Điều 28: Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
Phan Thị Thúy Hằng
THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ
VIỆC DẠY VÀ HỌC HÓA HỮU CƠ
LỚP 11 BAN CƠ BẢN Ở TRƯỜNG THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
Phan Thị Thúy Hằng
THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ
VIỆC DẠY VÀ HỌC HÓA HỮU CƠ
LỚP 11 BAN CƠ BẢN Ở TRƯỜNG THPT
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Hoá học
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRANG THỊ LÂN
Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012
Trang 3L Ờ I C Ả M Ơ N
Để hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp
và các em học sinh
Bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gởi lời cảm
ơn chân thành đến Ban Giám hiệu trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh, Phòng Sau đại học, quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên hoàn thành khóa học
Tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
- TS Trang Thị Lân, cô đã hướng dẫn tận tình, động viên và theo dõi sát sao với tinh thần trách nhiệm cùng lòng thương mến trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn này
- PGS TS Trịnh Văn Biều, cảm ơn thầy đã dành rất nhiều thời gian, công sức và những lời chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình học tập
- Các thầy cô, các bạn đồng nghiệp và các em học sinh tại các trường thực nghiệm đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực nghiệm sư phạm
- Cuối cùng xin cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè,
đó là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành tốt luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh 2012
Phan Thị Thúy Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 9
1.2.1 Phương pháp dạy học 9
1.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 10
1.2.3 Một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay[6] 12
1.2.4 Đổi mới phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của CNTT 13
1.2.5 Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học hóa học 15
1.3 Tự học 25
1.3.1 Khái niệm tự học 25
1.3.2 Sự cần thiết của việc tự học 25
1.3.3 Các hình thức tự học 26
1.3.4 Các yêu cầu cần thiết đối với hoạt động tự học 27
1.3.5 Năng lực tự học 27
1.3.6 Biện pháp phát huy tính tự học cho học sinh THPT 31
1.3.7 Tự học qua mạng 33
1.3.8 Lợi ích của tự học qua mạng 33
1.4 Website hỗ trợ việc dạy và tự học 35
1.4.1 Khái niệm website [42] 35
1.4.2 Ưu và hạn chế của website dạy học 36
1.4.3 Website dựa trên mã nguồn mở eFront [120] 37
1.4.4 Các phần mềm thiết kế website [94] 39
Trang 51.5 Thực trạng tự học qua mạng Internet của học sinh và việc sử dụng web trong
dạy học Hóa học ở trường THPT hiện nay 45
1.5.1 Thực trạng tình hình tự học qua mạng Internet của học sinh ở các trường THPT hiện nay 46
1.5.2 Thực trạng sử dụng web trong dạy học Hóa học ở các trường THPT hiện nay 49
Tóm tắt chương 1 52
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ VIỆC DẠY VÀ HỌC PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 BAN CƠ BẢN Ở THPT 54
2.1 TỔNG QUAN VỀ PHẦN HÓA HỮU CƠ LỚP 11 - BAN CƠ BẢN 55
2.1.1 Vị trí 55
2.1.2 Cấu trúc [15] 55
2.1.3 Các nguyên tắc sư phạm khi giảng dạy phần Hóa hữu cơ 59
2.1.4 Phương pháp dạy học phần Hóa hữu cơ 61
2.1.5 Mục tiêu và định hướng phương pháp giảng dạy 62
2.2 Cơ sở khoa học của việc thiết kế website 75
2.2.1 Mục đích thiết kế website 75
2.2.2 Đặc điểm của website dạy học 75
2.2.3 Yêu cầu thiết kế website 76
2.2.4 Nguyên tắc thiết kế website 77
2.2.5 Qui trình thiết kế web 80
2.3 Thiết kế website 83
2.3.1 Cấu trúc website 83
2.3.2 Thiết kế các trang con 84
2.3.4.Thiết kế trang “Bài giảng” 87
2.3.5 Thiết kế trang “Bài tập” 91
2.3.6 Thiết kế trang “Đề kiểm tra” 94
2.4 Nội dung website 96
2.4.1 Trang “Bài giảng” 96
2.4.2 Trang “Bài tập” 99
Trang 62.4.3 Trang “Hóa học và thực tiễn” 103
2.4.4 Trang “Đề kiểm tra” 104
2.4.5 Trang “Tư liệu Hóa học” 105
2.4.6 Trang “Vui học” 107
2.5 Sử dụng Website hỗ trợ việc dạy và học Hóa học lớp 11 ban cơ bản 108
2.5.1 Các bước để vào website 108
2.5.2 Những ưu điểm của website đã thiết kế 108
Tóm tắt chương 2 110
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 111
3.1 Mục đích của thực nghiệm 111
3.2 Đối tượng thực nghiệm 111
3.3 Tiến hành thực nghiệm 114
3.3.1 Chuẩn bị 115
3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 115
3 3.2.1 Thực nghiệm việc sử dụng website tự học chúng tôi đã thiết kế 115
3.3.2.2 Khảo sát ý kiến GV và HS đã sử dụng website 115
3.3.2.3 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm 118
3.4 Kết quả thực nghiệm 119
3.4.1 Các số liệu thực nghiệm 120
3.4.2 Nhận xét của giáo viên về website 130
3.4.3 Nhận xét của học sinh về website 132
3.5 Những bài học kinh nghiệm khi sử dụng website hỗ trợ việc dạy và học phần Hóa hữu cơ lớp 11 ban cơ bản ở trường THPT 137
Tóm tắt chương 3 138
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 140
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
CĐ : Cao đẳng
CNH : Công nghiệp hóa
CNTT : Công nghệ thông tin
CNTT&TT : Công nghệ thông tin và truyền thông
CSS : Cascading Style Sheets – Bảng kiểu xếp chồng
HĐH : Hiện đại hóa
HHHC : Hóa học hữu cơ
HS : Học sinh
HTML : Hypertext Markup Language – Ngôn ngữ liên kết siêu văn bản ICT : Information and communication technology – CNTT&TT PPDH : Phương pháp dạy học
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.Thống kê số lượng GV tham gia điều tra 45
Bảng 1.2.Thống kê số lượng HS tham gia điều tra 46
Bảng 1.3.Kết quả điều tra thực trạng tự học và sử dụng Internet vào việc học tập của HS 46
Bảng 1.4.Kết quả điều tra thực trạng sử dụng CNTT của GV 49
Bảng 2.1 Phân phối chương trình phần hóa hữu cơ lớp 11- ban cơ bản 55
Bảng 2.2 Hướng dẫn giảm tải sách giáo khoa 57
Bảng 3.1 Các lớp thực nghiệm và đối chứng 113
Bảng 3.2 Qui trình thực nghiệm sử dụng website 114
Bảng 3.3 Qui trình tham khảo ý kiến GV về trang web 114
Bảng 3.4 Kế hoạch trên lớp để GV thực hiện đối với từng bài học 115
Bảng 3.5 Danh sách GV tham gia nhận xét 116
Bảng 3.6 Thống kê số lượng HS tham gia nhận xét 117
Bảng 3.8 Phân phối kết quả và % HS đạt điểm Xi trở xuống 122
Bảng 3.9 Phân loại kết quả học tập của học sinh 122
Bảng 3.10 Tổng hợp các tham số đặc trưng 123
Bảng 3.11 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 1 126
Bảng 3.12 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 2 127
Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 3 127
Bảng 3.14 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 4 128
Bảng 3.15 Tổng hợp kết quả học tập bài kiểm tra lần 5 128
Bảng 3.16 Tổng hợp kết quả học tập của 5 bài kiểm tra 129
Bảng 3.17 Nhận xét của GV về website 130
Bảng 3.18 Thống kê số lượng phiếu nhận xét của HS 132
