1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chủ đề giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 ở các trường tiểu học thành phố hồ chí minh

211 416 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 17,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong Hướng dẫn Chuyên môn Quốc tế về GDGT International Technical Guidance on Sexuality Education của UNESCO, các chủ đề GDGT dành cho nhóm tuổi từ 5 đến 8 xoay quanh sáu khái niệm chủ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Khưu Ngọc Minh Thư

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Khưu Ngọc Minh Thư

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 3

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả

Khưu Ngọc Minh Thư

Trang 4

Trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn, tôi đã nhận được

sự động viên, hỗ trợ nhiệt tình từ gia đình, thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- Cô Nguyễn Thị Liễu, giáo viên trường tiểu học Thiên Hộ Dương Quận 10, người đồng nghiệp đã định hướng và cổ vũ với tất cả tấm chân tình, khơi dậy trong tôi

những ước mơ, hoài bão và truyền cho tôi dũng khí để tiến bước vào bậc đào tạo sau đại học

- Tập thể cán bộ - giáo viên – công nhân viên trường tiểu học Thiên Hộ Dương

Quận 10, gia đình thứ hai của tôi, đã đỡ đần công việc, chia sẻ, động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có đủ thời gian theo đuổi việc học tập, nghiên cứu; cũng như

hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình thực nghiệm đề tài

- PGS.TS Trần Thị Hương đã định hướng, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn Với lòng biết ơn của mình, tôi kính gửi đến

Cô lời chúc sức khỏe để tiếp tục dẫn dắt, truyền đạt cho những lớp học viên kế tiếp

những kinh nghiệm phong phú của Cô trong nghiên cứu khoa học

- Các đồng nghiệp ở trường tiểu học Nguyễn Thái Sơn Quận 3, Nguyễn Đức

Cảnh Quận 5, Trần Danh Lâm Quận 8, Phú Thọ Quận 11, Lạc Long Quân Quận Tân Bình, Trần Văn Ơn Quận Bình Tân đã nhiêt tình hỗ trợ tôi trong quá trình tìm hiểu

thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Và cuối cùng, luận văn này là món quà tôi trao tặng đến cha mẹ, là kết quả của

lời hứa sẽ cố gắng làm được một điều thật sự có ý nghĩa và đáng tự hào

Khưu Ngọc Minh Thư

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ M Ở ĐẦU……… 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc luận văn 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO H ỌC SINH TIỂU HỌC……… 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 7

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 11

1.2 Một số khái niệm cơ bản 14

1.2.1 Giới tính 14

1.2.2 Giáo dục giới tính 16

1.2.3 Chủ đề giáo dục giới tính 17

1.2.4 Xây dựng chủ đề giáo dục giới tính cho HS tiểu học 17

1.3 Hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học 18

1.3.1 Đặc điểm lứa tuổi của HS tiểu học 18

1.3.2 Mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học 22

1.3.3 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học 25

1.3.4 Hình thức, phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học 26

Trang 6

1.4.1 Phân tích bối cảnh, đánh giá nhu cầu giáo dục 32

1.4.2 Xác định mục tiêu chủ đề 32

1.4.3 Xây dựng nội dung của chủ đề 33

1.4.4 Định hướng phương pháp tổ chức thực hiện chủ đề 33

1.4.5 Định hướng hình thức, phương pháp đánh giá học tập 34

1.4.6 Đánh giá chủ đề 34

TIỂU KẾT CHƯƠNG I……… 35

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO H ỌC SINH LỚP 2, 3 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH……… 36

2.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, giáo dục của Thành phố Hồ Chí Minh 36

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 38

2.3 Thực trạng về hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 ở một số trường tiểu học nội thành Thành phố Hồ Chí Minh 41

2.3.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 41

2.3.2 Thực trạng về nội dung GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 44

2.3.3 Thực trạng về hình thức GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 46

2.3.4 Thực trạng về phương pháp GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 51

2.3.5 Thực trạng về đánh giá hoạt động GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 55

2.3.6 Đánh giá chung và nguyên nhân của thực trạng 59

TIỂU KẾT CHƯƠNG II……… 68

CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH L ỚP 2, 3 Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH …… 69

3.1 Nguyên tắc xây dựng chủ đề giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 69

3.2 Quy trình xây dựng chủ đề GDGT cho HS lớp 2, 3 70

3.3 Hệ thống chủ đề giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 73

3.3.1 Chủ đề 1: CƠ THỂ CỦA CHÚNG TA 73

3.3.2 Chủ đề 2: EM VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ 85

3.3.3 Chủ đề 3: BẢO VỆ BẢN THÂN 97

Trang 7

3.5 Đánh giá hệ thống chủ đề giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 114

3.6 Thực nghiệm một số chủ đề giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 124

3.6.1 Mục đích, nội dung thực nghiệm 124

3.6.2 Giả thuyết thực nghiệm 124

3.6.3 Tổ chức thực nghiệm 124

3.6.4 Kết quả thực nghiệm 125

3.6.5 Kết luận về thực nghiệm 130

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3……… 131

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 136

PHỤ LỤC

Trang 9

1 Bảng 2.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu 39

2 Bảng 2.2 Trình độ đào tạo, tuổi đời, thâm niên công tác của CBQL,

GV, nhân viên y tế ở các trường tiểu học tham gia khảo sát

39

3 Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, GV và nhân viên y tế về mục tiêu hoạt

5 Bảng 2.5 Hình thức GDGT cho HS lớp 2, 3 thông qua hoạt động dạy

8 Bảng 2.8 Mức độ và hiệu quả thực hiện nhóm phương pháp giáo dục 52

9 Bảng 2.9 Mức độ và hiệu quả thực hiện nhóm phương pháp dạy học 53

10 Bảng 2.10 Thực trạng phương pháp GDGT cho HS lớp 2, 3 55

11 Bảng 2.11 Hình thức đánh giá hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3 56

12 Bảng 2.12 Phương pháp đánh giá hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3 57

13 Bảng 2.13 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3 61

14 Bảng 3.1 Kết quả đánh giá mục tiêu GDGT cấp tiểu học và mục

17 Bảng 3.4 Kết quả đánh giá nội dung chủ đề GDGT cho HS lớp 2, 3 119

18 Bảng 3.5 Kết quả đánh giá phân phối trình tự học tập chủ đề 120

Trang 10

27 Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ ý kiến đánh giá mức độ ảnh hưởng của phong tục tập

quán Việt Nam đến hoạt động GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3

61

28 Biểu đồ 2.5 Tỉ lệ ý kiến đánh giá mức độ ảnh hưởng của tài liệu, kinh phí

và văn bản hướng dẫn của ngành

62

29 Biểu đồ 2.6 Tỉ lệ ý kiến đánh giá mức độ ảnh hưởng của văn bản hướng

dẫn của ngành, sự phối hợp các lực lượng giáo dục và quỹ

thời gian ở trường học

63

30 Biểu đồ 2.7 Tỉ lệ ý kiến đánh giá mức độ ảnh hưởng ủa các yếu tố nhận

thức, năng lực CBQL, GV; cơ sở vật chất; nội dung chương trình,SGK

65

31 Biểu đồ 2.8 Tỉ lệ ý kiến đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự chấp thuận về

phía gia đình HS; đặc điểm lứa tuổi HS lớp 2, 3

67

Trang 11

M Ở ĐẦU

1 Lí do ch ọn đề tài

Bản năng giới tính đã xuất hiện từ khi con người còn trong bụng mẹ và được phát triển không ngừng thông qua chu trình sống của mỗi người Đây là một hiện tượng tự nhiên hoàn toàn tuyệt vời và trẻ em phải có những cơ hội để phát huy nó (Gilbert Tordjman, 2002) Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em (1990) khẳng định: " Trẻ em có quyền được hưởng tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe ở mức cao nhất có

thể được và có quyền được biết các thông tin để giúp họ giữ gìn sức khỏe " (Điều 24) Trên cơ sở đó, Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo năm

1994 nhấn mạnh rằng: “GDGT là một quyền của con người, rất cần thiết để con người phát triển và khỏe mạnh” [42] Vì vậy, quyền lợi của trẻ em về GDGT phải được nhìn

nhận như quyền sống, quyền có nguồn thực phẩm sạch sẽ và quyền được giáo dục [30]

Trên thế giới, vấn đề GDGT đã được đưa vào học đường từ những năm 70 của

thế kỉ XX, ban đầu tập trung ở lứa tuổi thanh thiếu niên và dần dần mở rộng sang độ

tuổi mầm non, tiểu học [40,42,43] Trải qua nhiều tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục với dư luận XH, cho đến nay, vấn đề GDGT được thừa nhận là một

bộ phận quan trọng của việc giáo dục nhân cách con người phát triển toàn diện GDGT

là một tiến trình suốt đời nhằm giúp người học tiếp nhận thông tin, hình thành thái độ, xây dựng lòng tin, trang bị kiến thức, hình thành nhân cách, tạo nên một nền tảng vững

chắc cho sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản về sau Nội dung GDGT bao gồm

những hiểu biết về phát triển tính dục, các mối quan hệ, hình ảnh về thể chất và vai trò

giới, về tình bạn, tình yêu, tình dục [38]

Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc, Việt Nam có tỉ lệ sinh con ở

tuổi 15-19 ở mức cao Trong đó, tại TP.HCM, tình trạng nạo phá thai ở tuổi vị thành niên có xu hướng tăng sau mỗi năm Đáng báo động là trong thời gian gần đây, báo chí liên tục đưa tin các trường hợp trẻ gái 11 – 13 tuổi tự nguyện quan hệ tình dục với

bạn trai hoặc đồng ý quan hệ tình dục với nhiều đối tác và xem như đó là việc bình thường, hiển nhiên vì bạn bè các em đều trải qua những kinh nghiệm như vậy[48]

Thực tế đó cho thấy việc GDGT cho trẻ em được tiến hành càng sớm càng tốt Vì

Trang 12

thông qua GDGT, trẻ hiểu được giá trị của bản thân, biết cách bảo vệ mình và có sự

chọn lựa hành vi đúng đắn Việc trì hoãn hoặc chờ đợi trẻ lớn mới thực hiện GDGT đồng nghĩa với việc đẩy trẻ đối mặt với những nguy cơ không lường hết được

