Với đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, việc dạy học Ngữ Văn theo hướng tích hợp sẽ được nhận diện lại một cách toàn
Trang 1Nguyễn Thanh Hà
DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 2Nguyễn Thanh Hà
DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Văn học
Mã số : 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN THÀNH THI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thanh Hà
Trang 4Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn đến:
PGS.TS Nguyễn Thành Thi, người trực tiếp và tận tình hướng dẫn khoa học cho tôi Tôi xin gửi đến Thầy lời tri ân và biết ơn chân thành, sâu sắc nhất
Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
TPHCM, ngày 30 tháng 9 năm 2014
Người viết luận văn
Nguyễn Thanh Hà
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
DẪN NHẬP 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 15
1.1 Cơ sở lí luận 15
1.1.1 Tích hợp trong dạy học 15
1.1.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ Văn 18
1.1.3 Tích hợp trong dạy học các tác phẩm Thơ mới chương trình Ngữ Văn 11 27
1.2 Cơ sở thực tiễn 35
1.2.1 Tình hình dạy học Thơ Mới trong trường phổ thông hiện nay 35
1.2.2 Định hướng đổi mới dạy học Ngữ Văn sau năm 2015 41
Chương 2 DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11 THEO HƯỚNG TÍCH HỢP 46
2.1 Các nội dung, phương diện tích hợp trong dạy học các tác phẩm Thơ mới ở chương trình Ngữ Văn 11 46
2.1.1 Tích hợp kiến thức 46
2.1.2 Tích hợp kĩ năng 76
2.2.2 Một số biện pháp tổ chức dạy học tích hợp trong dạy học các tác phẩm Thơ mới ở chương trình Ngữ Văn 11 84
2.2.1 Sử dụng các phương pháp dạy học theo mục tiêu tích hợp 90
2.2.1 Kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu tích hợp 97
Trang 63.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 100
3.2 Thời gian và tổ chức thực nghiệm 102
3.3 Miêu tả thực thiệm 103
3.4 Kết quả thực nghiệm 141
KẾT LUẬN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 155
Trang 7DẪN NHẬP
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung và phương pháp giảng dạy
bộ môn Ngữ Văn nói riêng luôn là một yêu cầu bức thiết Trong thời gian mười năm trở lại đây, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực đã diễn
ra khá sôi nổi và có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận Thế nhưng, đổi mới vẫn
là một quá trình rất lâu dài, nhiều khó khăn và đầy thách thức Hiện nay, đề án
“Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đang được tích cực thực hiện, nhận được sự quan tâm sâu sắc của cả nước Theo đề xuất, sách giáo khoa sau năm 2015 thay đổi bởi sự tích hợp – một quan điểm dạy học đã được đặt ra từ cuối những năm 90 ở Việt Nam Bắt đầu từ thời điểm đó, cùng với tất cả các bộ môn khác, việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa Ngữ Văn trung học phổ thông và trung học cơ sở đã chịu sự chi phối mạnh mẽ của quan điểm tích hợp Theo tinh thần đổi mới này, có thể nói rằng tích hợp là nguyên tắc chỉ đạo việc tổ chức chương trình, cấu trúc sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp dạy học Không thể phủ nhận việc ứng dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ Văn đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, thế nhưng, song song đó vẫn còn khá nhiều vấn
đề bất cập đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu kĩ hơn đồng thời tìm ra giải pháp
khắc phục Với đề án “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, việc dạy học Ngữ Văn theo
hướng tích hợp sẽ được nhận diện lại một cách toàn vẹn và sâu sắc hơn để từ đó
có những phương pháp thực hiện hiệu quả hơn, hướng đến việc xây dựng chương trình sách giáo khoa, chương trình dạy học theo hướng mở Trong thời gian gần đây, có nhiều buổi hội thảo, tọa đàm; nhiều bài phát biểu; nhiều ý kiến đóng góp, tranh luận xoay quanh đề án này Hưởng ứng tinh thần đó, chúng tôi mong muốn có một đóng góp dù rất nhỏ vào việc nhận diện và nghiên cứu sâu kĩ
Trang 8hơn định hướng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn theo quan điểm tích hợp cũng như việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa
1.2 Bên cạnh đó, chúng tôi nhận thấy việc dạy học những tác phẩm tiêu
biểu của phong trào Thơ mới được đưa vào nhà trường phổ thông hiện nay để cho các em có thể cảm nhận được vẻ đẹp, nhận ra được giá trị của những tác phẩm ấy theo tinh thần phát huy được tính chủ động, sáng tạo ở các em là điều rất khó khăn Chính vì vậy việc dạy học Thơ mới theo tinh thần đổi mới chưa thật sự đạt được hiệu quả Những giờ dạy học Thơ mới thường rơi vào hai tình trạng như sau Thứ nhất, giáo viên giữ nguyên phương pháp giảng dạy truyền thống: bình giảng từ đầu đến cuối tiết dạy Học sinh có thể cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, có thể hình thành nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau qua những lời bình giảng của giáo viên nhưng đồng thời các em sẽ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, thiếu sự tư duy và sáng tạo Thứ hai, giáo viên vận dụng những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Thơ mới nhưng lại thiếu sự nghiên cứu kĩ lưỡng, vận dụng chưa hợp lí dẫn đến việc đánh mất những xúc cảm cần thiết trong cảm thụ thơ đồng thời dễ khiến học sinh rối rắm, mất phương hướng Những tình trạng trên kéo dài khiến học sinh không còn sự yêu thích, hứng thú càng không có ấn tượng gì về các tác phẩm Thơ mới Quan trọng hơn, hiệu quả tích hợp kiến thức từ những cách dạy này chưa cao: bài giảng hoặc đóng khung hạn hẹp trong phạm vi kiến thức tác phẩm hoặc tích hợp một cách thiếu khoa học, chưa đúng đắn, gây tác dụng ngược Trước thực trạng
đó, thiết nghĩ cần phải có sự nhận diện và nghiên cứu sâu kĩ để tìm ra những phương pháp dạy học Thơ mới hợp lí vừa đảm bảo được việc đổi mới dạy học theo những quan điểm tiến bộ vừa không bị khô khan, không đánh mất những xúc cảm đẹp trong việc cảm thụ thơ Thế nhưng, những công trình nghiên cứu
về việc giảng dạy các tác phẩm Thơ mới trong trường phổ thông tính đến thời điểm này lại chiếm số lượng không nhiều
Trang 9Chính từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Dạy học Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11 theo hướng tích hợp”
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Về vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ Văn
Từ những năm 60 thế kỉ XX, thuật ngữ “tích hợp” đã xuất hiện, được hiểu
như là một quan điểm, một tư tưởng gắn với định ngữ của nó tức là tư tưởng tích hợp trong dạy học Xavie Roegies đã nghiên cứu các quá trình dạy học theo tư tưởng tích hợp Phối hợp với các nghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm, ông
đã trình bày rõ tư tưởng tích hợp trong cuốn Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường Tư tưởng tích hợp được phát triển
theo hướng cụ thể hóa thành chiến lược dạy học, phương pháp dạy học… nhưng chung quy đó là kiểu dạy học sao cho diễn ra được một sự kết hợp các tri thức kĩ năng liên quan môn học cụ thể đó
Vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ Văn cũng được đặt ra từ cuối những năm 90 thế kỉ XX ở Việt Nam Nhiều tác giả như Trần Hữu Phong, Dương Tiến
Sĩ, Nguyễn Thanh Hùng… đều dựa trên quan điểm tích hợp của Xavie Roegies
để phát triển các khía cạnh ứng dụng vào dạy học nói chung, vào dạy học Ngữ Văn nói riêng Từ đó, có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ Văn được công bố
Trước hết là những công trình nghiên cứu về mặt lí thuyết của vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ Văn Có thể nói, những công trình này đã xây dựng nên một cơ sở lí luận vững chắc cho việc vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ Văn Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, Việt nam đã từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức Việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát huy nguồn lực con người vì thế càng được xem là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước Nhà trường cần tạo ra được những con người có khả năng thực hành cao, vững về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ… Muốn vậy, bên cạnh việc
