông giáo cũng như lời bình luận, đánh giá về lão Hạc và cuộc đời

Về hình thức ngữ pháp, câu sử dụng trong VBTS cũng rất đa dạng Các câu đơn, câu ghép,

câu phức, câu rút gọn, câu đặc biệt,… đều được sử dụng Đoạn trích mở đầu truyện Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê ở SGK Ngữ văn 9 tập 2 :

Chúng tôi có ba người Ba cô gái Chúng tôi ở trong một hang dưới chân cao điểm Con đường qua trước hang, kéo lên đồi, đi đến đâu đó, xa ! Đường bị đánh lỡ loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn Hai bên đường không có lá xanh Chỉ có những thân cây bị tước khô cháy Những cây nhiều rễ nằm lăn lóc Những tảng đá to Một vài cái thùng xăng hoặc thành ô tô méo mó, han gỉ nằm trong đất

Trong đoạn văn, tác giả đã dùng nhiều câu đơn, có dùng một số câu đặc biệt nhằm miêu tả cảnh chiến trường bị bom cày xới ác liệt Nhiều câu ngắn nhưng không gây cảm giác nhàm chán cho người đọc vì phù hợp với không khí khẩn trương trên chiến trường

Trang 23

1.3.2 Đoạn văn tự sự :

Những vấn đề về đoạn văn trong ngữ pháp văn bản đã được giải quyết tương đối thỏa đáng Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn [9, tr.9], kiến thức đoạn văn được quy định giảng dạy từ lớp 2 cho đến lớp 12 – nghĩa là xuyên suốt trong các cấp lớp Khái niệm về đoạn văn trong chương trình THCS được quan niệm như sau :

Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn có thể do một hoặc nhiều câu tạo thành

Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn

Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp,… [49, tr.36]

Đoạn văn tự sự là đoạn văn giới thiệu nhân vật, kể sự việc như đã trình bày Nó mang đặc

điểm của đoạn văn Đoạn văn tự sự có thể có câu chủ đề Trong Cố hương [50, tr.212-213], Lỗ

Tấn đã giới thiệu về nhân vật Nhuận Thổ :

Người đi vào là NhuậnThổ Tuy tôi nhận ra ngay là Nhuận Thổ, nhưng không phải là Nhuận Thổ trong kí ức tôi Anh cao gấp hai trước, khuôn mặt tròn trĩnh, nước da bánh mật trước kia nay đổi thành vàng sậm, lại có thêm những nếp răn sâu hoắm Cặp mắt giống hệt cặp mắt bố anh ngày trước, mi mắt viền đỏ húp mọng lên Tôi không lấy làm lạ, ở miền biển, gió thổi suốt ngày, đại để ai cũng thế cả Anh đội một cái mũ lông chiên rách tươm, mặc một chiếc áo bông mỏng dính, người co ro, cúm rúm, tay cầm một bọc giấy và một tẩu thuốc lá dài Bàn tay này cũng không phải là bàn tay tôi còn nhớ, hồng hào, lanh lẹn, mập mạp, cứng rắn, mà vừa thô kệch, vừa nặng nề, nứt nẻ như vỏ cây thông

Câu chủ đề của đoạn văn trên nằm ở vị trí đầu đoạn giới thiệu nhân vật Nhuận Thổ Các câu tiếp theo trong đoạn miêu tả chiều cao, gương mặt, cặp mắt, cách ăn mặc, điệu bộ, bàn tay,… của nhân vật Nhuận Thổ Cách miêu tả có đối chiếu với kí ức của người kể về sự đổi khác giữa hình ảnh Nhuận Thổ ở hiện tại với quá khứ

Nhưng thông thường, đoạn văn tự sự kể chuỗi sự việc kết nối theo một trình tự nhất định Ngoài ra, trong VBTS thường có những đoạn có lời đối thoại giữa các nhân vật Đối thoại là lời

“nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người với nhau” [71, tr.328] “Về nguyên tắc ngôn ngữ nhân vật trực tiếp thường mang dấu ấn cá nhân rất rõ nét Nó thể hiện khá đầy đủ các đặc điểm của chủ thể phát ngôn : từ giới tính, tuổi tác, quê quán, cho đến trình độ, tính cách” [4,37]

Trang 24

Truyện ngắn Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng [50] đã sử dụng nhiều đoạn đối thoại

:

Trong lúc đó, ngoại nó cho tôi biết, đêm qua, bà đã tìm hiểu được vì sao nó không chịu nhận ba nó Bà hỏi :

- Ba con, sao con không nhận ?

- Không phải – Đang nằm mà nó cũng giẫy lên

- Sao con biết là không phải ? Ba con đi lâu, con quên rồi chứ gì !

- Ba không giống cái hình ba chụp với má

- Sao không giống, đi lâu, ba con già hơn trước thôi

- Cũng không phải già, mặt ba con không có cái thẹo trên mặt như vậy

Trong quá trình kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật còn là lời độc thoại và độc thoại nội tâm bằng một số đoạn văn Lời độc thoại và độc thoại nội tâm là lời của nhân vật nói với chính mình

và cả những suy nghĩ nội tâm của nhân vật,… nhằm hướng đến một nội dung nào đó trong toàn

bộ câu chuyện

Kể về tâm trạng ông Hai (Làng – Kim Lân) [50] khi hay tin làng ông theo giặc, tác giả

không chỉ kể việc mà đã chú ý miêu tả, tâm trạng, hành động và lời độc thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật ông Hai :

Về đến nhà, ông Hai nằm vật ra giường, mấy đứa trẻ thấy bố hôm may có vẻ khác, len lét đưa nhau ra đầu nhà chơi sậm sụi với nhau (Đoạn 1)

Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư ? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… Ông lão nắm chặt tay mà rít lên :

Chúng bay ăn cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.” (Đoạn 2)

Đoạn văn (1) kể việc ông Hai về đến nhà với vẻ khác lạ khiến các con ông sợ Đoạn văn không có câu chủ đề Đoạn (2) diễn tả nỗi tủi thân cũng như giận dữ của ông Hai khi nghĩ con ông sẽ bị rẻ rúng, hắt hủi vì là Việt gian Lời độc thoại nội tâm “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư ? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu…” Và cao điểm của trạng thái tình cảm của nhân vật thể hiện sự bất bình đến căm tức những người của làng mình theo giặc là lời độc thoại “ - Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.”

