Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá được thực trạng sử dụng phương pháp Montessori trong việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24- 36 tháng và đề xuất một số
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Hoài Thu
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
MONTESSORI NHẰM GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỬ DỤNG VẬT THẬT CHO TRẺ 24 - 36 THÁNG
Ở TRƯỜNG MẦM NON MONTESSORI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Hoài Thu
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI NHẰM GIÁO DỤC KỸ NĂNG
SỬ DỤNG VẬT THẬT CHO TRẺ 24 - 36 THÁNG
Ở TRƯỜNG MẦM NON MONTESSORI
Chuyên ngành : Giáo dục Mầm non
Mã số : 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỢNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Lê Hoài Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của TS
Nguyễn Thị Hồng Phượng - người đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn
này
Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với:
Các thầy giáo, cô giáo khoa Giáo Dục Mầm Non, Ban giám hiệu, phòng Sau Đại học, phòng Quản lý khoa học, Thư viện trường Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Ban giám hiệu, tập thể các cô giáo, cùng các cháu của trường Mầm non tư thục Montessori ở Phường Thảo Điền, Q.2, TP Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em tiến hành nghiên cứu và khảo sát để hoàn thành luận văn
Cám ơn gia đình, anh chị đồng nghiệp, bạn bè đã hết lòng giúp đỡ, khích lệ, động viên trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn!
TP.HCM, ngày 30 tháng 09 năm 2015
Tác giả
Lê Hoài Thu
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ cái viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI NH ẰM GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỬ DỤNG VẬT THẬT CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG 5
1.1 Lịch sử phát triển phương pháp giáo dục Montessori 5
1.2 Khái niệm công cụ của đề tài 8
1.3 Mô hình giáo dục kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng trong trường Montessori 11
1.3.1 Vai trò của vật thật trong giáo dục trẻ em 11
1.3.2 Việc tổ chức và phương pháp thực hiện giáo dục trẻ em sử dụng vật thật của Montessori 13
1.3.3 Tìm hiểu về chương trình giáo dục “Thực hành cuộc sống” 15
1.3.4 Tiêu chí và thang đánh giá 21
Tiểu kết Chương 1 26
Chương 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI TRONG VI ỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG S Ử DỤNG VẬT THẬT CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG T ẠI TRƯỜNG MẦM NON MONTESSORI 27
2.1 Khái quát chung về tổ chức nghiên cứu thực trạng 27
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 27
Trang 62.1.2 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.3 Địa bàn nghiên cứu 27
2.1.4 Thời gian nghiên cứu 28
2.1.5 Nội dung nghiên cứu 28
2.1.6 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 28
2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng 30
2.2.1 Nhận thức của giáo viên mầm non trong việc sử dụng phương pháp Montessori giáo dục kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng 30
2.2.2 Thực trạng về việc tổ chức sử dụng phương pháp Montessori trong việc giáo dục kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng 48
2.2.3 Thực trạng kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 – 36 tháng tại trường Mầm non tư thục Montessori 53
2.2.4 Thực trạng về tổ chức nhân sự và tập huấn cho giáo viên mầm non sử dụng phương pháp Montessori 57
2.2.5 Những đề xuất nhằm nâng cao việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sử dụng vật thật theo phương pháp Montessori 58
2.2.6 Đề xuất biện pháp nâng cao việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sử dụng vật thật theo phương pháp Montessori 59
Tiểu kết Chương 2 61
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 63
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 -36 tháng 21
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá việc sử dụng phương pháp Montessori để GD
kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng 23
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết GD trẻ kỹ năng sử dụng
vật thật 31
Bảng 2.2 Khảo sát về tần suất tổ chức HĐ với vật thật 31
Bảng 2.3 Mức độ trao đổi với phụ huynh về kỹ năng sử dụng vật thật của
trẻ 24–36 tháng 42
Bảng 2.4 Kết quả đánh giá việc sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ
năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng 53
Bảng 2.5 Các mức độ đạt được của các tiêu chí 54
Bảng 2.6 Kết quả kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 – 36 tháng 56
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Lựa chọn của GVMN về thời điểm GD kỹ năng sử dụng
vật thật 33 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ so sánh tần suất sử dụng biện pháp dạy học
của GVMN trường MN Montessori 34 Biểu đồ 2.3 Biểu hiện hình thức tổ chức GD kỹ năng sử dụng vật thật
cho trẻ 38 Biểu đồ 2.4 Biểu hiện những khó khăn GVMN khi GD kỹ năng sử dụng
vật thật cho trẻ 24 - 36 thángtheo phương pháp Montessori 43
Trang 10M Ở ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của GVMN dạy trẻ 24 - 36 tháng Việc GD kỹ năng sử dụng vật thật bao hàm việc hướng dẫn cách sử dụng vật thật, tương tác với vật thật, giúp trẻ nắm được chức năng của chúng; kết quả là kỹ năng sử dụng vật thật trong sinh hoạt hàng ngày của trẻ hình thành, từ đó trẻ hiểu được những quy tắc, hành vi đơn giản trong xã hội Cho nên, GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng là cần thiết để chuẩn bị tốt cho sự thích nghi, làm chủ các hoạt động trong cuộc sống thường ngày, giúp trẻ khám phá môi trường xung quanh làm tiền đề cho lứa tuổi kế tiếp
Thực tế, GDMN cho thấy có thể sử dụng phương pháp Montessori để GD
kỹ năng sử dụng vật thật, nhưng cho tới nay chưa có những nghiên cứu cụ thể chỉ ra khả năng và cơ hội vận dụng này Hiện nay, nhiều GV Việt Nam ở trường