Trang 10đổi mới chương trình dạy học thì việc đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp thiết đối với ngành giáo dục Từ thực tế đó, năm 2000, chúng ta đã cải cách chương trình và sách giáo khoa Bắt đầu từ tháng 9 năm 2006, chương trình Ngữ văn THPT được sử dụng đại trà Việc biên soạn sách được xây dựng theo quan điểm “tích hợp” và “tích cực” Ba môn Văn học – Tiếng Việt – Làm văn, trước đây được biên soạn độc lập, nay được tích hợp lại trong một môn có tên gọi mới là Ngữ văn Với chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT mới, việc dạy văn thực chất là “dạy cho học sinh phương pháp đọc văn” Để dạy và học đọc văn, không chỉ dựa vào những kiến thức lịch sử và lí luận văn học mà còn phải trang bị cho học sinh các kiến thức Việt ngữ với tất cả các đơn vị và cấp độ ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn, văn bản Chính những đơn vị ngôn ngữ này tạo nên thế giới hình tượng của tác phẩm văn học” [49, 24]
Ở cuốn Ngữ Văn 6, ngay phần “Lời nói đầu” tổng chủ biên sách giáo khoa trung học cơ sở Nguyễn Khắc Phi đã viết: “Bên cạnh những hướng cải tiến chung của chương trình như: giảm tài, tăng thực hành, gắn đời sống, cải tiến nổi bật của chương trình và SGK môn Ngữ văn là hướng tích hợp” Trong cuốn sách Ngữ văn 10, tập 1 do tác giả Phan Trọng Luân tổng chủ biên, ở phần “Lời nói đầu” đã nêu rõ mục tiêu và cấu trúc của sách giáo khoa trung học phổ thông có
sự kế thừa và phát triển vận dụng hướng tích hợp ở mức cao hơn, phù hợp với trình độ tư duy của học sinh bậc trung học phổ thông: “Học Ngữ văn là để trau dồi tình cảm thẩm mỹ và nhân cách Học Ngữ Văn phải hướng vào cuộc sống để vận dụng kiến thức và để sống đúng, sống đẹp” Đặc biệt các tác giả khẳng định:
“Học Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là một yêu cầu quan trọng đối với mỗi học sinh”
Tác giả Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn” (Tạp chí Giáo dục số 22, năm 2002) xác nhận:
“Những tri thức riêng lẻ, tri thức bộ phận khi dạy học tích hợp sẽ được tiếp cận
Trang 11một cách có định hướng trong mối quan hệ đồng bộ của một bài học hoàn chỉnh
và nhất quán theo đặc trưng bộ môn Nói cách khác, dạy học theo hướng tích hợp có thể giúp học sinh vừa nắm được kiến thức cơ bản, vừa hình thành được các thái độ, năng lực và kỹ năng thực tiễn mà môn học đặt ra Đó cũng chính là rèn luyện cho học sinh tư duy tổng hợp” Cũng theo tác giả, việc dạy học tích hợp “Được nhìn nhận như là quá trình giáo viên tổ chức và hướng dẫn người học tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ thể tiềm năng sang khả năng thực hiện”
Tác giả Đỗ Ngọc Thống – Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm nghiên cứu
giáo dục phổ thông, chủ biên, đồng chủ biên, tác giả của nhiều bộ sách giáo
khoa và sách tham khảo bộ môn Ngữ Văn – đã có nhiều đóng góp giá trị về vấn
đề dạy học Ngữ Văn theo hướng tích hợp Trong cuốn Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS (Giáo dục, 2002), tác giả có một hệ thống bài viết về quan
điểm tích cực và việc dạy học văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ
“Việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại mà chúng được xây dựng theo tinh thần tích hợp” [47, 32] Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra ba biểu hiện của tích hợp là “trong cuốn sách
cả ba môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn” [47, 54] Trên cơ sở đó tác giả chỉ ra ưu điểm của nguyên tắc dạy học tích hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc sách giáo khoa, trong quá trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng với bài viết “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn” (Tạp chí khoa học giáo dục số 6, tháng 3 năm 2006) đã chỉ ra bản chất của tích hợp là “Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất của quá trình
Trang 12học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn Ngữ văn” [19,22] Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra ý nghĩa của tích hợp: “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Hamonie) và hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại” [19, 22] Cũng bài viết này tác giả chỉ ra “Cái gốc của quan niệm tích hợp trong dạy học Ngữ văn” là “Dạy học ba phân môn hợp nhất, hoà trộn vào nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại” [19, 22] Tác giả nêu rõ “Mục đích bao quát của nguyên tắc tích hợp trong chương trình sách giáo khoa Ngữ Văn là điều kiện giáo dục phù hợp, khả thi, phương pháp dạy và học mới có hiệu quả và cơ sở lý luận tích hợp một cách khoa học cùng với cách thức và mô hình tích hợp đa dạng để hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chương kết hợp với việc nâng cao dần kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong văn hoá giao tiếp cho học sinh” [19, 22]
Trên đây, là một số công trình nghiên cứu có giá trị về mặt lý thuyết, mang
ý nghĩa định hướng, xây dựng nên một cơ sở lí luận vững chắc cho việc vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ Văn vào những vấn đề cụ thể Từ
đó, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ Văn vào một khối lớp, một cấp học, một vấn đề hay một phân môn…
Trong đề tài cấp Bộ Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh lớp 10 trong các giờ học Ngữ văn theo định hướng tích hợp (năm 2008), từ các vấn đề
chủ yếu của dạy học tích hợp, các giai đoạn phát triển bài học và thực trạng dạy học Ngữ văn 10 hiện nay ở trường phổ thông, tác giả Trần Hữu Phong đã đưa ra cách tổ chức cho học sinh nhận thức trong các giờ học Ngữ văn 10 theo hướng tích hợp, các định hướng và các biện pháp tổ chức cho học sinh nhận thức tích hợp trong các giờ Ngữ văn 10 Đây là một công trình nghiên cứu rất có giá trị, mang tính khả thi cao, có giá trị như một chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho
Trang 13giáo viên trong việc dạy học Ngữ Văn theo hướng tích hợp Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu như luận văn thạc sĩ “Dạy - học truyện cười trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 theo hướng tích hợp và tích cực” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm thực hiện vào năm 2007 tại trường Đại học Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ “Dạy - học ca dao trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 theo hướng tích hợp và tích cực” của tác giả Nguyễn Thị Phương Chi thực hiện vào năm 2007 tại trường Đại học Thái Nguyên Các tác giả về cơ bản đã làm rõ những đặc điểm, những dạng thức và những biện pháp tích hợp trong dạy học truyện cười, dạy học ca dao … Bên cạnh đó, cả hai luận văn đều có ít nhiều hạn chế Hạn chế của luận văn “Dạy - học truyện cười trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 theo hướng tích hợp và tích cực” là nghiên cứu vấn đề tích hợp còn hơi
sơ sài, phần thiết kế thể nghiệm chưa rõ ràng Luận văn “Dạy - học ca dao trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 theo hướng tích hợp và tích cực” lại có hạn chế là
bố cục chưa hợp lí, phần lí luận còn hơi rối rắm Nhìn chung, những công trình nghiên cứu này bước đầu đã có sự vận dụng quan điểm tích hợp vào giảng dạy Ngữ Văn với một vấn đề cụ thể, đã làm rõ việc tích hợp sẽ được vận dụng như thế nào nhưng việc nghiên cứu còn ở mức độ khái quát, chung chung, chưa sâu
kĩ nên chưa thật sự thể hiện tính khả thi cũng như giá trị đóng góp của công trình Dù vậy, những luận văn này cũng đem đến nhiều gợi ý cho đề tài của chúng tôi Tiếp đến có thể kể đến công trình “Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp và tích cực trong việc dạy học ngữ pháp ở trường trung học phổ thông” của tác giả Lê Thị Ngọc Chi thực hiện vào năm 2010 tại trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Công trình đã đem đến cái nhìn khá toàn diện về vấn
đề tích hợp trong dạy học ngữ pháp, đã đưa ra nhiều cách tổ chức dạy học ngữ pháp sáng tạo, mới mẻ, đạt hiệu quả theo định hướng tích hợp cao
Trong thời gian qua, song song với việc xây dựng Đề án Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng đã
tiếp tục triển khai hàng loạt các nghiên cứu cụ thể nhằm xác định những định
Trang 14hướng lớn cho việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa sau 2015 như: Hệ thống GDPT trong hệ thống giáo dục quốc dân; Mục tiêu và Chuẩn GDPT; Tiếp cận và xây dựng CT theo định hướng phát triển năng lực người học; Cấu trúc nội dung và kế hoạch dạy học cho các bậc học phổ thông; Định hướng đánh giá kết quả giáo dục cho chương trình giáo dục phổ thông; Kinh nghiệm Quốc tế về phát triển CTGD và kinh nghiệm của một số nước tiêu biểu; Kinh nghiệm xây dựng CTGDPT của Việt Nam từ trước đến nay; Tích hợp và phân hóa trong CT GDPT – kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam; Tổng kết dạy học ở nhà trường phổ thông và hướng phát triển sau 2015 cho một số môn học;… Đặc biệt
