Cụ thể, nội dung môn Vật lí – Hóa học lớp 10 THPT tại Pháp sẽ được chuyển tải thông qua ba chủ đề: Sức khỏe, Hoạt động thể thao và Vũ trụ… Trong chương trình giảng dạy môn Vật lí ở nước
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10 THPT CỦA PHÁP
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ THPT CỦA VIỆT NAM
Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10 THPT CỦA PHÁP
CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ THPT CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành : Lí lu ận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã s ố : 66 14 01 11
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS ĐỖ XUÂN HỘI
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 02 năm 2016
Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã nhận được sự động viên, giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình từ gia đình, thầy cô, nhà trường và bạn bè Thông qua luận văn, tác giả muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Gia đình đã luôn luôn mang lại sức mạnh tinh thần cho tác giả;
- TS Đỗ Xuân Hội – GV hướng dẫn trực tiếp - người thầy đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn, định hướng cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn;
- Quý thầy (cô), khoa Vật lí Đại học Sư Phạm, phòng Sau đại học trường Đại học
Sư Phạm TPHCM cũng như các anh (chị) lớp Lí luận và phương pháp dạy học môn Vật lí K24 đã giúp đỡ trong suốt thời gian làm luận văn
- Ban giám hiệu trường THPT Lý Thường Kiệt đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và làm luận văn
Cuối cùng, xin kính gửi lời chúc sức khỏe và hạnh phúc đến tất cả mọi người
Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Khái niệm về dạy học tích hợp 5
1.1.1 Tích hợp là gì? 5
1.1.2 Dạy học tích hợp là gì? 5
1.1.3 Tình hình nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp 5
1.1.4 Tại sao phải dạy học tích hợp 7
1.1.5 Các mục tiêu của dạy học tích hợp 10
1.1.6 Một số hình thức tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 12
1.1.7 Các nguyên tắc tích hợp 15
1.1.8 Các mức độ tích hợp trong dạy học tích hợp 16
1.2 Đặc điểm, nhiệm vụ và thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lí ở trường THPT tại Việt Nam 17
1.2.1 Đặc điểm của môn Vật lí hiện nay ở trường THPT 17
1.2.3 Thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lí 18
1.3 Tổng quan về các chủ đề trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp 19
K ết luận chương 1 22
Chương 2 CÁC CHỦ ĐỀ ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ 10 THPT Ở PHÁP 23
2.1 Chủ đề 1: Sức khỏe 23
2.2 Chủ đề 2: Hoạt động thể dục thể thao 27
2.3 Chủ đề 3: Vũ trụ 33
2.4 Nhận xét về cách thức truyền tải kiến thức cho HS trong SGK Vật lí 10 THPT ở Pháp 40
2.5 Những vấn đề cần học hỏi sau khi nghiên cứu SGK Vật lí 10 THPT ở Pháp 42
2.5.1 Lịch sử khoa học 42
2.5.2 Khoa học và văn hóa 42
2.5.3 Định hướng nghề nghiệp 42
Trang 6Kết luận chương 2 43
Chương 3 BIÊN SOẠN CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP TRONG CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ THPT Ở VIỆT NAM 44
3.1 Quy trình tổ chức dạy học tích hợp 44
3.2 Tổ chức hoạt động trong dạy học tích hợp 47
3.2.1 Tiến trình dạy học giải quyết vấn đề 47
3.2.2 Dạy học dự án 49
3.3 Phân tích chương trình SGK Vật lí THPT ở Việt Nam Các kiến thức làm cơ sở cho chủ đề tích hợp 49
3.3.1 Chương trình SGK Vật lí THPT 49
3.3.2 Các kiến thức làm cơ sở cho chủ đề tích hợp “Hoạt động thể dục thể thao” 53
3.4 Xây dựng chủ đề tích hợp một số nội dung của chương trình Vật lí THPT ở Việt Nam: Chủ đề “Hoạt động thể dục thể thao” 53
3.4.1 Một số nguyên tắc tích hợp các kiến thức cho chủ đề 53
3.4.2 Xây dựng chương trình tích hợp theo chủ đề: Hoạt động thể dục thể thao 53
3.5 Tiến trình dạy học một số bài theo chủ đề “Hoạt động thể dục thể thao” 68
Kết luận chương 3 95
Chương 4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 96
4.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 96
4.1.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 96
4.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 96
4.2 Đối tượng và thời gian và địa điểm thực nghiệm sư phạm 96
4.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 96
4.2.2 Thời gian và địa điểm thực nghiệm sư phạm 97
4.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 97
4.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 97
4.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 97
4.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 98
4.6.1 Cơ sở đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 98
4.6.2 Đánh giá định tính kết quả thực nghiệm sư phạm 99
4.6.3 Đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm 101
Kết luận chương 4 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Dạy học tích hợp và dạy học các môn riêng rẽ 7
Bảng 3.1 Bảng phân bố nội dung chương trình Vật lí THPT 52 Bảng 4.1 Thống kê kết quả bài kiểm tra của HS lớp TN và ĐC 101
Bảng 4.2 Bảng phân bố tần suất kết quả điểm kiểm tra một tiết của lớp
TN và ĐC 101
Bảng 4.3 Bảng phân bố tần suất tích lũy kết quả điểm kiểm tra của lớp
TN và ĐC 102Bảng 4.4 Bảng số liệu điểm trung bình và độ lệch chuẩn của lớp TN và ĐC 103
Bảng 4.5 Kết quả phép kiểm định Levene’s Test và t-test cho hai lớp TN
và ĐC 104
Trang 9DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Đồ thị biễu diễn tần suất kết quả học tập của HS lớp TN và ĐC 102
Đồ thị 4.2 Đồ thị biểu diễn tần suất tích lũy kết quả học tập của lớp TN
và lớp ĐC 102
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ cùng với sự bùng nổ thông tin, lượng tri thức của nhân loại ngày càng nhiều, kiến thức giữa các lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Đồng thời, do yêu cầu của xã hội, và nhu cầu thực tế đang đòi hỏi con người phải giải quyết rất nhiều tình huống trong cuộc sống Khi giải quyết các vấn đề đó, kiến thức của một lĩnh vực chuyên môn sẽ không thể thực hiện được mà cần phải vận dụng kiến thức liên ngành một cách sáng tạo Thực tế đó đã đặt ra cho ngành giáo dục (GD) và đào tạo một vấn đề là phải thay đổi quan điểm về giáo dục mà dạy học tích hợp là một định hướng mang tính đột phá để đổi mới căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục
Dạy học tích hợp là cách tiếp cận giảng dạy liên ngành theo đó các nội dung giảng dạy được trình bày theo các đề tài hoặc chủ đề Mỗi đề tài hoặc chủ đề được trình bày thành nhiều bài học để người học có thể có thời gian hiểu rõ và phát triển các mối liên