Trong một nghiên cứu khoa học về tuổi dậy thì và các yếu tố liên quan ở HS nữ

8 – 11 tuổi tại nội thành TP.HCM, Nguyễn Thị Kiều Oanh và Võ Minh Tuấn đã đưa ra

kết luận rằng tuổi dậy thì của HS tiểu học tại nội thành TP.HCM ngày càng sớm và nêu kiến nghị về một chương trình GDGT bắt đầu từ lớp 2[24] Cho đến nay, công tác GDGT cho HS tiểu học tại TP.HCM chỉ thật sự được chính thức tiến hành khi HS học

lớp 5 thông qua việc giảng dạy các bài học có liên quan trong chương trình môn Khoa

học Một số trường có tổ chức các buổi trò chuyện, tư vấn về tuổi dậy thì, vệ sinh kinh nguyệt dành cho đối tượng HS lớp 5 với sự tham gia của chuyên gia tâm lý hay bác sĩ công tác tại các trung tâm y tế dự phòng [48] Trong khi đó, ở độ tuổi khao khát khám phá bản thân và tìm hiểu thế giới xung quanh, HS lớp 2, 3 đã có những thắc mắc về

giới tính Một số em còn bày tỏ về chuyện yêu bạn khác phái hoặc bị lạm dụng tình

dục Vì vậy, GDGT cho trẻ lớp 2, lớp 3 là việc làm vô cùng cần thiết nhằm giải thích, hướng dẫn cho HS một cách khoa học trên cơ sở tôn trọng nhu cầu tìm hiểu của HS, đồng thời trang bị cho HS các kiến thức, kĩ năng cần thiết để bảo vệ bản thân

Theo Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, mục tiêu giáo dục của nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện Trong đó, mục tiêu giáo

dục tiểu học nhằm “giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ ” [31] Nội dung mục tiêu trên cho thấy cấp tiểu học là bậc học nền tảng để hình thành về tri thức và nhân cách cho

HS Nhiều nhà nghiên cứu như I.U.I Kusniruk, A.P.Serpakov, A.V Petrovxki đã

chứng minh rằng nhiều phẩm chất của nhân cách liên hệ mật thiết với giới tính hoặc cũng chính là những đặc điểm giới tính và ngược lại [23] Do đó, GDGT là một bộ

phận của công tác giáo dục nhân cách con người, góp phần thực hiện mục tiêu giáo

dục tiểu học mà nhà nước Việt Nam đã đề ra

Phương án dạy học tích hợp ở cấp tiểu học được đề xuất trong chương trình giáo dục phổ thông của Việt Nam sau năm 2015 đề cập đến việc lồng ghép các vấn đề

Trang 13

cần thiết nhưng không thành môn học (như các nội dung về môi trường, năng lượng,

biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản,…) vào các môn học và hoạt động giáo dục [3, 4] Như vậy, việc xác định rõ các chủ đề GDGT giảng dạy cho HS

lớp 2, lớp 3 là rất cần thiết và hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Xây dựng chủ

đề Giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 ở các trường tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh”

2 M ục đích nghiên cứu

Xây dựng các chủ đề GDGT cho HS lớp 2, 3 ở các trường tiểu học TP.HCM

nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động GDGT cho HS tiểu học

3 Khách th ể, đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động GDGT cho HS tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng chủ đề GDGT cho HS lớp 2, 3 ở các trường tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh

4 Gi ả thuyết nghiên cứu

Hiện nay, ở cấp tiểu học, hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3 được tích hợp, lồng ghép trong các môn học như Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội Tuy nhiên, những nội dung GDGT vẫn chưa cụ thể, thiết thực đối với HS lớp 2, 3

Căn cứ vào những cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn về hoạt động GDGT cho

HS tiểu học có thể xây dựng được một hệ thống chủ đề GDGT phù hợp với đối tượng

HS lớp 2, 3, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động GDGT cho HS ở cấp tiểu học

5 Nhi ệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDGT cho HS tiểu học

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng về GDGT cho HS lớp 2, 3 ở một số trường

tiểu học tại TP.HCM

5.3 Xây dựng các chủ đề GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 và thực nghiệm một

số chủ đề đã xây dựng ở các trường tiểu học TP.HCM

Trang 14

6 Ph ạm vi nghiên cứu

Đề tài luận văn tập trung khảo sát thực trạng hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3

ở một số trường tiểu học nội thành Thành phố Hồ Chí Minh

Thực nghiệm sư phạm một số chủ đề thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của HS lớp 2, 3 ở trường Tiểu học Thiên Hộ Dương, Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp tài liệu để nghiên cứu lịch sử vấn đề và phát hiện, rút ra

những kết luận cần thiết về cơ sở lí thuyết cho việc thiết kế chủ đề GDGT cho HS tiểu

học lớp 2, 3 Các tài liệu bao gồm sách khoa học, sách chuyên ngành Tâm lý học Giới tính, các công trình nghiên cứu khoa học, các văn kiện chính thức của nhà nước và các

tổ chức XH, các báo cáo khoa học, tạp chí, bản tin của các cơ quan thông tấn, báo điện

tử về vấn đề GDGT cho HS tiểu học nói chung và HS lớp 2, 3 nói riêng

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra

 Mục đích và nội dung điều tra: Khảo sát thực trạng về hoạt động GDGT cho

HS lớp 2, 3 và nguyên nhân của thực trạng; khảo sát tính cần thiết và khả thi của các

chủ đề GDGT cho HS lớp 2, 3 đã xây dựng

 Đối tượng và các trường tham gia khảo sát:

Cán bộ quản lý; tổ trưởng chuyên môn khối 2, 3, 4, 5; GV dạy nhiều môn

lớp 2, 3; Tổng phụ trách Đội; nhân viên y tế ở một số trường tiểu học nội thành TP.HCM, bao gồm:

- Trường Tiểu học Nguyễn Thái Sơn Quận 3

- Trường Tiểu học Nguyễn Đức Cảnh Quận 5

- Trường Tiểu học Trần Danh Lâm Quận 8

- Trường Tiểu học Thiên Hộ Dương Quận 10

- Trường Tiểu học Phú Thọ Quận 11

- Trường Tiểu học Lạc Long Quân Quận Tân Bình

- Trường Tiểu học Trần Văn Ơn Quận Bình Tân

Trang 15

 Công cụ điều tra: Điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn trực tiếp để làm rõ hơn các nội dung thu thập từ bảng hỏi

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

 Mục đích: Thu thập thông tin định tính về thực trạng hoạt động GDGT cho

học sinh lớp 2, 3 tại các trường tiểu học nội thành Thành phố Hồ Chí Minh

 Đối tượng: Cán bộ quản lí và tổ trưởng chuyên môn khối 2, 3, Tổng phụ trách Đội và nhân viên y tế

 Nội dung: Tìm hiểu quan điểm của CBQL và GV về tổ chức hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3; giải thích một số thực trạng do người nghiên cứu thu thập được

 Phương tiện: Câu hỏi phỏng vấn

7.2.3 Phương pháp xin ý kiến chuyên gia

 Mục đích: Thu thập nhận định, đánh giá từ các chuyên gia về hệ thống chủ

đề GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 đã xây dựng

 Đối tượng: Các chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực Y tế dự phòng và cán bộ

quản lý ngành giáo dục

 Nội dung: Những nội dung cần được các chuyên gia nhận định, đánh giá bao

gồm: tên gọi của chủ đề, mục tiêu của chủ đề, nội dung của chủ đề

7.2.4 Phương pháp quan sát

 Mục đích quan sát:

- Tìm hiểu về hoạt động GDGT tại trường tiểu học

- Đánh giá sự hứng thú, mức độ tiếp thu của HS và đánh giá mức độ hiệu quả

của một số chủ đề GDGT đã xây dựng

 Nội dung quan sát:

- Tham dự hoạt động giáo dục GDGT tại trường tiểu học, quan sát, ghi nhận

những ưu điểm, hạn chế của hoạt động

- Dự giờ GV giảng dạy một số chủ đề GDGT đã xây dựng; quan sát, theo dõi, ghi nhận ưu điểm, hạn chế của các chủ đề được thực nghiệm

 Mẫu quan sát: 2 lớp thực nghiệm

 Phương tiện: Phiếu dự giờ

Trang 16

7.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

 Mục đích thực nghiệm

Kiểm định giả thuyết khoa học của luận văn, đồng thời kiểm nghiệm tính

khả thi và hiệu quả của một số chủ đề GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 đã xây dựng

 Đối tượng tham gia và thời gian thực nghiệm

- Đối tượng tham gia thực nghiệm: 3 GV, 35 HS lớp 2, 35 HS lớp 3 tại trường

Tiểu học Thiên Hộ Dương Quận 10 TP.HCM

- Thời gian thực nghiệm: Tháng 04/ 2015 – tháng 05/ 2015

 Nội dung thực nghiệm: Tổ chức dạy học một số chủ đề GDGT đã xây dựng

 Cách thức thực nghiệm:

- Lập kế hoạch bài giảng chi tiết cho từng chủ đề thực nghiệm

- Tổ chức giảng dạy tại lớp cho HS lớp 2, 3

- Đánh giá chủ đề đã thực nghiệm và điều chỉnh (nếu cần) sau khi thu nhận ý

kiến của GV trực tiếp giảng dạy các chủ đề thực nghiệm kết hợp với những ghi nhận

bằng quan sát trong quá trình GV giảng dạy

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để xử lí các số liệu thu được trong quá trình tìm hiểu thực trạng và bổ trợ cho các phương pháp phân tích, tổng hợp

nhằm đạt tới những kết luận chính xác, khách quan.Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý các số liệu thu được

8 C ấu trúc luận văn

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động GDGT cho HS tiểu học

Chương 2: Thực trạng về hoạt động GDGT cho HS lớp 2, 3 ở các trường tiểu

Trang 17

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

CHO H ỌC SINH TIỂU HỌC

1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước

1.1.1.1 Các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

Vào thời kỳ tiền khoa học, giới tính và GDGT được xem xét theo quan điểm của tôn giáo và đạo đức Lúc này, việc GDGT cho trẻ em ít nhiều được chính thức hoá Các em gái được dạy dỗ theo hình mẫu của bà và mẹ, còn các em trai được dạy

dỗ theo hình mẫu của ông và bố Ở thế kỷ XIX, tính xác thịt và tình dục bị cấm kỵ một cách gay gắt, người lớn hoàn toàn không nói đến cuộc sống tình dục với trẻ em [8]

Cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, một số tác giả như J.P.Ma-sơ-lô-va, Elizabeth Thompson Ortiz đã tổng hợp các thông tin cơ bản bao gồm các kiến thức về tình dục

học, sự hình thành giới tính, tuổi dậy thì, phòng tránh thai, các bệnh lây qua đường tình dục, bệnh AIDS…

Trong sách Giới tính tuổi hoa, J.P.Ma-sơ-lô-va đã đề cập đến hoạt động GDGT trong trường phổ thông Theo ông, các đề tài GDGT dành cho HS từ lớp 1 – 4 nên

chứa đựng các nội dung về sự khác nhau giữa hai giới tính, lí do những em bé ra đời,

bất kì ai cũng phải có cha mẹ và các em bé ra đời từ đâu [20]

Trong Cẩm nang về các vấn đề giới tính, mang thai, sức khỏe và hạnh phúc gia đình, cùng với việc phân tích về bản năng giới tính của trẻ em, Elizabeth Thompson Ortiz cho rằng trẻ em từ 6 – 9 tuổi có thể thu nhận các sự kiện căn bản về sự giao cấu, mang thai, sinh sản; việc giáo dục trẻ phòng tránh nguy cơ và cách thức đối phó khi bị

gạ gẫm, lạm dụng tình dục hoặc hiếp dâm là điều hoàn toàn cần thiết [29]

Cũng đề cập đến hành vi tính dục của con người qua các độ tuổi như Elizabeth Thompson Ortiz, nhưng trong sách Giới tính theo cuộc đời, Gilbert Tordjman đã gắn

kết khía cạnh bản năng giới tính của con người với khía cạnh tâm lý giới tính một cách

chặt chẽ Ông cung cấp một cái nhìn toàn diện về quá trình xuất hiện và phát triển giới

Trang 18

tính của con người: từ khi còn trong bào thai, tới khi sinh ra, trải qua các thời kì trẻ

em, niên thiếu, trưởng thành, chính chắn, mãn kinh, tuổi già Trong đó, ông phân tích

rõ về bản năng giới tính và tâm lý giới tính của trẻ em trong quá trình phát triển của chúng [30]

Trong sách Giới tính và những điều học sinh tiểu học cần biết, Mã Nghênh Hoa cùng cộng sự cung cấp các kiến thức cơ bản về các vấn đề tâm sinh lý giới tính ở lứa

tuổi tiểu học và các nội dung giáo dục trẻ xây dựng lối sống lành mạnh, yêu quý chính mình, thấu hiểu, chia sẻ, tôn trọng người khác và biết cách bảo vệ bản thân[12]

1.1.1.2 Chương trình giáo dục giới tính trong nhà trường tiểu học ở một số quốc gia trên thế giới

Cuối thập niên 1990, tại châu Âu, ở một số nước như Jamaica, Bỉ, Pháp, Hy

Lạp, Hungary, Ireland, Latvia, Luxembourg, Slovakia, Séc, HS ở độ tuổi lên 6 đã được

học các nội dung về GDGT được tích hợp trong môn Sinh học và nhiều môn học khác

Mô hình phổ biến của sự phân phối GDGT trong bài học Sinh học phản ánh và nhấn

mạnh một cách bao quát vào các khía cạnh liên quan đến sức khỏe, ít đề cập đến các

mối quan hệ cá nhân Riêng chương trình GDGT tại các nước như Bỉ, Ireland, Vương

quốc Anh, ngoài các kiến thức sinh học đơn giản còn cung cấp cho HS các kiến thức,

kĩ năng và thái độ thuộc về khía cạnh tâm lý XH [43]

Ở khu vực Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê, Mexico là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việc đưa GDGT vào cấp tiểu học trong hệ thống giáo dục chính quy

Cuối thập niên 1990, chương trình TH ở Mexico đã tích hợp các nội dung về GDGT trong các môn Khoa học Tự nhiên, Giáo dục Công dân và Giáo dục Đạo đức Trong các nội dung GDGT này đã có sự xuất hiện của các khía cạnh xã hội, tình cảm và đạo đức của tình dục, cùng với các khía cạnh về giới, quyền tình dục và khoái cảm [40 ]

Tại Châu Phi, từ sau năm 2000, một số quốc gia như Botswana, Kenya, Malawi, Uganda, Zambia, Zimbabwe đã đưa GDGT vào chương trình giảng dạy ở cấp

tiểu học Các chủ đề được đề cập đến trong chương trình GDGT ở các quốc gia trên thường tập trung vào sự phát triển của con người, giới tính và hành vi tính dục, các giá

trị đạo đức và trách nhiệm đối với XH, phòng tránh HIV và nghiện ma túy Các chủ đề

về giới, nhân quyền, các vấn đề truyền thông, kĩ năng đàm phán và ra quyết định thì

Trang 19

hầu như chỉ được đề cập sơ sài, không rõ ràng hoặc không tồn tại trong chương trình Bên cạnh đó, một số chủ đề chưa được bố trí phù hợp với độ tuổi của HS, chẳng hạn như ở Botswana, chủ đề về tuổi dậy thì được giảng dạy quá trễ (khi HS 14 tuổi) hay ở Uganda, nội dung giảng dạy cho từng độ tuổi chưa được xác định rõ ràng [40]

Hiện nay, tại một số nước châu Á như Bangladesh, Bhutan, Campuchia, Fiji, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Singapore, Thái Lan, Nhật Bản, chương trình GDGT đã được cung cấp ở bậc TH bằng cách tích hợp trong nội dung giảng dạy ở nhiều môn học khác nhau Tại Nhật, trẻ tiểu học được học các chủ đề GDGT về tầm quan trọng của cuộc sống, bản chất không đổi của sự sống, nguồn gốc của sự sống; giáo dục về lòng tự trọng, sự đồng cảm với người khác (tương tác với người cao tuổi

và người tàn tật); giáo dục về sức khỏe; sự khác nhau giữa cơ thể nam và nữ, cơ quan sinh dục nam và nữ; đặc điểm sinh dục thứ phát và cách thức tương tác với người lớn [35]

1.1.1.3 Một số tài liệu giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

Vấn đề GDGT đã trở thành một phần đặc biệt quan trọng trong chương trình

học phổ thông ở các nước trên thế giới từ cuối thế kỉ XX Với đối tượng HS tiểu học, các chủ đề GDGT được thiết kế phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS và có nội dung chứa đựng các vấn đề thuộc về khía cạnh sinh học và khía cạnh tâm lý XH

Trong sách Hướng dẫn về chương trình GDGT toàn diện do Hội đồng Thông

tin và GDGT Hoa Kì (SIECUS) xuất bản, HS ở độ tuổi từ 5 – 8 được học 6 mảng nội dung chính, bao gồm : sự phát triển của con người, các mối quan hệ, những kĩ năng cá nhân, hành vi tình dục, sức khỏe tình dục, XH và văn hóa Trong đó, những vấn đề

nhạy cảm như thủ dâm, hành vi tình dục (ôm, hôn, đụng chạm…); những kiến thức cơ

bản về bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; vấn đề mang thai ngoài ý

muốn và sự đa dạng về bản năng tính dục của các cá nhân đã được đề cập [38]

Bộ tài liệu về “GDGT và các mối quan hệ” của Ireland xây dựng 9 chủ đề

GDGT cho HS tiểu học bao gồm: Bản thân, Tình bạn, Gia đình, Giữ an toàn, Kiểm soát cảm xúc, Sự kì diệu của cuộc sống, Cơ thể và giác quan, Sự phát triển của cơ thể, Các quyết định cá nhân HS tiếp cận những chủ đề trên thông qua những mẩu chuyện,

những bài thơ, các trò chơi, hoạt động nghệ thuật, hoạt động suy tưởng, những buổi

Trang 20

thảo luận trên lớp hoặc làm việc theo nhóm, các buổi giao lưu với khách mời, xem phim hoặc đóng kịch Tài liệu còn đề cập rất rõ những bài học thuộc các môn học chính khóa (Tiếng Anh, Toán, Nghiên cứu Môi trường, Nghệ thuật…) có thể tích hợp

nội dung các chủ đề GDGT trên [36]

Trong Hướng dẫn Chuyên môn Quốc tế về GDGT (International Technical Guidance on Sexuality Education) của UNESCO, các chủ đề GDGT dành cho nhóm

tuổi từ 5 đến 8 xoay quanh sáu khái niệm chủ chốt: Các mối quan hệ (gia đình, hôn nhân, tình bạn, lòng khoan dung và sự tôn trọng) ; Các giá trị, thái độ và kĩ năng (ảnh hưởng của bạn đồng trang lứa, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tìm

kiếm trợ giúp và hỗ trợ người khác); Văn hóa, xã hội và nhân quyền (các hình thức của phương tiện truyền thông và sự ảnh hưởng của chúng đối với con người, vấn đề lạm

dụng tình dục); Sự phát triển của con người (phân biệt cơ thể nam và nữ, nguồn gốc

của em bé, cách thức cơ thể thay đổi khi con người phát triển, hình ảnh cơ thể, quyền

cơ thể); Hành vi tình dục (khái niệm về vùng kín của cơ thể, khám phá các vùng cơ thể

của chính bản thân là điều tự nhiên, hoạt động tình dục là cách thức hiển thị sự chăm sóc và tình cảm một cách trưởng thành); Sức khỏe tình dục và sinh sản (các khái niệm

về khỏe mạnh hay bệnh tật, nhu cầu cơ bản của người sống chung với HIV) [39]

Catching on Early là tài liệu GDGT dành cho các trường tiểu học ở bang Victoria của Úc Tài liệu này đưa ra 5 chủ đề GDGT cho HS tiểu học lớp 2, lớp 3 bao

gồm: Biết về tôi, biết về bạn (giới thiệu về cấu trúc của cơ thể, phát triển nhận thức về

bản thân) ; Sự lớn lên và biến đổi (giáo dục sự quan tâm chăm sóc bản thân, lựa chọn các điều tốt cho sức khỏe); Cơ thể của tôi (tên của các bộ phận cơ thể, thảo luận về sự phát triển); Sự phụ thuộc (xác định các yếu tố của các mối quan hệ tích cực và đáng trân trọng); Người có thể tâm sự (các kĩ năng cụ thể để xây dựng và gìn giữ tình bạn) [37]

