1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18 24 tháng

177 328 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH M ỤC CÁC PHỤ LỤC Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến phụ huynh Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên mầm non Phụ lục 3: Phiếu khảo sát kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng Phụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUY ỄN THỊ THANH BÌNH

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố trong các công trình khác

Học viên

Nguyễn Lan Dung

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám

hiệu trường Đại học Sư phạm TP HCM, Quý Thầy Cô đã giảng dạy tôi trong hai năm

học cao học cùng quý Thầy Cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện để tôi có

thể tham gia học tập và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Bình, cô đã hết lòng quan tâm, hỗ trợ, hướng dẫn nghiên cứu và động viên để tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Phòng giáo dục quận Tân Phú, quận Tân Bình và

quận 10 cùng Ban giám hiệu và giáo viên các trường: mầm non Phượng Hồng, mầm non Nhiêu Lộc (quận Tân Phú), mầm non Bambi-K300, Mầm Non 1 (quận Tân Bình),

mầm non Con Mèo Vàng (quận 10) đã nhiệt tình cộng tác trong quá trình nghiên cứu

đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu và trưởng khoa Sư Phạm Mầm Non trường trung cấp Việt Khoa đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Tôi cũng xin cảm ơn quý đồng nghiệp và các học viên cùng lớp cao học khóa 24 đã cùng hợp tác, chia sẻ những kinh nghiệm và kiến thức

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

TP.HCM, tháng 9 năm 2015

Học viên

Nguyễn Lan Dung

Trang 5

M ỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các bảng

Danh mục các phụ lục

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CỦA TRẺ 18 – 24 THÁNG 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu về kỹ năng vận động tinh 6

1.2 Các khái niệm công cụ 12

1.3 Đặc điểm phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 16

1.4 Vai trò của kỹ năng vận động tinh đối với trẻ 18-24 tháng 19

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 22

1.6 Biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 26

Ti ểu kết Chương 1 34

Chương 2 THỰC TRẠNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CỦA TRẺ 18-24 THÁNG 36

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 36

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 39

Ti ểu kết chương 2 65

Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRI ỂN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CỦA TRẺ 18-24 THÁNG 67 3.1 Đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 67

3.2 Thời gian và địa điểm thực nghiệm 74

3.3 Quy trình thực nghiệm 74

3.4 Kết quả thực nghiệm 77

3.5 Khảo sát về tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp thử nghiệm 90

Ti ểu kết chương 3 93

PH ẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 95

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ý kiến của giáo viên mầm non về vai trò của kỹ năng vận động tinh đối

với trẻ 18-24 tháng 40

Bảng 2.2 Mức độ thường xuyên sử dụng biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của giáo viên mầm non 41

Bảng 2.3 Thời điểm giáo viên thường tổ chức phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng 44

Bảng 2.4 Nguồn tài liệu giáo viên tham khảo để phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng 45

Bảng 2.5 Tổng hợp ý kiến của phụ huynh về vai trò của kỹ năng vận động tinh đối với trẻ 18-24 tháng 50

Bảng 2.6 Biện pháp phụ huynh thực hiện để phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 51

Bảng 2.7 Ý kiến của phụ huynh về những hoạt động giúp trẻ 18-24 tháng phát triển kỹ năng vận động tinh 53

Bảng 2.8 Nguồn tư vấn cho phụ huynh về kỹ năng vận động tinh 53

Bảng 2.9 Những đồ chơi phụ huynh thường trang bị cho trẻ 54

Bảng 2.10 Nguyên nhân phụ huynh chọn mua đồ chơi cho trẻ 18-24 tháng 55

Bảng 2.11 Kết quả khảo sát mức độ phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 57

Bảng 2.12 Những nguyên nhân gây khó khăn khi tổ chức phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 60

Bảng 2.13 Ý kiến của giáo viên mầm non về các yếu tố giúp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng 63

Bảng 3.1 So sánh kỹ năng vận động tinh của nhóm đối chứng, nhóm thực nghiệm I, nhóm thực nghiệm II trước thử nghiệm 78

Bảng 3.2 So sánh điểm trung bình, độ lệch chuẩn kỹ năng vận động tinh của nhóm đối chứng, nhóm thực nghiệm I và nhóm thực nghiệm II trước và sau thử nghiệm 80

Trang 7

Bảng 3.3 Kết quả so sánh kỹ năng vận động tinh của nhóm đối chứng trước và sau

Bảng 3.6 Đánh giá của giáo viên mầm non về tính khả thi của các biện pháp 91

Bảng 3.7 Đánh giá của giáo viên mầm non về tính cần thiết của các biện pháp 92

Trang 8

DANH M ỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến phụ huynh

Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến giáo viên mầm non

Phụ lục 3: Phiếu khảo sát kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Phụ lục 4: Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Phụ lục 5: Kết quả khảo sát kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Phụ lục 6: Mẫu biên bản quan sát kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng tại trường

mầm non

Phụ lục 7: Biên bản quan sát kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng tại trường mầm

non

Phụ lục 8: Mẫu biên bản quan sát biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ

18-24 tháng tại trường mầm non

Phụ lục 9: Biên bản quan sát biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24

tháng tại trường mầm non

Phụ lục 10: Biên bản quan sát biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24

tháng tại gia đình

Phụ lục 11: Những hình ảnh thực trạng

Phụ lục 12: Những hình ảnh thực nghiệm

Phụ lục 13: Phiếu đo đầu vào và đầu ra kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Phụ lục 14: Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng (đo đầu

vào và đo đầu ra)

Phụ lục 15: Những trò chơi, bài thơ, bài vè phát triển kỹ năng vận động tinh

Phụ lục 16: Kế hoạch phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ lớp thực nghiệm

Phụ lục 17: Kế hoạch tuần của nhóm đối chứng

Phụ lục 18: Phiếu thăm dò biện pháp giáo viên đã sử dụng để phát triển kỹ năng vận động