các đơn vị, cơ quan cũng đã tổ chức nhiều buổi hội thảo xoay quanh vấn đề đổi mới dạy học Ngữ Văn ở trường phổ thông một cách căn bản, toàn diện và dạy
học Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực như Hội thảo Dạy học Ngữ Văn trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông của khoa Ngữ
Văn Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức,… Hội thảo với nhiều bài nghiên cứu sâu sắc đã đưa ra nhiều định hướng cho việc vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học như bài viết “Năng lực giao tiếp như là kết quả phát triển tổng hợp kiến thức và kĩ năng đọc, viết, nói, nghe trong dạy học Ngữ Văn” của tác giả Nguyễn Thành Thi; bài viết “Phác thảo chương trình Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực” của tác giả Bùi Mạnh Hùng; bài viết “Tích hợp – một nguyên tắc biên soạn sách giáo khoa, một định hướng tổ chức dạy học Ngữ Văn ở Trung học phổ thông” của tác giả Lê Thị Ngọc Anh… Những công trình nghiên cứu này tuy không trình bày cụ thể về vấn đề tích hợp trong dạy học nhưng đã đưa ra những kiến thức lí luận vững chắc, đề xuất nhiều hướng đi mới, mang tính khả thi cao cho việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới chương trình, sách giáo khoa theo định hướng đổi mới sau năm 2015; trong đó có đặc biệt chú trọng đến việc đổi mới theo hướng tích hợp toàn diện kiến thức và kĩ năng; để từ đó hình thành năng lực Ngữ Văn cho học sinh gồm năng lực cảm thụ, thưởng thức tác phẩm văn chương và năng lực giao tiếp
Trang 152.2 Về phương pháp dạy học Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn lớp 11
Trong nghiên cứu, Thơ mới dường như là đề tài bất tận của các học giả nhưng chủ yếu các nhà nghiên cứu đều tập trung vào lĩnh vực phê bình, nghiên cứu dưới góc độ văn học mà chưa tập trung nghiên cứu về phương pháp giảng dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình phổ thông Số lượng công trình hoàn chỉnh và có giá trị trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này không nhiều mà đa phần vấn đề được đặt trong những công trình nghiên cứu mang tính bao quát hơn
Đầu tiên phải kể đến tham luận “Dạy học một số bài thơ lãng mạn
1932-1945 theo hướng phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh phổ thông” in
trong kỷ yếu Hội nghị khoa học Đổi mới phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt trong các trường sư phạm được Bộ giáo dục và đào tạo tổ chức tại Đà Lạt vào
tháng 12/2000 của tác giả Đinh Trí Dũng Trong bài viết, tác giả đã khẳng định việc dạy học những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ mới được đưa vào chương trình phổ thông để cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp theo tinh thần phát huy được tính chủ động, sáng tạo của các em là vấn đề rất khó khăn Tác giả cũng nhấn mạnh tính đa nghĩa như một trở lực đáng ngại đối với giáo viên
và học sinh trong quá trình dạy học Từ đó, ông đề nghị giáo viên – trong vai trò người dẫn dắt nên xuất phát từ đặc trưng thể loại, tính riêng biệt, độc đáo của từng bài thơ và nhất là đặc điểm tiếp nhận của học sinh để có thể đề ra những biện pháp cụ thể để phát huy tính năng động, tích cực của các em [11, 56]
Bài viết “Tác phẩm trữ tình và phương pháp giảng dạy” của tác giả Nguyễn
Thanh Hùng trong Hiểu văn, dạy văn (Giáo Dục, 2003) đã trình bày sâu kĩ về
bản chất và khả năng tác động của thể loại trữ tình để từ đó rút ra những đặc điểm của thể loại trữ tình và những kết luận về phương pháp giảng dạy tác phẩm trữ tình Tác giả nhấn mạnh “Nắm vững tính chất và đặc điểm độc đáo của thể loại văn học trữ tình là tiền đề quan trọng cho việc tiếp tục suy nghĩ về những chỉ dẫn và kết luận về phương pháp ” [22, 101] Bài viết đã cung cấp cho chúng
Trang 16tôi nhiều định hướng đúng đắn trong việc hình thành những phương pháp giảng dạy Thơ mới trong chương trình
Trong Nhìn lại Thơ mới và Văn xuôi Tự lực văn đoàn, với bài viết “Sử dụng
phiếu học tập trong giảng dạy Thơ mới”, tác giả Nguyễn Phước Bảo Khôi đã đặt
ra vấn đề sử dụng phiếu học tập như một trong những kĩ thuật dạy học hợp tác nhằm góp phần đổi mới việc giảng dạy Ngữ Văn, dạy học Thơ mới theo hướng tích cực hóa hoạt động và vai trò của học sinh Bài viết này đã đem đến nhiều gợi ý quý giá cho chúng tôi khi xây dựng những biện pháp tổ chức dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp
Ngoài ra, nghiên cứu về vấn đề này còn có một số luận văn thạc sĩ Đầu tiên phải kể đến là luận văn thạc sĩ “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào việc dạy học Ngữ Văn giai đoạn 1930-1945 ở trường trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Yến Linh thực hiện tại Đại học Cần Thơ vào năm 2008 Trên tinh thần đổi mới trong dạy học Ngữ Văn, luận văn đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực vào việc dạy học các tác phẩm văn xuôi lãng mạn, các tác phẩm Thơ mới Những phương pháp trên được minh họa bằng giáo án thể nghiệm có sự đầu tư kĩ lưỡng và có tình khả thi cao Kế đến là luận văn thạc sĩ
“Phương pháp giảng dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp” do tác giả Nguyễn Thị Lượm thực hiện tại trường Đại học giáo dục năm 2010 Xác định phương pháp dạy Thơ mới từ góc độ thi pháp là một khái niệm mới trong việc đổi mới phương pháp dạy học, luận văn đã đề xuất nghiên cứu về thực trạng giảng dạy, thành tựu nghiên cứu Thơ mới từ góc độ thi pháp học để từ đó đề xuất phương pháp giảng dạy phù hợp nhất đối với những tác phẩm Thơ mới trong nhà trường phổ thông Cuối cùng là luận văn thạc sĩ “Tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới, chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản, trung học phổ thông” do tác giả Nguyễn Thị Na thực hiện vào năm 2010 Luận văn xây dựng hệ thống lí luận về phương pháp đọc sáng tạo và những lợi thế của nó trong dạy học thơ và Thơ mới đồng thời nghiên cứu thực trạng dạy
Trang 17học Thơ mới để từ đó đưa ra những giải pháp tận dụng lợi thế của phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học các tác phẩm Thơ mới Các luận văn trên đã đem đến góp phần giúp chúng tôi có cái nhìn rõ nét hơn về việc vận dụng những phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Thơ mới để từ đó có cơ sở để lựa chọn và xây dựng cho mình một định hướng phương pháp thích hợp khi dạy học Thơ mới
2.3 Nhận xét chung
Các công trình nghiên cứu về vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ Văn chiếm một số lượng khá lớn Thế nhưng, phần nhiều vẫn là những công trình mang ý nghĩa xây dựng hệ thống lí luận, hình thành những định hướng và phương pháp giảng dạy còn những công trình mang tính ứng dụng thực tiễn - ứng dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ Văn một cách cụ thể thì cũng còn khá khiêm tốn Về vấn đề giảng dạy tác phẩm Thơ mới, có không ít công trình nghiên cứu
về việc đổi mới phương pháp dạy học nhưng các công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng cụ thể vào thực tiễn giảng dạy thì lại chưa nhiều và chưa có công
trình nào nghiên cứu về vấn đề Dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp
3 Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu để tìm ra cách thức vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Thơ mới để đảm bào tính khoa học, hợp lí và đạt được hiệu quả cao nhất; thực nghiệm để rút ra hiệu quả cũng như hạn chế của đề tài khi vận dụng vào thực tiễn
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những tác phẩm Thơ mới được giảng dạy theo hướng tích hợp Trong giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu việc dạy học những tác phẩm Thơ mới chính khóa nằm trong chương trình Ngữ Văn 11 ban cơ bản
Trang 184 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
4.2 Phương pháp so sánh đối chiếu:
- Phương pháp này sẽ được vận dụng để so sánh các ngữ liệu trong quá trình phân tích, đối chiếu giữa việc dạy học tác phẩm Thơ mới theo phương pháp truyền thống và theo quan điểm tích hợp để thấy được những ưu, nhược điểm của từng phương pháp cũng như những vấn đề cần bổ khuyết cho lí luận dạy học Thơ mới
- Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi cũng so sánh – đối chiếu kết quả thu được ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để đánh giá về tính khả thi của các giáo án Thơ mới được thiết kế theo quan điểm tích hợp
- Bên cạnh đó chúng tôi cũng so sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm thơ mới trong và ngoài chương trình… nhằm tìm những đặc điểm chung và những nét đặc sắc riêng của các tác phẩm này để từ đó có những phương pháp dạy học thích hợp theo hướng tích hợp
4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát:
- Khảo sát tình hình dạy học Thơ mới trong trường phổ thông để từ đó nhìn nhận mặt hạn chế nhằm tìm giải pháp khắc phục
- Khảo sát hiệu quả của việc dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp sau khi
đã thực nghiệm
Trang 194.4 Phương pháp thực nghiệm: thiết kế giáo án thể nghiệm, thực nghiệm
giảng dạy để xác định tính khả thi và chứng minh hiệu quả của việc dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp
5 Đóng góp của luận văn
- Góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học văn: dạy học Văn theo quan điểm tích hợp
- Đề xuất một hướng dạy học phù hợp, có hiệu quả đối với các tác phẩm Thơ mới được giảng dạy trong chương trình
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài hai phần Mở đầu và Kết luận, luận văn thạc sĩ “Dạy học Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11 theo hướng tích hợp” được sắp xếp thành ba
Chương 2: Dạy học Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11 theo hướng tích hợp gồm hai phần Phần thứ nhất là Các nội dung, phương diện tích hợp trong dạy học các tác phẩm Thơ mới chương trình Ngữ Văn 11
đưa ra những nội dung, phương diện tích hợp khi dạy học các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11: tích hợp kiến thức và tích hợp kĩ năng Trong tích hợp kiến thức có tích hợp kiến thức Làm Văn, Tiếng Việt; kiến thức văn
Trang 20học sử; kiến thức lí luận văn học; tích hợp các tác phẩm Thơ mới thành cụm bài
và tích hợp kiến thức liên môn Phần thứ hai là Một số biện pháp tổ chức dạy
học các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ Văn 11 theo hướng tích hợp đưa ra những phương pháp tổ chức, cách thức thực hiện việc dạy học Thơ
mới theo hướng hợp tác Phần này gồm hai phần nhỏ: hướng dẫn chuẩn bị bài theo mục tiêu tích hợp và sử dụng các phương pháp dạy học theo mục tiêu tích hợp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Trong chương này, chúng tôi đưa ra
mục đích và yêu cầu thực nghiệm, thời gian tổ chức và thực hiện thực nghiệm và quan trọng nhất là phần miêu tả thực nghiệm Trong phần này, chúng tôi xây dựng một kịch bản dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp với sự mô tả và phân tích cụ thể, chi tiết Từ đó, chúng tôi đưa ra những nhận xét, đánh giá, rút kinh
nghiệm từ quá trình thực nghiệm đề tài Dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp
Trang 21Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
trong một hoạt động là phải xem xét, huy động những gì cần thiết và có liên quan đến hoạt động ấy, vận dụng, sắp xếp, tổ chức chúng theo một cấu trúc nhất định nhằm thực hiện hành động một cách tốt nhất
Trên phương diện giáo dục, thuật ngữ “tích hợp” được hiểu như là một
quan điểm, một tư tưởng gắn với định ngữ của nó là tư tưởng tích hợp trong dạy học, xuất hiện từ những năm 60 gắn với trào lưu sư phạm tích hợp Quan điểm
cơ bản của trào lưu sư phạm này là chủ trương xóa bỏ tính đơn lẻ, đơn trị của từng môn học để hướng tới tích hợp liên môn, xuyên môn [4, 103] Có thể thấy, trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn
học hoặc các hợp phần của bộ môn đó Trong Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, Xavie Roegies đã nghiên cứu
các quá trình dạy học theo tư tưởng tích hợp và phối hợp với các nghiên cứu của các nhà khoa học sư phạm Theo ông, sư phạm tích hợp là một quan niệm về
Trang 22quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hoà nhập học
sinh vào cuộc sống lao động Theo đó, Từ điển Giáo dục học cũng đã đưa ra định nghĩa về khái niệm tích hợp trong dạy học “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [15, 198] Hiểu một cách
khái quát và đơn giản, tích hợp trong dạy học nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị bài học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học Quan điểm dạy học tích hợp đã được nhiều nhà giáo dục ở nước ta nghiên cứu và nhận thấy ý nghĩa thiết thực của nó trong sự phát triển giáo dục hiện nay
Nguyên tắc của dạy học tích hợp lấy người học làm trung tâm, đòi hỏi người học là chủ thể của hoạt động học đồng thời kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành, qua đó phát triển kĩ năng và hình thành năng lực ở người học Người học phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình Người học không chỉ được đặt trước những kiến thức có sẵn ở trong bài giảng của giáo viên mà phải tự đặt mình vào tình huống có vấn đề của thực tiễn, rồi từ đó tự mình tìm ra cái chưa biết, cái cần khám phá Từ đó, có thể thấy tích hợp trong dạy học ở trường phổ thông cần phải gắn với việc tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, phát huy vai trò chủ thể của học sinh trong học tập Mặt khác, tích hợp phải quán triệt quan điểm dạy học gắn với đời sống, vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học vào cuộc sống Tích hợp rõ ràng cũng không phải là sự liên kết hay sự kết hợp về hình thức mà nó có tính toàn diện, đặc biệt
nó liên quan trực tiếp đến việc hình thành và phát triển tư duy – mấu chốt của mọi quá trình phát triển Chính vì vậy, tích hợp trong dạy học là phải dạy cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau Nghĩa là, giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà hơn hết phải dạy cho học sinh
Trang 23biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng để giải quyết những tình huống cụ thể, nhằm mục đích hình thành, phát triển năng lực toàn diện Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau của các môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết các tình huống tích hợp
Quan điểm tích hợp trong dạy học thường được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Tích hợp nhiều kĩ năng trong một môn học
- Tích hợp kiến thức các môn học khác qua môn học đang dạy
- Tích hợp chương trình chính khoá và ngoại khoá
- Tích hợp kiến thức lí thuyết và thực tiễn
- Tích hợp những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần được dạy trong tất cả các môn học, bao gồm khả năng sử dụng ngôn ngữ; thái độ, tình cảm với gia đình, quê hương, đất nước; những hiểu biết cơ bản về môi trường, khoa học; năng lực tư duy; năng lực tìm tòi, nghiên cứu; năng lực giao tiếp;…
Với những khía cạnh trên, dạy học tích hợp là hoạt động dạy học đòi hỏi nhiều sự đầu tư của giáo viên cho mỗi bài dạy, không chỉ về kiến thức, về phương pháp mà còn cả về hoạt động tìm hiểu học sinh Giáo viên cần biết học sinh đã được trang bị những kiến thức gì trước khi học một bài cụ thể, học sinh cần được học cái gì trong bài học này, làm thế nào để học sinh có thể hứng thú với kiến thức mới ấy, phương pháp giáo viên đưa ra có phù hợp với đối tượng học sinh hay chưa
Về mặt nội dung, dạy học tích hợp cần bắt đầu từ việc dạy những kiến thức cơ bản nhất và hữu dụng nhất Kiến thức dù ở thời đại nào cũng sẽ nhanh chóng trở nên lạc hậu nếu không được thường xuyên bổ sung cập nhật, trong khi
đó thời gian học sinh học trong nhà trường phổ thông lại có hạn cho nên nhà
trường không thể dạy học sinh theo lối “nhồi nhét kiến thức” Việc trang bị
Trang 24những kiến thức cơ bản cùng với phương pháp học tập khoa học là rất cần thiết
để giúp học sinh có khả năng tự học, tự làm giàu thêm tri thức của bản thân
Về mặt phương pháp, dạy học tích hợp dựa trên cơ sở vận dụng những gì học sinh đã biết để hướng dẫn học sinh tiếp cận một kiến thức mới, tức là dạy học sinh cách tìm kiếm và chiếm lĩnh kiến thức Muốn khơi gợi được thái độ học tập chủ động của học sinh, giáo viên cần tạo ra được những vấn đề có sự mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, sau đó dẫn dắt học sinh tìm câu trả lời cho cái chưa biết Khi tham gia vào hoạt động học tập, học sinh cùng lúc phải thực hiện nhiều thao tác: quan sát, phân tích, nêu nhận xét, và nhiều kĩ năng như: cách ứng xử khi làm việc với tập thể, cách tranh luận, bày tỏ ý kiến, huy động kiến thức đã biết về môn học hoặc những kiến thức có liên quan để giải quyết vấn đề,… Còn giáo viên có vai trò là người hướng dẫn, điều chỉnh, nhận xét để giúp học sinh nhận ra vấn đề trên tất cả các phương diện (kiến thức,
