1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học phần điện học vật lí 11 trung học phổ thông

178 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 8,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học phần Điện học Vật lí 11.. Với môn khoa học thực nghiệm như môn vật lí thì việc tích hợp giáo dục A

Trang 1

Lâm Hu ệ Phương

LAO ĐỘNG TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐIỆN HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 2

Lâm Hu ệ Phương

LAO ĐỘNG TRONG DẠY HỌC PHẦN ĐIỆN HỌC

Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGÔ DIỆU NGA

Thành ph ố Hồ Chí Minh, 2015

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2015

Lâm Huệ Phương

Trang 4

Đầu tiên tôi chân thành cám ơn TS Ngô Diệu Nga đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài nghiên cứu

Tôi chân thành cám ơn các Thầy Cô giảng viên đã tham gia giảng dạy lớp Lý

luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí khóa 24, đã chia sẻ cho tôi và các bạn cùng lớp những kiến thức chuyên ngành thật quý giá trong suốt quá trình học tập Tôi chân thành cám ơn các cán bộ phụ trách phòng Sau đại học của trường Đại

học Sư phạm Tp.HCM đã hỗ trợ việc học tập của chúng tôi trong suốt thời gian qua Tôi chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, các đồng nghiệp tại trường THPT Tam Phú đã hỗ trợ, khích lệ để tôi vừa đảm bảo công tác giảng dạy vừa hoàn thành việc học

tập

Tôi chân thành cám ơn các bạn học viên lớp Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Vật lí khóa 24 đã cùng tôi tạo thành các nhóm học tập tích cực, chia sẻ kiến thức

và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin cám ơn gia đình đã luôn hỗ trợ tôi trong công việc, trong học

tập và cuộc sống

Lâm Huệ Phương

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO D ỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG DẠY H ỌC VẬT LÍ 5

1.1 Tổng quan về an toàn vệ sinh lao động 5

1.1.1 An toàn lao động 5

1.1.2 Vệ sinh lao động 5

1.1.3 Tai nạn lao động 6

1.2 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động 9

1.2.1 Quan niệm về giáo dục an toàn vệ sinh lao động 9

1.2.2 Phương pháp giáo dục an toàn vệ sinh lao động 10

1.3 Dạy học tích hợp 11

1.3.1 Khái niệm tích hợp 11

1.3.2 Quan niệm về dạy học tích hợp 11

1.3.3 Các đặc trưng của dạy học tích hợp 13

1.3.4 Các kiểu tích hợp 13

1.3.5 Tác dụng của dạy học tích hợp 15

1.4 Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 15

1.4.1 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí 15

1.4.2 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học Vật lí 39

1.5 Thực trạng giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở trường THPT 40

1.5.1 Thực trạng về vấn đề an toàn vệ sinh lao động ở Việt Nam 40

1.5.2 Thực trạng giáo dục an toàn vệ sinh lao động ở trường THPT 43

Ti ểu kết Chương 1 48

Trang 6

V ẬT LÍ 11 49

2.1 Mục tiêu cần đạt trong dạy học phần “Điện học” - Vật lí 11 49

2.1.1 Mục tiêu về nội dung kiến thức và mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ năng 49

2.1.2 Mục tiêu tình cảm, thái độ 52

2.2 Mục tiêu tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học phần “Điện học” vật lí 11 53

2.3 Nội dung tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học phần Điện học Vật lí 11 54

2.4 Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học phần Điện học Vật lí 11 56

Ti ểu kết Chương 2 93

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 94

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 94

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 94

3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 94

3.4 Phương pháp thực nghiệm 94

3.4.1 Chọn mẫu thực nghiệm 94

3.4.2 Kiểm tra mẫu trước thực nghiệm 95

3.4.3 Phương pháp thực nghiệm 95

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 95

3.5.1 Cơ sở đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 95

3.5.2 Đánh giá định tính kết quả thực nghiệm sư phạm 96

3.5.3 Đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm 99

Ti ểu kết Chương 3 106

K ẾT LUẬN 107

PH Ụ LỤC

Trang 7

ATVSLĐ : An toàn vệ sinh lao động ATLĐ : An toàn lao động

BHLĐ : Bảo hộ lao động

ĐC : Đối chứng

GV : Giáo viên

HS : Học sinh HKI : Học kỳ 1 SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông Tp.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

TN : Thực nghiệm TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam TNLĐ : Tai nạn lao động THCS : Trung học cơ sở VSLĐ : Vệ sinh lao động

Trang 8

Bảng 1.2 Giá trị lớn nhất cho phép để không làm tim bị ngừng đập đối với

người khỏe 26

Bảng 1.3 Giá trị lớn nhất cho phép để không làm tim bị ngừng đập đối với người yếu 27

Bảng 1.4 Những kêt quả phân tích các tai nạn tùy theo điện áp con người chịu đựng 28

Bảng 1.5 Điện trở suất của các phần khác nhau của cơ thể con người 28

Bảng 1.6 Thời gian tác động của dòng điện phụ thuộc điện áp tiếp xúc 30

Bảng 1.7 Tỷ lệ tai nạn chết người khi các đường đi của dòng điện khác nhau 30

Bảng 1.8 Phân lượng dòng điện đi qua tim 31

Bảng 1.9 Trị số dòng điện gây tác hại lên cơ thể con người 32

Bảng 1.10 Kết quả khảo sát giáo viên 43

Bảng 1.11 Kết quả khảo sát học sinh 46

Bảng 3.1 Bảng kết quả điểm Bài kiểm tra trước thực nghiệm 99

Bảng 3.2 Bảng các tham số điểm Bài kiểm tra trước thực nghiệm 99

Bảng 3.3 Bảng kiểm định T – Test điểm Bài Kiểm tra trước thực nghiệm của lớp TN và lớp ĐC 100

Bảng 3.4 Bảng kết quả điểm Bài thi HKI 100

Bảng 3.5 Bảng các tham số điểm Bài thi HKI 102

Bảng 3.6 Bảng kiểm định T – Test điểm thi HKI của lớp TN và lớp ĐC 102

Bảng 3.7 Bảng thống kê điểm thi HKI môn Vật lí của lớp TN và ĐC so với khối 11 trường THPT Tam Phú 102

Bảng 3.8 Bảng kết quả điểm Bài Kiểm tra sau thực nghiệm 103

Bảng 3.9 Bảng các tham số điểm Bài kiểm tra sau thực nghiệm 105

Bảng 3.10 Bảng kiểm định T – Test điểm Bài Kiểm tra sau thực nghiệm của lớp TN và lớp ĐC 105

Trang 9

nạn lao động , bệnh nghề nghiệp…có liên quan đến điện do bất cẩn, thiếu hiểu biết, do điều kiện lao động còn hạn chế Những hiện tượng này không những tồn tại trong lao động sản xuất mà còn xảy ra trong sinh hoạt tại gia đình, trong trường học kể cả ở nông thôn lẫn thành thị Trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động sản xuất chúng ta

sẽ đối diện với những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, chất lượng cuộc sống, thiệt

hại về kinh tế, môi trường, thiệt hại về người nếu không thực hiện triệt để các biện pháp vệ sinh, an toàn về điện

Giáo dục an toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) về điện là việc làm rất cần thiết

để xây dựng cơ sở cho nhận thức và hành vi của mỗi cá nhân nhằm mục đích đảm bảo

an toàn cho bản thân cũng như cộng đồng Giáo dục ATVSLĐ về điện là một trong

những biện pháp hữu hiệu giúp con người nhận thức đúng để tiến hành các hoạt động

của cuộc sống đạt hiệu quả tốt, an toàn, chất lượng

Bên cạnh những biện pháp xử lý hành chính khi vi phạm ATVSLĐ về điện thì

việc giáo dục ATVSLĐ về điện cho mọi tầng lớp trong xã hội là việc cấp thiết

Thực tế trong chương trình giáo dục ở các trường phổ thông, nội dung giáo dục ATVSLĐ về điện còn chưa thật sự mang lại hiệu quả Việc đưa nội dung giáo dục ATVSLĐ về điện vào chương trình giáo dục phổ thông là một chiến lược lâu dài, bằng nhiều biện pháp, phương pháp và cách thức Trong đó, biện pháp tích hợp giáo dục ATVSLĐ về điện trong giảng dạy là biện pháp vừa đảm bảo cung cấp đủ kiến thức cơ

bản, vừa thực hiện được mục đích giáo dục ATVSLĐ về điện

Với môn khoa học thực nghiệm như môn vật lí thì việc tích hợp giáo dục ATVSLĐ về điện là một thuận lợi trong việc lồng ghép những nội dung ATVSLĐ về