MN Montessori vẫn thường đề ra những mục tiêu GD trẻ kỹ năng sử dụng vật thật và sử dụng phương pháp GD Montessori để thực hiện các mục tiêu này Tất
cả các GV trường MN Montessori đều được đào tạo hoặc được tập huấn về phương pháp Montessori.Tuy vậy, trong bất kỳ trường học nào, GV luôn có những mặt mạnh và còn nhiều hạn chế trong quá trình vận dụng các phương pháp dạy học của mình, vì việc lựa chọn các biện pháp dạy học vẫn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mục tiêu phát triển, khả năng kết hợp các mục tiêu dạy học, điều kiện dạy học và cả hình thức tổ chức dạy học
Những câu hỏi sau đây nẩy sinh: việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24- 36 tháng đang được thực hiện như thế nào ở trường MN Montessori? GVMN thường sử dụng những phương pháp dạy học nào để GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24- 36 tháng? Chúng có thích hợp và hiệu quả? Những nguyên nhân thành công và chưa thành công? Có thể rút ra những kinh nghiệm
Trang 11Để giải quyết những vấn đề trên, cần phải tiến hành nghiên cứu, đó là lý do nghiên cứu đề tài: “Thực trạng sử dụng phương pháp Montessori nhằm GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng ở trường mầm non Montessori”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá được thực trạng sử dụng phương pháp Montessori trong việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24- 36 tháng và đề xuất một số biện pháp cải thiện tình trạng
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng sử dụng phương pháp Montessori nhằm GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24-36 tháng ở trường MN Montessori
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDkỹ năng sử dụng vật thậtcho trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường
MN Montessori
4 Giới hạn đề tài và phạm vi nghiên cứu
năng tự phục vụ ở lĩnh vực “Thực hành cuộc sống”
Nghiên cứu này được thực hiện ở trường MN Montessori, Thảo Điền, Q.2,
Tp Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ
Trang 12Nếu làm rõ được mô hình GD của Montessori nhằm GD kỹ năng sử dụng
vật thật cho trẻ 24- 36 tháng thì sẽ xác định được cơ sở đánh giá và đánh giá được thực trạng vấn đề GD kỹ năng này ở trường MN Montessori
7 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng trong đề tài:
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu, phân tích tổng hợp, hệ
thống hóa các quan điểm lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
năng sử dụng vật thật cho trẻ từ 24-36 tháng trong trường MN Montessori
phỏng vấn một số trường hợp để thu thập thông tin: a/ về nhận thức của GV trường MN Montessori đối với nhiệm vụ GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24- 36 tháng; b/ về các biện pháp mà họ thường sử dụng để GD trẻ 24- 36 tháng
kỹ năng này; c/ những khó khăn của việc GD này
động của trẻ có liên quan vấn đề nghiên cứu
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Tổng hợp một số tư tưởng GD của Montessori về việc GD kỹ năng sử
dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng
- Xác định thực trạng sử dụng phương pháp Montessori nhằm GD kỹ năng
sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng trong trường MN Montessori
9 Cấu trúc luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Thực trạng sử dụng phương pháp Montessori trong việc GD
Trang 13- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 14C hương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP MONTESSORI NHẰM GIÁO DỤC KỸ NĂNG
S Ử DỤNG VẬT THẬT CHO TRẺ 24 – 36 THÁNG
1.1 L ịch sử phát triển phương pháp giáo dục Montessori
Theo Montessori, từ sơ sinh đến 3 tuổi trẻ học chủ yếu thông qua "Trí tuệ thẩm thấu vô thức” [10] Đối với những đồ vật mà trẻ có thể tận tay tiếp xúc, trẻ
dùng tâm trí để tìm hiểu và khám phá những vật xung quanh một cách tự phát,
từ đó bộ não có thể tiếp nhận một số đặc tính của vật về công dụng, chất liệu, hình dạng…Khi tiếp cận với các vật xung quanh, trẻ trước 36 tháng thường xem chúng là thật, chưa phân biệt cái thật với cái không phải là vật thật Do đó, những đồ vật mà Montessorichọn để GD trẻ là thật Bà cho rằng trẻ cần phải được sống trong thế giới thực vì những gì không thực tế sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách của trẻ về sau [21]
Bên cạnh đó, trong nghiên cứu của Bà “Thời kỳ phát cảm” cũng xuất hiện
rõ nét nhất ở giai đoạn 24 – 36 tháng “Thời kỳ phát cảm” vô cùng quan trọng với sự trưởng thành của trẻ, vì đây là giai đoạn trẻ có thể rèn luyện kỹ năng sử dụng vật thật một cách dễ dàng và thoải mái nhất Nếu trong giai đoạn này trẻ không được “tự do HĐ với vật thật” thì sau này trẻ sẽ khó khăn hoặc vĩnh viễn mất đi cơ hội rèn luyện khả năng sử dụng chúng [Ward, 1913, tr.56].Theo cách phân chia của bà, giai đoạn 24 – 36 tháng là thời kỳ phát cảm về hành động, tri giác các đồ vật nhỏ và đối tượng trẻ HĐ để phát triển là những vật nhỏ xung quanh trẻ Bà khẳng định: “Đồ vật - chứ không phải con người – là những GV tốt nhất” [Kramer, 1976, tr 21] Như vậy, thông qua việc trẻ HĐ với vật thật
giúp cho trẻ tìm ra được những quy luật đúng - sai khi sử dụng chúng; chính những vật thật này cũng là người thầy GD cho trẻ kỹ năng sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất, trẻ được trải nghiệm trên thực tế giúp trẻ nhớ lâu và tiếp thu một cách dễ dàng, nhanh chóng Vì vậy, Montessori cho rằng trẻ phải được thực
Trang 15hành và luyện tập thường xuyên thông qua những đồ vật thật, với kích thước phù hợp dành cho trẻ, trẻ sẽ cảm thấy hứng thú và tích cực trong công việc mà trẻ làm; từ đó giúp trẻ hình thành kỹ năng khi sử dụng chúng Một trong những nét nổi bật của trường phái này là tổ chức cho trẻ sử dụng vật thật kể cả những
vật dễ vỡ như đồ gốm, thủy tinh,nhằm GD tính cách cẩn thận và kỹ năng sống cho trẻ [18]
Trong qúa trình HĐ với vật thật, Montessori cho trẻ được HĐ tự do bằng cách thử - sai trên vật thật Montessori đã rất chú trọng đến việc cho trẻ tiếp xúc
