Bên cạnh đó còn có một số công cụ khám sàng lọc đơn giản, dễ thực hiện, đồng thời khi tổng hợp các công cụ này chúng ta sẽ có được một hệ thống các công cụ khám sàng lọc có phạm vi lứa t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐỂ SÀNG LỌC, PHÁT HIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ TRẺ
TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
ĐỂ SÀNG LỌC, PHÁT HIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ TRẺ
TRƯỜNG MẦM NON THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Mã số: 60 14 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THỊ MINH HÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi thực hiện, không sao chép từ nghiên
cứu của người khác, chưa từng được công bố ở các nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ
LÊ NGUYỄN HOÀNG THƯ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi gặp không ít khó khăn nhưng nhờ sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, đặc biệt nhờ sự giúp đỡ của thầy cô đồng nghiệp, giáo viên
ở các trường mầm non thành phố Hồ Chí Minh, phụ huynh của các bé, bạn bè đã giúp
tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Minh Hà người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Mặc dù, tôi đã cố gắng hết sức song đây là lần đầu tiên tôi tập dợt làm công tác nghiên cứu khoa học nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong quí thầy cô nhận xét, đóng góp ý kiến để đề tài này được hoàn thiện hơn Kính chúc sức khỏe quí thầy cô hạnh phúc và thành đạt
Trang 5
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 631 GQVĐC4 Giải quyết vấn đề câu 4
Trang 7MỤC LỤC
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Giả thuyết nghiên cứu 6
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 6
6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài 6
7 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 8
7.1 Cách tiếp cận: 8
7.2 Phương pháp nghiên cứu 8
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 8
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 9
7.2.3 Phương pháp trắc nghiệm 9
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 9
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học 9
8 Những đóng góp mới của đề tài 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 10
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Giới thiệu sơ lược về Bảng hỏi Độ tuổi và Giai đoạn - Phiên bản 3 (ASQ-3) 10 1.1.2 Các nghiên cứu khác về ASQ-3 trên thế giới 12
1.1.3 Các nghiên cứu về ASQ-3 ở Việt Nam 16
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài 16
1.2.1 Lí luận về cải biên 16
1.2.2 Các thông số kỹ thuật cải biên 20
1.2.3 Một số khái niệm công cụ 24
1.2.3.1 Khái niệm sàng lọc 24
1.2.3.2 Khái niệm phát hiện 26
1.2.3.3 Khái niệm đánh giá 26
1.2.3.4 Khái niệm tuổi và giai đoạn phát triển 27
1.2.4 Đặc điểm phát triển của trẻ từ 6 đến 12 tháng 28
Trang 81.2.4.1 Đặc điểm phát triển vận động thô 28
1.2.4.2 Đặc điểm phát triển vận động tinh 29
1.2.4.3 Đặc điểm phát triển giao tiếp 30
1.2.4.4 Đặc điểm phát triển tư duy 32
1.2.4.5 Đặc điểm phát triển kỹ năng cá nhân xã hội 34
1.3 Thể thức nghiên cứu 36
TIỂU KẾT 37
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ CẢI BIÊN BỘ CÔNG CỤ ASQ-3 GIAI ĐOẠN TRẺ TỪ 6 đến 12 THÁNG 38
2.1 Đặc điểm khách thể khảo sát 38
2.2 Kết quả cải biên bộ công cụ ASQ-3 giai đoạn từ 6 đến 12 tháng 39
2.2.1 Kết quả góp ý cho bảng hỏi ASQ-3 giai đoạn từ 6 đến 12 tháng của phụ huynh, giáo viên và chuyên gia 39
2.2.2 Kết quả cải biên từng bảng hỏi ASQ-3 giai đoạn từ 6 đến 12 tháng 46
2.2.2.1 Bảng hỏi 6 tháng trước và sau cải biên 46
2.2.2.2 Bảng hỏi 8 tháng trước và sau cải biên 52
2.2.2.3 Bảng hỏi 10 tháng trước và sau cải biên 58
2.2.2.4 Bảng hỏi 12 tháng trước và sau cải biên 64
2.2.2.5 Tổng kết các bảng hỏi ASQ-3 trước và sau cải biên 71
2.3 Kiểm định kết quả nghiên cứu 73
2.3.1 Kiểm định bảng hỏi 6 tháng 73
2.3.1.1 Giao tiếp 73
2.3.1.2 Vận động thô 75
2.3.1.3 Vận động tinh 77
2.3.1.4 Giải quyết vấn đề 78
2.3.1.5 Cá nhân xã hội 79
2.3.2 Kiểm định bảng hỏi 8 tháng 81
2.3.2.1 Giao tiếp 81
2.3.3.2 Về vận động thô 82
2.3.3.3 Vận động tinh 83
Trang 92.3.3.4 Giải quyết vấn đề 84
2.3.2.5 Cá nhân xã hội 86
2.3.3 Kiểm định bảng hỏi 10 tháng 88
2.3.3.1 Giao tiếp 88
2.3.2.2 Vận động thô: 89
2.3.2.3 Vận động tinh 90
2.3.2.4 Giải quyết vấn đề 92
2.3.2.5 Cá nhân xã hội 93
2.3.4 Kiểm định bảng hỏi 12 tháng 95
2.3.4.1 Giao tiếp 95
2.3.4.2 Vận động thô 96
2.3.4.3 Vận động tinh 97
2.3.4.4 Giải quyết vấn đề 99
2.3.4.5 Cá nhân xã hội 100
TIỂU KẾT: 102
KẾT LUẬN 103
KIẾN NGHỊ 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong độ tuổi mầm non, năm đầu tiên là giai đoạn trẻ phát triển mạnh nhất Trải qua những biến đổi của cơ thể, trẻ sơ sinh dần thích nghi với cuộc sống trong những điều kiện mới khi rời khỏi “chiếc lồng” tử cung Đến khoảng 6 tháng tuổi, trẻ bắt đầu
có khả năng tiếp nhận ảnh hưởng của thế giới bên ngoài Thực tế trong thời kỳ này, trẻ phát triển đồng thời cả hai phương diện, không chỉ tiểu não và hệ thống thần kinh, cơ quan vận động cũng phát triển hoàn thiện Theo tự nhiên, bất cứ cơ quan nào vừa hình thành đều sẽ phát huy vai trò của nó Trong thuật ngữ hiện đại, công việc mang tính chức năng của cơ quan được gọi là “kinh nghiệm môi trường” Nếu không có được kinh nghiệm này, cơ quan đó sẽ phát triển không bình thường hoặc phát triển không hoàn thiện Sự phát triển bất thường, lệch lạc trong năm đầu tiên có thể ảnh hưởng không tốt dẫn đến một số rối loạn, khuyết tật về tâm lý và chất lượng cuộc sống sau này của trẻ nếu không được phát hiện sớm, xác định đúng và can thiệp phù hợp Do
đó, việc khám sàng lọc, chẩn đoán trẻ khuyết tật có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục đặc biệt và trị liệu, quyết định quá trình can thiệp sớm trong chữa trị với trẻ khuyết tật Chẩn đoán, sàng lọc trẻ giúp nhà chuyên môn, phụ huynh và người chăm sóc biết tình trạng, sự phát triển, điểm mạnh, điểm yếu để có thể đưa ra những hỗ trợ phù hợp giúp trẻ phát triển một cách tốt nhất
Can thiệp sớm là khâu vô cùng quan trọng đối với những trẻ chậm phát triển và trẻ khuyết tật, nhất là trong giai đoạn đầu đời Tuy nhiên, để thực hiện kịp thời, khám sàng lọc và phát hiện sớm là việc không thể bỏ qua Để sàng lọc đúng và phát hiện sớm, người thực hiện rất cần công cụ đánh giá phù hợp, đưa ra được những chỉ báo cơ bản, đáng tin cậy
Hiện nay có rất nhiều công cụ khám sàng lọc, không chỉ cho trẻ sau khi sinh mà còn có những biện pháp được bắt đầu sử dụng từ rất sớm, ngay từ giai đoạn mang thai
và ngay sau khi sinh như thử nghiệm Alpha Fetoprotein (tuần thứ 15 hoặc 18 trong thai kỳ), phân tích nước ối cho thai kỳ từ tuần thứ 14 trở đi hay tế bào thai (6 – 8 tuần)
để phát hiện sớm những rối loạn gen, nhiễm sắc thể, cũng có thể là hoạt động khá thai
Trang 11định kì của các bà mẹ thông qua biện pháp siêu âm, rất nhiều bệnh hay hội chứng liên quan tới tật CPTTT có thể được phát hiện sớm từ khi trẻ còn trong bụng mẹ: tật nứt đốt sống cổ, hội chứng Down,… Đây là công việc chủ yếu của bác sĩ [14]
Các công cụ khám sàng lọc ngay sau khi sinh còn được sử dụng để phát hiện sớm những vấn đề về nội tiết, trao đổi chất, các khuyết tật bẩm sinh dễ quan sát thấy và những rối nhiễu về di truyền khác Một trong những công cụ mà bác sĩ hay sử dụng là cách tính điểm APGAR và thang đánh giá hành vi ở trẻ sơ sinh của Brazelton (Brazelton Neonatal Behavioral Scale – BNBS) Hệ thống thang điểm của APGAR cho phép đánh giá nhanh chóng tình trạng sức khẻo của trẻ sơ sinh ngay sau thời điểm
nó được sinh ra Nó đánh giá các biểu hiện sau ở trẻ: nhịp tim, phản xạ hô hấp, trương lực cơ và các biểu hiện chung sau 1 phút, 5 phút, 10 phút đầu tiên sau khi chào đời BNBS bao gồm 27 phép đo đạc hành vi ở trẻ sơ sinh Công cụ này đo các biểu hiện: mức độ tỉnh táo, hoạt bát, các hoạt động tự trở nên bình tĩnh (nín khóc), mỉm cười, các đặc điểm của giấc ngủ và những hành vi điển hình khác của trẻ sơ sinh (ví dụ cách trẻ
sơ sinh phản ứng với các yếu tố kích thích khác nhau của môi trường xung quanh như ánh sáng, âm thanh, bị cù vào gan bàn chân…) Với kết quả thu được từ cả hai công cụ này, các bác sĩ sẽ có cơ sở để nghi ngờ về sự bất bình thường trong trạng thái tâm lí của trẻ sơ sinh (nhất là những trẻ có quá trình mang thai không thuận lợi, nhiều nghi vấn hay khi sinh gặp khó khăn (ví dụ như sinh chậm, không khóc ngay…) hay bị tổn thương hệ thần kinh) Tuy nhiên những kết quả thu được từ việc khám sàng lọc không thể được sử dụng cho việc tiên lượng sự phát triển của trẻ trong những giai đoạn ở tương lai xa [14]
