Điều này đã được thể chế hoa trong luật giáo dục ở nước ta, ban hành năm 2005, điều 28 yêu cầu về nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
MAI HOÀNG PHƯƠNG
LU ẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Trang 3Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ
D ỤNG WEBSITE DẠY HỌC VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH0T 14
1.1.2.4.K ết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.0T 18
Trang 4nói riêng ờ các trường THPT hiện nay.0T 35
Trang 5NH ẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA
Trang 6Dòng điện xoay chiều, Dao động điện từ - Sổng điện từ".0T 117
Trang 7L ỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu; Phòng Khoa
học công nghệ - sau đại học cùng các Thầy, Cô khoa Vật lí của trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Xin chân thành cảm ơn sâu sắc TS Nguyễn Mạnh Hùng đã tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả chân thành cảm ơn các Thầy, Cô phản biện đã nhận xét và góp ý sửa
chữa những thiếu sót để luận văn phát triển hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Long Thơi, nơi tác giả đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ trong những ngày học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2007
Trang 9M Ở ĐẦU l.LÝDO CH ỌN ĐỀ TÀI
Xã hội càng phát triển thì người ta càng quan tâm và cũng càng đòi hỏi nhiều ở giáo dục Phát triển giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cần thiết
và cấp bách nhằm tạo ra những con người phát triển toàn diện, có phẩm chất và năng
lực đáp ứng được yêu cầu của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững
Cũng như trên toàn thế giói, mục tiêu giáo dục ở nước ta hiện nay không dừng
lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức, kỹ năng loài người đã tích lũy được mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho họ những năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Điều này đã được thể chế hoa trong luật giáo dục ở nước
ta, ban hành năm 2005, điều 28 yêu cầu về nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của tòng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho
học sinh”.[45,tr.21]
Trong thời đại thông tin, khối lượng tri thức mà con người phải tiếp nhận là rất
lớn, những tri thức đó con người cũng phải tiếp nhận từ nhiều nguồn (nhà trường, trong gia đình, ngoài xã hội) ngày càng cao hom
Trong khi đó ở các bậc học không thể cung cấp cho người học một khối lượng tri
thức đủ để họ sử dụng trong suốt cuộc sống và lao động Thay vì vậy, nhà trường chỉ
có thể trao cho họ cách thức truy nhập thế giới, tri thức vô tận đó Có nghĩa là việc
giảng dạy không còn đom thuần là cung cấp tri thức nữa mà phải dạy cả khả năng khám phá và nghiên cứu để phục vụ việc học tập liên tục cả đời
Đó là một thách thức đối với ngành giáo dục và đào tạo để đưa quá trình giảng
dạy chuyển thành việc khám phá hướng tới nghiên cứu Học sinh thế hệ mới phải làm
chủ được kỹ năng và công cụ nghiên cứu như một phần của việc đào tạo cơ bản
Để có được điều đó cần tạo ra một môi trường học thích hợp cho cả giảng dạy và
Trang 10nghiên cứu Đào tạo từ xa qua mạng Internet, thư viện điện tử, thư điện tử Email là
những biểu hiện rõ rệt của xu hướng tất yếu cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp nguyện vọng của người học và xu thế chung của thời đại mới
Phương pháp dạy học hiện nay ở các trường THPT phần lớn vẫn theo kiểu dạy
học truyền thống, điều quan tâm chủ yếu của người giáo viên là sự trình bày, giảng
giải về các kiến thức cần dạy cho học sinh, sao cho đảm bảo được nội dung chính xác, sâu sắc, đầy đủ Bên cạnh đó cách đánh giá, kiểm tra kiến thức chưa thực sự chặt chẽ
và rời rạc, chủ yếu là kiểm tra sự ghi nhớ, hiểu một số kiến thức cơ bản và vận dụng chúng để giải một số bài tập vật lý theo khuôn mẫu có sẵn
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, máy vi tính thâm nhập vào nhà trường được sử dụng như là một phương tiện dạy học hiện đại, hỗ trợ cho thầy và trò trong quá trình tổ chức hoạt động nhận thức để nâng cao chất lượng dạy và học Chính
vì vậy, việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại và áp dụng các thành tựu khoa
học công nghệ vào dạy học là một giải pháp đáp ứng xu thế đổi mới phương pháp dạy
học nói chung và dạy học vật lý nói riêng Việc đổi mới phải đồng bộ cả về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và cách thức kiểm ưa, đánh giá kết quả học
tập của học sinh, một trong những công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên lẫn học sinh là
mạng Internet
Mạng máy tính, Internet, Website đã được ứng dụng trong giáo dục ở nhiều nước Đây vừa là môi trường thông tín vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tương tác mạnh Những tài nguyên, những thông tin, những lợi nhuận mà mạng máy tính và Intemet mang lại là vô cùng quý giá và vô cùng tận Đó là các tin tức nóng bỏng được
cập nhật từng giây Đó là các nguồn tri thức cực kỳ bổ ích cho sự phát triển của con người, những bài học kinh nghiệm, những tài liệu về các môn khoa học, là nơi giải trí
với trò chơi, âm nhạc, hình ảnh sống động như thật, là nơi để mua sắm mà không phải
mất công đi một đường xa đến cửa hàng với các sản phẩm được tùy chọn theo ý thích, đồng thời là nơi để đăng ký và học trực tuyến Nhiều công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, những thư viện tranh ảnh, video clip, những thí nghiệm mô phỏng, những
vấn đề nội dung phương pháp đã được đưa lên Website
Một trong những vấn đề đang được ngành Giáo Dục - Đào Tạo quan tâm là việc
Trang 11đưa mạng máy tính và Internet vào nhà trường phổ thông Chính vì vậy Chỉ thị
58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng phát triển CNTT phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ: "Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác GD&ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo
từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở GD&ĐT" Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cũng đã ra Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT, ngày 30/7/2001, nêu rõ: "Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối Internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục (EduNet)" nhằm tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giai đoạn 2001-2005
Đây là việc làm hết sức cần thiết và cần phải được thực hiện triệt để Bởi mạng máy tính và Internet là một kho tài nguyên kiến thức to lớn của nhân loại, cung cấp lượng kiến thức phong phú cho học sinh mà không thể tìm thấy trong giáo trình Và
những ứng dụng mà lợi ích của nó là rất to lớn đối với công tác quản lý, giáo dục
Việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tín trong giáo dục ở nước ta hiện nay mà đặc biệt là sử dụng máy vi tính, mạng Internet, Website cũng chính là xác định con đường để đi đến sự hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa nhiều lĩnh vực
Thực tế cho thấy đã có một số luận văn về đề tài thiết kế Website dạy học vật lý trong những năm qua như: "Nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường THPT thông qua việc xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ dạy học phần dao động và sóng cơ học lóp 12" của Lâm Minh Xuân Trường, "Dạy học theo chủ đề và sự vận dụng nó vào
giảng dạy phần kiến thức các định luật bảo toàn vật lý lóp 10 THPT với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin" của Trần Vãn Hữu, "Phát huy tính tích cực, tự lực của sinh viên trong dạy học chương dòng điện trong các môi trường thuộc chương trình vật lý cao đẳng sư phạm thông qua việc thiết kế và sử dụng Website hỗ trợ dạy học" của Huỳnh
Thị Kim Thoa và " Thiết kế Website hỗ trợ dạy học chương tính chất sóng của ánh sáng vật lý lớp 12 THPT" của Lưu Thanh Tú đã có những đóng góp trong việc đổi
mới ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học, tuy nhiên phần lớn các trang Web được các tác giả thiết kế ít nhiều còn dừng lại ở cấp độ cơ bản, mô hình thí nghiệm tương
Trang 12tác để cho GV và HS sử dụng còn hạn chế, các mô hình thí nghiệm mô phỏng chủ yếu được các tác giả sưu tầm từ mạng Intemet Chưa có công cụ kiểm tra đánh giá kết quả
học tập của HS và công cụ để tự HS kiểm tra điều chỉnh lại mức độ học tập của họ