Trang 25

1.3.3 Ngôi k ể

“Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện.” [47, tr.89] Ngôi là “phạm trù ngữ pháp của động từ biểu thị mối quan hệ của hành động (quá trình) và chủ thể hành động với người nói Ví dụ : Ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba”

Khi kể chuyện, bắt buộc phải xác định mối quan hệ giữa người kể với sự việc được kể, chỗ đứng để quan sát và để gọi tên sự vật, nhân vật và miêu tả chúng Kể theo ngôi thứ ba là cách kể gọi tên các nhân vật Ngôi thứ ba là “Hình thái phạm trù ngôi chỉ người không tham gia hoạt động nói năng của cuộc thoại, ở ngoài cuộc thoại và hình thái tương ứng của động từ chỉ định rằng chủ thể hành động là nhân vật hoặc sự vật không tham gia trong cảnh huống nói năng Trong thực tế, ngôi thứ ba là hình thái không có ngôi đối lập với các hình thái có ngôi trong cả hai cách thể hiện của ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai “ [70, tr.151 – 152 ]

Ngôi thứ ba trong cách kể cổ xưa được hiểu như là “người ta kể”, ví dụ như cách kể trong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, v.v… Ở đó người ta kể theo kí ức và kiến thức cộng đồng, chứ không phải theo quan sát, nhận xét của bản thân người kể Trong đó, người ta gọi các nhân vật, sự vật theo tên gọi của chúng Ở đây người kể chưa có nhu cầu giấu mình, vì

họ chỉ kể như “người ta kể” là được, nhưng cũng có lúc bộc lộ thái độ chủ quan của người kể, nếu như họ muốn nói thêm

Về sau “ngôi thứ ba” trở thành hình thức “giấu mình” của người kể biết hết - biết từ bề ngoài cho đến ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trong yêu cầu kể chuyện đời thường, kể chuyện tưởng tượng, HS không chỉ kể lại theo kiểu “người ta kể” của cổ tích và truyền thuyết, vì như thế hạn chế việc thể hiện vai trò chủ thể của ngôi kể Do đó, cách kể theo “ngôi thứ ba” là người kể giấu mình, kín đáo gọi sự vật theo ngôi thứ ba – nó, chúng nó, tên gọi sự vật, nhân vật theo nhận xét của mình và kể sao cho sự vật tự nó diễn ra Hiểu như vậy, HS có thể kể tự do, linh hoạt theo trí tưởng tượng của các em

Gọi kể theo ngôi thứ ba là cách kể mà người kể “giấu mình” là vì tuy người kể không lộ diện, nhưng vẫn thể hiện sự quan sát, nhận xét của mình Do đó kể theo cách này, HS vẫn có thể

và bộc lộ sự nhận xét, quan sát của mình

Kể theo “ngôi thứ nhất” là hình thức ra đời khá muộn

Ngôi thứ nhất được định nghĩa là hình thái phạm trù ngôi biểu thị tác giả của lời nói (người đang nói) và hình thái tương ứng của động từ chỉ chủ thể hành động chính là người đang nói, tức

là hình thái ngôi đồng nhất chủ thể hành động với người đang nói

Ngôi thứ nhất là vị trí của người kể cho phép kể những gì mình biết, mình thấy, mình chịu trách nhiệm một cách công khai Về lí, “tôi” không thể kể những gì mà tôi không biết và không nhìn thấy Do đó, kể theo ngôi thứ nhất là một sự hạn chế trong tầm nhìn và hiểu biết của một

Trang 26

người Nhưng bù lại, do kể những điều mình biết, thấy và cảm cho nên lời kể thân mật, gần gũi, mang màu sắc cảm xúc cá nhân Khi người kể giả định kể theo ngôi thứ nhất của nhân vật là kể theo cái biết và cái cảm của nhân vật ấy Người xưng “tôi” ấy tuỳ trường hợp cụ thể, không phải

là tác giả, nhưng cũng có khi trùng với tác giả

Trong Lí luận tự sự hiện đại nói chung, sự phức tạp của cấu trúc tự sự thể hiện ở người trần thuật, người kể thông qua ngôi kể thứ nhất hay ngôi kể thứ ba “Tác giả không hiện diện trong VBTS như một người kể, người phát ngôn mà chỉ xuất hiện như là một tác giả hàm ẩn,

một cái Tôi thứ hai của nhà văn, với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị tác

phẩm – (người tiêu điểm hóa) [64] Tác giả thực sự xuất hiện chỉ như người ghi, người sao lục lời kể hoặc là người nghe trộm người kể Người trần thuật – (người kể chuyện) [64] là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể Và hành vi trần thuật là hành vi của người trần thuật đó mà sản phẩm

là VBTS Ngôi kể là yếu tố tạo thành tiếng nói, giọng điệu của VBTS Điều quan trọng trong

khi kể là kể theo điểm nhìn, cách nhìn nào.” [75] Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành

Long [50] kể chuyện theo ngôi thứ ba bằng cách gọi tên các nhân vật : ông hoạ sĩ, cô kĩ sư, anh

thanh niên, bác lái xe,… nhưng trần thuật theo điểm nhìn của “ông hoạ sĩ” Truyện Chiếc lược ngà – Nguyễn Quang Sáng) [50] kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật ông Ba xưng “tôi” nhưng trong quá trình kể, theo diễn biến câu chuyện, có lúc điểm nhìn của người trần thuật dường như ở ngôi thứ ba khi người kể giấu mình đi khi bộc bạch những tâm tư, tình cảm của nhân vật ông Sáu, bé

Thu Truyện Bến quê – Nguyễn Minh Châu ở Ngữ văn 9 Tập 2 kể theo ngôi thứ ba gọi tên nhân

vật Nhĩ, Liên,… nhưng được trần thuật theo cái nhìn và tâm trạng của nhân vật Nhĩ…

Trong chương trình TLV tự sự THCS, việc sử dụng tiếng Việt, TLV đang ở giai đoạn cơ bản thì phạm trù ngôi kể vẫn có ý nghĩa quan trọng, bởi nó đơn giản, dễ nhận đối với HS, giúp

các em lựa chọn cách kể thích hợp Sự thay đổi ngôi kể mở rộng phạm vi tưởng tượng cho HS 1.4 Vai trò, ý nghĩa việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS cho

HS THCS

Theo các định nghĩa của các nhà nghiên cứu, A G Côvaliốp trong Tâm lí học xã hội, Nxb

GD, 1976 :” Kĩ năng là khả năng nắm được tri thức về hành động và áp dụng hay lựa chọn phương thức để thực hiện hành động có kết quả” Tác giả Hoàng Hữu Bội – đề tài cấp Bộ, mã số B96 – 03 – 07 đã kết luận :”Kĩ năng là một khái niệm biểu thị năng lực sử dụng hệ thống những tri thức, những dữ kiện, những khái niệm đã có để phát hiện những thuộc tính của các sự vật để

giải quyết thành công các nhiệm vụ lí luận hay thực tiễn nhất định Đó là một quá trình thực thi

một hệ thống các hành động và thao tác mà con người có thể sử dụng trong các điều kiện mới đối với họ, là sự điều chỉnh hợp lí hoạt động cá nhân dựa trên những tri thức và kinh nghiệm

vốn có của họ.”