Trang 10

điện, qua đó vừa khai thác tiếp cận kiến thức nền tảng về điện đồng thời tích hợp giáo

dục ATVSLĐ về điện, có liên hệ với thực tế nhằm làm cho tiết học sinh động hơn, có

ý nghĩa thực tiễn hơn Việc này góp phần giúp cho giáo viên (GV) và học sinh (HS) từ

đó lan tỏa cả cộng đồng có thêm kiến thức ATVSLĐ về điện, giúp chúng ta có ý thức,

có thái độ đúng về ATVSLĐ trong lĩnh vực điện

Với những lí do trên, tôi chọn đề tài “Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động

trong d ạy học phần “Điện học” vật lí 11 Trung học phổ thông” làm đề tài nghiên

cứu

2 M ục đích nghiên cứu

Nghiên cứu hệ thống quan điểm lý luận về giáo dục ATVSLĐ và việc tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học Vật lí để thiết kế được một số phương án dạy học

tích hợp giáo dục ATVSLĐ phần “Điện học” vật lí 11

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các cơ sở lý luận của đề tài:

+ Tổng quan về ATVSLĐ

+ Giáo dục ATVSLĐ

+ Dạy học tích hợp

+ Tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học phần “Điện học” vật lí 11

- Khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng giáo dục ATVSLĐ trong dạy học vật lí ở trường phổ thông

- Tìm hiểu nội dung các bài dạy phần “Điện học” vật lí 11 để nêu ra các kiến thức liên quan đến ATVSLĐ

- Thiết kế một số phương án dạy học phần “Điện học” vật lí 11 theo hướng tích

hợp giáo dục ATVSLĐ

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của các phương án

dạy học đã thiết kế

- Rút ra những nhận xét, sơ bộ đánh giá hiệu quả của các phương án dạy học đối

với việc nâng cao hiểu biết và ý thức giữ gìn ATVSLĐ về điện của HS sau khi học tập

Trang 11

4 Khách th ể và đối tượng nghiên cứu

Việc tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học phần “Điện học” Vật lý 11 ở trường trung học phổ thông (THPT)

4.2 Đối tượng nghiên cứu

+ Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học

6 Giả thuyết khoa học

Nếu nghiên cứu, lựa chọn được nội dung các bài học phần “Điện học” vật lí 11

và khai thác các phương tiện dạy học để thiết kế các phương án dạy học có tích hợp giáo dục ATVSLĐ thì không những giúp cho HS chiếm lĩnh được kiến thức vật lí mà còn có ý thức vận dụng kiến thức vào việc giữ gìn ATVSLĐ về điện

7 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong

dạy học phần “Điện học” Vật lí 11

- Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành ở lớp 11A7 và 11A8 trường THPT Tam Phú, quận Thủ Đức, Tp HCM

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

văn bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia

Trang 12

- Nhóm phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy học thực nghiệm Từ

đó phân tích, so sánh hoạt động nhận thức của HS lớp học đối chứng (ĐC) và lớp học

Đề tài nêu được sự cần thiết của việc tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học

phần Điện học vật lí 11 phổ thông Đồng thời hệ thống hóa được cơ sở lý luận về cách thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học phần Điện

học vật lí 11

9.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo cho việc tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học phần “Điện học” vật lí 11

Cách dạy học tích hợp giáo dục ATVSLĐ trong dạy học phần “Điện học” vật lí

11 đem lại hứng thú học vật lí và ý thức vận dụng kiến thức vào việc giữ gìn ATVSLĐ

về điện cho HS

10 C ấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,

luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí

Chương 2: Thiết kế các phương án dạy học tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động phần “Điện học” Vật lí 11

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG

TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1.1 Tổng quan về an toàn vệ sinh lao động

1.1.1 An toàn lao động

An toàn lao động (ATLĐ) : chỉ việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gây thương tích đối với cơ thể, gây tử vong hoặc tác động xấu đến sức khỏe

của người lao động [ ]4

Trong các ngành khác nhau, có những hệ thống bảo đảm ATLĐ riêng biệt Nói đến ATLĐ là đề cập đến các mặt:

+ An toàn của quá trình sản xuất: Tính chất của quá trình sản xuất đảm bảo được tình trạng an toàn trong suốt thời gian quy định khi thực hiện các thông số đã cho (theo tiêu chuẩn Việt Nam-TCVN)

+ An toàn của thiết bị sản xuất: Tính chất của thiết bị đảm bảo được tình trạng

an toàn khi thực hiện các chức năng đã quy định trong những điều kiện xác định và trong suốt thời gian qui định (TCVN)

+ An toàn và sức khỏe nghề nghiệp: Là mục đích của công tác bảo hộ lao động (BHLĐ) đảm bảo an toàn và sức khỏe người lao động trong lao động

+ An toàn bức xạ: Trạng thái bức xạ có tính chất, thông số đảm bảo được an toàn cho con người và môi trường (TCVN)

1.1.2 Vệ sinh lao động

Vệ sinh lao động (VSLĐ) : chỉ việc ngăn ngừa bệnh tật do những chất độc hại tiếp xúc trong quá trình lao động gây ra đối với nội tạng hoặc gây tử vong cho người lao động [ ]4

ATLĐ và VSLĐ là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm ATLĐ và VSLĐ nhằm ngăn ngừa tai nạn lao động (TNLĐ), bệnh nghề nghiệp và

cải thiện điều kiện lao động cho người lao động Trong lao động sản xuất, người lao động thường phải tiếp xúc với những yếu tố có hại cho sức khỏe, cụ thể như sau:

Trang 14

- Các yếu tố liên quan đến quá trình sản xuất bao gồm: Điều kiện vi khí hậu, bức xạ điện từ, các chất phóng xạ và các tia phóng xạ, tiếng ồn và chấn động, bụi và các chất độc phát sinh trong quá trình sản xuất, vi khuẩn và siêu vi khuẩn gây bệnh, ký sinh trùng và nấm mốc gây bệnh

- Các yếu tố liên quan đến tổ chức lao động: Thời gian làm việc liên tục, quá lâu, làm thông ca; cường độ lao động quá căng thẳng, chế độ làm việc và nghỉ ngơi bố trí không hợp lý, làm việc với tư thế gò bó, không thoải mái; sự hoạt động quá độ của các

hệ thống và giác quan người, công cụ sản xuất không phù hợp với cơ thể

- Các yếu tố liên quan đến điều kiện vệ sinh và an toàn: Thiếu ánh sáng, bố trí ánh sáng không hợp lý; nơi làm việc chật chội, thiếu ngăn nắp, thiếu thiết bị thông gió,

chống bụi, chống nóng, chống lạnh, chống hơi khí độc; thiếu trang bị phòng hộ lao động; không thực hiện nghiêm chỉnh các quy tắc ATVSLĐ

- Yếu tố liên quan đến chức phận hoạt động tâm sinh lý: lao động thể lực quá sức,

nhịp điệu lao động khẩn trương hoặc do tính đơn điệu phải lặp đi lặp lại nhiều lần các động tác như nhau

Để hạn chế, loại trừ các yếu tố tác hại, cần thực hiện các biện pháp chủ yếu như:

biện pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp kỹ thuật vệ sinh, sử dụng các phương tiện bảo

vệ người lao động, biện pháp tổ chức lao động khoa học, biện pháp y tế bảo vệ sức

khỏe trong từng ngành nghề, công việc lao động cụ thể

1.1 3 Tai nạn lao động

Tai nạn lao động : là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào

của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền

với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [ ]6

Trang 15

b) Theo tính chất tai nạn

- Tai nạn cá nhân

- Tai nạn tập thể: là tai nạn có trên 3 người cùng do một nguyên nhân, ở cùng một

chỗ và cùng một thời gian

Do quy trình công nghệ không thích hợp; do tổ chức; nơi làm việc quá chật hẹp; do

chủ quan, thiếu cẩn tắc Ngoài ra còn do vi phạm những yêu cầu về vệ sinh công nghiệp, thiếu các biện pháp an toàn, điều kiện khí hậu không phù hợp với tiêu chuẩn

vệ sinh, thiếu trang bị phòng hộ cho người lao động

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đối với người lao động [ ]6

Người lao động có thể bị bệnh nghề nghiệp phải được hưởng chế độ bảo hiểm nên

mỗi quốc gia đã qui định những bệnh nghề nghiệp có ở nước mình và ban hành chế độ

bảo hiểm bệnh nghề nghiệp

Đến ngày 01/01/2015 có 30 bệnh nghề nghiệp được Nhà nước công nhận và được chi trả chế độ bảo hiểm y tế Nội dung chi tiết được nêu cụ thể trong các văn bản Thông tư Liên bộ số 08/TTLB, Thông tư Liên bộ số 29/TT-LB, Quyết định số 167/BYT-QĐ, Quyết định số 27/2006/QĐ-BYT, Thông tư số 42/2011/TT-BYT, Thông tư số 44/2013/TT-BYT và Thông tư số 36/2014/TT-BYT