hệ với những gì mà người học đã biết Cách tiếp cận này tích hợp kiến thức từ nhiều ngành học và khuyến khích người học tìm hiểu sâu về các chủ đề, tìm đọc tài liệu từ nhiều nguồn và tham gia vào nhiều hoạt động khác nhau Việc sử dụng nhiều nguồn thông tin giúp cho người học tham gia vào việc chuẩn bị bài học, tài liệu, tư duy tích cực và sâu hơn so với cách học truyền thống với chỉ một nguồn tài liệu duy nhất là sách giáo khoa Kết quả là người học sẽ chủ động trong việc tìm kiếm, chắt lọc thông tin và cảm thấy tự tin hơn trong việc học của mình
Dạy học tích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện và phát triển
kĩ năng tư duy, phân tích tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa cho người học Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kĩ thuật trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi sự thay đổi căn bản và toàn diện về nội dung và phương pháp giáo dục Quan điểm dạy học tích hợp là một trong những định hướng trong đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Hòa nhập chung với nền giáo dục thế giới, GD Việt Nam cũng đã và đang thực hiện
Trang 11việc thay đổi chương trình và sách giáo khoa, trong đó dạy học tích hợp là yêu cầu phải được triển khai
Ở Pháp, quan điểm về dạy học tích hợp đã được thực hiện triệt để từ ít lâu nay Từ năm 2006, các chủ đề về năng lượng, môi trường và phát triển bền vững, khí tượng học và khí hậu học, vai trò của tư duy thống kê trong khoa học, sức khỏe, và an toàn
đã được tích hợp trong chương trình giảng dạy ở bậc THCS Đến năm 2010, Bộ Giáo Dục Quốc Gia Pháp lại tiếp tục đẩy mạnh việc tích hợp sâu hơn các chủ đề trong chương trình THPT Cụ thể, nội dung môn Vật lí – Hóa học lớp 10 THPT tại Pháp sẽ được chuyển tải thông qua ba chủ đề: Sức khỏe, Hoạt động thể thao và Vũ trụ…
Trong chương trình giảng dạy môn Vật lí ở nước ta, các chủ đề trên có thể được tích hợp trong những mảng kiến thức nào? Tích hợp như thế nào? Chúng ta có thể vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài vào thực tiễn của nước ta được hay không? Và nếu
có thì sẽ vận dụng ra sao? Đó chính là ý tưởng mà đề tài “Nghiên cứu các chủ đề tích hợp trong chương trình Vật lí 10 THPT của Pháp và biên soạn một chủ đề tích hợp trong chương trình Vật lí THPT của Việt Nam” được hình thành
3 Giả thuyết khoa học
Nếu tích hợp hợp lí và hiệu quả chủ đề được biên soạn trong chương trình Vật lí 10 THPT của Việt Nam sẽ tạo điều kiện phát triển các phương pháp và kĩ năng cơ bản của học sinh; tạo cơ hội kích thích động cơ và tham gia vào các hoạt động học, thậm
chí với cả các học sinh trung bình và yếu về năng lực học
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
o Đối tượng: Ba chủ đề trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp: Sức khỏe,
Hoạt động thể dục thể thao, Vũ trụ
o Khách thể: Quá trình học tập môn Vật lí của HS THPT
Trang 126 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được đề ra như sau:
o Nghiên cứu tổng quan về quan điểm tích hợp
o Tìm hiểu ba chủ đề được tích hợp trong chương trình giảng dạy Vật lí 10 THPT
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận
o Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học tích hợp
o Nghiên cứu ba chủ đề trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp
o Nghiên cứu sự thể hiện ba chủ đề trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp vào trong chương trình Vật lí THPT ở Việt Nam
o Nghiên cứu vận dụng các chủ đề tích hợp trong chương trình giảng dạy môn Vật lí 10 THPT của Pháp vào chương trình giảng dạy môn Vật lí THPT ở Việt Nam
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp chuyên gia: tham khảo ý kiến đóng góp của giáo viên hướng dẫn
và giáo viên Trung học phổ thông có kinh nghiệm
Trang 138 Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận
o Hệ thống hóa các nội dung cơ bản của dạy học tích hợp
o Nghiên cứu ba chủ đề: Sức khỏe, Hoạt động thể dục thể thao, Vũ trụ trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp
o Nghiên cứu sự thể hiện ba chủ đề trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp trong chương trình Vật lí THPT ở Việt Nam
o Tích hợp một số nội dung của chương trình Vật lí THPT ở Việt Nam trong một chủ đề “Hoạt động thể dục thể thao”
o Biên soạn một số giáo án có tích hợp chủ đề trên
o Đánh giá tính khả thi của những giáo án có tích hợp chủ đề trên
Trang 14C hương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm về dạy học tích hợp
1.1.1 Tích hợp là gì?
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp Đó là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy [20]
Như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn [20]
1.1.2 Dạy học tích hợp là gì?
Dạy học tích hợp là hoạt động liên kết một cách hữu cơ, có hệ thống các đối tượng nghiên cứu, học tập của một vài lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở học sinh các năng lực cần thiết [20]
Trong dạy học tích hợp, học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ môn học này sang môn học khác; HS học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những thao tác để giải quyết một tình huống phức hợp – thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ quá trình đó, HS nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển năng lực và các phẩm chất cá nhân [20]
Như vậy: Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy
động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp – có vấn đề nhằm phát triển các năng lực và phẩm chất cá nhân [20]
1.1.3 Tình hình nghiên cứu và vận dụng dạy học tích hợp
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong
GD và DH sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên ý nghĩa hơn đối với HS so với việc các môn học, các mặt GD được thực hiện riêng rẽ Tích hợp là một trong những quan điểm GD nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Nhiều nước trong khu vực Châu Á và
Trang 15trên thế giới đã thực hiện quan điểm tích hợp trong DH và cho rằng quan điểm này đã đem lại hiệu quả nhất định Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp HS học tập thông minh
và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phương pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hòa và hợp lí trong giải quyết các tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại [30]
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan điểm tiếp cận tích hợp đã ảnh hưởng tới giáo dục Việt Nam và bước đầu thể hiện một phần trong chương trình và SGK các môn học ở tiểu học và được hiểu là phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau [30] Trong một số môn học, tư tưởng tích hợp được tiếp nhận với các mức độ thấp và khác nhau như: Lồng ghép - là đưa thêm nội dung cần học tương tự với môn học chính; tích hợp - là sự kết hợp tri thức của nhiều môn học tạo nên môn học mới