Trang 27

Như vậy, có thể hiểu kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách

vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Để có kĩ năng, con người phải có tri thức về hành động và các kinh nghiệm cần thiết ;

mặt khác, họ phải biết vận dụng vốn tri thức và kinh nghiệm vào hành động và đạt được kết quả

Quá trình hình thành kĩ năng nào đó phải trải qua các bước :

- Nắm vững tri thức về hành động

- Thực hiện hành động theo những tri thức nhiều lần, nghĩa là phải có sự tập

Từ những định nghĩa trên, việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS được hiểu là :

- HS nắm vững kiến thức ngôn ngữ được học tập

- Thực hiện vận dụng kiến thức đã học, luyện tập theo kiến thức đã học nhiều lần, phải

có sự tập dượt qua các giai đoạn : quan sát mẫu và làm thử theo mẫu

Tiếng Việt của chúng ta là một trong số các ngôn ngữ phong phú, đa dạng với vốn từ ngày càng phát triển Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ là yêu cầu để sáng tạo và hoàn thiện ở mỗi người, nhất là ở HS, lứa tuổi đang phát triển toàn diện về mọi mặt Nhiệm vụ của nhà trường là cung cấp và phát triển vốn từ phong phú ấy cho HS, giúp các em rèn luyện và thực hành nó trong

học tập và trong đời sống, để các em có quyền tự hào về cái gia tài giàu có và quý báu của dân

tộc Có vốn từ, biết dùng từ đúng nghĩa, đúng chỗ chưa đủ, cần coi trọng công tác phát triển ngôn

ngữ thông qua việc luyện câu, liên kết câu, liên kết đoạn Phân môn TLV đảm nhận trực tiếp nhiệm vụ ấy Luyện viết đoạn văn, văn bản, đặc biệt theo phương thức đặc trưng của VBTS là lĩnh vực phát triển ngôn ngữ đi từ đơn giản đến nâng cao kĩ năng liên kết câu, liên kết đoạn và sáng tạo văn bản của HS

Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của HS là một phạm trù rộng bao gồm kĩ năng nói và viết Khả năng vận dụng tiếng Việt của các em ở mức độ tiếp thu, bắt chước (thực hành theo mẫu) và sáng tạo (diễn tả đúng được những điều định nói, định kể và hướng người đọc đến chủ đề nhất định) Khả năng vận dụng ngôn ngữ của các em vào bài văn chưa cao Bên cạnh những HS biết nói, biết viết rõ ràng, mạch lạc, trong sáng, còn rất nhiều HS chưa biết dùng tiếng Việt một cách thành thạo để diễn đạt ý nghĩ, tình cảm của mình Một số trường hợp các em giơ tay phát biểu khá tốt nhưng khi bắt tay vào việc tạo lập văn bản thì mắc rất nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu, viết đoạn

Ý thức hóa việc luyện tập ngôn ngữ cho HS là một yêu cầu không thể thiếu trong chương

trình giáo dục phổ thông Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong tạo lập VBTS cho HS

THCS là hết sức quan trọng và có ý nghĩa Việc rèn luyện ngôn ngữ cho HS trong tạo lập văn bản nói chung và trong tạo lập VBTS nói riêng giúp các em luyện tập vận dụng ngôn ngữ nhiều trong thực tế để đạt tới trình độ sử dụng ngôn ngữ thông thạo Những đặc điểm của VBTS, đặc biệt là

Trang 28

đặc điểm ngôn ngữ của VBTS là những lớp từ, dạng câu, đoạn văn thông dụng, vận dụng đa dạng năng lực quan sát, tái hiện và tưởng tượng của HS THCS Việc làm này sẽ giúp các em không chỉ viết đúng mà còn hướng tới việc viết hay, giúp HS nâng cao năng lực ngôn ngữ gắn với phát triển

tư duy và nhân cách, với vấn đề học tập văn chương và khả năng vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn đặt ra cho công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay

Chăm lo phát triển ngôn ngữ và rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS trong nhà trường, nhất là HS ở lứa tuổi THCS là một yêu cầu cấp thiết Ngôn ngữ của HS không phải là cái

gì có sẵn, ổn định Nó đòi hỏi không ngừng được phát triển Vận dụng kiến thức tiếng Việt vào

tạo lập văn bản là một trong những phương pháp dạy học theo tinh thần tích hợp, nghĩa là gắn

kết nội dung dạy kiến thức với nội dung rèn kĩ năng, nội dung của phần Tiếng Việt, Làm văn với

nội dung của phần Văn học

Công việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong quá trình giảng dạy và học tập bộ

môn Ngữ văn thể sự tích cực hóa ở người Thầy và ở HS VBTS là loại văn bản xuất hiện phổ

biến và tần số xuất hiện trong đời sống và trong văn học khá cao, giúp HS THCS có những kĩ năng cơ bản để tạo lập văn bản này chính là bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, phương pháp

học tập, tư duy đúng đắn, năng lực tưởng tượng sáng tạo, làm giàu cảm xúc thẩm mĩ cho HS

Ti ểu kết

Trong chương một này, luận văn tìm hiểu về lý thuyết của VBTS ở khái niệm, đặc trưng

cơ bản, có chú trọng đến đặc trưng ngôn ngữ và đưa ra một số minh họa bằng các tác phẩm tự sự được học trong chương trình THCS Luận văn cũng đã xác định việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho HS có vai trò ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông

Trang 29

Chương 2 : VẤN ĐỀ DẠY HỌC TẠO LẬP VĂN BẢN TỰ SỰ Ở

CHƯƠNG TRÌNH THCS

2.1 Đối chiếu VBTS với văn bản miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành

Chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở phần TLV dạy HS 6 kiểu văn bản : tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, điều hành (hành chính – công vụ) Vòng 1 của chương trình (lớp 6, 7), HS được học độc lập từng kiểu văn bản nhằm mục đích nắm vững đặc trưng riêng của các kiểu văn bản Vòng 2 (lớp 8, 9) dạy lặp lại có nâng cao, HS học cách vận dụng phối hợp các phương thức biểu đạt trong một văn bản cụ thể Vì trong thực tế, ít có văn bản, tác phẩm nào chỉ dùng một phương thức biểu đạt duy nhất mà thường kết hợp đan xen nhiều phương thức biểu đạt khác Tự sự là kiểu văn bản có khả năng kết hợp nhiều nhất các phương thức biểu đạt khác Tìm

hiểu đặc trưng, đối tượng, mục đích của các các phương thức biểu đạt khác được dạy trong chương trình THCS là thao tác cần thiết giúp HS phân biệt đặc trưng từng kiểu văn bản như miêu tả, biểu cảm, nghị luận,… và vận dụng thực hành kết hợp một cách linh hoạt các phương thức khác trong VBTS

2.1.1 Văn bản miêu tả

Bản chất của văn miêu tả là nhằm tái hiện bức tranh đời sống, tái hiện các tính chất, thuộc tính sự vật, hiện tượng làm cho chúng hiển hiện Con đường tái hiện bức tranh ấy bằng ngôn từ Bức tranh của con người và sự vật như đang đứng trước người đọc, người nghe thông qua các giác quan, hình dung từ, tính từ giàu óc tưởng tượng, liên tưởng, ví von, so sánh Văn miêu tả có ý nghĩa giúp người đọc hình dung đời sống một cách sinh động, chi tiết Đối tượng miêu tả là người (chân dung, hành động, nội tâm), cảnh (thiên nhiên, sinh hoạt) và vật (sự vật, con vật) Lời văn miêu tả dùng rất nhiều hình dung từ, tính từ