Bảng 3.19 Nhận xét của HS về website 133
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bốn mục tiêu của giáo dục 10
Hình 1.2 Chu trình học ba thời 32
Hình 2.1 Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick 83
Hình 2.2 Cấu trúc của Website 84
Hình 2.3 Giao diện trang chủ 84
Hình 2.4 Giao diện bảng Options 85
Hình 2.5 Giao diện thẻ New category 85
Hình 2.6 Giao diện thẻ Category settings 85
Hình 2.7 Giao diện thông báo thiết kế trang con thành công 86
Hình 2.8 Giao diện trang chủ login với vai trò admin 86
Hình 2.9 Giao diện bảng Options khi thiết kế Logo 87
Hình 2.10 Giao diện thẻ Appearance 87
Hình 2.11 Giao diện trang chứa logo đã thiết kế 87
Hình 2.12 Giao diện trang “ Bài giảng” 88
Hình 2.13 Giao diện bảng Options 88
Hình 2.14 Giao diện bảng New lesson 89
Hình 2.16 Giao diện thông báo thiết kế bài giảng thành công 89
Hình 2.15 Giao diện bảng Edit lesson 89
Hình 2.17 Giao diện khóa học “ Courses” 90
Hình 2.20 Giao diện bảng Course users 91
Hình 2.18 Giao diện thẻ Update courses 90
Hình 2.19 Giao diện bảng Course lessons 91
Hình 2.21 Giao diện trang “ Bài tập” 92
Hình 2.22 Giao diện thẻ Options 92
Hình 2.23 Giao diện trang nội dung 93
Hình 2.24 Giao diện thẻ Unit properties 93
Hình 2.25 Giao diện trang “Đề kiểm tra” 94
Hình 2.26 Giao diện thẻ Questions 95
Hình 2.27 Giao diện thẻ Question infomations 95
Hình 2.28 Giao diện thẻ Test questions 96
Hình 2.29 Sơ đồ hệ thống các bài giảng 99
Trang 10Hình 2.30 Giao diện trang “Bài giảng” 99
Hình 2.31 Sơ đồ danh sách các chủ đề trong hệ thống bài tập 102
Hình 2.32 Giao diện trang “Bài tập” 102
Hình 2.33 Giao diện trang “Bài tập trắc nghiệm” 102
Hình 2.34 Giao diện trang “Bài tập tự luận” 103
Hình 2.35 Giao diện trang “Phương pháp giải toán Hóa hữu cơ” 103
Hình 2.37 Giao diện trang “Hóa học và thực tiễn” 104
Hình 2.39 Giao diện bài kiểm tra 105
Hình 2.38 Giao diện trang web khi HS chuẩn bị làm bài kiểm tra 105
Hình 2.41 Giao diện phần “Phim thí nghiệm” 107
Hình 2.40 Giao diện phần “ Phiếu ghi bài” 106
Hình 2.42 Giao diện trang web khi đăng nhập với vai trò HS 107
Hình 2.43 Giao diện “forum” 108
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích điểm thực nghiệm lần 1 125
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích điểm thực nghiệm lần 2 125
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích điểm thực nghiệm lần 3 125
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích điểm thực nghiệm lần 4 126
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích điểm thực nghiệm lần 5 126
Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích kết quả 5 lần thực nghiệm 126
Hình 3.7 Biểu đồ phân loại kết quả thực nghiệm lần 1 127
Hình 3.8 Biểu đồ phân loại kết quả thực nghiệm lần 2 127
Hình 3.9 Biểu đồ phân loại kết quả thực nghiệm lần 3 128
Hình 3.10 Biểu đồ phân loại kết quả thực nghiệm lần 4 128
Hình 3.11 Biểu đồ phân loại kết quả thực nghiệm lần 5 129
Hình 3.12 Biểu đồ phân loại kết quả 5 lần thực nghiệm 129
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỉ 21, thế kỉ của khoa học kĩ thuật phát triển, nền kinh tế cạnh tranh cao,
do đó tri thức và kĩ năng của con người được xem là yếu tố quyết định của sự phát triển xã hội
Con người phải có tri thức và phẩm chất trí tuệ cao, có năng lực giao tiếp, có những giá trị nhân văn đạo đức sâu sắc, phong phú, có kĩ năng, kĩ xảo, khả năng thích ứng và tự điều chỉnh Để đào tạo được con người đáp ứng được nhu cầu của
xã hội, hòa nhập với nền giáo dục thế giới , phục vụ sự phát triển ngày càng cao của
xã hội, chúng ta thực sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy và học, nhằm phát huy tối đa tư duy sáng tạo và năng lực của người học, dạy học coi trọng thực hành, thực nghiệm, người học được làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay Bên cạnh đó chúng ta cũng cần đổi mới tổ chức và thực hiện nghiêm chỉnh chế độ thi cử
Hiện nay, quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn đòi hỏi con người phải có kiến thức và phương pháp tư duy độc lập, sáng tạo Nhà trường phổ thông phải trang bị kiến thức cơ bản và rèn luyện năng lực tư duy độc lập, sáng tạo thông qua quá trình học tập của các em Học có hướng dẫn của giáo viên và tự học của học sinh Muốn vậy, cần phải có sự đổi mới về nội dung lẫn phương pháp dạy học Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 Bộ GD – ĐT có chủ trương “ Đẩy mạnh ứng dụng CNTT ( CNTT ) vào trường học “ nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục “ Đấy cũng là hướng phấn đấu nhằm vượt qua ranh giới lạc hậu về giáo dục của nước ta so với khu vực và thế giới Tuy nhiên việc đưa CNTT vào trường học
để góp phần đổi mới cách dạy và cách học gặp không ít khó khăn Nhất là hiện nay,
tư liệu hỗ trợ cho việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc học tập , nghiên cứu của học sinh về môn hóa nói chung và phần hữu cơ nói riêng còn hạn chế Với
những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn để nghiên cứu đề tài “ Thiết kế website
Trang 12nhằm hỗ trợ việc dạy và học Hóa học hữu cơ lớp 11 ban cơ bản ở trường THPT ”
2 Mục đích của việc nghiên cứu
Thiết kế website nhằm hỗ trợ việc dạy và tự học phần Hóa học hữu cơ lớp 11 ban
cơ bản ở trường THPT
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về đổi mới phương pháp dạy học, tự học và biện pháp nâng cao khả năng tự học cho HS
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về website
- Nghiên cứu một số phần mềm thiết kế web
- Nghiên cứu nội dung, chương trình sgk lớp 11
- Tìm hiểu thực trạng ứng dụng CNTT vào dạy học của GV và tự học của HS ở các trường THPT hiện nay
- Thiết kế website chương 5, 6, 7, 8, 9 phần Hóa hữu cơ lớp 11 ban cơ bản
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của website đã thiết kế
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu:
Quá trình dạy học hóa học ở phổ thông
- Đối tượng nghiên cứu:
Việc thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học phần Hóa học hữu cơ lớp 11 ban cơ
bản ở trường THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học phần Hóa hữu cơ lớp 11 ban cơ bản
6 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế được website hỗ trợ dạy và học Hóa hữu cơ lớp 11 ban cơ bản với nội dung chính xác, khoa học, phong phú, sinh động, có đầy đủ các bài giảng, bài tập, phần trắc nghiệm kiểm tra đánh giá và các hình ảnh, thí nghiệm, diễn đàn trao
Trang 13đổi học tập kinh nghiệm…., hình thức website đẹp, lôi cuốn và hấp dẫn sẽ là nguồn
tư liệu bổ ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học; phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh phổ thông; đồng thời bồi dưỡng cho các em năng lực tự học, tự đọc, tự kiểm tra, tự nghiên cứu – một công cụ có tính chiến lược giúp cho học sinh khả năng tự học suốt đời Từ đó, giúp nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học Hóa học ở trường THPT
