Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian .... Những đề xuất về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội c
Trang 1Nguy ễn Thị Ngọc Bích
GIÁO 5- 6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 2Nguyễn Thị Ngọc Bích
Chuyên ngành: Giáo d ục mầm non
Mã số: 60 14 01 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu khoa học này do chính tôi thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên cao học NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
Trang 4Tp HCM cùng quý Thầy Cô khoa Giáo dục Mầm non đã tận tình giảng dạy và hướng
dẫn cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Đồng thời, tôi xin cảm ơn quý Thầy Cô Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư
phạm Tp HCM đã nhiệt tình giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian
học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận văn tại trường
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kim Anh đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu và giáo viên các Trường Mầm Non tại Tp HCM đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành khảo sát khi nghiên cứu đề tài Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ rất nhiệt tình của Ban Giám Hiệu và tập thể Giáo viên trường Mầm non Họa Mi 3, Phường , quận 5- Tp HCM
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn sẽ xem xét
và đóng góp những ý kiến quý báu cho đề tài được hoàn thiện hơn
Sau cùng, tôi cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và tất cả những người thân
đã luôn ở bên tôi ủng hộ, động viên, chia sẻ với tôi khi tham gia chương trình học Cao
học cũng như hoàn thành luận văn đúng hạn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Học viên cao học Nguyễn Thị Ngọc Bích
Trang 5Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI 10
QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN 10
1.1 Lịch sử nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 10
1.2 Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 20
1.2.1 Kỹ năng 20
1.2.2 Kỹ năng xã hội 26
1.2.3 Trò chơi dân gian 33
1.2.4 Giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 37
Tiểu kết chương 1 44
Chương 2 THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN 46
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 46
2.2 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 53
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 53
2.2.2 Thực trạng về những nội dung giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 66
Trang 62.2.4 Thực trạng về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi
qua trò chơi dân gian 69
2.2.5 Những khó khăn khi giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 71
2.2.6 Những đề xuất về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian của giáo viên mầm non, cán bộ quản lý 73
Tiểu kết chương 2 75
Chương 3 THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN 77
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp thử nghiệm 77
3.2 Đề xuất các biện pháp 80
3.3 Tổ chức thử nghiệm các biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 89
3.4 Phân tích kết quả thử nghiệm các biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 92
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7GDKNXH Giáo dục kỹ năng xã hội
Trang 8Bảng 2 1 Mẫu khảo sát thực trạng 46
Bảng 2 2 Trình độ chuyên môn của giáo viên mầm non ở các trường khảo sát 47
Bảng 2 3 Tiêu chí và thang điểm đánh giá kỹ năng xã hội của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 50
Bảng 2 4 Nhận thức của giáo viên mầm non về kỹ năng xã hội của trẻ mẫu giáo 5- 6
tuổi 53
Bảng 2 5 Mức độ cần thiết giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 54
Bảng 2 6 Vai trò kỹ năng xã hội của trẻ MG 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 55
Bảng 2 7 Ý nghĩa của trò chơi dân gian đến giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi 58
Bảng 2 8 Mức độ ảnh hưởng của các thành tố trong trò chơi dân gian đến kỹ năng xã
hội của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi 60
Bảng 2 9 Thời gian tổ chức giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 63
Bảng 2 10 Hình thức tổ chức giáo dục KNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG 64
Bảng 2 11 Các kỹ năng xã hội của trẻ MG 5- 6 tuổi được giáo dục qua TCDG 66
Bảng 2 12 Mức độ biểu hiện kỹ năng xã hội của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 67
Bảng 2 13 Các biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 69
Bảng 2 14 Những khó khăn khi giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 71
Bảng 2 15 Đề xuất biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian của giáo viên mầm non 73
Bảng 3 1 Tiêu chí và thang đểm đánh giá kỹ năng xã hội của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian 91
Trang 9Bảng 3 3 Kết quả về mức độ kỹ năng thiết lập mối quan hệ tích cực với bạn và người khác của nhóm thử nghiệm giữa trước và sau thử nghiệm 94
Bảng 3 4 Kết quả về mức độ kỹ năng giải quyết vấn đề của nhóm thử nghiệm giữa trước và sau thử nghiệm 96
Trang 10trước và sau thử nghiệm 93
Biểu đồ 3 2 So sánh mức độ KN thiết lập mối quan hệ tích cực với bạn và người khác
của nhóm thử nghiệm trước và sau thử nghiệm 95
Biểu đồ 3 3 So sánh mức độ kỹ năng giải quyết vấn đề của nhóm 97
DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1 1 Quy trình hình thành kỹ năng xã hội 28
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Mục tiêu của giáo dục Mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, giúp trẻ “học làm người” và chuẩn bị tốt tâm thế cho trẻ bước vào học lớp một Với đặc thù của trẻ lứa tuổi mầm non (MN) là đang làm quen với thế giới tự nhiên và xã hội, trẻ bước vào cuộc sống xã hội với mọi thứ đều mới mẻ, cho nên đồng hành với việc dạy kiến thức cho trẻ, phải dạy các kỹ năng xã hội (KNXH)
cần thiết để tồn tại, ứng phó và thích nghi với cuộc sống hiện đại này vì “Rất nhiểu
bằng chứng trên thế giới cho thấy rằng nhiều kỹ năng tư duy, kỹ năng ngôn ngư, kỹ
năng xã hội và kỹ năng ứng xử được hình thành trong những năm đầu đời của trẻ
Nếu bạn muốn có một nền giáo dục công bằng, nếu bạn muốn mọi người đều tận dụng lợi thế từ nền kinh tế phát triển, nếu bạn muốn chống lại đói nghèo- phát triển giáo dục mầm non là một trong những công cụ hứa hẹn nhất” (Xiaoqing Yu, Giám đốc Ban
phát triển nguồn nhân lực của Ngân hàng Thế giới tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương)
Trong nghị quyết 161 của Thủ tướng Chính phủ về các chính sách phát triển giáo dục Mầm non, trong đó đã nhấn mạnh đến những chính sách hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Đặc biệt trong Chương trình Giáo dục Mầm non được ban hành theo Thông tư 17/2009 đã đưa ra nội dung giáo dục kỹ năng xã hội (GDKNXH) cho trẻ mẫu giáo (MG) 5- 6 tuổi [3, tr.34] Đồng thời Thông tư 23/2010 ban hành Quy định về Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, trong đó cũng đã đề ra các chuẩn là những mong đợi mà trẻ 5 tuổi biết và có thể làm được và các chỉ số là sự cụ thể hóa của chuẩn, mô tả những hành vi hay KNXH của trẻ [2, tr.3- 4]