Trang 9

là “Tập các cử động của bàn tay, ngón tay và phối hợp tay-mắt” là một trong những nội dung giáo dục của lĩnh vực phát triển vận động trong Chương trình giáo dục mầm non ban hành kèm theo Thông tư số: 17/2009/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

trẻ em – nằm trên đầu ngón tay của trẻ Ông còn cho rằng “Dấu vân tay, nói theo nghĩa bóng, là dòng suối tốt nhất nuôi dưỡng sức mạnh của tư duy sáng tạo” [28] Do đó,

nếu kỹ năng vận động tinh của trẻ nhỏ phát triển tốt sẽ là công cụ hiệu quả để trẻ, đặc

biệt là trẻ ấu nhi khám phá thế giới xung quanh Không dừng lại ở đó, khi trẻ ấu nhi bước vào giai đoạn học mẫu giáo, kỹ năng vận động tinh sẽ là điều kiện thuận tiện giúp trẻ tham gia tốt vào hoạt động vui chơi và hợp tác với bạn bởi một khi trẻ đã có

kỹ năng vận động thuần thục với đôi tay, trẻ sẽ dễ dàng, nhanh chóng thực hiện các ý tưởng của nhóm Tầm quan trọng của kỹ năng vận động tinh không chỉ khu trú trong

lứa tuổi ấu nhi và mẫu giáo mà đây còn là tiền đề để hình thành các kỹ năng học tập ở

bậc phổ thông

Trang 10

Mặt khác, lứa tuổi 2 tuổi là một trong những giai đoạn mà “Cửa sổ cơ hội”

(Window of opportunity) cho sự phát triển vận động tinh được mở ra, theo sau sự phát triển của kỹ năng vận động thô Theo Hensch (2004) “Cửa sổ cơ hội” chính là khoảng

thời gian dễ dàng nhất để trẻ tiếp thu một loại kinh nghiệm nhất định [34] Đồng thời,

hoạt động chủ đạo của trẻ trong giai đoạn này là hoạt động với đồ vật Khi trẻ thực

hiện các loại hành động thiết lập mối tương quan1 và hành động công cụ2 cũng là lúc

trẻ được rèn luyện các kỹ năng vận động của đôi tay ngược lại kỹ năng vận động tinh phát triển tốt sẽ hỗ trợ cho trẻ thực hiện các loại hành động trên Chính vì thế, kỹ năng

vận động tinh của trẻ phải được chú trọng ngay từ nhỏ, đặc biệt là với trẻ 18-24 tháng

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy giáo viên mầm non chưa tận dụng những thời điểm khác nhau trong chế độ sinh hoạt để phát triển kỹ năng vận động tinh của

trẻ Nhiều giáo viên chưa lựa chọn được những biện pháp thích hợp nhằm phát triển kỹ năng này cho trẻ Tại gia đình, đa số các phụ huynh làm thay cho con những việc mà trẻ có thể tự mình làm được vì nóng vội và họ cho rằng các bé còn nhỏ Tình trạng trên cho thấy, việc phát triển vận động tinh cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức so với vị trí của nó trong sự phát triển của trẻ Do đó, việc tìm cơ sở lý luận và đưa ra một số biện pháp khắc phục thực trạng trên là hết sức cần thiết Từ những lí do trên, đề tài

nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn

2 M ục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn việc sử dụng biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh, chúng tôi đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được thực hiện để giải quyết những nhiệm vụ:

Nghiên cứu lí luận có liên quan đến biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh

Trang 11

Khảo sát thực trạng sự phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng và

thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh

của trẻ 18-24 tháng

5 Gi ả thuyết khoa học

Kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng còn hạn chế Nếu áp dụng đồng thời các biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh từ gia đình đến nhà trường phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ thì sẽ khắc phục được thực trạng đó

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Tiến hành phân tích các đề tài nghiên cứu lí luận, nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước về kỹ năng vận động tinh của trẻ mầm non nói chung và của trẻ 18-24 tháng nói riêng Sau đó, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các lí thuyết nói trên để xây

dựng khung lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động của trẻ 18-24 tháng và giáo viên trong ngày, ghi nhận kỹ năng vận động tinh của trẻ và các biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của giáo viên

Quan sát biện pháp giáo viên thực hiện ở trường và phụ huynh sử dụng ở nhà

nhằm phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng

Trang 12

6.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò

Một phiếu thu thập thông tin được xây dựng và được phát cho mỗi giáo viên

dạy trẻ từ 18-24 tháng và phụ huynh có trẻ học trong nhóm lớp 18-24 tháng, thu thập ý

kiến liên quan đến nhận thức của họ về việc phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng

6.2.3 Phương pháp đánh giá bằng các bài tập

Kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng sẽ được đo bằng hệ thống 5 tiêu

chí-10 bài tập Đây là những bài tập được tham khảo từ cơ sở lý luận và trẻ có thực hiện trong thực tế

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Ba nhóm trẻ sẽ được chọn để nghiên cứu là nhóm đối chứng, nhóm thực nghiệm I và nhóm thực nghiệm II Ba nhóm này sẽ được đo trước thực nghiệm bằng 5 bài tập ứng với 5 tiêu chí Sau đó, nhóm thực nghiệm I sẽ được tác động bằng các biện pháp được đề xuất ở hai môi trường là tại gia đình và trường mầm non, nhóm thực nghiệm II sẽ được tác động bằng các biện pháp được đề xuất chỉ ở trường Cùng thời gian này, quá trình giáo dục ở nhóm đối chứng sẽ diễn ra trong điều kiện bình thường, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi các biện pháp trên Cả 3 nhóm sẽ được đo cuối thực nghiệm Giáo viên các lớp thực nghiệm được trưng cầu ý kiến về tính khả thi và cần thiết của các biện pháp Trên cơ sở đó, chứng minh hiệu quả của các biện pháp trong

cả môi trường tại gia đình và ở trường

6.3 Phương pháp thống kê

Phương pháp này nhằm làm sáng tỏ những dữ liệu của các phiếu quan sát và các phiếu điều tra bằng bảng hỏi Các thông tin thu thập sẽ được phân tích, định lượng

và được xử lí bằng phần mềm Excel với những giá trị như: tỉ lệ phần trăm, tần số, giá

trị trung bình, độ lệch chuẩn… làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và các biên bản quan sát