với vật thật ở giai đoạn 24 – 36 tháng Đây cũng là một trong những yếu tố đã làm cho phương pháp của Bà trở nên nổi tiếng trên thế giới
Ở Việt Nam, nhìn chung các công trình nghiên cứu về phương pháp Montessori còn khá mới mẻ, với những đóng góp của một số tác giả nghiên cứu trong các đề tài nghiên cứu khoa học:
Năm 2009, Bài viết trong Kỷ yếu hội thảo: Nâng cao chất lượng GVMN trình độ Đại học của Nguyễn Thị Ngọc Dung “Ứng dụng học thuyết Montessori trong lĩnh vực GDMN” Bài viết giới thiệu về phương pháp Montessori, các ứng dụng của học thuyết Montessori trong lĩnh vực GDMN Thông qua bài viết, tác giả khẳng định: “Qua một số đồ dùng chứng tỏ trẻ được tiếp xúc trực tiếp và khám phá kiến thức qua học mà chơi, chơi mà học Trẻ tò mò khám phá từ đơn giản đến phức tạp và hình thành kiến thức qua trải nghiệm Tư tưởng GD của Montessori ảnh hưởng rất rộng đến các nước Châu Âu và các nước Châu Á Ở Việt Nam, chưa đi sâu vào chương trình và phương pháp song ở mức độ nào đó chúng ta có thể áp dụng vào chương trình và văn hóa của Việt Nam để hình thành nhân cách, kiến thức và kỹ năng sống những trẻ tương lai của chúng ta”[4]
Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Quỳnh Trâm, năm 2010 “Sử dụng phương pháp Montessori để phát triển khả năng khái quát hóa của trẻ mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi” Tác giả cho rằng “Các hoạt động học tập được thiết kế và giảng
Trang 16dạy theo phương pháp Montessori cho phép trẻ học qua thử nghiệm với các đồ dùng, được tự do sử dụng nhiều loại đồ dùng ở nhiều môi trường khác nhau tùy theo sở thích riêng, tạo cơ hội phát triển tối đa những khả năng của trẻ và giúp trẻ phát triển toàn diện, đặc biệt là khả năng khái quát hóa”; khẳng định những mặt tích cực của phương pháp Montessori và chỉ ra hiệu quả rất tích cực về khả năng khái quát hóa của trẻ mà phương pháp Montessori đem lại, thông qua việc xây dựng các bài tập đo khả năng khái quát hóa của trẻ; sử dụng giáo cụ Montessori làm phương tiện để tác động lên trẻ nhằm rèn luyện và phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ ở 5 lĩnh vực: Thực hành cuộc sống, Giác quan, Ngôn ngữ, Toán, Văn hóa Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến đặc điểm cơ bản của phương pháp Montessori là ưu tiên sử dụng các đồ dùng thật để dạy về đời sống hằng ngày cho trẻ, giúp trẻ có được kinh nghiệm trong cuộc sống hiện thực trước khi tự mình dấn thân vào cuộc sống Trẻ hoạt động với các đồ vật thật sẽ
có được trải nghiệm rất thực [28]
Năm 2014, Bài viết trong Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm của Thạc sĩ Ngọc Thị Thu Hằng “Giới thiệu phương pháp GD Montessori”, bài viết giới thiệu tổng quan về phương pháp Montessori, những công việc tại mỗi góc
HĐ và giáo cụ trong môi trường lớp học Montessori; cụ thể tác giả đã giới thiệu những công việc mà trẻ tương tác với vật thật tại góc “Thực hành cuộc sống” bao gồm:
+ Thực hành khô (sử dụng thìa, muỗng, kẹp…)
+ Thực hành với ít nước (chuyển nước: sử dụng phễu đổ nước vào bình, ống bóp nước lớn – nhỏ, mút…; đổ nước: từ ly này sang ly khác)
+ Thực hành với nhiều nước (rửa tay, bát; lau bàn, ghế; tưới cây…)
+ Ẩm thực (cắt trái cây, nghiền vụn bánh mì, vắt cam, lột vỏ)
Từ đó, tác giả đề xuất một vài gợi ý và lưu ý cho GVMN khi muốn ứng dụng phương pháp GD Montessori vào công tác GD trẻ [6]
Trang 17Những đề tài nghiên cứu trên đã giới thiệu tổng quan về phương pháp Montessori và môi trường lớp học; rèn luyện và phát triển khả năng khái quát hóa cho trẻ qua thao tác với giáo cụ, vật thật; tuy nhiên, các đề tài chưa đi sâu nghiên cứu về việc sử dụng phương pháp Montessori để GD kỹ năng sử dụng vật thật Vì vậy, dựa vào những công trình trên là nền tảng giúp cho người nghiên cứu có cơ sở để nghiên cứu đề tài “Thực trạng sử dụng phương pháp Montessori trong việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi tại trường MN Montessori”
1.2 Khái ni ệm công cụ của đề tài
• Khái ni ệm phương pháp giáo dục
Tác giả Trương Thị Xuân Huệ cho rằng “Phương pháp GD là tổ hợp đã được hệ thống hóa của các bước, các hành động nhất thiết phải thực hiện để giải quyết một nhiệm vụ GD nhất định hoặc nhằm hướng tới một mục tiêu GD” [9] Phương pháp GD tồn tại với tư cách là một nhân tố hữu cơ của quá trình
GD Nó có mối quan hệ biện chứng với các nhân tố khác của quá trình này (mục đích và nhiệm vụ GD, nội dung GD, nhà GD với HĐGD, người được GD với
HĐ tự GD, kết quả GD) [1]
Phương pháp GD được hiểu là cách thức HĐ của nhà GD và của người được GD, được thực hiện trong sự thống nhất với nhau, nhằm hoàn thành những nhiệm vụ GD phù hợp với mục đích GD đã định [8]
• Giáo d ục kỹ năng
Giáo d ục
GD (theo nghĩa rộng) là HĐ GD tổng thể được tổ chức một cách có mục
đích, có kế hoạch nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người
GD (nghĩa hẹp) là một bộ phận của HĐGD tổng thể nhằm tổ chức, hướng
dẫn người được GD hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử
Trang 18đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội Theo nghĩa này GD (nghĩa hẹp) bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, GD lao động [12]
K ỹ năng
Hiện nay, trong Tâm lý học và Lý luận dạy học khi nghiên cứu về kỹ năng
có hai quan điểm
- Quan điểm 1: xem kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác Đại diện cho quan điểm này có các tác giả: V.A Kruchetxki, N.D Levitovxam, Trần
Trọng Thủy, Hà Nhật Thăng… Theo đó, “kỹ năng là thực hiện một hành động hay một HĐ nào đó nhờ sử dụng những kỹ thuật, những phương thức đúng đắn” [13]
Tác giả N.D Levitov xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh,
muốn hình thành kỹ năng con người phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa
phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [14]
Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng [27]
Như vậy "kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện hành động phù hợp