Xuất phát từ vấn đề trên, tôi chọn đề tài: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG WEBSITE TRONG DẠY HỌC PHẦN "DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU; DAO ĐỘNG ĐIỆN - SÓNG ĐIỆN TỪ" LỚP 12 THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH với mong muốn sử dụng máy vi tính làm phương tiện hiện đại góp phần đồi mới phương pháp giảng dạy vật lý đồng thời giúp học sinh có một cái nhìn sâu rộng hơn về bộ môn vật lý cũng như biết cách thức tiếp cận với kho dữ liệu tri thức khổng lồ trên Intemet khi mà chưa có đủ điều kiện cần thiết cho việc đổi mới toàn diện như đã nêu trên Website này đã được thiết kế bên cạnh mục đích sử dụng nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo
của HS còn chú trọng đến việc xây dựng các mô hình thí nghiệm động để cho GV và
HS sử dụng, ngoài ra còn có đầy đủ các công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập của
HS và công cụ để HS tự kiểm tra kiến thức, điều chỉnh lại mức độ học tập Mục diễn đàn trực tuyến cho phép GV và HS tham gia trao đổi
2.M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Thiết kế và sử dụng Website trong dạy học phần "DAO ĐỘNG ĐIỆN -DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ " LỚP 12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và hình thành kỹ năng thao tác khai thác thông tin từ đó nâng cao hiệu quả dạy và học vật lý ở trường THPT
3.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế và sử dụng Website trong việc dạy
học phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ " Lớp 12 THPT thì phát huy được tính tích cực, tự lực
và sáng tạo của học sinh dẫn đến nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học vật lý
Trang 134.NHI ỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt mục tiêu đề ra, đề tài có những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc dạy học vật lý nhằm phát huy tính tích cực,
tự lực và sáng tạo của học sinh
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng CNTT trong dạy học và dạy học vật
lý
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế Website dạy học và dạy học vật lý
- Tìm hiểu và khảo sát của việc giảng dạy kiến thức của phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ
Lớp 12 THPT hiện nay
- Nghiên cứu thiết kế và sử dụng Website dạy học phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ " Lớp
12 THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
- Xây dựng các tiến trình dạy học phần" DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ M Lớp 12 THPT với
sự hỗ trợ của Website
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Nhằm xác định mức độ phù
hợp, tính khả thi, hiệu quả của từng tiến trình đối với việc vận dụng công nghệ thông tin nhằm phát huy tính tích cực nhận thức, tự lực giải quyết vấn đề trong quá trình học
tập
5.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện được nhiệm vụ trên, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, nhà nước và các thông tư, chỉ thị của Bộ Giáo dục và đào tạo
- Nghiên cứu tài liệu về giáo dục và cơ sở lí luận của việc dạy học và dạy học vật
lý
Trang 14- Nghiên cứu các tài liệu và các phần mềm hỗ trợ thiết kế Website
Các phương pháp thu nhận dữ kiện (Quan sát, điều tra, phỏng vấn, trò chuy ện):
- Khảo sát hiện trạng và tìm hiểu cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học bộ môn vật lý ở nhà trường
- Trao đổi và thu nhận các ý kiến đóng góp từ các đồng nghiệp và các nhà quản
lý giáo dục thông qua việc sử dụng Website dạy học ở trường THPT
- Quan sát và đánh giá tính khả thi của việc sử dụng Website trong quá trình tổ
chức hoạt động học tập của học sinh và điều chỉnh lại các tiến trinh nếu cần thiết
Phương pháp nghiên cứu Thực nghiệm :
- Thiết kế và sử dụng Website dạy học phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ "
- Thiết kế tiến trình dạy học phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ "
- Chọn mẫu và thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
6.KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học vật lý phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ" Lớp
12 THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh khi sử
dụng Website dạy và học " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ" Lớp 12 THPT
7.PHẠM VI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu thiết kế và sử dụng Website trong việc dạy phần " DAO ĐỘNG ĐIỆN - DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU VÀ DAO ĐỘNG ĐIỆN TỪ - SÓNG ĐIỆN TỪ
" Lớp 12 THPT nhằm kích thích khả năng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
Trang 15- Thực nghiệm sư phạm ở một số lớp 12 để đánh giá khả năng vận dụng của đề tài tại trường THPT Long Thơi, Huyện Nhà Bè, TP HCM
Trang 16
Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ
HƯỚNG TĂNG CƯỜNG TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ
SÁNG T ẠO CỦA HỌC SINH
1.1.Hi ện trạng và những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay
Trong những năm qua, các cấp quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên đã có những
nỗ lực cải tiến, đổi mới PPDH, tuy nhiên theo nghiên cứu thực tiễn dạy học ở các trường THPT cũng chỉ đưa ra những vấn đề cụ thể về phương pháp dạy học như sau:
- Phương pháp thuyết tình thông báo kiến thức của giáo viên quá nhiều
lực, sáng tạo, khả năng vận dụng tri thức trong thực tiễn Việc dạy học mang nặng tính
chất đối phó vói các kỳ thi, ít chú ý đến việc phát triển nhân cách toàn diện, khả năng
vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn cuộc sống của HS Thực trạng đó dẫn đến vấn
đề HS được đào tạo trong trường THPT mang nặng tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo, năng lực vận dụng tri thức vào cuộc sống Điều đó có nghĩa là chúng ta chưa
thực hiện tốt mục tiêu giáo dục phổ thông
Trang 17Mục tiêu giáo dục của nước ta trong giai đoan hiện nay đã xác định rõ tại hội nghị ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 10 (Quốc hội khóa X) Đó là đào tạo thế hệ trẻ có những phẩm chất và năng lực sau: Có đạo đức, tri thức,
sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.[45,tr.l 1,12]
Các mục tiêu này phải là kim chỉ nam chỉ đạo việc biên soạn chương trình, kế
hoạch dạy học và giáo dục; chỉ đạo việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương
tiện, hình thức tổ chức dạy học và giáo dục
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1-1993), Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được
thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo
dục và Đào tạo Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi "Phương pháp giáo dục phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh" [45,tr.21]
Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người xây dựng xã hội công nghiệp hóa,
hiện đại hóa với thực trạng lạc hậu của phương pháp dạy học đã làm nảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động đổi mới PPDH ở tất cả các cấp trong ngành giáo dục từ một số năm nay với những tư tưởng chủ đạo được phát biểu và đề cập trong nhiều tài liệu của nhiều tác giả dưới nhiều hình thức khác nhau như: "Dạy học lấy người học làm trung tâm", "Phát triển tính tích cực, tính tự lực của học sinh" của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo,
"Học tập trong hoạt động và bằng hoạt động" của tác giả Nguyễn Bá Kim
Với định hướng đó, trước hết đòi hỏi phải có sự thay đổi thực sự vai trò và vị trí
của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Trong đó, giáo viên phải chuyển
Trang 18đổi từ vai trò là người chủ động truyền đạt sang vai trò người tổ chức điều khiển, hướng dẫn, giúp đỡ họat động học tập cửa học sinh Học sinh phải chuyển từ vai trò
thụ động ghi chép sang vai trò tích cực, chủ động tìm kiếm kiến thức, tự lực học tập
với sự hướng dẫn và chỉ đạo của người thầy Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy và
học không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết
hợp với các phương pháp hiện đại
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập tự lực,
chống lại thói quen học tập thụ động
Như vậy vấn đề cơ bản đặt ra là làm thế nào để học sinh tích cực, tự lực và sáng
tạo khi dạy vật lý ở trường THPT?