7 Đóng góp của đề tài

Đề tài làm phong phú cơ sở lí luận về biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh

của trẻ 18-24 tháng; góp phần phát hiện thực trạng biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh ở trường và gia đình Đồng thời, đây sẽ là cơ sở cho giáo viên mầm non vận

dụng vào công tác giáo dục nhằm phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Trang 13

8 C ấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị sư phạm, đề tài bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lí luận về biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Chương 2: Thực trạng biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Chương 3: Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Trang 14

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN

KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CỦA TRẺ 18 – 24 THÁNG

1.1 Lịch sử nghiên cứu về kỹ năng vận động tinh

Trong những năm gần đây, vấn đề về những biện pháp nhằm phát triển kỹ năng

vận động tinh đã và đang thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Cụ thể là đã có nhiều công trình khoa học, ấn phẩm liên quan đến vấn đề này Việc khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề kỹ năng vận động tinh sẽ giúp chúng ta

có được những nhận định ban đầu làm cơ sở về mặt lý luận và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên c ứu ở nước ngoài

Vấn đề về vận động tinh của trẻ trước 3 tuổi được nhiều học giả quan tâm Maria Montessori-một bác sỹ đồng thời là một nhà giáo dục người Ý cho rằng giai đoạn 0 – 3 tuổi là thời kỳ “phôi thai tâm lý”, trẻ cần được giáo dục tốt vì những gì trẻ làm được lúc 3 tuổi sẽ quyết định cuộc sống về sau Giai đoạn này trẻ “làm việc” trong môi trường có học cụ là vật thật thu nhỏ, nhằm hướng đến việc trẻ tự mình chăm sóc

bản thân và tham gia lao động vừa sức Các hoạt động đó phần lớn dựa trên sự phối

hợp tai-mắt và phù hợp với trẻ từ 18 tháng đến 24 tháng Theo sự phân chia của Montessori, giai đoạn này nằm trong kỳ phát cảm về vận động và hành động (18 tháng đến 3 tuổi) Tác giả đã phê phán việc người lớn không cho trẻ tự do hoạt động với đôi tay vì những lý do chủ quan như sợ hư hỏng đồ đạc, vì trẻ còn quá nhỏ và sợ lãng phí

thời gian để chờ đợi trẻ thực hiện cũng như dọn dẹp sự bày bừa do vận động vụng về

của trẻ tạo ra Bà cho rằng không nên làm thay trẻ và đề xuất biện pháp chọn ra công

cụ thích hợp với mục đích làm việc của trẻ Montessori khẳng định, trẻ thích thao tác trên vật mà không thực sự muốn vật đó Đối với những đồ gia dụng dễ vỡ, người lớn ngăn cản trẻ chạm vào, trong khi bản thân trẻ chỉ thích tiến hành động tác như mở nắp

rồi đậy lại Theo bà, phụ huynh khó chấp nhận cho trẻ hoạt động với những đồ vật dễ

vỡ cho dù họ có nhận thức được vai trò của kỹ năng vận động tinh Điều đó sẽ làm triệt tiêu cơ hội được luyện tập kỹ năng vận động tinh của trẻ Mâu thuẫn đó sẽ được

giải quyết nếu người lớn cho trẻ sử dụng vật khác nhưng trẻ vẫn được thực hiện những

Trang 15

thao tác tương đương [12] Nói cách khác, những biện pháp của tác giả đã xóa bỏ

những rào cản cho việc phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ

Moira Pieterse (1989) đã nghiên cứu về vận động tinh tập trung vào việc can thiệp và trị liệu Tài liệu “Từng bước nhỏ một-Kỹ năng vận động tinh” của tác giả dùng cho trẻ bị suy yếu thị lực hoặc bị hạn chế khả năng điều khiển vận động Tài liệu này cung cấp cách đánh giá, nguyên lý thực hiện các bài tập đảm bảo trẻ được thực hành mọi lúc mọi nơi [14] Những bài tập này có khả năng được chọn nhằm phát triển

kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng

Quan tâm đặc biệt kỹ năng vận động tinh cho trẻ ấu nhi còn có bác sĩ người Mỹ Jamie Loehr MD và cộng sự Jen Meyers Cả hai là đồng tác giả quyển sách "Raising Your Child" Họ đã đưa ra các hoạt động chơi nhằm phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng [27] Nhóm tác giả đã giới thiệu các hoạt động đơn giản như chơi

với bong bóng xà phòng, tạo hình đơn giản, xếp hình đơn giản, xếp khối, vắt khăn và

một số hoạt động khác nhằm phát triển sức mạnh, sự khéo léo của tay, khả năng phối

dụng cho trẻ 18-24 tháng là các hoạt động tạo hình với rất nhiều hình thức: vẽ, chơi

với bột nặn, xé giấy [13]

Hai nhà khoa học người Mỹ-Audrey C Rule và Roger A Stewart thì chú trọng ảnh hưởng của việc luyện tập với công cụ có ngay trong gia đình đến sự phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ Họ đã chứng minh rằng việc luyện tập với các vật liệu từ cuộc sống hằng ngày có tác động đáng kể đến sự phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ Đó là kết quả của công trình nghiên cứu thực nghiệm được hoàn thành năm 2002, trong đó hai ông đã tác động hơn 50 hoạt động khác nhau với nhóm thực nghiệm, trẻ trong nhóm này đã được hướng dẫn sử dụng nhíp, kẹp, thìa để thao tác với các vật khác nhau [13]

Trang 16

Công trình nghiên cứu của Mojgan Farahbod Asghar Dadkhah (2004) là The impact

of educational play on fine motor skills of children (Tạm dịch: Tác động của trò chơi giáo

dục đến kỹ năng vận động tinh của trẻ) đề cao vai trò của các trò chơi học tập với loại kỹ năng này Tác giả đã chứng minh được tác động tích cực của trò chơi học tập đến tốc độ của

kỹ năng vận động tinh ở trẻ và xác định mức độ ảnh hưởng của trò chơi học tập đến sự phối

hợp mắt-tay Tác giả cũng khẳng định chiều cao, cân nặng và giới tính không ảnh hưởng đến sự tiến bộ của kỹ năng vận động tinh [13, tr.13]