Còn các công cụ khám sàng lọc sau khi sinh được dùng để khám sàng lọc trẻ em
ở độ tuổi lớn hơn hiện đang sử dụng ở Việt Nam và trên thế giới là trắc nghiệm khám sàng lọc Denver (Denver Developmental Screening test – DDST), First STEP và một
số công cụ khác Những công cụ này thường đánh giá các lĩnh vực khác nhau của sự phát triển như lĩnh vực cá nhân – xã hội, vận động thô và tinh xảo, ngôn ngữ, kỹ năng
tự phục vụ… Tương tự như những công cụ đã được đề cập đến ở trên, các công cụ này chỉ nhằm phát hiện xem có cần phải tiến hành đánh giá kỹ lưỡng cho trẻ hay
Trang 12không Để có thể xây dựng được các mục tiêu giáo dục hay nội dung chương trình, cần các công cụ đánh giá khác trong những bước tiếp theo [14], [5]
Bên cạnh đó còn có một số công cụ khám sàng lọc đơn giản, dễ thực hiện, đồng thời khi tổng hợp các công cụ này chúng ta sẽ có được một hệ thống các công cụ khám sàng lọc có phạm vi lứa tuổi trải dài từ 0 đến 6 tuổi đặc biệt phù hợp để sàng lọc, phát hiện những trẻ có nguy cơ bị chậm phát triển trí tuệ như: thang khám sàng lọc bước đầu (FirstSTEP – Screening Test for Evaluating Preschoolerss), bảng khám sàng lọc ESI - R, bộ công cụ ASQ, bộ công cụ AEPS, thang đo BRUNET - LEZINE, thang CAPUTE, [14]
Thang khám sàng lọc bước đầu (FirstSTEP – Screening Test for Evaluating Preschoolerss) bước đầu được dành cho hai nhóm tuổi, nhóm thứ nhất từ 2 tuổi 9 tháng (33 tháng) đến 3 tuổi 2 tháng (38 tháng); nhóm thứ hai từ 3 tuổi 3 tháng (39 tháng) đến 3 tuổi 8 tháng (44 tháng) Thang khám sàng lọc này kiểm tra trẻ ở 5 lĩnh vực: nhận thức, ngôn ngữ, vận động, tình cảm xã hội, hành vi thích ứng; ngoài ra còn
có thang đo dành cho cha mẹ hoặc giáo viên đánh giá [14]
Bảng khám sàng lọc sớm – Bản điều chỉnh (Early Screening Inventory – Revised: gọi tắt là ESI - R) dành cho độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi, do đặc trưng và sự khác biệt giữa các nhóm trẻ trong dải tuổi này, ESI - R được chia làm 2 bảng sàng lọc sớm nhỏ hơn, bao gồm bảng sàng lọc sớm dành cho trẻ em từ 3 đến 4 tuổi rưỡi (Early Screening Inventory - Preschool, gọi tắt là ESI - P) và bảng sàng lọc sớm dành cho trẻ
em từ 4 tuổi rưỡi tới 6 tuổi (Early Screening Inventory - Kindergarten, gọi tắt là ESI - K) Cả ESI - P và ESI - K đều kiểm tra trẻ trên 3 lĩnh vực cơ bản: Thị giác – Vận động; Ngôn ngữ và nhận thức; Vận động thô Ngoài ra khi thực hiện, trắc nghiệm viên còn cần thu thập một số thông tin liên quan tới khả năng ngôn ngữ và ấn tượng của người kiểm tra về trẻ nhưng không tính điểm phần này [14], [4]
Bộ công cụ sàng lọc ASQ là bộ câu hỏi giúp cho giáo viên, phụ huynh hoặc người chăm sóc trẻ (ở bên trẻ hơn 20 giờ/1 tuần) có thể phân loại nhóm trẻ có dấu hiệu nghi ngờ chậm phát triển, cần sự can thiệp sớm để giúp trẻ phát triển tốt thông qua nhiều biện pháp hỗ trợ đặc biệt Bộ công cụ này có thể giúp trẻ luyện tập các kĩ năng,
Trang 13các câu hỏi có thể giúp chỉ ra điểm mạnh ở bất kì lĩnh vực nào mà trẻ có thể cần hỗ trợ
và luyện tập thêm [14]
AEPS (Assessment Evaluation Programming System) là bộ công cụ để đánh giá mức độ chậm phát triển của trẻ ở các lĩnh vực cụ thể (giao tiếp, vận động, nhận thức, ) thông qua việc đưa ra mục tiêu, chương trình tác động phù hợp lên trẻ Sử dụng AEPS, giáo viên có thể đo và so sánh sự tiến bộ của mỗi trẻ so với chính bản thân mình qua các giai đọan khác nhau để điều chỉnh liên tục các hoạt động trên kế hoạch giáo dục cá nhân IEP(Individualized Education Program)
Thang đo BRUNET - LEZINE được thiết lập bởi Odette Brunet và Irene Lezin, vào năm 1951dùng để đánh giá mức độ phát triển tâm vận động của trẻ nhỏ, đánh dấu
sự chênh lệch có thể có so với trẻ cùng tuổi qua 4 lĩnh vực của 1 trẻ: vận động, phối hợp mắt và tay, ngôn ngữ và xã hội hóa Thang này đo chỉ số phát triển tổng quát, đánh giá mức độ trưởng thành, kết hợp với quan sát lâm sàng để đưa ra điểm mốc của
sự phát triển, giúp nhà điều trị so sánh sự phát triển của trẻ với trẻ cùng lứa, phát hiện sớm một số bất thường trong sự phát triển, giúp cha mẹ hiểu những nhu cầu và khó khăn trong vấn đề phát triển của trẻ [14]
Thang CAPUTE, tác giả là Pasquale J.Accardo và Arnold J.Capute Thang đo này bao gồm 2 phần: CAT và CLAMS CAT là test nhận thức thích nghi; bao gồm 57 mục, tập trung vào chức năng thị giác - vận động CLAMS là thang đo ngôn ngữ lâm sàng và cột mốc thính giác; gồm 43 mục, tập trung vào sự phát triển diễn đạt và cảm nhận Thời gian thực hiện từ 6 - 20 phút Thang đo này dùng để phát hiện chậm phát triển ở trẻ từ 1 – 36 tháng tuổi, ứng dụng trong phát hiện rối loạn phát triển của trẻ như: chậm phát triển tâm thần, rối loạn giao tiếp, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn tự kỉ, chậm ngôn ngữ diễn đạt, bại não, tổn thương thị giác, tổn thương thính giác [14]
Trong các bộ công cụ và thang đo trên, tôi nhận thấy bộ công cụ ASQ được dùng đánh giá sàng lọc trẻ từ 2 tháng đến 6 tuổi với thủ tục ngắn gọn, được thiết kế để xác định những trẻ cần được chẩn đoán sâu hơn, có thể được dùng để các cơ sở giáo dục hoà nhập hoặc giáo dục chuyên biệt sớm tại địa phương đánh giá Sử dụng mô hình đánh giá này, trẻ không chỉ được quan sát một lần mà được chăm sóc, theo dõi trong
Trang 14thời gian dài bởi vì ASQ dựa vào sự phát triển tự nhiên của trẻ bắt đầu từ thời điểm phát hiện, nảy sinh vấn đề hoặc kéo dài trong suốt thời gian trẻ được chăm sóc và can thiệp
Trên thế giới, ASQ đang được nghiên cứu, sử dụng rộng rãi như một công cụ sàng lọc, phát hiện, đánh giá và can thiệp sự phát triển của trẻ em ở khắp nước Mỹ và nhiều nước trên thế giới như Trung quốc, Đông Nam Á, Úc, Châu Phi, Ấn Độ, Châu
Âu, Trung và Nam Mỹ Ngoài ra, bộ công cụ này còn được dịch ra nhiều thứ tiếng như Hàn Quốc, Pháp, Na Uy, Somali, Việt Nam và Trung Quốc
Từ ngày 10 đến 13 tháng 3 năm 2008, Sở GD - ĐT TP.HCM phối hợp với khoa giáo dục đặc biệt – Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tổ chức lớp tập huấn cho hơn 200 cán bộ quản lý và GV mầm non về hai bộ công cụ sàng lọc ASQ và đánh giá trẻ khuyết tật AEPS Lớp học bao gồm cả việc cung cấp kiến thức lý thuyết, tập huấn thực hành và tài liệu về bộ công cụ đánh giá trẻ em Mỹ Mặc dù trẻ ở độ tuổi mầm non
đã được chứng minh có sự phát triển tương tự, nhưng chuyên gia Mỹ cũng khuyên nên điều chỉnh bộ công cụ cho phù hợp với văn hóa Việt Nam [31]
Ngày 13/8 đến 14/8/2015, Thực hiện kế hoạch công tác năm 2015, Bộ Giáo dục
và Đào tạo tổ chức tập huấn sử dụng Bảng hỏi theo dõi sự phát triển của trẻ để chuẩn
bị cho thử nghiệm tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tại Trung tâm Hội Nghị Giáo dục Tp.Hà Nội nhằm trình bày mục đích của nghiên cứu, dự kiến Kế hoạch tổng thể, quy trình thử nghiệm ASQ tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh và giới thiệu Bảng hỏi ASQ3.4 từ 36 - 60 tháng, hướng dẫn nhanh quy trình sử dụng ASQ-3.4 [42]
Tuy nhiên, để việc sàng lọc, phát hiện và can thiệp có hiệu quả, chúng ta nên thực hiện càng sớm càng tốt với trẻ lứa tuổi nhỏ hơn Thực tế các trường mầm non hiện nay đang thực hiện thí điểm nhận trẻ 6 – 12 tháng, sắp tới sẽ được nhân rộng Việc khám sàng lọc đánh giá trẻ ở độ tuổi này vô cùng cần thiết và sẽ mang hiệu quả tích cực trong việc chăm sóc giáo dục trẻ Đây chính là lý do tôi chọn đề tài Cải biên
Bộ công cụ ASQ-3 để sàng lọc, phát hiện và đánh giá trẻ từ 6 đến 12 tháng ở một số trường mầm non tại Hồ Chí Minh nhằm sớm đưa bộ công cụ này vào sử dụng tại Việt
Nam, góp phần giúp phụ huynh/người chăm sóc trẻ, giáo viên và các nhà chuyên môn
Trang 15có thêm cơ sở khoa học sàng lọc, phát hiện và can thiệp sớm cho trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt hoặc thông qua các câu hỏi có thể giúp trẻ luyện tập các kĩ năng, chỉ ra điểm mạnh và bất kì lĩnh vực nào mà trẻ có thể cần hỗ trợ và luyện tập thêm
2 Mục đích nghiên cứu
Cải biên bộ công cụ ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng tuổi của tác giả Squres & Bricker với bản quyền đã đăng ký năm 2009 và bản dịch tiếng Việt do NXB Brooker cấp phép năm 2014
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống cơ sở lí luận liên quan đến việc cải biên bộ công cụ ASQ-3 từ 6 đến
4 Giả thuyết nghiên cứu