1.1.1.Phương pháp dạy học tích cực [45]
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước
để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học "Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa
là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người
học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên
để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của
thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công
1.1.2.Đặc trung của các phương pháp dạy học tích cực.[45]
1.1.2.1.D ạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động
học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những ứi thức đã được giáo viên sắp
Trang 19đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ
đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức,
kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
1.1.2.2.D ạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy
học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học,
kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh
khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Trong các phương pháp học cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn
mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học
tập thụ động sang tự hộc chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng
dẫn của giáo viên
1.1.2.3.Tăng cường học tập cá thể, phối họp với học tập hợp tác
Trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành
bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò
- trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được
bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài
học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo Trong nhà trường, phương pháp học tập họp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những
ấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn
Trang 20thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng Ỷ
lại; tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý
thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình họp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã
hội
1.1.2.4.K ết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định
thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong
cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh Theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạo những con người năng động, sớm thích nghi với đòi
sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện cáckiến
thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyển khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên,
mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hom để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo
hoạt động học Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đom thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
- Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ nhận vai ưò của các phương pháp truyền thống Ở một mức độ nào đó, ta phải xem xét các phương pháp này theo quan điểm mói, theo hướng tích cực hóa họat động học tập của HS, Phát huy tính tích cực,
Trang 21chủ động, sáng tạo của người học Chuyển từ phương pháp nặng vê sự diên giảng của giáo viên sang phương pháp tô chức cho học sinh tích cực hoạt động để tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng
- Tăng cường sử dụng PPDH "Vấn đáp tìm tòi" Trong vấn đáp tìm tòi, bằng
những câu hỏi rõ ràng, có tính chất gợi ý nêu vấn đề người thầy có thể tạo điều kiện cho mọi HS phải động não, tư duy để tích cực tham gia vào quá trình chiếm lĩnh tri
thức [28, tr.27] Kết quả là HS vừa lĩnh hội thêm được kiến thức mới đồng thòi biết được cách thức đi đến kiến thức đó Tạo ra các cuộc tranh luận cho HS hoạt động độc
lập, tranh luận là đặt câu hỏi mở, tức là một câu hỏi có nhiều cách trả lòi Đối với loai câu hỏi này, HS phải vận dụng trí nhớ về kiến thức đã học đồng thời phải tư duy để
giải quyết vấn đề, nó đòi hỏi HS động não nhiều hơn, chủ động và sáng tạo hơn trong
học tập Trao nhiệm vụ học tập ngày càng nặng dần cho HS, chuyển dần từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học giải quyết vấn đề Phối họp các hình thức tổ chức
họat động học tập ngoai lớp học để tạo điều kiện cho việc rèn luyện những hoạt động
học tập đa dạng của HS, cần phối hợp nhiều hình thức tổ chức học tập ngòai lớp học, trong đó chuyển dần từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học giải quyết vấn đề
Chẳng hạn như : Tổ chức và hướng dẫn cho HS tự học môn vật lý ở nhà, làm thí nghiệm thực hành, lấy số liệu thống kê, nghiên cứu, học tập, viết báo tường, sinh họat xêmina khoa học, tham quan, ngoại khóa, thi vật lý vui Tăng cường học tập cá nhân,
phối họp một cách hài hòa với học tập hợp tác Theo PPDH mới, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản, có hiệu quả nhất nhưng HS phải có tinh thần
học tập một cách tự giác, chủ động Học tập hợp tác là hình thức học tập bổ trợ có tác
dụng rèn luyện người học tinh thần hợp tác lao động, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm với công việc chung Phối hợp chặt chẽ những nổ lực cá nhân trong tự học với việc học tập hợp tác trong nhóm
- Sử dụng kết hợp đa dạng PPDH: không có PPDH nào phù hợp với mọi mục tiêu, nội dung dạy học Mỗi PPDH có những ưu điểm và những hạn chế riêng Vì vậy,
việc áp dụng đa dạng các PPDH trong quá trình dạy học là một yêu cầu quan trọng trong việc phát huy tính tích cực, nâng cao chất lượng dạy học
- Vận dụng dạy học GQVĐ, là con đường quan trọng nhất để phát huy tính tích
Trang 22cực nhận thức, phát triển năng lực nhận biết và giải quyết vấn đề của HS Dạy học GQVĐ có thể áp dụng trong tất các các hình thức dạy học, các loại hình bài học ở
- Bồi dưỡng phương pháp tự học cho HS: phương pháp tự học, học tập một cách
tự lực, đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa, phát huy tính sáng tạo của HS
cần rèn luyện cho HS phương pháp thu thập, xử lý thông tin, phương pháp tổ chức cách học tập, làm việc, phương pháp làm việc theo nhóm
- Khả năng nhận thức của học sinh phụ thuộc vào mức độ ham thích hoạt động
nhận thức của họ Sự ham thích nhận thức lại do nhiều yếu tố xác định như động cơ
học tập, sự thích thú với những điều học hỏi được, tác động từ các yếu tố bên ngoài, nghị lực của từng học sinh
- Việc học tập của học sinh có bản chất hoạt động, thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ Như vậy, dạy học là dạy hoạt động Trong quá trình dạy học,
học sinh là chủ thể nhận thức, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của học sinh theo một chiến lược hợp lý sao cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức Quá trình dạy học các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể được hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và của học sinh trong sự tương tác
thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: Giáo viên, học sinh và tư liệu hoạt động dạy học
- Hoạt động học của học sinh bao gồm các hành động với tư liệu dạy học, sự trao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với giáo viên Hành động học của học sinh với
tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học sinh với tình huống học tập đồng
thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân mình Sự trao đổi, tranh
luận giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên nhằm tranh thủ sự hỗ trợ
xã hội từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá tành chiếm lĩnh tri thức Thông
Trang 23qua các hoạt động của học sinh với tư liệu học tập và sự trao đổi đó mà giáo viên thu được những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng của giáo viên đối với
học sinh
- Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự trao đổi, định hướng trực tiếp với học sinh Giáo viên là người tổ chức tư liệu hoạt động dạy
học, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho hoạt động của học sinh Dựa trên tư
liệu hoạt động dạy học, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động
của học sinh với tư liệu học tập và định hướng sự trao đổi, tranh luận của học sinh với nhau Chúng ta có thể hình dung diễn biến của hoạt động dạy học như sau:
Giáo viên tổ chức tình huống (giao nhiệm vụ cho học sinh): học sinh hăng hái đảm nhận nhiệm vụ, gặp khó khăn, nảy sinh vấn đề cần tìm tòi giải quyết Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, vấn đề được diễn đạt chính xác hóa, phù hợp với mục tiêu dạy học
và các nội dung cụ thể đã xác định
Học sinh tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên, hoạt động học của học sinh diễn ra theo một tiến trình hợp lí, phù hợp với những đòi hỏi phương pháp luận
Giáo viên chỉ đạo sự trao đổi, tranh luận của học sinh, bổ sung, tổng kết, khái quát hóa, thể chế hóa tri thức, kiểm tra kết quả học tập phù hợp với mục tiêu dạy học các nội dung cụ thể đã xác định
1.2 Cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT và Internet trong dạy học vật lý
1.2.1.Cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT làm phương tiện dạy học
Trong những năm gần đây, các thành tựu của khoa học, CNTT đặc biệt là MVT đang dần dần trở thành công cụ hữu ích đối với tất cả các lĩnh vực trong xã hội, MVT
đã làm thay đổi khá lớn đến hình thức, nội dung các hoạt động kinh tế, văn hóa và đời
sống xã hội loài người, ứng dụng của MVT ngày càng trở nên đa dạng và phong phú
Do vậy, đối với nước ta hiện đang trong giai đoạn đổi mới và hội nhập, ý nghĩa và tầm quan trọng của MVT lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Đối với ngành giáo
dục, việc ứng dụng MVT lại càng có ý nghĩa đặc biệt
Trang 24MVT là phương tiện kỹ thuật có nhiều điểm mạnh để phục vụ cho những hoạt động trên lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người Những điểm mạnh này đã và đang được khai thác để hỗ trợ quá trình dạy học trong trường phổ thông Sau đây là
những ưu điểm nổi bật có thể khai thác trong quá trình dạy học
1.2.1.1.Ch ức năng lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin
Nhờ chức năng có thể tạo ra, lưu trữ và hiển thị lại một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới nhiều hình thức khác nhau như: văn bản (text), đồ họa (graphic), hình ảnh (image), âm thanh (sound), hoạt cảnh (video), giáo viên sẽ xây dựng được bài
giảng sinh động thu hút sự tập trung người học, dễ dàng thể hiện được các phương pháp sư phạm: phương pháp dạy học tình huống, phương pháp dạy học nêu vấn đề,
thực hiện đánh giá và lượng giá học tập toàn diện, khách quan ngay trong quá trình
học tăng khả năng tích cực chủ động tham gia học tập của người học Chức năng này có ý nghĩa lớn lao trong quá trình học tập, bởi lẽ học tập chính là quá trình thu
thập xử lý và lưu trữ thông tin Ngoài việc cho phép lưu trữ thông tin, MVT còn cho phép xử lý theo ý muốn của GV, sửa đổi, tìm kiếm, sắp xếp, phân loại, chọn lọc, kiểm tra, phóng to, thu nhỏ, làm chậm, làm nhanh, dừng lại quá trình đang diễn ra hay chuyển sang nghiên cứu quá trình khác Trên cơ sở đó, HS có điều kiện tốt hom để đưa ra các phán đoán, nhận định trong khi giải quyết các vấn đề học tập trên hệ thống
cơ sở dữ liệu tri thức
1.2.1.2.Ch ức năng điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra và luyện tập
Việc học tập trên MVT có tác dụng cá biệt hóa cao người học MVT tự động lưu
giữ đánh giá kết quả học tập của mỗi các nhân, kịp thời đưa ra những thông tin phản
hồi bao gồm các yêu cầu, những hướng dẫn, những nội dung hay câu hỏi kiểm tra phụ
Nhờ vậy HS có thể kịp điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho phù hợp và mỗi cá nhân sẽ được học tập theo đứng khả năng của mình Với sự trợ giúp của MVT học sinh có thể xác định nhanh chóng và đúng đắn những kiến thức cần phải ôn tập, những
kiến thức cần được bổ sung Ngoài ra MVT có thể đề xuất một tiến trình học tập phù
hợp với từng đối tượng HS sao cho họ có thể đạt được kết quả học tập tốt nhất Từ đó,
việc tổ chức dạy học có thể được tiến hành theo những hình thức khác mà ngày nay đang được phổ biến và áp dụng rộng rãi đó là: Dạy học từ xa, Dạy học thông qua
Trang 25Inetrnet với Website, E-Learning Trong kiểm tra đánh giá, MVT có thể đưa ra các câu hỏi tương tác thông qua nhấn chuột tới các liên kết Website hay các chương trình
lập tành sẵn sẽ cho ra kết quả đánh giá mang tính khách quan và chính xác
Như vậy thông qua việc cung cấp thông tin, việc kiểm tra liên tục, lưu trữ và xử
lý các kết quả kiểm tra mà MVT được xem là một phương tiện kiểm tra có nhiều thế
mạnh hơn các phương tiện truyền thông khác, luôn luôn đảm bảo mối quan hệ tương tác thuận và nghịch giữa người sử dụng với MVT dẫn đến có thể điều khiển và điều
chỉnh kịp thời hoạt động học tập của HS Ngoài ra MVT được sử dụng để liên lạc trao đổi giữa GV và HS thông qua thư điện tử Email, diễn đàn Đây là chức năng phổ biến trong dạy học ngày nay giúp người dạy và người học rút ngắn khoảng cách, rút ngắn thòi gian, các bài học, các bài tập hay các bài kiểm tra có thể gởi nhận nhanh chóng [38, tr 105-106]
Ngày nay với sự phát triển không ngừng của CNTT về phần cứng và phần mềm
đa dạng, đã tạo điều kiện cho các nhà lập trình trong và ngoài ngành giáo dục quan tâm và tạo ra các chương trình ứng dụng hỗ trợ cho việc dạy và học Nhiều chương trình và Website đã xây dựng nhằm hỗ trợ cho việc tự học, tự ôn tập của học sinh như nhóm phát triển phần mềm sinh viên học sinh và ADCOM software, các Website luyện thi trực tuyến Uwww.truongthi.com.vnU và Uwww.khoabang.com.vnU, trong đó các
yếu tố kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực cũng như phát triển trí tuệ của HS được hết sức chú trọng
1.2.1.3.Ch ức năng minh họa, trực quan hóa bằng mô phỏng
Nhờ các phần mềm đồ họa 2D, 3D phổ biến hiện nay như: PhotoShop, CorelDraw, 3dStudioMax, Maya, các phàm mềm diễn hoạt như: Macromedia Flash; các phần mềm lập trình như : Visual Basic, Visual c, Turbo Pascal MVT giúp GV dễ dàng tạo ra sản phẩm, các mô hình tĩnh hay các mô hình động ở các góc độ khác nhau dùng để mô phỏng, mô hình hóa các hiện tượng, các quá trình cần nghiên cứu giúp cho việc nhận thức các đối tượng đó thuận lợi mang lại hiệu quả lớn tiết kiệm thời gian chuẩn bị của GV và nghiên cứu của HS, hạn chế được tình trạng thiếu thiết bị, tránh hư hỏng hoặc nguy hiểm đối với các thiết bị đắt tiền, những thí nghiệm nguy
hiểm: chất cháy nổ, chất độc