Bảng 1.1 Danh mục 30 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm

STT Tên các b ệnh phân theo nhóm Ban hành t ại

văn bản Nhóm I: Các b ệnh bụi phổi và phế quản

1 1 Bệnh bụi phổi - Silic nghề nghiệp (BP-silic) 08/TTLB

2 2 Bệnh bụi phổi Atbet (amiăng) (BP-amiăng) 08/TTLB

3 3 Bệnh bụi phổi bông (BP-bông) 29/TTLB

4 4 Bệnh viêm phế quản mãn tính nghề nghiệp (viêm 167/BYT-QĐ

Trang 16

PQ- NN)

5 5 Bệnh hen phế quản nghề nghiệp 27/2006/QĐ-BYT

6 6 Bệnh bụi phổi-Talc nghề nghiệp 44/2013/TT-BYT

7 7 Bệnh bụi phổi - than vào bệnh nghề nghiệp 36/2014/TT-BYT

Nhóm II: Các b ệnh nhiễm độc nghề nghiệp

11 4 Bệnh nhiễm độc mangan, hợp chất của mangan 08/TTLB

12 5 Bệnh nhiễm độc TNT (trinitro toluen) 29/TTLB

13 6 Bệnh nhiễm độc asen và hợp chất asen 167/BYT-QĐ

14 7 Bệnh nhiễm độc nicotin nghề nghiệp 167/BYT-QĐ

15 8 Bệnh nhiễm độc hoá chất trừ sâu nghề nghiệp 167/BYT-QĐ

16 9 Bệnh nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp 27/2006/QĐ-BYT

17 10 Bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp 42/2011/TT-BYT

Nhóm III:Các b ệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lí

18 1 Bệnh do quang tuyến X và các chất phóng xạ 08/TTLB

19 2 Bệnh điếc do tiếng ồn (điếc nghề nghiệp) 08/TTLB

20 3 Bệnh rung chuyển nghề nghiệp 29/TTLB

21 4 Bệnh giảm áp mãn tính nghề nghiệp 167/BYT-QĐ

22 5 Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân 42/2011/TT-BYT

Nhóm IV: Các b ệnh da nghề nghiệp

Trang 17

23 1 Bệnh sạm da nghề nghiệp 29/TTLB

24 2 Bệnh loét da, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm

25 3 Bệnh nốt dầu nghề nghiệp 27/2006/QĐ-BYT

26 4 Bệnh viêm loét da, viêm móng và xung quanh

móng nghề nghiệp 27/2006/QĐ-BYT

Nhóm V: Các b ệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp

27 1 Bệnh lao nghề nghiệp 29/TTLB

28 2 Bệnh viêm gan virút nghề nghiệp 29/TTLB

29 3 Bệnh do xoắn khuẩn leptospira nghề nghiệp 29/TTLB

30 4 Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp 42/2011/TT-BYT

1.2 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động

1.2.1 Quan niệm về giáo dục an toàn vệ sinh lao động

Giáo dục ATVSLĐ làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được kiến thức về ATVSLĐ, cũng như ảnh hưởng của TNLĐ và bệnh nghề nghiệp đến sức khỏe và đời

sống con người Từ đó hình thành những kỹ năng tham gia tích cực, hiệu quả trong phòng ngừa cũng như giải quyết các vấn đề về ATVSLĐ

Giáo dục ATVSLĐ là một quá trình thường xuyên và lâu dài thông qua đó con người nhận thức được ý nghĩa của ATVSLĐ với sức khỏe con người, có ý thức thực

hiện triệt để ATVSLĐ trong cuộc sống

Mục tiêu giáo dục ATVSLĐ trong nhà trường THPT là

* Kiến thức:

- Hiểu biết về các vấn đề ATVSLĐ

- Hiểu biết các nguyên nhân gây ra các yếu tố nguy hiểm và có hại thường gây tai

nạn nói chung và trong môi trường dạy học nói riêng

- Hiểu biết về các biện pháp phòng chống tai nạn, xử lý tai nạn và bảo vệ sức

khỏe nói chung và trong môi trường dạy học nói riêng

Trang 18

* Kỹ năng:

- Kỹ năng phát hiện vấn đề về ATLĐ và VSLĐ trong đời sống và trong học tập

- Kỹ năng và hành động cụ thể để đảm bảo ATLĐ và VSLĐ cho con người và môi trường trong đời sống và trong học tập

- Kỹ năng ứng xử và giải quyết kịp thời và hợp lý đối với các trường hợp mất ATLĐ và VSLĐ xảy ra trong đời sống và trong học tập

- Tuyên truyền, vận động thực hiện ATLĐ và VSLĐ trong gia đình, nhà trường,

- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các chủ đề tự chọn

- Thông qua hoạt động ngoại khóa

* Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp liên quan, điều tra khảo sát

- Phương pháp thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề

- Phương pháp dạy học thực nghiệm

- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa nhà trường và cộng đồng địa phương trong hoạt động về giáo dục ATVSLĐ

Trang 19

1.3 Dạy học tích hợp

1.3.1 Khái niệm tích hợp

- Theo từ điển tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” có nghĩa là sự hợp nhất

hoặc được hợp lại, sự hội nhập

- Trong lĩnh vực khoa học giáo dục, theo Dương Tiến Sỹ: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức (khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó”

- Theo từ điển Giáo dục học: “ Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên

cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng

một kế hoạch dạy học”

1.3.2 Quan niệm về dạy học tích hợp

Trên thế giới, dạy học tích hợp đã trở thành một xu hướng sư phạm hiện đại Dạy

học tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình dạy học: Đó là toàn thể các quá trình

học tập góp phần hình thành ở người học những năng lực cụ thể có dự tính trước

những điều kiện cần thiết cho người học, khả năng phối hợp những kiến thức riêng rẽ

đã học, thành một hệ thống kiến thức được kết hợp một cách thống nhất có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Khải từ góc độ lý luận dạy học “ Dạy học tích hợp tạo

ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển năng lực của

HS Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, HS sẽ phát huy được năng lực, phát triển tư duy sáng tạo Dạy học tích hợp các khoa học sẽ làm giảm trùng lặp nội dung dạy học các môn học, việc xây dựng chương trình các môn học theo hướng này,

có ý nghĩa quan trọng làm giảm tình trạng quá tải nội dung học tập, đồng thời hiệu quả

dạy học được nâng lên Nhất là trong bối cảnh hiện nay, do đòi hỏi của xã hội, nhiều tri thức cần thiết đều muốn đưa vào nhà trường”

Theo Xavier Roegiers “ Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập

Trang 20

HS vào cuộc sống lao động Như vậy, sư phạm tích hợp nhằm làm cho quá trình học

tập có ý nghĩa”

Các quan niệm trên nêu rõ mục đích của dạy học tích hợp là hình thành và phát triển năng lực của người học, đồng thời cũng nêu rõ các thành phần tham gia tích hợp

là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học

Như vậy có thể xem dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các thành

phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong đời sống

để hình thành năng lực của người học

Những năm 1970 vấn đề dạy học tích hợp đã được nghiên cứu và thử nghiệm với

những mức độ khác nhau, chủ yếu ở bậc tiểu học và trung học cơ sở (THCS ) Trước

đó, tinh thần dạy học tích hợp chỉ mới thực hiện ở những mức độ thấp như liên hệ,

phối hợp các kiến thức, kỹ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề Tuy nhiên, việc nghiên cứu và giảng dạy tích hợp các khoa học ở nước ta đến nay vẫn chưa phổ biến.Từ những năm 2000 cho đến nay, xu hướng dạy

học tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu áp dụng vào đổi mới chương trình đào

tạo nghề và đã có nhiều môn học, cấp học quan tâm vận dụng phương pháp dạy học tích hợp vào quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy và học

Trong thời gian qua, dạy học tích hợp đã được áp dụng và phổ biến khá rộng rãi nhưng hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề tranh cãi về dạy học tích hợp Thực tế hiện nay GV đang thử nghiệm theo những cách hiểu riêng với những mức độ cụ thể khác nhau về dạy học tích hợp