Jodene Lynn Smith đã cho ra đời công trình Activities for Fine Motor Skills

Development (2003) Hai phần đầu tiên trong cuốn sách này mang đến cho độc giả

những hoạt động cho vai, cổ tay và bàn tay Phần này tuy không phải là các hoạt động

nhằm phát triển trực tiếp kỹ năng vận động tinh nhưng tác giả đã lập luận rằng sức

mạnh và sự ổn định của vai và cổ tay có liên quan đến sự kiểm soát của bàn tay và ngón tay Phần tiếp theo là các hoạt động cho tay và ngón tay được thiết kế nhằm phát triển tính ổn định và sức mạnh trong tất cả các ngón tay của trẻ, nhấn mạnh vào hoạt động bằng cách sử dụng ngón tay cái và ngón trỏ vì theo tác giả, sự kiểm soát và phối

hợp của các ngón tay trỏ và ngón tay cái rất quan trọng cho sự thành công khi trẻ tập

viết sau này Phần này cung cấp cho trẻ những bài thơ và bài hát đòi hỏi sự chuyển động tương ứng của ngón tay và bàn tay; các hoạt động giúp trẻ phát triển khả năng điều khiển và phối hợp các ngón tay bao gồm cả các hoạt động với kẹp phơi đồ và đồng xu Các phần tiếp theo được dành cho các hoạt động liên quan đến vận động tinh như sử dụng keo, cầm kéo và tập viết Ngoài ra tác giả cũng đề xuất danh mục kiểm tra

kỹ năng vận động tinh của trẻ (fine motor skills checklist) [23, tr.3-10]

Julie Bullard, tác giả của sách mang tựa đề “Creating Environments for Learning: Birth to Age Eight” (2013) (Xây dựng môi trường học tập cho trẻ từ sơ sinh đến 8 tuổi) coi việc phát triển kỹ năng vận động tinh đóng vai trò quan trọng trong

cuộc sống của trẻ thơ Vì vậy tác giả đã đưa ra những gợi ý trong cách thiết kế môi trường và tổng hợp những trò chơi phát triển từng khả năng của kỹ năng vận động tinh cho trẻ mầm non [20] Quyển sách là cẩm nang hữu ích để giáo viên và phụ huynh sử

dụng trong việc phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ

Trang 17

Ở Nga trong những năm gần đây, vấn đề về biện pháp kỹ năng vận động tinh đang được quan tâm Đơn cử là tổ chức từ thiện “Sức khỏe trong thế kỷ XXI” đã thực

hiện tập huấn và tổng hợp tài liệu Sự phát triển của trẻ em-chương trình tập huấn cho

giáo viên và các nhà giáo d ục 3

vào năm 2010 [25] Những trò chơi phát triển kỹ năng

vận động tinh cho trẻ trước tuổi học có thể được chọn lọc cho phù hợp với trẻ lứa tuổi 18-24 tháng

Irina Ermakova đã cho ra đời quyển sách Phát triển kỹ năng vận động tinh cho

tr ẻ 4 Trong đó, tác giả đã giới thiệu 8 bài thơ bằng tiếng Nga thích hợp để rèn luyện

vận động tinh và cách xoa bóp tay cho trẻ dưới 2 tuổi [35]

Trong tạp chí mầm non số 11, nhà sư phạm mầm non-trợ lý học tập cấp Nikiforova Olga, nước Cộng Hòa Bashkortostan đã đưa ra các cách để phảt triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ mầm non nhấn mạnh vào sự tương tác giữa trẻ và người

cao-lớn, bao gồm[28]:

• Bài tập và trò chơi với ngón tay theo những bài thơ, bài vè có vần điệu

• Thao tác trên đồ vật và các vật liệu (kéo, đất sét, ngũ cốc, muối, xếp hình)

• Rối ngón

• Đan, xâu hạt

• Chơi với que tính

• Xoa bóp tay cho trẻ mỗi ngày

Trên trang http://www.igraypodrastay.ru/- trang tập hợp hoạt động và trò chơi dành cho trẻ mầm non đã giới thiệu các trò chơi, bài tập nhằm phát triển kỹ năng vận động tinh thích hợp cho trẻ 18-24 tháng Đó là các hoạt động lấy cảm hứng từ lớp học Montessori với các nguyên liệu dễ tìm của Evgenia Gromova [36] Một tác giả khác là Lyudmila Nalivaykina cũng giới thiệu trên trang web này những trò chơi sử dụng

những vật liệu nhỏ như các loại đậu, đồ chơi nhỏ nhằm phát triển cơ bàn tay, ngón tay [37]

3Развитие с малого-Практикум для педагогов и воспитателей

4Развиваем мелкую моторику у малыше

Trang 18

1.1.2 Các công trình nghiên c ứu ở Việt Nam

Quan tâm đến sự phát triển những kỹ năng cần thiết cho trẻ mầm non, tiến sĩ Lê Xuân Hồng và các cộng sự (2000) đã phân chia các kỹ năng về thể chất thành 2 loại

nhằm đánh giá và cung cấp các hoạt động và vật liệu thích hợp cho từng loại, từ đó tạo điều kiện cho trẻ tham gia vào các động tác có tính sáng tạo [7] Hai loại ấy bao gồm

kỹ năng vận động cơ bản và kỹ năng vận động khéo léo Sự phối hợp vận động khéo léo liên quan đến việc dùng các ngón tay một cách linh hoạt để xoay trở với các vật

thể, có sự phối hợp tai và mắt, hay phối hợp của nhận thức và vận động được gọi là kỹ năng vận động khéo léo

Vấn đề về trò chơi với ngón tay được tiến sĩ Hồ Lam Hồng quan tâm Tác giả đã

có một bài báo về “Trò chơi ngón tay với sự phát triển trẻ mầm non” (2004), trong đó có

nêu bật ý nghĩa của trò chơi ngón tay, cũng như một số loại trò chơi tiêu biểu nhằm phát triển cơ tay cho trẻ5