Bộ công cụ ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng tuổi sau cải biên có thể sử dụng để sàng lọc, phát hiện và đánh giá trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Cải biên bộ công cụ ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng tuổi bản dịch tiếng Việt năm 2014
do NXB Brooker cấp phép
5.2 Khách thể nghiên cứu
Bộ công cụ ASQ-3 giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi
6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
6.1 Gi ới hạn khách thể nghiên cứu:
- 240 phụ huynh của trẻ từ 6 đến 12 tháng tại thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm
120 phụ huynh thực hiện bảng hỏi trước cải biên và 120 phụ huynh thực hiện bảng hỏi sau cải biên)
Trang 16- 120 giáo viên mầm non
- 40 chuyên gia về giáo dục
- 240 trẻ từ 6 đến 12 tháng, mỗi độ tuổi 60 trẻ (trong đó trước cải biên 120 trẻ, sau cải biên 120 trẻ)
6.2 Gi ới hạn đối tượng nghiên cứu: Đề tài chỉ cải biên bộ công cụ ASQ-3 thuộc
các giai đoạn từ 6 đến 12 tháng tuổi
6.3 Gi ới hạn địa bàn nghiên cứu
Các trường mầm non ở TPHCM:
- Trường Mầm non Ánh Sao – Quận Bình Tân
- Trường Mầm non Rạng Đông 4 – Quận 6
- Trường Mầm non Quận – Quận 11
- Trường Mầm non Tư Thục Anh Duy – Huyện Bình Chánh
- Trường Mầm non Tư thục Sao Mai – quận Bình Thạnh
- Trường Mầm non Tư thục Hiền Minh – Quận Tân Bình
- Trường Mầm non Tư thục Baby – Quận Tân Phú
- Trường Mầm non Tư thục Hoa Hướng Dương – Quận Gò Vấp
- Trường Mầm non Tư thục Hoàng Mai – Quận Phú Nhuận
- Trường Mầm non Ánh Dương – Quận 3
- Trường Nầm non Tư thục Hoa Hồng – quận 5
- Trường Mầm non Tư thục Sơn Ca – Quận 7
- Trường Mầm non Tư thục Vàng Anh – Quận 8
- Trường Mầm non Tư thục Mai Anh – Quận 10
- Trường Mầm non Tư thục Thiên Ân – Quận 12
Một số phòng khám nhi khoa tại TPHCM (do chủ phòng khám yêu cầu không nêu tên nên xin phép được viết tắt):
- Phòng khám Nhi T.A.S – Quận 2
- Phòng khám nhi H.T.S – Quận 9
Trang 177 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách ti ếp cận:
- Tiếp cận hệ thống: Sự phát triển của trẻ trong từng lĩnh vực diễn ra trong mối
quan hệ đối với các lĩnh vực phát triển khác (ví dụ: sự phát triển vận động thô, vận động tinh, giải quyết tình huống có vấn đề, giao tiếp và kỹ năng cá nhân xã hội…) Vì vậy, khi đánh giá sự phát triển của trẻ cần xem xét trong một quá trình phát triển thống nhất giữa các lĩnh vực phát triển
cao, từ đơn giản đến phức tạp, giai đoạn trước là tiền đề để phát triển giai đoạn sau Vì vậy, sử dụng bộ công cụ ASQ-3 đánh giá sự phát triển của trẻ tại một thời điểm nhất định nhằm can thiệp, hỗ trợ trẻ và tiếp tục đánh giá (cần lưu ý rằng, việc đánh giá không chỉ làm rõ những gì trẻ có và biết trong giai đoạn hiện tại “vùng hiện tại” mà cả tiềm năng của trẻ trong “vùng phát triển gần nhất”
lĩnh vực phát triển khác nhau như giao tiếp, vận động thô, vận động tinh, giải quyết tình huống có vấn đề và kỹ năng cá nhân xã hội
- Tiếp cận thực tiễn: Khi nghiên cứu, đề tài phải dựa trên những cơ sở thực tiễn
về đặc điểm đối tượng, địa bàn nghiên cứu, điều kiện thực hiện tại một số trường mầm non thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
- Nghiên cứu các tài liệu (sách, luận văn, tạp chí, bài báo khoa học) về sự phát triển của trẻ từ 6 đến 12 tháng, đặc điểm tâm lí cũng như các vấn đề có liên quan đến trẻ 6 đến 12 tháng và tài liệu có liên quan đến “Bảng hỏi phát hiện và đánh giá”
- Nghiên cứu bảng hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn ASQ-3 thực hiện
Trang 187.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thông tin về sự phát triển của trẻ thông qua 240 phụ huynh tham gia thực hiện bộ công cụ ASQ-3 cho trẻ từ 6 đến 12 tháng tuổi
- Điều tra sự phản hồi của 240 phụ huynh về bảng hỏi ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng tuổi
- Điều tra sự phản hồi của 120 giáo viên mầm non về bảng hỏi ASQ-3 từ 6 đến
12 tháng tuổi
- Điều tra sự phản hồi của 40 chuyên gia (là Cán bộ Quản lý trường Mầm non; học viên Cao học chuyên ngành Giáo dục Mầm non; Thạc sĩ, Tiến sĩ chuyên ngành Giáo dục Mầm non, Giáo dục Đặc biệt và Tâm lý – Giáo dục) về bảng hỏi ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng tuổi
7.2.3 Phương pháp trắc nghiệm
Sử dụng bộ công cụ ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng để đánh giá 240 trẻ (mỗi độ tuổi 60 trẻ) từ 6 đến 12 tháng trước và sau cải biên bộ công cụ ASQ-3
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Lấy ý kiến chuyên gia về cách hướng dẫn làm trắc nghiệm, cách chấm điểm, cách
xử lí số liệu và góp ý cho bảng hỏi
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Xử lí số liệu nghiên cứu bằng toán thống kê (sử dụng phần mềm SPSS 15)
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa lý luận liên quan đến cải biên bộ công cụ ASQ-3 để sàng lọc phát hiện và đánh giá trẻ theo tuổi và giai đoạn phát triển
- Góp phần đưa bộ công cụ ASQ-3 từ 6 đến 12 tháng tuổi sau khi cải biên vào sử dụng sàng lọc phát hiện và đánh giá trẻ tại TPHCM
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Gi ới thiệu sơ lược về Bảng hỏi Độ tuổi và Giai đoạn - Phiên bản 3 (ASQ-3)
ASQ-3, viết tắt của từ “Ages and Stages Questionnaires”, là bộ câu hỏi được xem như tiêu chuẩn vàng để sàng lọc sự phát triển cho trẻ từ 2 tháng đến 6 tuổi, do các chuyên gia đại học Oregon, Mỹ xây dựng và hoàn thiện trong hơn 40 năm qua [40] Năm 1970, Tiến sĩ Diane Bricker từ Đại học Oregon nhận được cuộc gọi để thiết
kế các công cụ sàng lọc cho trẻ em có nguy cơ chậm phát triển Bà đã tuyển chọn một nhóm các nhà nghiên cứu Đại học viên tham gia nhiệm vụ của mình
Năm 1979, một nghiên cứu mang tính bước ngoặt của Hilda Knobloch và các đồng nghiệp của bà – Jane Squires, Elizabeth Twombly, Diane Bricker và LaWanda Potter xây dựng và được trình bày lần đầu tiên trên một bài báo tại Hoa Kỳ Công trình này là một hệ thống gồm có 36 câu hỏi đánh giá sự phát triển của trẻ từ 20 đến 32 tuần tuổi gửi cho cha mẹ có nguy cơ cao trong phát triển về độ tuổi và giai đoạn NC đã chứng minh được những thuận lợi mà các báo cáo phụ huynh và việc hoàn thành có thể mang lại: chi phí thấp hơn và độ chính xác cao hơn [35]
Năm 1980, Viện Nghiên cứu Người khuyết tật Hoa Kỳ đã tài trợ một nhóm tác giả thuộc Chương trình Can thiệp sớm trường Đại học Oregon (Hoa Kì) thực hiện hệ thống 6 bảng hỏi dành cho cha mẹ đối với trẻ ở giai đoạn 4 tháng tuổi trong suốt 3 năm Những phát hiện từ nghiên cứu này đạt kết quả đáng khích lệ
Từ 1983 đến 1985, ASQ đã được sử dụng khắp từ trung tâm chăm sóc sâu (chuyên chăm sóc trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt) đến những cơ sở y tế địa phương và cả bệnh viện đa khoa để đánh giá trẻ Trên cơ sở 6 bảng hỏi gốc dành cho cha mẹ, những tiêu chí của bảng hỏi dành cho trẻ 30 – 36 tháng tuổi đã đươc phát triển Kết quả NC được thực hiện trong 3 năm này cho thấy giữa phụ huynh và chuyên gia có sự thống nhất cao trong việc phân loại trẻ
Với sự đồng thuận này, ASQ được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các bảng hỏi
Đến năm 1995, phiên bản thứ nhất của ASQ (ASQ-1) được xuất bản lần thứ nhất cũng
Trang 20là giai đoạn hai của nghiên cứu, các tác giả bắt đầu viết và phát triển bộ câu hỏi 4 – 60 tháng tuổi Bảng hỏi dành cho trẻ 60 tháng tuổi đã được hoàn thành sau hai lần xuất bản vào giữa năm 1996 và 1998
Năm 1999, phiên bản ASQ-2 xuất bản gồm 19 bộ câu hỏi Các tác giả phát triển hệ thống ASQ có thể giáo dục điều chỉnh trẻ bằng việc mở rộng việc sử dụng ASQ trong các chi nhánh giáo dục, sức khỏe và phục vụ xã hội nhằm hỗ trợ và kiểm tra trẻ có vấn
đề về phát triển như là một bộ phận của hệ thống nhận dạng sớm
Năm 2004, hệ thống ASQ được trình bày trên một trang web do các tác giả trường đại học Oregon xây dựng Cha mẹ/ những người chăm sóc trẻ từ 50 bang đã sử dụng trang web để tìm hiểu và hoàn thiện bảng hỏi Từ năm 2000 – 2004, chương trình ASQ
đã có hơn 8.000 bảng hỏi ASQ online được hoàn thành, 7.000 bảng hỏi giấy đã được thu thập và cuối 2004 họ đã có số liệu của hơn 18.000 bảng hỏi ASQ Sau hơn 30 năm nghiên cứu và sử dụng, phiên bản thứ 3 của ASQ ra đời (ASQ-3) vào năm 2009 [4] Trong NC này, chúng tôi sử dụng phiên bản thứ 3 của ASQ và từ viết tắt “ASQ-3” khi viết về Bảng câu hỏi về Độ tuổi và Giai đoạn
Hiện nay, hệ thống sàng lọc ASQ-3 gồm có 20 bộ bảng hỏi đã hình thành và được cha mẹ trẻ/người chăm sóc trẻ hoàn thiện với nhiều lĩnh vực phát triển từ 1 tháng đến