Quan điểm tích hợp và phương pháp dạy học theo hướng tích hợp đã được GV tiếp nhận nhưng ở mức độ thấp Phần lớn GV lựa chọn mức độ tích hợp “liên môn” hoặc tích hợp “nội môn” [30]
Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìm hiểu Tự nhiên và xã hội” theo quan điểm tích hợp đã được thực hiện và môn học này được thiết kế để đưa vào DH ở trường cấp I từ lớp 1 đến lớp 5 Chương trình năm 2000 đã được hoàn chỉnh thêm một bước, quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong CT & SGK và các hoạt động DH ở tiểu học Tuy nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều GV Một
số đã có nhận thức ban đầu nhưng còn hạn chế về kĩ năng vận dụng [30]
Ở THCS cũng có đề tài nghiên cứu TH các môn Khoa học Tự nhiên và Khoa học
Xã hội là của PGS.TS.Nguyễn Thị Minh Phương ở Viện khoa học GD Việt Nam với
đề tài cấp bộ B98-49-65: “Nghiên cứu thử nghiệm bước đầu tài liệu TH một số môn
Khoa học Tự nhiên – Khoa học Xã hội trong nhà trường THCS” [17] Ở cấp THCS,
chỉ mới xuất hiện những đề tài nghiên cứu TH GD các mặt bảo vệ môi trường, sử dụng
năng lượng hợp lí, an toàn giao thông… (chưa có hệ thống TH các nội dung vào tất cả môn học) mà chưa có sự TH nhiều môn học riêng lẻ thành một môn học thống nhất Trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã đi sâu vào từng khía cạnh của quá trình
Trang 16GD: TH các môn học để thành một môn học mới; TH một số nội dung như GD nghề nghiệp, các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường trong DH nhằm phát huy tính tích cực,
tự lực của HS trong quá trình nhận thức Bước đầu đã vận dụng được tư tưởng sư phạm TH trong DH
1.1.4 Tại sao phải dạy học tích hợp
Có thể có nhiều lí do để dạy học tích hợp, theo [17] đề cập đến bốn lí do chính :
1.1.4.1 Phát triển năng lực người học
Dạy học tích hợp là dạy học xung quanh một chủ đề để đòi hỏi sử dụng kiến thức, kĩ năng, phương pháp của nhiều môn học trong tiến trình tìm tòi nghiên cứu Điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc trao đổi và làm giao thoa các mục tiêu dạy học của các môn học khác nhau Vì thế, tổ chức DHTH mở ra triển vọng cho việc thực hiện dạy học theo tiếp cận năng lực Bảng 1.1 cho phép so sánh DHTH và DH các môn riêng rẽ (DH đơn môn)
Bảng 1.1 Dạy học tích hợp và dạy học các môn riêng rẽ
Mục tiêu
Phục vụ cho mục tiêu chung của một số nội dung thuộc các môn học khác nhau
Phục vụ cho mục tiêu riêng rẽ của từng môn học
Mục tiêu rộng, ưu tiên các mục tiêu chung, hướng đến sự phát triển năng lực
Mục tiêu hạn chế hơn, chuyên biệt hơn (thường là các kiến thức và kĩ năng của môn học)
Tổ chức
dạy học
Xuất phát từ tình huống kết nối với lợi ích và sự quan tâm của HS, của cộng đồng, liên quan tới nội dung nhiều môn học
Xuất phát từ tình huống liên quan tới nội dung của một môn học
Hoạt động học thường xuất phát từ vấn đề mở cần giải quyết hoặc một
dự án cần thực hiện Việc giải quyết vấn đề cần căn cứ vào các
Hoạt động học thường xuất phát
từ vấn đề mở cần giải quyết hoặc một dự án cần thực hiện Việc giải quyết vấn đề cần căn
Trang 17kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau
cứ vào các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau
Trung tâm
của việc học
Nhấn mạnh đặc biệt đến sự phát triển năng lực và làm chủ mục tiêu lâu dài như các phương pháp, kĩ năng và thái độ của người học
Có quan tâm đến sự phát triển các kĩ năng, thái độ của người học nhưng đặc biệt nhằm tới việc làm chủ mục tiêu ngắn hạn như kiến thức, kĩ năng của một môn học
Hiệu quả
của việc học
Dẫn đến việc phát triển phương pháp, thái độ và kĩ năng, trí tuệ cũng như tình cảm Hoạt động học dẫn đến việc tích hợp các kiến thức
Dẫn đến việc tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mang đặc thù của môn học
Các tình huống trong dạy học tích hợp thường gắn với thực tiễn cuộc sống, gần gũi và hấp dẫn với người học; người học cần phải giải thích, phân tích, lập luận hoặc tiến hành các thí nghiệm, xây dựng các mô hình, … để giải quyết vấn đề Chính qua
đó, tạo điều kiện phát triển các phương pháp và kĩ năng cơ bản ở người học như: lập
kế hoạch, phân tích, tổng hợp thông tin, đề xuất các giải pháp một cách sáng tạo, …; tạo cơ hội kích thích động cơ, lợi ích và sự tham gia vào các hoạt động học, thậm chí với cả các HS trung bình và yếu về năng lực học
DHTH không chỉ đánh giá kiến thức đã lĩnh hội được, mà chủ yếu đánh giá xem
HS có năng lực sử dụng kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không Nói cách khác, người học phải có khả năng huy động có hiệu quả kiến thức và năng lực của mình để giải quyết một cách hữu ích một vấn đề xuất hiện, hoặc có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp
1.1.4.2 Tận dụng vốn kinh nghiệm của người học
DHTH tìm cách hòa nhập các hoạt động của nhà trường vào thực tế cuộc sống Có thể xem DHTH là “Mang đời sống thật vào lớp học” [45] Do gắn với bối cảnh thực tế
và gắn với nhu cầu người học cho phép dạy học kéo theo những lợi ích, sự tích cực và
Trang 18sự chịu trách nhiệm của người học Khi việc học được đặt trong bối cảnh gần gũi với thực tiễn, với cuộc sống sẽ cho phép tạo ra niềm tin ở người học, giúp họ tích cực huy động và tận dụng tối đa vốn kinh nghiệm của mình Chính điều đó sẽ tạo điều kiện cho
HS đưa ra những lập luận có căn cứ, có lí lẽ, qua đó họ biết được vì sao hoạt động học diễn ra như vậy – đó là cơ hội để phát triển siêu nhận thức ở người học Có nghĩa, người học có những đáp ứng tích cực với các hoạt động cần thực hiện, hiểu rõ mục đích các hoạt động, thậm chí là kết quả cần đạt được Khi đó, hoạt động học sẽ trở thành nhu cầu tự thân và có ý nghĩa
1.1.4.3 Thiết lập mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học
Việc tích tụ giản đơn các khái niệm, sự lặp lại một cách đơn điệu các kiến thức sẽ trở nên không chấp nhận được bởi vì người học không thể thu nhận và lưu giữ tất cả các thông tin đến một cách riêng lẻ Điều này cho thấy cần tổ chức lại dạy học “xuất phát từ sự thống nhất” để người học có nhiều cơ hội tập trung vào các hoạt động khai thác, hiểu và phân tích thông tin nhằm giải quyết vấn đề thay vì việc phải ghi nhớ và lưu giữ thông tin
DHTH tạo mối liên hệ trong học tập bằng việc kết nối các môn học khác nhau, nhấn mạnh đến sự phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các kiến thức, kĩ năng và phương pháp của các môn học đó Do vậy, DHTH là phương thức dạy học hiệu quả để kiến thức được cấu trúc một cách có tổ chức và vững chắc