Tự sự thường kết hợp với miêu tả “Miêu tả trong khi kể nhằm làm cho sự việc đang

kể thêm sinh động, màu sắc, hình dáng, diện mạo của sự việc, nhân vật, hành động,… như hiện lên trước mắt người đọc” [49, tr.67] Yếu tố miêu tả có thể xen lẫn trong từng câu kể, câu trần thuật, có khi là một đoạn văn miêu tả cảnh, miêu tả chân dung người, miêu tả nội tâm,…làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn

2.1.2 Văn bản biểu cảm

Bản chất của văn biểu cảm là tái hiện lại tâm hồn, tình cảm, bày tỏ trực tiếp hoặc gián tiếp tình cảm, cảm xúc của con người đối với con người, thiên nhiên, xã hội, sự vật Những cung bậc tình cảm của con người được bộc lộ với khao khát chia sẻ niềm vui, nỗi buồn Văn biểu cảm thích hợp cho con người về tinh thần Đối tượng biểu cảm là sự vật, thiên nhiên, con

Trang 30

người Tất cả các sự vật trong thiên nhiên đều làm đối tượng Tùy vào đối tượng biểu cảm mà chi phối cách dùng từ, đặt câu Mục đích của văn biểu cảm là bày tỏ tình cảm và khơi gợi sự đồng cảm Lời văn biểu cảm thể hiện tính chân thật, không sáo rỗng, lên gân Các từ cảm thán được sử dụng nhiều

Tự sự có kết hợp với biểu cảm Yếu tố biểu cảm xuất hiện trong khi kể giúp người viết thể hiện được rõ thái độ, tình cảm của mình trước sự việc đó, buộc người đọc phải trăn trở, suy nghĩ, “động lòng” trước sự việc đang kể, ý nghĩa của truyện càng thêm thấm thía và sâu sắc” [49, tr.67] Việc kết hợp này làm cho câu chuyện mang dấu ấn cá nhân, chủ quan, sáng tạo

và sâu sắc, nhất là ở những VBTS chọn ngôi kể thứ nhất

2.1.3 Văn bản thuyết minh

Đây là văn bản mới đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông, có giá trị to lớn, gần gũi với đời sống Văn thuyết minh trình bày thuộc tính, cấu tạo, nguyên nhân, kết quả, tính

có ích hoặc có hại của sự vật, hiện tượng, cung cấp những thông tin khách quan, khoa học của sự vật, hiện tượng nào đó để người đọc nắm được đặc điểm, bản chất của sự vật đó Mục đích của văn bản thuyết minh là giúp người đọc có tri thức khách quan, giúp hiểu biết toàn bộ đời sống và có thái độ đúng đắn đối với các sự vật hiện tượng của đời sống Đối tượng thuyết minh hết sức đa dạng, phong phú Thuyết minh về một đối tượng, sự vật, con

người ; giới thiệu về phương pháp, cách làm (giới thiệu quy trình) ; thuyết minh về tác phẩm nghệ thuật, về danh lam thắng cảnh… Nội dung thuyết minh là giới thiệu đối tượng một cách khoa học, rõ ràng Lời văn thuyết minh rõ ràng, đơn nghĩa, chính xác, súc tích

VBTS kết hợp hạn chế với kiểu văn bản này

2.1.4 Văn bản nghị luận

Văn nghị luận là phương thức phản ánh tác động vào lí trí, tư duy logic, phán đoán, nhận xét, bác bỏ, phân tích, phép lập luận (tổng, phân, hợp) Phương thức nghị luận có những điểm khác biệt khá rõ với các phương thức đã nêu Đặc trưng của văn nghị luận là chặt chẽ, rõ ràng, có sức thuyết phục cao Văn bản nghị luận trình bày tư tưởng, quan điểm đối với tự nhiên, xã hội, con người và tác phẩm văn học bằng các luận điểm, luận cứ và

cách lập luận Lời văn nghị luận mang tính khẳng định và phủ định Giọng điệu nghị luận đanh thép, sắc sảo, chặt chẽ kết hợp giọng văn truyền cảm

“Trong văn tự sự, để người đọc (người nghe) phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết (người kể) và nhân vật có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến, nhận xét, cùng những lí lẽ, dẫn chứng Nội dung đó thường được diễn đạt bằng hình thức lập luận, làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.”[50, tr.138] Nghị luận chỉ là yếu tố đan xen thấp thoáng trong tự sự, cốt để làm nổi bật cho sự việc và nhân vật

Trang 31

2.1.5 Văn bản điều hành (hành chính – công vụ)

Văn bản điều hành trình bày theo mẫu chung và chịu trách nhiệm pháp lí về các ý kiến, nguyện vọng của các nhân, tập thể đối với cơ quan quản lí ; hay ngược lại, bày tỏ yêu cầu, quyết định của người có thẩm quyền đối với người có trách nhiệm thực thi, hoặc thoả thuận giữa công dân với nhau về lợi ích và nghĩa vụ Mục đích của văn bản điều hành là đảm bảo các quan hệ bình thường giữa người và người theo quy định và pháp luật Văn bản điều hành có kết hợp với văn nghị luận, hạn chế kết hợp với các văn bản khác

Trong quá trình tạo lập văn bản, tùy vào mục đích, nội dung và tính chất của văn bản

mà người viết kết hợp các phương thức biểu đạt với nhau Tự sự gần như có tất cả các phương thức biểu đạt, vì tự sự chính là bức tranh gần gũi nhất với cuộc sống, rất đa dạng, phong phú, với đầy đủ tất cả các tình huống, cảnh ngộ, tất cả các kiểu nhân vật, các mẫu người ta vẫn thường gặp hàng ngày Việc đan xen và kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm, nghị luận…trong văn tự sự góp phần cho sự thành công của VBTS

2.1.6 N ội dung chương trình dạy tạo lập VBTS ở cấp THCS

Chương trình THCS chia ra 6 kiểu văn bản chính, nhằm hình thành và luyện tập 6 phương thức tạo lập văn bản vừa nêu trên Tự sự được chọn dạy đầu tiên trong chương trình THCS và được bố trí ở cả 2 vòng của chương trình Chương trình TLV tạo lập VBTS ở THCS được chú trọng, bố trí nhiều giờ ở các lớp 6, 8, 9, tạo điều kiện cho HS học và luyện tập Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn do Bộ Giáo dục và đào tạo quy định nội dung dạy học TLV về tự sự

ở từng lớp như sau :

Lớp 6 : [9, tr.27]

• Đặc điểm của VBTS ; chủ đề, bố cục, sự việc, nhân vật, ngôi kể trong văn tự sự ; cách tạo

lập bài văn kể chuyện đời thường và kể chuyện tưởng tượng

• Thực hành nói : tóm tắt một truyện cổ dân gian ; kể lại một truyện cổ dân gian, một câu chuyện có thật được nghe hoặc được chứng kiến

• Thực hành viết : viết tóm tắt VBTS ; viết đoạn văn tự sự theo chủ đề cho trước ; viết bài văn kể lại một truyện cổ dân gian đã học, đã đọc ; kể chuyện có thật, kể chuyện sáng tạo