Như vậy qua hai văn bản quy phạm pháp luật trên của Bộ giáo dục và Đào tạo cho thấy KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi là một tập hợp/nhóm những kĩ năng (KN) cần thiết và quan trọng để trẻ thích ứng, tồn tại và phát triển trong xã hội Giáo dục kỹ năng xã hội là một nội dung trong chương trình giáo dục mầm non Mục tiêu của
Trang 12GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi nhằm giúp trẻ tự tin, mạnh dạn, tự lực, linh hoạt, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị tốt cho việc học tập ở tiểu học và các cấp học sau
Tác giả Lê Bích Ngọc cũng nhận định “Trẻ 5-6 tuổi thích kết bạn mới, thích
chơi với bạn nhỏ hàng xóm Trẻ có thể hợp tác, nhận và hoàn thành nhiệm vụ, tôn
tr ọng quy tắc xã hội, giữ gìn đồ dùng đồ chơi, quý trọng đồng tiền Những kỹ năng này thúc đẩy sự phát triển trí lực, tinh thần trách nhiệm, tính tích cực, lạc quan, dễ thích
ứng với xã hội của trẻ” [26, tr.18] Chính vì vậy cần khẳng định rằng “Trẻ cần học
người xung quanh” [6, tr 6]
Lứa tuổi mầm non (MN) là giai đoạn nền tảng trong quá trình phát triển của
mỗi cá nhân Trẻ ở độ tuổi này cần được GDKNXH ở gia đình và trường MN Điều này sẽ đem lại hiệu quả cao “Những tác động giáo dục từ sớm sẽ mang lại hiệu quả
cao và tránh b ớt những sai phạm của quá trình tự mò mẫm, giúp cho cá nhân sớm định hình cách sống và đáp ứng tốt hơn với các yêu cầu, chuẩn mực xã hội” [5, tr.50]
Hoạt động chủ đạo của trẻ MG là hoạt động vui chơi đã chi phối đến toàn bộ các quá trình phát triển nhân cách của trẻ trong giai đoạn này Bên cạnh đó, cùng với
sự phát triển của khoa học kĩ thuật, khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ điện tử, tin học, làm xuất hiện một số trò chơi hiện đại, trò chơi điện tử có tác dụng mạnh mẽ
và trực tiếp đến nhu cầu vui chơi của trẻ, ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, cùng với đó là sự mất dần vai trò và vị thế của các trò chơi dân gian (TCDG) trong đời sống trẻ thơ trong giai đoạn hiện nay
Trò chơi dân gian phản ánh nét văn hoá cộng đồng của dân tộc, khu vực hoặc vùng miền vì thế việc tổ chức cho các em học sinh nhỏ chơi các TCDG là một trong những cách thức giáo dục, hình thành nét nhân cách mang bản sắc văn hoá dân tộc cho thế hệ trẻ hiện nay Thực hiện nhiệm vụ "giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm, niềm tự hào về việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc " ngày 17/11/2008 Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định về ngày văn hoá các dân tộc Việt Nam là ngày 19/ 04 hàng năm
Trang 13Trò chơi dân gian phản ánh khá phong phú và sinh động mối quan hệ của con người đối với thiên nhiên và xã hội Bản chất của trò chơi mang tính tập thể cao, cần
phải có sự hợp tác, tôn trọng, chấp nhận… nhau của trẻ khi chơi Nghĩa là, trẻ muốn tham gia vào trò chơi, muốn duy trì trò chơi thì phải biết thiết lập các mối quan hệ tích
cực với bạn khi chơi Như vậy, chính quá trình tham gia chơi TCDG cùng nhau, mà
những KNXH của trẻ được thể hiện, rèn luyện, điều chỉnh phù hợp với chuẩn mực xã
hội Tác giả Tô Ngọc Thanh đã nhận định “Về mặt chức năng xã hội, TCDG là một
trong nh ững hoạt động thể hiện và giáo dục thái độ văn hóa của con người đối với hai
m ối quan hệ chủ yếu của họ là con người- thiên nhiên và con người- xã hội” [27] Tác
giả Nguyễn Văn Huy cũng cho rằng: “Cuộc sống đối với trẻ em không thể thiếu những
trò chơi TCDG không đơn thuần là một trò chơi của trẻ con mà nó chứa đựng cả một
n ền văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc TCDG không chỉ nâng cánh cho tâm h ồn trẻ, giúp trẻ phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, sự khéo léo mà còn giúp các em hi ểu về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước…” [24]
“Hi ện nay, việc giáo dục kỹ năng xã hội đã được triển khai thông qua một số hoạt động theo chế độ sinh hoạt một ngày ở trường mầm non Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động này v ẫn còn một số hạn chế nhất định như: Nhiều nội dung giáo dục các hành vi tôn trọng
b ạn, tôn trọng người lớn, biết chia sẻ kinh nghiệm của mình với bạn, biết giải quyết mâu thu ẫn, chấp nhận ý kiến hợp lý của người khác… chưa được giáo viên thường xuyên chú
tr ọng giáo dục trẻ; Trong các hoạt động thực tế ở lớp có nhiều tình huống cần được giáo viên định hướng để trẻ giải quyết song một phần do sĩ số lớp đông, phần nữa là do giáo viên chưa thực sự sát sao nhắc nhở hay kịp thời giải thích, điều chỉnh giúp trẻ ở một số tình
hu ống; Hình thức và biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục của giáo viên chưa thực sự giúp
tr ẻ có nhiều cơ hội được trải nghiệm các tình huống khác nhau trong cuộc sống” [32] Đặc
biệt, vấn đề GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG nhìn chung chưa được giáo viên chú trọng và đầu tư
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng
Trang 14Quá trình giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ MG 5- 6 tuổi trong hoạt động vui chơi
của giáo viên mầm non (GVMN)
3 2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian
4 Gi ả thuyết nghiên cứu
Giáo dục KNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG chưa được GVMN quan tâm đầu tư tổ chức nên KNXH của trẻ còn nhiều hạn chế Do vậy, nếu GVMN vận dụng các biện pháp GDKNXH qua TCDG thì có thể sẽ phát triển KNXH cho trẻ MG 5- 6
tuổi lên mức độ cao hơn trong thời gian tới
5 Nhi ệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận của đề tài, làm sáng tỏ các khái niệm công cụ:
kỹ năng, kỹ năng xã hội, trò chơi dân gian, giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ MG 5- 6
tuổi, biện pháp giáo dục KNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
- Nghiên cứu thực tiễn nhằm khảo sát thực trạng biện pháp GDKNXH cho trẻ
MG 5- 6 tuổi qua TCDG ở một số trường MN tại TP.HCM
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
6 Gi ới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trang 15MN Măng Non II, MN Măng Non III, MN 19/5, MN Phường 1, MN Phường 2, MN Phường 3
+ Phỏng vấn 10 cán bộ quản lý và GVMN tại trường MN Họa Mi 2- quận 5, MN
Họa Mi 3- quận 5, MN 6- quận 3 ở TP HCM
+ Thử nghiệm một số biện pháp GDKNXH được đề xuất qua 8 TCDG trên 15 trẻ
MG 5- 6 tuổi tại trường MN Họa Mi 3- quận 5, TP HCM
7 Phương pháp nghiên cứu
7 1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
7.1.1 Mục đích
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản, làm sáng tỏ các khái niệm công cụ:
kỹ năng, kỹ năng xã hội, trò chơi dân gian, giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ MG 5- 6
tuổi, biện pháp giáo dục KNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
đó, xác lập cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2 1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a) Mục đích: Thu thập thông tin để đánh giá thực trạng về biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
b) Yêu cầu:
- Bảng hỏi tập trung vào các nội dung sau:
+ Nhận thức của GVMN về việc GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
Trang 16+ Thực trạng về thời gian, hình thức và nội dung tổ chức GDKNXH cho trẻ
MG 5- 6 tuổi qua TCDG ở các trường MN tại TP.HCM
+ Thực trạng về những biểu hiện KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG ở các trường MN tại TP.HCM
+ Thực trạng về biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG của GVMN ở các trường MN tại TP HCM
+ Những khó khăn khi tổ chức và đề xuất biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6
tuổi qua TCDG của cán bộ quản lý và GVMN
- Quy trình thực hiện:
+ Bước 1: Xây dựng bảng hỏi theo mục đích và nội dung đã đề ra
+ Bước 2: Phát phiếu điều tra cho 102 GV tại 12 trường MN ở TP HCM: MN Vàng Anh- quận 1, MN 6- quận 3, MN Tuổi Thơ 7 - quận 3, MN Họa Mi 2- quận 5,
MN Họa Mi 3 - quận 5, và 7 trường MN ở quận 10 là: MN Măng Non I, MN Măng Non II, MN Măng Non III, MN 19/5, MN Phường 1, MN Phường 2, MN Phường 3
+ Bước 3: Thu phiếu điều tra về, tiến hành xử lý số liệu và phân tích kết quả
7.2.2 Phương pháp quan sát sư phạm
a) Mục đích:
Phương pháp này được thực hiện nhằm ghi nhận những biện pháp mà giáo viên
sử dụng để GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG Cũng như ghi nhận những
biểu hiện KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG ở một số trường MN trong địa bàn nghiên cứu
b) Yêu cầu
Thu thập thông tin trực tiếp về:
+ Biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG để bổ sung hoặc so sánh với thông tin được trả lời trong phiếu điều tra
Trang 17+ Biểu hiện KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
- Nội dung quan sát
+ Quan sát biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG của GVMN + Quan sát biểu hiện KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
Sau khi thu thập số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành
phỏng vấn 10 cán bộ quản lý, GVMN dạy lớp Lá ở 3 trường MN: Họa Mi 2- quận 5,
Họa Mi 3- quận 5, Mầm non 6- quận 3 về:
+ Nhận thức của cán bộ quản lý, GVMN về KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi, TCDG, mối quan hệ giữa KNXH với TCDG
+ Thời gian, hình thức GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
+ Biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
+ Khó khăn khi tổ chức giáo dục và biện pháp đề xuất
- Cách thức thực hiện:
+ Bước 1: Xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn
Trang 18+ Bước 2: Gặp và phỏng vấn trực tiếp giáo viên, cán bộ quản lý
+ Bước 3: Xử lý và phân tích thông tin thu được
Phỏng vấn được tổ chức trong trường MN thuộc địa bàn nghiên cứu
7.2 4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
a) Mục đích:
+ Nhằm xem xét tính khả thi, thực tiễn của các biện pháp được đề xuất
+ Chứng minh giả thuyết nghiên cứu đã đề ra
b) Yêu cầu
+ Tiến hành thử nghiệm một số biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua
8 TCDG như: Đưa ra tình huống và giải thích KNXH mới; Làm mẫu hành động, hành
vi của KNXH mới với tình huống đã đặt ra; Cho trẻ thực hành KNXH qua tình huống khi chơi TCDG; Đánh giá việc thực hiện KNXH của trẻ qua lời khen, động viên, khích
lệ của cô
- Quy trình thử nghiệm gồm 3 bước
+ Bước 2: Đo đầu vào trước thử nghiệm
+ Bước 3: Triển khai thử nghiệm
+ Bước 4: Đo đầu ra sau thử nghiệm
7 3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp SPSS và một số công thức toán học thống kê như tính tỉ
lệ phần trăm, tính tỷ lệ trung bình,… làm cơ sở để phân tích định lượng, định tính số
liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 198 Đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa những công trình khoa học về GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi,
về TCDG và biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
- Làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ của đề tài
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ
HỘI CHO TRẺ MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
1.1 L ịch sử nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5-
6 tu ổi qua trò chơi dân gian
1.1.1.1 Trên th ế giới
Trong nhiều năm qua, vấn đề KNXH đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu Trong đề tài này, người viết xin đưa ra những công trình nổi bật như sau:
Giáo trình “Social skills curriculum K- 12” (Chương trình dạy kỹ năng xã hội
t ừ mẫu giáo đến lớp 12) của The York County School Division [65] Mục đích của
giáo trình này, nhằm cung cấp cho giáo viên, phụ huynh, các chuyên gia và sinh viên trình tự các KN cơ bản có thể dạy để thúc đẩy sự phát triển nhận thức của học sinh trong học tập, tình cảm và KNXH Các KNXH được đề cập trong hướng dẫn chương trình giảng dạy được phân loại thành bảy lĩnh vực: quản lý xung đột (Conflict Management); mối quan hệ ngang hàng (Peer Relationships); kỹ năng lớp học (School/Classroom Skills); cảm xúc và tự nhận thức (Feelings and Self-Awareness);
kỹ năng đàm thoại (Conversational Skills); kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem Solving Skills); ứng xử cộng đồng (Community Conduct) Trong mỗi KNXH, các tác
giả đã mô tả, phân tích thời điểm, địa điểm và lý do tại sao sử dụng KN đó, đồng thời
ở từng KNXH có kèm theo các chỉ số tương ứng
Nhóm tác giả Midge Odermann Mougey, Jo C Dillon, Denise Pratt là hiệu trưởng, giáo viên có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy học sinh ở Hoa kỳ đã viết và
xuất bản sách “More Tools for teaching Social Skills in School” (Công cụ dạy kỹ năng
xã h ội ở trường học) năm 2008 Họ đã đúc kết được 35 giáo án dạy học sinh 35 kỹ
năng, trong đó nhấn mạnh đến việc sử dụng trò chơi đóng vai (Role-Play) Tất cả các giáo án đều có cấu trúc giống nhau, bắt đầu với “Teacher Notes”, tức là phần ghi chú
Trang 21bao gồm thông tin cơ bản về một KN và sự liên quan của nó đến lớp học Sau phần ghi chú, nội dung được trình bày dưới hình thức của dạy học tương tác (Proactive Teaching Interaction) Nghĩa là giáo án giống như một kịch bản có thể được chỉnh sửa
để phù hợp với độ tuổi, mức độ phát triển của từng cá nhân học sinh Tiếp theo là phần
mô tả các hành vi hoặc các bước dạy KN được đánh số theo thứ tự Nhóm tác giả đã
đưa ra nhận định về giáo án trong sách “More Tools for Teaching Social Skills in
School “được thiết kế theo quan điểm “Lấy người học làm trung tâm” có nghĩa là giáo viên hướng vào học sinh nhằm phát triển tối đa các tiềm năng của mỗi học sinh để họ thành công hơn trong bất kể hoàn cảnh hay môi trường nào Thông qua việc dạy các KNXH, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những hành vi khác nhau để họ tự lựa
chọn, và qua đó sẽ nâng cao tính lành mạnh, hiệu quả khi dạy KNXH cho cả người
học và người dạy Giáo viên dạy học sinh cách tư duy mới, cách thức mới để cảm nhận
và hành xử tốt hơn Nhóm tác giả đã chứng minh hiệu quả của việc dạy các KNXH cho học sinh thì ngoài việc thực hành quản lý lớp học còn có thể làm giảm hành vi hung hăng và tăng sự tham gia học tập của học sinh Khi học sinh học cách thức sử