6 tuổi (bao gồm các bảng hỏi cho các giai đoạn: 2, 4, 6, 8, 10, 12, 14, 16, 18, 20, 22,
24, 27, 30, 33, 36, 42, 48, 54 và 60 tháng tuổi) Mỗi bộ bảng hỏi chứa đựng 30 item được viết đơn giản, ngôn ngữ trong sáng, thông dụng và dễ hiểu Mỗi item đều tin cậy,
dễ thực hiện, thích hợp với tuổi, giới tính và nhạy cảm với nền văn hóa Các item được chia thành 5 lĩnh vực: Giao tiếp, Vận động thô, Vận động tinh, Giải quyết tình huống
và kỹ năng Cá nhân xã hội Mỗi lĩnh vực của bảng hỏi được chia 4 - 6 cấp độ Khi thực hiện bảng hỏi, ở mỗi item phụ huynh cần đánh dấu có nếu đứa trẻ thực hiện được hành vi theo nội dung của item đó, đánh dấu thỉnh thoảng nếu trẻ không thường xuyên thực hiện được hành vi và đánh dấu không nếu đứa trẻ không thực hiện được Phần đánh giá cá nhân bao gồm điểm cho các trả lời đúng, tổng điểm đúng được so sánh với bảng điểm sàng lọc đã được xác lập [36]
Trang 211.1.2 Các nghiên cứu khác về ASQ-3 trên thế giới
Năm 1980, nhóm tác giả thuộc Chương trình CTS, ĐH Oregon (Hoa kỳ) đã nghiên cứu hệ thống 6 bảng hỏi dành cho cha mẹ thực hiện trên trẻ 4 - 24 tháng có nguy cơ chậm phát triển
Kết quả cho thấy:
Thứ nhất, hầu hết phụ huynh không cảm thấy khó khăn khi hoàn thành bảng hỏi Thứ hai, sự kiểm tra - tái kiểm tra có độ tin cậy hơn 90%
Thứ ba, có sự thống nhất trong đánh giá phân loại trẻ giữa PH và chuyên gia đã
được tập huấn
Năm 1983 – 1985, việc nghiên cứu và sử dụng ASQ dành cho trẻ 30 - 36 tháng trong đánh giá trẻ được thực hiện khắp từ các trung tâm chăm sóc trẻ có nhu cầu GDĐB đến những cơ sở y tế địa phương và cả bệnh viện đa khoa
Kết quả nghiên cứu được thực hiện trong 3 năm cho thấy: Có sự thống nhất cao giữa phụ huynh và chuyên gia trong việc phân loại trẻ
Năm 1988 – 1991, kết quả từ 3 năm nghiên cứu và thực hiện ASQ một cách rộng khắp cho thấy:
- Cha mẹ có thu nhập thấp, cha mẹ có hạn chế về trình độ giáo dục, cha mẹ tuổi
vị thành niên và cha mẹ bị lạm dụng, lệ thuộc đều có thể hoàn thành chính xác bảng hỏi trên trẻ
- Ở phụ huynh, không có sự khác biệt có ý nghĩa về sự thay đổi thái độ hoặc sự gia tăng kiến thức về sự phát triển của trẻ
Mặc dù vậy, các cuộc phỏng vấn PH cho thấy:
- Có sự gia tăng kiến thức của PH về việc quản lý hành vi và những trò chơi mới với trẻ nhỏ
- Việc PH tích cực tham gia chơi cùng với trẻ sẽ khuyến khích các kỹ năng chơi của chúng
- Việc làm mẫu cho phụ huynh là yêu cầu cần thiết khi thực hiện bảng hỏi Năm 1999, nghiên cứu phiên bản ASQ-2, theo các tác giả:
Có thể sử dụng ASQ trong GD điều chỉnh trẻ ở các cơ sở GD, CS sức khỏe và dịch
vụ xã hội nhằm hỗ trợ và kiểm tra trẻ có vấn đề về phát triển như là một bộ phận của
Trang 22hệ thống nhận dạng sớm Ngoài ra, các bác sĩ nhi khoa, y tá, nhân viên xã hội và nhóm sàng lọc, can thiệp sớm đã sử dụng ASQ như là một công cụ đo lường có giá trị nhằm nhận dạng trẻ chậm phát triển
Hiện nay, ASQ được nghiên cứu, sử dụng rộng rãi như một công cụ sàng lọc, phát hiện, đánh giá và can thiệp sự phát triển của trẻ em trên khắp Hoa Kỳ
ASQ-3 (và các phiên bản trước của nó) được trích dẫn bởi vô số bài viết như một công cụ chính xác, chi phí thấp mà hiệu quả và thân thiện Việc sàng lọc dành cho phụ huynh hay người giám sát trẻ nhỏ Sau đây là một vài NC quan trọng:
- American Academy of Pediatrics Policy Statement: Identifying Infants and
Young Children with Developmental Disorders in the Medical Home: An Algorithm for Developmental Surveillance and Screening, Pediatrics, (2006),
118, 405 - 420
- Bocca – Tjeertes, I (2014) Fetal growth restriction delays development in
preterm infants Pediatrics doi: 10.1542/peds.2013 - 1739
- Drotar et al (2008) Selecting Developmental Surveillance and Screening
Tools Pediatrics in Review 29: 52–58
instruments Infants and Young Children, 25(1), 16 - 61
Questionnaires®: A Parent - Completed Child Monitoring System, Third Edition In R.A Spies, J.F Carlson, & K.F Geisinger (Eds.), The eighteenth mental measurements yearbook (pp 13–15) Lincoln, NE: Buros Institute of Mental Measurements
Các nghiên cứu về ASQ-3 hiện đang được tiến hành tại Hoa Kỳ, Canada, và nhiều nước trên thế giới Các nhà NC tìm đến những nhà giáo dục, gia đình và các chuyên gia sử dụng các công cụ để thông báo diễn biến hàng ngày của ASQ-3 Cho đến nay, hàng ngàn gia đình và các chuyên gia đã cung cấp thông tin phản hồi có giá trị cho các nhà phát triển của công cụ tại các chương trình can thiệp sớm tại Đại học Oregon
Trang 23Thời hạn hiệu lực của ASQ-3 đã được nghiên cứu nhiều hơn các phiên bản khác Việc nghiên cứu tâm lý dựa trên một mẫu chuẩn hơn 18.000 câu hỏi cho thấy độ tin cậy cao, tính thống nhất nội bộ, độ nhạy và độ đặc hiệu
Năm 2012, phiên bản ASQ:SE-2 ra đời
Năm 2015, có một số thay đổi về việc tổ chức thực hiện ASQ:SE-2 với ASQ-3 bao gồm một bảng câu hỏi 2 tháng mới, khu vực giám sát và vật liệu tham gia của cha mẹ Ngoài ra còn có các thay đổi khác bao gồm một mẫu chuẩn mới, điểm sửa đổi và cải thiện bản dịch tiếng Tây Ban Nha
Bằng cách tiếp tục thu thập thông tin và dữ liệu, bảng hỏi ASQ được đảm bảo vẫn tiếp tục là một công cụ, hiệu quả, thân thiện và chính xác trong việc sàng lọc Các nhà phát triển luôn nhận được dữ liệu để giúp đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các phiên bản trong tương lai [41]
Hiện nay có ba hướng nghiên cứu chính về ASQ-3:
- Nghiên cứu dịch thuật, thích nghi (cải biên và định chuẩn) ASQ-3 sang một
ngôn ngữ, nền văn hoá khác
- Nghiên cứu sử dụng ASQ-3 Hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào việc sử
dụng ASQ-3 như một công cụ sàng lọc để đánh giá trẻ trước khi tiến hành can thiệp
- Nghiên c ứu về giá trị, độ tin cậy, tính hiệu quả của ASQ-3, mục đích chính của
các nghiên cứu này là để thu thập các thông tin nhằm điều chỉnh nội dung ASQ-3, xây dựng các tiểu mục mới, cũng như khẳng định giá trị sử dụng của bộ công cụ này
M ột số nghiên cứu cụ thể theo ba hướng trên
Tính đến thời điểm hiện tại, ASQ-3 chính thức có phiên bản tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha, tuy nhiên bộ công cụ này đã được chuyển ngữ và định chuẩn ở nhiều quốc gia khác nhau bao gồm Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Hàn Quốc, Na Uy, Hà Lan, Canada, Trung Quốc Một số nghiên cứu tiêu biểu liên quan tới quá trình chuyển ngữ
và định chuẩn ASQ-3 ở một số quốc gia khác nhau có thể kể đến như:
Kỳ và nhóm mẫu Na Uy khi sử dụng bộ công cụ ASQ tiếng Na Uy Nhóm nghiên cứu kết luận: điểm số trên nhóm mẫu Na Uy tương tự điểm số trên nhóm mẫu Hoa Kỳ Điều này có thể đúng đối với các nhóm mẫu ở các nước phương Tây khác
Trang 24- Năm 2006, tác giả của công cụ ASQ là Squires đã phối hợp cùng ba nhà nghiên cứu khác là Tsai, McClelland và Pratt tiến hành nghiên cứu việc thích nghi bảng hỏi ASQ-3 cho trẻ 6 tháng tuổi ở Đài Loan Nhóm nghiên cứu kết luận, ASQ nhìn chung phù hợp để sử dụng trên trẻ Đài Loan, mặc dù vậy cũng cần có thêm nghiên cứu để chứng minh tính tin cậy và hiệu lực của công cụ này
- Năm 2010, ba nhà nghiên cứu (làm việc tại các trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ)
là Kapci, Kucuker và Uslu đã tiến hành thích nghi hoá bộ công cụ ASQ để sử dụng cho trẻ Thổ Nhĩ Kỳ trong độ tuổi từ 3 đến 72 tháng tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy
bộ công cụ ASQ có thể được sử dụng để sàng lọc trẻ ở Thổ Nhĩ Kỳ
- Tháng 10 năm 2011, nhóm nghiên cứu bao gồm Juneja, Mohanty, Jain và Ramji đã công bố kết quả nghiên cứu việc sử dụng ASQ để sàng lọc trẻ khuyết tật phát triển trên trẻ Ấn Độ Bộ bảng hỏi này đã được dịch sang tiếng Hindi và được kết luận: ASQ là một công cụ đánh giá có nhiều điểm mạnh trong việc xác định trẻ có khuyết tật phát triển, đặc biệt là với nhóm trẻ có nguy cơ cao Công cụ này có thể được chuyển ngữ dễ dàng sang các ngôn ngữ khác hiện đang được sử dụng ở Ấn Độ và có thể sử dụng để sàng lọc trẻ ở phạm vi rộng
- Vào năm 2013, tác giả Charafeddine và cộng sự đã tiến hành thích nghi hoá bộ công cụ ASQ-2 ở Ả Rập Mục tiêu của nghiên cứu này là dịch thuật ASQ-2 từ tiếng Anh sang tiếng Ả Rập và chứng minh được ASQ-2 là một bộ công cụ dễ dịch, dễ sử dụng và có độ tin cậy chấp nhận được đối với các bảng hỏi dành cho nhóm trẻ nhỏ Tuy nhiên, cần phải xem xét sự khác biệt văn hoá khi thích nghi hoá công cụ này vào một quốc gia không phải phương Tây