7 Phương pháp và phương tiện nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nhiên cứu sau:
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Hóa học, việc tự học
- Nghiên cứu nội dung chương trình Hóa hữu cơ 11
- Nghiên cứu tài liệu hướng dẫn xây dựng Web : phần mềm mã nguồn mở eFront, phần mềm Dreamwaver, phần mềm Flash , iSpring, Snagit …
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến đề tài như các bài giảng, hệ thống câu hỏi, bài tập trong sách, đề thi tuyển sinh đại học, ……
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy Hóa học ở một số trường THPT hiện nay
- Trao đổi, rút kinh nghiệm với các giáo viên và các chuyên gia
+ Quan sát, trò chuyện với HS nhằm đánh giá thực trạng truy cập mạng của học sinh hiện nay
+ Trao đổi kinh nghiệm với các nhà giáo dục, các giáo viên về kinh nghiệm dạy học, …
+ Điều tra thăm dò trước và sau thực nghiệm sư phạm
+ Nghiên cứu kế hoạch học tập của học sinh lớp 11 ban cơ bản tại các trường THPT + Tham khảo các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo lâu năm, trong đó có các chuyên gia tin học để hoàn thiện kết quả nghiên cứu
Trang 14- Thực nghiệm sư phạm
+ Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của trang web đã thiết kế, thông qua việc đưa vào sử dụng
+ Triển khai về việc sử dụng trang web cho học sinh khối 11
7.3 Phương pháp thống kê toán học
- Xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm thu được bằng phần mềm SPSS rút ra kết luận
7.4 Phương tiện nghiên cứu
Máy vi tính, tranh ảnh, các phần mềm Hóa học hỗ trợ
8 Điểm mới của đề tài
- Website được thiết kế công phu, đẹp về hình thức, đầy đủ, phong phú, sinh động, chính xác và khoa học về nội dung, có phần test kiểm tra kiến thức, làm bài kiểm tra trực tuyến, có diễn đàn trao đổi học tập sẽ giúp ích rất nhiều cho việc dạy
và học Hóa học hữu cơ lớp 11, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học
- Phần kiểm tra trực tuyến được thiết kế trên Quiz, học sinh làm kiểm tra sẽ có kết quả ngay lập tức, giao diện đẹp
- Bài giảng được thiết kế trên powerpoint, dùng iSpring Presenter v6 để đóng gói sản phẩm đưa lên web Khi học trên web, HS có thể thấy phần trình chiếu powerpoint như trên máy tính của mình
- Website có hệ thống hỗ trợ chức năng wiki để học sinh chia sẻ bài viết
- Diễn đàn (forum) để thảo luận, chia sẻ ý kiến
- Chức năng “chat” cho phép HS trò chuyện, trao đổi online với nhau
- Chức năng tạo sổ điểm (Gradebook) giúp GV có thể dễ dàng chấm điểm, đánh giá/xếp loại HS của mình
- Chức năng Test cho phép tạo các bài thi, bài kiểm tra với các hình thức trắc nghiệm, tự luận, tự động chấm điểm, lưu điểm kiểm tra vào sổ điểm để GV đánh giá
- “Website hỗ trợ dạy và học Hóa học hữu cơ lớp 11 cơ bản ở trường THPT” được thiết kế bằng mã nguồn mở eFront – là một hệ thống hỗ trợ học tập trực tuyến
Trang 15Learning Management System (LMS) nguồn mở, hỗ trợ rất mạnh trong giáo dục EFront có mặt ở khắp các châu lục trên thế giới nhưng ở Việt Nam , chưa có trường nào hay tổ chức nào xây dựng và phát triển hệ thống hỗ trợ học tập trực tuyến với LMS nguồn mở eFront
Trang 16Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chúng ta đang sống ở những thập niên đầu của thế kỷ 21, thời đại thông tin Nhân loại đang quá độ sang nền kinh tế tri thức mà đặc điểm của nó là sự bùng nổ thông tin Chính CNTT đã trực tiếp sinh ra thời đại này, thời đại mà khối lượng thông tin nói chung tăng nhanh theo hàm số mũ Trong tình hình đó, cũng chỉ có CNTT và truyền thông mới có khả năng chọn lựa từ bể cả thông tin của loài người những điều cần thiết và xử lý nhanh chóng để chúng biến thành tri thức
CNTT và truyền thông được tiếp nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp học sinh định hướng tư duy và thái độ của mình trong thời đại mới
CNTT và truyền thông đã tạo nên làn sóng mới thay đổi cách dạy học của giáo viên và cách học của học sinh
Chỉ cần lên mạng Internet chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều trang web về Hóa học, những trang web hay và đầy đủ chủ yếu bằng tiếng Anh, nhưng những bài học viết khá sâu và khó, chưa phù hợp với trình độ của học sinh phổ thông Trang web của các trường phổ thông chủ yếu dành để giới thiệu về trường, thông báo kết quả học tập của học sinh hay thời khóa biểu của các lớp, là cầu nối giữa phụ huynh
và nhà trường Một số trường cũng có đưa lên web một số bài học, các thí nghiệm vui lên nhưng rất ít và rời rạc Một số trang web dạy học Hóa học chưa thật bắt mắt, gần gũi với người học, trang có nội dung phù hợp lại thu phí khá cao
Những khóa luận tốt nghiệp và luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hóa học của trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội viết về đề tài có liên quan hoặc vận dụng CNTT vào quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học ngày càng phong phú Sau đây là một số khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hóa học của trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội :
1 Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn Hóa học lớp 11 chương trình
p hân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
Trang 172 Cao Duy Trí Trung (2005), Thiết kế trang web phục vụ công tác giáo dục môi trường trong môn Hóa ở trường THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM
3 Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia
Dreamweaver MX và Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trọ cho việc học tập và củng cố kiến thức môn Hóa học phần hidrocacbon không
no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM
4 Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và
Macromedia Dreamweaver để thiết kế website về lịch sử Hóa học lớp 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
5 Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế website phục vụ việc học tập và ôn tập
chương Nguyên tử cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash
và Dreamweaver, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
6 Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia
Dreamweaver MX và Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự học môn Hóa học lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
7 Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia
Dreamweaver MX 2004 và Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức cho học sinh môn Hóa học nhóm Oxi – Lưu huỳnh chương trình cải cách, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM
8 Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia
Dreamweaver MX 2004 và Macromedia Flash MX 2004 để website hỗ trợ cho hoạt động tự học Hóa học của học sinh phổ thông trong chương halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