dụng các KN được trình bày trong cuốn sách này, họ có thể giúp giáo viên tạo ra môi trường học tập hiệu quả [62]
Cuốn sách “101 ways to teach children social skill” (101 cách dạy kỹ năng xã
h ội cho trẻ) của tác giả Lawrence E Shapiro [59] Trong cuốn sách này đã khái quát
các cách thức để dạy các KNXH cho nhiều đối tượng trẻ khác nhau, đặc biệt là những trẻ có vấn đề về xã hội như hung hăng, cô lập về mặt xã hội, hoặc nhút nhát Tác giả
đã khái quát các hoạt động nhằm phát triển KNXH trong khi tương tác với bạn bè
cùng tuổi, với cha mẹ và thầy cô giáo Tác giả đã đưa ra quan niệm “Các kỹ năng xã
hội được học hỏi tốt nhất trong một môi trường xã hội” Cuốn sách được chia thành
chín phần, bao gồm các hạng mục chính của phát triển KNXH Phần cuối của sách là các chỉ số tương ứng với các KNXH Công trình này đã mô tả, phân tích cấu trúc của chương trình giảng dạy các KNXH, các giáo án, nguồn tài nguyên để nghiên cứu các KNXH cụ thể cho trẻ em
Trang 22Tác giả Pat Broadhead đã viết cuốn sách “Early years play and learning:
Developing social skills and cooperation” (Chơi và học của trẻ em: Phát triển kỹ năng
xã hội và hợp tác) đã cung cấp cho trẻ một bộ công cụ hoàn hảo cho việc nhận xét và tham gia vào các trò chơi Cuốn sách này đã giúp cho các giáo viên, đặc biệt là GVMN
hiểu được mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển trí thông minh với sự phát triển ngôn
ngữ và đạt được trạng thái tốt về cảm xúc [63]
Nhóm tác giả Linda S Kekelis, Sharon Z.Sacks, Karen E Wolffe với công
trình nghiên cứu “Focused on: Importance and Need for Social skills” (Tập trung vào:
tầm quan trọng và nhu cầu của kỹ năng xã hội) [58] Modul một của công trình
nghiên cứu gồm bốn phần Phần thứ nhất của công trình khoa học này đã tổng quan về
tầm quan trọng của KNXH, trình bày chi tiết quá trình phát triển KNXH ở trẻ nói chung và trẻ khiếm thị nói riêng Sau đó là phần thứ hai tổng quan về cơ sở lý luận cho
việc dạy các KNXH là phần tổng hợp bốn học thuyết chính về phát triển KNXH (học thuyết phân tâm học; học thuyết xác định xã hội; học thuyết học tập xã hội; học thuyết phát triển nhận thức) Phần thứ ba thảo luận về các nhu cầu đặc biệt của trẻ khiếm thị
và đặc biệt trong việc dạy KNXH cho các em Phần cuối cùng khái quát một số thách
thức mà các chuyên gia, giáo viên gặp phải trong việc dạy các KNXH cho nhóm trẻ này
Ngoài ra, còn có module hai “Focused on: Teaching social skills to Visually
impaired preschoolers” (Tập trung vào: dạy kỹ năng xã hội cho trẻ khiếm thị mầm non) [57] Module thứ hai tập trung vào kỹ thuật đánh giá các KNXH của trẻ MN khiếm thị Module này mô tả sự phát triển KNXH của trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi, tác động của suy giảm thị lực trên các tương tác sớm của trẻ với cha mẹ ở gia đình cũng như trong các nhà trẻ, trường MG Phần đầu của module giới thiệu cho người đọc vai trò của thị lực trong tương tác sớm và đưa ra gợi ý để giúp cha mẹ và chuyên gia hiểu các nhu cầu đặc biệt của trẻ khiếm thị Phần thứ hai mô tả môi trường xã hội của các nhóm bạn cùng tuổi, trình bày ý tưởng để giúp trẻ khiếm thị thiết lập và duy trì tình
bạn Phần cuối tập trung vào những thách thức đặc biệt và cơ hội cho trẻ khiếm thị trong thiết lập nhóm bạn ở nhà trẻ và trường MG
Trang 23Chương trình Giáo dục Mầm non (2009) và Bộ chuẩn phát triển trẻ em năm
tu ổi (2010) của Bộ giáo dục và Đào tạo Đây là hai cơ sở pháp lý đóng vai trò kim chỉ
nam trong GDKNXH cho trẻ MN nói chung và trẻ MG 5- 6 tuổi nói riêng Trong đó, lĩnh vực phát triển tình cảm và KNXH là một trong năm lĩnh vực cần giáo dục cho trẻ
MG 5- 6 tuổi được Bộ giáo dục và Đào tạo đưa ra trong Chương trình giáo dục mầm non hiện hành [3, tr.33- 35], và trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi [2, tr.3- 4]
Cũng trong năm 2010, nhà xuất bản Giáo dục phát hành cuốn sách “Giáo dục
k ỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc Cuốn sách được viết
dành cho các bậc phụ huynh có con từ 5 đến 6 tuổi ở vùng nông thôn Đây cũng là tài
liệu tham khảo bổ ích cho các giáo viên MG Cuốn sách được biên soạn theo hướng phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ, nhằm cung cấp cho trẻ những tri thức về giáo
dục KN sống với bảy KN, và KNXH là một trong bảy KN sống đó Trong phần giáo
dục những KNXH, tác giả đã giới thiệu một số KN và nội dung giáo dục tương ứng:
KN hợp tác; KN nhận và hoàn thành nhiệm vụ; KN thực hiện các quy tắc xã hội; KN
giữ gìn đồ dùng, đồ chơi; KN quý trọng đồng tiền [26, tr.18- 24]
Hai tác giả Lương Thị Bình, Phan Lan Anh với cuốn sách “Các hoạt động giáo
d ục tình cảm và kỹ năng xã hội cho trẻ mầm non” (2011) đã gợi ý những hoạt động
giáo dục phát triển tình cảm, KNXH cho trẻ MN Dựa vào các hoạt động gợi ý trong
cuốn sách này, giáo viên có thể lựa chọn hoặc sáng tạo thêm những hoạt động khác phù hợp với chủ đề trong quá trình giảng dạy và điều kiện thực tiễn của trường, lớp, địa phương Ngoài ra, công trình cũng đề cập đến những vấn đề khác như: đặc điểm phát triển tình cảm, xã hội của trẻ MN; vai trò của sự phát triển tình cảm và KNXH đối
với việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ MN; phương pháp và hình thức tổ
chức các hoạt động phát triển tình cảm, KNXH cho trẻ MN [6]
Trang 24Vào năm 2013, Bộ giáo dục và Đào tạo đã công bố cuốn “Tài liệu bồi dưỡng
thường xuyên theo các cấp học” với nôi dung chính: Đặc điểm phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội, mục tiêu và kết quả mong đợi ở trẻ mầm non về tình cảm, kỹ năng xã hội
do tác giả Nguyễn Thị Thu Hà chủ biên Công trình đã đưa ra khái niệm về tình cảm, KNXH; đặc điểm phát triển tình cảm, KNXH của trẻ qua từng độ tuổi, nội dung giáo
dục và mục tiêu cần đạt được; gợi ý một số phương pháp và hoạt động giáo dục [5]
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục Việt Nam đã nghiên
cứu đề tài “Giáo d ục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo ở gia đình” từ 5/2008 đến
5/2010 Đề tàiđề xuất một số KNXH cần phải giáo dục cho trẻ lứa tuổi MG như: KN ứng xử phù hợp với những người gần gũi xung quanh; KN hợp tác; KN nhận và hoàn thành nhiệm vụ; KN tuân thủ các quy tắc xã hội; KN giao tiếp lịch sự, lễ phép; KN tự phục vụ Đồng thời, đề tài cũng đề xuất một số biện pháp để GDKNXH cho trẻ MG ở gia đình như: Làm gương; Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động chung; Khen ngợi, động viên kịp thời; Trò chuyện thường xuyên với trẻ; Tạo môi trường gia đình vui vẻ, hạnh phúc [49] Bên cạnh đó, Viện khoa học giáo dục Việt Nam đã nghiệm thu
đề tài“Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi ở trường
m ầm non”, do tác giả Chu Thị Hồng Nhung làm chủ nhiệm bảo vệ vào năm 9/2014
Đề tài đã chỉ ra được một số hạn chế trong công tác tổ chức hoạt động GDKNXH cho
trẻ 5- 6 tuổi tại một số trường MN ở Hà Nội như: nhiều nội dung giáo dục chưa được giáo viên thường xuyên chú trọng; một số tình huống giáo viên xử lý chưa thỏa đáng; hình