Trang 26Muốn cho HS hiểu vấn đề một cách sâu sắc thì phải xây dựng khái niệm, các thuyết, các định luật từ sự quan sát trực tiếp Nhưng trong thực tế, nhiều khi con người không thể nào quan sát trực tiếp một số hiện tượng vật lý bằng các giác quan thông thường Vì vậy, phải tạo ra các hiện tượng tự nhiên bằng phương pháp nhân tạo, nghĩa
là sử dụng các phương tiện trực quan Các phương tiện trực quan chẳng những cung
cấp cho HS hệ thống kiến thức bền vững, chính xác mà còn giúp HS kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức lý thuyết, sửa chữa bổ sung, đánh giá lại chúng nếu không phù hợp với thực tiễn Có thể nói, trực quan hóa là cầu nối giữa thế giới tự nhiên bên ngoài và bức tranh về nó bên ương nhận thức của con người Đây chính là phương
thức dạy học tương tác [38, tr 108]
Trong công tác nghiên cứu, với những đối tượng mà không thể quan sát trực tiếp được như các hệ vi mô, vĩ mô, các quá trình biến đổi quá nhanh, điều kiện thực tế không cho phép vì nguy hiểm hay không có thiết bị thì con người thường sử dụng phương pháp mô hình mô tả một cách đơn giản gần đúng cấu trúc vật chất cùng với
những thuộc tính của chúng Sau đó cho mô hình vận động theo những quy luật đã
biết trên đối tượng thật, nhờ đó mà ta có thể tìm ra những tính chất mới, những mối quan hệ mới Quá trình này được gọi là sự mô phỏng Phương pháp mô phỏng còn được sử dụng ngay cả những trường hợp con người có thể quan sát được trên đối tượng thực với mục đích đơn giản hóa đối tượng, làm thay đổi tốc độ của tiến trình hay đơn giản vì không có thiết bị [38,tr 109-110]
1.2.1.4.Ch ức năng hỗ trợ thí nghiệm
Trong các ứng dụng của MVT vào dạy học vật lý thì việc sử dụng MVT hỗ trợ các thí nghiệm vật lý là một trong những ứng dụng đặc trưng nhất của nó Ta có thể khái quát những khả năng của MVT như sau: [38, tr.110-111]
- MVT tham gia vào các thí nghiệm thực vói tư cách là một thiết bị đo, lưu trữ,
xử lý và hiển thị kết quả Để hỗ trợ các thí nghiệm này thì MVT cần nối với các thiết
bị thí nghiệm, sau đó dựa trên các số liệu con người có thể in ra hoặc nhập vào trực
tiếp từ bàn phím
- MVT dùng để trình bày lại các thí nghiệm thực đã được chụp ảnh hoặc quay phim
Trang 27- MVT dùng để mô phỏng các đối tượng thực
Với những tính năng nêu trên, máy vi tính được xem là phương tiện hỗ trợ rất có
hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lý
1.2.2.1.Khái ni ệm mạng máy tính và Internet
phạm vi toàn thế giới, nhờ đó người sử dụng có thể liên lạc với nhau để trao đổi, dùng chung khai thác các thông tin trên mạng Các nhà khoa học có thể sử dụng Internet để tìm kiếm tài liệu và thảo luận với nhau GV và HS có thể tìm kiếm các tài liệu, phần
mềm phục vụ cho việc dạy và học, giải trí Các nhà kinh doanh thì sử dụng Internet như một phương tiện quảng cáo, giao dịch thương mại, mua bán hàng hóa.[49]
Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET Vào năm 1960 khi
một cơ quan của Bộ Quốc phòng Mỹ, cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển (ARPA) đề nghị liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1968 Bốn địa điểm đầu tiên đó là Viện Nghiên cứu Staníòrd, Trường Đại học tổng hợp California ở Los Angeles, úc - Santa Barbara và trường Đại học tổng hợp Utah Đó là mạng liên khu
vực (Wide area Network) hay mạng Wan đầu tiên được xây dựng Bốn địa điểm trên được nối thành mạng vào năm 1969 đã đánh dấu sự ra đời của Internet ngày nay:
mạng được biết đến dưới cái tên ARPANET đã hình thành
Nếu xét về thời gian thì thuật ngữ Internet xuất hiện lần đầu vào khoảng năm
1974 Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET Năm 1983, giao thức TCP/IP chính
thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ, và tất cả các máy tính nối
với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này
Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của mình, quan trọng
nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau lại một cách dễ dàng Chính điều này cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu và thương mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêu mạng (SuperNetwork) Nhưng năm 1980 ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của
mạng Internet Mốc lịch sử quan trọng của Internet được chọn vào giữa thập kỷ 1980,
Trang 28khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSPNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệu quả nữa và
đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990
Sự hình thành mạng backbone của NSPNET và những mạng vùng khác đã tạo ra
một môi trường thuận lọi cho sự phát triển của Internet Tới năm 1995, NSPNET thu
lại thành một mạng nghiên cứu còn Interaet thì vẫn tiếp tục phát triển Với khả năng
kết nối mở như thế, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng Nếu trong năm 1990, trên thế giới chỉ có khoảng 200.000 máy tính kết nối Internet thì đến năm 1992 đã có khoảng 1.000.000 máy tính được kết nối, và đến nay thì số lượng máy tính được kết nối Intemet đã lớn hơn rất nhiều
Ngày nay chúng ta thấy Internet xuất hiện trong mọi lĩnh vực : thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội và cũng từ đó các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên thương mại điện tử ưên Internet
Mạng Internet là của chung điều đó có nghĩa là không ai thực sự sở hữu nó với
tư cách cá nhân Mỗi phần nhỏ của mạng được quản lý bởi các tổ chức khác nhau nhưng không ai, không một thực thể nào cũng như không một trung tâm máy tính nào
nắm quyền điều khiển mạng Mỗi phần của mạng được liên kết với nhau theo một cách thức nhằm tạo nên một mạng toàn cầu
Những tài nguyên, những thông tin, những lợi nhuận mà mạng máy tính và Internet mang lại là vô cùng quý giá và vô cùng tận Đó là các tin tức nóng bỏng đựơc
cập nhật từng giây Đó là các nguồn tri thức cực kỳ bổ ích cho sự phát triển của con người, những bài học kinh nghiệm, những tài liệu về các môn khoa học, là nơi giải trí thượng lưu với trò chơi, âm nhạc, hình ảnh sống động như thật, là nơi để mua sắm mà không phải mất công đi một đường xa đến cửa hàng với các sản phẩm được tùy chọn theo ý thích, đồng thời là noi để đăng ký và học trực tuyến
Hiện nay việc chuyển văn bản và ảnh chụp thông qua máy vi tính là chuyện bình thường Theo các tuyến điện thoại, ngày nay có thêm mạng không dây (Wifi) có thể trao đổi dữ liệu với các máy vi tính khác Khi mở máy vi tính, nó sẽ thu nạp thông tin
Trang 29nhập vào nó từ bất kỳ những bộ phận bên trong lẫn bên ngoài, ngay cả khi ta vắng nhà
hoặc trực tuyến (online) Chúng ta có trao đổi thư tín, nhận tin từ các ngân hàng dữ
liệu cực lớn, nối mạng với các cuộc trao đổi, hội nghị đông đảo người tham gia do các
chủ máy vi tính tổ chức mà khổng cần ra khỏi nhà, mua sắm và thanh toán các tài khoản ngân hàng
Các máy vi tính nối mạng bao gồm các thông tin phổ cập, các khối lượng kiến
thức rộng lớn có thể vận dụng thực té cho bất kỳ hoạt động nào, các cuộc tiến trình hội nghị tranh luận trao đổi ý kiến và thông tin (forum : diễn đàn) Ví dụ, chúng ta đặt ra câu hỏi và trong vài giây, ta nhận được câu trả lời của những người cùng tham gia
diễn đàn, cho dù là họ có mặt ở các lục địa khác nhau
Nhiều nhà bác học thường giữ mối liên hệ với nhau qua Internet, bởi vì điều đó cho phép họ phổ biến nhanh chóng các công tành khoa học và kết quả nghiên cứu Ngày nay giáo viên có thể giảng bài qua Internet (E-learning) Họ đưa bài giảng lên