9 Lương Công Thắng (2006), Lập website bằng phần mềm Dreamweaver về
những thí nghiệm lượng nhỏ của Hóa học hữu cơ được thiết kế bằng phần mềm PowerPoint, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
Trang 1810 Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học
chương Halogen lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
11 Nguyễn Trần Đông Quỳ (2007), Website giáo dục môi trường qua chương
trình Hóa học lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
12 Ngô Thị Phương Bích (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học
chương nhóm Oxy lớp 10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM
13 Nguyễn Thị Liễu (2008), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học phần
Hóa hữu cơ lớp 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
14 Thái Hoài Minh (2008), Thiết kế website về phương pháp giải nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan Hóa học vô cơ ở trường THPT, Luận văn
thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
15 Lê Thị Thu Hà (2009), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và học môn Hóa
học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
16 Nguyễn Thị Ngọc Xuân (2008), Thiết kế website về phương pháp giải
nhanh các bài tập trắc nghiệm khách quan Hóa học vô cơ ở trường THPT,
Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
17 Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2010), Xây dựng website nhằm tăng cường năng
lực tự học cho học sinh giỏi Hóa lớp 11, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
18 Phạm Duy Nghĩa (2011), Xây dựng website chương nguyên tử, chương
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học và định luật tuần hoàn lớp 10 cơ bản
để nâng cao chất lượng dạy học, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
19 Huỳnh Lâm Thị Ngọc Thảo (2011), Thiết kế eBook hỗ trợ việc dạy và học
Hóa hữu cơ lớp 11 chương trình cơ bản, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM
20 Vũ Lê Hà Khánh (2012), Thiết kế và sử dụng website hỗ trợ dạy và học
phần lý thuyết chủ đạo môn Hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận
Trang 19học sinh sáng tỏ các khái niệm lý thuyết khó và trừu tượng Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề sau :
- Các đề tài mới dừng ở việc cung cấp lý thuyết bài giảng là chủ yếu
- Tư liệu học tập chưa thật phong phú
- Chưa có tính chuyên nghiệp trong việc xây dựng website hỗ trợ học tập trực tuyến
- Phần bài tập chưa nhiều, chưa có bài tập mẫu, chưa có phần phương pháp giải bài tập cho học sinh
- Chưa có bài tập trắc nghiệm trực tuyến cho học sinh tự học, tự rèn luyện và tự kiểm tra đánh giá
- Chưa có diễn đàn thông tin trao đổi giữa giáo viên với học sinh, cũng như giữa học sinh với học sinh
“ Ta không thể dạy người khác bất cứ điều gì Ta chỉ có thể giúp họ khám phá
PPDH là cách thức thực hiện phối hợp, thống nhất giữa người dạy và người học, nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học Đó là sự kết hợp hữu cơ và thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học trong quá trình dạy học PPDH theo nghĩa rộng bao gồm:
Trang 20• Phương tiện dạy học
• Hình thức tổ chức dạy học
• PPDH theo nghĩa hẹp
Đảng và Nhà nước ta luôn coi Giáo dục là quốc sách hàng đầu Đường lối đó đem lại nhiều vinh dự, nhiều trọng trách cùng những suy tư, trăn trở cho đội ngũ GV Để hoàn thành tốt sứ mạng của mình, ngành Giáo dục đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối trong đó trọng tâm là đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy học
Vậy đổi mới phương pháp dạy học là gì ?
1.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Quán triệt tinh thần thông điệp của UNESCO về giáo dục trong thế kỷ 21 gồm có bốn trụ cột:
“Mục tiêu chính của giáo dục là tạo ra những con người có khả năng sáng tạo những điều mới mẻ, chứ không đơn giản là sao chép những gì thế hệ trước đã làm.”
Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lý giáo dục người Thụy Sĩ
(Nguồn: Quotes on Education, www.lhup.edu/dsimanek/eduquote.htm)
Hình 1.1 Bốn mục tiêu của giáo dục
Trích từ Luật Giáo Dục 38/2005/QH11 việc hình thành kỹ năng là thành phần quan trọng trong mục tiêu giáo dục của nước ta qua các điều sau:
Điều 3: Tính chất, nguyên lý giáo dục
“Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”
Trang 21Điều 5: Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông
“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Điều 28: Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bỗi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII về việc tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và NCKH, gắn nhà trường và xã hội, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, do đó đặt ra nhiệm vụ cho ngành giáo dục phải đổi mới PPDH để đào tạo con người có đủ khả năng sống và làm việc theo yêu cầu của cuộc cách mạng lớn của thời đại: Cách mạng truyền thông, CNTT, cách mạng công nghệ Một trong những sự đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, trong việc tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức thì lấy học sinh làm trung tâm Theo hướng này giáo viên đóng vai trò tổ chức và điều khiển học sinh chiếm lĩnh tri thức, tự lực hoạt động tìm tòi để dành kiến thức mới
Trang 22 Theo GS Nguyễn Cương [59] Bản chất của việc đổi mới PPDH là tổ chức cho người học được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, trong đó việc xây dựng phương pháp học tập sáng tạo là cốt lõi của đổi mới phương pháp giáo dục nói chung và PPDH nói riêng
Định hướng trên đây về đổi mới PPDH là dựa trên cơ sở của những nghiên
cứu tâm lý về khả năng lưu giữ thông tin của học sinh
Khả năng lưu giữ thông tin bằng đọc chỉ đạt 5%, bằng nghe chỉ đạt 15%, bằng nhìn đạt được 20%, vừa nghe vừa nhìn 25%, bằng thảo luận đạt được 55%, thu nhận kinh nghiệm bằng hành động đạt được 75%, khi dạy lại cho người khác có thể đạt tới 90%
Như vậy, đổi mới phương pháp giáo dục, một yêu cầu cấp bách của thời đại Chúng ta đang đứng ở đầu thế kỉ XXI, thế giới đang xảy ra sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là một xã hội “dựa vào tri thức”, dựa vào tư duy sáng tạo, tài năng sáng chế của con người Sự thịnh vượng về mặt kinh tế của một đất nước dựa trên việc sử dụng tài sản trí tuệ và nguồn lực về các ngành nghệ thuật, các khoa học công nghệ, đồng thời nhờ vào việc phát triển lực lượng lao động rất lành nghề và thường xuyên học hỏi
Nói tóm lại, cốt lõi của việc đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động, tích cực của học sinh
Sự thay đổi này đòi hỏi chúng ta phải dạy và học như thế nào?
1.2.3 M ột số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay[6]
“Giáo dục không phải là nhồi nhét kiến thức mà thắp lên ngọn lửa say mê học tập.”