Trong sách Giáo d ục giới tính: Lý thuyết và thực hành, bên cạnh việc cung cấp

các thông tin mang tính toàn diện, bao quát nhiều khía cạnh về giới tính của con người, Clint E.Bruess và Jerrold S Greenberg đưa ra những chỉ dẫn thiết thực, có thể

áp dụng cho hầu hết các chương trình GDGT, đồng thời cũng giới thiệu các kĩ năng giáo dục và các cách thức phát triển chiến lược học tập cho HS Bruess và Greenberg

Trang 21

cũng nêu rõ các nội dung GDGT dành riêng cho HS tiểu học lớp 2, lớp 3 được xác định dựa trên đặc điểm phát triển của lứa tuổi này bao gồm sự sinh sản của cây cối, động vật (trong đó có cả con người); sự giống nhau và khác nhau giữa giống đực và

giống cái; sự tăng trưởng và phát triển dẫn đến sự thay đổi về thể chất và cảm xúc tình

cảm; vai trò và trách nhiệm của gia đình; thảo luận về cảm xúc của bản thân và của người khác; giới thiệu về HIV/ AIDS [34]

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

1.1.2.1 Các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông

Cuối thế kỉ XX, tại Việt Nam, vấn đề GDGT cho thế hệ trẻ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Nhóm tác giả Trần Đặng Kiều Minh, Hằng Nga, Vương Hà Loan giới thiệu

những định nghĩa khái quát về GDGT và nội dung GDGT cho HS phổ thông qua việc biên soạn các thông tin từ bộ Bách khoa toàn thư y học phổ thông (B.V.Pêtrốpxki chủ

biên), Bách khoa toàn thư gia đình trẻ (G.I.Ghêraximôvích chủ biên) và Trò chuyện

v ới giáo dục giới tính (Đ.V.Kôlêxốp) Tác giả Nguyễn Văn Lê và Nguyễn Thị Đoan đã

hệ thống các vấn đề lý thuyết về GDGT bao gồm nhu cầu giới tính và đạo đức giới tính; khái niệm về GDGT; nhiệm vụ và nội dung GDGT cho các lứa tuổi; những nguyên tắc, phương pháp GDGT Nguyễn Quang Mai cung cấp một số vấn đề lý thuyết về GDGT, trong đó có vấn đề xã hội hóa giới tính và sự phân hóa giới tính Bùi

Ngọc Oánh đặt các vấn đề GDGT trong mối quan hệ với ngành Tâm lý học Giới tính Ông đúc kết những kiến thức về một số hiện tượng của đời sống giới tính, bản chất tâm lí của các hiện tượng này và phân tích rõ mối quan hệ giữa giới tính và nhân cách

con người Ông đề cập đến một số vấn đề giới tính cần chú ý ở lứa tuổi HS và thời điểm cần GDGT cho con người, cũng như đưa ra nhiệm vụ, nội dung, nguyên tắc và ý nghĩa của hoạt động GDGT Các tài liệu này đã trở thành cơ sở cho hoạt động GDGT dành cho đối tượng HS và thanh niên [18,19, 21,25]

Một số nhà nghiên cứu đã xuất bản các cuốn sách có giá trị đối với hoạt động GDGT cho HS tiểu học Sách Giới tính học trong bối cảnh Việt Nam: Hình thành và

phát tri ển giới tính của Trần Bồng Sơn đề cập đến sự hình thành và phát triển của giới

Trang 22

tính qua từng giai đoạn trong cuộc sống của con người và cung cấp những thông tin về cách thức GDGT ở một số nước trên thế giới như Mĩ, Trung Quốc,… Một số tài liệu khác đề cập đến biểu hiện hành vi tính dục và đặc điểm tâm lý giới tính trong quá trình phát triển của trẻ em như Giáo dục tính dục của tác giả Đào Xuân Dũng, Tâm lý trẻ

thơ của tác giả Phạm Minh Lăng Ngoài việc đề cập đến đặc điểm tâm lý giới tính ở trẻ

nhỏ, tác giả Trần Thị Cẩm còn đưa ra những gợi ý về cách thức giáo dục tính dục cho

trẻ trong sách Hiểu tâm lý trẻ để giáo dục con [9,17, 28]

Từ năm 2007, Quỹ Dân số Thế giới Rutgers tại Việt Nam và Đại học Sư phạm

Đà Nẵng đã biên soạn giáo trình trực tuyến về giáo dục sức khỏe sinh sản và tình dục

dành đối tượng sinh viên với tên gọi Hành trình thành niên Trên cơ sở giáo trình này,

dự án đã điều chỉnh nội dung và cho ra hai phiên bản mới bao gồm phiên bản Hành

Trang Tu ổi Hồng dành cho đối tượng HS trung học phổ thông và phiên bản Thế Giới

Tu ổi Hoa dành cho đối tượng HS trung học cơ sở Cả ba giáo trình trên đều hướng đến

việc trang bị cho người học những hiểu biết về giới, giới tính, tâm sinh lý lứa tuổi, tình

bạn, tình yêu, mối quan hệ với gia đình và những kĩ năng cần thiết liên quan đến thực hành tình dục an toàn Dự án trên chỉ tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên, chưa thiết kế giáo trình dành cho đối tượng HS tiểu học [44,45,46]

1.1.2.2 Giáo dục giới tính trong nhà trường tiểu học Việt Nam

Hiện nay, trong chương trình chính khóa ở cấp tiểu học, một số nội dung GDGT được tích hợp vào chương trình môn Đạo đức, môn Tự nhiên - Xã hội và môn Khoa học

Trong chương trình môn Đạo đức, nội dung GDGT về các mối quan hệ được

thể hiện ở chủ đề Quan hệ với bản thân (nhận thức về bản thân; bày tỏ quan điểm cá nhân; hành động có trách nhiệm) và chủ đề Quan hệ với người khác (quyền được cha

mẹ yêu thương, chăm sóc; cách cư xử đối người thân trong gia đình và họ hàng, tham gia các việc nhà phù hợp với khả năng; ý nghĩa của việc kết giao và giúp đỡ bạn bè;

cảm thông, không phân biệt đối xử và tham gia giúp đỡ bạn khuyết tật trong lớp, trong trường và trong cộng đồng) [2]

Trong chương trình môn Tự nhiên – Xã hội, nội dung GDGT chủ yếu được tích

hợp trong chủ đề Con người và Sức khỏe, chủ đề Xã hội Trong hai chủ đề này, HS

Trang 23

được học về các cơ quan, bộ phận của cơ thể người và cách thức giữ vệ sinh và chăm sóc sức khỏe, các mối quan hệ trong gia đình và trong trường học Ở lớp 1, một số bài

học trong chủ đề Con người và Sức khỏe có mục tiêu giúp HS nhận ra 3 phần chính

của cơ thể (đầu, mình, chân tay) và một số bộ phận bên ngoài (tóc, tai, mắt, mũi,

miệng, lưng, bụng); nhận ra sự thay đổi của bản thân về số đo chiều cao, cân nặng và

sự hiểu biết; các việc nên và không nên làm để giữ vệ sinh thân thể Trong chủ đề Xã

hội ở lớp 1, 2, 3 cũng có các bài học chứa đựng nội dung GDGT về các mối quan hệ trong gia đình, cụ thể là HS được học về vai trò và sự chia sẻ công việc, tình cảm của

từng thành viên trong gia đình [2]

Trong môn Khoa học lớp 5, các nội dung GDGT chủ yếu được tích hợp trong

chủ đề Con người và Sức khỏe bao gồm sự sinh sản, đặc điểm của nam và nữ, vai trò

của nam và nữ theo quan niệm bình đẳng giới; sự hình thành của cơ thể người; cách chăm sóc phụ nữ mang thai; một số đặc điểm tâm sinh lý cơ bản của con người theo

từng giai đoạn phát triển; một số thay đổi về sinh học và mối quan hệ XH ở tuổi dậy thì; cách vệ sinh khi đến tuổi dậy thì; nguyên nhân và cách phòng tránh HIV/AIDS, không phân biệt đối xử với người bị nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ; tác hại của các chất gây nghiện (rượu, bia, thuốc lá, ma túy); phòng tránh xâm hại (một số nguyên

tắc an toàn cá nhân, cách nhận biết nguy cơ, cách phòng tránh và ứng phó) [2]

Những nội dung GDGT ở lớp 5 bị cho rằng khó truyền tải do GV mang tâm lý

ngại ngần khi giảng dạy về các vấn đề “nhạy cảm” Khóa luận “Thiết kế một số hoạt

động dạy học GDGT cho HS lớp 4, 5”, của Phạm Tường Yến Vũ (2013) đã đề cập

việc thiết kế các hoạt động dạy học GDGT cho HS lớp 4, lớp 5 một cách sinh động,

hiệu quả dựa trên nền tảng là các bài học trong chương trình môn Khoa học lớp 5 Theo đó, tác giả cung cấp các nguồn tư liệu về phim ảnh, thiết kế cách thức tổ chức

hoạt động dạy học để truyền đạt các kiến thức “tế nhị, khó nói” thật nhẹ nhàng, gần gũi và thân thiện với các em HS Tác giả đã thành công trong việc hỗ trợ GV và HS vượt qua trở ngại về tâm lý khi giảng dạy và tìm hiểu về các vấn đề “tế nhị, khó nói”

Như vậy, có thể thấy rằng việc GDGT cho HS tiểu học lớp 2, 3 đã được tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới với những chủ đề bao quát các khía cạnh sinh học và tâm lý, chú trọng giáo dục về các mối quan hệ (gia đình, tình bạn, tình yêu, lòng khoan