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam khi dạy học tích hợp, các GV sử dụng phương pháp dạy học để thực hiện nội dung dạy học được tích hợp trong chương trình theo mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp bộ phận), hoặc tích hợp toàn phần Trong xây

dựng sách giáo khoa (SGK ) các môn học, các tác giả đã từng bước tích hợp các nội dung liên hệ với thực tế cuộc sống trong nội dung kiến thức các môn học để thực hiện

mục tiêu giáo dục, tuy nhiên vẫn sơ sài và chưa thể phù hợp với mọi đối tượng HS Do

đó, trong quá trình dạy học, GV phải tự nghiên cứu thêm các tài liệu, thông tin, tìm nội dung thích hợp để tích hợp vào bài dạy nhằm làm cho nội dung bài học phong phú, thiết thực, gần gũi hơn với cuộc sống

Trang 21

1.3.3 Các đặc trưng của dạy học tích hợp

- Tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa: bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà người học sẽ gặp sau này, hòa

nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống Cần phải đặt toàn bộ các quá trình học

tập vào một tình huống có ý nghĩa đối với HS

- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn: Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản

cần cho người học vận dụng vào xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống,

hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể: thay vì nhồi nhét cho người học nhiều kiến thức lý thuyết đủ

loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho người học vận dụng các kiến thức kỹ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này

- Tìm cách làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt: thông qua các năng

lực hình thành cho HS, một mục tiêu tích hợp cho mỗi năm học (trong một môn học hay một nhóm các môn học)

- Thường tìm tòi sự soi sáng của nhiều môn học: sự đóng góp của mỗi môn học là thực

sự chính đáng, cần lưu ý đến việc lựa chọn thông tin cần cung cấp cho HS tùy thuộc vào loại tình huống trong đó HS cần huy động kiến thức, tránh làm cho HS bị chìm

ngập trong khối lượng lớn thông tin với lý do các thông tin này ít nhiều có quan hệ với tình huống phải giải quyết

- Sự cố gắng vượt lên trên các nội dung môn học: các nội dung chỉ đáng chú ý khi chúng được huy động trong các tình huống

1.3.4 Các kiểu tích hợp

Theo D’Hainaut (1977, xuất bản lần 5, 1988 ) có thể chấp nhận 4 quan điểm khác nhau đối với các môn học:

- Quan điểm “ trong nội bộ môn học”: trong đó chúng ta ưu tiên các nội dung của môn

học Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ

- Quan điểm“đa môn”: thực chất là những tình huống, những đề tài được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, nghĩa là theo những môn học khác nhau

- Quan điểm “ liên môn”: trong dạy học những tình huống chỉ có thể được tiếp cận hợp

lý qua sự soi sáng của nhiều môn học Ở đây ta nhấn mạnh đến sự liên kết các môn

Trang 22

học, làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trước: các quá trình học tập sẽ không được đề cập một cách rời rạc mà phải liên kết với nhau xung quanh vấn đề cần giải quyết

- Quan điểm “ xuyên môn”: có thể phát triển những kỹ năng mà HS có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống, chẳng hạn nêu một giả thuyết, đọc các thông tin, giải một bài toán Những kỹ năng này ta gọi là những kỹ năng xuyên môn Có thể lĩnh hội những kỹ năng này trong từng môn học hoặc nhân dịp có

những hoạt động chung cho nhiều môn học

1.3.4.1.Tích hợp nội dung

Nội dung tích hợp bao gồm sự liên kết các mạch nội dung trong đó có các chủ đề, chủ điểm quanh chúng quy tụ những yếu tố nội dung tuyển chọn từ những lĩnh vực khác nhau, có tính ứng dụng cao, nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục, mà lại giảm tải được chương trình

1.3.4.2 Tích hợp môn học

Tích hợp các bộ môn trong giáo dục là sự phản ánh trình độ phát triển cao của các ngành khoa học vào trong nhà trường, đồng thời cũng là đòi hỏi tất yếu của nhiệm

vụ nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục.Tích hợp các bộ môn trong

dạy học không những làm cho người học có tri thức bao quát, tổng hợp hơn về thế giới khách quan, thấy rõ hơn mối quan hệ và sự thống nhất của nhiều đối tượng nghiên cứu khoa học trong những chỉnh thể khác nhau, đồng thời còn bồi dưỡng cho người học các phương pháp học tập, nghiên cứu có tính logic biện chứng làm cơ sở đáng tin cậy

để đi đến những hiểu biết, những phát hiện có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn hơn Tích hợp các bộ môn còn có tác dụng tiết kiệm thời gian vì loại bỏ được nhiều điều trùng lặp trong nội dung và phương pháp dạy học của những bộ môn gần nhau

Theo Xavier, có thể nhận ra hai nhóm lớn trong những cách tích hợp các môn

học:

* Đưa ra những ứng dụng chung cho nhiều môn học Những ứng dụng chung này có

thể được giảng dạy:

- Cách tích hợp thứ nhất: Cuối năm học trong một đơn nguyên tích hợp

Trang 23

- Cách tích hợp thứ hai: Trong suốt năm học, nhằm giúp HS lập mối liên hệ giữa các

kiến thức đã được lĩnh hội

* Phối hợp các quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau (cách tích hợp này tiến

xa hơn cách tích hợp thứ nhất vì nó dẫn đến hợp nhất hai hay nhiều môn học)

- Cách tích hợp thứ nhất: Sự nhóm lại theo đề tài tích hợp

- Cách tích hợp thứ hai: Tích hợp các môn học xung quanh những mục tiêu chung cho nhiều môn học

1.3.5 Tác dụng của dạy học tích hợp

- Hướng người học vào nhiệm vụ giải quyết vấn đề, vừa suy nghĩ vừa hành động thực

tế có trọng tâm theo những chủ đề hay công việc rõ ràng

- Tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện hoạt động đa dạng của người học Tạo ra sự tương thích cao giữa khả năng, động cơ hoạt động của người học với mục tiêu dạy học và giao tiếp của họ trong quá trình học tập

- Tạo ra sự phong phú của phương pháp và kỹ năng học tập, các phương thức hoạt động cá nhân, nâng cao tính mục đích của hoạt động cá nhân, đáp ứng trực tiếp nhu

cầu cụ thể của cá nhân trong học tập

- Khuyến khích nhu cầu và khả năng hợp tác, trao đổi, chia sẻ lẫn nhau trong hoạt động và quan hệ nhóm trên cơ sở những nhiệm vụ chung và nhiệm vụ cá nhân kết hợp

với nhau Rèn luyện ý thức và khả năng tự quản, hoạch định, tổ chức, hỗ trợ nhau, tham gia ý kiến và hành động vì công việc chung

- Giúp người học xác lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học

1.4 Tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí

1.4.1 Giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong dạy học vật lí

Trang 24

hiểm tác hại đến cuộc sống, đến an toàn vệ sinh, đến sức khỏe của con người, và thậm chí gây ô nhiễm nặng môi trường Khoa học và công nghệ càng tiến bộ, càng phát triển thì mức độ tác hại đến sức khỏe, đến an toàn, vệ sinh, môi trường càng trở nên tinh vi

và nguy hiểm hơn

Trên thế giới nhất là tại các nước đang phát triển và ngay ở Việt Nam, tình hình TNLĐ không giảm mà thậm chí còn tăng cả về số lượng lẫn mức độ nghiêm trọng; phát sinh nhiều loại bệnh nghề nghiệp phức tạp hơn mà con người phải đối diện

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước quan tâm sâu sắc đến vấn đề ATVSLĐ, trong

Bộ luật Lao động có hẳn một chương với các điều từ 95 đến 108 quy định nghiêm ngặt

về vấn đề ATVSLĐ Bên cạnh đó Nhà nước phát động tổ chức Tuần lễ Quốc gia về ATVSLĐ - phòng chống cháy nổ hàng năm (Công văn số 3263/LĐTBXH – BHLĐ ngày 24/9/1999 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Công văn số 1582/TLĐ ngày 12/11/1999 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam), thực hiện một tuần vào tháng 3 hàng năm

Bên cạnh việc ban hành, hoàn hiện các văn bản pháp quy, chế độ, chính sách về BHLĐ, thực hiện những biện pháp nhằm ngăn ngừa TNLĐ, bệnh nghề nghiệp, thì việc tác động đến người lao động giúp họ có ý thức, có thói quen nghiêm túc thực hiện, tự giác chấp hành các quy định về ATVLĐ là rất quan trọng Do đó, nếu kết hợp đưa việc giáo dục ATVSLĐ vào trong nhà trường sẽ rất hợp lý và thuận lợi Việc giáo dục cho

HS vấn đề ATVSLĐ sẽ giúp các em có kiến thức, kỹ năng, có thái độ đúng đắn về ATVSLĐ khi các em trở thành người tham gia lao động sản xuất sau này