Chương trình TLV lớp 6 phân bố giảng dạy TLV tự sự nằm trọn ở học kì I gồm có 13 tiết lý thuyết kết hợp thực hành, 3 bài viết tự sự, 3 tiết trả bài viết và 1 bài kiểm tra cuối học kì Sự phân

bố nội dung trên rất khoa học vì HS lớp 6 đầu cấp sẽ được hướng dẫn tìm hiểu về VBTS trong phần đọc - hiểu văn bản và được học lý thuyết - thực hành tạo lập VBTS trong giờ TLV Trong các giờ lý thuyết, nội dung được trình bày ngắn gọn hơn so với giờ lý thuyết TLV trước đây Các vấn đề cơ bản về lý thuyết tự sự như tìm hiểu chung về văn tự sự ; sự việc, nhân vật, chủ đề, dàn

Trang 32

bài ; tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự ; lời văn, đoạn văn tự sự ; ngôi kể ; thứ tự kể đã được đặt ra và giải quyết rõ ràng Hơn nữa, hệ thống bài tập luyện tập trong giờ lý thuyết cũng phong phú đa dạng hơn Chương trình cũng đã chú trọng dành 2 tiết luyện nói kể chuyện cũng như các tiết luyện tập xây dựng bài kể chuyện đời thường, kể chuyện tưởng tượng

 Lớp 7 :

Bài viết số 1 thực hành về văn tự sự và miêu tả Các kiến thức về TLV tự sự không giảng dạy cụ thể trong SGK, nhưng chương trình phân bố dành bài viết thực hành đầu tiên về văn tự sự

và miêu tả với mục đích là giúp các em ôn luyện và thực hành các kiến thức đã được học về tự sự

ở chương trình lớp 6 Hai đề về văn tự sự được giới thiệu trong bài viết này ở dạng đề kể chuyện đời thường rất gần gũi với tâm tư, tình cảm và vốn sống của các em

 Lớp 8 : [9, tr.33]

• Tóm tắt VBTS, các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong VBTS

• Thực hành nói : tóm tắt VBTS ; kể lại một câu chuyện đã đọc, đã nghe ; kể chuyện sáng

tạo

• Thực hành viết : viết tóm tắt VBTS viết đoạn văn, bài văn tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm theo các ngôi kể khác nhau

Theo cấu trúc 2 vòng đồng tâm, phần văn tự sự đã được học kĩ ở lớp 6 sẽ được hoàn thiện

và nâng cao hơn trong chương trình lớp 8 HS được học mở rộng hơn một số đặc điểm và yêu cầu

về văn tự sự như tóm tắt tác phẩm tự sự ; vai trò của các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong văn tự

sự ; luyện tập viết các đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả, biểu cảm, đánh giá ; lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả, biểu cảm, đánh giá ; kể chuyện theo ngôi kết hợp với miêu tả và biểu cảm Yêu cầu về văn tự sự đặt ra ở lớp 8 là HS có thể tạo lập được những bài văn tự sự có đan xen hoặc kết hợp với miêu tả, biểu cảm, đánh giá theo những yêu cầu khác nhau

 Lớp 9 [9, tr.36]

• Miêu tả và miêu tả nội tâm trong VBTS ; nghị luận trong VBTS ; đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong VBTS ; người kể chuyện trong VBTS

• Thực hành nói : tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm

• Thực hành viết : tóm tắt VBTS ; viết đoạn văn, bài văn tự sự kết hợp với các yếu tố lập

luận và miêu tả nội tâm

Chương trình TLV 9 về tự sự tiếp tục nâng cao kĩ năng làm văn có kết hợp các phương

thức biểu đạt khác trong VBTS Dạy tạo lập VBTS ở lớp 9 theo hướng kết hợp với yếu tố miêu

tả, miêu tả nội tâm, nghị luận đồng thời hướng dẫn HS tìm hiểu và thực hành về đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm trong VBTS Ở các tiết học về đọc - hiểu văn bản, cần cho HS biết

Trang 33

được tự sự là một trong những phương thức chủ đạo, chính yếu mà các nhà văn thường vận dụng, phản ánh để tái hiện hiện thực

Nhìn chung, văn tự sự trong chương trình THCS có vị trí quan trọng, mang tính liên thông

Dạy tạo lập VBTS không chỉ cung cấp kĩ năng làm bài văn mà còn trang bị cho HS năng lực quan sát, tưởng tượng, khả năng ứng dụng những kiến thức vào cuộc sống, giúp HS tiếp tục học lên bậc trung học phổ thông hoặc đi vào cuộc sống Rèn luyện kĩ năng viết VBTS cho HS tức là giúp HS biết nhìn nhận sự việc, đánh giá sự việc bằng vốn hiểu biết của chính mình Qua các bài

viết tự sự, nhân cách HS được bộc lộ và ngày càng hoàn thiện

2.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy tạo lập VBTS

Chương trình và SGK mới THCS đã tạo nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy tạo lập VBTS

2.3.1 Thu ận lợi :

- Chương trình và SGK có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục của một quốc gia Từ năm 2002, thực hiện Nghị quyết số 40 của Quốc hội, cả nước đã tiến hành thay chương trình và SGK giáo dục phổ thông ở các cấp Tiểu học, THCS và Trung học phổ thông Việc thực hiện chương trình và SGK mới là một quy luật tất yếu, có tính kế thừa và phát triển, tiếp thu và thay đổi phù hợp với đặc điểm tình hình của giai đoạn mới, với sự phát triển như

vũ bão của khoa học công nghệ Chương trình môn Ngữ văn THCS được xây dựng theo tinh thần tích hợp, không chỉ chú trọng nội dung mà còn phục vụ tích cực cho việc đổi mới phương pháp dạy học Về VBTS, ở Tiểu học, HS đã được học về kể chuyện, điều đó tạo thuận lợi cho HS tiếp tục học làm văn tự sự với mức yêu cầu cao hơn ở cấp THCS Chương trình TLV về tạo lập VBTS

ở THCS được chú trọng, phân bố ở các lớp 6, 8, 9, tạo điều kiện cho HS tìm hiểu lý thuyết và luyện tập Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng vận dụng vào việc tạo lập VBTS không chỉ dừng ở mức

cơ bản mà còn nâng cao bằng việc kết hợp đan xen các phương thức khác như miêu tả, biểu cảm, nghị luận… Chương trình mới gắn với yêu cầu cấp bách đổi mới phương pháp giảng dạy trong

bộ môn Ngữ văn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong HS tạo đã điều kiện thuận lợi, giúp

GV vận dụng đa dạng hoá các phương pháp phù hợp với đặc trưng bộ môn trong quá trình giảng dạy Bên cạnh đó, cuộc cách mạng về Công nghệ thông tin và những ứng dụng của công nghệ thông tin trong giảng dạy đã đạt được một số thành công nhất định HS có điều kiện tiếp cận các kiến thức bằng phương tiện trực quan như hình ảnh, phim ảnh, âm thanh… trên nhiều lĩnh vực khác nhau, giúp việc lĩnh hội các kiến thức mới một cách khoa học

- Các đơn vị kiến thức trong SGK :

Mục tiêu cần đạt trong từng bài học ở SGK rất cụ thể, nội dung bài học rõ ràng, khoa học giúp GV thực hiện tiến trình dạy học đạt kết quả