- Vào năm 2014, Dionne và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thích nghi bộ công cụ ASQ-2 trên nhóm dân số thiểu số (Mohawk) ở Canada Để tiến hành quá trình thích nghi hoá, giáo viên và phụ huynh trẻ đã được đề nghị sử dụng các bảng hỏi để đánh giá về trẻ (một giáo viên, một phụ huynh đánh giá độc lập một trẻ) Nhóm nghiên cứu đã chứng minh được công cụ này có thể được sử dụng trên nhóm dân số có nhiều khác biệt về văn hoá, địa lý, và khí hậu so với nhóm mẫu gốc (Hoa Kỳ), tuy nhiên vẫn cần thêm các nghiên cứu tiếp theo để tiến hành thích nghi công cụ này [37]
Trang 251.1.3 Các nghiên cứu về ASQ-3 ở Việt Nam
Tháng 3/2008, TS Jantina Clliford và ThS Elizabeth Twombly thuộc Chương trình CTS ĐH Oregon đã kết hợp với Sở GD&ĐT TP HCM và khoa Giáo dục đặc biệt, Trường ĐHSP TP.HCM tổ chức giới thiệu bộ công cụ sàng lọc ASQ
Tháng 3/2011, Lê Thị Minh Hà và Nguyễn Thị Kim Anh tham gia chương trình thực tập sinh tại Chương trình CTS ĐH Oregon và tham gia hiệu đính bản dịch ASQ-3
từ tiếng Anh sang tiếng Việt do người Việt tại Hoa Kỳ dịch, tham dự các buổi báo cáo nghiên cứu về ASQ
Tháng 12/2011, Jantina Clliford và Elizabeth Twombly thuộc Chương trình CTS, Trường đại học Oregon đã kết hợp với khoa Giáo dục đặc biệt Trường ĐHSP TP HCM tổ chức giới thiệu cách sử dụng bộ công cụ sàng lọc ASQ
Năm 2007, Lê Thị Thu Trang và Trần Thị Thu Hà bệnh viện Nhi Trung ương đã nghiên cứu: “Đánh giá tác dụng phát hiện sớm tự kỷ của bộ câu hỏi sàng lọc ASQ-
ages & stages questionnaires” Các tác giả đã đánh giá trên 200 trẻ 4 tháng - 5 tuổi
đến khám tại khoa Phục hồi chức năng (6 tháng đầu năm 2007) Kết quả nghiên cứu cho thấy:
1) Bộ câu hỏi ASQ là công cụ tốt để sàng lọc, phát hiện sớm tự kỷ ở trẻ em
2) Bộ câu hỏi ASQ là công cụ có độ nhạy cao (97.4% ), độ đặc hiệu cao (96.9% )
để sàng lọc tự kỷ ở trẻ em
Tác giả Trần Hữu Bích (Đại Học Y tế Công cộng) và giáo sư Lynn Rempel, (Đại học Brock, Ontario, Canada) đang nghiên cứu: “Tăng cường sự tham gia của người
cha vào sự phát triển trí não của trẻ” (Father involvement: Saving brains) Các tác giả
đã dùng ASQ đo sự phát triển của trẻ 9 tháng và tìm vai trò của người cha trong sự phát triển trí não của trẻ
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Lí lu ận về cải biên
Theo PGS.TS Đoàn Văn Điều, cải biên trắc nghiệm là thay đổi một phần một trắc nghiệm đã được định chuẩn có sẵn để làm cho nó thành một thang đo phù hợp với
Trang 26khách thể có hoàn cảnh, môi trường và các điều kiện khác với các khách thể ban đầu của trắc nghiệm [3]
Theo www.tudien.com, cải biên là sửa đổi hoặc biên soạn lại (thường nói về vốn nghệ thuật cũ) cho hợp với yêu cầu mới
Theo cov.gov.vn, cải biên được hiểu là sự điều chỉnh lại hình thức thể hiện của một tác phẩm nhằm phục vụ cho những mục đích đặc biệt, theo những yêu cầu mới Tuy nhiên, việc cải biên phải mang tính sáng tạo nguyên thuỷ, không làm phương hại tác phẩm đã được sử dụng để cải biên thì nó sẽ được công nhận là tác phẩm phái sinh Như vậy, cải biên bộ công cụ được hiểu là quá trình thay đổi nội dung để bộ công cụ tương thích tối đa với nhóm đối tượng trong hoàn cảnh mới về ngôn ngữ và văn hóa Cải biên không chỉ đơn giản là việc dịch nội dung văn bản sang một ngôn ngữ khác mà bao gồm nhiều hoạt động nhằm đảm bảo được tính hiệu lực
Khi thực hiện, chúng ta thường xét đến phạm vi cần thiết cải biên bộ công cụ Đây là công việc phức tạp và tùy thuộc vào loại bộ công cụ, phản ánh sự thay đổi về mặt xã hội, những cải tiến trong khoa học và kỹ thuật của việc soạn thảo bộ công cụ Chẳng hạn, cách thức hoặc chiến lược đo lường tâm lí phát triển từ bộ công cụ được soạn thảo trước đó hoặc được cải biên lần cuối Phạm vi cải biên cần được xác định dựa vào những thông số sau:
+ Nội dung bộ công cụ: Việc cải biên đòi hỏi sự tích hợp tài liệu mới hoặc những nhiệm vụ mới vào bộ công cụ
+ Cách thức xây dựng bộ công cụ: Phương pháp xây dựng bộ công cụ mới hoặc thay thế cần được xem xét (câu hỏi bằng giấy hoặc điện tử…)
+ Đơn vị đo lường: Cấu trúc từng lĩnh vực và các lĩnh vực phát triển tâm lí
+ Trong các chuẩn mực hoặc đo lường tâm lí: Cách thức đánh giá như trả lời câu hỏi hoặc làm các bài tập
+ Trong ứng dụng: Những dụng cụ được soạn thảo cho một bộ công cụ mang tính ứng dụng đòi hỏi sự cải biên nhiều và định chuẩn thay thế [3]
Quá trình cải biên bộ công cụ luôn phải đối mặt và giải quyết sự thiên lệch ở các cấp độ giữa các yếu tố: Cấu trúc, phương pháp và câu hỏi Ở cấp độ cấu trúc, người tiến hành cải biên bộ công cụ phải đảm bảo cấu trúc bộ công cụ tương thích với nền
Trang 27văn hoá mới, phải chắc chắn rằng cấu trúc của bộ công cụ được truyền tải một cách phù hợp và thống nhất trong nền văn hoá mới Ở cấp độ phương pháp, người cải biên bộ công cụ phải tránh sự thiên lệch về phương pháp, ví dụ như sự không giống nhau trong điều kiện tiến hành, những câu hỏi về mong muốn xã hội không phù hợp với đối tượng khách thể ở nền văn hoá mới Ở cấp độ câu hỏi, người nghiên cứu cải biên cần phải tránh sự thiên lệch về câu hỏi, tránh việc dịch sai ý nghĩa hoặc dịch ý không tương thích giữa các nền văn hoá, xác định những yếu tố gây nhiễu khác trong quá trình chuyển ngữ ví dụ như sử dụng sở hữu cách, sử dụng hai lần phủ định, cách
sử dụng đại từ trong những nền văn hoá khác có thể gây nhầm lẫn hoặc khó hiểu cho đối tượng khách thể [35]
• Nguyên tắc cải biên bộ công cụ
Khi cải biên bộ công cụ cần tuân theo những nguyên tắc sau:
- Bản được cải biên phải là một bản cải tiến nhiều so với trước đó để được chấp nhận Bảng hỏi được cải biên cần đưa đến việc nâng cao tiêu chuẩn đánh giá
- Sự thay thế của một bản gốc bộ công cụ không nên đặt cơ sở một cách khắt khe trên sức mạnh của thị trường hoặc lợi nhuận về tài chính, nhưng cần được đặt trên cơ
sở điều chỉnh thực nghiệm rõ ràng và với lí do được suy nghĩ kĩ càng
- Điều quan trọng trong việc lập kế hoạch cải biên là đạt được đầu vào rộng rãi
và đưa ra sự thay đổi đa dạng cần thiết từ nhà nghiên cứu và người sử dụng bộ công cụ trước đó Phát triển cơ sở hướng dẫn rõ ràng
- Xây dựng một nhóm cải biên cẩn thận có tính quyết định Nhóm cải biên cần có chuyên môn và tận tâm để tiến hành công việc và có quyền đưa ra những đổi thay có tính quyết định
- Xem xét đặc tính của bộ công cụ kiểm tra (sàng lọc), đánh giá, chẩn đoán…)
- Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ, rõ ràng với bản gốc bộ công cụ để bác bỏ những lời nhận xét nói rằng bản cải biên không giống bản gốc
- Những thay đổi các câu bộ công cụ đòi hỏi nghiên cứu một cách cẩn thận và cần được đánh giá trong các pretest trước khi chúng được thực hiện
- Những đặc điểm đo lường tâm lí của bộ công cụ đòi hỏi đánh giá một cách cẩn thận và đầy đủ
Trang 28- Tiến hành thu thập dự liệu rộng rãi và đầy đủ về mặt đo lường tâm lí và cung cấp tài liệu đa dạng, yếu tố mới trong bản cải biên
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tính giá trị của số đo lường được cải biên [3]
• Quy trình cải biên bộ công cụ
Theo Hướng dẫn dịch thuật và Thích nghi bộ công cụ của Uỷ ban Bộ công cụ Quốc tế (International Test Commission - ITC), phương pháp và quy trình thích nghi
bộ công cụ gồm các bước sau đây:
Bước 1: Thành lập hội đồng cải biên
Hội đồng cải biên và định chuẩn được thành lập nhằm mục đích:
- (1) định hướng quá trình cải biên và định chuẩn: thông qua bản chuyển ngữ,
đề xuất các thay đổi, thông qua các thay đổi;
- (2) thiết kế và giám sát quy trình thu thập số liệu;
- (3) hỗ trợ về mặt hành chính, thủ tục cho công tác thu thập số liệu;
- (4) tư vấn phân tích số liệu
Những thành viên trong hội đồng cải biên và định chuẩn phải là những người bản
xứ cũng như người Việt Nam hiểu về tâm trắc, tâm lý học, giáo dục học, thống kê
Bước 2: Chuyển ngữ (dịch thuật)
- Dịch xuôi: lựa chọn người dịch (bản ngữ) có khả năng tiếng Anh tốt và hiểu về
sự phát triển của trẻ nhỏ
- Dịch ngược: lựa chọn một người dịch có khả năng ngôn ngữ tốt (tiếng Anh và
tiếng bản ngữ) và không biết về ASQ-3 để dịch bản đã được dịch sang tiếng Anh
- So sánh bản dịch ngược với bản gốc tiếng Anh Lựa chọn người nói tiếng Anh
bản ngữ và có hiểu biết sâu về ASQ (tốt nhất là những người thiết kế công cụ này) so sánh bản dịch ngược và bản gốc tiếng Anh để xem xét những sai sót
xuôi Sẽ tốt nhất nếu trong bước này có người đã tham dự dịch trong bước 2, và/hoặc một người có chuyên môn sâu về sự phát triển của trẻ em
Bước 3: Nghiên cứu thử nghiệm (Lấy ý kiến người dân) bằng bản dịch ban