Trong DHTH, nếu khéo léo thiết kế các hoạt động học thì quá trình học sẽ diễn ra một cách thống nhất, tự nhiên, HS sẽ nhìn thấy tiến trình phát triển logic của việc học trong mối quan hệ giữa các môn học, bởi vì, trong cuộc sống hằng ngày, các hiện tượng tự nhiên không bị chia cách thành từng phần riêng biệt, các vấn đề của xã hội luôn mang tính toàn cầu HS sẽ học bằng cách giải thích và tiên đoán các hiện tượng tự nhiên và xã hội qua mối liên hệ giữa các phần khác nhau của kiến thức thuộc các môn học khác nhau
1.1.4.4 Tinh giản kiến thức, tránh sự lặp lại các nội dung ở các môn học
Thiết kế các chủ đề tích hợp, ngoài việc tạo điều kiện thực hiện tích hợp mục tiêu của hai hay nhiều môn học, nó còn cho phép:
Trang 19• Thiết kế các nội dung học để tránh sự lặp lại cùng một kiến thức ở các môn học khác nhau, do đó, tiết kiệm thời gian khi tổ chức hoạt động học mà vẫn đảm bảo học tích cực, học sâu
• Tạo điều kiện tổ chức các hoạt động học đa dạng, tận dụng các nguồn tài nguyên cũng như sự huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục
Bên cạnh những lợi ích, DHTH cũng đặt ra những thách thức:
• Đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian, công sức cho việc xây dựng nội dung và thiết kế các hoạt động học DHTH đòi hỏi giáo viên phải có đầu óc cởi mở, mềm dẻo và sẵn sang đối đầu với nguy cơ Giáo viên cần tình nguyện đầu tư thời gian cần thiết cho việc thiết kế các hoạt động dạy học và sẵn sàng tiếp nhận các nguồn thông tin đến từ các môn học khác cũng như các nguồn thông tin mới của các vấn đề thực tiễn, xã hội và khoa học
• Có thể phá vỡ cấu trúc logic của môn học truyền thống Do vậy, tổ chức dạy học xung quanh các chủ đề tích hợp vẫn cần có sự hệ thống hóa kiến thức giúp người học vừa thấy được kiến thức theo chiều dọc của sự phát triển logic môn học, vừa thấy được kiến thức theo chiều ngang trong mối quan hệ với các kiến thức thuộc các lĩnh vực khác, ví dụ, kiến thức vật lí với kiến thức hóa học hay sinh học
DHTH không loại bỏ sự cần thiết của “dạy học trực tiếp kiến thức của một môn học” nhằm phát triển sự làm chủ kĩ năng cơ bản hoặc tiếp nhận một số kiến thức cho phép GV và HS giải tỏa sức ép của việc tiếp nhận phức hợp các kiến thức
1.1.5 Các mục tiêu của dạy học tích hợp
Làm cho các quá trình học tập có ý nghĩa và mang tính mục đích rõ rệt
Trong môn học TH, các quá trình học tập không tách rời cuộc sống hàng ngày, mà được tiến hành trong mối liên hệ với các tình huống cụ thể Không còn hai thế giới riêng biệt: thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống Bằng cách đặt quá trình học tập vào các tình huống trong cuộc sống để HS nhận thấy ý nghĩa của các kiến thức, kỹ năng, năng lực cần lĩnh hội Điều đó có ý nghĩa lớn trong việc tạo động lực học tập cho HS, điều mà hiện nay nhiều HS đã không có được và do đó việc học tập trở nên nặng nề, thiếu niềm vui và hứng thú Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức,
kỹ năng, năng lực của HS đều được huy động và gắn với thực tế cuộc sống Khi gặp
Trang 20những tình huống tương tự thì các em có thể biết nên dùng những kiến thức, kỹ năng, năng lực nào để giải quyết cho phù hợp
Xác định rõ mục tiêu, phân biệt cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn
Cái cốt yếu là những kiến thức, kỹ năng cơ bản cần cho HS vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo Trong thực tế nhà trường có nhiều điều chúng ta dạy cho HS nhưng không thật sự có ích, ngược lại có những năng lực cơ bản không được dành đủ thời gian Chẳng hạn ở tiểu học, HS được biết nhiều quy tắc ngữ pháp nhưng không biết đọc diễn cảm một bài văn, HS biết trong một kilômét có bao nhiêu centimét nhưng lại không chỉ ra được một mét áng chừng dài bằng mấy gang tay Mục tiêu này đòi hỏi phải lựa chọn kiến thức, kỹ năng cốt yếu xem là quan trọng đối với quá trình học tập của HS và dành thời gian cũng như các giải pháp hợp lí cho chúng
Dạy cách tìm tòi sáng tạo và vận dụng tri thức vào các tình huống khác nhau Thể hiện cụ thể là:
- Nêu bật cách thức sử dụng kiến thức đã học;
- Tạo các tình huống học tập để HS vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự lực Theo yêu cầu này thì DHTH không chỉ quan tâm đánh giá việc HS hiểu những kiến thức đã học, mà chủ yếu sẽ đánh giá khả năng vận dụng các kiến thức trong các tình huống có ý nghĩa hay không
Vượt lên trên các nội dung môn học, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức, các
kỹ năng, tạo động cơ, năng lực cho người học
Trong quá trình học tập, HS có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng HS phải biểu đạt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ thống nhất trong phạm vi từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp
Tuy có những ưu điểm vượt trội như trên nhưng DHTH cũng có một vài khó khăn như sau:
Trang 21- Khi tiến hành DHTH thì người thiết kế kế hoạch giảng dạy phải có suy nghĩ về
CT, về SGK một cách đầy đủ, phải có cái nhìn tổng hợp để TH đúng mức nội dung, kỹ năng, có hiểu biết về cách đánh giá kết quả học tập của HS Việc xây dựng CT và SGK phải do tập thể các tác giả bộ môn xây dựng, phải có suy nghĩ về mục tiêu đã đặt ra và phải vượt qua khỏi tầm nhìn bộ môn thì mới đạt được kết quả
- Xây dựng CT và SGK theo quan điểm TH đối lập với cách làm truyền thống từ trước cũng như tâm lí của GV, HS, cán bộ quản lí, phụ huynh nên sẽ gặp rất nhiều khó khăn cả về công sức và tiền bạc
- Đội ngũ GV còn chưa được chuẩn bị đầy đủ về cả lý thuyết và kỹ năng giảng dạy,
do đó cần tác động vào việc đào tạo GV để họ có thể đáp ứng các mục tiêu, nhiệm
1.1.6 Một số hình thức tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
Theo D' Hainaut có bốn quan điểm TH khác nhau đối với các môn học [19]
- Quan điểm “đơn môn”: Có thể xây dựng CT học tập theo hệ thống nội dung của một môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
- Quan điểm “đa môn”: Một CĐ trong nội dung học tập có liên quan với những kiến thức, kỹ năng thuộc một số môn học khác nhau Các môn học tiếp tục được tiếp cận riêng rẽ, chỉ phối hợp với nhau ở một số đề tài nội dung
- Quan điểm “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kỹ năng của những môn học khác nhau
- Quan điểm “xuyên môn”: Nội dung học tập hướng vào phát triển những kỹ năng, năng lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau
Trang 22Robin Fogarty đã tổng hợp và chỉ ra mười cách TH khác nhau trong CT giảng dạy theo ba dạng chính: TH trong nội bộ một môn, TH xuyên môn, bên trong và giữa người học [44] Mười mô hình này cung cấp cho khoa học một nền tảng vững chắc để thiết kế các CT đào tạo giúp HS tạo kết nối có giá trị trong khi học tập
Xuất phát từ các cách tiếp cận trên và qua việc nghiên cứu các xu hướng TH của các nước trên thế giới, TS Cao Thị Thặng đã phân chia ra có hai cách cơ bản TH các môn học/nội dung riêng rẽ thành các môn học mới và TH không tạo nên môn học mới [22]