với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững" [23]
- Quan điểm 2: Coi kỹ năng nghiêng về mặt biểu hiện năng lực của con người Các tác giả có cùng quan điểm này: Paul Herrey, Ken Blanc Hard, P.A Rudich, Vũ Dũng, Nguyễn Thị Thúy Dung, Huỳnh Văn Sơn,…
Kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nào đó
Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Dung (2009) cho rằng: “kỹ năng là một biểu hiện
Trang 19bằng cách tiến hành đúng đắn kỹ thuật của hành động trên cơ sở vận dụng
những tri thức và kinh nghiệm vốn có về hành động đó”
Vậy, “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với
những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [23]
Các quan điểm trên về hình thức diễn đạt tuy có vẻ khác nhau nhưng thực
chất chúng không mâu thuẫn nhau Từ những quan điểm trên, người nghiên cứu
xác định:
GD kỹ năng là tổ chức, hướng dẫn cho người được GD về cách thức thực hiện công việc một cách thuần thục, có kỹ thuật, có hiệu quả trong thời gian nhất định, dựa vào những kinh nghiệm và tri thức đã trải nghiệm
• V ật thật
Tác giả Nguyễn Như Ý (1998) cho rằng “vật là cái có hình khối, có thể
nhận biết được”; “thật là khẳng định mức độ, tính đúng đắn, chân xác” [29] Montessori cho rằng “vật thật để GD cho trẻ là những đồ dùng bằng thủy tinh, sành sứ, những đồ vật gần gũi trong sinh hoạt hằng ngày có kích thước phù
hợp với trẻ và bộ giáo cụ Montessori” [33]
Từ quan điểm trên, người nghiên cứu xác định:
Vật thật là những cái có hình dạng, tính chất giống với thực tế
“Vật thật” trong đề tài này được giới hạn là những phương tiện/ công cụ
GD kỹ năng tự phục vụ ở lĩnh vực “Thực hành cuộc sống”
• K ỹ năng sử dụng vật thật
Theo Montessori: “Kỹ năng sử dụng vật thật chỉ tới khả năng phối hợp tay – mắt
của trẻ để điều khiển những đồ dùng (giáo cụ) một cách tỉ mỉ, chính xác” [31]
- Kỹ năng sử dụng vật thật là những hoạt động liên quan đến việc sử dụng bàn tay Các hoạt động đó bao gồm: nắm các vật nhỏ, cắt, gấp, cầm viết đúng cách…[19]
Trang 20- Kỹ năng sử dụng vật thật bao gồm những kỹ năng sau: lồng sợi cước vào trong hạt vòng, thắt nút sợi dây, lật sách từng trang một, biết cách sử dụng của các đồ vật thường gặp, cởi áo hoặc quần, đổ nước qua lại giữa hai cái cốc mà không làm đổ ra nền, biết đi giầy, đóng - cởi khuy áo Nó đòi hỏi sự kết hợp chính xác của mắt, bàn tay và các ngón tay [15]
Tóm lại, Kỹ năng sử dụng vật thật là khả năng phối hợp giữa tay và mắt để thực hiện các hoạt động với vật thật đòi hỏi sự khéo léo, thuần thục và chính xác
Với những điều vừa nêu trên cùng với phạm vi nghiên cứu của đề tài này, người nghiên cứu có thể kết luận:
• Giáo d ục kỹ năng sử dụng vật thật
GD kỹ năng sử dụng vật thật là tổ chức, hướng dẫn cho người được GD về cách thức sử dụng những vật thật một cách thuần thục, có kỹ thuật, có hiệu quả trong thời gian nhất định; dựa vào những kinh nghiệm và tri thức đã trải nghiệm
1.3 Mô hình giáo d ục kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng trong trường Montessori
Để tìm hiểu, cần nắm quan niệm của Montessori về vai trò của vật thật và cách tổ chức thực hiện GD với vật thật
1.3.1 Vai trò c ủa vật thật trong giáo dục trẻ em
Montessori cho rằng ở trẻ em luôn nảy sinh nhu cầu tự nhiên đối với việc
sử dụng vật thật Việc GD kỹ năng sử dụng vật thật giúp đứa trẻ biết làm chủ
bản thân, để trở thành một con người có phẩm chất tốt, độc lập, không dựa vào người khác Qua làm việc với những vật thật, trẻ thật sự hồn nhiên, thoải mái và không che giấu cảm xúc của mình Do đó, trẻ được tiếp xúc với thế giới xung quanh trong mọi hoàn cảnh và xác lập quan hệ với nhiều người khác một cách tự nhiên như chính trẻ được giao lưu và thỏa sức làm công việc mà trẻ thích
Trang 21Ý nghĩa của việc sử dụng vật thật ở trẻ em cần được xem xét không phải ở
kết quả mà là trong quá trình HĐ với vật thật đó.Trẻ được học tập và luyện tập trong sinh hoạt hằng ngày và trong HĐ tại khu vực “Thực hành cuộc sống” Trong khi sử dụng các vật liệu khác nhau trẻ dần dần nắm được đặc điểm, tính
chất, công dụng của chúng: bát làm bằng sứ, cốc làm bằng thủy tinh dễ vỡ, bút chì, bút lông để vẽ, con dao sắc để cắt, cái dây để buộc…
Trong sinh hoạt hàng ngày, GV lưu ý đến các vật xung quanh, nhấn mạnh
những thuộc tính của chúng để mở rộng hiểu biết của trẻ và giúp trẻ biết sử dụng phù hợp Như vậy trong cuộc sống hàng ngày, được tiếp xúc với các sự vật đã giúp trẻ thu nhận được những tri thức mới, đồng thời phát triển khả năng HĐ trí
tuệ [11]
GD kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ thông qua các HĐ mà trẻ tham gia, trong đó HĐ “Thực hành cuộc sống” là HĐ cơ bản nhất
Khả năng độc lập và tính cẩn thận, gọn gàng, ngăn nắp, có trách nhiệm của
trẻ được hình thành và phát triển trong HĐ với vật thật Khi trẻ HĐ với vật thật,
trẻ hăng say làm việc một mình với chúng một cách cẩn thận và cố gắng hoàn thành tốt công việc dựa trên kinh nghiệm sẵn có của mình Giá trị của công việc
mà trẻ làm là những trải nghiệm cảm xúc, những niềm vui mà không có niềm vui nào sánh được với niềm vui được HĐ tự do với vật thật
Sự phát triển ngôn ngữ cũng như việc hình thành những kỹ năng sử dụng
vật thật của trẻ cũng được rèn luyện Đặc biệt, những kinh nghiệm được đào sâu,
mở rộng giúp trẻ nắm hơn những tri thức của con người, đây là yếu tố vô cùng
cần thiết trong việc hình thành những tư tưởng, tình cảm, thế giới bên trong của con người
Tóm lại, Montessori có tầm nhìn xa rộng về tác động của việc GD trẻ em
sử dụng vật thật, không chỉ trong lĩnh vực phát triển nhận thức như nhiều quan điểm nghiên cứu khác Việc GD kỹ năng sử dụng vật thật được gắn liền với việc
Trang 22GD thực hành cuộc sống nên dễ đạt hiệu quả và có ý nghĩa với cuộc sống của
trẻ
1.3.2 Vi ệc tổ chức và phương pháp thực hiện giáo dục trẻ em sử dụng vật
th ật của Montessori [22]
Montessori quan niệm thực tế và cụ thể về nội dung GD cho trẻ em: "Bất