Trang 24

dung và sự tôn trọng); giáo dục về giá trị, thái độ, kĩ năng (giá trị của cá nhân, ảnh hưởng của bạn đồng trang lứa, các kĩ năng như ra quyết định, giao tiếp, đàm phán, từ

chối, tìm kiếm trợ giúp); giáo dục về hình ảnh cơ thể, sự riêng tư và bảo toàn thân thể;

kể cả giáo dục về hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản

Tuy nhiên, hiện nay, ở bậc tiểu học tại Việt Nam, việc GDGT chủ yếu hướng vào đối tượng HS 10 tuổi và đặt trọng tâm ở lĩnh vực nhận thức (thông tin thiên về khía cạnh sinh học và vệ sinh cá nhân, bảo vệ sức khỏe), chưa đặt nặng lĩnh vực tình

cảm (cảm xúc, giá trị, thái độ) và lĩnh vực hành vi (kĩ năng giao tiếp, ra quyết định)

của mỗi cá nhân HS Nói cách khác, việc GDGT cho HS lớp 2, 3 vẫn còn là một vấn

đề bỏ ngỏ ở Việt Nam

Do đó, nếu có thể xây dựng hệ thống chủ đề GDGT hàm chứa các mục tiêu và

nội dung do UNESCO đề xuất (trên cơ sở chọn lọc phù hợp với nền văn hóa Việt Nam) thì HS, GV và những người quan tâm sẽ có thêm một nguồn tài liệu hỗ trợ thật

sự thiết thực và hiệu quả Đây là lý do quan trọng nhất, tạo động lực cho người nghiên

cứu thực hiện đề tài “Xây dựng chủ đề Giáo dục giới tính cho học sinh lớp 2, 3 ở các trường tiểu học Thành phố Hồ Chí Minh”

1.2 M ột số khái niệm cơ bản

1.2.1 Giới tính

Theo Từ điển Bách khoa Tâm lý học – Giáo dục học Việt Nam do tác giả Phạm Minh Hạc chủ biên, thuật ngữ giới tính, nói tổng quát, là những đặc điểm chung phân

biệt nam với nữ, giống đực và giống cái Giới tính đồng nghĩa với “giống”, chỉ sự khác

biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học nhưng nội dung của sự khác biệt đó còn bị quy định bởi những yếu tố văn hóa – xã hội [10]

Hội đồng thông tin và giáo dục giới tính Mỹ (SIECUS) định nghĩa thuật ngữ “giới tính” như sau: “Giới tính bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Giới tính không chỉ là bản chất sinh dục

mà còn phản ánh tính cách của con người Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách,

giới tính liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hoá của đời

sống Những yếu tố này ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó có sự tác động trở lại XH” [38]

Trang 25

Từ hai định nghĩa trên, có thể hiểu giới tính là một phần không thể thiếu của nhân cách con người và bao gồm nhiều mặt như sinh học, tâm lý, văn hóa, XH Nó đặc biệt liên quan đến yếu tố tình cảm, khả năng cho và nhận tình yêu, sự sinh sản và thái độ để hình thành mối quan hệ với những người khác Đó là một chiều hướng phức tạp của đời sống con người và các mối quan hệ Một sự hiểu biết toàn diện về giới tính sẽ góp

phần vào sự phát triển của hạnh phúc cá nhân, sẽ tăng cường các mối quan hệ cá nhân

và sẽ có ý nghĩa đối với các gia đình và cuối cùng là có ý nghĩ đối với XH

Trong đề tài này, thuật ngữ “giới tính” được hiểu là toàn bộ những đặc điểm về

sinh lý cơ thể và tâm lý XH ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ Ý thức

của mỗi cá nhân về bản thân mình thuộc giới nào là kết quả của quá trình sinh học –

XH phức tạp, liên kết thống nhất cả ba mặt: sự phát triển thể chất của con người, sự

XH hóa giới tính ngày càng sâu sắc và sự phát triển tự nhận thức của con người [18]

Những đặc điểm về giới tính hình thành từ hai nguồn gốc:

 Nguồn gốc sinh học

Tế bào sinh sản quyết định giới tính con người Trong tế bào sinh sản của nam (tinh trùng) có chứa hai loại nhiễm sắc thể (NST) quy định giới: NST X quy định giới

nữ và NST Y quy định giới nam Tế bào sinh sản nữ (trứng) chỉ chứa một loại NST X

Vì thế, đứa trẻ sinh ra sẽ là nữ (XX) nếu tinh trùng mang NST X thụ tinh với trứng (cũng mang NST X) Nếu tinh trùng NST Y thụ tinh với trứng, đứa trẻ sinh ra sẽ là

nam (XY) Các NST quy định giới tính trong tế bào sinh sản nam và nữ (X và Y) làm cho thai nhi có cấu tạo đặc trưng của cơ thể nam hoặc nữ trong quá trình phát triển

Do cấu tạo khác nhau nên hoạt động sinh lý của mỗi giới cũng có những đặc điểm khác nhau Những đặc điểm về giới tính sinh học của cơ thể là tiền đề, là cơ sở

vật chất tạo nên sự khác biệt giới tính[25]

Trang 26

- XH chi phối sự đánh giá những yếu tố có nguồn gốc sinh học Bản năng tình

dục cũng được XH thừa nhận theo những tiêu chuẩn đạo đức, văn hóa nhất định

- Sự nuôi dưỡng, giáo dục của gia đình, nhà trường, XH ảnh hưởng đến đặc điểm giới tính của con người [24]

1.2.2 Giáo dục giới tính

Có nhiều khái niệm khác nhau về GDGT Dưới đây là hai định nghĩa về GDGT

của tổ chức Liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa (UNESCO) và SIECUS:

Theo UNESCO, GDGT là quá trình “trang bị cho trẻ em và thanh niên các kiến

thức, kỹ năng và giá trị nhằm giúp họ đưa ra những lựa chọn có trách nhiệm về các

mối quan hệ giới tính và quan hệ XH trong một thế giới bị ảnh hưởng bởi HIV”[39]

Định nghĩa trên nêu bật được mục đích của GDGT (hỗ trợ cho người được giáo

d ục đưa ra những lựa chọn có trách nhiệm trong một thế giới bị ảnh hưởng bởi HIV),

đối tượng của GDGT (trẻ em và thanh niên), nội dung của GDGT (các kiến thức, kĩ

năng, giá trị về các mối quan hệ giới tính và quan hệ XH)

Theo SIECUS, “GDGT là một quá trình lâu dài của việc người học thu thập thông tin, hình thành thái độ, niềm tin và giá trị Nội dung của GDGT bao gồm sự phát triển

giới tính, sức khỏe tình dục và sinh sản, các mối quan hệ giữa các cá nhân, tình cảm,

sự thân mật, ý niệm về cơ thể và vai trò giới” [33]

Định nghĩa này khẳng định GDGT là một quá trình lâu dài và đặt người học vào

vai trò trung tâm, đồng thời nêu được kết quả của quá trình GDGT (thái độ, niềm tin

và giá tr ị được hình thành, củng cố vững chắc ở người học) và nội dung của GDGT (s ự phát triển giới tính, sức khỏe tình dục và sinh sản, các mối quan hệ giữa các cá nhân, tình c ảm, sự thân mật, ý niệm về cơ thể và vai trò giới.)

Theo các tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Đoan, Bùi Ngọc Oánh, Đoàn Xuân Mượu, giáo dục giới tính là quá trình giáo dục con người có nhận thức đầy đủ, có thái

độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hóa giới tính (thái độ và

kĩ năng giao tiếp ứng xử lịch sự văn minh trong quan hệ với người khác giới ở mọi lĩnh vực của đời sống XH), rèn luyện cho họ ý chí làm chủ bản năng, làm chủ quá trình sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, của gia đình và của cộng đồng XH [16,22, 25]

Trang 27

Định nghĩa trên cũng khẳng định giáo dục giới tính là một quá trình đảm bảo 3

lĩnh vực của mục tiêu, bao gồm kiến thức (nhận thức đầy đủ về giới tính và quan hệ

gi ới tính), kĩ năng (giao tiếp ứng xử lịch sự văn minh trong quan hệ với người khác

gi ới ở mọi lĩnh vực của đời sống XH) và thái độ (thái độ đúng đắn về giới tính và quan

h ệ giới tính, ý chí làm chủ bản năng, làm chủ quá trình sinh sản) hướng đến mục đích

nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, của gia đình người được giáo dục và của

cộng đồng XH

Trong đề tài này, thuật ngữ “giáo dục giới tính” được hiểu là một quá trình lâu

dài được tổ chức có mục đích, có kế hoạch nhằm trang bị cho người được giáo dục có các ki ến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để đưa ra những lựa chọn có trách nhiệm

v ề các mối quan hệ giới tính và quan hệ XH

1.2.3 Chủ đề giáo dục giới tính

Theo T ừ điển Tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý chủ biên, chủ đề là đề tài

được chọn làm nội dung chủ yếu trong học tập [33]

Trong lĩnh vực giáo dục, chủ đề được hiểu là một phần nội dung kiến thức, kĩ năng cùng phản ánh một vấn đề nào đó mà HS có thể tìm hiểu, khám phá và học theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV trong một khoảng thời gian thích

hợp Chủ đề có thể rộng (lớn) hoặc hẹp (nhỏ) Một chủ đề lớn có thể bao gồm nhiều

chủ đề nhỏ Chủ đề có thể mang tính trừu tượng, có thể mang tính địa phương nhưng cũng có thể mang tính chung HS càng nhỏ tuổi, chủ đề càng phải cụ thể, gần gũi, mang tính địa phương, có quy mô nhỏ để HS có thể liên hệ với những hiểu biết và kinh nghiệm đã có của mình

Trong đề tài này, thuật ngữ “chủ đề giáo dục giới tính” được hiểu là phần nội

dung ki ến thức, kĩ năng phản ánh về các vấn đề liên quan đến giới tính mà HS có thể tìm hi ểu, khám phá và học theo nhiều cách khác nhau dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên trong m ột khoảng thời gian thích hợp

1.2.4 Xây dựng chủ đề giáo dục giới tính cho HS tiểu học

Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, NXB Đà Nẵng thì “xây

dựng” là làm nên công trình kiến trúc theo một kế hoạch nhất định; làm cho hình thành

một chỉnh thể về XH, kinh tế, chính trị, văn hóa theo một phương hướng nhất định; tạo

Trang 28

ra, sáng tạo ra cái có giá trị tinh thần, có ý nghĩa trừu tượng [25] Phần định nghĩa này

chỉ ra được rằng “xây dựng” là một hoạt động kiến tạo và sản phẩm của hoạt động này không chỉ là những công trình thuộc phạm trù vật chất mà còn tạo ra những giá trị thuộc đời sống tinh thần

Trong lĩnh vực giáo dục, từ “xây dựng” được sử dụng trong các thuật ngữ như

“xây dựng chương trình đào tạo”, “xây dựng mô hình giáo dục”, “xây dựng các nội dung giáo dục” Theo quyển International Encyclopedia of Educational Technology

do Tjeerd Plomp và Donald P Ely biên soạn thì việc xây dựng chương trình đào tạo không phải là đưa thông tin vào trong đầu HS, đúng hơn, nó cần được kiến tạo bằng cách sắp xếp để HS tự xây dựng kiến thức cho chính họ Người GV nên sắp đặt một môi trường có tính thăm dò để HS tự khám phá và phát hiện tri thức Việc tổ chức để