kĩ năng, thái độ)
Từ những điều trình bày trên, có thể thấy, tích hợp là một định hướng dạy học và cũng là một mục tiêu giáo dục mang nhiều ý nghĩa Chính vì vậy, đưa tư tưởng sư phạm tích hợp vào trong quá trình dạy học là điều vô cùng cần thiết, cần phải được xem xét và nghiên cứu một cách sâu kĩ hơn
1.1.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ Văn
Vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ Văn cũng được đặt ra từ cuối những năm 90 ở Việt Nam Nhiều nhà nghiên cứu dựa trên quan điểm tích hợp của Xavie Roegies để phát triển các khía cạnh ứng dụng vào dạy học môn học nói chung, vào môn Ngữ Văn nói riêng Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI ở Việt Nam, việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa Ngữ Văn Trung học phổ thông và Trung học cơ sở đã chịu sự chi phối của quan điểm tích hợp Ví dụ khi thuyết minh về chương trình, sách giáo khoa Ngữ Văn 12, các tác giả đã chỉ
rõ “Chương trình coi trọng phương pháp tích hợp trong dạy học ba phân môn
Từ yêu cầu tích hợp mà chọn lựa văn bản Xây dựng văn bản là nền tảng của
Trang 25dạy học Ngữ Văn Ngoài các văn bản văn học tiêu biểu được chọn lọc còn có thêm các văn bản nghị luận, chính luận, vừa trang bị kiến thức văn hóa, vừa cung cấp tài liệu để tích hợp với dạy học làm văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học” [58, 137] Cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Ngữ Văn 10, 11, 12
đều đi theo cách cấu trúc dựa trên trục các thể loại văn bản và hướng đến tích hợp hai năng lực đọc văn, làm văn làm chỗ dựa triển khai tri thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực
Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở trường Trung học Phổ thông không chỉ dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín; tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống; cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau; tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ gặp sau này Nói khác đi, đó là lối dạy học khép kín trong nội bộ phân môn, biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi về bản chất, nội dung
và kĩ năng cũng như mục tiêu, đủ cho phép phối hợp, liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực tiễn, đem lại kết quả tổng hợp
và vững chắc trong việc giải quyết những tình huống tích hợp hoặc những vấn
đề thuộc từng phân môn Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn
là cách thức để khắc phục, hạn chế lối dạy học đó nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được, bảo đảm cho mỗi học sinh khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình
để giải quyết những tình huống có ý nghĩa, cũng có khi là một tình huống khó khăn, bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Mặt khác, tránh được những nội dung, kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung, tri thức
và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được
Trang 26Dạy học Ngữ văn theo định hướng tích hợp vẫn theo đuổi quan điểm
“lấy học sinh làm trung tâm”, tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong
mọi mặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách phát triển kĩ năng, hình thành năng lực cho học sinh Chuẩn cần đạt về hình thành năng lực qua dạy học tác phẩm văn học – năng lực Ngữ Văn – gồm những tiêu chí cụ thể như sau:
- Trước hết, năng lực Ngữ Văn phải bộc lộ bằng sự nhận thức, khả năng, chất lượng sử dụng tiếng Việt ở học sinh Việc hiểu tiếng Việt không chỉ dừng lại ở cấp độ từ, câu, hay đoạn văn mà phải vươn đến văn bản Kĩ năng đọc, viết, nói, nghe nhìn chung là phải đạt đến trình độ văn bản Học sinh cần phải nắm chắc ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa hay phong cách của ngôn ngữ văn bản mà
mình phải giải mã hay lập mã Và cuối cùng “quan trọng hơn là học sinh phải tiến đến chiều sâu văn hóa và chiều sâu về giao tiếp văn hóa trong ngôn ngữ”
[4, 115], tức là hình thành năng lực giao tiếp trong đời sống
- Tiếp theo, năng lực Ngữ Văn còn phải bộc lộ bằng khả năng đọc văn
và làm văn của học sinh Năng lực đọc văn hiểu theo nghĩa rộng là khả năng đọc
và khái quát được mọi loại văn bản; hiểu theo nghĩa hẹp là khả năng đọc được các tác phẩm văn học, là biết thưởng thức, đánh giá được nội dung tư tưởng, giá trị thẩm mỹ của tác phẩm văn học Có nhiều cấp độ cho năng lực đọc văn ở đây: cấp độ đọc – hiểu từ đến câu; cấp độ phân tích nắm được các ý cơ bản của đoạn, của bài (xác định bố cục bài thơ, tóm tắt cốt truyện, tái hiện hình tượng; phân tích chi tiết, hình ảnh, nhân vật…); cấp độ khái quát hóa thành chủ đề, tư tưởng tác phẩm; đánh giá quan điểm nghệ thuật, phong cách nghệ thuật của tác giả Như vậy, đọc văn không chỉ là hiểu mà còn phải biết cảm thụ, phải hình thành được những xúc cảm thẩm mĩ, phải thưởng thức và đánh giá được cái hay cái đẹp của tác phẩm, nghĩa là chạm đến tầng sâu giá trị của tác phẩm Song song với năng lực đọc văn là năng lực làm văn (năng lực viết) Năng lực làm văn ở đây chủ yếu là nói đến năng lực làm ra các văn bản làm văn theo các thể thức được học Thế nhưng, năng lực làm văn vẫn đòi hỏi một sự tổng hợp cao về
Trang 27năng lực: vốn kiến thức ngôn ngữ sâu rộng, khả năng phân tích, tổng hợp, bình luận, bình giảng các văn bản văn học; khả năng tạo lập ra các văn bản khác như thuyết minh, tự sự, biểu cảm, nghị luận… Hình thành năng lực đọc văn và làm
văn chính là hình thành năng lực cảm thụ văn học cho học sinh
Như vậy, năng lực Ngữ Văn bao gồm năng lực giao tiếp và năng lực cảm thụ văn học Sử dụng tiếng Việt là không chỉ hiểu về bản chất tiếng Việt mà còn phải vận dụng được kiến thức đó vào việc nghe, nói, đọc, viết để phục vụ cho mọi hoạt động sống của bản thân Đọc văn lại dùng tiếng Việt để thể hiện quá trình phân tích, chiếm lĩnh tác phẩm văn học một cách đặc thù, hiệu quả Làm văn lại chính là quá trình vận dụng những kiến thức văn học, kiến thức về các thể thức làm văn và dùng tiếng Việt để làm phương tiện trình bày tư tưởng bằng các văn bản cụ thể
Trên cơ sở chuẩn năng lực cần đạt vừa nêu, dạy học Ngữ Văn theo hướng tích hợp cần cụ thể những nội dung tích hợp cũng như phương thức tích hợp như sau:
- Về nội dung tích hợp:
Như đã trình bày ở trên, dạy học Ngữ Văn phải hướng đến mục tiêu hình thành năng lực Ngữ Văn bao gồm năng lực giao tiếp và năng lực cảm thụ văn học Hai năng lực cần phát triển đồng thời theo tinh thần tích hợp trong cùng một hệ thống bài học Từ mục tiêu mang tính đặc thù và cốt lõi ấy, dạy học Ngữ Văn theo hướng tích hợp phải có sự phối kết một cách toàn diện về cả kiến thức lẫn kĩ năng, cụ thể như sau:
Về phương diện kiến thức, chúng ta cần chú ý đến tích hợp ngang và
tích hợp dọc Tích hợp ngang là “làm cho kiến thức di chuyển theo chiều
ngang” [57, 27], nghĩa là tích hợp ba phần Văn, Tiếng Việt, Làm Văn trong một
đơn vị bài học Cụ thể là khi dạy học mỗi phân môn, cần phải có sự tích hợp kiến thức của hai phân môn còn lại Kiến thức Tiếng Việt, kiến thức Làm Văn là nền tảng, cơ sở để hình thành nên kiến thức lẫn những kĩ năng cần thiết để tiếp
Trang 28cận tác phẩm văn học ở các mức độ hiểu, rung cảm, sáng tạo Ngược lại, những tác phẩm văn học sẽ cung cấp những ngữ liệu phong phú để rèn luyện, phát triển những kiến thức, kĩ năng trong phân môn Tiếng Việt và Làm Văn Chính mối quan hệ mật thiết này bắt buộc phải có sự tích hợp kiến thức ba phân môn trong quá trình dạy học Ngữ Văn Nguyên tắc tích hợp này cũng đã được quán triệt chặt chẽ trong chương trình và chi phối mạnh mẽ đến việc biện soạn sách giáo
khoa hiện nay Tích hợp dọc là “làm cho kiến thức di chuyển theo chiều dọc”