kỳ đứa trẻ nào là người tự lập thì đều có thể cột dây giầy, ăn, mặc hay cởi quần
áo của mình; niềm vui và cảm giác thành công của trẻ phản ánh hình ảnh của
một người có phẩm giá" [36]
Nhà GD cần đưa trẻ vào mô hình rèn luyện:
Trật tự - Chăm chỉ chuyên tâm – Tập luyện nhiều lần – Phối hợp nhịp nhàng, hài hòa
Thành công của quá trình rèn luyện này sẽ là cơ sở để đi vào nội dung GD mang tính phát triển ở các lĩnh vực GD khác
Để triển khai mô hình này, GV cần theo những yêu cầu sau đây:
- Nh ững yêu cầu về tổ chức :
GV là nhà quản lí môi trường, luôn chú ý tới tình trạng môi trường vật chất, chuẩn bị và sắp xếp các phòng học sạch sẽ, gọn gàng, mọi vật thật được bày biện ngăn nắp, và đặt vào vị trí thuận lợi để trẻ có thể sử dụng
- Những yêu cầu về vai trò của GV :
GV tạo môi trường vật thật thích hợp cho sự phát triển của trẻ ; cung ứng vật thật hấp dẫn, kích thước phù hợp với trẻ, giúp trẻ tiến hành rèn luyện kỹ năng sử dụng chúng
Đảm bảo trẻ được đưa vào môi trường HĐ với tâm trạng vui vẻ, không có bất cứ áp lực nào Muốn vậy, GV cần phải trầm tĩnh, quan sát trẻ HĐ với vật thật
GV hấp dẫn trẻ bằng mọi cách, có thể HĐ cùng trẻ với vật thật khi cần thiết
Trang 23Cá nhân hóa việc học cho nhu cầu và lợi ích của trẻ trong việc sử dụng vật thật Điều này được thực hiện bằng cách quan sát trẻ để biết được nhu cầu và sở thích của trẻ; tôn trọng và đề cao những nhu cầu và lợi ích đó
Không nên can thiệp làm gián đoạn chu kỳ làm việc của trẻ
- Sau khi trẻ quá quen thuộc với một thứ vật dụng thì kịp thời cung cấp cho
trẻ một số vật dụng mới Tiếp tục bồi dưỡng tính tự lập của trẻ khi sử dụng vật
thật trong đời sống, không để trẻ hình thành thói quen ỷ lại ; những tác động SP sau đây sẽ giúp GV thực hiện được nhiệm vụ GD này :
Tôn trọng và khuyến khích trẻ sử dụng vật thật trong giai đoạn trí tuệ thẩm thấu và giai đoạn nhạy cảm
Trẻ được tự do khám phá vật thật trong lớp và ngoài trời – đảm bảo an toàn cho trẻ
Cho trẻ càng nhiều cơ hội để thực hành với vật thật càng tốt
Như vậy, có thể nhận ra những yêu cầu và tiêu chuẩn cho «Chuẩn bị môi
trường HĐ với vật thật » với trẻ ở độ tuổi này như sau [22]:
- Môi trường phải được GV tổ chức chu đáo, theo những qui định chặt chẽ
- Vật thật phải mang tính thẩm mĩ cao, có ý nghĩa thực tiễn và có sức hấp
dẫn trẻ, kích thích trẻ bước vào HĐ
- Môi trường vật thật phải tiềm tàng nhiều khả năngGD, làm phong phú
những ấn tượng về cuộc sống của trẻ và thúc đẩy sự phát triển trí lực của trẻ
- Tạo điều kiện để trẻ phát huy năng lực sống độc lập,tự tin và có biểu hiện hành vi tự nhiên, tiến tới GD tự ý thức được năng lực của bản thân
Cấu trúc của HĐ học truyền thống ở trường Montessori gồm một chuỗi
các công việc sau đây [9]:
Bước 1 : Làm việc trong môi trường Montessori : phát triển chú ý, tư duy sáng tạo và logic, trí nhớ, ngôn ngữ, tưởng tượng, vận động tinh, nhận thức cảm tính, vận động cân bằng
Trang 24Bước 2 : Giờ học sáng tạo « Bàn tròn » : vận động, trò chơi ngón tay, trò chơi cử chỉ điệu bộ, hát diễu hành
Bước 3 : Trò chơi tập thể, phát triển khả năng giao tiếp
Ngày nay, dễ dàng thấy cấu trúc của HĐ họchiện đại sau đây ở trường Montessori :
Bước 1 : Làm việc trong môi trường Montessori
Bước 2 : Ôn lại kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm có được ở trong các mô hình dạy học khác
Bước 3 : Làm quen với thế giới xung quanh
Bước 4 : Làm các thí nghiệm vui
Bước 5 : HĐ sáng tạo
Bước 6 : Âm nhạc
Bước 7 : Giờ học sáng tạo « Bàn tròn »
Bước 8 : Sân khấu rối
Bước 9 : Học thuộc thơ, tập kể chuyện theo tranh
Công việc chủ đạo là HĐ tự do của trẻ với đồ dùng Montessori Giờ học có thể tiến hành dưới hình thức tổ chức tập thể hoặc cá nhân Trong một giờ học luôn có hai GV Việc học tập của trẻ không hạn chế về thời gian và do chính trẻ
tự quyết định, tự sắp xếp
1.3.3 Tìm hi ểu về chương trình giáo dục “Thực hành cuộc sống”
Montessori GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng thông qua chương trình “Thực hành cuộc sống” [32], [36]
Trang 25- Trẻ có kiến thức về đặc điểm, tính chất, công dụng của vật thật, kinh nghiệm cần thiết giúp trẻ hòa nhập tốt nhất với cuộc sống
* Về kỹ năng:
- Tự kiểm soát hành vi: sử dụng vật thật một cách nhẹ nhàng, không làm
vội vàng mà dẫn tới bị hư hỏng
- Có thể phối hợp chuyển động cơ thể
- Được phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ: khả năng phối hợp tay –
mắt một cách tập trung, khéo léo, nhịp nhàng
- Biết làm một số công việc phục vụ bản thân, giúp đỡ mọi người xung quanh Trẻ biết chăm sóc môi trường xung quanh, dọn dẹp đồ dùng đồ chơi, giữ
vệ sinh sạch sẽ
* Về thái độ:
- Biết tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ đồ dùng, đồ vật
- Hứng thú, tích cực, tự tin tham gia vào các HĐ với vật thật
• N ội dung giáo dục của“Chương trình thực hành cuộc sống”
Nội dung GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng tuổi trong “Chương trình thực hành cuộc sống” cụ thể như sau:
- Những biểu tượng về vật thật mới- phục vụ cho bản thân, môi trường xung quanh và xã hội
- Kỹ năng kiểm soát hành động, kỹ năng phối hợp tay – mắt khi sử dụng vật thật
- Cách sử dụng đồ vật để chăm sóc bản thân và môi trường xung quanh
Trang 26- Tính quý trọng, gìn giữ đồ vật
Nội dung GD trên được truyền tải đến trẻ thông qua các HĐ trong chương trình “Thực hành cuộc sống” như sau [32]:
+ Đổ một số đồ vật (trình tự từ đổ khô đến đổ ướt và từ các thùng chứa lớn đến các thùng chứa nhỏ)
+ Học cách mặc đồ thông qua sử dụng khung gỗ
Trang 27với nhu cầu phát triển của trẻ Việc học của trẻ sẽ diễn ra trong quá trình trẻ tự khám phá vật thật và HĐ sau đó Phương pháp này chú trọng đến kỹ năng quan sát trẻ, HĐcủa GV Khi trẻ làm sai cô không trực tiếp sửa sai, nhắc nhở ngay,
mà phải quan sát và ghi chép lại
+ Phương pháp cùng làm với trẻ: Nếu lỗi sai của trẻ bị lặp đi lặp lại thì GV
sẽ hướng dẫn lại nhưng với những lời đề nghị nhằm gợi mở suy nghĩ của trẻ và