TH không tạo nên môn học mới gồm:
- TH trong nội bộ môn học: TH những nội dung của các phân môn, các nội dung thuộc cùng một môn học theo những CĐ, chương, bài cụ thể nhất định Ví dụ: TH các phân môn Cơ học, Điện, Nhiệt học và Quang học trong môn Vật lí; Đại số, Hình học, Lượng giác trong môn Toán…
- TH đa môn: TH một nội dung, một vấn đề trong các môn học khác nhau theo góc
độ riêng của từng môn Ví dụ: Nội dung GD môi trường, sử dụng năng lượng hợp
lí có thể TH vào các môn như: Vật lí, Hóa học, Sinh học… nhưng mỗi môn có hướng nghiên cứu riêng
- TH liên môn: TH nội dung của nhiều môn học có mối tương quan với nhau đối với một CĐ nào đó trong khi các môn học vẫn độc lập với nhau Ví dụ: CĐ nước, các nội dung như tính chất vật lí, tính chất hóa học, vai trò của nước… đều xuất phát từ các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học Những kiến thức này đều nằm trong phạm vi SGK
- TH xuyên môn: TH nội dung của nhiều môn học khác nhau trong một CĐ trong khi các môn học vẫn độc lập với nhau Ví dụ: Trong mỗi CĐ: không khí, năng lượng, nước… có thể lồng ghép nội dung liên quan của các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí… Những nội dung này là do HS có nhu cầu tìm hiểu, nội dung này vượt ngoài SGK, gắn liền với thực tiễn đời sống thực của HS
TH này có thể được thực hiện như sau:
- Những ứng dụng chung cho nhiều môn học, được thực hiện ở cuối năm học hay cuối cấp học Ví dụ: Các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học vẫn được dạy riêng rẽ
Trang 23nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp có một phần, một chương về những vấn đề chung của các Khoa học Tự nhiên và thành tựu ứng dụng thực tiễn, HS được đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiến thức
- Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những thời điểm đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học vẫn được giảng dạy riêng rẽ Tuy nhiên, CT có bố trí xen một số chương TH liên môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho HS quen dần với việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi với nhau
TH các môn học khác nhau tạo thành các môn học mới gồm:
- TH liên môn: Xây dựng môn học mới bằng cách liên kết một số môn học với nhau thành môn học mới nhưng vẫn có những phần mang tên riêng của từng môn học
Ví dụ: môn Lí – Hóa, Sử – Địa, Sinh – Địa chất… Môn học mới được xây dựng từ các môn học riêng lẻ
- TH xuyên môn: Xây dựng môn học mới TH từ các CĐ có liên quan đến Khoa học
Tự nhiên, đến đời sống thực mà HS cần tìm hiểu Ranh giới giữa các môn học không còn nữa mà chỉ có các CĐ
TH này có thể được thực hiện như sau:
- Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài TH Cách này được áp dụng cho những môn học gần nhau về bản chất, mục tiêu hoặc cho những môn học có đóng góp bổ sung cho nhau, và khai thác tính bổ sung lẫn nhau đó Dạng TH này duy trì những mục tiêu riêng rẽ trong mỗi môn học, đồng thời liên kết các môn học này một cách hài hòa trên cơ sở xây dựng các đề tài Cách tiếp cận này chủ yếu có giá trị trong giảng dạy đối với những đề tài đơn giản, không bảo đảm chắc chắn HS thực sự có khả năng đối phó với một tình huống thực tế
- Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống TH, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn, tạo thành môn học TH Cách này dạy cho HS cách giải quyết những tình huống phức hợp có sự vận dụng nhiều môn học Dạng TH này chỉ có thể thực hiện với những môn học nhằm những
kỹ năng như nhau và ta có thể phát biểu một mục tiêu TH chung cho những môn học đó
Trang 24Ở Việt Nam, việc TH trong nội bộ môn học, TH đa môn đã được thực hiện Trong
CT tiểu học hiện hành, việc thực hiện TH theo các hướng: ở các lớp 1, 2, 3 TH các nội dung của cả hai lĩnh vực trong môn Tự nhiên – Xã hội; lớp 4, 5 TH lĩnh vực tự nhiên trong môn Khoa học và lĩnh vực xã hội trong môn Lịch sử - Địa lí Còn các hình thức
TH khác, Việt Nam chưa áp dụng Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu và thử nghiệm các CĐ TH liên môn theo phương pháp DH theo dự án cho thấy việc TH theo hình thức này có thể thực hiện được [17]
Một cách đơn giản, các phương pháp DHTH có thể được phân loại theo cường độ tích hợp [7]
1.1.7 Các nguyên tắc tích hợp
Theo [17] khi TH các môn học với nhau thì cần theo những nguyên tắc sau:
• Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu: Việc sắp xếp lựa chọn và liên kết các kiến thức và kỹ năng phải nhằm đạt tới mục tiêu GD của các nội dung cần GD, của môn học, của cấp học và cả của mục tiêu GD chung
• Đảm bảo tính khoa học, hiện đại: Các kiến thức được TH phải khách quan, phản ánh đúng bản chất sự vật, hiện tượng, có ý nghĩa và phù hợp tâm sinh lí nhận thức của lứa tuổi…
• Khi lựa chọn những nội dung cũng như các môn học để TH thì giữa chúng phải
có những nét tương đồng trong nội dung và phương pháp có thể bổ trợ cho nhau Khi
đó, người học có thể vận dụng dễ dàng trong quá trình học tập, trong cuộc sống
• Đảm bảo tính khả thi
- Người học có thể nhận thức và vận dụng được kiến thức, kỹ năng TH trong các nội dung, môn học và cao hơn nữa là có thể giải quyết được những tình huống thường gặp trong cuộc sống hàng ngày
- Người dạy có đủ điều kiện để tổ chức, hướng dẫn việc học tập Điều này có thể hiểu là vừa sức đối với cả người học lẫn người dạy
Do đặc điểm cấu trúc CT và SGK các môn học ở trường THCS, THPT hiện nay hướng đến tính hệ thống chặt chẽ của nội dung, tính khoa học bộ môn tương đối sâu, nên việc đưa các nội dung trên vào các môn học trong trường PT cũng phải thực hiện sao cho không ảnh hưởng tới mục tiêu riêng của các môn học Với ý nghĩa như vậy thì
Trang 25dạng TH thứ nhất thường được thực hiện vì nó phù hợp với thực tế nhà trường hiện nay
- Lồng ghép/Liên hệ: Đó là đưa các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với
xã hội, gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một môn học Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên, GV có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác và thực hiện lồng ghép các kiến thức
đó ở những thời điểm thích hợp
DHTH ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học Các chủ đề gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu người học sẽ có nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép
- Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung
quanh các chủ đề Như vậy, nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ
để đảm bảo tính hệ thống; mặt khác, vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ
Việc liên kết các kiến thức môn học để giải quyết tình huống cũng có nghĩa là các kiến thức được tích hợp ở mức độ liên môn học Có hai cách thực hiện mức độ tích hợp này:
Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối năm hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung (của các môn khoa học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội) và các thành tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp HS xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội
Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau thực hiện ở những
Trang 26thời điểm đều đặn trong năm học Nói cách khác, sẽ bố trí xen một số nội dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho HS quen dần với việc sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau
- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của DHTH Ở mức độ này, tiến trình dạy
học là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dung kiến thức trong bài học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, do
đó, các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng
rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn
học
Ở mức độ hòa trộn, GV phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn, tạo thành các chủ đề thích hợp
Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề, trong đó, các năng lực cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề Các năng lực này chính là các năng lực được hình thành xuyên môn học Ví dụ, với các môn khoa học tự nhiên, đó là năng lực thực hiện các phép đo và sử dụng công cụ đo, năng lực khoa học
Để thực hiện TH ở mức độ hòa trộn, cần sự hợp tác của các GV đến từ các môn học khác nhau Để lựa chọn và xây dựng nội dung học, GV phải có hiểu biết sâu sắc
về chương trình và đặt chương trình các môn học cạnh nhau để so sánh, để tôn trọng những đặc trưng nhằm dẫn dắt HS đạt tới mục tiêu dạy học xác định, hướng tới việc phát triển năng lực Việc phân tích mối quan hệ giữa các môn học khác nhau trong chủ
đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn học phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác
1.2 Đặc điểm, nhiệm vụ và thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Vật lí ở trường THPT tại Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm của môn Vật lí hiện nay ở trường THPT
- Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, cho nên những kiến thức của Vật lí là cơ sở của nhiều ngành Khoa học Tự nhiên, nhất là của Hóa học và Sinh học
Trang 27- Vật lí học ở trường THPT chủ yếu là Vật lí TN Phương pháp chủ yếu của nó là phương pháp TN
- Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiều kiến thức Vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở HS
- Vật lí học là cơ sở lý thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất
- Vật lí học là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có khả năng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lí
1.2.2 Các nhiệm vụ của việc dạy học Vật lí ở trường THPT
Căn cứ vào mục tiêu chung của hệ thống GD quốc dân, của nhà trường PT, căn cứ vào đặc điểm của bộ môn Vật lí, việc DH Vật lí ở trường PT có các nhiệm vụ cơ bản như sau:
- Cung cấp cho HS một hệ thống các kiến thức Vật lí cơ bản, hiện đại và các kỹ năng
kỹ xảo tương ứng nhằm làm nền tảng cho họ có thể tham gia lao động sản xuất và tiếp tục theo học những chuyên ngành khoa học kỹ thuật cao hơn ở bậc đại học hoặc tự học, tự bồi dưỡng trong quá trình lao động, sản xuất
- Góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, bồi dưỡng năng lực sáng tạo
và khả năng tự học cũng như khả năng hoạt động độc lập của HS
- Góp phần GD đạo đức cho HS
- Góp phần GD kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, GD thẩm mỹ cho HS Các nhiệm vụ trên luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, được tiến hành đồng thời trong quá trình DH Vật lí, góp phần tạo ra những con người phát triển hài hoà toàn diện
1.2.3 Thực trạng của việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học Vật lí
Nền GD của nước ta trong những năm qua chú trọng thi cử, quan tâm đến dung lượng và mức độ đồng hóa kiến thức Nhiều kiến thức mới đưa vào mà HS không thấy được sự vận dụng của chúng trong thực tế Việc vận dụng kiến thức chủ yếu được quy
về các kỹ năng giải bài tập Vật lí mà cùng với thời gian chúng ngày càng biến tướng thành những dạng bài toán Vật lí lắt léo, đánh đố, xa rời thực tiễn, nhưng lại cần nhiều
Trang 28thủ thuật và thời gian khổ luyện Nhiều môn học được đưa vào trong CT nhưng mỗi môn chỉ khai thác những vấn đề khác nhau Nói chung, chương trình hiện hành về cơ bản vẫn tiếp cận theo hướng nội dung, chạy theo khối lượng kiến thức, còn nặng tính hàn lâm… Tuy có chú ý đến cả ba phương diện kiến thức, kỹ năng và thái độ nhưng vẫn là những yêu cầu rời rạc, riêng rẽ, chưa liên kết, thống nhất và vận dụng tổng hợp thành năng lực hành động, năng lực thực hiện… gắn với yêu cầu của cuộc sống Trong khi thực tế để giải quyết một vấn đề chúng ta phải tổng hợp nhiều môn học để giải quyết chúng
Ngoài ra, một số rất thiết thực cho cuộc sống của các em và cho xã hội mai sau nhưng chưa được đề cập nhiều trong chương như: vấn đề đạo đức, hướng nghiệp trong môn Vật lí, thái độ của HS đối với các vấn đề nhức nhối của xã hội hiện nay (sức khỏe, môi trường, an toàn….) Việc GD cho HS những vấn đề này là điều rất cần thiết
và cấp bách
1.3 Tổng quan về các chủ đề trong chương trình Vật lí 10 THPT ở Pháp
Từ năm 2006, các CĐHT được Bộ GD Quốc gia Pháp chính thức đưa vào CT học cho HS cấp THCS trên toàn quốc Mỗi CĐ này là một đề tài thiết thực, xuất phát từ đời sống, liên quan mật thiết đến cá nhân, gia đình, tập thể, và cả xã hội Để tiếp tục mục tiêu giúp HS có được những kiến thức toàn diện và chặt chẽ về thế giới xung quanh, cả về tổng thể và sự đa dạng của nó, về thế giới tự nhiên và thế giới do con người tạo ra Năm 2010, Bộ GD Quốc Gia Pháp lại tiếp tục đẩy mạnh việc tích hợp sâu hơn các chủ đề trong chương trình THPT Cụ thể, nội dung môn Vật lí – Hóa học lớp 10 THPT tại Pháp sẽ được chuyển tải thông qua ba chủ đề: Sức khỏe, Hoạt động thể thao và Vũ trụ…
Mục tiêu tổng quát
Các CĐ: Sức khỏe, Hoạt động thể dục thể thao, Vũ trụ là các CĐ bắt buộc trong
CT giảng dạy môn Vật lí 10 THPT tại Pháp, nhằm mục đích giúp cho HS có một nền văn hóa khoa học, có một cái nhìn tổng quan về thế giới mà các em đang sống, và cũng cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày HS cần có một quan niệm tổng quan và kết hợp về thế giới Quan niệm này được hình thành từ việc khảo sát các CĐ cơ bản cho từng cá nhân và toàn xã hội
Trang 29Đồng thời cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày
Ba CĐ trong chương trình Vật lí 10 THPT được đề nghị bởi Bộ GD Quốc gia Pháp
Vì lớp 10 có nhiều thành phần học sinh khác nhau nên cần có những bước tiếp cận
và phát triển phù hợp Trình bày chương trình học theo chủ đề là cách đáp ứng yêu cầu này vì về mặt sư phạm nó cho phép giáo viên tự do bắt đầu các khái niệm vật lý hơn cách trình bày cũ
Phương pháp tiếp cận theo chủ đề cũng cho phép phát triển sự quan tâm đối với khoa học bằng cách vừa đưa ra nội dung giảng dạy vừa khai thác những lĩnh vực đa dạng mà vẫn giữ được sợi dây đảm bảo sự thống nhất giữa các khái niệm Việc dạy học theo chủ đề rất phù hợp để học sinh thực hiện các dự án cá nhân hay theo nhóm Các dự án này đặt học sinh vào một tình huống hoạt động tư duy, dễ dàng thủ đắc các
kỹ năng và hướng các em trở nên độc lập
Chương trình gồm ba chủ đề liên quan đến sức khoẻ, hoạt động thể thao và vũ trụ Chúng cho phép môn học tiếp cận và minh hoạ các nội dung và phương pháp đặc thù theo bối cảnh, từ những vấn đề xã hội đến tự nhiên:
1) Chủ đề sức khoẻ nói về các chẩn đoán y khoa cơ bản và các thành phần của thuốc
2) Chủ đề thể thao nghiên cứu sự chuyển động, nhu cầu và đáp ứng của cơ quan, khái niệm áp lực, các chất và các phân tử tham gia vào hoạt động thể thao 3) Chủ đề Vũ trụ nói đến những cấu trúc lớn trong vũ trụ, cấu trúc vật liệu, các vì sao, hành tinh và hệ mặt trời Chủ đề này cho phép trình bày một tổng thể cấu trúc được tạo nên từ toàn bộ các quy tắc và nhân tố
Cách thức nghiên cứu các CĐHT
Giáo viên được quyền chọn trình tự giảng dạy ba chủ đề này sao cho vẫn giới thiệu chúng một cách tuần tự tùy theo các khó khăn và yêu cầu, nhất là về phương diện toán học
Một vài khái niệm được giới thiệu trong nhiều chủ đề, thậm chí là được giới thiệu nhiều lần trong cùng một chủ đề; giáo viên có thể tiếp cận chúng theo nhiều góc độ
Trang 30khác nhau, bổ sung thêm hoặc không cần nhắc lại chúng nếu giáo viên cho rằng học sinh đã nắm được khái niệm Yêu cầu đặt ra là khi kết thúc năm học, nội dung giảng dạy cả ba chương phải khái quát được toàn bộ các khái niệm và nội dung
Các chủ đề được giới thiệu thành hai mục có tên:
− Khái niệm và nội dung: bao gồm các khái niệm cần dạy;
− Kỹ năng cần đạt: bao gồm các kiến thức cần huy động , khả năng thực hiện
các yêu cầu và khả năng cần đạt được, thái độ cần có; HS cần thành thạo các khả năng này vào cuối năm học Các kỹ năng được viết in nghiêng là kỹ năng
kỹ thực nghiệm
Trang 31Kết luận chương 1
DHTH là một xu thế mới của quá trình DH nhằm GD và phát triển toàn diện HS
Nó không chỉ nhằm rút gọn thời lượng trình bày tri thức của nhiều môn học, mà quan trọng hơn là tập dợt cho HS cách vận dụng tổng hợp các tri thức vào thực tiễn, vì để giải quyết một vấn đề thực tiễn thường phải huy động tri thức của nhiều môn học DHTH làm cho quá trình học tập của HS có ý nghĩa hơn DH gắn kiến thức Vật lí với thực tiễn, tăng cường các nội dung thực hành, ứng dụng, liên môn, giúp cho HS vận dụng kiến thức, hình thành các năng lực, kỹ năng sống Tận dụng sự tiệm cận giữa môn Vật lí với các môn học khác để giải quyết các vấn đề gần gũi trong cuộc sống hàng ngày Theo hướng này, giúp người học học tập một cách hứng thú, tự giác và tích cực Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “DHTH là tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong học tập và trong cuộc sống Xét về thiết kế CT GD, việc
TH sẽ giúp cho việc giảm số môn học”[47] Theo lãnh đạo Bộ GD&ĐT trong cuộc họp báo ngày 19/09/2013, DHTH không gây xáo trộn về số lượng và cơ cấu GV, không đòi hỏi phải tăng cường quá nhiều về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học DHTH
là thay đổi căn bản ở THPT, bỏ hình thức phân ban, chuyển sang dạy học tự chọn Lớp
11 và 12 học rất ít môn bắt buộc vì thế có thời gian tập trung cho các môn học tự chọn.[38]
Dạy học thông qua việc khai thác các CĐ ở Pháp nhằm mục đích: giúp cho HS có một cái nhìn tổng quan về thế giới mà các em đang sống; tránh tầm nhìn chia ngăn giữa các ngành; cung cấp cho các em những kiến thức, kỹ năng được sử dụng trong đời sống thường ngày Những CĐ này là phần bắt buộc giảng dạy trong CT các môn học nhưng không đòi hỏi thêm thời gian giảng dạy và được đưa trực tiếp vào trong SGK Mỗi CĐ sẽ được khai thác ở mức độ từng bộ môn riêng và những CĐ được lựa chọn phải thỏa mãn được cả ba mục đích trên
Nội dung các CĐ được lựa chọn là những vấn đề đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống con người nên trong quá trình tìm hiểu cũng như tìm biện pháp giải quyết vấn đề trong bài toán đưa ra sẽ giúp HS có thêm kiến thức, kỹ năng để sử dụng trong đời sống thường ngày
Trang 32C hương 2 CÁC CHỦ ĐỀ ĐƯỢC THỰC HIỆN TRONG CHƯƠNG
TRÌNH VẬT LÍ 10 THPT Ở PHÁP
Trong chương này chúng ta sẽ đi tìm hiểu cách thức trình bày ba CĐ trong chương trình SGK Vật lí 10 THPT được đề nghị bởi Bộ GD và Quốc gia Pháp bao gồm: Sức khỏe, Hoạt động thể dục thể thao và Vũ trụ Các chủ đề đều được giới thiệu thành hai mục:
- Khái niệm và nội dung: bao gồm các khái niệm cần học
- Kĩ năng cần đạt: bao gồm các kiến thức cần huy động, khả năng thực hiện các yêu cầu và các khả năng cần đạt được
Kết thúc mỗi chương, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một phần “Khoa học quanh ta” Phần này sẽ giúp cho HS hiểu rõ khoa học phục vụ cho cuộc sống chúng ta như thế nào và đồng thời giúp cho HS có những định hướng nghề nghiệp trong tương lai
2.1 Chủ đề 1: Sức khỏe
Học sinh phải có kiến thức khoa học để đưa ra những lựa chọn phù hợp liên quan đến sức khoẻ Mục tiêu của chủ đề này là nêu và giải thích vai trò của vật lý trong lĩnh vực chẩn đoán y khoa
Từ việc phân tích các tín hiệu tuần hoàn, đọc các hình ảnh và các xét nghiệm y khoa cho phép ta đưa ra các chuẩn đoán y khoa chính xác Phần này được nghiên cứu trong hai chương:
Chương 1: Phân tích các tín hiệu tuần hoàn
Khi có sự can thiệp của phẫu thuật, cả ê kíp bác sĩ sẽ phải phân tích và kiểm soát các tín hiệu tuần hoàn của cơ thể người
• Khái niệm và nội dung
Các khái niệm mang tính chất định kì: Chu kì, tần số, áp suất tối đa và tối thiểu
Sóng âm, sóng điện từ
• Kĩ năng cần đạt
Xác định và nêu được các đặc trưng của một hiện tượng tuần hoàn
Phân tích một tín hiệu tuần hoàn
Xác định và phân biệt sóng âm và sóng điện từ
Trang 33• Thông tin khoa học
Điện tim, điện não đồ, đo thính lực
• Khoa học quanh ta
Máy sốc điện
Máy sốc điện này được sử dụng
khi tim ngừng đập Nó dùng để tạo ra
các cơn sốc điện lên tim giúp tim lấy
lại được nhịp đập bình thường
Nếu ta khử rung tim trong năm
phút đầu kể từ khi xảy ra sự cố về
tim, cơ hội sống sót của nạn nhân có
thể tăng từ 3 lên 30%