[57, 27], nghĩa là tích hợp theo từng vấn đề: vấn đề đang dạy và những vấn đề liên quan (đã hoặc sẽ dạy) Cụ thể hơn đó chính là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng trục (còn gọi là vòng tròn đồng tâm hay vòng tròn xoáy trôn ốc), cụ thể là kiến thức và kĩ năng ở bài học, lớp học, bậc học sau bao hàm kiến thức và kĩ năng ở bài học, lớp học, bậc học trước, nhưng cao hơn, sâu hơn trước Dạy học tích hợp dọc nhằm giúp học sinh bổ sung, mở rộng kiến thức trên cơ sở kế thừa những kiến thức đã học Bên cạnh đó, trong tích hợp ngang, cũng cần phải lưu ý thêm vấn đề tích hợp liên môn Tích hợp trong dạy học Ngữ Văn không chỉ dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn mà còn phải dựa trên các bộ phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hoá nghệ thuật, hoàn cảnh địa lí, Tích hợp liên môn là yếu tố vô cùng cần thiết để học sinh có thể hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu tác phẩm; có cơ sở hợp lí, vững chắc để lí giải tác phẩm đồng thời mở rộng vốn hiểu biết những lĩnh vực khác liên quan đến tác phẩm, hình thành nhiều kĩ năng sống có ích Tích hợp luôn diễn ra theo tuyến tính và trục đồng tâm Theo trục tuyến tính, các kiến thức về môn học được phân giải thành các yếu tố, đơn vị để học sinh chiếm lĩnh Theo trục này, người ta sẽ phát triển kiến thức theo bề dày Theo trục đồng tâm, kiến thức lại được phát triển theo chiều sâu, nghĩa là, dựa trên sự đồng tâm, một vấn đề nào đó thuộc tri thức Ngữ Văn
Trang 29sẽ được đào sâu, mở rộng thông qua sự phối kết hợp, tương tác với tri thức tương đồng
Về phương diện kĩ năng, cần phải tích hợp được các kĩ năng đọc,
viết, nói, nghe trên cơ sở tương tác đa chiều, hướng tới mục tiêu “đa trị” [46,
134] Hoạt động giao tiếp trong lớp học khác với hoạt động giao tiếp diễn ra trong bối cảnh thông thường Đó là sự tổng hòa của nhiều yếu tố: vừa có hội thoại vừa có thuyết trình, diễn xuất; vừa giao tiếp song phương vừa giao tiếp đa phương; vừa giao tiếp bằng lời nói vừa giao tiếp bằng lời viết, bài viết… Chính
từ đó, các kĩ năng (đọc, viết, nói, nghe) sẽ được phát triển tổng hợp trong những mối quan hệ tương tác đa chiều và chuyển hóa thành năng lực giao tiếp Trong
đó, theo chương trình đổi mới, cần phải lấy việc dạy học đọc – cách đọc làm trục chính Theo trục chính ấy mà tích hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, phát triển năng lực giao tiếp, năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học Các kĩ năng phải luôn được tích hợp trong sự tương tác với nhau Khi rèn luyện một trong bốn kĩ năng cũng đồng thời rèn luyện các kĩ năng còn lại Nếu lơ là, bỏ sót bất cứ kĩ năng nào đều có thể làm ảnh hưởng đến những kĩ năng còn lại, làm giảm sút hiệu quả của việc phát triển năng lực trong dạy học Ngữ Văn
- Về phương pháp tích hợp:
Không có phương pháp dạy học nào tự thân nó có thể tích hợp và cũng không có phương pháp nào là hoàn toàn không thể tích hợp Nó hiệu quả hay không là ở người sử dụng với mục tiêu và cách thức sử dụng riêng Với quan niệm này, chúng tôi xin đề xuất một số phương pháp dạy học có thể sử dụng hiệu quả để tổ chức dạy học Ngữ văn theo hướng tích hợp
Thứ nhất là phương pháp thuyết trình (presenting): đây là phương
pháp dạy học mà chủ thể dùng lời để trình bày kiến thức, có thể tái tạo kiến thức
cũ hoặc thông báo kiến thức mới Phương pháp thuyết trình ở đây chúng tôi muốn đề cập đến phần thuyết trình của cả giáo viên lẫn học sinh Trong dạy học Ngữ Văn, cụ thể là dạy học các tác phẩm văn học, phần thuyết trình của giáo
Trang 30viên chính là phần bình giảng tác phẩm Thao tác bình giảng trên lớp tỏ ra có ưu thế hơn so với phương pháp phân tích, diễn giảng theo lối truyền thống Đặc biệt đối với những tác phẩm trữ tình, bình giảng lại càng là phương pháp tối ưu, đem lại hiệu quả rất cao Nắm vững nguyên tắc bình giảng thơ, vận dụng thành thục
kỹ năng bình giảng là yêu cầu không thể thiếu đối với giáo viên dạy Văn trong nhà trường phổ thông Đối với học sinh, phương pháp thuyết trình là để các em trình bày vấn đề như diễn giảng nội dung kiến thức nào đó, bình giảng tác phẩm Chính vì thuyết trình hầu như là dùng lời trình bày, diễn giảng kiến thức nên phương pháp này vẫn bị xem là thụ động, hạn chế Tuy nhiên, thiết nghĩ sẽ khó có thể dạy học được nếu thiếu phương pháp này, đặc biệt đối với Ngữ văn Thực hiện định hướng tích hợp, phương pháp này càng trở nên cần thiết Đây là phương pháp mà giáo viên và học sinh có thể sử dụng để củng cố kiến thức đã
có, làm cơ sở để tiếp nhận kiến thức mới và hình thành kĩ năng mới, cung cấp, lí giải các kiến thức mới, khó; người dạy và người học cũng dễ dàng liên hệ mở rộng, so sánh đối chiếu liên môn hoặc xuyên môn để hiểu bài học thêm sâu sắc, thấu triệt Ví dụ: thuyết trình về tiểu sử nhà văn, mở rộng liên hệ đến những vấn
đề lí luận để từ đó có thể lí giải sâu sắc những nét phong cách nghệ thuật của tác giả, làm nền tảng cho việc tiếp nhận văn bản văn học trong mối quan hệ với cuộc sống lớn, cuộc sống nhỏ của tác phẩm… Để đạt mục tiêu tích hợp một cách tích cực, khi sử dụng thuyết trình cần chú ý lựa chọn nội dung và chú ý cách thức thuyết trình, đặc biệt là thuyết trình nêu vấn đề để qua đó, học sinh không chỉ nắm được kiến thức phong phú, tinh chọn mà còn phát huy được kĩ năng thuyết trình, kĩ năng giải quyết vấn đề, hướng đến hình thành năng lực giao tiếp
Thứ hai là phương pháp nêu vấn đề (problem identifying and solving): Đây là một phương pháp dạy học khó nhưng nếu thực hiện được sẽ
mang lại hiệu quả dạy học hay, đặc biệt rất đắc dụng trong việc phát triển tư duy biện chứng và hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Áp dụng
Trang 31phương pháp nêu vấn đề thực chất là xây dựng các tình huống có vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết các tình huống đó Như vậy, tình huống có vấn đề đóng vai trò quan trọng trong dạy học nêu vấn đề Cơ sở của một tình huống có vấn đề là sự mâu thuẫn giữa cái đã biết với cái cần tìm, mà cái cần tìm sẽ được tìm ra nhờ một hệ thống những thao tác cụ thể Thông thường, những thao tác này được thế hiện qua một hệ thống câu hỏi do giáo viên xây dựng làm sao để học sinh phải động nảo tư duy lựa chọn, giải thích, phản biện… và từ đó khám phá được tầng lớp ý nghĩa ngầm ẩn của tác phẩm cũng như hình thành được nhiều năng lực tư duy tương ứng, cụ thể hóa thành năng lực đọc văn và hướng tới hình thành kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng sống
Thứ ba là phương pháp thảo luận nhóm (group discussion):
Nhóm phương pháp này cũng trực tiếp hướng tới mục tiêu tích hợp kiến thức và
kĩ năng Để sử dụng thành công phương pháp này, giáo viên cần chú ý từ khâu lựa chọn vấn đề để tìm hiểu, thảo luận cũng như tổ chức học sinh làm việc chặt chẽ, đảm bảo mọi thành viên đều tham gia giải quyết vấn đề được giao Có như vậy, học sinh không những tự thu nhận được kiến thức phong phú mà còn hình thành được nhiều kĩ năng tương ứng như kĩ năng giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề, giao tiếp, hợp tác…
Thứ tư là phương pháp hỏi đáp (questioning and answering): là
phương pháp mà sự tương tác giữa học sinh – học sinh, giáo viên – học sinh được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi Để có thể sử dụng hệ thống câu hỏi theo định hướng tích hợp trong giờ dạy học Ngữ Văn, giáo viên cần chú ý xây dựng hệ thống câu hỏi theo hướng phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, chú ý tính logic, tính hệ thống, tính liên tục; đa dạng hóa các dạng câu hỏi từ câu hỏi tái hiện kiến thức, câu hỏi liên hệ, so sánh, câu hỏi vận dụng giải quyết vấn đề, câu hỏi sáng tạo… Qua đó, học sinh vừa tái hiện kiến thức, vừa tiếp nhận kiến thức, vận dụng kiến thức…
Trang 32Việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học cần chú ý bảo đảm các yêu cầu sau:
- Thứ nhất, cần giúp học sinh tích hợp các kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng thuộc các phân môn đã học bằng cách tổ chức, thiết kế các nội dung, tình huống tích hợp để học sinh vận dụng phối hợp các tri thức và kĩ năng riêng rẽ của các phân môn vào giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó lĩnh hội các kiến thức và phát triển năng lực, kĩ năng tích hợp
- Thứ hai, cần tổ chức, thiết kế các hoạt động phức hợp để học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức và kĩ năng đã thụ đắc trong nội bộ các phân môn
- Thứ ba, cần đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy học để học sinh trực tiếp tham gia vào giải quyết các vấn đề, tình huống tích hợp; biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình học sinh tự ý thức về cách thức chiếm lĩnh tri thức và hình thành kĩ năng
- Thứ tư, cần phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh; chú trọng mối quan hệ giữa học sinh với sách giáo khoa; phải buộc học sinh chủ động tự đọc, tự làm việc độc lập theo sách giáo khoa, theo hướng dẫn của giáo viên
Những vấn đề nói trên về tích hợp trong dạy học Ngữ Văn sẽ là một căn