mạng kèm theo các hình ảnh đồ họa sinh động minh họa, còn học sinh thì ngồi tại nhà lĩnh hội, nghiên cứu tài liệu mới, các thắc mắc chưa hiểu có thể phản hồi trực tiếp với giáo viên thông qua Email hoặc diễn đàn lập tức các câu hỏi đó sẽ được hồi đáp trả lòi
có khi ngay lập tức hoặc vài ngày, vài tuần, thậm chí vài tháng sau mới có người trả
lời vấn đề của bạn, hoặc có những chỉ dẫn tìm kiếm trên mạng thông qua công cụ tìm
kiếm hoặc các liên kết Website, và điều này cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vô số các học sinh khác
(Internet) dùng để định rõ vị trí của nó, trong đó các trang Web đóng vai trò chính, liên kết với nhau và cùng tồn tại trên một máy chủ nào đó Việc xem một Website luôn luôn bắt đầu với trang chủ (home page), trang giao diện đầu tiên mang tính hướng dẫn giới thiệu người xem vào sâu hơn các trang Web bên ương Hầu hết các Website chứa hàng chục, hàng trăm, hay hàng ngàn trang Website.[49]
chứa văn bản mà còn có thể bao gộp các hình ảnh, âm thanh, video là phương tiện liên lạc mạnh và hiệu quả nhất trên Internet Các trang Web này sử dụng nôn ngữ HTML (HyperText Markup Language) để mô tả thông tin Các tài liệu này được lưu
Trang 30trữ thành tập tin dạng văn bản có phần mở rộng là HTML hay HTM
Chúng ta có thể hiểu Website như một mạng chằng chịt với hằng hà sa số các
trạm thông tin dùng chung một ngôn ngữ liên lạc và một hệ thống ghi số địa chỉ Nhờ
đó, những trạm này có thể liên kết (Link) với nhau, cho phép người dùng "đi" từ chỗ này qua chỗ khác chỉ với một cú trỏ chuột và nhấp chuột Hàng triệu người trên khắp
thế giới có thể truy cập Website nhìn thấy nó chứ không giới hạn trong phạm vi lãnh
thổ nào cả Đối với ngành giáo dục Website là một lớp học của trường học nào đó trên
mạng Intemet Website bao gồm toàn bộ thông tín, dữ liệu, hình ảnh, thí nghiệm, phương pháp cung cấp cho các môn học, để phục vụ và truyền đạt tới người truy cập Interaet Vói vai trò quan trọng như vậy, có thể coi Website là công cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên tổ chức hoạt động dạy học trên lớp đồng thời nó là kho dữ liệu khổng lồ cho học sinh nghiên cứu và tự học để đào sâu và mở rộng kiến thức Để truy cập thông tin của các Website khác nhau, mỗi Website phải có địa chỉ phân biệt với nhau www (World Wide Web) sử dụng cách đánh địa chỉ của riêng nó, gọi là URL (Uniíòrm Resource Locator - Mã định vị tài nguyên) Một URL gồm có bốn phần:
- Protocol: Mô tả nghi thức mà Clien sử dụng để truy cập tài nguyên, thông thường có dạng protocol://
Vídụ:http://
- Server hay Domain : Chỉ ra máy mà thông tin cần truy xuất nằm trên đó
- Path : Là đường dẫn tới vị trí có chứa thông tin
- File Name: Tên tập tin là tài nguyên cần tham khảo
Trang 311.2.2.2.Vai trò, ch ức năng của mạng máy tính và Internet trong dạy học vật lý
Các phương tiện thông tin cùng vói hệ thống mạng toàn cầu Internet làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức: Không chỉ đọc để biết mà còn nghe, thấy, cảm
nhận sự kiện xảy ra ở xa như đang diễn ra trước mắt Chính những điều này đã làm cho tri thức và thông tin trở thành không biên giói, đưa mọi hoạt động vượt ra khỏi
quốc gia và mang tính toàn cầu Ngoài ra CNTT và Internet đang đóng vai trò là một cánh cửa góp phần rút ngắn khoảng cách trong giáo dục giữa các vùng miền, là phương tiện để đi tới một "xã hội học tập"
1.2.2.3.Khai thác Internet trong d ạy học vật lý
Hiện nay, mọi loại thông tin, số liệu âm thanh, hình ảnh đều có thể được đưa về
dạng kỹ thuật số để bất kỳ máy tính nào cũng có thể lưu trữ, xử lý và gởi chuyển tiếp cho nhiều người Mạng máy tính và Internet đang ngày càng trở thành một công cụ
phổ biến, tác động mạnh mẽ vào mọi lĩnh vực của đòi sống xã hội, giáo dục và tác động lên chính bản thân mỗi người chúng ta
Một trong các điều kiện quan trọng nhất để tăng cường hiệu quả giáo dục và chất lượng dạy học môn vật lý là tìm kiếm nguồn tư liệu, hình ảnh, phần mềm phù hợp để
bổ sung và mở rộng những nội dung quy định trong chương và sách giáo khoa Mạng máy tính và Intemet là nguồn tư liệu vô tận sẽ giúp giáo viên và học sinh đáp ứng yêu
cầu đó
Những tư liệu được lựa chọn sẽ làm cho bài giảng trở nên phong phú, sống động,
hấp dẫn hơn, HS sẽ tiếp thu bài giảng một cách tự nhiên Intemet là một thành tựu có tính đột phá của nhân loại cuối thế kỷ XX mà lịch sử sẽ ghi nhận có vai trò tương đương với việc phát minh ra xe lửa, máy hơi nước, điện năng hay năng lượng hạt nhân, là một công cụ vô cùng hiệu quả cho việc khai thác tư liệu phục vụ cho ngành giáo dục nói chung và môn vật lý nói riêng Muốn truy cập thông tin trên các trang Web, thì máy tính phải có một chương trình để thực hiện quản lý truy cập thông tin
gọi là trình duyệt Web Hiện nay có nhiều trình duyệt của các hãng phần mềm khác nhau như: opera, Mozilla Firefox, Netscap , nhưng phổ biến nhất là trình duyệt Internet Explorer với phiên bản mới nhất là 7.0
Trang 321.Truy c ập các Website
Để truy cập các Website bất kỳ ta gõ trực tiếp địa chỉ URL của nó vào thanh địa
chỉ Khi nhập địa chỉ Website, không cần gõ "http://", các trình duyệt Web tự động
hiểu là bạn đang muốn dùng giao thức húp Ngoài ra, với thiết lập tùy chọn thích hợp, đối với những địa chỉ có dạng Uhttp://www.xxx.comU bạn chỉ cần đánh XXX là đủ Khi đang ở một trang Web bạn có thể nhấp chuột trên một liên kết có sẵn trong trang đang được trình bày để đi tiếp đến các trang khác
Trong quá tành truy cập các Website nếu thấy một trang Web hay, bạn muốn lưu
giữ lại để lần sau truy cập, bạn có thể lưu giữ trong Favorites bằng cách nhấp chuột trên nút Add Favorites đối với trình duyệt Intemet Explorer hay nút Add Boomark đối
với trinh duyệt Mozilla Fừefox
2.Internet - Ngu ồn tư liệu vô tận
V ề dung lượng: Những số liệu, báo cáo thống kê cho thấy cho đến cuối thế kỷ
XX, Intemet đã trở thành kho thông tin khổng lồ và phong phú nhất trong lịch sử nhân
loại với hàng trăm triệu Websites liên quan đến mọi lĩnh vực, ngõ ngách của đời sống
xã hội Có nhà nghiên cứu đã từng khẳng định rằng xét về khối lượng, thông tin trên Internet đã vượt qua rất xa so với tổng khối lượng thông tin được in thành sách của loài người kể từ khi phát minh ra chữ viết cho đến năm 1990 Khối lượng đó lại được tăng lên với tốc độ chóng mặt hàng năm
V ề khả năng truy cập: Internet có ưu thế tuyệt đối, trừ một số ít thông tin được
bảo vệ nhằm mục đích thương mại hoặc bí mật, mỗi nguôi sử dụng Intemet đều có thể truy cập bất kỳ một thông tin nào trên Intemet dù thông tin đó được đặt ở Mỹ, Nga, Châu Âu, Châu Phi, Nhật Bản háy Việt Nam mà không phải rời khỏi bàn làm việc của mình Đó là điều không thể mơ ước đối với các nguồn tin khác như thư viện, các bộ sưu tập hay thậm chí cả báo chí
V ề loại hình: Internet cung cấp thông tin ở dạng văn bản, hình ảnh, âm thanh
hay thậm chí là cả dạng phim tư liệu hay video Khả năng này cho phép khai thác và
bổ sung những tư liệu một cách phong phú hơn rất nhiều so với thông tin được in trên
giấy thuần túy bằng văn bản
Trang 33V ề nội dung: Tính đa dạng, phong phú và dễ truy cập tạo cơ hội cho người giáo
viên có thể chọn lọc những tư liệu thích hợp, cô đọng và phù hợp nhất với nội dung,