William Butler Yeats (1865-1939), nhà thơ Ai-len
(Nguồn: Quotes on Education, www.lhup.edu/dsimanek/eduquote.htm)
Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về đổi mới PPDH theo các hướng khác nhau Sau đây là một số xu hướng đổi mới cơ bản:
Trang 23- Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ giáo viên sang học sinh Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang tìm tòi, khám phá Tạo điều kiện cho học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
- Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm tự học suốt đời Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho học sinh phương pháp học tập, phương pháp tự học để thực hiện phương châm học suốt đời
- Tăng cường rèn luyện năng lực tư duy, khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống thực tế Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa kiến thức sang lối học coi trọng việc việc vận dụng kiến thức
- Cá thể hóa việc dạy học
- Tăng cường sử dụng thông tin trên mạng, sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học, đặc biệt là tin học và CNTT vào dạy học
- Từng bước đổi mới việc kiểm tra đánh giá, giảm việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, khuyến khích việc kiểm tra khả năng suy luận, vận dụng kiến thức, sử dụng nhiều loại hình kiểm tra thích hợp với từng môn học
- Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học ở mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của học sinh, theo cấp học, bậc học)
1.2.4 Đổi mới phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của CNTT
Bên cạnh các phương tiện dạy học truyền thống, mỗi bước đột phá trong công nghệ lại dẫn đến những hoàn cảnh mới, làm thay đổi cách dạy, cách học, thậm chí
cả phương thức đào tạo
Ngày nay, CNTT và vi tính phát triển mạnh mẽ lại ảnh hưởng lớn đến GD Sự phát triển của các phần mềm dạy học thông minh, học trong môi trương tương tác
đa phương tiện có sự hỗ trợ của máy tính ngày càng phát triển
Tại sao ứng dụng CNTT trong dạy học diễn ra rầm rộ trong giai đoạn hiện nay?
- Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính trị ngày 07 tháng 10 năm 2001 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT
Trang 24phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg;
- Hiện nay các trường phổ thông đều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên
sử dụng vào quá trình dạy học của mình
- CNTT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những PPDH theo cách tiếp cận kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát
hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường CNTT và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho HS nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của HS Như vậy, việc chuyển từ
“lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn
- Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể như: Office, Cabri, Crocodile, Maple/Mathenatica, ChemWin, LessonEditor/VioLet … hệ thống WWW, Elearning và các phần mềm đóng gói, tiện ích khác Do sự phát triển của CNTT & TT mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Nhờ có sử dụng các PMDH này mà học sinh trung bình, thậm chí học sinh trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập PMDH được sử dụng ở nhà cũng sẽ nối dài cánh tay của GV tới từng HS thông qua hệ
Trang 25thống mạng Nhờ có máy tính điện tử mà việc thiết kế GA và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống, chỉ cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra ngay nội dung của bài giảng với những hình ảnh, âm thanh sống động thu hút được
sự chú ý và tạo hứng thú nơi HS Thông qua GAĐT, GV cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở tạo điều kiện cho HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của CNTT & TT đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người
Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho HS, tạo ra một môi trường GD mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, HS được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
1.2.5 Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học hóa học
1.2.5.1 Tổng quan về Công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học Hóa học
CNTT (Information Technology, viết tắt là IT) là ngành ứng dụng công nghệ
quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt trong các cơ quan tổ chức lớn Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ,
xử lý, truyền, và thu thập thông tin
Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt Nam, như sau:
"CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật
hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội."
Trong hệ thống giáo dục nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, CNTT đã được chính thức được tích hợp vào chương trình học phổ thông
Trang 26Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực
Hóa học là một khoa học của các biểu tượng, tất cả các kết quả nghiên cứu
về các chất và sự biến đổi của chúng đều phải được biểu diễn dưới dạng các
phương trình phản ứng Hóa học, các đồ thị, sơ đồ, biểu bảng… Tất cả các biểu
tượng đó có thể được trình bày một cách trực quan nhất nhờ ứng dụng ICT Đây là một thực tế hết sức thuận lợi để dạy và học Hóa học phát triển nhờ ứng dụng ICT
1.2.5.2 Vai trò của CNTT và truyền thông trong dạy học hóa học
Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để công nghệ có thể giúp ích nhiều nhất cho hoạt động học tập tích cực và có ý nghĩa? Trong một thời gian dài, công nghệ được xem là công cụ chuyển tải thông tin đến người học, như in bài, sao chụp, xem video dạy học Quan niệm này cho rằng kiến thức được truyền từ thầy sang trò và
có thể được thể hiện thông qua các bài học trên nhiều phương tiện khác nhau như băng hình, truyền hình, máy tính Như vậy , học sinh học từ công nghệ những gì
mà người ta đã chuẩn bị sẵn, tương tự cách HS học từ thầy cô những gì thầy cô truyền đạt
Thật ra, HS sẽ chỉ thu hoạch được rất ít từ cách học trên, mà cần phải biết học từ sự tư duy của chính mình Tư duy sản sinh ra học tập Học tập là hệ quả từ
tư duy
Tư duy được thúc đẩy nhờ hoạt động Đó cũng là lý do cần phải hoạt động hóa người học Các hoạt động này có thể được GV và công nghệ giới thiệu và hỗ trợ Công nghệ phải giúp tạo nên sự phấn khích và hỗ trợ các hoạt động thúc đẩy tư duy của người học, nghĩa là hoạt động hóa người học, qua đó dẫn đến học tập Công nghệ có thể cổ vũ và hỗ trợ học tập nếu được dùng như những công cụ và một trợ thủ tri thức, giúp người học tư duy
Như vậy, sử dụng máy tính như công cụ dạy học hay như là phương
tiện góp phần nâng cao tính tích cực trong dạy – học là để khai thác điểm mạnh
Trang 27của kĩ thuật hiện đại hỗ trợ cho quá trình dạy – học Máy tính có thể mô
phỏng những hiện tượng, những thí nghiệm không thể hoặc không nên sử dụng trong tiết dạy, cũng không thể hoặc khó có thể thực hiện nhờ những phương tiện khác để biểu đạt Việc mô phỏng giúp tránh được những nguy hiểm, tránh sự hạn
chế về thời gian, không gian và kinh phí mà vẫn có thể biểu đạt tốt, giúp người học nhanh chóng nắm bắt kiến thức
Máy tính có khả năng lưu trữ một lượng thông tin rất lớn và tái hiện chúng dưới những dạng khác nhau trong thời gian hạn chế, nó có thể được dùng
như một máy soạn thảo văn bản để chuẩn bị bài giảng, nội dung dạy học và