thể hiện sự tôn trọng ý kiến của trẻ Chẳng hạn, khi muốn đề nghị trẻ thực hiện
lại một HĐ với vật thật mà cô thấy trẻ thực hiện chưa tốt, GV sẽ nói: “cô có thể cùng con thực hiện HĐnày không?” thay cho mệnh lệnh: “Con nhìn cô làm lại này”
+ Phương pháp làm mẫu: làm mẫu nhưng hạn chế dùng lời Khi làm mẫu,
GV phải thể hiện toàn bộ quy trình một HĐ với vật thật từ khi bắt đầu đến khi
kết thúc Tức làm mẫu từ lúc lấy vật thật từ kệ ra, thực hiện lần lượt các bước
của HĐcho đến khi thu dọn và để vật thật về vị trí ban đầu.Người GV sẽ làm
mẫu cách đặt một cái khay xuống nhẹ nhàng Nhờ vào “Trí nhớ thẩm thấu”, trẻ
sẽ bắt chước hành động của GV một cách tự nhiên Một trẻ lớn hơn cũng có thể làm hình mẫu học tập cho trẻ nhỏ hơn Vì ở lứa tuổi này, trẻ chưa chú ý nhiều đến bất kì vật gì, ngay cả khi chú ý thì trẻ vẫn không thể tự hiểu cách sử dụng
của những vật thật đó VD: Trong khi trẻ phương Tây thì rất thành thạo cách sử
dụng dao dĩa trong bữa ăn thì những trẻ vốn quen với thói quen sinh hoạt phương Đông sẽ gặp không ít khó khăn, lóng ngóng khi làm quen với những thứ
Trang 28đó, cho dù bản thân trẻ cũng cảm thấy thú vị sẵn sàng tập sử dụng chúng Chính
vì vậy, trong quá trình giảng dạy không thể tách rời động tác mẫu của GV
+ Làm gương: Rất nhiều hành vi của trẻ đều học được dựa trên quan sát hành vi của người lớn, trẻ bắt chước GV hoặc những trẻ lớn hơn GV phải tự mình nêu gương Đồng thời, trẻ càng để ý đến GV thì càng thích bắt chước
những hành vi tốt, thái độ cũng như phương pháp giải quyết công việc của GV
Trẻ thích bắt chước hành vi tốt, nhưng trẻ học hành vi xấu cũng rất nhanh Vì
vậy, khi GV sử dụng vật thật phải chú ý thao tác của mình tránh những thiếu sót
mà trẻ sẽ làm theo
+ Phương pháp trình bày trực quan: Trong lớp học Montessori với một không gian mở được tổ chức khoa học, các vật thật được sắp xếp có trình tự, từ trái sang phải, từ đơn giản đến phức tạp Mỗi vật thật đều có một vị trí ở trong phòng, nơi chúng có thể dễ dàng được tìm ra khi cần dùng đến
+ Phương pháp thực hành: là phương pháp cho trẻ được thực hành sử dụng
vật thật, được trải nghiệm trong HĐ thực tiễn GV không can thiệp vào công
việc của trẻ, trẻ tự làm, từ đó trẻ rút ra được những kinh nghiệm trong quá trình
thực hiện các HĐ với vật thật Những đồ vật nhỏ bằng thủy tinh hoặc gốm sứ rất
dễ vỡ, nếu trẻ lỡ tay đánh rơi thì đây là cơ hội để GD trẻ kỹ năng sử dụng chúng
Bản thân đứa trẻ sẽ cẩn thận hơn khi sử dụng đồ vật dễ vỡ
+ Phương pháp luyện tập: cho trẻ tập làm nhiều lần nhằm mục tiêu hình thành và củng cố một số kỹ năng đã thu nhận được trong quá trình sử dụng vật
thật Montessori cho rằng: “Việc lặp đi lặp lại một công việc nào đó vốn không
phải là điều trẻ ưu thích, tuy nhiên chính sự lặp đi lặp lại những động tác nào đó
đã tạo lên kỹ năng thực hiện công việc” [19]
+ Phương pháp động viên, khuyến khích: GV khuyến khích trẻ lặp lại việc tương tác với vật thật theo những cách khác nhau, nhưng đồng thời GV cũng lưu
ý không kiểm soát hoặc chỉ dẫn trẻ quá mức cần thiết
Trang 29“Chúng ta phải đặt cá nhân vào trong mối quan hệ với xã hội bởi vì không có cá nhân nào có thể phát triển mà không bị ảnh hưởng bởi xã hội…Cá nhân con người không thể phát triển nếu thiếu một đời sống xã hội” [21].Vì vậy, tùy vào thời điểm GV sử dụng một trong những hình thức trên cho phù hợp
• Phương tiện giáo dục [9], [17]
Sử dụng vật thật có yếu tố “kiểm soát lỗi” để trẻ tự sửa lỗi và làm lại cho đúng VD: ở lớp học Montessori, bàn ghế là không cố định, nó nhẹ nhàng để trẻ
dễ dàng dịch chuyển đến các vị trí mà trẻ muốn Nếu chẳng may quá trình di chuyển có sai sót hoặc gây ra tiếng ồn, trẻ sẽ biết việc của mình làm là sai và lần sau trẻ sẽ chú ý sửa sai
Trước hết, GV phải đảm bảo các vật thật cho trẻ sử dụng với kích thước dành cho trẻ Montessori cho rằng, đồ dùng mà trẻ yêu thích điều đầu tiên là
cách sử dụng vật thật phù hợp với trẻ hơn là phải cố gắng để thích ứng với một công cụ với kích thước dành cho người lớn
Những vật thật dành cho trẻ cần được chú ý mĩ quan, có hình dáng, màu
sắc đẹp đẽ, thích mắt Với những thứ đồ hấp dẫn được trẻ, tự chúng sẽ học được
Trang 30cách sử dụng Chẳng hạn, trẻ bị thu hút bởi những chiếc khăn lau sặc sỡ, trẻ sau
đó sẽ hiểu được tác dụng của khăn lau là để lau bàn Cũng như vậy, trẻ học được bàn chải được dùng để làm sạch quần áo khi giặt, khi giặt còn phải dùng xà phòng [19]
Trong lớp học Montessori, với công cụ là thật, có kích thước của trẻ và màu sắc, hình dạng hấp dẫn, sẽ lôi cuốn trẻ thực hiện các HĐ tương tự mà trẻ đã nhìn thấy người lớn làm: đổ nước, quét nhà, lau bàn, đánh bóng, chà…với tốc độ
nhẹ nhàng và GV ở gần đó sẽ giúp đỡ nếu trẻ yêu cầu nhưng không can thiệp
1.3.4 Tiêu chí và thang đánh giá
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu, cơ sở lí luận của đề tài, chương trình
“Thực hành kỹ năng sống”, những tiêu chí đánh giá sau đây được chọn làm tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 – 36 tháng và tiêu chí đánh giá
việc sử dụng phương pháp Montessori để GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ
24 – 36 tháng Dưới đây là các tiêu chí đánh giá:
Để đánh giá được kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 – 36 tháng khi sử
dụng phương pháp Montessori để dạy học cho trẻ Người nghiên cứu xây dựng
những tiêu chí được thể hiện ở Bảng 1.2 như sau:
B ảng 1.1 Tiêu chí đánh giá kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 -36 tháng
và hầu như chỉ là những động tác ngẫu nhiên
Trẻ thử- sai có thể hiện tính chủ định, vẫn thường cần GV hỗ trợ
Trẻ thử- sai có thể hiện tính chủ định, có thể phát hiện cách sử dụng vật trong rất nhiều trường hợp
Trang 31Khi VĐ tinh có những thao tác chính xác như yêu cầu nhưng chưa ổn định tình trạng này
Khi VĐ tinh
những thao tác chính xác như yêu cầu
chú ý trong
HĐ
Có thể tập trung chú ý nếu vật hấp dẫn nhưng khó duy trì chú ý khi
HĐ với vận động tinh hoặc có nhiều bước làm
Có thể tập trung chú ý nếu vật hấp dẫn nhưng khó duy trì chú ý khi