Kết hợp giáo dục ATVSLĐ cho HS thông qua các môn học, trong đó có môn Vật

lí dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú Lĩnh vực Vật lí có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống, gắn liền với quá trình lao động sản xuất của con người Không chỉ trong lao động sản xuất, mà trong cuộc sống hàng ngày ngay cả trong quá trình dạy học Vật lí, GV và HS luôn phải tiến hành các thí nghiệm về cơ, nhiệt, điện, quang v.v cường độ dòng điện lớn có thể gây bị điện giật; phóng điện gây bỏng Ở khía cạnh khác, việc học tập của các HS trong suốt 4 đến 5 tiết học/ ngày, trong tư thế

ngồi ở bàn học, trong điều kiện không khí, ánh sáng của lớp học, nếu không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh đều ảnh hưởng đến sức khỏe, gây nên bệnh tật Đối với môn Vật lí,

Trang 25

thông qua các hiện tượng, các quá trình vật lí, HS được trang bị kiến thức, kỹ năng về

bộ môn và nếu kết hợp giáo dục ATVSLĐ các em sẽ học được kiến thức, kỹ năng, có thái độ đúng đắn trong việc đảm bảo an toàn bản thân, giữ vệ sinh cơ thể và môi trường, từ đó lan tỏa rộng hơn đến gia đình, xã hội

* Hình thành hệ thống kiến thức về ATVSLĐ

- Hình thành hệ thống kiến thức cụ thể về ATVSLĐ quy định trong hệ thống văn

bản quy phạm pháp luật, bao gồm:

+ Các quy định về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng lao động và của người

lao động đối với ATLĐ và VSLĐ

+ Các quy định về điều kiện lao động và các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao

động

+ Các quy định về các biện pháp cải thiện điều kiện lao động, phòng chống tai

nạn và bảo vệ sức khỏe cho người lao động

+ Các quy định xử phạt về hành vi vi phạm pháp luật ATVSLĐ

- Hình thành hệ thống kiến thức cụ thể về ATVSLĐ có liên quan đến nội dung

chương trình Vật lí phổ thông

+ Các yếu tố nguy hiểm, có hại trong môi trường vật lí

+ Các biện pháp phòng chống tai nạn, xử lý tai nạn và bảo vệ sức khỏe trong

môi trường vật lí

* Hình thành và phát triển kỹ năng liên quan đến ATVSLĐ trong dạy học Vật lí

- Có kỹ năng phát hiện vấn đề về ATVSLĐ trong đời sống và trong học tập

- Có hành động cụ thể để đảm bảo ATVSLĐ cho con người và môi trường trong

đời sống và trong học tập

- Có kỹ năng ứng xử và giải quyết kịp thời và hợp lý đối với các trường hợp mất

ATVSLĐ xảy ra trong đời sống và trong học tập

-Tuyên truyền, vận động thực hiện ATVSLĐ trong gia đình, nhà trường, xã hội

* Xây dựng thái độ đúng về ATVSLĐ

Trang 26

- Có nhận thức đúng về sự cần thiết đảm bảo ATVSLĐ trong đời sống và trong

dạy học (học tập) vật lí

- Có các suy nghĩ để hành động đúng đắn về ATVSLĐ trong đời sống và trong

dạy học (học tập) vật lí

- Tuyên truyền, vận động mọi người hiểu và hành động đúng về ATVSLĐ trong

đời sống xã hội và trong học tập

- Ủng hộ, chủ động tham gia các hoạt động ATVSLĐ, phê phán hành vi gây hại cho sức khoẻ của con người trong cộng đồng

Chương trình Vật lí phổ thông bao gồm các lĩnh vực : Cơ, Nhiệt, Điện, Quang, Vật

lí hạt nhân Các lĩnh vực này đóng góp kiến thức nền tảng trong quá trình hình thành phát triển Khoa học Kỹ thuật, phát triển Công nghệ, phát triển sản xuất Trong dạy

học Vật lí phổ thông, các nội dung giáo dục ATVSLĐ là những vấn đề về các yếu tố nguy hiểm, có hại trong lao động sản xuất, trong cuộc sống hàng ngày, liên quan đến các quá trình cơ, nhiệt, điện, quang, vật lí hạt nhân, từ đó đề cập các biện pháp ngăn

ngừa, phòng tránh, xử lý khi gặp tai nạn Cụ thể:

- Cơ học: Các chuyển động, vận hành máy móc thiết bị, xây dựng, cầu đường

- Nhiệt học:Các thiết bị truyền nhiệt, quá trình truyền nhiệt, luyện kim, đúc, hàn

- Điện học: Sản xuất điện, truyền tải điện, sử dụng điện

- Quang học: Các thiết bị chiếu sáng, quá trình truyền ánh sáng, truyền các bức xạ

- Vật lí hạt nhân nguyên tử: Các tia phóng xạ, phân hạch, nhiệt hạch

Vi khi hậu tại nơi làm việc là tổng hợp các yếu tố vật lí của không khí trong khoảng không gian nơi làm việc có liên quan đến sức khỏe và năng suất lao động Các

yếu tố vi khí hậu bao gồm:

- Nhiệt độ: Nguồn sinh nhiệt chính: bức xạ mặt trời, nguồn nhân tạo, tỏa nhiệt của

cơ thể người

Trang 27

Nhiệt độ tại chỗ làm việc cao hay thấp, thích hợp với cơ thể con người hay không tùy thuộc vào nhiệt độ không khí ngoài trời và phụ thuộc vào các hiện tượng phát nhiệt của quá trình sản xuất Nhiệt độ quá nóng làm chúng ta cảm thấy khó chịu

và làm giảm hiệu quả làm việc Nhiệt độ quá lạnh gây cảm giác tê cóng, khó vận động,

dễ sinh chứng đau cơ, viêm đường hô hấp trên, bệnh thấp khớp

Nhiệt độ môi trường thấp dưới 180C cơ thể phải sinh nhiệt để chống lạnh Nhiệt

độ môi trường cao trên 340C, cơ thể phải thải nhiệt bằng cách toát mồ hôi, trao đổi nhiệt (từ da người ra ngoài không khí), bức xạ (khi nhiệt độ trung bình của các bề mặt xung quanh thấp hơn nhiệt độ da người thì cơ thể sẽ phát ra các tia bức xạ Ngược lại khi nhiệt độ của các bề mặt xung quanh cao hơn thì cơ thể sẽ nhận thêm nhiệt bức xạ)

và truyền nhiệt TCVN cho phép nhiệt độ tại nơi làm việc không vượt quá 300C, nơi

sản xuất không quá 400

C; nhiệt độ chênh lệch giữa nơi làm việc và ngoài trời từ 30

-40C

Khi nhiệt độ của nơi làm việc quá thấp có thể dẫn đến bệnh hen phế quản, viêm đường hô hấp trên, bệnh thấp khớp

Khi làm việc trong điều kiện nóng, nhiệt độ của môi trường xung quanh trên

340C thì để cân bằng thân nhiệt, cơ thể người phải tiết nhiều mồ hôi và kèm theo mồ hôi là một lượng muối ăn, muối khoáng và các chất sinh tố khác trong cơ thể, do đó ảnh hưởng toàn diện đến sức khỏe như say nóng, chứng co giật với các triệu chứng như chóng mặt, đau đầu, đau thắt ngực, buồn nôn, ói mửa dẫn đến kiệt sức, hôn mê,

nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ tử vong

- Độ ẩm: trong không khí bao giờ cũng có lượng nước nhất định, lượng nước đó

gọi là độ ẩm, độ ẩm không khí bao gồm: độ ẩm tối đa, độ ẩm tuyệt đối, độ ẩm tương đối

+ Độ ẩm tuyệt đối là áp lực của hơi nước chứa trong không khí được biểu thị

bằng g/m3

không khí

+ Độ ẩm tối đa là lượng nước lớn nhất có thể bão hòa trong 1m3 không khí ở nhiệt độ nhất định

+ Độ ẩm tương đối là tỷ lệ giữa độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm tối đa, biểu thị bằng tỷ

lệ phần trăm (%) chỉ mức bão hòa trong không khí

Trang 28

Sự bay mồ hôi phụ thuộc vào sự bão hòa hơi nước trong không khí, độ bão hòa càng lớn thì lượng mồ hôi bay hơi giảm và ngược lại.Độ ẩm cao làm tăng độ dẫn điện

của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi, khí Độ ẩm ảnh hưởng đến thiết bị sản xuất

và thành phẩm Độ ẩm lớn, nhiệt độ cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh phát triển như: tả, lỵ, thương hàn, nấm mốc Một số vật chủ trung gian truyền bệnh như : muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết cũng phát triển Trong sản xuất, độ ẩm tương đối cho phép từ 75% - 80%