chỉnh sửa, bổ sung, cập nhật thông tin cho bài giảng luôn mới, luôn phong phú và sinh động Với các công cụ bảng tính với những công thức hay chương trình được cài đặt có thể giúp người học trong việc điều tra, nghiên cứu… và máy tính có
thể hỗ trợ tốt cho những người học khác nhau từ người có tài năng tới người bị khuyết tật…
Máy tính còn cho phép HS học theo những bước riêng của mình, do đó có thể tiết kiệm được nhiều thời gian dạy học trên lớp, tạo nên khả năng cá thể hóa trong học tập của HS Các chương trình dạy học trên máy tính còn tạo điều kiện cho
HS tự củng cố những kiến thức mà mình chưa nắm vững Mô phỏng trên máy tính giúp HS tự rèn luyện kĩ năng thực hành, làm bài thí nghiệm mà không cần có trang thiết bị thực
Với mạng toàn cầu, máy tính có thể cung cấp cho người sử dụng những thông tin đa dạng từ nhiều nguồn cung cấp tham gia trong mạng Các chương trình phần mềm máy tính được tạo ra để giải quyết một số vấn đề đặc biệt đã giúp cho người sử dụng không cần tốn nhiều thời gian nghiên cứu cách giải quyết
mà vẫn thực hiện vấn đề một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả cao
Dạy học, xét về hình thức tiến hành là một quá trình truyền thông hai chiều
Vì vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học nói chung và nhằm nâng cao tính tích
cực trong dạy – học nói riêng là xu hướng tất yếu của thời đại Sở dĩ như vậy là vì CNTT có những ưu thế, những thế mạnh Các thế mạnh mà CNTT mang lại cho
người sử dụng nó là: Tốc độ cao, tính nhất quán, chính xác và ổn định Những thế
Trang 28mạnh này của CNTT hoàn toàn phù hợp và đáp ứng được những yêu cầu mới trong việc dạy – học Ngoài ra, CNTT còn mang lại cho người sử dụng những ứng dụng quan trọng như: thu thập, xử lí, lưu trữ và truyền tín hiệu một cách nhanh chóng, hiệu quả CNTT sẽ làm thay đổi không chỉ nội dung mà cả phương pháp dạy học:
- Có thể làm bài dạy HS động, hấp dẫn thông qua hình ảnh, âm thanh
- Có thể tiến hành các thí nghiệm minh họa trực tiếp trong khi giảng
- Có thể chỉ ra các tài liệu tham khảo, cần thiết ngay trong lúc giảng
- Nguồn thông tin đa dạng, phong phú, sinh động và có cả yếu tố bất ngờ
- Có thể dễ dàng hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu
1.2.5.3 Ưu điểm của CNTT và truyền thông trong dạy học Hóa học
Đối với môn Hóa học, việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, phương pháp dạy học
Cụ thể là :
- CNTT là một công cụ đắc lực hỗ trợ cho việc xây dựng kiến thức mới
- CNTT tạo ra môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh video, camera … với âm thanh, văn bản, biểu đồ … được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan;
- Kĩ thuật đồ hoạ nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường;
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên nhiều lĩnh vực;
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người
sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet … có thể được khai thác để tạo nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu
- Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh chữ,
âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới Đây là một công dụng
Trang 29lớn của CNTT và truyền thông trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học
Có thể khẳng định rằng, môi trường CNTT và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới
1.2.5.4 Những khó khăn của việc ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học Hóa học
Việc đưa CNTT và truyền thông ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn
toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối
mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và
các PPDH truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho HS
- Thay đổi nhiều thói quen đã từng thành công và có hiệu quả trong quá khứ không phải là điều dễ dàng Càng khó khăn hơn khi việc đổi mới PPDH còn đòi hỏi những
am hiểu nhất định về tin học và sử dụng các phương tiện CNTT CNTT và ứng dụng tin học lại đặt ra yêu cầu nhất định về trình độ Anh ngữ, một trở ngại lớn khác với một bộ phận không ít GV Không có những chuyển động đồng bộ và định hướng rõ nét thì khó đạt được kết quả như mong muốn
- Bên cạnh đó, việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các PPDH đồng thời phát huy ưu điểm của PPDH
Trang 30này làm hạn chế những nhược điểm của PPDH truyền thống Điều đó làm cho CNTT, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó
- Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới PPDH bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
- Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền
- Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian
và công sức để sử dụng CNTT trong lớp học một cách có hiệu quả
- Vì rất nhiều lý do như đã thoát ly giảng dạy, bận bịu với quá nhiều việc, nên ban giám hiệu các nhà trường thường ít có thời gian dự giờ, có nơi chưa thực sự đi sâu,
đi sát, tháo gỡ kịp thời những băn khoăn, vướng mắc của GV trong việc triển khai yêu cầu này
Như vậy, sự cần thiết phải đổi mới PPDH thì đã rõ, song để thực hiện rộng khắp trong toàn ngành thật không đơn giản PPDH cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xóa được trong một thời gian tới Điều
đó, đòi hỏi người thầy không chỉ có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, mà còn phải
tự mình vượt qua những thói quen đã ăn sâu, bám rễ Nói như một vị cán bộ quản lý ngành: “Nó đòi hỏi thay đổi nhận thức về sự trao đổi chủ thể trong một tiết dạy và phục vụ cho điều ấy là biết bao công sức: Làm quen với CNTT và những phương tiện dạy học hiện đại, sử dụng được đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá, tiếp cận với những đòi hỏi mới về kiến thức cũng như tâm lý của học trò Hãy nhìn vào những đôi mắt học trò! Chúng ta sẽ thấy sự háo hức, niềm khát khao hiểu biết vô
Trang 31bờ Chúng đang mong đợi các thầy cô truyền cho cách tự phát hiện, chiếm lĩnh và
sử dụng tri thức một cách tự nhiên nhất, giản đơn nhất và cũng khó quên nhất Vậy thì, đổi mới PPDH là một nhu cầu không thể thiếu, và mỗi thầy cô giáo hãy nỗ lực hết mình !”
1.2.5.5 Xu hướng ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học
“CNTT sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta Những người công nhân sẽ
có khả năng cập nhật các kỹ thuật trong lĩnh vực của mình Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất.” (The Road Ahead, Bill Gates) Như vậy, bằng các thành tựu của CNTT sẽ
phát triển lên thành mạng lưới học tập trực tuyến E−Learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này Theo quan điểm hiện đại, E−Learning là sự phân phát các nội dung học bằng cách sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, Intranet, … trong đó, nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video, …
Nhìn lại những năm học trước đây của nước ta, nội dung giáo dục ít gắn liền với yêu cầu của cuộc sống hằng ngày, dạy học vẫn bằng phương pháp lạc hậu: thầy giảng – trò ghi, chưa cập nhật được những thành tựu khoa học tiên tiến trên thế giới
Do đó, sản phẩm giáo dục – con người thông qua gíáo dục đào tạo thường thiếu năng động, sáng tạo, còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi của cuộc sống vốn rất đa dạng và luôn luôn biến đổi không ngừng
Để hòa cùng với nhịp độ phát triển giáo dục chung của các nước trên thế giới, trong những năm 1990 trở lại đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những cố gắng trong việc tăng cường trang thiết bị, cung cấp thêm nhiều máy tính cho các trường phổ thông, mở rộng và nâng cao chất lượng sinh viên khoa CNTT, cử nhiều