Một năm sau, cuốn sách “Trò chơi ngón tay” của Hồ Lam Hồng đã

được xuất bản năm 2005, tập hợp các trò chơi, hoạt động theo chủ đề, với mục đích cụ

thể và có hướng dẫn cách chơi Những trò chơi bà đưa ra chủ yếu là hướng trẻ đến việc

thực hiện các động tác đơn giản ứng với các bài vè, bài thơ ngắn Ngoài ra, tác giả còn

sử dụng một số trò chơi dân gian như “Cắp cua”, “Tập tầm vông”; một số hoạt động liên quan đến việc tự phục vụ và công việc hàng ngày [6] Tuy lý luận về kỹ năng vận động tinh không được bà đề cập trong những tài liệu này, nhưng đây là những tài liệu tham

khảo bổ ích và dễ hiểu cho giáo viên và phụ huynh quan tâm đến những trò chơi đơn

giản có thể chơi cùng trẻ nhằm luyện tập cơ ngón tay, bàn tay

Tiến sĩ Phạm Thị Mai Chi và cộng sự đã xuất bản tài liệu Hướng dẫn hoạt động

cho tr ẻ 1-3 tuổi Tài liệu này tập trung chủ yếu vào các hoạt động nhằm phát triển ở trẻ ở

các mặt thể chất bao gồm vận động thô và vận động tinh, nghe-nói, khám phá môi trường xung quanh và các hoạt động sáng tạo cho trẻ ở hai lứa tuổi: từ 1-2 tuổi và từ 2-3 tuổi

Việc phát triển vận động tinh ở lứa tuổi 1-2 tuổi được thể hiện ở 17 hoạt động khác nhau

với những giáo cụ không tốn nhiều kinh phí và có thể tự làm bởi giáo viên và phụ huynh [2]

5 H ồ Lam Hồng (2004), Trò chơi ngón tay với sự phát triển trẻ mầm non, Tạp chí giáo dục mầm non số 3

Trang 19

Cũng là một người quan tâm đến trẻ ấu nhi, tác giả Phùng Thị Tường đã nghiên

cứu và cho ra đời quyển “Các trò chơi và hoạt động cho trẻ từ 3-36 tháng tuổi theo

chủ đề” Bà đã chia trẻ thành các nhóm tuổi: 3-12 tháng; 12-24 tháng và 24-36 tháng

Trong lứa tuổi 12-24 tháng, bà có thiết kế 4 trò chơi luyện khéo léo của bàn tay, ngón tay bao gồm lật giở sách, cài cúc áo, xé lá, giấy, đếm các ngón tay và ba trò chơi dân gian luyện cơ tay như “Chi chi chành chành”, “Kéo cưa lừa xẻ”, “Con sên”; một số trò chơi khác liên quan đến việc luyện tập vận động của đôi tay trong hoạt động với đồ

vật: lắp cây nấm, xếp chồng; xếp đường đi, xâu vòng, lồng hộp 6 Tương tự, tác giả Lê Thu Hương và các cộng sự đã tổng hợp “Tuyển tập trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố theo chủ đề (Trẻ 3-36 tháng), trong đó có một số biện pháp rèn luyện vận động

của đôi tay như: xé/ gấp lá chuối, lật sách; xúc, rót cát, rót nước; cài cúc; xâu hạt; lau bàn, xây tháp (2-3 khối), cắp sỏi bỏ giỏ; cuộn tay theo bài thơ “Con sên”; nắm vào, xòe ra theo bài “Những chú gà con”; bắt lấy bong bóng xà phòng; lấy ra bỏ vào; quay

đồ chơi; lăn bóng; lật giở sách [9] Có thể thấy, một số trò chơi của tác giả Lê Thu Hương tương đồng với nhiều trò chơi của tác giả Phùng Thị Tường

Tác giả Phạm Vĩnh Thông đã chọn lọc và tổng hợp “Trò chơi vận động rèn luyện

của trẻ”(2002) trong đó có một số trò chơi dân gian dùng để rèn luyện sự khéo léo, sức

mạnh của tay Giáo viên mầm non có thể cải biên một số trò chơi theo hướng làm giảm

độ khó sao cho phù hợp với trẻ 18-24 tháng bao gồm “Cắp cua bỏ giỏ”, “Tập tầm vông”, “Chi chi chành chành”, “Kéo cưa lừa xẻ”, “Tung bóng cho nhau”.7

Nhìn chung, có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm đến việc phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ đặc biệt và trẻ mầm non, họ đã tổng hợp được các trò chơi, các hoạt động giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động tinh, nhưng đến nay

vấn đề về biện pháp cụ thể nhằm phát triển kỹ năng vận động tinh ở trẻ 18-24 tháng

vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Tuy nhiên, kết quả của tất cả các công trình kể trên là tư liệu hữu ích đối với việc nghiên cứu đề tài này

6Phùng Thị Tường (2011), Các trò chơi và hoạt động cho trẻ từ 3-36 tháng tuổi theo chủ đề, NXB Giáo dục

Việt Nam, Hà Nội, trang 21-37

7 Phạm Vĩnh Thông (2002), Trò chơi vận động rèn luyện của trẻ, NXB Văn Hóa Dân Tộc, trang 5-128

Trang 20

1.2 Các khái niệm công cụ

1.2.1 V ận động và vận động tinh

 Vận động

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện, vận động nếu xét về mặt tâm vận động thì đó là lúc một hay nhiều cơ bắp hoạt động thì một bộ phận của cơ thể hay toàn thân di chuyển Nói cách khác đó là hoạt động làm thay đổi tư thế hay vị trí của thân thể hoặc

bộ phận thân thể, do hệ cơ xương thực hiện Vận động phát triển theo sự phát triển của

thần kinh và kết hợp với luyện tập, kinh nghiệm Trẻ càng lớn thì vận động dần có tính

chủ định và phù hợp với mục tiêu Ở trẻ trước tuổi học, phát triển vận động và trí khôn

gắn liền với nhau Do đó với trẻ mầm non, có thể đánh giá trí khôn thông qua sự phát triển của vận động [17] Ông đã tổng kết các hình thái khác nhau của vận động:

• Hình thái thứ nhất là phản xạ: khi tiếp nhận một mối kích thích nào đó, cơ thể phản ứng lại rất nhanh, vận động ấy bẩm sinh đã có, hình thành mà không qua một quá trình luyện tập nào