người tham gia (thường là phụ huynh, giáo viên và các chuyên gia) nhận xét về các
Trang 29câu hỏi khó hiểu hoặc câu hỏi không phù hợp
Bước 4: Cải biên (Điều chỉnh bảng hỏi)
Sau khi thu thập ý kiến người sử dụng trong bước 3, hội đồng cải biên và định chuẩn cùng với nhóm nghiên cứu phân tích sự phù hợp văn hóa của các item (có thể
là một câu, một mục hoặc một bài tập trong bộ công cụ Item cũng có nghĩa là một vật thể nào đó) đã được dịch và thử nghiệm tiến hành đưa ra các đề xuất ban đầu về cải
biên (phiên b ản 2)
Bước 5: Nghiên cứu “thí điểm” (Pilot)
Mục tiêu của nghiên cứu thí điểm (thử nghiệm trên diện hẹp): Một mặt xem mức độ hiểu của phụ huynh về bảng hỏi sau cải biên và tiếp tục chỉnh sửa câu chữ Mặt khác, dùng các thông số thống kê là điểm trung bình (Mean), độ lệch chuẩn (Standar Deviation - SD) và hệ số tương quan (Correlations) và hệ số tin cậy bên trong Alpha Cronbach (Internal Consistency) để phân tích số liệu thu được Điểm trung bình và độ lệch chuẩn được dùng để xem xét từng item có xu hướng trả lời quá thiên về một cực nào đó và có sự đa dạng trong câu trả lời hay không, hay tất
cả mọi người đều có xu hướng trả lời giống nhau Hệ số Alpha thể hiện độ tin cậy từng thang đo, tiểu thang đo và từng item trong tiểu thang đo đó Những item có vấn
đề được thảo luận trong nhóm để thay đổi phù hợp, phiên b ản 3 được ra đời sau đó Bước 6: Tiếp tục điều chỉnh bảng hỏi lần nữa trước khi đưa ra sử dụng rộng rãi
Bước 7: Sử dụng bảng hỏi trên diện rộng: Phiên bản 3 được sử dụng để lấy số
liệu so sánh chuẩn (Norming) và tiến hành định chuẩn trên nhóm mẫu mới [30]
Trong đề tài này chúng tôi thực hiện các bước 3, 4, 5 Vì bản dịch ASQ từ tiếng Anh sang tiếng Việt đã được các chuyên gia dịch và hiệu đính nhiều lần
1.2.2 Các thông s ố kỹ thuật cải biên
Bộ công cụ sàng lọc là một bộ câu hỏi đã được chuẩn hoá Tiêu chuẩn hoá bao gồm một vài thành tố chuẩn như nội dung sàng lọc, sự hướng dẫn, thang điểm và điểm
số Mục đích của tiêu chuẩn hoá là nhằm bảo đảm rằng tất cả các trẻ tham gia làm bộ công cụ kiểm tra cần được đánh giá dựa trên tập hợp chuẩn các tiêu chí trên Nếu không sử dụng các tài liệu, công cụ và chuẩn thang điểm như nhau cho mọi trẻ thì sẽ hạn chế sự so sánh kết quả giữa các em Trước hết chúng ta nói về nội dung sàng lọc
Trang 30• Khái ni ệm độ tin cậy của bộ công cụ
Khi lượng giá một công cụ đánh giá nhất định, người ta lo lắng không biết công cụ
đó có đáng tin cậy hay không Một bộ công cụ tốt phải là bộ công cụ có đủ độ tin cậy, xuất phát từ một tiền đề có tính giả thiết rằng phép đo sẽ đo lường một đặc tính tương đối ổn định Như vậy, một bộ công cụ có độ tin cậy tốt được xác định như là một bộ công cụ trên đó mọi người đạt số điểm tương tự ở những lần đo khác nhau [11]
Khi kiểm tra độ tin cậy của một bộ công cụ kiểm tra, chuyên viên sẽ có hai chọn lựa về thông tin nguồn
- Thứ nhất, tài liệu hướng dẫn thực hiện công cụ kiểm tra cần cung cấp các dữ liệu tin cậy chi tiết
- Thứ hai, các nghiên cứu độ tin cậy cho các công cụ đo lường được cung cấp trong các tài liệu chuyên môn Theo Stanley (1971) “Không có một độ tin cậy đơn lẻ, toàn diện và tuyệt đối nào cho một bộ công cụ kiểm tra”
Tương tự như có về những nguồn biến động về lỗi, chúng ta có thể sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau để kiểm chững về độ tin cậy của bộ công cụ Theo các chuyên gia thiết kế bộ công cụ có 4 nhóm phương pháp cơ bản sau:
- Nhóm phương pháp đánh giá mức độ kiên định về điểm số giữa 2 lần đo (test - retest methods)
- Nhóm phương pháp sử dụng hình thức thay thế tương đương (alternative form methods)
- Nhóm phương pháp phân đôi số item của bộ công cụ là quan hệ tuyến tính (methods)
- Nhóm phương pháp đánh giá độ phù hợp của từng item (internal consistency methods)
Nhóm phương pháp thứ nhất: Để đánh giá độ tin cậy của bộ công cụ người ta
thường so sánh tương quan điểm giữa hai lần đo của cùng một bộ công cụ trên cùng một đối tượng, gọi là kiểm tra - tái kiểm tra (test - retest correlation) Một bộ công cụ
có độ tin cậy phải có tính ổn định có sự tương quan đáng kể giữa hai lần đo Nếu bộ công cụ được thiết kế theo thang định khoảng hay thang định tỉ lệ và mối quan hệ điểm
Trang 31số bộ công cụ giữa hai lần đo là quan hệ tuyến tính, thì người ta dùng tương quan Pearson (Pearson correlation coefficient) để đánh giá hệ số tin cậy của bộ công cụ Còn nếu bộ công cụ được thiết kế theo thang định hạng, hoặc mối quan hệ điểm số bộ công cụ giữa hai lần đo là quan hệ tuyến tính, thì người ta dùng tương quan Spearman (Spearman rank correlation coefficient) để đánh giá hệ số tin cậy của bộ công cụ
Vì cùng một bộ công cụ đo 2 lần trên cùng một người, nên sự khác nhau về điểm
số giữa 2 lần đo được xem là “hoàn toàn sai số của sự đo lường” Nếu có sự khác biệt nhỏ giữa 2 lần đo thì người ta kết luận là sai số của phép đo nhỏ và khác biệt nhỏ giữa
2 lần đo thì người ta có thể kết luận sai số của phép đo nhỏ và phép đo đó có độ tin cậy cao Tuy nhiên nhóm phương pháp này cũng có hạn chế, chẳng hạn khoảng cách về thời gian giữa 2 lần đo có ảnh hưởng đến hệ số tương quan (do thời gian làm biến đổi những đặc tính được đo) hoặc nghiệm thể có thêm kinh nghiệm, nghiệm thể có thể quen, nhớ được các câu trả lời… Do vậy, hệ số tương quan giữa 2 lần đo thường được gọi là hệ số ổn định của bộ công cụ hơn là hệ số tin cậy Khoảng cách giữa 2 lần đo có thể được điều chỉnh từ vài ngày, vài tuần đến vài tháng
Nhóm phương pháp thứ hai: Một bộ công cụ sử dụng những hình thức tương
đương, như form A và form B, câu chữ khác nhau nhưng có nội dung giống nhau hoặc tương đương và có những đặc tính thống kê như nhau hoặc tương đương Tương quan điểm số giữa hình thức A (lần đo thứ nhất) và hình thức B (lần đo thứ hai) được xem là
hệ số tin cậy của bộ công cụ Về lí thuyết nhóm phương pháp này có thể khắc phục được những hạn chế của nhóm phương pháp thứ nhất (bộ công cụ đo 2 lần trên một đối tượng) nhưng lại nảy sinh những vấn đề mới Chẳng hạn rất tốn kém và khó thiết
kế một bộ công cụ có nhiều hình thức hoàn toàn tương đương
Nhóm phương pháp thứ ba: Thường được dùng để đánh giá độ tin cậy của một
bộ công cụ khi ta không có điều kiện đo bộ công cụ 2 lần trên cùng một đối tượng và cũng không thiết kế được bộ công cụ tương đương, là phương pháp phân đôi số item của bộ công cụ thành 2 phần (thường chia theo số chẵn và lẻ) rồi so sánh tương quan giữa 2 nửa bộ công cụ Đây được gọi là phương pháp tính độ tin cậy phân đôi bộ công
cụ (Split - half reliability) Về lí thuyết, hai nửa bộ công cụ có thể được xem là hai hình thức tương đương của cùng một bộ công cụ Do vậy, tương quan của hai nửa này
Trang 32được xem là hệ số tin cậy của bộ công cụ Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này hệ
số tin cậy sẽ giảm đi so với độ tin cậy thật của bộ công cụ vì bộ công cụ vốn có số item gấp 2 lần (theo lí thuyết, bộ công cụ có càng nhiều item thì độ tin cậy càng cao) Trong thống kê có công thức khác của Spearman chuyển hệ số tin cậy phân đôi thành thành hệ số tin cậy của toàn bộ bộ công cụ gọi là công thức Spearman - Brown prophesy
Phương pháp này thích hợp cho các thang đo định danh (các phép đo có item gồm
2 lựa chọn: đúng, sai) Không áp dụng phương pháp này đánh giá độ tin cậy ở những
bộ công cụ có các item không tương đương (chẳng hạn các item có độ khó khác nhau)
Nhóm phương pháp thứ tư: Là các phương pháp đánh giá độ phù hợp của từng
item (internal consistency methods) sử dụng mô hình cronbach’s Coefficient alpha
Mô hình này thường được dùng để đánh giá độ tin cậy của phép đo (bộ công cụ) dựa trên sự tính toán phương sai của từng item trong toàn phép đo và tính tương quan điểm của từng item với điểm của tổng các item còn lại của phép đo Phương pháp này thích hợp cho việc xác định độ tin cậy của các loại bộ công cụ có các item nhiều mức độ tính theo điểm số (kiểu thang đo định khoảng hay thang đo tỉ lệ) [3]
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thứ tư để tính hệ số tin cậy của thang đo ASQ-3 trẻ từ 6 đến 12 tháng
• Khái ni ệm độ hiệu lực của bộ công cụ
Độ hiệu lực của một trắc nghiệm hay bộ công cụ được xác định như là mức độ chính xác mà trắc nghiệm đó đo đúng cái cấu trúc nó được thiết kế để đo
Độ hiệu lực cũng giống như độ tin cậy được xác định bằng cách phân tích kết quả điểm trắc nghiệm của một nhóm người Phân tích độ hiệu lực chính là sự đánh giá ảnh hưởng của các thành tố này đối với phương sai của điểm trắc nghiệm