GV đi học thêm tin học, phổ cập chứng chỉ Intel cho GV ở các trường phổ thông, khuyến khích các cán bộ nghiên cứu các phần mềm dạy học
Trang 32Trích từ bài báo “Năm học 2008-2009: Bước đột phá ứng dụng CNTT trong ngành Giáo dục Việt Nam” trên trang web http://vietbao.vn/Giao-duc/ vào ngày
20/08/2008 có viết về tình hình ứng dụng CNTT của nước ta hiện nay như sau:
Năm 1998, ngay sau khi Internet được mở ra tại Việt Nam, Trung tâm CNTT của Bộ (nay là Cục CNTT) đã xây dựng đề án Mạng giáo dục EduNet, để nối mạng toàn ngành và phát triển dịch vụ thông tin giáo dục Ý tưởng nội dung cơ bản của dự án Mạng giáo dục có thể tóm tắt như sau: Nối tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo vào Internet trên một xa lộ quốc gia (backbone), phát triển các dịch vụ thông tin và ứng dụng trên Internet, phát triển thông tin (số) về giáo dục; đưa công nghệ dạy học trực tuyến lên mạng EduNet để chia sẻ dùng chung, để mọi người có thể học mọi nơi, mọi lúc; mỗi trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) phải có website riêng, mỗi giáo viên và HS có email theo tên miền của trường Trong khoảng mười năm gần đây, các trường THPT đã triển khai chương trình dạy môn tin học, trình độ giảng dạy và ứng dụng tin học đã có cơ sở vững chắc, nhiều phần mềm dạy học đã được thử nghiệm Nhiều giáo viên đã thử ứng dụng phần mềm của nước ngoài để làm công cụ dạy học, song các phần mềm còn quá ít ỏi, các ứng dụng còn mang tính thử nghiệm Nếu xây dựng và đưa các phần mềm vào dạy học phổ biến sẽ là một bước ngoặc quan trọng cho nền giáo dục nước nhà
Cục trưởng Cục CNTT Bộ Giáo dục và Đào tạo Quách Tuấn Ngọc: Cho đến nay, giáo viên các trường đang chủ yếu soạn bài trình chiếu powerpoint và một số phần mềm dạy học Vẫn còn có sự nhầm lẫn khá lớn giữa khái niệm về giáo án điện tử với bài trình chiếu, bài giảng điện tử, giữa thiết bị dạy học với phần mềm Năm học ứng dụng CNTT sẽ tạo ra bước ngoặt mới về việc làm bài giảng điện
tử theo công nghệ E-Learning Trong những năm qua, Cục CNTT đã xây dựng website E-Learning http://el.edu.net.vn để tuyên truyền phổ cập công nghệ, nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm E-Learning thích hợp, đã Việt hoá phần mềm mã nguồn mở Moodle và đến nay đã có khoảng 70 trường ĐH, CĐ sử dụng Cục CNTT sẽ tổ chức chuyển giao các phần mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu Việt Nam cho các Sở
Trang 33Các tập đoàn máy tính và phần mềm như Intel, IBM, Microsoft,… cũng đã đầu tư rất lớn cho việc nghiên cứu đưa CNTT vào giáo dục và hỗ trợ cho Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiều dự án đang được triển khai ở nhiều trường phổ thông một cách có hiệu quả, mở ra một hướng mới cho việc đổi mới giáo dục ở nước ta
Tuy nhiên, nhiều GV vẫn còn quen với cách dạy cũ, tâm lí ngại thay đổi, ngại phải hao tốn nhiều thời gian, công sức để đầu tư, soạn lại giáo án của tất cả bài giảng cho phù hợp với phương pháp, phương tiện, hình thức dạy học mới
Để việc đổi mới PPDH không chỉ là phong trào, không chỉ được nhìn thấy trên bề nổi mà còn được nhân rộng ở các nhà trường, từng lớp học, trở thành thói quen của mỗi thầy cô giáo thì một trong những điều kiện cần thiết là sự quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ thiết thực từ phía ban giám hiệu nhà trường và các cấp quản lý Các chuyên gia, các nhà quản lý giáo dục sớm đưa ra tiêu chí đánh giá tiết dạy có sử dụng CNTT, chuẩn bài giảng điện tử để có cơ sở thẩm định, tạo ra ngân hàng bài giảng điện tử có chất lượng
Khai thác sử dụng một số phần mềm để dạy học môn Hóa học
Đối với Hóa học, hiện nay trên thế giới có khá nhiều đĩa CD – ROM về Hóa học phong phú Các phần mềm Hóa học bao gồm hai loại chủ yếu:
- Một là, các chương trình tiện ích như ISIS Draw, ChemWin, ChemDraw, Chem3D,… được dùng để viết và vẽ các công thức hóa học; các chương trình tính toán hóa lượng tử như Mopac, Hyper Chem, Gaussian… chương trình Hyper Chem chủ yếu dùng để tính toán các tham số hóa lượng tử và trình diễn mô hình các phân
tử Phần mềm thí nghiệm MSS (Multimedia Science School) không những miêu tả cấu trúc nguyên tử, phân tử trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleep mà còn miêu
tả nhiều phản ứng hóa học mà trong điều kiện thường khó thực hiện được
- Hai là các đĩa CD về thí nghiệm hóa học (Cyber Chem), các mô hình, các câu hỏi trắc nghiệm tự kiểm tra (Quiz),… Xu hướng chung của thế giới hiện nay là làm thế nào cho các phần mềm dễ sử dụng như dùng các đĩa CD âm nhạc, phim, phim hoạt họa, trò chơi điện tử, tất nhiên người sử dụng phải đọc và hiểu được tiếng Anh và biết sử dụng máy tính ở mức độ tối thiểu nào đó Sách điện tử là các đĩa CD hướng dẫn học một giáo trình Hóa học có bài tập, thí nghiệm mô phỏng, tự kiểm tra
Trang 34đánh giá Trong đó, sách điện tử có thể tập hợp: các mô hình để xây dựng các khái niệm trừu tượng hoặc thực hiện các thí nghiệm mô phỏng trên máy, thí nghiệm được quay và chép vào đĩa để thay thế cho những thí nghiệm khó làm
Sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một công cụ không thể thiếu được trong công nghệ giáo dục nhằm phát huy khả năng sáng tạo của HS Xu hướng học tập và giảng dạy hiện đại đó đang được phổ biến ở các nước tiên tiến Tuy nhiên, phần mềm dạy học không thể thay thế được vai trò của người thầy, sách giáo khoa, các giáo trình, các công cụ dạy học khác Các thí nghiệm mô phỏng và các thí nghiệm ảo không thể thay thế được các thí nghiệm thực ở các phòng thí nghiệm dù
là còn thô sơ Việc sử dụng phần mềm trong giảng dạy là một hướng nghiên cứu còn mới mẻ, cần được quan tâm nghiên cứu để tiếp tục phát triển
Hiện tại nhiều trường trung học ở Việt Nam đã được trang bị máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn, các phương tiện truyền thông khác, cũng có khá nhiều trường đã được kết nối Internet GV đã được tập huấn về ứng dụng CNTT trong dạy học HS thường xuyên tiếp xúc với CNTT Để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong trường trung học, cần thực hiện một số nội dung sau:
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, GV và HS về việc ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục và dạy học
- Đầu tư trang thiết bị về CNTT cho các trường trung học, máy tính được nối
mạng internet
- Bồi dưỡng GV các bộ môn về CNTT để họ có thể tổ chức tốt ứng dụng CNTT trong dạy học
- Tổ chức trình diễn các tiết dạy học có ứng dụng CNTT trong trường trung
học nhằm mục đích tuyên truyền, động viên các cá nhân, đơn vị tổ chức tốt việc ứng dụng CNTT
- Tuyển chọn, xây dựng và hướng dẫn sử dụng các phần mềm quản lí giáo dục
và dạy học Nghiên cứu để đưa các phần mềm dạy học tốt vào danh mục thiết bị
dạy học tối thiểu
Trang 35- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về ứng dụng CNTT giữa các trường trung học trong nước và quốc tế
Như vậy, ta có thể khẳng định rằng “Đổi mới PPDH Hóa học bằng CNTT là xu thế của thời đại ngày nay” Song việc ứng dụng làm sao để khai thác hợp lí và hiệu quả của ICT vào dạy học nói chung và dạy học Hóa học nói riêng lại cần phải có những nghiên cứu cụ thể và nghiêm túc
1.3 Tự học
1.3.1 Khái niệm tự học
Theo Từ Điền Giáo dục học – NXB Từ điển Bách Khoa 2011 [20], tự học là “ quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục, đào tạo.”