thức và phương pháp tổ chức chưa thực sự giúp trẻ có nhiều cơ hội được trải nghiệm các tình huống khác nhau trong cuộc sống Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đề tài đã bước đầu đề xuất 4 biện pháp tổ chức hoạt động GDKNXH cho trẻ Đó là các biện pháp:
Lập kế hoạch tổ chức hoạt động GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi; Xây dựng hệ thống bài
tập tình huống để GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi; Tăng cường vốn sống, vốn kinh nghiệm cho trẻ MG về các mối quan hệ xã hội; Phối hợp với gia đình trong việc GDKNXH cho trẻ
MG [32]
Công trình nghiên cứu có thể đề cập tiếp theo là “Thực trạng giáo dục kỹ năng
xã hội cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động vui chơi ở một số trường mầm non tại Thị xã
Trang 25Dĩ An” (12/2014) do tác giả Lê Thị Hồng Thủy làm chủ nhiệm Đề tài đã chứng minh
được mối quan hệ biện chứng giữa KNXH và hoạt động vui chơi, bước đầu đưa ra khái niệm về biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi trong hoạt động vui chơi, cũng như đề xuất 9 biện pháp giáo dục và khảo sát lấy ý kiến thì hầu hết GVMN nhận định các biện pháp được nghiên cứu trong đề tài là rất cần thiết và áp dụng được vào thực tiễn [41]
Tóm lại, điểm qua một số công trình nghiên cứu khoa học trên, chúng tôi nhận thấy, vấn đề GDKNXH đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, đây sẽ là nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài
“Biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong trò chơi dân gian”
1.1.2.1 Trên thế giới
Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã khẳng định việc giáo dục và phát triển các KNXH của trẻ MG được thực hiện thông qua hoạt động (vui chơi, học tập, lao động), trong đó vui chơi giữ vai trò chủ đạo
Thực tế cho thấy hoạt động vui chơi nói chung, TCDG nói riêng từ lâu đã cuốn hút sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học Vấn đề lý luận, phương pháp tổ chức trò chơi nói chung, TCDG nói riêng được các nhà sư phạm trên thế giới và Việt Nam quan tâm,
bởi lẽ họ thấy được ý nghĩa đích thực của trò chơi trong việc giáo dục cho trẻ
Tác giả Susan M Durojaiye với công trình nghiên cứu “Children’s traditional
games and rhymes in three cultures” ( Trò chơi dân gian của trẻ em trong 3 nền văn hóa) (1977) đã khẳng định: Trẻ em ở các nền văn hóa khác nhau với những ngôn ngữ khác nhau vẫn vui thích với những TCDG, vui thích với việc đọc, thưởng thức giai điệu, nhịp điệu của những bài đồng dao, những hoạt động chơi gần gũi, phù hợp với các trẻ em trên thế giới, đặc biệt là ở nước Anh, Nigeria và Uganda [64]
Trang 26Một nghiên cứu mới của Viện giáo dục, Đại học East London và Đại học
Sheffield, đó là “Traditional games get a modern twist in today’s school playgrouds”
(Trò chơi dân gian trong sân chơi của trường học hiện đại ngày nay) (2007- 2012)
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng: Bên cạnh những trò chơi hiện đại, TCDG vẫn
giữ được giá trị giáo dục, đặc biệt là về giáo dục tình cảm và KNXH đối với trẻ MG
Giáo sư Jackie Marsh của Đại học Sheffield cho biết “Trẻ em ngày nay có điều kiện
ti ếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại, nhưng lại không có điều kiện tiếp
c ận với văn hóa xã hội, chính TCDG sẽ là phương tiện giúp trẻ thực hiện được điều này” [55]
Hai tác giả V Kim và VP Krasilnikoy với công trình nghiên cứu “The concept
of formation and development of traiditional games and competitions indigenous peoples of Siberia” (Khái ni ệm trò chơi dân gian và trò chơi thi đấu truyền thống của người dân Siberi) của trường Tyumen State Unversity, và trường Russian State
Vocational pedagogica Unversity, Yekaterinburg đã khẳng định: TCDG và những
cuộc thi đấu truyền thống là cầu nối giữa các nền văn hóa ở quá khứ, hiện tại và tương lai của các dân tộc bản địa ở vùng Siberia Và mục đích chính của công trình nghiên
cứu này, đó là: Đưa ra khái niệm về sự hình thành, phát triển các TCDG và những
cuộc thi đấu truyền thống của người dân tộc thiểu số ở vùng Siberia như là hệ thống các bài tập thích hợp cho việc giáo dục thể chất [66]
Nhóm tác giả Hakimeh Akbari, Behroz Abdoli, Mohsen Shafizadeh, Hasan Khalaji, Samaneh Hajihosseini, Vahid Ziaee với công trình nghiên cứu “The Effect of Traditional Games in Fundamental Motor Skill Development in 7- 9 Year Old Boys” (2009), mục đích chính của công trình nhằm điều tra tác động của TCDG lên những
KN vận động cơ bản đối với bé trai từ 7- 9 tuổi Và kết quả của nghiên cứu đã chững minh được rằng các TCDG có tác động đáng kể vào sự phát triển các KN vận động cơ
bản hơn là các hoạt động hàng ngày Từ đó, các tác giả đi đến kết luận: Việc sử dụng
129]
Trang 271.1.2.2 Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu trò chơi nói chung và TCDG Việt Nam nói riêng đã được một
số nhà văn hoá, nhà giáo dục Việt Nam sưu tầm, nghiên cứu Theo tác giả Đinh Văn Vang “Đến tuổi mẫu giáo, chơi trở thành một hoạt động chủ đạo, ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển mọi mặt trong đời sống tâm lý nhân cách của trẻ Chính vì lẽ đó, các nhà giáo d ục sử dụng trò chơi như là phương tiện để giáo dục toàn diện cho trẻ em”
[48, tr.19]
Có thể kể đến một số sách viết về TCDG trẻ em Việt Nam dưới dạng sưu tầm
các trò chơi như: “Trò chơi dân gian” của tác giả Nguyễn Thanh Thảo [38]; “100 trò
chơi dân gian Việt Nam” tập 1, 2 của tác giả Nguyễn Hạnh [12]; “150 trò chơi dân gian Vi ệt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng [17]; “Văn hóa dân gian người Việt”
của tác giả Vũ Ngọc Khánh [20]…
Ở khía cạnh phân loại các TCDG cho trẻ em, chúng tôi có thể kể đến một số công trình như:
- Tác giả Nguyễn Quang Khải trong công trình “Những trò chơi của trẻ em
nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trước 1945” [19] Ông chia ra bốn hoạt động vui chơi
tương đương với 4 chương sách:
+ Những trò chơi có diễn xướng đi kèm với hát đồng dao và những trò chơi có hát đồng dao nhưng không di kèm với diễn xướng
+ Hát đồng dao, hát vè, hát ru, đố vui
+ Những hoạt động sáng tạo ra đồ chơi
+ Những hoạt động vui chơi bằng cách mô phỏng một số công việc của người
lớn
Chúng tôi chú ý đến Chương I với tên “Các trò chơi” vì chương này chia trò chơi trẻ em thành bốn loại nhỏ: Trò chơi có tính chất diễn xướng; Trò chơi có tính chất thi tài; Trò chơi có tính chất đấu sức và tính can đảm; Một số trò chơi có tính chất giáo
dục
Trang 28- Nhóm tác giả Phạm Vĩnh Thông, Phạm Mạnh Tùng, Phạm Hoàng Dương trong cuốn “Trò chơi dân gian của trẻ em Việt Nam” [39] đã chọn cách phối hợp giữa
rèn luyện các KN vận động và phát triển các tố chất thể chất, phân loại các trò chơi thành sáu nhóm:
+ Nhóm trò chơi khởi đầu
+ Nhóm trò chơi phát triển trí tuệ
+ Nhóm trò chơi dưới nước
+ Nhóm trò chơi rèn luyện sức mạnh- khéo léo
+ Nhóm trò chơi chạy- nhảy
+ Nhóm trò chơi rèn luyện hơi thở
Cách phân loại này thể hiện sự ưu việt, song theo chúng tôi, do còn xen lẫn nhiều trò chơi hiện đại nên những trò chơi thuần túy dân gian chưa phải là đối tượng
để cho ra cách phân loại riêng