Các kiểu hiệu lực: Mỗi trắc nghiệm/bộ công cụ có nhiều “kiểu hiệu lực” khác nhau Vì vậy độ hiệu lực nên được hiểu như là những dữ liệu điều tra một cách khoa học về ý nghĩa của điểm số của trắc nghiệm khi đo lường
ki ểm tra
Mặc dù độ hiệu lực nội dung và độ hiệu lực cấu trúc nói lên mức độ hiệu lực của
Trang 33sự đo lường, nhưng để đánh giá một trắc nghiệm có độ hiệu lực nội dung tốt hay không cần xem xét nội dung của trắc nghiệm, điều tra quá trình thiết kế và hiệu lực hóa các item của trắc nghiệm Trong khi đó để đánh giá độ hiệu lực cấu trúc người ta điều tra mối quan hệ giữa các cấu trúc thành phần với cấu trúc của cái nó được thiết kế
để đo và xem xét mối quan hệ giữa điểm của trắc nghiệm với điểm của phép đo khác Như vậy, độ hiệu lực nội dung của một phép đo chính là tính hiệu lực và tính đại diện của các item (liệu các item này có nội dung phù hợp với miền đo, từng item có liên quan trực tiếp với một thành phần cụ thể của miền đo, liệu các item có đại diện cho miền đo rộng lớn hơn…) Còn độ hiệu lực cấu trúc của một trắc nghiệm liên quan tới mức độ qua đó trắc nghiệm được đánh giá là một phép đo về mặt cấu trúc (phép đo phải có cấu trúc của cái định đo) Trong khi đó độ hiệu lực của tiêu chuẩn được kiểm định thông qua mức độ tương quan của phép đo với một phép đo chuẩn khác có cùng cấu trúc Còn độ hiệu lực dự báo nói lên những kết quả dự báo qua điểm số của trắc nghiệm có đúng với thực tế quan sát được hay không
Phân tích yếu tố thường được dùng để đánh giá độ hiệu lực của phép đo Một trắc nghiệm có những miền đo nhất định, những item được thiết kế cho một miền đo nào
đó đòi hỏi phải có tính đồng nhất, do vậy có thể dùng phương pháp phân tích yếu tố để đánh giá tính đồng nhất của item (các item có cùng miền đo được mong đợi có quan hệ
đáng kể với cùng một yếu tố (factor) và đánh giá cấu trúc của phép đo Thang đo có độ hiệu lực tốt đòi hỏi các item phải có tính đồng nhất, tức là có độ chứa tương quan yếu
t ố (factor loading) lớn hơn (theo các chuyên gia độ chứa factor phải >.03 mới được coi là phù hợp
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích yếu tố để đánh giá độ hiệu lực của thang đo ASQ-3 trẻ từ 6 – 12 tháng
1.2.3 M ột số khái niệm công cụ
1.2.3.1 Khái ni ệm sàng lọc
Các trắc nghiệm khám sàng lọc là công cụ đo rất đơn giản và nhanh gọn nhằm thu thập những thông tin ban đầu để phát hiện trẻ có đặc điểm khác biệt so với những trẻ khác và tiếp tục xem xét, nếu cần thiết thì phải có sự đánh giá kỹ hơn do các nhà chuyên môn thực hiện [14]
Trang 34Theo Wiktionary, sàng lọc là lựa chọn kỹ để loại bỏ cái không đạt yêu cầu
Như vậy, sàng lọc là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đơn giản, có độ chính xác tương đối cao để phát hiện các cá thể trong một cộng đồng nhất định, lựa chọn kỹ
để loại bỏ yếu tố không đạt yêu cầu Sàng lọc là một quá trình đánh giá một số lượng lớn trẻ để xác định những trẻ nên được đánh giá kỹ hơn
Mục đích của kiểm tra sàng lọc là để phát hiện những trẻ có nguy cơ chậm phát triển hoặc bất thường để xác định trẻ có cần phải đi kiểm tra sâu hơn không
Sàng lọc được cho là có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát hiện sớm và can thiệp sớm những vấn đề đặc biệt ở trẻ Ở các nước phát triển các chương trình khám sàng lọc phát hiện trẻ có nguy cơ khuyết tật và chậm phát triển được thực hiện định kỳ
ở cấp quốc gia
Sàng lọc phát triển thường được thực hiện bởi những nhà chuyên môn như cán bộ
y tế, chuyên gia tâm lí nhưng đôi khi vấn đề về phát triển của trẻ là do giáo viên và cha
mẹ phát hiện
Tiêu chí lựa chọn bộ công cụ sàng lọc:
Độ chính xác của công cụ (cần tính độ nhạy và tính đặc thù);
Công cụ ngắn gọn, dễ thực hiện Phần ghi điểm nhanh và dễ, thủ tục thực hiện phải dễ thực hiện;
Mức độ toàn diện của công cụ: Đề cập đến nhiều mặt phát triển của trẻ;
Chi phí cho công cụ không không cao, nhưng phải chính xác;
Đặc biệt, công cụ nhạy với cha mẹ/người chăm sóc trẻ nhằm tạo cho họ có cơ hội quan sát và hiểu tiến trình phát triển của trẻ
Công cụ sàng lọc phát triển có thể là bảng đánh giá (qua quan sát trẻ) hoặc bảng hỏi dành cho GV/PH
Thời gian sàng lọc có thể 5 – 15 phút hoặc hơn Ví dụ: công cụ khám sàng lọc đầu tiên dành cho trẻ sơ sinh là phương pháp tính điểm Apgar (Apgar & James, 1962) Sau khi sinh, trẻ được khám trong vòng 1 phút và cách 5 phút lại khám nhắc lại về: (a) nhịp tim, (b) hoạt động hô hấp, (c) phản xạ, (d) độ trương lực cơ, và (e) màu da
Nếu qua thang kiểm tra này mà trẻ đạt điểm thấp, điều đó có thể cho biết rằng trẻ cần được trợ giúp y tế hoặc cần giới thiệu đi khám kỹ càng hơn.Thang Apgar 5 phút là
Trang 35cơ sở phát hiện những bất thường có thể xảy ra với trẻ và dự đoán chính xác sự phát triển của trẻ trong tương lai [33]
1.2.3.2 Khái ni ệm phát hiện
Theo Wikipedia, phát hiện là việc tìm ra những gì tồn tại trong tự nhiên hoặc xã hội một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức con người Ví dụ: Kock phát hiện ra vi trùng lao, Marie curie phát hiện nguyên tố phóng xạ radium, Colomb phát hiện châu Mỹ… (tạp chí hoạt động khoa học, bộ khoa học và công nghệ TS Trần Văn Hải – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trong đề tài này, ASQ-3 là công cụ được sử dụng nhằm phát hiện những bất thường trong phát triển của trẻ
1.2.3.3 Khái niệm đánh giá
Đánh giá trong can thiệp sớm cho trẻ là quá trình thu thập thông tin một cách khoa học , thực tiễn để đưa ra những quyết định về kế hoạch, về định hướng can thiệp phù hợp với mỗi trẻ và gia đình trẻ Đánh giá trong can thiệp sớm có nghĩa rộng hơn chẩn đoán, là cơ sở cung cấp thông tin cho quá trình chẩn đoán xác định sự bất thường trong quá trình phát triển của trẻ, nhằm tìm hiểu khả năng và nhu cầu của mỗi trẻ Nếu được thực hiện tốt, công việc can thiệp sớm đã hoàn thành một nửa [4]
Đánh giá theo nghĩa rộng nhất, được hiểu là sự thu thập và phân tích thông tin để
có thể đưa ra những quyết định mang tính hướng dẫn, tư vấn hay hành chính về các cá nhân cụ thể nào đó Trong lĩnh vực giáo dục đặc biệt, đánh giá (assessment) được xem
là những nổ lực lượng giá kết hợp cùng với quá trình sàng lọc ban đầu, quá trình thiết
kế chương trình, quá trình ra quyết định tư vấn và quá trình xác định loại hình dịch vụ can thiệp sớm hay giáo dục đặc biệt thích hợp cho trẻ Nói cách khác, đánh giá trong giáo dục trẻ khuyết tật là quá trình thu thập thông tin một cách khoa học để đưa ra những quyết định mang tính giáo dục [18]
Kết quả đánh giá phát triển được sử dụng để xác định liệu trẻ có cần dịch vụ can thiệp sớm hay một kế hoạch điều trị hay không [21]
Theo Wikipedia, đánh giá có nghĩa nhận định giá trị Đánh giá một đối tượng nào
đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay
Trang 36dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường
Từ đó, có thể hiểu đánh giá là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo một mục đích nào đó
Phân loại đánh giá
Phân loại đánh giá: đánh giá sàng lọc, đánh giá chẩn đoán (đánh giá chuyên sâu), đánh giá dựa trên chương trình giáo dục
Đánh giá sàng lọc: là một quá trình đánh giá nhanh nhằm chỉ ra những trẻ cần
được chẩn đoán chuyên sâu
Đánh giá chẩn đoán (đánh giá chuyên sâu): một đánh giá chuyên sâu về một hay
nhiều lĩnh vực phát triển nhằm xác định tính chất bản chất và mức độ của vấn đề có liên quan đến thể chất hay sự phát triển nói chung và xác định xem liệu rằng đứa trẻ có nằm trong diện được hưởng những dịch vụ hỗ trợ
Đánh giá dựa trên chương trình giáo dục: là một đánh giá chuyên sâu, được sử
dụng để lượng giá sự phát triển của trẻ qua các giai đoạn giúp cho việc xác định mức
độ chức năng hiện tại của trẻ Kiểu đánh giá này có thể cung cấp một hồ sơ hữu ích về trẻ, đồng thời giúp cho việc lập kế hoạch và chỉ ra mục tiêu, mục đích cụ thể cho trẻ
1.2.3.4 Khái ni ệm tuổi và giai đoạn phát triển
Tuổi chỉ một thời điểm nhất định trong quá trình phát triển của trẻ
Tuổi thời gian được hiểu là tuổi thực của trẻ, nghĩa là năm tháng trôi qua tính từ ngày sinh của trẻ
Tuổi phát triển là mức phát triển trẻ đã đạt tới Tuổi phát triển không hẳn bằng tuổi thời gian Tuổi phát triển được xác định qua việc đánh giá trẻ bằng một chắc nghiệm đặc biệt, và so sánh với trẻ bình thường làm được những kỹ năng như trẻ: tuổi phát triển của trẻ chính là tuổi của trẻ bình thường được đem so sánh