HS tự xây dựng nên tri thức cho chính mình là vấn đề phức tạp và đầy thử thách phát

xuất từ bản chất của việc học tập Cách giải thích trên đã làm bật lên tính chất của việc xây dựng một chương trình giáo dục là tính chủ động và tính khoa học Dẫu ở bất kì cách hiểu nào thì xây dựng đều được quan niệm là việc tạo ra hay làm ra một sản

phẩm ở những cấp độ khác nhau theo mục tiêu của chủ thể

Như vậy, trong đề tài này, “xây dựng” được hiểu là một hoạt động tạo ra sản

ph ẩm có giá trị theo một mục tiêu định trước nhằm đáp ứng cho nhu cầu được đặt ra

Cụ thể, “xây dựng chủ đề GDGT cho HS tiểu học” là hoạt động tạo ra một hệ thống

ch ủ đề bao hàm những nội dung GDGT hướng đến mục tiêu nâng cao kiến thức và kĩ năng liên quan đến giới tính cho HS tiểu học

1.3 Ho ạt động giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

1.3.1 Đặc điểm lứa tuổi của HS tiểu học

1.3.1.1 Đặc điểm giới tính ở trẻ tiểu học

Từ khoảng 6, 7 tuổi, trẻ đã hiểu biết khá rõ về những khác biệt cơ bản giữa nam, nữ (hình thể, phong cách) Do đó, trẻ bắt đầu cảm thấy e ngại, không còn muốn

tự nhiên phô bày thân thể như trước Sự kín đáo ấy thể hiện ý thức ban đầu về nhân cách riêng của trẻ Nhu cầu tò mò, tìm hiểu được trẻ cụ thể hóa bằng các trò chơi “vợ

chồng”, “làm bác sĩ”, “đi bệnh viện”,… bao gồm việc khám phá bộ phận của nhau (có

hoặc không kèm theo hành động sờ mó, vuốt ve) Thông qua các trò chơi nói trên được

Trang 29

thực hiện đối với cả hai phái, trẻ tìm câu trả lời cho các thắc mắc về sự giống nhau

hoặc khác nhau giữa bản thân với bạn cùng giới lẫn bạn khác giới Từ đó, trẻ mở rộng

sự hiểu biết về đặc điểm, chức năng của bộ phận sinh dục nam, nữ một cách ngây thơ

Ý thức giới tính ở trẻ 6, 7 tuổi biểu hiện ở sự phân hóa các hoạt động và định hướng giá trị Các em trai và các em gái chơi trò chơi khác nhau theo góc độ giới tính Sự khác biệt giới tính này càng ngày càng rõ rệt hơn Trẻ bắt đầu biết xử sự theo những

dấu hiệu mà nó nhận thấy là nó thuộc về giới nào, đồng thời ngược lại, nó thấy thẹn thùng trước các dấu hiệu mà theo nó là thuộc về giới kia Trẻ sẽ lựa chọn những dạng nào đó trong số các khuôn mẫu hành vi được chấp nhận ở môi trường xung quanh nó Như vậy, ở trẻ tiểu học 6, 7 tuổi, các đặc điểm giới tính không bộc lộ rõ rệt mặc dù có

những biểu hiện khác nhau giữa các em trai và em gái trong hoạt động vui chơi (loại trò chơi hay loại đồ chơi) Giữa trẻ trai và trẻ gái chưa có sự khác biệt rõ ràng về đặc điểm cơ thể do hoạt động của tuyến sinh dục nam và nữ chưa phát triển mạnh về chức năng sinh lí giới tính Ở giai đoạn này, trẻ trai và trẻ gái quan hệ với nhau hồn nhiên, trong sáng, chưa bị chi phối bởi các cảm xúc giới tính [9, 25]

Ở giai đoạn từ 7, 8 tuổi đến 10, 12 tuổi, giới tính đã bắt đầu hình thành rõ rệt và

sự phát triển của các em nam và em nữ có sự khác nhau cả về sinh lí và tâm lí Tốc độ sinh trưởng của các em nữ nhanh hơn nên ở thời kì này, các em nữ thường cao hơn các

em nam Ở giai đoạn này, trẻ đã có sự “xác định khoảng cách” giữa nam và nữ Các

em nam ít thân mật hoặc chơi chung với các em nữ Sự giao tiếp giữa hai giới đã có sự

giữ kẽ hơn do các rung cảm giới tính đã bắt đầu xuất hiện dù các em chưa ý thức được

Những rung cảm giới tính này tạo cho các em sự quan tâm đến những người khác giới [25]

Như vậy, việc hình thành và phát triển giới tính ở trẻ tiểu học căn cứ vào những

gì các em thấy hoặc cảm nhận qua thái độ, cung cách ứng xử của người lớn, bắt đầu từ cha mẹ, sau đó đến các mối liên hệ khác… và theo quan điểm, suy nghĩ hoặc logic của

lứa tuổi các em Vì trẻ em ở lứa tuổi này chưa biết đến những chuyện hẹn hò hoặc trải qua sự thu hút về phái tính, chúng dễ dàng chấp nhận những sự giải thích của cha mẹ,

thầy cô Do đó, GDGT cho trẻ em ở lứa tuổi này là cần thiết với điều kiện chọn lọc thông tin phù hợp với nhận thức của trẻ

Trang 30

1.3.1.2 Đặc điểm về hoạt động nhận thức

 Tri giác

HS 6, 7 tuổi chủ yếu tri giác không chủ định, chưa có kĩ năng điều khiển tri giác, chưa xem xét chi tiết đối tượng, bị quy định bởi những đặc điểm của đối tượng tri giác và những gì tương phản rõ rệt của đối tượng xung quanh Cuối cấp tiểu học, HS tri giác chủ định (có đích hướng, được điều khiển, có ý thức), nắm được kĩ thuật tri giác (cách nhìn, nghe, phân biệt những dấu hiệu chủ yếu, quan trọng, thấy được nhiều chi tiết trong một đối tượng) [11]

Do đó, các hoạt động quan sát cần được xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ; chuẩn bị chu đáo (tri thức, phương tiện) trước khi quan sát; GV cần hướng

dẫn quan sát có kế hoạch, có hệ thống, tích cực sử dụng phương tiện ngôn ngữ, tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan khi quan sát

 Chú ý

Ở HS tiểu học, chú ý không chủ định chiếm ưu thế, chú ý có chủ định và khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí còn yếu HS chỉ chú ý khi có động cơ gần thúc đẩy (được khen, được điểm cao…) Chú ý không chủ định của HS càng mạnh khi

đồ dùng dạy học mang tính chất mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường, gợi cảm xúc tích cực Nhưng nếu ấn tượng trực quan quá mạnh có thể tạo ra trung khu hưng phấn

mạnh ở vỏ não làm kìm hãm khả năng phân tích và khái quát tài liệu học tập Nhu cầu,

hứng thú của HS có thể kích thích và duy trì chú ý không chủ định [11 ]

Do đó, cần tổ chức nhiều hoạt động học tập phong phú, hấp dẫn trong giờ học

Do quá trình ức chế ở bộ não HS 6 – 7 tuổi còn yếu nên sự tập trung chú ý của các em thiếu bền vững, nhưng có thể duy trì từ 30 – 35 phút và phụ thuộc vào nhịp độ học tập

 Tư duy

Từ 7 – 10 tuổi, tư duy của HS dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng,

hiện tượng cụ thể có thực trong thực tiễn Thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa khoa học còn yếu; kĩ năng phân biệt các thuộc tính bản chất và không bản chất trong quá trình lĩnh hội khái niệm chưa cao do HS thường quan tâm đến dấu hiệu trực quan,

bề ngoài của đối tượng; gặp khó khăn khi xác định và hiểu mối quan hệ nhân quả (từ

Trang 31

nguyên nhân đưa ra kết quả tốt hơn chiều ngược lại) Năng lực khái quát hóa của HS

tiểu học phát triển cùng với độ tuổi và trình độ học lực [11]

Do đó, các hoạt động học tập cần được tổ chức theo nguyên tắc khái quát hóa

nội dung: phân tích một sự vật, hiện tượng điển hình để phát hiện ra cái chung, cái bản

chất rồi vận dụng vào giải quyết những vấn đề cùng loại, cụ thể, phức tạp hơn; tài liệu

học tập cần trình bày ngắn gọn, chính xác, tường minh; cần thực hiện dạy học phân hóa và cải tiến phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS

bởi hình ảnh hiện thực trực quan [11]

 Trí nh ớ

Ở HS tiểu học, trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic HS lớp 1, 2 chủ yếu ghi nhớ máy móc hơn là ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào các điểm tựa, khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi nhớ Ở HS lớp 3, 4, 5, ghi

nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường, ghi nhớ có chủ định phát triển tuy còn phụ thuộc vào mức độ tích cực tập trung trí tuệ, sức hấp dẫn của tài liệu, tình cảm,

hứng thú… [11]

Do đó, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu,

dễ nắm bắt, dễ thuộc, tạo tâm lý hứng thú và vui vẻ

 Ngôn ng ữ

Hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo HS các lớp cuối cấp tiểu học

đã nắm được ngữ âm, quy tắc ngữ pháp cơ bản khi nói và viết, vốn từ ngữ ngày càng phong phú, chính xác và giàu hình ảnh Sự nắm ngôn ngữ viết và sự phát triển tiếp theo của ngôn ngữ nói có tính chất logic, truyền cảm, bảo đảm cho trẻ có khả năng để

nhận thức thực tế và để giao thiệp rộng rãi [11]

Trang 32

1.3.1.3 Đặc điểm về xúc cảm, tình cảm

Tình cảm của HS tiểu học mang tính cụ thể trực tiếp, gắn liền với các sự vật,

hiện tượng sinh động, rực rỡ… HS dễ xúc động, dễ nổi giận do khả năng kiềm chế càm xúc còn hạn chế Tình cảm của trẻ dễ thay đổi Trẻ chưa ý thức đầy đủ những tình

cảm của mình và sự hiểu biết những tình cảm của người khác còn bị hạn chế [11]