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”
Cốt lõi của học là tự học Người tự học phải qua một quá trình rèn luyện lâu dài mới tìm ra phương pháp tự học hiệu quả phù hợp với mình Tự học đòi hỏi phải
có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Sự cần thiết của việc tự học
Theo xu thế giáo dục hiện đại ngày nay thì người học đứng ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, người dạy chỉ đóng vai trò định hướng, cố vấn cho quá trình
ấy mà thôi Vì thế đòi hỏi người học phải là người chủ động, tích cực trong việc học của mình Muốn chủ động, người học bắt buộc phải có công đoạn chuẩn bị kĩ lưỡng
Trang 36nội dung bài mới ở nhà để khi vào lớp người học có đủ điều kiện làm chủ quá trình
chiếm lĩnh tri thức của mình
Bên cạnh đó việc nắm vững nội dung bài cũ cũng là một tiền đề quan trọng giúp người học tự tin hơn trong việc nghiên cứu bài mới Muốn làm tốt hai việc đó bắt buộc người học phải có năng lực tự học, bởi lẽ tự học là con đường tự khẳng định mình Những kiến thức do tự học đem lại là do kết quả bản thân tự tìm tòi khám phá nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu
Thời gian tự học không những giúp người học ôn tập lại những gì đã nghe giảng ở trên lớp mà còn là thời gian người học vận dụng, tìm tòi, suy ngẫm những bài tập, những kiến thức khó theo phong cách riêng của mình Qua đó bồi dưỡng năng lực phân tích, bản lĩnh vững vàng trước những điều không đơn giản
Mặt khác, tự học đã khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, thầy không thể truyền thụ hết kiến thức trong thời gian lên lớp Vì vậy người học phải có phương pháp tự học tốt để làm giàu kiến thức cho mình, tạo ra tri thức bền vững nhất Người học có thể hướng ra thế giới bằng rất nhiều kênh thông tin như qua báo chí, qua sách vở, qua phim ảnh qua mạng internet và quan trọng hơn là qua khả năng tự học của mình
Kĩ năng tự học đã trở thành một trong những phẩm chất bắt buộc người HS phải có không những trong quá trình học tập mà cả trong cuộc sống sau này
1.3.3 Các hình thức tự học
Theo TS Trịnh Văn Biều [7], có 3 hình thức tự học:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến thức trong đó Cách học này sẽ đem lại rất nhiều khó khăn cho người học, mất nhiều thời gian và đòi hỏi khả năng tự học rất cao
- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học
Trang 371.3.4 Các yêu cầu cần thiết đối với hoạt động tự học
Theo các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [36],[37],Thái Duy Tuyên [47],[48], việc tự học chỉ thực sự đạt kết quả khi người học có thể vạch định cho mình một kế hoạch và phương pháp tự học khoa học Công việc này không phải tiến hành dễ dàng ở tất cả mọi người, vì nội dung tự học phụ thuộc vào từng đối tượng cụ thể Tuy nhiên, các tác giả cũng đã nêu lên những yêu cầu cần thiết cho hoạt động tự học như sau:
Yêu cầu 1: Xác định nhu cầu, động cơ để kích thích hứng thú học tập
Các động cơ học tập có thể tách thành hai nhóm:
_ Nhóm 1: Các động cơ, hứng thú nhận thức Chúng thường đến với HS khi bài học có nội dung mới, đột ngột, bất ngờ và chứa những yếu tố nghịch lí, thỏa mãn nhu cầu của HS
_ Nhóm 2: Các động cơ trách nhiệm, nhiệm vụ trong học tập Chúng liên hệ với ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học tập như nghĩa vụ đối với đất nước, với gia đình, thầy cô, bạn bè và chính bản thân người học
Yêu cầu 2: Xác định mục đích và nhiệm vụ tự học
Khi đã có động cơ và hứng thú học tập thì người học phải trả lời câu hỏi:
Học để làm gì? (mục đích tự học) và học cái gì (nội dung tự học)
Yêu cầu 3: Xây dựng kế hoạch tự học
Kế hoạch tự học cần xây dựng một cách tỉ mỉ và thiết thực
Yêu cầu 4: Lập thời gian biểu cho tự học
Nên lập thời gian biểu cho thời gian dài hay cho từng buổi tự học và sử dụng thời gian tự học sao cho hợp lí Phải bố trí thời gian tự học phù hợp để đầu óc không
quá căng thẳng, nên xen giữa tự học với giải trí và nghỉ ngơi
1.3.5 Năng lực tự học
− Theo Từ điển tiếng Việt [28]: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Trang 38− Theo các tác giả Trinh, Q L & Rijlaarsdam, G (2003, September)[122]:
“Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình, có khả năng tự quản lý việc học của mình, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình để có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác với người khác”
Để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, tự nghiên cứu, cần phải xác định được các năng lực cần thiết phải có trong quá trình dạy học GV cần hướng dẫn và tạo các
cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động, nhằm phát triển các năng lực đó Theo các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn [36],[37],Thái Duy Tuyên [47],[48] năng lực
tự học gồm :
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những
lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khai thông, khám phá, làm sáng tỏ,… Để phát hiện đúng vấn đề, đòi hỏi người học phải thâm nhập, hiểu biết khá sâu sắc đối tượng, đồng thời biết liên tưởng, vận dụng những hiểu biết và tri thức khoa học của mình đã có tương ứng Trên cơ sở đó, dường như xuất hiện “linh cảm”, và từ đó mạch suy luận được hình thành Phải sau nhiều lần suy xét thêm trong óc, vấn đề phát hiện được nói lên thành lời, hiện lên rõ ràng, thúc bách việc tìm kiếm con đường và hướng đi để giải quyết
Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lí thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kinh nghiệm
Trang 39thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một khối lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để tìm ra con đường đến với giả thuyết Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV ngay từ những hoạt động đầu của giải quyết vấn đề
Để dạy cho HS cách học, thì điều quan trọng nhất đó là cần dạy cho HS kĩ thuật giải quyết vấn đề Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các tri thức cần thiết cho mình Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức, nhưng đồng thời là mục tiêu của việc dạy học cho HS phương pháp tự học
Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề
Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng
so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
Năng lực tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học
HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại phải có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định mình đã lựa chọn và có kĩ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình
Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề
Trang 40Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân HS có năng lực này
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch ra khỏi vấn đề chính đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật xác định kết luận đúng không kém phần quan trọng
so với các kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải được dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu nhận thêm kiến thức mới Cả hai đều đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức
Việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đặc biệt trong các trường hợp mới, lại làm xuất hiện các vấn đề đòi hỏi phải giải quyết Như vậy kĩ năng giải quyết vấn đề lại
có cơ hội để rèn luyện và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho người học thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động
cơ học tập đúng đắn càng được bồi dưỡng vững chắc
Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Hoạt động nào cũng cần phải được kiểm tra và đánh giá Hoạt động tự học cũng thế Kiểm tra và đánh giá để thấy được việc tự học của bản thân có đạt được kết quả như mong đợi hay không Chỉ có như vậy, người học mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái có hiệu quả hơn