Tác giả Trần Hoà Bình, Bùi Lương Việt “Trò chơi dân gian trẻ em” [7] Trên
cơ sở nghiên cứu TCDG, hai tác giả này đã sưu tầm và phân loại TCDG trẻ em theo
chức năng giáo dục như: trò chơi trí tuệ, trò chơi thẩm mĩ, trò chơi thể lực
Điều đáng lưu ý là TCDG luôn gắn liền với các bài đồng dao, vì vậy nó thu hút được sự quan tâm của các nhà thơ, nhà văn Họ đã sưu tầm và biên soạn rất nhiều bài đồng dao phục vụ cho các TCDG của trẻ như: nhóm tác giả Nguyễn Thuý Loan, Đặng
Diệu Trang, Nguyễn Huy, Trần Hoàn sưu tập và biên soạn “Đồng dao và trò chơi trẻ
em người Việt”, “Bé với khúc đồng dao” của Nhà xuất bản Giáo dục Tác giả Hoàng
Công Dụng có cuốn “Đồng dao và trò chơi dân gian cho trẻ mầm non” [10] Chính
nội dung của những bài đồng dao đã góp phần phát triển ngôn ngữ, mở rộng vốn hiểu
biết cho trẻ về môi trường xung quanh và phát triển óc sáng tạo đặc biệt nó làm tăng tính hấp dẫn của TCDG với trẻ
Trang 29Trò chơi dân gian thật phong phú, đa dạng và có ý nghĩa sâu sắc trong việc giáo
dục trẻ Vì vậy, nó được các nhà tâm lý, giáo dục quan tâm nghiên cứu tiêu biểu như: tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với các cuốn sách “Trò chơi của trẻ em” [44], “Tổ chức
hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi” [46], “Giáo dục học mầm non- những vấn đề lý luận và
th ực tiễn” [43]; Tác giả Đinh Văn Vang với “Giáo trình tổ chức hoạt động vui chơi cho tr ẻ mầm non” [48]; tác giả Mai Văn Muôn với “Trò chơi xưa và nay” [25]; tác giả
Vũ Kim Yến với “Hướng dẫn tổ chức trò chơi dân gian trong nhà trường” [51]; tác
giả Phạm Lan Oanh với cuốn sách“Kho tàng trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam” [33];
“Trò chơi dân gian và truyền thống” của Trung tâm Văn hóa TP.HCM [47] Với
những công trình kể trên, các tác giả đã chia ra hai phần: Phần một trình bày những
lý luận về TCDG (khái niệm, nguồn gốc, đặc điểm, phân loại, vai trò của nó đối với
sự phát triển toàn diện của trẻ và hướng dẫn tổ chức TCDG); phần hai giới thiệu
một số TCDG cho trẻ Đây chính là những nguồn tài liệu giúp GVMN thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục
Để TCDG trở thành một trong những phương tiện giáo dục và phát triển toàn
diện cho trẻ MN, trong những năm gần đây có một số tác giả đi sâu nghiên cứu
biện pháp tổ chức TCDG cho trẻ MG như tác giả Huỳnh Kim Vui với “Một số biện
pháp t ổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo bé nhằm nâng cao hiệu quả giáo
d ục thể chất cho trẻ” [59]; tác giả Nguyễn Thị Hương Giang “Biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằm giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi dân
t ộc H’Mụng” [11]; tác giả Trần Thị Hải Yến “Một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nh ằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo lớn” [52]; tác
giả Nguyễn Thị Thanh Nguyệt “Biện pháp tổ chức trò chơi dân gian nhằm phát
tri ển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi” [31]
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể quan tâm đến một số công trình nghiên cứu khoa học vận dụng TCDG như là một phương tiện để giáo dục trẻ Chẳng hạn, tác
giả Lê Anh Thơ “Nghiên cứu sử dụng một số trò chơi vận động dân gian trong
giáo d ục thể chất cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi” [40] đã đề cập đến vấn đề sử dụng
TCDG như là một phương tiện phát triển vận động cho trẻ trên cơ sở nghiên cứu, triển khai thực nghiệm một số TCDG vận động phát triển vận động cho trẻ MG giai
Trang 30đoạn 4- 5 tuổi; Tác giả Lê Thị Ninh với công trình “Một số nguyên tắc cải tiến trò
chơi dân gian Việt Nam cho trẻ mẫu giáo” [28] theo hướng nghiên cứu cải tiến
nguyên tắc trong sử dụng một số TCDG đối với trẻ nhỏ nhằm kích thích hứng thú
hoạt động của trẻ; Ở khía cạnh tiếp cận văn hóa dân gian tác giả Đỗ Thị Hòa đã
mạnh dạn đưa ra một cách nhìn về vai trò của TCDG và việc bảo tồn loại hình trò
chơi này trong giai đoạn hiện nay “Một vài kiến nghị về việc bảo tồn các trò chơi
dân gian tr ẻ em trong nhà trường hiện nay” [14]
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, từ trước đến nay trò chơi nói chung, TCDG nói riêng được sử dụng nhiều trong các trường MN Việt Nam và được coi là một bộ phận quan trọng trong chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ MN Nhưng trên thực tế giáo viên chưa khai thác hết chức năng của các loại trò chơi, đặc biệt là TCDG nhằm mục đích GDKNXH cho trẻ MG
Trò chơi dân gian hiện nay đang dần mai một đi, trẻ có ít cơ hội được chơi
những TCDG cổ truyền, được tiếp xúc với nền văn hoá của các thế hệ, mở rộng vốn
hiểu biết về cuộc sống Trước tình hình này đòi hỏi các nhà nghiên cứu, các GVMN
cần tiếp tục nghiên cứu nhằm tìm ra các biện pháp thích hợp để khai thác tiềm năng
của TCDG trong quá trình giáo dục trẻ MN Tuy đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu về vai trò của trò chơi nói chung, TCDG nói riêng với sự phát triển của trẻ, để TCDG trở thành món ăn tinh thần, một phương tiện GDKNXH cho trẻ nói chung và
trẻ MG 5- 6 tuổi nói riêng, thì việc nghiên cứu “Biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội
tiễn ở trường MN hiện nay
1.2 Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi qua trò chơi dân gian
1.2.1 K ỹ năng
Trong lịch sử nghiên cứu về KN, các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra hai cách đặt vấn đề khác nhau đối với khái niệm KN
Trang 31Cách thứ nhất, xem KN nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, hành động, hoạt động Đại diện có các tác giả: Ph.N.Gonobolin, J.P.Chaplin, V.A Kruchetxki, A.G.Covaliop, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Hữu Nghĩa, Bùi Ngọc Oánh…
Từ điển Tâm lí học của Mĩ do J.P.Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa, “Kĩ
năng là thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi
ch ảy và đúng đắn” [37, tr.17]
Tác giả Ph.N.Gonobolin cho rằng: “Kỹ năng là những phương thức tương đối
hoàn ch ỉnh của việc thực hiện những hành động bất kỳ nào đó Các hành động này được hình thành trên cơ sở các tri thức và kỹ xảo – những cái được con người lĩnh hội trong quá trình ho ạt động” [1]
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh đều thống
nhất “Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt trước trên cơ sở của tri
th ức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý,
c ần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng cho biết, KN có những
đặc điểm khác nữa là “Hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác
nên vai trò ki ểm soát của thị giác là quan trọng” [30]
Theo cách đặt vấn đề thứ nhất, KN được xem là phương tiện thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững, người
có KN hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện theo đúng yêu cầu của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động Với quan
niệm này có thể nhận thấy KN là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động, có KN
Cách thứ hai, xem KN là biểu hiện năng lực của con người Đại diện có các tác