Trang 34

Bài học không nặng về lý thuyết mà chú trọng thực hành giúp HS vận dụng tích hợp kiến thức đọc - hiểu các văn bản đã học vào việc tạo lập văn bản Các mẫu được lựa chọn phân tích để hình thành khái niệm đa số là các văn bản HS đã được tìm hiểu trong phần đọc - hiểu hoặc ở các cấp lớp trước đó giúp HS nắm chắc lý thuyết đồng thời giúp GV củng cố và khắc sâu kiến thức cho HS

Kiến thức về kiểu bài tự sự vừa lặp lại, vừa nâng cao đã giúp HS nhận ra sự đan xen giữa các phương thức biểu đạt trong VBTS, hiểu rõ vai trò, tác dụng của các yếu tố biểu cảm, miêu tả, nghị luận,… trong văn tự sự

Hệ thống bài tập phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho GV chọn những bài thích hợp cho từng đối tượng, từng tình huống học tập

- Yêu cầu về đổi mới kiểm tra đánh giá mà cụ thể là cách ra đề văn có nhiều cải tiến, mang tính khái quát, đa dạng, gắn với thực tế cuộc sống, tạo điều kiện liên tưởng, tưởng tượng, phù hợp với tâm lí HS cấp THCS Đề văn trong SGK Ngữ văn THCS đã đổi mới theo tiêu chí kết hợp ấy Ví dụ : “Tôi thấy mình đã lớn”, “Người ấy (bạn, thầy, người thân) sống mãi trong lòng tôi” [49] Vì thế việc rèn luyện cách viết, luyện tập của HS cũng có điều kiện tránh máy móc, rập khuôn, nhàm chán, đơn điệu Nội dung các đề văn có tính giáo dục cao như giáo dục HS ý thức trách nhiệm về hành vi của bản thân (có lỗi với bạn), nhận thức về truyền thống văn hoá của dân tộc ( Một chuyến viếng thăm gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, lễ tảo mộ,…[50]),

về sự nghiệp đấu tranh của thế hệ cha anh (Cuộc gặp gỡ và trò chuyện với người lính lái xe trong

tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật [50])…

2.3.2 Khó khăn :

- Phân tích kết quả thống kê ý kiến của GV :

Tìm hiểu những khó khăn mà GV gặp trong quá trình giảng dạy về tạo lập VBTS, luận văn lập phiếu điều tra, thu thập ý kiến của GV qua 18 câu hỏi [phụ lục] Nội dung điều tra gồm :

 Chương trình và SGK về VBTS : câu 1, 2, 3, 14

 Kiến thức lý thuyết : câu 4, 5

 Vấn đề luyện tập và kết quả làm bài của HS : câu 6, 7, 16

 Nguyên nhân bài làm HS đạt yêu cầu và chưa đạt yêu cầu : câu 8, 9, 11, 12

 Các kĩ năng ưu tiên trong dạy tạo lập VBTS : câu 10, 16

Trang 35

tạo lập các loại văn bản khác VBTS được giảng dạy ở hầu hết các cấp lớp dễ gây tâm lí nhàm chán trong GV và HS HS chưa nhận thấy sự lặp lại có nâng cao kiểu bài tự sự, về phía GV cũng chưa nhấn mạnh sự nâng cao mà SGK thể hiện, giúp HS thực hành một cách tích cực, hứng thú Các ý kiến nhận xét chung về chương trình giảng dạy tạo lập VBTS là hay, khoa học, ứng dụng cao là 47 %, trong khi đó, các ý kiến cho rằng thiếu thực hành là 13 %, không khả thi là 38 %, 7

% cho rằng chương trình cao hơn trình độ HS 58 % ý kiến GV đồng ý chương trình SGK không nặng, có 42 % cho rằng chương trình quá nặng

 Về kiến thức được cung cấp ở các bài dạy lý thuyết, 64 % đồng ý rằng dung lượng

lý thuyết đưa ra là đủ nhưng thiếu thời gian thực hành ở lớp, 26 % ý kiến cho rằng ít, bên cạnh 8

% ý kiến cho là quá nhiều, chỉ có 2 % đồng ý phần lý thuyết là đủ, hợp lí Có 79 % ý kiến nhận xét về quá trình tiếp thu các kiến thức lý thuyết của HS là vừa sức, 21 % cho rằng khó tiếp thu

 Về thời gian dành cho HS làm luyện tập, chỉ có 10 % cho rằng đủ, 74 % nhận xét rằng hơi ít, 17 % cho rằng rất ít Các ý kiến đề xuất của GV về việc dạy VBTS đạt hiệu quả là tăng cường rèn luyện thực hành cho HS bằng các hình thức tăng giờ luyện tập : luyện xây dựng dàn bài, luyện viết đoạn, luyện nói,…

 Nhận xét về chất lượng làm bài văn tự sự của HS, 51 % đánh giá là các em làm bài đạt mức khá, 48 % cho rằng bài làm của các em chỉ đạt mức trung bình, 1% là không đạt yêu cầu

 Tìm hiểu nguyên nhân giúp bài làm của các em đạt yêu cầu ở mức khá giỏi, 57 % thống nhất là nhờ GV rèn kĩ năng làm bài, 35 % là do lý thuyết rõ, vận dụng tốt, 12 % cho rằng

HS có năng khiếu, 21 % là tùy thuộc vào đề bài, 15 % nhờ vào việc các em đọc bài tham khảo và

8 % cho rằng HS sử dụng ngôn từ chính xác Như vậy, vai trò chủ đạo của GV là rất quan trọng quyết định kết quả học tập của HS, 100% ý kiến thống nhất cao Các yếu tố quan trọng giúp các

em tạo lập VBTS đạt yêu cầu cao là do đề tài hấp dẫn, gợi yêu thích 48% đồng ý Điều này cho thấy đổi mới cách ra đề TLV tạo hứng thú cho HS làm bài có một vai trò quan trọng Các yếu tố khác góp phần thành công của bài văn tự sự là xây dựng ý nghĩa câu chuyện 30 %, cốt truyện hấp dẫn 27 %, ngôn ngữ chính xác, hình ảnh 22%, chọn giọng kể, lời kể thích hợp là 21 %, 18 % tiếp tục đồng ý là tư liệu tham khảo có chất lượng giúp HS làm bài tốt

 Về những nguyên nhân đưa đến việc làm bài tự sự đạt mức trung bình hoặc không đạt yêu cầu, có 47 % đánh giá là do vốn từ của HS nghèo nàn, viết câu sai Kết quả thống kê này cho thấy vai trò của yếu tố ngôn ngữ, sử dụng ngôn ngữ là rất quan trọng 39 % ý kiến nhận xét

HS chưa biết chọn sự việc, nhân vật tiêu biểu, 35 % chưa xây dựng được dàn ý, 23 % chưa hiểu đặc trưng VBTS, 7 % chưa biết bắt đầu câu chuyện, 4 % chưa biết kết thúc câu chuyện