HĐ có nhiều bước dù được GV hướng dẫn
Thường có thể tập trung chú ý, duy trì chú ý theo yêu cầu
Có thể sử dụng vật đúng chức năng chính sau khi được dạy, ít cần nhắc nhở
Hầu như rất thường tự sử dụng vật đúng chức năng chính sau khi được dạy
giữ gìn vật
thật
Thường chưa tự giác giữ gìn vật thật, chưa cất vật đúng chỗ dù được nhắc nhở trước đó
Có thể giữ gìn vật thật, cất vật đúng chỗ- thỉnh thoảng cần được nhắc nhở mới thực hiện đúng
Rất thường khi thể hiện biết giữ gìn vật thật, cất vật đúng chỗ
Trang 32 Việc sử dụng phương pháp Montessori để dạy học cho trẻ, đòi hỏi người GVMN phải tuân thủ theo những nguyên tắc mà Montessori đã yêu cầu đối với
GV Vì vậy, người nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá việc dạy học
của GVMN khi sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng thể hiện ở Bảng 1.2 sau đây:
B ảng 1.2 Tiêu chí đánh giá việc sử dụng phương pháp Montessori để GD
rõ mục tiêu GD, chưa kích thích trẻ HĐ theo hướng mong đợi
Gọn gàng, ngăn nắp; nhưng sự sắp xếp chưa ổn định thể hiện rõ mục tiêu GD, chưa kích thích trẻ HĐ theo hướng mong đợi
Gọn gàng, ngăn nắp; sự sắp xếp thường thể hiện rõ mục tiêu GD, thường kích thích được trẻ HĐ theo hướng mong đợi
2 Năng lực
lựa chọn đồ
dùng
Thường chọn đồ dùng dạy học chưa đúng chuẩn quy định về giáo
cụ Montessori (sai về kích thước; ít khi sử dụng vật bằng chất liệu gỗ, thủy tinh, sành sứ)
Thường chọn đồ dùng dạy học đúng chuẩn về Giáo cụ
Montessori nhưng
ít vật làm bằng
gỗ, thủy tinh, sành sứ
Thường chọn đồ dùng dạy học đúng chuẩn Giáo
cụ Montessori; đa
số làm bằng gỗ, thủy tinh, sành sứ
để thực hiện các mục tiêu GD
Trang 333 Năng lực
quan sát trẻ
trong HĐ
Có quan sát nhưng chưa liên tục trong quá trình trẻ HĐ, thường bị bỏ qua những công đoạn chủ yếu
Có quan sát nhưng chưa liên tục trong quá trình trẻ HĐ, thường bị bỏ qua một số công đoạn
Thường quan sát liên tục trong quá trình trẻ HĐ
Có can thiệp vào công việc của trẻ khi chưa cần thiết
Có can thiệp hướng dẫn nhưng thường chưa đạt kết quả mong đợi của HĐ
Có can thiệp
thường đạt kết quả mong đợi của HĐ
Trang 34• Thang điểm thống nhất cho mỗi tiêu chí nêu trên:
Mức độ Thấp/ Ít khi Trung Bình/ Thường khi Cao/ Rất thường khi
Tổng điểm đạt: Max = 15 điểm; Min = 3 điểm
• Thang đánh giá chung
Trang 35Ti ểu kết Chương 1
Đối với trẻ 24 – 36 tháng, nếu được GD và hướng dẫn kịp thời thì kỹ năng
sử dụng vật thật sẽ được hình thành và phát triển tốt, góp phần vào việc phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ; là tiền đề cho các HĐ với vật thật ở lứa tuổi kế tiếp ở trường Montessori Ngược lại, ngay từ lứa tuổi 24 – 36 tháng nếu chúng
ta làm hạn chế những khả năng HĐ với vật thật của trẻ, không cho trẻ được tiếp xúc nhiều với vật thật, trẻ sẽ cảm thấy bị bó buộc, dần dần ngấm vào tư duy và biến trẻ trở thành một con người thụ động, dựa dẫm vào người lớn
GD kỹ năng sử dụng vật thật là HĐGD mang tính tích cực, nó là sợi dây
liên kết giúp cho các HĐ chơi và học của trẻ đạt hiệu quả hơn, nó giúp cho trẻ đạt được những kỹ năng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày cũng như cuộc sống của trẻ khi trưởng thành Thông qua việc sử dụng vật thật trẻ nắm được công dụng, chức năng của đồ vật cũng như quy luật của xã hội Đặc biệt, nó góp phần phát triển hài hòa các mặt khác như: thể chất, ngôn ngữ, tư duy, trí nhớ…giúp trẻ cảm thấy lạc quan, vui vẻ, tự tin, mạnh dạn và có trách nhiệm khi tham gia tất cả các HĐ Do vậy, việc sử dụng phương pháp Montessori nhằm GD kỹ năng
sử dụng vật thật cho trẻ là hết sức cần thiết, để tổ chức tốt việc này, bên cạnh việc trang bị các điều kiện về cơ sở vật chất như: bàn, ghế, vật thật với kích thước phù hợp với trẻ…thì GVMN ở trường Montessori cần nắm vững các kỹ năng sử dụng vật thật trong chương trình thực hành cuộc sống của Montessori,
sử dụng các biện pháp phù hợp để tổ chức cho trẻ HĐ với vật thật phong phú và tránh rập khuôn Các HĐ với vật thật phải được trình bày thật hấp dẫn, lôi cuốn
để trẻ tham gia một cách tích cực, đặc biệt trẻ phải được cảm thấy tự do, thoải mái khi tham gia các HĐ này GV chỉ là người quan sát và hỗ trợ khi trẻ gặp khó khăn cần sự giúp đỡ; cũng như dựa vào các phương pháp thích hợp của Montessori giúp trẻ có thêm nhiều cơ hội trải nghiệm, điều này sẽ kích thích trẻ
HĐ với vật thật một cách tích cực; hình thành và phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ về sau
Trang 36Xác định được thực trạng sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ năng sử
dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng tại trường MNMontessori ở thành phố Hồ Chí Minh và đánh giá thực trạng này
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- 20 GVMN đã và đang dạy lớp 24 – 36 tháng
- 25 trẻ đang học lớp 24 – 36 tháng
2.1.3 Địa bàn nghiên cứu
Trường MN Montessori, Thảo Điền, Q.2, Tp.Hồ Chí Minh
• Vài nét về đại bàn nghiên cứu:
Trường MN Montessori là một trong những trường đầu tiên áp dụng phương pháp Montessori Trường được thành lập vào năm 2007, có 2 chi nhánh, 1 chi nhánh ở Thảo Điền và 1 chi nhánh là tầng trệt của chung cư An Khang; với qui mô 3 khối lớp học thuộc 3 nhóm tuổi khác nhau Không gian trường biệt lập, yên tĩnh, số lượng học sinh từ 15 – 20 trẻ/ lớp và đa phần là con của người nước ngoài sống tại Việt Nam Tại trường, trẻ được các GV nước ngoài và GVMN Việt quan tâm nuôi dạy chu đáo và được vui chơi học tập ngoài trời với khoảng sân thoáng mát Phụ huynh có thể tham quan từ 8 giờ đến
8 giờ 30 phút mỗi buổi sáng, cho bé làm quen với trường và bạn bè, với các HĐ ngoài trời
Trang 37Cán bộ quản lý và GVMN của trường đa số đạt chuẩn về trình độ từ cao đẳng trở lên và GV nước ngoài đều có chứng chỉ đào tạo về phương pháp Montessori
Trường có tất cả 6 GV nước ngoài, 20 GVMN Việt, quản lý 3 nhóm lớp với
số lượng trẻ, cụ thể:
- Nhóm lớp Infant ( 6 – 18 tháng) : 5 trẻ
- Nhóm lớp Nursery ( 18 – 36 tháng) : 25 trẻ