- Vận tốc chuyển động không khí (gió).Trong môi trường lao động thường có hai

- Bức xạ nhiệt: là những hạt năng lượng truyền trong không gian dưới dạng sóng điện từ gồm tia hồng ngoại, tia tử ngoại và tia sáng thường Bức xạ nhiệt do các vật thể kim loại được nung nóng phát ra Khi nung nóng các vật thể kim loại này tới nhiệt độ

5000C sẽ phát ra tia hồng ngoại, nung tới 18000C – 20000C sẽ phát ra cả tia hồng ngoại, tia sáng thường và tia tử ngoại, ở nhiệt độ trên 20000C lượng tia tử ngoại phát ra nhiều hơn

Cường độ bức xạ nhiệt được biểu thị bằng cal/cm2.phút và được đo bằng nhiệt kế

cầu Tiêu chuẩn cho phép là 0,5cal/cm2.phút

Để phòng chống các tác hại của vi khí hậu xấu, có thể thực hiện các biện pháp:

a Ch ống nóng:

- Các biện pháp kỹ thuật:

+ Lắp đặt hệ thống thông gió tự nhiên và thông gió cơ khí để thổi không khí mát

sạch cho các phòng, các nơi làm việc

+ Bố trí các nguồn phát sinh nhiệt lớn cách xa các phòng học, phòng chức năng

và nên đặt cuối hướng gió

Trang 29

+ Cách ly các nguồn nhiệt đối lưu, bức xạ bằng cách dùng các vật liệu cách nhiệt

để bọc xung quanh nguồn nhiệt

+ Cách nhiệt, ngăn bức xạ mặt trời qua mái nhà bằng cách lắp trần nhà nhiều lớp,

giữa các lớp cách nhau từ 80mm đến 100mm hoặc lót lớp giấy, vải cách nhiệt dưới mái nhà và lợp tôn màu sáng để tránh hấp thu nhiệt Các dãy tường, cửa sổ hướng tây

phải có mái nhô ra rộng để che nắng

- Các biện pháp vệ sinh – y tế:

+ Phân bố thời gian dạy, học và nghỉ ngơi hợp lý Bố trí phòng nghỉ giữa giờ thoáng mát cho GV; các ghế đá ngoài sân dưới bóng cây cho HS

+ Lắp đặt hệ thống nước uống cho GV và HS

+ Mặc quần áo may bằng chất liệu thấm hút mồ hôi tốt

Bụi là tập hợp các hạt có kích thước rất nhỏ từ 0,001 μm tới vài chục μm, tồn tại trong không khí

- Bụi hữu cơ có nguồn gốc từ động vật : lông thú, len, tóc…và có nguồn gốc thực

vật : bông, gai, đay, rơm, lúa, gạo, tre, gỗ Bụi của các hóa chất : cao su, thuốc chữa

bệnh, hóa chất diệt trừ sâu bệnh, hóa chất sử dụng trong công nghiệp

- Bụi vô cơ là bụi của các chất kim loại, khoáng chất : bụi than, bụi thạch anh, bụi đất đá, bụi sắt, đồng, kẽm, silic…

- Bụi có kích thước trên 10 μm dễ lắng xuống, không vào được phế nang

- Bụi có kích thước từ 5-10 μm gọi là bụi cơ bản, đọng lại ở nhánh phế quản đường

hô hấp trên (mũi, họng)

Trang 30

- Bụi có kích thước từ 0,5-5 μm gọi là mây, loại bụi này nguy hiểm nhất vì nó dễ chui vào tận phế nang phổi, rồi đọng lại ở phế nang gây xơ hóa phổi Bụi này có tới trên 80% lọt vào phổi

- Bụi có kích thước từ 0,001-0,5 μm gọi là khói Bụi này hình thành từ các vật rắn,

vật lỏng bị nung nóng bốc hơi ngưng tụ lại hoặc phát sinh do đốt cháy các nguyên liệu như : cháy rừng, đun củi, đốt than…

- Các tác hại của bụi :

+ Bụi gây xơ hóa phổi : bụi thạch anh, amiăng…khi xâm nhập vào phổi sẽ gây ra

bệnh xơ hóa phổi rất nguy hiểm, nó làm suy giảm chức năng hô hấp của phổi, giảm

sức khỏe và tuổi thọ con người

+ Bụi gây nhiễm độc chung : bụi chì, thủy ngân, benzen

+ Bụi gây dị ứng, viêm mũi, hen, nổi ban như bụi bông, gai, bụi một số loại gỗ + Bụi gây nhiễm trùng như bụi lông, xương…

+ Bụi gây ung thư như bụi quặng, hợp chất crôm, bụi các chất phóng xạ

+ Bụi gây chấn thương mắt : khi để bụi bắn vào mắt sẽ gây ra các bệnh về mắt, làm giảm thị lực, thậm chí nặng có thể gây mù mắt

- Các biện pháp phòng chống bụi trong môi trường học đường :

+ Giữ vệ sinh sạch sẽ trong khuôn viên trường học, các phòng học, phòng chức năng phải được lau chùi hằng ngày

+ Sử dụng bảng từ, phấn không bụi phục vụ cho hoạt động dạy học của GV và HS + Sử dụng bảng tương tác hoặc hệ thống máy chiếu hỗ trợ hoạt động dạy học của

GV và HS

+ Tổ chức khám sức khỏe hàng năm cho toàn thể cán bộ, GV, công nhân viên và

HS toàn trường

- Ánh sáng thấy được là những bức xạ có bước sóng trong khoảng từ 380nm đến 760nm Mắt con người nhạy với bức xạ đơn sắc màu vàng lục λ = 555nm

- Quang thông ϕ (đơn vị đo là lumen, viết tắt là lm) là đại lượng để đánh giá khả năng phát sáng của vật Quang thông là phần công suất bức xạ của nguồn sáng có khả năng gây ra cảm giác sáng cho thị giác của mắt người

Trang 31

ϕλ = C.Fλ.Vλtrong đó: Fλ : công suất bức xạ đơn sắc λ của vật (đo bằng W)

Vλ : độ sáng tỏ tương đối của ánh sáng đơn sắc λ

C = 638: hằng số (giá trị phụ thuộc đơn vị đo)

- Cường độ sáng: Cường độ sáng là đại lượng đặc trưng cho khả năng phát sáng theo các phương khác nhau của nguồn sáng Cường độ sáng theo phương n là mật độ quang thông bức xạ phân bố theo phương n đó và được kí hiệu là In , được đo bằng tỷ

số giữa vi phân lượng quang thông bức xạ dφ và vi phân góc khối dω theo phương n

K, tức là nhiệt độ đông đặc của platin dưới áp suất 101325N/m2

- Độ rọi E: là đại lượng để đánh giá độ sáng của một bề mặt được chiếu sáng Độ rọi

EM tại điểm M là tỷ số giữa lượng quang thông chiếu đến dϕ trên vi phân diện tích dS được chiếu sáng tại điểm đó

Đơn vị đo độ rọi là Lux (lx ) Lux là độ rọi gây ra do luồng sáng có quang thông 1 lumen chiếu đều trên diện tích 1m2

- Độ chói B là đại lượng để đánh giá độ sáng của một nguồn sáng hay một mặt sáng

Nó là đặc trưng quang học của vật được mắt người trực tiếp thu nhận Đơn vị đo độ chói là nit (viết tắt là nt ) Nit là độ chói của một nguồn sáng diện tích 1m2 có cường

độ 1cd khi ta nhìn thẳng góc với nó Hoặc đo độ chói bằng Stib,

1 Stib = 104 nit

- Quan hệ giữa chiếu sáng và sự nhìn của mắt : Sự nhìn rõ của mắt liên hệ trực tiếp

với những yếu tố sinh lí của mắt Chúng ta cần biết rõ mối liên hệ giữa yếu tố ánh sáng

và khả năng nhìn rõ của mắt Ta phân biệt thị giác ban ngày và thị giác ban đêm

dS d

E M = φ

Trang 32

+ Thị giác ban ngày liên hệ tới sự kích thích của tế bào hữu sắc Khi độ rọi EM ≥10lux thì tế bào hữu sắc cho cảm giác màu sắc và phân biệt chi tiết của vật quan sát