Trang 36

 Nhận xét về đề văn trong SGK, 49 % cho rằng đề đã phát huy tính sáng tạo của HS,

34 % nhận xét một số đề khá hay, 14 % cho rằng đề chưa phát huy tính sáng tạo, 11 % cho rằng

đề chưa phù hợp

 Về những kĩ năng cần ưu tiên lựa chọn trong giờ dạy tạo lập VBTS, có 61 % đề nghị rèn luyện kĩ năng nói và viết, 57 % yêu cầu dành thời gian cho HS viết đoạn văn và 14 % đề nghị cung cấp vốn từ ngữ gợi ý

 Về những lỗi phổ biến trong bài TLV về VBTS của HS, 70 % thống nhất là HS thiếu liên kết câu và liên kết đoạn, các lỗi khác là chính tả 38 %, viết câu sai ngữ pháp 31 %, dùng từ sai 30 %, lặp từ ngữ 19 %, viết đoạn văn chưa đúng 18 % Để khắc phục các lỗi cho HS,

76 % cho rằng phải xây dựng dàn bài, 35 % tập trung dựng đoạn và 19 % yêu cầu luyện nói Trong tiết trả bài viết 90 % đồng ý phải chú ý sửa tất cả các lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt cho

HS

- T rong quá trình đào tạo GV môn Văn, phương pháp dạy TLV có nhiều vấn đề chưa

được đề cập đến Việc đổi mới chương trình và SGK dù có lưu ý đến việc bồi dưỡng GV tiếp cận nội dung giảng dạy và một số vấn đề về đổi mới phương pháp, nhưng thời gian bồi dưỡng ngắn hạn, việc đầu tư soạn giảng chưa có điều kiện nghiên cứu để vận dụng trong giảng dạy một cách hiệu quả

- Khó khăn lớn trong việc dạy và học tạo lập VBTS là chuẩn đánh giá bài làm của HS

Chưa có một chuẩn nào toàn diện cho phần này Với kiểu bài kể chuyện đời thường, kể lại truyện

đã đọc, truyện được nghe kể lại, thang điểm đánh giá ở phần nội dung là sự việc và nhân vật được xây dựng hợp lí, logic, hướng đến ý nghĩa truyện Bên cạnh những bài văn xúc động, chân thật, có một số HS xây dựng cốt truyện rất nhiều tình tiết không hợp lí, quá nhiều yếu tố gây xúc động và thường dẫn đến một hậu quả, một kết thúc bi quan, tiêu cực không cần thiết- mà các em lầm tưởng là kết thúc gây xúc động nơi người đọc Đồng thời, việc đánh giá của GV về bài văn tự

sự của HS cũng rất chủ quan GV còn lúng túng ở một số bài văn kể chuyện đời thường, người thật việc thật cuả HS mang tính sáng tạo Cốt truyện, tình tiết hợp lí, câu chuyện xúc động nhưng lại chưa đáp ứng ở yêu cầu chân thật Có những bài kể chuyện về người thân của HS đã làm xúc động GV nhưng thực tế thì đó là những câu chuyện các em tưởng tượng như thật trên cơ sở một truyện đã được tham khảo ở rất nhiều nguồn như sách, báo, truyện học làm người, truyện những tấm lòng cao cả, mạng internet,… Một số đề bài kể chuyện tưởng tượng đã khuyến khích sự sáng tạo của HS Ví dụ “Tưởng tượng 20 năm sau, vào một ngày hè, em về thăm lại trường cũ Hãy viết thư cho một bạn học hồi ấy kể lại buổi thăm trường đầy xúc động ấy.” [50, tr.105] hoặc kể tiếp phần kết thúc câu chuyện cho một truyện dân gian đã học,…Dạng bài viết kết cục mới cho một truyện dân gian đã học giúp các em chọn các sự việc, tình tiết mang ý nghĩa nhân văn hơn,

Trang 37

có ý nghĩa giáo dục Tuy nhiên đôi khi các dạng bài kể chuyện tưởng tượng này lại đưa các em đi quá xa khi chọn các sự việc và tình tiết xa lạ với cách nghĩ, với truyền thống văn hóa của dân tộc

- Việc ra đề kiểm tra, đề thi Văn là một vấn đề nóng, đang được toàn xã hội quan tâm

Trên thực tế, việc ra đề văn “an toàn” là cách lựa chọn phổ biến trong quá trình giảng dạy Mặc

dù các tác giả SGK đã lưu ý GV chọn ra các đề tương tự, không nhất thiết phải là những đề trong SGK, thế nhưng các đề bài mới đến với HS chưa nhiều Trong điều kiện giảng dạy của mình, GV còn hạn chế về thời gian để chuẩn bị, đầu tư cho một đề văn hay Đồng thời, để tiện lợi và tiết kiệm thời gian, GV chọn các đề ở SGK vì đa số dàn ý và các ý chính đã có hướng dẫn trong sách

GV cũng như trong các sách tham khảo Tình trạng HS sao chép văn mẫu vẫn còn trong nhà trường Bên cạnh việc ra đề thi giống hoàn toàn như SGK, có một xu hướng khác là ra đề thi hoàn toàn mới, không gắn với chương trình học, chủ yếu kiểm tra khả năng sáng tạo của HS khá giỏi Việc đổi mới cách ra đề thi đã khẳng định tính ưu việt nhưng vẫn còn nhiều tranh luận

- Khó khăn từ bài làm của HS về văn về tự sự do vốn từ tiếng Việt của HS chưa phong

phú, các em mắc nhiều lỗi về chính tả, dùng từ, diễn đạt câu, đoạn văn và một số lỗi khác lúc hành văn Bên cạnh các em HS chăm ngoan, một số em lười suy nghĩ, ít tập trung nghe giảng, không có ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập Một bộ phận không nhỏ HS chán học Văn, không có hứng thú học, lười viết, lười suy nghĩ trước các yêu cầu và đề bài TLV Các em ít đọc sách báo, đọc truyện, thường tập trung mua sách tham khảo có bài văn văn mẫu theo đề trong SGK VBTS là kiểu bài mà sự sáng tạo của HS là yếu tố quyết định, một số HS viết bài kể chuyện bằng cách sao chép nội dung cốt truyện đã có, thêm thắt tình tiết Việc tạo lập VBTS chưa đạt được yêu cầu cao

Ví dụ 1 : Thường thì kỉ niệm tự nhiên mà tới nhưng với tôi và nó thì chế tạo kỉ niệm

cũng là một cách để nhớ nhau nhiều hơn

Nghĩa của từ “chế tạo” là làm ra, tạo ra vật dụng từ các nguyên vật liệu Ở đây, kỉ niệm không thể chế tạo

Trang 38

Sửa lại : có thể thay bằng từ : tạo ra, tự tạo,…

Ví dụ 2 : Tôi thấy thất vọng về mình quá, vì phục vụ cho tính tò mò của mình mà làm

ảnh hưởng đến tình bạn chúng tôi (Trần Thế Hiển – Lớp 9T1 THCS Lam Sơn)

Từ phục vụ dùng chưa đúng vì nghĩa của từ phục vụ là làm phần việc của mình vì lợi