mục đích của từng bài giảng mà không bị lặp lại hay nhàm chán vấn đề chọn lọc tư
liệu phù hợp sẽ được đề cập sâu hơn trong mục tiếp theo
3.L ựa chọn công cụ tìm kiếm
Internet là một kho tài liệu khổng lồ với hàng tỉ tài liệu, phần mềm, hình ảnh trên
mạng Việc tìm kiếm một tài liệu cần tham khảo là một công việc không đơn giản và
có thể mất nhiều thời gian nếu không có công cụ hỗ trợ Hiện nay trên Internet có một
số Website hỗ trợ toong việc tìm kiếm thông tin Các Website này thường được gọi là công cụ tìm kiếm (Search Tool) Các công cụ này dò tìm trên Internet những tài nguyên có chứa từ khóa mà bạn cung cấp Chúng có thể dò tìm dựa vào nội dung, URL hay tiêu đề của các tài nguyên Kết quả trả về cho bạn thường là một trang Web
chứa đựng URL, hình ảnh tiêu đề và có thể cùng với một vài mô tả chính yếu về nguồn tài nguyên có liên quan đến từ khóa (Keyxvord)
4.Cách làm vi ệc vói một công cụ tìm kiếm
- Dùng trình duyệt (Internet Explorer) mở trang bắt đầu của trang công cụ tìm
kiếm
- Nhập từ khóa bạn muốn tìm vào ô Search và nhấn Enter
- Trang công cụ sẽ trả về kết quả là các liên kết tới các trang có liên quan tới từ khóa cần tìm Nếu thấy có một liên kết chứa URL mong muốn thì nhấp chuột trên liên
kết đó để xem
Hiện nay trên Internet có rất nhiều công cụ tìm kiếm khá phổ biến Mỗi công cụ được thiết kế với những tính năng riêng Bạn có thể chọn một trong số các công cụ này để tìm kiếm thông tin trên Internet
Trang 34là Uhttp://www.sputtr.com/
Đây là một dịch vụ hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin, hình ảnh, tin tức, video nhưng nó lại không phải là một bộ máy tìm kiếm như Yahoo! hay Google mà đây là
một trang Web trung gian, liên kết với 37 bộ máy tìm kiếm khác nhau, từ những "đại gia" như Google, Google Images, Youtube cho đến những chàng nhỏ bé hơn như Newsvine, Reddit sputtr.com sẽ đem đến cho bạn cả một nguồn dữ liệu khổng lồ
Bạn sẽ nhập từ khóa tìm kiếm vào trang này rồi chọn bộ máy tìm kiếm mà bạn thích
để tra cứu Bạn còn có thể nhấn vào liên kết Customize this page để thêm hoặc xóa các bộ máy tìm kiếm, hoán đổi vị trí các bộ máy tìm kiếm để dễ dùng hơn [43]
Hầu hết các người truy cập mạng trên thế giói đa phần sử dùng tìm kiếm truy
vấn trên Web thực hiện qua Google Kết quả cho thấy Google là dịch vụ tìm kiếm tốt
nhất về văn bản, tập tin, video, hình ảnh, tin tức, hay thông tin địa phương rất chính xác, thông minh và cập nhật nhất
5.Gi ới thiệu một số trang Web, diễn đàn về Vật lý
Cùng với những bộ môn khoa học khác, Vật lý học góp mặt trên Interaet thông qua nỗ lực của những cá nhân, tập thể có kỹ năng tin học và am hiểu bộ môn này Sau đây là các trang Web tiêu biểu trong và ngoài nước
- Uhttp://vatlysupham.comU Đây là Web của những nhà giáo giảng dạy môn vật lý
Những mục chính của Web bao gồm: Đố vui vật lý, giảng dạy, học tập, kiến thức -
lịch sử vật lý, ngân hàng đề thi và những mục hấp dẫn khác như: Thiên văn, Vật lý vui, Thư giãn, Tin tức vật lý và ứng dụng
Trang 35- Uwww.vatlyvietnam.orgU Website này đã tải lên những thông tin khá phong phú qua các mục: Tin tức khoa học, Vật lý phổ thông, Vật lý chất rắn, Vật lý hạt nhân, Vật
lý lượng tử, Vật lý năng lượng cao, Vật lý thiên văn, Lịch sử vật lý, Vật lý và triết
học, Vật lý và cuộc sống
- Uhttp://ephvsicsvn.comU Cổng điện tử vật lý này đã được nâng cấp lên phiên bản 2.0, noi bạn có thể đăng ký là thành viên để tham gia các lớp học trực tuyến
- Uwww.thuvienvatlv.comU của trường Đại học Sư phạm TP.HCM
- wwwU.vatlvtuoitre.comUĐây là một diễn đàn dành cho sinh viên, học sinh trên cả nước Tại đây bạn sẽ làm quen với rất nhiều người nổi tiếng trong Vật lý trung học
phổ thông và sinh viên Bạn có thể học hỏi, trao đổi rất nhiều thông tin
- Uhttp://home.vatlvtuoitre.com/U Tập hợp các bài viết, tin tức, phần mềm, bài
giảng điện tử
- Uhttp://vatlv.hnue.edu.vn/U Khoa vật lý trường Đại học sư phạm Hà Nội
- Uhttp://www.tiasang.com.vn/homeU Tạp chí tia sáng , tập hợp các bài viết khoa
cứu học tập
- Uhttp://vietsciences.free.fr/U Tập hợp các bài viết khoa học
- Uhttp://diendantoanhoc.net/U Diễn đàn toán học
- Uhttp://www.tovienkhoahoc.eom/dethi/VLOS:Trang_Ch%C3%ADnhU Là nơi chia sẻ kiến thức, tài liệu, tư liệu về các môn
T ập hợp các trang, cơ, điện, quang, hạt nhân được viết bằng flash
Trang 36- Trang Web cung cấp hình ảnh động làm bằng flash mô phỏng cho việc dạy và
học môn vật lý: cơ điện quang - hạt nhân
U
http://www.upscale.utoronto.ca/PVB/Hanison/Flash/
6.E-mail là công c ụ học tập từ xa hiệu quả
Ngoài những thông tin có thể tìm kiếm trực tiếp trên Website, việc liên lạc trực
tiếp bằng thư tín điện tử (e-mail) với bạn bè, giáo viên đã mang lại kết quả tích cực và
hiệu quả Trong thời đại Internet, việc trao đổi thông tin với giáo viên không còn gói
gọn ở vài tiết học nơi giảng đường Bất cứ ở đâu và khi nào, một hộp thư điện tử bình thường cũng giúp cho việc tương tác giữa thầy và trò trở nên dễ dàng và tiện lợi
Những vấn đề chưa hiểu trên lớp, bài tập không giải được hoặc đặt câu hỏi tranh luận
học sinh có thể gởi Email cho bạn bè hay giáo viên Trong khi giao tiếp qua điện thoại khá tốn kém thì e-mail, chát giúp các học sinh tiết kiệm được nhiều thời gian và khối lượng thông tin chia sẻ cũng tăng đáng kể Hiện tại, việc tiếp cận thế giới "World Wide Web" đã trở nên rất quen thuộc và các phương tiện liên lạc như e-mail, chát, VoIP được sử dụng khá phổ biến, học sinh có thể đăng ký một hoặc nhiều hộp thư
Trang 37miễn phí với dung lượng đủ lớn tại các dịch vụ như : Yahoo, gmail, hotmail Hộp thư điện tử giúp tăng cường giao tiếp giữa thầy và trò, cung cấp nhiều kênh thông tin và khá linh động về thời gian Giảng đường không thể giải quyết hết tất cả đề tài tranh
luận và e-mail đã hỗ trợ khắc phục tốt vấn đề này Nó mang tính cá nhân hóa rất cao
Học sinh càng có điều kiện tương tác với giáo viên thì mức độ thông tin nắm bắt càng nhiều Giao tiếp bằng e-mail chỉ mang lại kết quả tốt nhất khi cả hai phía thầy và trò đều tích cực sử dụng phương tiện liên lạc này Học từ xa qua Internet hay e-mail đều khó có thể thay thế hoàn toàn cách học truyền thống, nhưng đây là phương tiện hỗ trợ
rất tốt Tăng cường tương tác cũng chính là cách nâng cao hiệu quả học tập
Trong những năm vừa qua sự phát triển thông tin ở Việt Nam có bước tiến vượt
bậc Các chỉ số tăng trưởng về công nghệ sản xuất phần cứng, phần mềm máy tính và
số người sử dụng Intemet thời gian qua đã đạt được nhiều bước phát triển ấn tượng tăng lên đáng kể Đến nay, cả nước đã có 4,3 triệu thuê bao Internet, đáp ứng nhu cầu
sử dụng của 15,5 triệu dân, đạt mật độ 18,64 người sử dụng (NSD)/100 dân, cao hom bình quân khu vực ASEAN và thế giới Tuy nhiên việc sử dụng mạng máy tính và Internet phục vụ cho việc dạy học nói chung và dạy học môn vật lý nói riêng ở các trường THPT hiện nay là chưa cao và chưa hiệu quả là do nhiều vấn đề
Nội dung thông tin giáo dục và phần mềm giáo dục còn nghèo nàn do ít được đầu tư và bản thân GV còn chưa có ý thức xây dựng thông tin
Đầu tư chủ yếu tập trung cho trang bị phần cứng Đến nay có khoảng trên 300 các trang Web liên quan đến giáo dục Website riêng của các trường chủ yếu đó là Website của các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp Phần lớn nội dung các Website mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu các thông tin chung về trường