Máy này đang dần trở nên phổ
biến ở những nơi công cộng
Khoa học và văn hóa Gạch lát tường là sự lặp lại có tuần hoàn của một mẫu hình trong một, hai hay
ba phần không gian Những cách trình bày này đã được biết đến từ thời cổ đại
Maurits Cornelis Esche, nghệ sĩ người
Hà Lan sống ở thế kỉ XX được biết đến qua các gạch lát hai diện tích (như hình bên trái)
Khái niệm về gạch lát được tìm thấy trong ngành tinh thể học, khoa học nghiên cứu về sự liên kết giữa các nguyên tố hóa học trong tinh thể
Trang 34Nghề nghiệp Các kĩ sư âm thanh thu, chỉnh và
hòa trộn các âm thanh để truyền
chúng đi tốt hơn
Trong điện ảnh, người ta tạo ra sự
đồng thời giữa « những gì nhìn
thấy » và « những gì nghe được »
Trong một buổi biểu diễn, công việc
của người này là theo dõi và đảm bảo
chất lượng âm thanh phát ra trong
buổi hòa nhạc
Đó là một công việc kĩ thuật đòi
hỏi sự sáng tạo, làm việc trong cả
phòng thu và ngoài sân khấu, phục
vụ cho nghệ thuật và các nghệ sĩ
Chương 2 Chẩn đoán hình ảnh
Siêu âm cho phép ta nhìn thấy thai nhi ngay từ những tuần đầu tiên của thai kì
• Khái niệm và nội dung
Sóng âm, sóng điện từ
Ánh sáng truyền theo đường thẳng
Vận tốc ánh sáng trong chân không và trong không khí
Hiện tượng khúc xạ và phản xạ toàn phần
• Kĩ năng cần đạt
Trích và khai thác thông tin liên quan đến bản chất của sóng và tần số của chúng trong từng lĩnh vực y khoa
Biết vận tốc truyền đi của ánh sáng và âm thanh
Thực nghiệm hiện tượng khúc xạ và phản xạ toàn phần
• Thông tin khoa học
Các nguyên tắc của chụp X-Quang, siêu âm và nội soi
Trang 35Sau khi bệnh nhân nuốt vào, máy
quay sẽ di chuyển tự do qua các
cơ quan tiêu hóa và quay phim lại
liên tục trong 5 giờ
Chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI)
Từ những năm 1980, MRI cung cấp những hình ảnh kĩ thuật số dạng 3D và phân lớp các cơ quan
và các bất thường (nếu có) với độ chính xác cao
Kĩ thuật này sử dụng sóng vô tuyến và các đặc tính về từ trường của hạt nhân nguyên tử hiđro trong các cơ quan con người
Khoa học và văn hóa
Bức tranh khắc này là của
István Orosz (người Hungari)
Bức tranh vẽ cảnh trong tiểu
thuyết Hòn đảo bí ẩn của Jules
Verne Nhưng trong bức tranh
còn ẩn dấu chân dung của nhà
văn Chân dung này chỉ thấy được
nhờ vào sự phản chiếu ánh sáng
khi ta đặt bức tranh trước một tấm
gương hình trụ phù hợp
Trang 36Nghề nghiệp
Các kĩ thuật viên trong điện
quang y khoa có thể đưa ra các
chẩn đoán lâm sàng chuyên sâu
dựa vào các hình ảnh y khoa,
ngoài ra còn có thể chữa bệnh cho
và áp dụng nó sao cho có lợi cho sức khoẻ
Chủ đề này được chia thành 2 phần:
Phần 1: Nghiên cứu về chuyển động
Quan sát, phân tích chuyển động và đồng hồ bấm giờ góp phần hỗ trợ cho các hoạt động thể thao Các định luật vật lí cho phép ta hiểu được bản chất của các chuyển động được thực hiện trong phạm vi này
Phần này được nghiên cứu trong 2 chương :
Chương 1: Phân tích chuyển động và đo thời gian
Việc quan sát quĩ đạo các điểm sáng trên boomerang cho phép ta phân tích chuyển động của nó chi tiết hơn
• Khái niệm và nội dung
Tính tương đối của chuyển động Hệ qui chiếu Quỹ đạo Đo quãng thời gian Đồng hồ bấm giờ
• Kĩ năng cần đạt
Biết phân tích và mô tả chuyển động
Hiểu được bản chất của chuyển động phụ thuộc vào hệ qui chiếu
Trang 37Thực hiện đo thời gian theo độ chính xác cần đạt
• Thông tin khoa học
Phép chụp ảnh hoạt nghiệm
• Khoa học quanh ta
Cải thiện thành tích
Trong tất cả các môn thể thao mà vận
tốc đồng nghĩa là kết quả hay chiến
thắng thì ta không nên bỏ qua bất cứ
sơ xuất nào Để giành được chiến
thắng một vài phần trăm giây trong
một cuộc đua, các vận động viên
được trải qua các cuộc kiểm tra bằng
khí động lực Họ có thể thay đổi vị trí
hay thiết bị để di chuyển tốt hơn
Máy quay siêu chậm
Máy chiếu chậm là kĩ thuật điện ảnh được phát minh năm 1904 Kĩ thuật này được dùng để quay lại một chuyển động với tốc
độ khung hình/giây cao hơn vận tốc bình thường là 24 khung hình/giây Khi chiếu
cảnh quay với tôc độ bình thường, nó sẽ diễn ra chậm hơn
Máy quay chậm rất phổ biến trong thể thao, nhờ vào các tiến bộ kĩ thuật, và nhất
là nhờ vào kĩ thuật quay chậm Ultra Slow Motion, ta có thể xem một cảnh với hình ảnh chất lượng cao nhưng chỉ với tốc độ chậm hơn 40 lần so với thực tế
Trang 38Khoa học và văn hóa
Phim hoạt hình
Năm 1908, 20 năm trước khi
Mortimer xuất hiện lần đầu tiên, sau
đó trở thành chú chuột Mickey
Mouse nổi tiếng, tại nhà hát
Gymnase Paris, Émile Courtet đã tạo
ra hoạt hình đầu tiên trên phim ảnh,
với tiêu đề Fantasmagorie
700 hình ảnh tạo thành đoạn phim
ngắn dài hơn 1 phút 40 giây được
quay từng hình rồi chiếu lên
Nghề nghiệp
Trong các công ty đồng hồ lớn, các
hệ thống tính giờ được phát triển để
ghi lại thành tích của các vận động
viên ở mức độ chính xác phần nghìn
giây Họ cần các thiết bị thu nhỏ gắn
với các hệ thống máy tính xách tay
Các kĩ sư hay kĩ thuật viên là chuyên
gia trong thiết kế và công nghiệp hóa
vi kĩ thuật được đào tạo để làm việc
trong lĩnh vực đầy tiềm năng này
Chương 2: Bản chất của chuyển động
Sau khi khởi động, dường như vận động viên trượt băng tự nhiên tiến về phía trước Liệu anh ấy có thể nào tiến lên phía trước mà không chịu tác động của lực nào không ?
Trang 39• Khái niệm và nội dung
Sử dụng nguyên tắc quán tính để giải thích các chuyển động đơn giản về lực
Thực hiện và khai thác các đoạn video để phân tích chuyển động
• Thông tin khoa học
Mối liên hệ vật – lực tác dụng
• Khoa học quanh ta
Ôm đường cong khi đua môtô
Ở tốc độ thấp, người lái xe bẻ tay lái sang phải để xe chạy về hướng đó Khi ở tốc độ cao, anh ta phải nhẹ nhàng bẻ tay lái về hướng ngươc lại: trọng tâm xe tiếp tục theo quĩ đạo thẳng, xe nghiêng và rẽ tự nhiên theo hướng bị nghiêng Đây là kĩ thuật đánh lái nghịch hướng
Khoa học và văn hóa
Tiểu hành tinh
Trong bộ phim Armageddon (1998)
với diễn viên Bruice Willis, một tiểu
hành tinh tiến thẳng về Trái Đất Một
nhóm người được gửi lên tiểu hành
tinh này để tạo một vụ nổ hạt nhân,
Máy bay bay như thế nào ?
Trang 40nhằm tạo ra các tác động cơ học đủ
Sức cản chính diện
là khí động lực học Chúng được mô hình hóa bằng lực cản chính diện và lực nâng
Độ lớn của lực nâng phải lớn hơn hoăc bằng độ lớn của trọng lực để giữ máy bay trên không trung
Thông tin nghề nghiệp
Có rất nhiều nghề trong ngành công
nghiệp ô tô, như kĩ thuật viên thử
nghiệm hay kĩ sư chuyên nghiệp
trong các vụ thử tai nạn xe
Vai trò của họ là đưa ra những tình
huống cho ô tô – người mô hình dựa
vào các mô phỏng trên máy tính hay
các vụ thử tai nạn Bằng cách phân
tích các kết quả thu được, họ đảm bảo
sự thoải mái cũng như xác nhận khả
năng chống chịu của vật liệu và góp
phần giúp xe ô tô an toàn hơn