giả: Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, N.D.Levitov, A.V.Petrovxki…
Theo từ điển Giáo dục học, KN là “Khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt
động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù
đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [15, tr.220]
Trang 32Theo từ điển Tâm lý học của Vũ Dũng, KN là “Năng lực vận dụng có kết quả
nh ững tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhi ệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn c ảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải
t ập trung chú ý căng thẳng Kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [9]
Từ điển tiếng Nga (1968) định nghĩa “Kỹ năng là khả năng làm một cái gì đó,
kh ả năng này được hình thành bởi tri thức, kinh nghiệm” [37]
Tác giả A.V.Petrovxki thì cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể
th ực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức thu lượm được, những thói quen và kinh nghi ệm” Cụ thể hơn, tác giả viết “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri
th ức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính
b ản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng” [34]
Tác giả N.D Levitov quan niệm “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động
tác nào đó hay một hành động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách
th ức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định” [22, tr.29) Theo ông, người có
khả năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Levitov cho rằng, để hình thành KN, con người không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tiễn
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả
m ột hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có
để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kĩ năng không chỉ đơn thuần về
m ặt kĩ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [37, tr.19]
Như vậy, với cách đặt vấn đề thứ hai, chúng tôi nhận thấy rằng, KN không chỉ
là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực Một người có KN hành động là phải nắm
bắt được cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có hiệu quả KN của một người không phải tự nhiên mà có, nó phải thông qua rèn luyện, luyện tập thường
Trang 33xuyên thì mới có được Và khi xem xét KN là biểu hiện năng lực của con người thì nó
vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và có tính mục đích
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm KN của tác giả Huỳnh Văn Sơn được trình bày trong quyển “Phát triển kỹ năng mềm cho Sinh viên Đại học Sư
phạm” (2012): “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó
do sau đây:
Thứ nhất, người có KN là người cần có những điều kiện sau:
- Phải nắm bắt được cách thức thực hiện hành động, tức là cần có tri thức và kinh nghiệm về vấn đề muốn giải quyết
- Phải vận dụng đúng đắn và phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, tức là tính
mềm dẻo, linh hoạt của KN
- Phải đạt được kết quả theo mục đích đã đề ra, tức là tính mục đích của KN
Thứ hai, khi đánh giá KN thì dựa vào các chỉ báo của tác giả Nguyễn Đức Hưởng về đánh giá mức độ thành thạo của KN Các chỉ báo này cần sử dụng tổng hợp, không nên sử dụng một chỉ báo đơn lẻ để tránh sự sai lệch Các chỉ báo đó là: [18]
- Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động
- Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động
- Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác cấu thành hành động
- Hiệu quả của hành động
Mặc dù các nhà nghiên cứu phân chia các mức độ của KN là không giống nhau, nhưng đa số các tác giả đều chia KN thành năm mức độ từ KN ban đầu đến KN phát triển đạt ở mức độ hoàn hảo
Trang 34Trong Từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lí học của Nga và cũng là quan niệm
của K.K Platonov và G.G Golubev, đã chia năm mức độ của KN [37, tr.22]
- Mức độ 1: có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo phương thức thử- sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
- Mức độ 2: biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
- Mức độ 3: có những KN chung nhưng còn rời rạc, riêng lẻ
nhất định Tuy nhiên, ở mức độ này, cần có sự hướng dẫn của người dạy để người học
thực hiện những yêu cầu của KN
- Mức độ hai- KN mức thấp: người học tự thực hiện những thao tác, hành động
cần thiết theo một trình tự đã biết Tuy nhiên, những hành động, thao tác này chỉ thực
hiện được trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được khi qua những tình huống mới
- Mức độ ba- KN trung bình: người học tự thực hiện thành thạo những thao tác
đã biết trong những tình huống quen thuộc Nhưng việc di chuyển sang những tình
Trang 35Trong đề tài này, dựa vào năm mức độ KN của V.P Bexpalko để làm thang điểm đánh giá những biểu hiện KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
Theo tác giả A.V Petrovxki thì quá trình hình thành KN được chia làm 3 bước [21]
- Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
Mục đích được thể hiện thông qua kết quả của hành động, và nó định hướng cho hành động Nếu chỉ dừng ở đây thì chưa có KN, mà chủ thể mới chỉ có tri thức về hành động Vậy, phải cần có bước 2
- Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử mẫu
Chính giai đoạn này mới tiến tới hình thành KN, giúp chủ thể đối chiếu với tri
thức về hành động ở bước 1 Tiến hành thao tác để giảm bớt sai sót trong quá trình hành động để đạt kết quả
- Bước 3: Luyện tập để thực hiện các hành động đúng theo yêu cầu, điều kiện hành động nhằm đạt được mục đích đề ra
Ở bước 3, các tri thức được củng cố nhiều lần, các thao tác được ôn luyện có hệ
thống Nhờ đó kết quả của hành động đạt được chắc chắn hơn KN chỉ thực sự ổn định khi chủ thể hành động có kết quả trong những hoàn cảnh khác nhau Và việc luyện tập đạt được kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện luyện tập, đặc biệt là sự nổ lực
của bản thân
Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng 3 bước hình thành KN của tác giả A.V Petrovxki để làm cơ sở đề xuất biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG
Trang 361.2.2 K ỹ năng xã hội
Có nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu KNXH trong và ngoài nước Theo Từ điển mở, “Kỹ năng xã hội là bất kì những kĩ năng tạo điều kiện tương
tác và giao ti ếp hiệu quả với người khác Quy tắc xã hội và các mối quan hệ được tạo
ra, truy ền đạt, và thay đổi trong giao tiếp bằng lời và không lời Quá trình học tập
nh ững kỹ năng này được gọi là xã hội hóa.” [69]
Nhưng có quan điểm lại cho rằng “Kỹ năng xã hội là việc có thể linh hoạt điều
ch ỉnh hành vi của mình để phù hợp với tình hình cụ thể và nhu cầu, mong muốn của cá nhân” [67]
Các tác giả Kathlyn M Steedly, Ph.D Amanda, Michael Levin và Stephen D
Luke đăng trong Evidence of education, tập III, số 2 năm 2008 thì đều thống nhất “Kỹ
năng xã hội không phải là những điều tương tự như hành vi Thay vào đó, nó là thành
ph ần của hành vi, giúp một cá nhân hiểu và thích nghi trên một loạt các thiết lập xã