ích chung hoặc làm việc nhằm giúp ích trực tiếp cho cái gì

Sửa lại : Tôi thấy thất vọng về mình quá, vì thỏa mãn cho tính tò mò của mình mà tôi

làm ảnh hưởng đến tình bạn chúng tôi

 Dùng sai từ chỉ thời gian

Ví dụ : Ngày xưa, khi em còn chưa đi học (Bài làm của HS lớp 6, và 8)

Từ “ngày xưa” chỉ thời gian ở quá khứ cách hiện tại rất lâu Dùng từ ngày xưa để chỉ

thời gian ở quãng tuổi thơ là chưa phù hợp

Sửa lại : có thể thay bằng các từ như ; ngày ấy, thuở đó, lúc ấy,…

 Lỗi lặp từ, dùng từ chưa thể hiện rõ ý :

Tuy tôi đã phạm lỗi với Mai nhưng cũng từ đó mà tôi đã có một tình bạn đẹp mà tôi

không bao giờ nghĩ tới (Bài làm của HS Nguyễn Tú Khuê –lớp 9T1 –THCS Lam

Sơn)

Từ “mà tôi” lặp lại 2 lần làm câu văn sai cú pháp ; diễn đạt ý “tôi đã có một tình bạn

đẹp mà tôi không bao giờ nghĩ tới” chưa đúng với ý HS muốn diễn đạt, đó là tình bạn

Về nguyên tắc, từ “và” là từ “nối”, nối từ với từ, vế câu, câu với nhau,… Trong khi

viết, HS vẫn có thể dùng từ “và” ở đầu câu nhưng tránh lạm dụng nhiều lần Dùng

nhiều lần là mắc lỗi dùng thừa từ

Về ngôi kể :

Với HS khối 6 là lớp đầu cấp, chúng tôi chọn 3 lớp gồm 120 bài làm của HS trường THCS

Bình Tây Quận 6 để thống kê về việc lựa chọn ngôi kể phù hợp với yêu cầu đề, nội dung, cốt

truyện và chọn đại từ xưng hô ở ngôi thứ nhất

Đề bài : Mượn lời một đồ vật gần gũi với em để kể chuyện tình cảm giữa em và đồ vật

đó [47, tr.140] Đây là đề bài luyện tập kể chuyện tưởng tượng Yêu cầu của đề bài là HS phải

chọn một đồ vật gần gũi với các em ví dụ như sách, viết, cặp, bàn, ghế, áo,…để kể một câu

Trang 39

chuyện thể hiện tình cảm của các em với đồ vật đó Ngôi kể thứ nhất - đồ vật xưng “tôi” (em, tớ, mình) Nhân vật của truyện là HS (là cô chủ, cậu chủ, bạn,…) Chuỗi sự việc là diễn biến xoay quanh hai nhân vật gồm “tôi” (đồ vật) và cô (cậu) chủ Câu chuyện kết thúc phải thể hiện được tình cảm của hai nhân vật này

Bảng 2.1 Thống kê về chọn ngôi kể phù hợp với yêu cầu đề và nội dung câu chuyện (Trường THCS Bình Tây – Năm học 2006 -2007)

Lớp Số bài Bài chọn ngôi kể đúng Bài chọn ngôi kể sai

kể chuyện tưởng tượng, cái khó khăn của HS khối 6 là chọn đúng ngôi kể phù hợp với yêu cầu

đề, phù hợp với nội dung câu chuyện

Bảng 2.2 Thống kê về chọn đại từ xưng hô ngôi kể thứ nhất

(Trường THCS Bình Tây – Năm học 2006 -2007)

Trang 40

Ở ngôi kể thứ nhất, đại từ xưng hô “tôi” được chọn đa số (61,7%) Đây là đại từ xưng

hô ở ngôi thứ nhất mang tính trung tính Ưu điểm của cách dùng từ “tôi” là đối tượng nghe kể linh hoạt, vai xã hội có thể lớn hơn hoặc ngang hàng với người kể Với HS, ngôi kể thứ nhất có thể xưng hô “em” vì phù hợp với tâm lí lứa tuổi (30,8%), đối tượng nghe câu chuyện có vai xã hội lớn hơn vì là thầy, cô – những người trực tiếp đang đọc câu chuyện mà các em kể Một số ít

HS xưng hô chưa thống nhất vừa “em” lại vừa “tôi” (1,6%) Trong quá trình viết, các em hay dùng “tôi”, “em” nhưng một số em đã sữa chữa cách xưng hô của mình thống nhất sau khi đọc lại Các em đã có ý thức dùng đại từ xưng hô thống nhất nhưng do quá trình viết, các em thường nhầm lẫn và tự sửa chữa Điều này cho thấy bước đọc lại bài sau khi viết hoàn chỉnh là rất cần thiết Một số em lựa chọn đại từ xưng hô “mình” hoặc “tớ” (5,8%) Các bài viết xưng hô này diễn đạt khá tốt tâm lí, tình cảm và tạo được một phong cách kể chuyện tự nhiên, gần gũi

Lỗi về dùng câu : viết câu dài, nhiều thành phần, chưa đặt dấu câu, câu diễn đạt dài

dòng, tối nghĩa,…

Ví dụ 1 : Trong những kỉ niệm thời thơ ấu của em, đều làm cho em nhớ nhất là em có một

người bạn chơi rất thân với em chính là Hải (Bài làm của em Cao Anh Toàn - HS lớp 8/8 trường THCS Lam Sơn ngày 4/1/2007)

Đây là một câu cũng là một đoạn mở bài Từ “đều” viết sai chính tả của từ “điều” Nhưng dùng từ “điều” cũng sai về chủ ngữ đang hướng tới là con người “là bạn chơi rất thân với em” Cách giới thiệu người bạn cũng dài dòng, chưa gọn

Sửa lại : Trong những người bạn thời thơ ấu, người mà em nhớ mãi là Hải – bạn thân của

em

Ví dụ 2 : Em có một kỉ niệm thơ ấu đó chính là kỉ niệm em với bạn Minh bị lạc đường lúc

đi chơi ở trường (Triệu Quốc Hậu, lớp 8/8 trường THCS Lam Sơn)

Đây là câu và cũng là một đoạn ở phần mở bài Cụm danh từ “em với bạn Minh” giữ hai chức năng : định ngữ cho danh từ “kỉ niệm”, lại vừa là chủ ngữ cho vị ngữ “bị lạc đường lúc đi chơi ở trường” Về nghĩa “bị lạc đường lúc đi chơi ở trường” là chưa ổn vì lạc đường khi đi trên đường phố hoặc một địa điểm lạ, mới Còn “lạc đường lúc đi chơi ở trường” không thuyết phục

Ví dụ 3 : Tuy không sử dụng tôi nữa nhưng vẫn nâng niu, chăm sóc tôi từng ngày (Âu Dương Vĩnh – HS lớp 6/1 THCS Bình Tây)

Câu có dùng cặp từ nối “tuy…nhưng”, thiếu chủ ngữ

Sủa lại : Thêm chủ ngữ : Tuy không sử dụng tôi nữa nhưng cô chủ vẫn nâng niu, chăm

sóc tôi từng ngày

 Lỗi về đoạn văn :

Ngày đăng: 02/01/2021, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w