cứ, một sự gợi ý đáng kể cho việc xây dựng các biện pháp cụ thể để thúc đẩy học sinh nhận thức tích hợp trong quá trình dạy học các bài Văn, Tiếng Việt, Làm Văn
Trang 331.1.3 Tích hợp trong dạy học các tác phẩm Thơ mới chương trình Ngữ Văn 11
1.1.3.1 Dạy học các tác phẩm Thơ mới trước hết cần phải bám sát đặc trưng thể loại – thể loại thơ, thuộc loại hình trữ tình
Trong tác phẩm trữ tình, tâm trạng chủ thể trữ tình (những cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ) được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Tác phẩm trữ tình biểu hiện cảm xúc chủ quan của nhà thơ nhưng điều đó cũng được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thực tại khách quan bởi
vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ cũng đều là cảm xúc
về cái gì, tâm trạng trước vấn đề gì, Do đó, hiện tượng cuộc sống vẫn được thể hiện trong tác phẩm trữ tình Thứ hai, tác phẩm trữ tình bao giờ cũng mang đậm dấu ấn riêng của nhà thơ Ðó là những nỗi niềm chủ quan thầm kín nhưng khi sáng tác nhà thơ luôn luôn nâng mình lên thành người mang tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ cho một loại người, một thế hệ và cả những chân lí phổ biến Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm với tư cách là tâm trạng, suy tư, của chính bản thân nhà thơ Tuy nhiên, có nhiều trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả Do tính chất tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hóa thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật trữ tình theo qui luật điển hình hóa trong sáng tạo nghệ thuật Có thể coi đây
mà chỉ ra vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện tình cảm, thái độ của tác giả Tóm lại, để dạy học một tác phẩm thơ trữ tình theo hướng bám sát đặc
Trang 34trưng thể loại cần đến rất nhiều năng lực, nhưng trước hết người giáo viên cần nắm được một số hình thức nghệ thuật quan trọng Đọc tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm thơ trữ tình nói riêng, trước hết chúng ta tiếp xúc với những hình thức nghệ thuật cụ thể của ngôn từ nghệ thuật Đó là những dấu câu và ngắt nhịp, là vần điệu, âm hưởng và nhạc tính, là từ, hình ảnh, các biện pháp tu từ, cách tổ chức câu đoạn văn bản Phân tích tác phẩm văn học không thoát ly văn bản có nghĩa là trước hết phải bám sát các hình thức biểu hiện lê của ngôn từ nghệ thuật, chỉ ra vai trò và ý nghĩa của chúng trong việc thể hiện nội dung Vậy khi chúng ta phân tích thơ trữ tình phải dựa trên thi pháp, dựa vào những dấu hiệu nghệ thuật đặc trưng như:
- Nhịp thơ: nhịp điệu có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với thơ trữ tình, giúp nhà thơ nâng cao khả năng biểu cảm Dạy học tác phẩm trữ tình cần chú ý đến nhịp thơ Để xác định nhịp điệu của từng bài thơ ngoài việc đọc từng câu thơ cho ngân vang âm điệu và làm bừng sáng hình ảnh thơ, việc nắm được đặc điểm của nhịp điệu câu thơ trong mỗi thể thơ cũng là điều cần thiết, ví dụ như nhịp điệu câu thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại, thanh thoát; nhịp điệu thơ thất bát cú hài hoà, chặt chẽ; nhịp của thơ tự do, thơ hiện đại rất phóng khoáng, phong phú Trong thơ trữ tình, cùng với dấu câu, cách ngắt nhịp cần được xem
là một từ đa nghĩa, một từ đặc biệt trong vốn ngôn ngữ chung của nhân loại
Cách ngắt nhịp là một trong những phương tiện hữu hiệu để thể hiện “sự im lặng không lời”, tạo nên “ý tại ngôn ngoại” Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến hệ
thống vần điệu và thanh điệu, đó chính là những yếu tố cơ bản tạo nên tính nhạc của Tiếng Việt nói chung và ngôn ngữ văn học nói riêng Khi dạy học thơ trữ tình, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh tìm hiểu cách gieo vần, chỉ ra giá trị, vai trò và tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung
- Các phương tiện như dấu câu, nhịp điệu, ngữ âm đã nêu ở trên chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từ ngữ là nền tảng Nhà văn muốn miêu tả, tái hiện hiên thực phải thông qua từ ngữ Do tầm quan trọng ấy mà người ta coi
Trang 35lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa, đặc biệt là trong tác phẩm thơ trữ tình Vì thế, khi dạy học tác phẩm thơ trữ tình, giáo viên không thể thoát ly
và bỏ qua yếu tố từ ngữ Muốn phân tích tốt từ ngữ trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (cả nghĩa đen và nghĩa bóng) Hệ thống từ ngữ hình ảnh, cảm giác trong Tiếng Việt rất phong phú, đa dạng Khi phân tích cần chú ý đến từ đa nghĩa, từ láy, các từ đặc biệt chứa nội dung ý nghĩa của câu thơ
- Ngôn từ văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời thường, được gọt giũa, trau chuốt, tạo nên tính nghệ thuật Các biện pháp tu từ chính là những phương tiện quan trọng để thực hiện việc gọt giũa, trau chuốt ấy
Có rất nhiều biện pháp tu tứ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, so sánh, điệp ngữ, điệp
cú pháp, đảo ngữ, nói quá, nói giảm, nói tránh, Tất cả những biện pháp đó nhằm mục đích giúp người nói, người viết có những cách diễn đạt hay hơn, đẹp hơn, phong phú hơn, và từ đó, sẽ đạt hiệu quả cao hơn Phân tích các biện pháp
tu từ giáo viên cần chỉ ra tính hiệu quả của cách viết, cách nói ấy, vai trò và tác dụng của chúng trong việc miêu tả, biểu đặt chữ không phải đơn thuần chỉ gọi tên liệt kê các biện pháp mà nhà thơ đã dùng
Những điều trên đã cho thấy việc dạy học tác phẩm trữ tình nói chung, dạy học tác phẩm Thơ mới nói riêng trong nhà trường là một công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi giáo viên lẫn học sinh phải có sự nỗ lực, cố gắng hết mình với tất cả sự nhiệt huyết, đam mê; phải bám sát đặc trưng thể loại trữ tình đồng thời tích cực vận dụng và phát huy các phương pháp dạy học tích cực để đem lại hiệu quả cao nhất bởi vì dạy học tác phẩm thơ luôn cần sự tương tác từ hai phía để cảm nhận và phân tích, tìm hiểu như Elaine Showalter trong chuyên luận
Teaching literature cho rằng “Trong thơ ca, bạn đọc tất cả mọi thứ, bao gồm dấu chấm câu Khả năng của việc đọc và giải thích là vô tận Nó không chỉ là cái gì đó mà bạn có thể tìm hiểu một mình, thơ được tiếp nhận tốt nhất ở nơi công cộng Chúng ta cần phải nghe người khác nói về nó”, tức là: thơ rất thích
hợp với lớp học chủ động, sức mạnh tiềm năng của việc giảng dạy thơ ca phụ
Trang 36thuộc vào sự tham gia tích cực, chủ động của học sinh với cả hai việc khai thác ngôn ngữ và ý thơ [41, 487] Như vậy, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, tích hợp vào dạy học tác phẩm trữ tình, đặc biệt là thơ là vô cùng cần thiết Dạy học tác phẩm Thơ mới không phải chỉ là chuyện giảng bình, truyền cảm xúc của thầy sang trò như truyền thống mà còn phải làm sao để học sinh có thể chủ động tiếp cận kiến thức, có thể cùng cảm, cùng hiểu, cùng sáng tạo, cùng tranh luận với giáo viên để hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm đồng thời phát triển nhiều kĩ năng cần thiết, hình thành năng lực giao tiếp và năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học Đó mới chính là tinh thần đổi mới trong dạy học tác phẩm Thơ mới
1.1.3.2 Dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp chính là một trong những hướng đi thích hợp; đem lại hiệu quả cao và phù hợp với tinh thần đổi mới trong dạy học nói chung, dạy học Ngữ Văn nói riêng
Dạy học các tác phẩm Thơ mới theo hướng tích hợp cần dựa trên nền tảng, cơ sở vững chắc về kiến thức lẫn kĩ năng Đó chính là kiến thức về Làm
Văn, kiến thức về Tiếng Việt, kiến thức văn học sử mà học sinh đã được học trong các cấp lớp trước: các thao tác lập luận, nghị luận về tác phẩm trữ tình; kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; các biện pháp tu từ; các phong cách ngôn ngữ, đặc biệt là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Giáo viên cũng cần phải nghiên cứu, tìm hiểu kiến thức cơ bản mà học sinh đã được học ở các môn học khác để từ đó có thể xây dựng nền tảng vững chắc cho việc tìm hiểu các tác phẩm Thơ mới Đặc biệt, dạy học Thơ mới cần phải dựa trên những kĩ năng nền
mà học sinh đã có được: những kĩ năng đọc, viết, nghe, nói đang ở mức độ nào;
từ đó, đưa ra những hình thức dạy học phù hợp để phát huy, phát triển những kĩ
năng ấy; tổng hòa với kiến thức; hình thành năng lực cần thiết
Tổ chức dạy học Thơ mới theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọng nội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm, thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt học sinh từng bước thực hiện để