Mốc phát triển: Một kỹ năng mà đa số trẻ đã đạt được ở một tuổi nào đó Nó được dùng rộng rãi để chỉ một trẻ đã đạt tới mức phát triển nào đó [1], [2]
Giai đoạn chỉ một khoảng thời gian trong một quá trình phát triển [2]
Trang 37Ví dụ: bảng hỏi ASQ cho thấy việc phân chia các giai đoạn tuổi ứng với một cấp
độ nhất định của bảng hỏi (chẳng hạn ASQ- 8 tháng dành cho trẻ từ 28 tháng 16 ngày đến 31 tháng 15 ngày)
Các nhà tâm lí học cho rằng: trong từng giai đoạn phát triển có những đặc điểm chung đặc trưng cho giai đoạn đó, giai đoạn lứa tuổi không phải là phạm trù tuyệt đối, bất biến [9]
1.2.4 Đặc điểm phát triển của trẻ từ 6 đến 12 tháng
1.2.4.1 Đặc điểm phát triển vận động thô
Kỹ năng vận động thô là kỹ năng sử dụng những phần cơ bắp lớn của cơ thể để thực hiện những chuyện động mạnh như đi, đứng, bò, trườn, trèo, chạy, nhảy, ném, chuyền, bắt, [10]
Người xưa có câu “Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò tập đi”
Từ 4 – 6 tháng tuổi, chân trẻ đã có sự cân bằng trương lực cơ co và cơ duỗi Người lớn nên tiếp tục xoa bóp nhẹ nhàng Cơ tay của trẻ phát triển mạnh, trẻ có thể cầm nắm với lấy đồ chơi ở trước mặt Cơ thân phát triển mạnh đặc biệt là cơ dưới cổ, do đó trẻ
có thể nâng người ở tư thế nẳm ngửa và nằm sấp với sự giúp đỡ của người lớn Tháng thứ 6 trẻ có thể lẫy từ ngửa sang sấp và ngược lại, trẻ có thể đứng hoặc ngồi nếu đỡ lưng Thính giác của trẻ phát triển mạnh, khoảng tháng thứ 4 - 5 trẻ rất thích hóng chuyện vì thế khi tập vận động cho trẻ cần kết hợp với âm thanh
Giai đoạn từ 6 – 9 tháng, các vận động phát triển mạnh và hoạt động khá nhịp nhàng Tháng thứ 6 trẻ biết lật, tháng thứ 7 biết người bằng 2 chân và bò Bò là giai đoạn quan trọng của quá trình phát triển, là vận đông chuyển từ tư thế nằm sang đứng Thường thì khoảng 7 - 8 tháng trẻ bắt đầu biết bò Thoạt tiên là trườn, sau đó là bò lồm cồm cả hai chân và hai tay Tháng thứ 8 trẻ biết tự ngồi và đứng vịn , trẻ có thể cầm
đồ vật lâu trên tay Ngôn ngữ thụ động phát triển trẻ đã hiểu được một số từ vì thế trong luyện tập cô nên trò chuyện với trẻ
Khoảng 9 – 12 tháng trẻ bắt đầu tập đứng rồi đứng vững, tập đi, đi được vài bước Trước khi biết đi, trẻ học cách đứng dậy trên hai chân có vịn, rồi không cần vịn tay, đi men rồi sau đó chập chững từng bước một Quá trình này rất cần sự giúp đỡ của người lớn Trẻ có thể thay đổi tư thế trong không gian một cách dễ dàng từ ngồi sang nằm, từ
Trang 38đứng sang đi, đi theo vận chuyển… Vì thế cần sử dụng lời nói trong khi luyện tập để phát triển tiếng và cử động tinh khéo cho trẻ [10]
Nói chung, với trẻ 6 – 12 tháng, các vận động sau đánh dấu mốc phát triển mà người lớn cần lưu ý:
+ Bò trườn tự do từ chỗ này sang chỗ khác
+ Biết ngồi lên và nằm xuống
+ Chuyển được từ vật này sang vật kia
+ Hai tay có thể cầm hai thứ
+ Nhặt được vật nhỏ bằng ngón tay cái và ngón trỏ
+ Đứng vịn, đúng lên và ngồi xuống
+ Đi men
+ Tự bước đi một mình
+ Thả hoặc đặt đồ chơi vào hộp, thùng
+ Thao tác với đồ vật
+ Bắt chước một số hành động đơn giản
+ Ngồi lăn bóng với người lớn
Bên cạnh đó, trẻ cần có không gian rộng, an toàn, nền phẳng, không có nhiều chướng ngại vật Sự tiến bộ của những vận động và hành động của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự hướng dẫn của người lớn Nếu người lớn thường xuyên chú ý tới trẻ và tổ chức vận động cho trẻ thì những vận động và hành động của trẻ có những bước tiến rõ rệt và đóng vai trò tích cực trong sự phát triển tâm lý [8]
1.2.4.2 Đặc điểm phát triển vận động tinh
Vận động tinh là kỹ năng sử dụng những phần cơ của bàn tay, ngón tay để thực hiện những chuyển động nhỏ, chính xác như cầm, nắm, viết, vẽ kỹ năng vận động tinh thường kết hợp chặt chẽ với kỹ năng vần với sự kết hợp thị giác và vận động (sự phối hợp tay – mắt), là khả năng cùng sử dụng mắt, tay và ngón tay để thực hiện các động tác [1]
Biểu hiện của trẻ 6 tháng tuổi là có thể với tay cầm nắm đồ vật Trẻ 7 – 9 tháng có thể thả đồ vật khi trẻ muốn và chuyển đồ vật từ tay nọ sang tay kia, gõ đồ vật vào nhau hoặc gõ đồ vật xuống đất Ở tháng thứ 9, trẻ có thể cầm nắm một đồ vật có kích thước
Trang 39nhỏ bằng ngón cái và ngón trỏ 10 – 12 tháng trẻ có khả năng nhặt vật nhỏ bằng hai đầu ngón tay
“Trong những tháng đầu tiên trẻ khám phá môi trường xung quanh bằng thị giác, thính giác và vị giác Từ tháng thứ sáu trở đi thì động tác nắm được cải thiện hơn Càng về cuối năm động tác nắm càng chính xác hơn
Khi trẻ có thể cầm nắm đồ vật trong tay thì nó bắt đầu thao tác với đồ vật bằng tay Những thao tác đầu tiên rất đơn giản (cầm lấy rồi buông ra), sau đó thao tác trở nên phức tạp hơn (đập, gõ, cào cào, đẩy đồ vật ra xa hay kéo xích lại gần )
Khi trẻ bắt đầu thực hiện các vận động và thao tác với các đồ vật thì các giác quan của trẻ phát triển mạnh hơn và có thêm nhiệm vụ mới là bắt đầu điều khiển, điều chỉnh đôi chút chính những vận động và thao tác của trẻ
Có thể nói rằng sự định hướng của trẻ vào thế giới xung quanh trước hết bằng sự vận động và thao tác với đồ vật, trên cơ sở đó mà làm phát triển các quá trình tâm lý, rồi sau đó mới có sự định hướng bằng các quá trình tâm lý
Cần chú ý rằng quá trình phát triển vận động, thao tác với đồ vật và định hướng vào môi trường xung quanh tự trẻ không thể thực hiện được mà phải có sự hướng dẫn kích thích về tình cảm và trí tuệ của người lớn
Nhờ người lớn hướng dẫn, tổ chức vận động và thao tác với đồ vật, đứa trẻ đã có những biểu tượng đầu tiên về thế giới xung quanh, làm xuất hiện những hình thái đầu tiên của hoạt động tâm lý, giúp trẻ định hướng được vào thế giới này và tạo nên những tiền đề để trẻ tiếp nhận những loại kinh nghiệm lịch sử - xã hội khác nhau ở những giai đoạn sau này” [10]
1.2.4.3 Đặc điểm phát triển giao tiếp
Giao tiếp là điều kiện cần thiết để cá nhân và xã hội loài người tồn tại và phát triển Nhờ giao tiếp mà con người nhập vào các quan hệ xã hội, lĩnh hội được nền văn hóa, các chuẩn mực xã hội, đóng những vai trò khác nhau, thực hiện chức năng và nhiệm vụ khác nhau, làm thành bản chất con người Đồng thời thông qua giao tiếp, con người đóng góp tài lực của mình vào kho tàng chung của nhân loại, của xã hội [8]
Trang 40Trong giao tiếp và thông qua giao tiếp, con người còn hình thành năng lực tự ý thức cho bản thân mình Đặc trưng của độ tuổi này là tiếp tục phát triển cảm xúc, phát triển lời nói và tư duy tác động trực tiếp liên quan đến lời nói Sự thay đổi các hình thức giao tiếp của trẻ với người lớn, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của trẻ, liên quan đến việc trẻ xâm nhập vào thế giới đồ vật, nắm vững hoạt động với đồ vật
Ở trẻ 4 – 6 tháng, trẻ có thể bập bẹ các âm đơn như a, u, ư , cười giòn thành tiếng Từ 7 – 9 tháng trẻ nói được ma ma, ba ba, măm măm , biết quay đầu về phía
có tiếng nói 10 – 12 tháng, trẻ hiểu được và nói được một vài từ, hiểu câu đơn giản
Từ nhu cầu tiếp xúc da thịt với người lớn đến giao tiếp thực sự với người lớn, khi
mà trẻ đã có những phương thức giao tiếp là một bước phát triển rõ rệt từ tuổi sơ sinh đến tuổi hài nhi Trong giao tiếp với người lớn, trẻ tiếp nhận được những sắc thái xúc cảm khác nhau của người lớn, rồi dần dần trẻ cũng thể hiện được những xúc cảm khác nhau của mình
Vào khoảng tháng thứ 6 đến tháng thứ 8, ở trẻ xuất hiện một hiện tượng mới: lúc
có người lạ đến gần trò chuyện với bé, bé không mỉm cười ngay như trước mà tỏ ra sợ hãi, từ chối không muốn giao tiếp Đây là một mốc quan trọng trong quá trình phát triển cảm xúc
Sự sợ hãi trước một người lạ cho thấy rằng đã xuất hiện ranh giới giữa bản thân và vật thể xung quanh, cũng tức là xuất hiện một bản ngã thô sơ (cũng có thể gọi là cái " tôi", tuy còn mờ nhạt
Cùng với giao tiếp trực tiếp với người lớn, dần ở trẻ xuất hiện nhu cầu sờ mó, cầm nắm các đồ vật Từ đó nhu cầu giao tiếp trực tiếp sẽ nhường chỗ cho giao tiếp với đồ vật, tức là giao tiếp với người lớn để tiếp xúc với đồ vật Lúc này người lớn trở thành khâu trung gian giữa trẻ và đồ vật Sự giao tiếp này dần dần trở thành hoạt động phối hợp giữa người lớn và trẻ em Người lớn dẫn dắt đứa trẻ đến với thế giới đồ vật và hướng dẫn nó biết hành động với các đồ vật đơn giản
Nhờ hoạt động phối hợp với người lớn, ở trẻ nảy sinh khả năng bắt chước hành động của người lớn Khả năng này là điều kiện quan trọng để tiếp thu những điều dạy
dỗ của người lớn, mở rộng vốn kinh nghiệm của trẻ