HS tiểu học quan tâm, lo lắng đến kết quả học tập Thái độ của thầy cô giáo, cha mẹ đối với kết quả học tập của các em có ảnh hưởng rõ rệt đến sự cố gắng học tập

của các em HS tiểu học tò mò, ham hiểu biết, nảy sinh nhiều thắc mắc muốn tìm hiểu

những điều sâu sắc hơn, mong muốn được giải đáp vấn đề đầy đủ nên thường hay đặt câu hỏi, đặt ra vấn đề cần tìm hiểu Đọc sách trở thành nhu cầu của HS tiểu học [11]

HS tiểu học dần hiểu được các khái niệm đạo đức, cách đánh giá, tập xây dựng phán đoán đạo đức riêng của mình, đủ sức phân tích và khái quát những sự việc gây

cảm xúc trong hành vi của con người Các hoạt động nhóm, tập thể trong học tập và sinh hoạt làm phát triển tình cảm tập thể, tình bạn ở HS tiểu học [11]

Những đặc điểm tình cảm của HS tiểu học đòi hỏi việc giáo dục cần khéo léo,

tế nhị, nên dẫn dắt các em bằng hình ảnh trực quan sinh động, hấp dẫn và đặc biệt sử

dụng những hoạt động học tập cụ thể (trò chơi nhập vai, xử lý tình huống…)

1.3.1.4 Đặc điểm về xã hội – nhân cách

Nhân cách của trẻ tiểu học mang tính chỉnh thể, hồn nhiên Trong quá trình phát triển, trẻ luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách

vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng Nhân cách của trẻ tiểu học còn mang tính

tiềm ẩn, những năng lực, tố chất còn chưa được bộc lộ rõ nét Do đó, phải dùng những

lời lẽ nhẹ nhàng mang tính gợi mở và chờ đợi, hướng trẻ đến với những hình mẫu nhân cách tốt đẹp của cha mẹ, thầy cô, bạn bè [11]

1.3.2 Mục tiêu giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

Đa số các tài liệu về GDGT đưa ra mục tiêu GDGT cho HS toàn bậc phổ thông nói chung

Theo Hướng dẫn chuyên môn quốc tế về GDGT do UNESCO ban hành và Hướng dẫn GDGT toàn diện của Hoa Kì, mục tiêu GDGT cho các đối tượng từ 5 – 18

tuổi được xây dựng hướng vào bốn lĩnh vực [38]:

Trang 33

 Thông tin: GDGT nhằm cung cấp thông tin chính xác về giới tính của con người, bao gồm: sự sinh trưởng, phát triển; giải phẫu, sinh lý học tình dục; sinh sản;

biện pháp tránh thai; mang thai, sinh nở; HIV - AIDS; STI; cuộc sống gia đình, mối quan hệ giữa các cá nhân; văn hóa tình dục; nhân quyền; bình đẳng giới, vai trò giới; hành vi tình dục; đa dạng tình dục; lạm dụng tình dục; bạo lực giới; hành vi xâm hại

 Giá trị, thái độ và chuẩn mực xã hội: GDGT nhằm tạo cơ hội cho HS khám phá các giá trị, thái độ và chuẩn mực (của cá nhân, gia đình, bạn bè và cộng đồng) được đặt trong bối cảnh liên quan đến hành vi tình dục, sức khỏe, chấp nhận rủi ro, ra quyết định và được xem xét bởi các nguyên tắc về sự khoan dung, tôn trọng, bình đẳng

giới, nhân quyền và bình đẳng

 Kĩ năng cá nhân và kĩ năng trong các mối quan hệ: GDGT thúc đẩy việc đạt được các kỹ năng liên quan đến: sự ra quyết định; giao tiếp; đàm phán và từ chối để góp phần cải thiện các mối quan hệ hữu ích đối với các thành viên gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và các đối tác trong quan hệ lãng mạn hay tình dục

 Trách nhiệm: Thông qua giáo dục sự tôn trọng; chấp nhận; khoan dung và sự đồng cảm với tất cả mọi người bất kể tình trạng sức khỏe hoặc khuynh hướng tình dục

của họ, GDGT phải khuyến khích HS chịu trách nhiệm cho hành vi của bản thân cũng như hành vi đối với người khác, nhấn mạnh về bình đẳng giới; chống lại tình trạng quan hệ tình dục sớm, quan hệ tình dục không mong muốn hoặc bị cưỡng bức và loại

bỏ tình trạng bạo lực trong các mối quan hệ; giáo dục thực hành tình dục an toàn (sử

dụng bao cao su và biện pháp tránh thai đúng đắn, phù hợp)

Tùy theo độ tuổi của người được GDGT, nội dung các mục tiêu này sẽ được điều chỉnh cho phù hợp

Mục tiêu của GDGT cho thế hệ trẻ được tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Đoan xác định tập trung vào ba lĩnh vực[17]:

 Kiến thức: GDGT nhằm giúp thế hệ trẻ nắm vững hệ thống kiến thức sinh lý

học, giải phẫu cơ quan sinh dục, các giai đoạn phát triển sinh lý giới tính của con người, tâm sinh lý của đời sống tình dục, sự thụ tinh và sự phát triển của bào thai, có thai và sự sinh đẻ, vô sinh giới tính, vô sinh tình dục, các biện pháp phòng tránh thai

Trang 34

 Kĩ năng: GDGT nhằm xây dựng cho thế hệ trẻ kĩ năng tự đánh giá hành vi

của mình trong quan hệ đối với người khác; phân biệt tốt xấu, đúng sai trong phạm vi quan hệ khác giới

 Thái độ: GDGT nhằm hình thành cho thế hệ trẻ ý thức tôn trọng con người,

biết quan tâm đến những đặc điểm giới tính của người khác giới trong quá trình hoạt động chung; có trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân và sức khỏe của người khác, ý thức được những nguy hại do quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên gây nên; khát vọng có một gia đình hòa thuận, lành mạnh, vững chắc, đáp ứng được những yêu

cầu của XH tiến bộ; có thái độ phê phán đối với những biểu hiện của sự vô trách nhiệm, lừa đảo, lối sống phóng đãng, coi khinh phụ nữ, tính nhẹ dạ, cả nể hoặc tự đánh

mất phẩm giá của người phụ nữ trong quan hệ với người khác giới

Bên cạnh đó, một số tài liệu được biên soạn dành cho cấp tiểu học đưa ra những

mục tiêu GDGT có tính cụ thể, ngắn gọn, phù hợp với độ tuổi của HS

Theo tài liệu GDGT và các mối quan hệ của Ireland, mục tiêu GDGT ở cấp tiểu

học nhằm cung cấp cho HS các thông tin phù hợp về sự phát triển của bản thân, về tình bạn và các mối quan hệ với người khác; thúc đẩy sự tôn trọng của HS với chính mình và với người khác thông qua việc phát triển nhận thức tốt đẹp về bản thân [36]

Theo tài liệu Catching On Early của bang Victoria nước Úc, mục tiêu GDGT cho HS ở cấp tiểu học nhằm giúp HS gọi đúng tên và hiểu chức năng của các bộ phận

cơ thể; tạo cơ hội cho HS thực hành và yêu cầu giúp đỡ về các vấn đề liên quan đến

cảm xúc, các mối quan hệ, cơ thể; cung cấp thông tin về tuổi dậy thì; giúp HS hiểu tầm quan trọng của sự tôn trọng trong các mối quan hệ , biết các em bé được thụ thai và sinh ra như thế nào [37]

Từ những mục tiêu GDGT đã được các tài liệu đề cập, đề tài xây dựng mục tiêu GDGT ở cấp tiểu học như sau:

Ki ến thức: HS có tri thức cơ bản về cơ thể người, sự sinh sản và phát triển

c ủa con người; các mối quan hệ giữa các cá nhân (gia đình, tình bạn, tình yêu); vai trò gi ới và bình đẳng giới; phòng chống xâm hại; HIV/AIDS

Kĩ năng: HS có kĩ năng chăm sóc bản thân, cải thiện các mối quan hệ cơ bản (gia đình, bạn bè), bảo vệ bản thân, phòng chống xâm hại

Trang 35

Thái độ: HS có lòng tự trọng; tôn trọng, chấp nhận, khoan dung với mọi người; có ý thức trách nhiệm đối với hành động của bản thân

1.3.3 Nội dung giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

Nội dung của GDGT bao gồm một loạt các vấn đề của XH học, tâm lý học, đạo đức học, luật pháp, giáo dục học, sinh lý – vệ sinh học, thẩm mĩ học, kinh tế học, dân

tộc học Có thể tóm tắt các nội dung đó vào những mặt chính như sau [8, 25]:

- Những đặc điểm sinh lý và tâm lý của các em trai và em gái, của thanh nam và thanh nữ, đàn ông và đàn bà, ý nghĩa của những đặc điểm đó đối với mối quan hệ qua

lại của họ với những người khác giới trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người

- Gia đình và các mối quan hệ trong gia đình

- Sự sinh đẻ và giáo dục con cái, sự kế tục của các thế hệ

- Vấn đề vệ sinh giới tính (bao gồm AIDS, các bệnh lây qua đường tình dục)

Những nội dung trên được thực hiện theo hình thức tổ chức giáo dục thích hợp, cho những đối tượng thích hợp và theo từng điều kiện, hoàn cảnh thích hợp

Theo Hướng dẫn chuyên môn quốc tế về GDGT do UNESCO ban hành, nội

dung GDGT cho HS tiểu học từ 5 – 8 tuổi bao gồm [39]:

3 Sự tôn trọng đối với mọi người xung quanh

4 Hôn nhân (Đề cập đến hôn nhân lựa chọn, hôn nhân sắp đặt, hôn nhân cưỡng bức, tình trạng ly thân, ly hôn)

Các giá trị,

thái độ, kĩ

năng

5 Các giá trị cá nhân ( bình đẳng, tôn trọng, chấp nhận, khoan dung)

6 Các hình thức và sự ảnh hưởng của áp lực từ bạn bè đồng trang lứa

7 Kĩ năng ra quyết định

Trang 36

8 Kĩ năng giao tiếp, từ chối và đàm phán

9 Kĩ năng tìm kiếm trợ giúp

14 Phân biệt cơ thể nam-nữ; sự thay đổi của cơ thể theo thời gian; các

bộ phận riêng tư của cơ thể

15 Sự sinh sản: sự rụng trứng, thụ tinh, thụ thai, mang thai, sinh con

Sự thay đổi của cơ thể người phụ nữ khi mang thai

16 Cách thức cơ thể thay đổi khi con người phát triển

Các đặc trưng chính của tuổi dậy thì

21 Nhận thức về việc không phải tất cả các cặp vợ chồng đều có con

22 Khái niệm về “khỏe mạnh” và “bệnh”, vai trò của hệ miễn dịch

22 Các nhu cầu của người sống chung với HIV

1.3.4 Hình thức, phương pháp giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

1.3.4.1 Hình thức giáo dục giới tính cho học sinh tiểu học

Việc thực hiện giảng dạy các nội dung GDGT trong nhà trường phổ thông thường được tiến hành theo các hướng:[25,7]