mà không có các dịch vụ liên quan đến học trực tuyến, nội dung giáo trình, tư liệu rãi rác rất ít chưa phong phú Một số dịch vụ tương tác như diễn đàn, hỏi đáp có tồn tại nhưng hoặc là không hoạt động hoặc chỉ có rất ít sinh viên tham gia trên diễn đàn Website của các trường phổ thông nghèo nàn hơn nhiều không có cập nhật, việc thiết
kế lập Website thực sự chưa chú ý đến việc phục vụ dạy của giáo viên và việc học của
Trang 38học sinh So với các trang Web của các trường đại học trên thế giới thì ngay cả các trang Web tốt hiện nay của Việt Nam còn thiếu thông tin chi tiết tới từng giáo viên,
từng môn học, thư viện điện tử còn nghèo nàn, chưa có sự liên kết với những cơ sở dữ
liệu lớn của nước ngoài cũng như các trường, thư viện trong nước phục vụ nghiên
cứu Các dịch vụ liên quan đến mượn sách của sinh viên chưa được hỗ trợ qua mạng Website luyện thi trực tuyến: Hai Website được nhắc tới nhiều nhất hiện nay
là Uwww.truongthi.com.vnU và Uwww.khoabang.com.vnU Các bài giảng trực tuyến chia làm hai loại là miễn phí (tài liệu ở dạng demo) và thu phí (tương tác trực tiếp với giáo viên, các bộ đề thi, thi trắc nghiêm ) Ngoài ra còn có các Website khác như Uhttp://www.elearning.com.vnU là Website học Tiếng Anh Hai website khác phục
vụ thi trắc nghiệm trên mạng thuộc Trung tâm tin học Bưu điện Đà
Nẵng Uwww.danangpt.vnn.vn/tnghiemU và công ty Tin học Bưu điện NetSoft Uhttp://testonline.netcenter-vn.netU xây dựng Cả hai đều chứa ngân hàng dữ
liệu tổng hợp các đề thi môn học phổ thông dựa trên bộ đề thi trắc nghiệm của Bộ GD&ĐT Các Website cung cấp thông tín về tuyển sinh, du học như Uhttp://www.hssv vnn.vn/diemtuyensinh.U và Uhttp://duhoc.vnn.vn/ tuvanduhocU về
phần mềm phần lớn là các sản phẩm đóng gói của nhóm nghiên cứu và phát triển sinh viên học học và ADCOM software phục vụ cho giáo viên và học sinh ôn luyện đại
học bao gồm các môn Bên cạnh đó trình độ tin học của GV và HS còn hạn chế do đó
họ chưa thực sự quan tâm tới việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học để thay đổi các PPDH truyền thống
Qua đó ta thấy ở Việt Nam việc sử dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào hệ thống giáo dục chưa thực sự được khai thác hết những tiềm năng vốn có
1.3.Sử dụng Website dạy học vật lý nhằm đổi mói phương pháp dạy
1.3.1.Website d ạy học
Website DH là một PTDH được thiết kế và tạo ra nhờ các chức năng ưu việt của các phần mềm MVT thông qua các siêu liên kết đó là các tài liệu điện tử như: bài
giảng điện tử, sách giáo khoa, ôn tập, bài tập, kiểm tra đánh giá, hệ hống tổng hợp
kiến thức cơ bản hay những kiến thức chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học , trên đó
gồm tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện trình diễn các thông tin
Trang 39Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động , để hỗ trợ cho các hoạt động quản lý, đào tạo, giảng dạy, tự học và tham khảo của các nhà quản lý giáo dục,
GV và HS Website DH thực sự là một phương tiện hữu hiệu để phổ biến kiến thức, cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng sử dụng khác nhau trên mạng máy tính
lý
Trong điều kiện hiện nay, nhiều trường học đã chú ý đến sự vận dụng CNTT vào
việc dạy học hỗ trợ GV và HS cụ thể là mạng Internet, hầu hết các trường học đều trang bị ít nhất là một phòng máy có đầy đủ phương tiện như: máy chiếu, âm thanh,
nối mạng cục bộ và mạng Internet Đây là một điều kiện thuận lợi thúc đẩy GV thiết
kế bài giảng, thiết kế Website, các bài tập, tư liệu cài đặt trên máy chủ nối mạng cục
bộ tạo thành kho dữ liệu dùng chung cho GV
Sự đột phá về Internet và công nghệ Web càng phát triển với nhiều mã nguồn
mở, nhiều dịch vụ cho phép đăng ký miễn phí chỉ cần vài thao tác click chuột và nhập tài liệu thì ta có thể tạo được một trang Web hỗ trợ trực tuyến hoặc chúng ta có thể tạo
ra tên miền (Domain) và có một nơi lưu trữ trực tuyến (Web Host) trên Web server như : Uwww.vnn.brU hoặc Uwww.bravehost.comU với dung lượng từ 50Mb đến 100Mb để
phổ biến Website trên toàn thế giới tạo cơ hội cho GV và HS có thể nghiên cứu và học
tập mọi lúc, mọi noi, học tập suốt đời
Với hình thức DH có Website nối mạng hỗ trợ GV có thể linh động tổ chức DH
từ khâu kiểm tra bài cũ, tạo tình huống học tập, lập thí nghiệm, phân chia và trao nhiệm vụ cho HS đến khâu HS tự học và trao đổi thông tin ở nhà do đó thòi gian được rút ngắn, lượng nội dung kiến thức tăng lên Đây chính là điều kiện lý tưởng cho việc
thực hiện các yêu cầu của QTDH và của các phương tiện dạy học hiện đại Dựa trên tiêu chí nêu trên với định hướng là trang Web làm sao dễ sử dụng rõ ràng, giao diện
đồ họa, hoạt hình sinh động hấp dẫn người truy cập đồng thòi dễ dàng thiết kế tích
hợp được các yêu cầu nội dung phù hợp với việc tổ chức dạy và học mang lại hiệu quả cao Do đó việc chọn lựa công cụ để thiết kế Website là một điều hết sức chú ý Qua quá trình nghiên cứu và tham khảo hiện nay trên thị trường có bộ phần mềm nổi tiếng Adobe web premium CS3, bộ phần mềm này là sự kết hợp hài hoa giữa hai hãng
Trang 40Adobe và Macromedia cho ta một bộ công cụ rất mạnh về việc trình bày nội dung Web (Adobe Dreamweaver CS3), đồ họa hình ảnh (Adobe Photoshop CS3), hoạt hình
diễn hoạt (Adobe Flash CS3 Professonal)
1.3.2.1.Công c ụ thiết kể Website
Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ cho việc thiết kế Website, mỗi phần
mềm đều có những ưu nhược điểm khác nhau Ở đây tôi chọn phần mềm Adobe Dreamweaver CS3 là một phần mềm song hành với Flash nổi danh như một trong
những nội dung hoạt hình phổ biến nhất Qua nhiều lần cải tiến và phát triển Adobe Dreamweaver CS3 có thể nói nó là một phần mềm đứng vị trí số một được giữ vững
bằng một loạt tính năng mới như: tích hợp với các phần mềm khác của Adobe, quản lý
và chỉnh sửa css, các mẫu JavaScript dựng sẵn spry Framework Dù là coder hay Desinger thì Dreamweaver CS3 cũng sẽ mang lại cho ta những khả năng vô tận của sáng tạo đây là điều kiện để cho nhà lập Web bảo trì phát triển triển Web thành Web động hỗ trợ cơ sở dữ liệu
1.3.2.2.Công c ụ thiết kế bài giảng Mận tử (BGĐT) và các mô hình diễn hoạt
Như đã đề cập ở trên, hiện nay Flash không chỉ được ứng dụng làm các hình ảnh động như quảng cáo, giao diện Websitẹ mà còn thiết kế các ứng dụng Web với khả năng tương tác dữ liệu, các trò chơi mini cũng như trình diễn các thiết bị điện tử Với
khả năng ứng dụng nêu trên nhiều nhà sư phạm nói chung và bản thân tôi nói riêng đã
chọn Flash làm công cụ thiết kế BGĐT thay cho Microsoft Powerpoint, đồng thời chương trình này cũng giúp cho tôi tạo ra các mô hình diễn hoạt và các mô hình thí nghiệm
1.3.2.3.Bài gi ảng điện tử
Là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy
học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường Multimedia do máy vi tính tạo ra [38, tr 139] cần lưu ý bài giảng điện tử không phải
đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và
h ọc - tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức
của học sinh Bài giảng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế "bảng đen