h ội” Walker (1983) định nghĩa KNXH là “Một tập hợp các năng lực cho phép một cá nhân b ắt đầu và duy trì các mối quan hệ xã hội tích cực, đóng góp để bạn bè chấp
nh ận và hài lòng với những đánh giá ở trường, cho phép cá nhân thích ứng có hiệu
qu ả với môi trường xã hội lớn hơn” [68]
Theo tổ chức WHO thì KNXH bao gồm các KN cụ thể như KN giao tiếp- truyền thông, KN cảm thông, KN chia sẻ, KN hợp tác, KN gây thiện cảm, KN thích ứng với cảm xúc của người khác…[36, tr.8] Kỹ năng xã hội là một trong ba nhóm kỹ năng sống của con người bao gồm: kỹ năng cảm thông, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng hợp tác,…
Hai tác giả Lương Thị Bình và Phan Lan Anh cho rằng KNXH là “Kỹ năng
thích ứng và duy trì các mối quan hệ xã hội” [6, tr.7]
Quan điểm của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà về KNXH là “Những cách thức giải
quy ết các vấn đề trong cuộc sống xã hội nhằm giúp con người thích nghi và phát triển
t ốt hơn” [5, tr.52]
Trang 37Như vậy từ khái niệm KN mà đề tài đã đưa ra ở mục 1.2.1.1 và các quan điểm
về KNXH của các tác giả như trên, chúng tôi cho rằng: “Kỹ năng xã hội (KNXH) là
Từ khái niệm KNXH mà chúng tôi đã đưa ra, thì KNXH của trẻ MG 5- 6 tuổi là
đề trong cuộc sống xã hội khi trẻ giao tiếp, tương tác với người khác bằng ngôn từ
Giống như kỹ năng, kỹ năng xã hội của trẻ MG 5- 6 tuổi không tự nhiên mà có,
nó phải trải qua rèn luyện, luyện tập thường xuyên mới được hình thành, nghĩa là trẻ
có thể học KNXH Có trẻ thì học các KNXH dễ dàng và nhanh chóng, trong khi những
trẻ khác thì tìm thấy sự tương tác xã hội lại khó khăn hơn Quá trình học các KNXH được gọi là quá trình xã hội hóa (Socialzation) Quá trình tương tác với các vấn đề xã
hội cũng giúp trẻ củng cố các KNXH Những trẻ có KNXH thường mở rộng các mối quan hệ, và trẻ có thể giao tiếp với những người xung quanh– nói cách khác, trẻ có sở trường tạo ra tình trạng đồng thuận Những trẻ này hoàn toàn có khả năng hội nhập và thích nghi tốt với những môi trường sống khác nhau Do đó, GDKNXH muốn đạt được hiệu quả cao cần được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ không chỉ trong nhà trường,
mà cả ở gia đình và ngoài xã hội
Nhóm tác giả Mary E Brady, James S Leffer, Laurie J Hudson, Gary N Siperstein của Đại học Massachusetts Boston trong công trình nghiên cứu “Social
skills tool for teacher” đã xây dựng mô hình nhận thức xã hội với 6 KN tương ứng: nhận biết hành vi xã hội; hiểu hành vi xã hội; xác định các mục tiêu xã hội liên quan; xác định các chiến lược để đạt được mục tiêu; thực hiện các chiến lược; đánh giá
kết quả [61]
Trang 38Mô hình nh ận thức kỹ năng xã hội
Sơ đồ 1 1 Quy trình hình thành kỹ năng xã hội
Chúng tôi nhận thấy 6 bước hình thành KNXH ở mô hình nhận thức xã hội ở trên có sự tương đồng với 3 bước hình thành KN của tác giả tác giả A.V Petrovxki Như vậy, một KNXH mới được hình thành và phát triển ở trẻ, phải bắt đầu từ việc trẻ
nhận biết được KNXH mới đó thông qua việc giáo viên giải thích, làm mẫu các hành
vi của đối tượng để trẻ hiểu được lý do tại sao phải làm như vậy Từ đó, trẻ xác định các mục tiêu xã hội và các KNXH có liên quan, đồng thời dự đoán khả năng phản ứng
của người khác và kết quả đạt được Trên cơ sở đó, trẻ sẽ quyết định một chiến lược hành động để đạt được mục tiêu xã hội, khi đã có chiến lược thực hiện thì trẻ tiến hành hành động, cuối cùng người lớn và trẻ đánh giá kết quả nhằm củng cố (khái quát hóa)
lại các thao tác, hành động của KNXH mới
Trong đề tài này, chúng tôi vận dụng mô hình nhận thức xã hội trên vào công tác GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG Cũng như dựa vào mô hình này, chúng tôi đề xuất các biện pháp GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi qua TCDG để tiến hành khảo sát thực trạng ở chương 2 và thử nghiệm trong chương 3
1 Nhận biết và hiểu hành vi xã hội
(Nhận thức xã hội)
2 Xác định các mục tiêu
5 Đánh giá kết quả
Trang 391.2.2.3 N ội dung giáo dục kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Nội dung GDKNXH cho trẻ MG 5 - 6 tuổi nằm trong lĩnh vực phát triển tình
cảm và KNXH – một trong bốn lĩnh vực phát triển được xác định trong chương trình giáo dục mầm non của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2009 Trong chương trình đã xác định hai nội dung GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi [3, tr.34- 35], đó là:
- Hành vi và quy tắc ứng xử xã hội trong sinh hoạt ở gia đình, trường lớp mầm non, cộng đồng gần gũi:
- Quan tâm đến môi trường: Tiết kiệm điện, nước; giữ gìn vệ sinh môi trường;
bảo vệ chăm sóc con vật và cây cối
Theo Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và GVMN của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm 2012- 2013 thì nội dung GDKNXH của trẻ Mẫu giáo 5-6
tuổi gồm: [4]
- Kỹ năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh: Lễ phép với người trên; quan tâm, nhường nhịn em nhỏ; quan tâm, giúp đỡ bố mẹ những việc vừa sức
- Kỹ năng hợp tác: Thể hiện sự thân thiện, hòa thuận với bạn bè; chia sẻ và giúp
đỡ bạn khi cần thiết; cùng bạn hoàn thành một việc đơn giản; tìm kiếm sự giúp đỡ khi
cần thiết
- Kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ: Nhận làm một việc trong gia đình phù
hợp với trẻ, nỗ lực vượt qua khó khăn để thực hiện công việc, hoàn thành công việc đến cùng
- Kỹ năng tuân thủ các quy tắc xã hội: Quy tắc giao thông; quy tắc nơi công
Trang 40Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và GVMN của Bộ Giáo
Dục và Đào Tạo năm 2013- 2014 đã xác định những nội dung GDKNXH cho trẻ MG 5- 6 tuổi như sau: [5, tr.74-75]
- Ý thức về bản thân: Thể hiện sở thích, khả năng của bản thân; biết được điểm
giống và khác nhau giữa mình với người khác; bước đầu ý thức được vị trí, trách nhiệm của bản thân trong gia đình và lớp học; thực hiện các công việc được giao; chủ động độc lập trong một số hoạt động; mạnh dạn, tự tin bày tỏ ý kiến
- Hành vi và quy tắc ứng xử xã hội: biết được một số quy định ở lớp, gia đình
và nơi công cộng; lắng nghe ý kiến của người khác, sử dụng cử chỉ, lời nói lễ phép,
lịch sự; tôn trọng, hợp tác, chấp nhận, yêu mến, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ bạn; nhận xét và tỏ thái độ với hành vi “đúng – sai”, “tốt – xấu”
- Quan tâm đến môi trường: Tiết kiệm các nguồn vật liệu, nhiên liệu; giữ gìn vệ sinh môi trường; bảo vệ, chăm sóc con vật và cây cối
Hai tác giả Lương Thị Bình và Phan Lan Anh cũng đã đưa ra hai nội dung GDKNXH cho trẻ MG 5-6 tuổi [6, tr 95- 104]
- Giáo dục các hành vi và quy tắc ứng xử xã hội:
+ Chia sẻ những thông tin về gia đình, giao tiếp cởi mở với bạn, lắng nghe bạn nói, chờ đến lượt
+ Phối hợp các bạn trong nhóm, phát triển mối quan hệ đoàn kết với các bạn trong nhóm; làm việc theo nhóm
+ Hợp tác với bạn để thực hiện công việc đến cùng, thể hiện sự hài lòng, vui thích khi hoàn thành công việc
+ Tự nói lên các ý kiến của mình, hiểu có nhiều ý kiến khác nhau và chấp nhận quyết định chung
+ Nói “không” khi cần thiết và lựa chọn hành vi đúng- sai