Trang 37chiếm lĩnh đối tượng học tập, nội dung môn học; đồng thời phát triển các kĩ năng cơ bản, xây dựng những thái độ đúng đắn cho học sinh; từ đó hình thành năng lực Ngữ Văn Giờ học Ngữ Văn theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các hoạt động, kĩ năng liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tác động các hoạt động, kĩ năng riêng lẻ lên một nội dung riêng lẻ thuộc nội bộ phân môn Giáo án dạy học Thơ mới cũng không phải là một bản đề cương kiến thức để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một bản thiết kế các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho học sinh thực hiện trong giờ lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách theo mục đích giáo dục, giáo dưỡng của bộ môn
Trước hết, giáo viên cần định hướng mục tiêu tích hợp khi dạy học tác
phẩm Thơ mới: xác định rõ mục tiêu của cấp học – cấp Trung học phổ thông,
lớp học – lớp 11, môn học – môn Ngữ Văn, bài học – các tác phẩm Thơ mới Từ
đó, mới có cơ sở triển khai, xây dựng giáo án Tất nhiên, có nhiều cách đọc đối với một văn bản, nhưng trong trường Trung học phổ thông phải tập trung chú ý trước hết mức độ phổ thông và cụ thể hơn là ở mức độ lớp 11, không đi sâu vào những khía cạnh triết học, tâm lí phức tạp Theo định hướng đổi mới chương trình Ngữ Văn sau năm 2015, các phương diện tiếp cận mang tính học thuật, hàn lâm của khoa ngữ văn học, một thời quá được đề cao trong chương trình giáo dục phổ thông sẽ phải nhường chỗ cho những nội dung, phương tiện tiếp cận mang tính phổ thông Học sinh phổ thông không có nhiệm vụ phải học những gì cao sâu quá mà chỉ cần biết đọc, viết, nói, nghe tiếng mẹ đẻ thành thạo, biết ứng
xử trước các tình huống giao tiếp khác nhau; đồng thời biết cách thưởng thức văn chương nghệ thuật một cách có cơ sở, có văn hóa và có chủ kiến
Khi dạy học Thơ mới, giáo viên tổ chức nhận thức tích hợp cho học
sinh phải theo hướng toàn diện Cũng như các môn học khác, các phân môn
khác của bộ môn Ngữ Văn, các bài học khác trong phân môn Đọc – hiểu văn
Trang 38bản, dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp phải theo mang tính toàn diện Khi bắt đầu xây dựng giáo án, giáo viên phải có sự định hướng rõ ràng sự tích hợp
trên tất cả các phương diện: tích hợp kiến thức và tích hợp kĩ năng, hình
thành năng lực cho học sinh Không chỉ vậy, trên mỗi phương diện cũng cần
phải có sự tích hợp toàn diện
- Về phương diện kiến thức
Giáo viên phải tích hợp theo chiều dọc, tích hợp theo chiều ngang và tích hợp liên môn được cho học sinh Đầu tiên là cần tích hợp các đơn vị kiến thức thuộc các phân môn khác (tích hợp ngang), đó chính là tích hợp kiến thức thuộc phân môn Làm Văn: các thao tác lập luận, khả năng cảm thụ tác phẩm trữ tình, các kĩ năng nghị luận về tác phẩm trữ tình; tích hợp kiến thức thuộc phân môn Tiếng Việt: kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp như lựa chọn và sử dụng từ ngữ hợp lí, từ ngữ đa nghĩa, từ ngữ giàu giá trị biểu cảm; xây dựng những cú pháp đặc biệt; kiến thức về việc vận dụng các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, phép điệp; kiến thức về vận dụng các phong cách ngôn ngữ: phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Kế đến là tích hợp kiến thức có liên quan – kiến thức đã học và sẽ học trong cùng phân môn (tích hợp dọc): tích hợp kiến thức văn học sử về giai đoạn văn học 1930 - 1945; tích hợp kiến thức các tác phẩm Thơ mới được giảng dạy trong chương trình thành cụm bài Ngoài ra, giáo viên cũng cần phải tích hợp kiến thức liên môn cho học sinh: kiến thức lịch sử, địa lí, văn hóa,…
- Về phương diện kĩ năng
Chương trình Ngữ Văn hiện hành vốn rất chú ý đến việc rèn luyện, phát triển ở học sinh các kĩ năng giao tiếp: đọc, viết, nói, nghe Chương trình Ngữ Văn đổi mới sau năm 2015 càng tiếp tục coi trọng, phát triển mạnh mẽ hơn các
kĩ năng nói trên Chính vì vậy, tích hợp kĩ năng, hình thành các năng lực là một điều vô cùng quan trọng trong dạy học Thơ mới nói riêng, dạy học Ngữ Văn nói chung Cũng như khi tích hợp kiến thức, tích hợp kĩ năng ở mức độ cơ bản
Trang 39nhưng phải theo hướng toàn diện Thứ nhất là tích hợp kĩ năng đọc: khả năng đọc diễn cảm, khả năng đọc - hiểu văn bản thông qua việc giao cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà, qua việc cho học sinh đọc thêm trước một số tư liệu tham khảo và trong suốt quá trình dạy học tác phẩm Thứ hai là kĩ năng viết: rèn luyện cho học sinh khả năng viết văn nghị luận (viết các đoạn phân tích thơ, cảm nhận hình ảnh thơ…); rèn luyện cho học sinh ghi chép nhanh những thông tin, kiến thức từ những lời giảng thầy cô, phần phát biểu của bạn; rèn luyện cho học sinh viết những đoạn nhận xét, đánh giá Thứ ba là tích hợp kĩ năng nói: rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày vấn đề thông qua việc thuyết trình, trả lời câu hỏi của giáo viên, bạn bè, rèn luyện kĩ năng thảo luận Thứ tư là tích hợp kĩ năng nghe: rèn luyện kĩ năng nghe và cảm nhận tác phẩm qua phần đọc diễn cảm của giáo viên, bạn bè, phần ngâm thơ; rèn luyện kĩ năng nghe – hiểu; kĩ năng nghe
và ghi nhận, đánh giá, chọn lọc thông tin từ phần giảng, hướng dẫn của giáo viên, phần phát biểu của bạn bè…
Thứ ba, tổ chức cho học sinh nhận thức tích hợp phải dựa vào đặc thù nội dung và tiến trình bài học Tất cả các phân môn thuộc bộ môn Ngữ
Văn nói chung, tất cả các bài học thuộc phân môn Đọc – hiểu văn bản đều đòi hỏi định hướng tích hợp phù hợp cấp học, định hướng tích hợp toàn diện Nhưng với đặc thù của mỗi phân môn, mỗi bài học, tích hợp phải có sự linh hoạt, uyển chuyển trong việc chọn lọc kiến thức, việc lựa chọn phương pháp thực hiện, tổ chức dạy học,… Khi dạy học Thơ mới theo hướng tích hợp, giáo viên cũng cần phải xác định rõ đặc thù nội dung và tiến trình bài học của những tác phẩm Thơ mới trong chương trình để từ đó có sự tích hợp một cách phù hợp, hợp lí, hiệu quả Nội dung của Thơ mới xoay quanh tâm trạng, nỗi niềm, cảm xúc của các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới – những nhà thơ trưởng thành trong thời kì đất nước bị nô lệ, những nhà thơ đã thực hiện một cuộc cách mạnh nghệ thuật lớn lao, đem đến một diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam bằng nhiều cách tân mới mẻ, độc đáo về cả nội dung lẫn nghệ thuật Xác định được điều này, giáo
Trang 40viên mới có thể tìm kiếm những đơn vị kiến thức phù hợp để tích hợp cho học sinh trong bài giảng
- Về phương diện kiến thức
Khi tích hợp kiến thức theo chiều ngang – tích hợp kiến thức Làm Văn
và Tiếng Việt, giáo viên chú ý chọn lọc những kiến thức về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp; kiến thức về cách đọc, cách cảm nhận và cách phân tích tác phẩm trữ tình nhằm giúp học sinh có được kĩ năng đọc hiểu tác phẩm Thơ mới một cách hiệu quả nhất Khi tích hợp kiến thức theo chiều dọc, giáo viên lại chú ý đến những kiến thức về hoàn cảnh xã hội, nhấn mạnh đến sự phân hóa xã hội, sự xuất hiện nhiều tầng lớp mới đặc biệt tầng lớp trí thức tiểu tư sản với hoàn cảnh sống, vị trí xã hội, những tâm tư… để từ đó hướng đến đội ngũ tác giả Thơ mới, đến những yếu tố hình thành nên giá trị Thơ mới Bên cạnh đó, giáo viên cũng chọn lọc những kiến thức địa lí, văn hóa cho phù hợp với tiểu sử của các tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm nhằm để học sinh hiểu rõ hơn về những cơ sở hình thành một phong cách nghệ thuật độc đáo, một tác phẩm mang nhiều giá trị
- Về phương diện kĩ năng
Tương tự, về mặt kĩ năng, giáo viên định hướng chọn lọc những kĩ năng phù hợp với nội dung bài học Dạy học Thơ mới lẽ dĩ nhiên giáo viên không thể tích hợp kĩ năng đọc hiểu tác phẩm tự sự, kĩ năng nghe hiểu một câu chuyện, kĩ năng viết đoạn nghị luận truyện,… mà phải tích hợp kĩ năng ứng hợp với nội dung bài học tác phẩm Thơ mới – kĩ năng mang tính đặc thù: kĩ năng đọc diễn cảm thơ, ngâm thơ; kĩ năng đọc – hiểu tác phẩm trữ tình; kĩ năng viết đoạn nghị luận thơ… Trên cơ sở đó, kết hợp với những hình thức dạy học phù hợp, phát triển thành những kĩ năng cơ bản trong đời sống: đọc, viết, nói, nghe; hình thành năng lực giao tiếp và năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học cho học sinh
Sau khi có sự chọn lọc, định hướng các đơn vi kiến thức; các kĩ năng sẽ tích hợp để ứng hợp với nội dung bài học – các văn bản Thơ mới, giáo viên cần