Do đó khi EM ≥ 10lux thì thị giác ban ngày làm việc

+ Thị giác ban đêm liên hệ với sự kích thích tế bào vô sắc, khi độ rọi

EM ≤ 0,01lux thì chỉ có tế bào vô sắc làm việc

+ Khi EM = 0,01 ÷ 10 lux thì cả hai tế bào cùng làm việc

+ Quá trình thích nghi của mắt là thời gian cần thiết để mắt có thể nhìn rõ vật khi chuyển từ trường nhìn có độ sáng này sang trường nhìn có độ sáng khác Thực nghiệm cho thấy, khi mắt chuyển từ trường nhìn sáng sang trường nhìn tối cần từ 15 20 phút

và từ trường nhìn tối sang trường nhìn sáng cần khoảng 8 đến 10 phút mắt mới nhìn

thấy rõ ràng

+ Tốc độ phân giải của mắt: Người ta đánh giá khả năng phân giải của mắt bằng góc nhìn tối thiểu mà mắt có thể nhìn thấy được vật Mắt có khả năng phân giải trung bình, nghĩa là có khả năng nhận biết được 2 điểm khác nhau trên vật dưới góc nhìn

'

1

min =

α trong điều kiện chiếu sáng tốt Trong trường hợp cần phân biệt vật quá nhỏ (

α < αmin) thì cho dù chiếu sáng tốt cũng khó phân biệt được rõ vật, khi đó phải nhờ

sự hỗ trợ của các dụng cụ quang

+ Độ tương phản giữa vật quan sát và nền : Tỷ lệ độ chói giữa vật quan sát và nền

chỉ mức độ khác nhau về cường độ sáng giữa vật quan sát và nền của nó Trong một

phạm vi nhất định thì sự khác nhau càng lớn, nhìn vật quan sát càng rõ Tỷ lệ này được

biểu thị bằng hệ số tương phản

n

n v

B

B B

=

Một vật sáng đặt trên nền tối thì K > 0 và biến thiên từ 0 đến +∞ Giá trị K nhỏ

nhất mà mắt có thể phân biệt được gọi là ngưỡng tương phản và Kmin = 0,01

Độ nhạy tương phản là nghịch đảo của ngưỡng tương phản Nó đặc trưng cho độ

nhạy của mắt khi quan sát Độ nhạy tương phản phụ thuộc vào mắt và độ chói của nền Trong phạm vi giá trị độ chói của nền nhỏ (khoảng 10-3đến 10+3nit ) khi tăng độ chói

của nền thì độ nhạy tương phản tăng khá nhanh và đạt cực đại tại

Trang 33

Bn = 350 nit Nếu tiếp tục tăng Bn thì độ nhạy tương phản lại giảm nhanh vì khi đó độ chói đã gây hiện tượng lóa mắt

Để mắt có thể nhìn rõ vật thì độ chói của nền phải lớn hơn ngưỡng độ chói và độ tương phản thực tế phải lớn hơn giá trị độ tương phản ở ngưỡng thấy nhiều lần (K=8Kmin.)

- Yêu cầu kĩ thuật khi thiết kế hệ thống chiếu sáng trong lớp học:

+ Đảm bảo độ rọi yêu cầu đọc được sách, nhìn được chữ viết trên bảng

+ Hướng của ánh sáng không gây bóng đổ của HS hoặc các kết cấu của lớp học lên bảng hoặc vở HS

+ Tránh tạo ra hiện tượng lóa khi HS nhìn bảng

+ Bề mặt bảng có độ chói cao hơn độ chói của tường, trần lớp học, đảm bảo độ tương phản K ≥ 8Kmin

Để đáp ứng các yêu cầu trên, khi thiết kế lớp học, người ta quan tâm tới hai loại nguồn sáng:

+ Chiếu sáng tự nhiên là sử dụng ánh sáng mặt trời Chiếu sáng tự nhiên thích

hợp với tâm sinh lý con người và rất có lợi cho cảm nhận chính xác về màu sắc các

vật Tuy nhiên, việc sử dụng ánh sáng loại này phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên không ổn định, khó kiểm soát Để khắc phục hạn chế này chúng ta cần kết hợp chiếu sáng lớp học bằng hệ thống đèn điện

+ Chiếu sáng bằng hệ thống đèn điện: Đến nay, nguồn sáng điện chủ yếu gồm hai loại : đèn dây tóc và đèn huỳnh quang Đèn dây tóc phát sáng ổn định, không phụ thuộc nhiệt độ môi trường, có khả năng phát sáng tập trung, cường độ lớn và phát sáng ngay cả khi điện áp thấp hơn nhiều so với điện áp định mức của đèn Ánh sáng do loại đèn này phát ra có quang phổ nằm trong vùng ánh sáng đỏ đến vàng rất phù hợp với tâm sinh lý con người Tuy nhiên, hiệu suất phát quang của loại đèn này thấp và khả năng phát sáng luôn kèm theo bức xạ nhiệt nên hiệu quả kinh tế thấp

Đèn huỳnh quang tạo nguồn sáng nhờ phóng điện trong chất khí Đèn huỳnh quang chiếu sáng dựa trên hiệu ứng quang điện Loại đèn này có hiệu suất phát sáng cao, thời gian sử dụng dài và cho quang phổ phát xạ gần với ánh sáng ban ngày Tuy nhiên, nó chỉ phát quang ổn định khi nhiệt độ môi trường không khí dao động trong

Trang 34

khoảng từ 150C đến 350C Điện áp thay đổi 10% đã làm đèn không sáng được Ngoài

ra ở đèn huỳnh quang còn có hiện tượng quang thông dao động theo tần số của điện áp xoay chiều gây khó chịu khi nhìn, có hại cho mắt

Cùng với đèn điện, thiết bị chiếu sáng còn có thêm các bộ phận như :

+ Bộ phận phản xạ để phản chiếu luồng sáng phát ra vào những hướng nhất định làm tăng hiệu quả chiếu sáng của đèn

+ Bộ phận khuếch tán có nhiệm vụ làm giảm độ chói của nguồn sáng, biến ánh sáng trực tiếp của đèn thành ánh sáng khuếch tán có cường độ nhỏ hơn để hạn chế khả năng gây lóa của đèn

+ Bộ phận khúc xạ nhằm phân bố lại ánh sáng của đèn, làm che tối, ngăn sáng để

mắt không bị lóa

Tùy theo việc sử dụng đèn mà lựa chọn một hay nhiều các bộ phận kể trên

a)Tác d ụng của dòng điện đối với cơ thể người

Sự nguy hiểm do điện giật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố sau : Giá trị dòng điện qua người, đường đi của dòng điện qua người, thời gian điện giật, tình trạng sức khỏe

và thể xác con người, tần số dòng điện, môi trường xung quanh, sự chú ý của người lúc tiếp xúc Giá trị dòng điện đi qua người là yếu tố quan trọng nhất Giá trị dòng điện

phụ thuộc vào hai yếu tố rất quan trọng : điện áp mà người phải chịu và điện trở của cơ

thể người khi tiếp xúc với phần có điện áp

Bảng 1.2 Giá trị lớn nhất cho phép để không làm tim bị ngừng đập đối với người khỏe

Dòng điện (mA) 10 60 90 110 160 250 350 500

Thời gian điện giật

(giây)

30 10-30 3 2 1 0,4 0,2 0,1

Trang 35

Bảng 1.3 Giá trị lớn nhất cho phép để không làm tim bị ngừng đập đối với người yếu

Dòng điện (mA) 50 100 300

Thời gian điện giật

(giây)

1 0,5 0,15 Không nghiên cứu điện giật chết

người đối với thời gian dưới 0,1

giây

Dòng điện không nguy hiểm đối với con người được xem là Ing ≤ 10mA (đối với dòng điện xoay chiều có tần số công nghiệp 40Hz đến 60Hz ) và Ing ≤ 50mA đối với dòng điện một chiều

Dòng điện nguy hiểm để điện giật trầm trọng được tính là Ing ≥ 50mA vừa đối với dòng điện xoay chiều và một chiều

Dự đoán trị số dòng điện đi qua người trong nhiều trường hợp không làm được Điện trở người là một hàm của nhiều biến số mà mỗi biến số này lại phụ thuộc vào các hoàn cảnh khác nhau Vì vậy xác định giới hạn an toàn cho người không dựa vào

“dòng điện an toàn” mà theo “điện áp cho phép” Tiêu chuẩn “điện áp cho phép” mỗi nước một khác, chẳng hạn: Ba Lan, Thụy Sỹ thì “điện áp cho phép” là 50V; Hà Lan,