- Nhóm lớp Kindergarten ( 3 – 5 tuổi): 50 trẻ
Về cơ sở vật chất: trường đầu tư, trang bị khá đầy đủ về giáo cụ Montessori
hỗ trợ trong công tác giảng dạy Thời gian qua, với sự cố gắng hoàn thiện, nhà trường đã không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc và GD trẻ theo phương pháp Montessori Mặc dù là trường tư thục, nhưng trường được rất nhiều phụ huynh biết đến nhờ hiệu quả mà trường đã đem đến cho trẻ khi sử dụng phương pháp GD này, đặc biệt là phụ huynh nước ngoài
2.1.4 Th ời gian nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 05 năm 2015
2.1.5 N ội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức của GVMN về việc sử dụng phương pháp Montessori để GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 - 36 tháng tại trường MN Montessori
- Khảo sát kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 - 36 tháng và việc sử dụng phương pháp Montessori trong việc dạy học này
- Những khó khăn mà GVMN gặp phải trong quá trình sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng
- Đề xuất một số biện pháp cải thiện việc sử dụng phương pháp Montessori
GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng
2.1.6 Phương pháp nghiên cứu thực trạng
Trang 38Nghiên cứu này khảo sát thực trạng sử dụng phương pháp Montessori GD
kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng một cách có hệ thống, dưới hai góc độ định tính và định lượng
-Phát phiếu hỏi cho 20 GV và tập hợp số liệu, phân tích để tìm hiểu thực
trạng nhận thức, thực trạng sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ năng sử
dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng và những yếu tố ảnh hưởng đến việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ
-Tiến hành quan sát lớp 24 – 36 tháng của trường Từ đó, người nghiên cứu đánh giá thực trạng nhận thức của GVMN và thực tế sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng tại trường, chỉ ra
những thành công và khó khăn của việc GD kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ, ghi nhận những đề xuất của GVMN, xem xét và đề ra một số hướng điều chỉnh nâng cao hiệu quả việc sử dụng phương pháp Montessori GD kỹ năng sử dụng
vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng
-Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn những GV khi xuất hiện vấn đề chưa
rõ trong nội dung trả lời phiếu hỏi hoặc trong quá trình quan sát
-Phương pháp nghiên cứu hổ sơ: có thực hiện nhưng rất hạn chế vì tính bảo
mật tài liệu của nhà trường
Mô tả những phương pháp nghiên cứu chính:
- P hương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Dựa trên cơ sở lý thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề, nội dung của
phiếu thăm dò ý kiến GVMN được biên soạn (xem phụ lục 1)
Trong tòan trường MN Montessori, chỉ có 20 GVMN dạy lớp 24 – 36 tháng, vì vậy số phiếu được gửi để lấy ý kiến và thu về là 20 phiếu Để đảm bảo
độ tin cậy của nghiên cứu thực tiễn, những phiếu điều tra ý kiến GVMN đã được
soạn kỹ và bao quát các vấn đề căn bản của một quá trình hình thành kỹ năng sử
dụng vật thật, đó là: mức độ cần thiết và mức thường xuyên thực hiện của việc
Trang 39GD với vật thật, hình thức và điều kiện tổ chức GD Ngoài ra, việc hỏi ý kiến
GV còn xoay quanh vấn đề những kinh nghiệm rút ra của GV và các đề xuất của
họ trong việc tổ chức dạy trẻ sử dụng vật thật
Để thực hiện tốt phương pháp này, người nghiên cứu tiến hành thực hiện
lần lượt các bước: thiết kế bảng hỏi, phát phiếu hỏi, thu phiếu, đọc kết quả và có
thể điều chỉnh câu hỏi hoặc nội dung câu hỏi cho phù hợp hơn, sau đó phát phiếu hỏi bổ sung thêm những câu hỏi đã sửa; tổng hợp kết quả điều tra và trên
cơ sở đó phân tích, thảo luận kết quả thu được
Ngoài ra, để hỗ trợ cho các phương pháp trên, người nghiên cứu trò chuyện
với GVMN đã và đang phụ trách trẻ trong giai đoạn 24 – 36 tháng
- Phương pháp quan sát
Bên cạnh điều tra bằng bảng hỏi, người nghiên cứu tiến hành quan sát Quá trình quan sát được ghi lại bằng thiết bị ghi hình và ghi chép Các đối tượng được quan sát cũng nằm trong nhóm đối tượng trả lời phiếu hỏi của người nghiên cứu Phương pháp quan sát giúp người nghiên cứu phân tích, chứng minh
thực tế khả năng thực hiện của GV so với nội dung trả lời các bản hỏi.Nội dung quan sát chính gồm: kỹ năng sử dụng vật thật của trẻ 24 – 36 tháng, cách GV tổ chức HĐ có sử dụng vật thật theo phương pháp GD của Montessori
2.2 Phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng
2.2.1 Nh ận thức của giáo viên mầm non trong việc sử dụng phương pháp Montessori giáo d ục kỹ năng sử dụng vật thật cho trẻ 24 – 36 tháng
2.2.1.1 Nh ận thức của giáo viên mầm non qua việc trả lời phiếu hỏi ý kiến
Về mức độ cần thiết của việc tổ chức GD trẻ kỹ năng sử dụng vật thật:
• Kết quả tìm hiểu nhận thức của GVMN về mức độ cần thiết trong việc tổ
chức GD trẻ kỹ năng sử dụng vật thậtở trường MN Montessori, được thể hiện
ở bảng 2.1
Trang 40Bảng 2.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết GD trẻ kỹ năng sử dụng vật
Bảng 2.1, cho thấy cao nhất là tỉ lệ 95% dành cho mức độ rất cần thiết Lý
do phổ biến được ghi nhận là “có ích với trẻ, trẻ rất hứng thú khi được sử dụng vật thật để phục vụ bản thân, giúp đỡ mọi người và giữ gìn môi trường xung quanh” Đặc biệt, khi HĐ với vật thật - là những đồ vật dễ vỡ như: thủy tinh, gốm sứ…trẻ học được tính cẩn trọng; nếu trẻ lỡ tay làm rơi vỡ thì đây cũng là cơ hội để GD trẻ- biết tiếc một đồ vật yêu thích bị mình làm hỏng, biết rút kinh nghiệm để lần sau HĐ với vật thật một cách nhẹ nhàng và cẩn thận hơn
Về mức độ mà GV thường xuyên tổ chức HĐ với vật thật cho trẻ ở câu 2:
“Thầy/Cô tổ chức cho trẻ 24 -36 tháng HĐ với vật thật ở trường MN Montessori
ở mức độ thường xuyên nào?” Kết quả được thể hiện ở bảng 2.2 như sau:
Bảng 2.2 Khảo sát về tần suất tổ chức HĐ với vật thật
STT Tần suất tổ chức HĐ với vật thật Số ý kiến Tỷ lệ (%)
Như vậy, dù tần suất sử dụng khác nhau, nhưng tất cả các GVMN đều có tổ