Thứ nhất, tích hợp (kết hợp, lồng ghép) với các môn học có liên quan

Thứ hai, tích hợp trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, cụ thể:

Trang 37

- Lồng ghép trong hoạt động sinh hoạt theo chủ điểm giáo dục

- Lồng ghép trong hoạt động sinh hoạt lớp hoạt động sinh hoạt dưới cờ

- Lồng ghép trong nội dung các hoạt động tự chọn

- Giảng dạy theo chủ đề trong những tiết học riêng, mời báo cáo viên

- Tổ chức các hoạt động tư vấn học đường

1.3.4.2 Phương pháp giáo dục giới tính cho HS tiểu học

Do hình thức GDGT trong nhà trường phổ thông được thực hiện theo hướng tích hợp trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và tích hợp vào hoạt động dạy

học trên lớp nên phương pháp GDGT cho HS tiểu học gồm 2 nhóm: các phương pháp giáo dục và các phương pháp dạy học [18,27]

a Nhóm phương pháp giáo dục

 Phương pháp trò chuyện [18,27]

GV và HS cùng trò chuyện về vấn đề HS quan tâm Nội dung câu trả lời của

GV phải khoa học, đúng sự thật, gắn với khái niệm chung và tạo được niềm tin ở HS Câu trả lời phải đúng lúc, đúng chỗ, dí dỏm; lượng thông tin và hình thức thông tin

phải ở mức trẻ hiểu được và có lợi cho trẻ GV phải tạo được bầu không khí thân mật trong lớp học và thể hiện được thái độ bình đẳng, tôn trọng, cởi mở đối với các câu hỏi

của trẻ

 Phương pháp kể chuyện [18,27]

GV dùng lời nói kết hợp với cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để thuật lại một cách sinh động một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục nhằm hình thành và phát triển ở HS khả năng nhận thức, tình cảm, xúc cảm tích cực và niềm tin đúng đắn Khi sử dụng phương pháp này cần lưu ý lựa chọn những câu chuyện sinh động, hấp dẫn, chứa đựng nhiều tình huống giáo dục cần thiết; khối lượng sự kiện trong câu chuyện phải phù hợp với

thời gian và đặc điểm tâm sinh lí của HS Sau khi kể chuyện, GV sử dụng hệ thống câu

hỏi để giúp HS khai thác nội dung câu chuyện, rút ra những kết luận cần thiết, bổ ích

 Phương pháp giảng giải, khuyên răn [18,27]

GV dùng lời nói để giải thích, chứng minh những chuẩn mực XH đã được quy định nhằm giúp HS hiểu và nắm được ý nghĩa, nội dung và quy tắc của việc thực hiện các chuẩn mực này, đồng thời hình thành được tình cảm, niềm tin để có thể tự giác

Trang 38

thực hiện những chuẩn mực này với thái độ và động cơ đúng đắn Khi giảng giải, khuyên răn, GV cần lưu ý:

- Chuẩn bị nội dung giảng giải đầy đủ, chính xác

- Lời nói rõ ràng, khúc chiết; lập luận chính xác, logic, dễ hiểu

- Minh họa bằng tranh ảnh, ví dụ thực tế

- Thu hút HS vào quá trình giảng giải, tạo điều kiện để HS có thể liên hệ với

bản thân và thực tế

 Phương pháp nêu gương thuyết phục [18,27]

Đây là phương pháp dựa trên cơ sở tâm lý hay bắt chước của HS tiểu học Mỗi

“tấm gương” được sử dụng như một phương tiện trực quan để HS học tập và làm theo Đối với HS tiểu học, tấm gương tốt nhất là cha mẹ, thầy cô giáo, bạn bè

Để phát huy phương pháp này cần lưu ý:

- Lựa chọn những tấm gương sáng, gương phản diện (không quá lạm dụng) phù hợp với mục tiêu của hoạt động GDGT và đặc điểm tâm sinh lý của HS

- Gương được lựa chọn phải có tính khả thi

- Tạo điều kiện cho HS liên hệ với thực tế

 Phương pháp tạo tình huống giáo dục [18,27]

GV thiết kế những tình huống giả định có chứa đựng vấn đề cần học tập và yêu

cầu HS xử lý tình huống theo cá nhân hoặc nhóm

GV hướng dẫn HS phân tích, nhận xét, rút ra ưu điểm và hạn chế của các quan điểm và cách thức ứng xử mà HS đưa ra Từ đó, HS nắm bắt được kiến thức, kĩ năng

của bài học và có được kinh nghiệm ứng xử

 Phương pháp rèn luyện theo chế độ sinh hoạt [18,27]

Một chế độ sinh hoạt hợp lý thiết lập trong nhà trường và gia đình tạo cho HS thói quen gọn gàng, ngăn nắp; thói quen học tập, lao động, vui chơi đúng đắn và tạo cho HS những mục tiêu có ích cần phấn đấu; góp phần làm cho HS cảm thấy thoải mái

về thể chất, tinh thần và có thể mang thói quen tốt đẹp đã được rèn luyện vào lĩnh vực quan hệ nam – nữ

Trang 39

b Nhóm phương pháp dạy học

 Phương pháp thuyết trình [27]

GV dùng lời để trình bày, giải thích nội dung GDGT một cách chi tiết, dễ hiểu Thuyết trình khi được nâng lên thành thuyết trình nêu vấn đề sẽ giúp HS thoát khỏi tình trạng thụ động, khơi dậy tính tích cực tư duy của HS Bên cạnh đó, khi GV kết

hợp thuyết trình với minh họa bằng các phương tiện trực quan, với vấn đáp, thảo luận

và thực hành sẽ buộc HS năng động, tích cực trong quá trình học tập Khi sử dụng

phương pháp thuyết trình, Gv có thể sử dụng kết hợp cả 5 dạng thuyết trình: trần thuật,

mô tả, nêu đặc điểm, giải thích và biện luận

 Phương pháp vấn đáp [27]

GV tổ chức cho HS tìm hiểu nội dung GDGT thông qua hệ thống câu hỏi được

sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Phương pháp vấn đáp có thể được sử

dụng để mở đầu bài học (nhằm huy động kiến thức, kinh nghiệm của HS liên quan đến bài học), ôn tập (nhằm củng cố, khái quát hóa kiến thức hoặc kiểm tra việc nắm kiến

thức, kĩ năng của HS), thông báo (nhằm khơi gợi hoạt động tư duy độc lập của HS)

 Phương pháp hướng dẫn HS đọc tài liệu GDDT phù hợp độ tuổi [18,27]

GV giúp HS đọc sách có nội dung GDGT phù hợp (truyện tranh khoa học về sự mang thai, sách hướng dẫn thói quen giữ vệ sinh cơ thể em trai hoặc em gái ) Sau đó,

tổ chức cho HS trình bày, tranh luận về những gì đã đọc để có thể tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp từ sách có thể mang lại

 Phương pháp trực quan [27]

Do đặc điểm lứa tuổi HS tiểu học, GV cần sử dụng các phương tiện trực quan (tranh ảnh, phim, sơ đồ, tóm tắt ) để HS chú ý và hình dung được rõ ràng về vấn đề đang học tập Trong quá trình đó, GV sử dụng hệ thống câu hỏi hợp lý để HS khai thác thông tin từ phương tiện trực quan kết hợp với vốn sống, kiến thức, kĩ năng vốn có của

HS, giúp HS từng bước khám phá và chiếm lĩnh nội dung GDGT cần học tập

 Phương pháp đóng vai [27]

GV tổ chức cho HS thực hành kĩ năng ứng xử trong một tình huống giả định Tình huống đóng vai phải có nhiều cách giải quyết, đồng thời phải phù hợp với chủ đề

Trang 40

bài học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trình độ HS, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh

lớp học

 Phương pháp trò chơi [27]

GV thiết kế các loại trò chơi học tập phù hợp với mục tiêu, nội dung GDGT và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS nhằm giúp HS giảm áp lực học tập và lĩnh hội

kiến thức, kĩ năng có hiệu quả Một số yêu cầu về trò chơi học tập như sau:

- Về nội dung: Trò chơi phải phù hợp với mục tiêu của hoạt động học tập, thể

hiện được nội dung cơ bản của bài học

- Về tính chất: Trò chơi phải hấp dẫn HS chơi lẫn HS chứng kiến, phù hợp với không gian lớp học, phù hợp với thời lượng tiết học, phải lôi cuốn được nhiều HS tham gia

 Phương pháp thực hành, luyện tập [18,27]

GV tổ chức cho HS vận dụng lí thuyết đã học để giải quyết các bài tập hoặc tình huống trong thực tế cuộc sống Các loại bài tập hoặc tình huống này cần đảm bảo các tiêu chuẩn sau:

- Đa dạng, vận dụng được kiến thức đã học theo nhiều cách, nhiều hình thức

- Nhiều mức độ khác nhau và được sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó

- Có nhiều cách giải quyết

 Phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ [15]

GV chia HS thành từng nhóm để thảo luận về một vấn đề học tập dưới sự tổ

chức, hướng dẫn của GV nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập HS luân phiên đảm

nhận nhiệm vụ và vai trò khác nhau trong nhóm GV có thể tổ chức cho HS học tập theo nhóm thống nhất hoặc nhóm phân hóa

1.3.5 Đánh giá hoạt động giáo dục giới tinh cho học sinh tiểu học

Ở bậc phổ thông, nội dung GDGT vừa được tích hợp trong các môn học, vừa có

thể được tổ chức học tập thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp Do đó, việc đánh giá

hoạt động GDGT cho HS được triển khai ở hai mảng: đánh giá thông qua chương trình môn học và đánh giá thông qua chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp

Ngày đăng: 02/01/2021, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w