Thụy Điển “điện áp cho phép” là 24V; Pháp “điện áp xoay chiều cho phép” là 24V; Nga tùy theo môi trường làm việc, “điện áp cho phép” có thể khác nhau 65V, 36V, 12V Ở Việt Nam “điện áp cho phép” là 42V với dòng điện xoay chiều và 110V đối

với dòng điện một chiều

Trang 36

Bảng 1.4 Những kêt quả phân tích các tai nạn tùy theo điện áp con người chịu đựng

(Theo tài liệu mà Liên Xô trước đây đã thống kê) [ ]33

th ời khả năng lao động

Điện giật gây choáng không để

7 1,2 4,3 6,6

Tổng

cộng

174 100,0 660 100,0 1307 100,0

Giá trị điện trở của cơ thể con người không hoàn toàn như nhau đối với tất cả mọi người Ngay đối với một người thì cũng không thể có cùng một điện trở trong những điều kiện khác nhau hay trong những thời điểm khác nhau Để đơn giản, điện trở cơ

thể con người có thể phân thành hai phần : điện trở của da và điện trở của các bộ phận bên trong

Bảng 1.5 Điện trở suất của các phần khác nhau của cơ thể con người

(được đo riêng lẻ, ở điện áp với tần số 50Hz ) [ ]33

Các ph ần được đo Điện trở suất (Ωcm )

Trang 37

Điện trở của người phụ thuộc tuyệt đại đa số vào lớp da, lớp sừng da vì lớp sừng da

rất khô và có tác dụng như chất cách điện Điện trở của cơ thể con người khi điện giật

phụ thuộc vào các yếu tố sau :

+ Điện áp mà cơ thể chịu được

+ Vị trí của cơ thể tiếp xúc với phần tử mang điện áp

+ Diện tích tiếp xúc (diện tích tiếp xúc càng lớn thì điện trở của người bé )

+ Áp lực tiếp xúc (áp lực tiếp xúc càng lớn thì điện trở của người càng bé )

+ Độ ẩm của môi trường xung quanh : càng tăng sẽ tăng mức độ nguy hiểm (độ

ẩm tăng thì độ dẫn điện của lớp da sẽ tăng, điện trở người càng bé Bên cạnh độ ẩm thì

mồ hôi, các chất hóa học dẫn điện, bụi…sẽ tăng độ dẫn điện của da, cuối cùng đưa đến làm giảm điện trở của người )

+ Nhiệt độ của môi trường xung quanh tăng, tuyến mồ hôi hoạt động nhiều hơn và

do đó điện trở người sẽ giảm

+ Thời gian dòng điện tác dụng

Thời gian dòng điện tác động càng lớn thì điện trở của người càng giảm, có thể được giải thích như sau : khi mới bắt đầu tiếp xúc với điện áp, lớp da sẽ cùng với cơ

thể tạo nên điện trở có giá trị khá cao, và do có điện áp nên sẽ xảy ra quá trình xuyên

thủng da tiếp theo sau đó; vì vậy nên điện trở giảm và đưa đến dòng điện chạy qua người tăng; đồng thời với dòng điện qua người tăng, thì nhiệt lượng của cơ thể người

tỏa ra sẽ tăng, tạo nên sự hoạt động tích cực của các tuyến mồ hôi; điều này đưa đến điện trở của người càng giảm Kết quả là dòng điện chạy qua người càng ngày càng tăng; điện trở của người càng ngày càng giảm, tức là thời gian dòng điện tác dụng càng lâu càng nguy hiểm

Khi dòng điện tác động trong khoảng thời gian ngắn thì tính chất nguy hiểm phụ thuộc vào nhịp đập của tim Mỗi chu kỳ dãn của tim kéo dài khoảng 1 giây Trong một chu kỳ có khoảng 0,1 giây tim nghỉ làm việc và ở thời điểm này, tim rất nhạy cảm với dòng điện qua nó Do đó, nếu dòng điện qua người dài hơn 1 giây thế nào cũng trùng

với thời điểm tim nghỉ làm việc Thí nghiệm cho thấy, dù dòng điện qua người lớn gần

bằng 10mA mà không gặp thời điểm tim nghỉ làm việc thì cũng không nguy hiểm

Trang 38

Thời gian tác động của dòng điện còn phụ thuộc điện áp tiếp xúc

Bảng 1.6 Thời gian tác động của dòng điện phụ thuộc điện áp tiếp xúc

Bảng 1.7 Tỷ lệ tai nạn chết người khi các đường đi của dòng điện khác nhau

(thống kê của Liên Xô trước đây ) [ ]33

Đường đi của dòng điện T ỷ lệ phần trăm tai

n ạn chết người

Từ gan bàn tay đến lưng bàn tay hay đến vai 25

Từ lưng bàn tay hay từ vai đi đến chân 23

Từ gan bàn tay đi đến một chân hay đi đến hai chân 17

Từ gan bàn tay đi đến gan bàn tay khác 14

Từ cổ, lưng hay bụng đến chân 5

Từ một vị trí này đến vị trí khác trên cùng một tay hay

Trang 39

Bảng 1.8 Phân lượng dòng điện đi qua tim

Đường dòng điện đi qua người Phân lượng dòng điện qua tim(%)

Từ tay trái qua chân 3,7

Từ tay phải qua chân 6,7

Dòng điện từ chân qua chân là ít nguy hiểm, nhưng nếu quá hốt hoảng, người bị

té ngã rất dễ chuyển thành các trường hợp nguy hiểm hơn

Hiện tượng choáng điện thể hiện rõ nét nhất, nếu con người mệt mỏi hay trong tình trạng say rượu Phụ nữ và trẻ em rất nhạy cảm đối với hiện tượng choáng hơn nam

giới Người bị đau tim và người suy nhược sẽ rất nhạy cảm khi có dòng điện chạy qua

cơ thể

Dòng điện một chiều được coi là ít nguy hiểm hơn dòng điện xoay chiều, đặc biệt

là dòng điện xoay chiều tần số công nghiệp 50Hz đến 60Hz rất nguy hiểm : dòng điện công nghiệp sẽ tạo nên sự rối loạn mà con người khó có thể tự giải phóng dưới tác

dụng của dòng điện, dù dòng điện này có trị số bé

Lúc đặt điện áp một chiều vào màng tế bào, các phần tử trong tế bào bị phân thành

những ion khác dấu và bị hút ra ngoài màng tế bào Như vậy phần tử bị cực hóa và kéo dài thành ngẫu cực Các chức năng sinh vật, hóa học của tế bào bị phá hủy đến một

Với dòng điện tần số cao, khi dòng điện đổi chiều, ion không kịp đập vào màng tế bào Tần số càng tăng lên, đường đi của ion càng ngắn và mức độ kích thích tế bào

Trang 40

càng ít Ở tần số cao, điện trường hầu như không ảnh hưởng đến chuyển động của ion,

tế bào không bị kích thích nhiều Đối với người, tần số 50HZ-60Hz nguy hiểm nhất Khi tần số bé hoặc lớn hơn các trị số trên, mức độ nguy hiểm sẽ giảm

Bảng 1.9 Trị số dòng điện gây tác hại lên cơ thể con người

Dòng điện

(mA)

Tác d ụng của dòng điện xoay chi ều (50Hz đến 60Hz )

Tác d ụng của dòng điện

m ột chiều

0,6 - 1,5 Bắt đầu thấy ngón tay tê Không có cảm giác gì

2 - 3 Ngón tay tê rất mạnh Không có cảm giác gì

5 - 7 Bắp thịt co lại và rung Đau như kim châm, thấy

nóng

8 - 10 Tay đã khó rời vật mang điện Ngón

tay, khớp tay lòng bàn tay thấy đau

90 - 100 Thở bị tê liệt, nếu kéo dài 3 giây tim

bị tê liệt dẫn tới ngừng đập

Thở bị tê liệt

b) Nh ững nguy hiểm dẫn đến tai nạn do dòng điện gây ra

- Chấn thương do điện là sự phá hủy cục bộ các mô của cơ thể người do dòng điện

hoặc hồ quang điện Các đặc trưng của chấn thương điện là:

+ Bỏng điện là bỏng do dòng điện qua cơ thể hoặc do tác động đốt nóng của ngọn

lửa hồ quang hay bột kim loại nóng bắn vào người

+ Dấu vết điện : Khi dòng điện chạy qua sẽ tạo nên các dấu vết trên bề mặt da tại điểm tiếp xúc với điện cực

+ Viêm mắt do tác dụng của tia cực tím hoặc tia hồng ngoại trong ánh sáng hồ quang điện

+ Điện giật : Dòng điện qua cơ thể người gây kích thích các mô kèm theo co giật

cơ ở các mức độ khác nhau như : Cơ co giật nhưng không bị ngạt; cơ bị co giật, người

Ngày đăng: 02/01/2021, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w