• Hình thái thứ hai là xung động: phản ứng tràn lan ở nhiều cơ bắp khác nhau khi có một mối kích thích nào đó gây ra, khiến chủ thể không kiềm chế được Trẻ càng

• Hình thái thứ năm là hoạt động: nhiều hành động được tổ chức thành hệ

thống tiến hành trong một thời gian nhất định

Theo ý kiến của tác giả Đặng Hồng Phương thì vận động có trong tất cả mọi

hoạt động của con người Vận động là sự hoạt động tích cực của các cơ quan vận động

của con người [14, tr.18]

 Vận động tinh

Vận động tinh là những vận động được thực hiện bởi các cơ nhỏ, chủ yếu là cơ

của các ngón tay trong những hoạt động đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế, khéo léo [13, tr.18]

Trang 21

Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện, sự phát triển vận động bàn tay, ngón tay tiến triển từ những vận động thô sơ như nắm được đồ vật bằng cả bàn tay đến cầm đồ vật

bằng ngón cái phối hợp với các ngón khác, đến vận động tinh tế, đến sử dụng các công

cụ và bước tiến cuối cùng là phân hoá thuận tay phải hay tay trái [17]

1.2.2 K ỹ năng vận động và kỹ năng vận động tinh

chẽ của thị giác Kỹ năng được hình thành qua luyện tập hay bắt chước Như vậy, kỹ năng là loại hành động có ý thức, là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kỷ xảo [3]

Cũng theo từ điển tâm lý học, kỹ năng vận động là sự tác động lên các khách

thể bên ngoài nhờ những vận động đã được thực hiện nhiều lần trước đó nhằm cải tạo khách thể Nói cách khác, kỹ năng vận động được hình thành bằng con đường luyện

tập Như vậy, kỹ năng nói chung và kỹ năng vận động nói riêng phát triển được là do

sự tích lũy những kiến thức, kinh nghiệm và sự tập luyện, rèn luyện của con người trong một dạng hoạt động nhất định [3]

Theo tác giả Bùi Thị Việt, kỹ năng vận động của trẻ mầm non là khả năng giải quyết nhiệm vụ vận động trong điều kiện trẻ phải tập trung chú ý cao độ vào từng chi

tiết của động tác, vận động [18] Các dấu hiệu đặc trưng của kỹ năng vận động là:

• Trẻ thực hiện vận động nhưng còn thiếu tự tin, còn động tác thừa, các cơ bắp đều căng hết sức

• Việc điều khiển các thao tác-thành phần của động tác chưa được tự động hóa

mà phải luôn có sự kiểm soát của ý thức

• Cách giải quyết nhiệm vụ vận động chưa ổn định

• Kỹ năng vận động là mức độ đầu tiên để đi đến nắm vững động tác

Trang 22

Đối với trẻ mầm non, kỹ năng vận động là mức độ tiếp thu kỹ thuật vận động

thể hiện ở sự tập trung cao vào các thao tác của bài tập và thực hiện bài tập dưới nhiều hình thức [13, tr.19]

 Kỹ năng vận động tinh

Tương tự như thuật ngữ “kỹ năng vận động”, “kỹ năng vận động tinh” được nhiều tác giả định nghĩa dưới nhiều cách khác nhau

Bách khoa toàn thư Wikipedia đã định nghĩa kỹ năng vận động tinh là sự phối

hợp vận động của các nhóm cơ nhỏ như cơ của ngón tay, bàn tay, cổ tay, ngón chân và thường có sự phối hợp với mắt [26]

Trong công trình nghiên cứu “Creating environments for learning: Birth to age eight”, Julie Bullard đã đưa ra nhận định rằng kỹ năng vận động tinh bao gồm sự chuyển động phối hợp khéo léo của các ngón tay, bàn tay và cánh tay; đòi hỏi sức

mạnh, sự khéo léo và sự kiểm soát của trí óc [20, tr.153] Khái niệm này cũng tương tự như cách định nghĩa về kỹ năng vận động tinh trong ấn phẩm “Effective practices in Early childhood education-Building foundation” của tác giả Sue Bredekamp [19, tr.488-489]

Nhóm tác giả ICPO "Sức khỏe trong thế kỷ XXI " của Minsk (2010) đã định nghĩa kỹ năng vận động tinh là khả năng phối hợp vận động của cơ nhỏ để kiểm soát

cơ thể nói chung (kỹ năng vận động khớp) và của cánh tay nói riêng trong công trình nghiên cứu Phát triển trẻ nhỏ (Hội thảo dành cho giáo viên và các nhà giáo dục) Ngoài ra, cũng trong ấn phẩm này, họ đã làm rõ kỹ năng vận động tinh là khả năng sử

dụng những phần cơ của bàn tay, ngón tay để thực hiện những chuyển động nhỏ, chính xác Kỹ năng vận động tinh còn là khả năng sử dụng mắt, tay và ngón tay để thực hiện các động tác [25]

Theo Jodene Lynn Smith, kỹ năng vận động tinh liên quan đến việc trẻ sử dụng bàn tay để hành động với công cụ như bút chì, bút màu, kéo… một cách chính xác Sự chính xác không nằm ở chỗ sức mạnh mà là ở sự phối hợp của các cơ ở tay [23, tr.4]

Moira Pieterse đã chỉ ra rằng kỹ năng vận động tinh là sự kết hợp các vận động

của các cơ nhỏ ở mắt và ở tay [14, tr.1]

Trang 23

Trên cơ sở những khái niệm nêu trên, đề tài này phân tích kỹ năng vận động tinh của trẻ ở mức độ là năng lực thực hiện hành động bằng các nhóm cơ nhỏ của bàn

tay, ngón tay ph ối hợp với cơ mắt một cách tinh tế và chính xác

Kỹ năng vận động tinh của trẻ mầm non bao gồm các khả năng sau [29], [30], [32],[33]:

• Khả năng phối hợp hai tay (Bilateral Integration): Khi xét riêng vận động tinh, đây là khả năng kết hợp sử dụng hai tay Khả năng này gồm các biểu hiện sau:

o Chuyển động đối xứng (Symmetrical Movements): mỗi bên tay sẽ thực hiện cùng một hành động tại cùng một thời điểm.Trẻ 18- 24 tháng có thể dùng hai tay để xoay cây cán bột, vỗ tay; đập các khối hộp vào nhau; Trẻ có thể tự kéo quần xuống-kéo quần lên để đi vệ sinh, nhưng còn xộc xệch; dùng hai tay cầm khối để xếp chồng ngay ngắn 3 khối hình lên nhau; xé giấy, bông gòn (hai tay cầm hai bên vật và bứt ra) Ngoài ra trẻ còn có khả năng bắt chước xếp giấy, trong đó trẻ phải sử dụng hai tay theo

một loạt các động tác (gấp, miết giấy) để đạt được kết quả như mong muốn [14, tr.42]

o Chuyển động lần lượt (Reciprocal Movements): một tay thực hiện trước hành động, tay còn lại thực hiện tiếp cùng hành động của tay kia một cách nhịp nhàng

o Một tay vận động chính, tay còn lại hỗ trợ (Leading Hand and Supporting Hand): đây là khả năng sử dụng kết hợp hai tay trong đó, trẻ dùng một tay làm một công việc trong khi tay còn lại làm việc khác Trẻ 18-24 tháng có khả năng này Cụ thể

là trẻ có thể xâu chuỗi hạt (một tay cầm hạt, một tay cầm dây); cầm bút vẽ (một tay vịn

giấy, một tay vẽ), vặn nắp chai, lọ (một tay giữ lọ, tay còn lại mở nắp lọ) [29]; nhấc

hoặc lăn một quả bóng; phết bơ vào bánh qui (một tay cầm bánh, một tay phết bơ) [31]; cài nút áo to

• Khả năng sử dụng sức mạnh của bàn tay và ngón tay (Hand and Finger Strength): khả năng sử dụng sức của bàn tay và ngón tay để chống lại lực đối kháng

Dựa vào định nghĩa trên, một số thao tác trong đó trẻ 18-24 tháng phải dùng đến khả năng sử dụng sức mạnh của bàn tay và ngón tay có thể được nói đến là: vặn mở tay

nắm cửa; dùng búa đóng cọc; dùng tay ấn vòi rửa tay; bóp cần vòi xịt nhà vệ sinh; bóp

kẹp phơi đồ Nhìn chung trẻ chưa thể cầm những đồ vật quá nặng vì sợi cơ của trẻ còn

mảnh, lực co cơ của trẻ còn yếu [16]

Trang 24

• Khả năng phối hợp tay-mắt (Hand-eye coordination): Là khả năng xử lý thông tin nhận được từ mắt, từ đó kiểm soát, hướng dẫn và chỉ đạo đôi tay trong việc hoàn thành một nhiệm vụ nhất định Chẳng hạn trẻ 18-24 tháng dùng mắt để điều khiển bàn tay bốc những vật nhỏ; ráp các khối đúng khớp trong trò chơi lắp ráp; lồng

hộp to vào hộp nhỏ Trẻ có thể lấy ra, bỏ vào đồ vật từ vật chứa này sang vật chứa khác Ngoài ra trẻ có thể sử dụng ngón tay cái và ngón tay khác để nhặt những đồ vật

nhỏ một cách chính xác và hữu hiệu

• Khả năng sử dụng đồ vật (Object Manipulation): Khả năng thao tác thành

thạo trên công cụ, bao gồm cả khả năng giữ-di chuyển và điều khiển-sử dụng các công

cụ kiểm soát hàng ngày như bàn chải đánh răng, lược, bút, kéo Trẻ 18-24 tháng sử

dụng được một số đồ dùng, đồ chơi theo chức năng của nó Bước đầu thể hiện tính tự

lực trong một số việc tự phục vụ (ăn uống, cầm ly uống nước, mang-cởi giày, cởi vớ, kéo khóa ba lô) [19, tr.489] Các bé biết rửa và lau tay, cởi quần áo với sự giúp đỡ của người lớn [8, tr.106]

• Khả năng sử dụng từng ngón tay riêng biệt (Finger Isolation) là khả năng

mỗi lần di chuyển một ngón tay khác nhau chẳng hạn như dùng từng ngón tay để ấn phím đàn, để chỉ trỏ, ấn viết, ấn đất sét

Một kỹ năng vận động tinh không chỉ chứa đựng một khả năng duy nhất mà còn mang trong mình các khả năng khác Đơn cử như khi xâu hạt, trẻ không chỉ sử

dụng khả năng phối hợp hai bên mà còn huy động khả năng phối hợp tay-mắt và khả năng cầm bốc [20, tr.157]

1.3 Đặc điểm phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Thông thường các nhỏ như cơ bàn tay, cơ lòng bàn tay phát triển muộn hơn cơ vai, cơ cánh tay, cơ cẳng tay [16] Vì vậy có thể nói vận động tinh của trẻ phát triển sau vận động thô Do các cơ nhỏ của trẻ chưa phát triển trong việc phối hợp để co lại nên trẻ mẫu giáo nói chung đặc biệt là trẻ nhỏ như trẻ 18-24 tháng nói riêng chưa thực

Trang 25

hoàn thiện dần của vỏ não Trong những năm đầu đời, tay trẻ phát triển từ xúc giác, đến các hành động vu vơ, sau đó mới có hành động với đồ vật nhằm hướng đến chức năng và cách sử dụng đồ vật [10, tr.14] Vào cuối tuổi lên một đầu tuổi lên hai, trẻ đã

bắt đầu quen dần với cử động của bàn tay nói cũng như của ngón cái và ngón trỏ [16] Trước khi trẻ được 18 tháng, trẻ đã có thể thực hiện những vận động tinh cơ bản như

lồng đồ vật này vào đồ vật khác, thả những viên tròn nhỏ vào chai cổ nhỏ; lật trang sách; cho ngón tay vào các lỗ-khe; đẩy các đồ vật; ném đi ném lại; mở hộp; vẽ nguệch ngoạc thô sơ; xếp chồng 2-4 khối vuông lên nhau Trẻ sử dụng cùng một lúc tất cả các ngón tay thành một nhóm cầm vật hoặc giữa ngón cái và đầu ngón trỏ một cách khéo léo khiến cho việc cầm nắm chính xác, chắc chắn [15, tr.131] Những vận động tinh này sẽ là tiền đề để trẻ 18-24 tháng phát triển khả năng phối hợp vận động của đôi tay,

thực hiện được những vận động phức tạp, tinh tế hơn Kỹ năng vận động tinh phát triển ở trẻ 18-24 tháng như sau:

Đầu 18 tháng, trẻ có khả năng phối hợp hai bàn tay để điều khiển các vật ở mức

độ đơn giản, chẳng hạn như lật sách vải hoặc sách bìa cứng (một tay giữ sách, tay còn

lại lật sách), một tay cầm ví, một tay kéo khóa để mở và đóng ví trong điều kiện đầu khóa kéo dài để trẻ cầm không bị tuột tay Vào giai đoạn đầu này, trẻ sử dụng lực của bàn tay, ngón tay tay để bóp đồ chơi chút chít Trẻ chưa có khả năng xoay, vặn nắp chai, lọ, mà chỉ mới đặt được nắp lên miệng chai, lọ

Khi trẻ càng lớn, trẻ càng thực hiện được các vận động phối hợp khéo léo của tay Có thể thấy chương trình giáo dục mầm non 2009 đã đưa ra các nội dung giáo dục

ở lứa tuổi này khá phong phú: tập co, duỗi ngón tay, đan ngón tay; cầm, bóp, gõ, đóng

đồ vật; đóng mở nắp có ren; tháo lắp, lồng hộp tròn, vuông; xếp chồng 4-5 khối; vạch các nét nguệch ngoạc bằng ngón tay [1] Khi trẻ được khoảng 20 tháng, trẻ bước đầu đã

biết cách sử dụng công cụ đơn giản như cầm muỗng xúc ăn, đập búa, cầm chặt bút sáp

để vẽ nguệch ngoạc Tuy nhiên trẻ còn cầm bút màu bằng cả năm ngón tay và thường

cầm ở vị trí đuôi bút Khi trẻ sử dụng hai tay để thực hiện cùng một động tác, trẻ có thể đập các khối với nhau hoặc dùng hai tay để nhấc vật và mang đến vị trí khác

Khi gần lên hai, trẻ biết phối hợp hai tay trong hoạt động như dùng một tay vịn

giấy, một tay cầm bút vẽ; tuy vậy nét vẽ của trẻ còn nguệch ngoạc vì bàn tay của trẻ

Trang 26

chưa thể di chuyển theo hướng trẻ muốn Theo tác giả Lê Thanh Thủy, lúc này nét vẽ

của trẻ không có ý nghĩa vì trẻ chưa có chủ ý thể hiện một sự vật nhất định mà thao tác

của trẻ chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu vận động và chỉ là kết quả của sự bắt chước hành động của người lớn Trẻ còn có khả năng bắt chước người lớn xếp giấy đơn giản, trong

đó trẻ phải sử dụng hai tay theo một loạt các động tác để đạt được kết quả như mong

muốn [14, tr.42] Cũng liên quan đến khả năng tiền tạo hình, nếu cho trẻ nhiều bút sáp màu thì trẻ với được màu nào thì sẽ dùng màu đó Hiện tượng này là do trẻ chưa quan tâm đến công dụng của bút vẽ và chỉ tập trung vào sự vận động để biến đổi các đường nét.8 Các bé cầm bút còn sai tư thế như cầm chặt bằng năm ngón tay và các ngón tay đặt trên cán bút Trẻ thường cầm ở hai tư thế: một là ngón cái hướng xuống đất như cách cầm dao hoặc cầm bàn chải đánh răng; hai là ngón út hướng xuống đất Ở giai đoạn này, trẻ có thể lật sách (một tay giữ sách, tay còn lại lật sách) [31], sự tiến bộ của

trẻ nằm ở việc trẻ không còn lật một lúc nhiều trang mà lật riêng từng trang sách [14, tr.76] Đây cũng là lúc trẻ có thể sử dụng kỹ năng vận động tinh vào lao động tự phục

vụ như kéo quần lên-xuống để đi vệ sinh, nhưng còn xộc xệch; vặn nắp chai, lọ; vặn

mở tay nắm cửa, đổ nước vào ly; trẻ có thể sử dụng muỗng thuần thục để xúc thức ăn

hoặc múc vật nhỏ từ vật chứa này sang vật chứa khác [8, tr.106], [14, tr.31], [29] Ở

tuổi lên hai, trẻ có thể sử dụng ngón tay cái và ngón tay khác để nhặt những đồ vật nhỏ

một cách chính xác-đơn cử như nhặt được cây kim gút lên bằng cách kẹp ngón tay cái

và ngón tay trỏ [14, tr.24] Lúc này, sự phối hợp mắt và tay của trẻ đã có sự tăng cường về độ chính xác trong vị trí chẳng hạn trẻ xếp được một tháp ngay ngắn gồm sáu khối vuông; xếp chồng được 2-3 khối trụ; tháo lắp; lồng được 3-4 hộp tròn [1], [14, tr.31] Khi trẻ gần hai tuổi, cùng với sự phát triển của tri giác, trí nhớ, trẻ dần dần

thực hiện một loạt thao tác như khi muốn uống nước, trẻ có thể lấy ly, ấn vòi nước, bưng ly bằng hai tay, uống xong úp ly Trẻ có thể nghe hiểu và thực hiện theo yêu cầu

của người lớn cần đến kỹ năng vận động tinh

8Lê Thanh Thủy (2008), Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ mầm non,

NXB Đại học Sư phạm

Trang 27

Từ những đặc điểm phát triển trên kết hợp với lý luận về khái niệm kỹ năng vận động tinh, chúng tôi xem sự phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng là quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chỗ trẻ chỉ phối hợp hai bàn tay để điều khiển các vật ở mức độ đơn giản đến vận động phối hợp tay mắt khéo léo hơn đến chỗ tăng cường về độ chính xác và thuần thục trong vận động của đôi tay

1.4 Vai trò của kỹ năng vận động tinh đối với trẻ 18-24 tháng

1.4.1 Vai trò c ủa kỹ năng vận động tinh đối với sự phát triển nhận thức của trẻ 18-24 tháng

Vận động của tay có liên quan mật thiết với trí tuệ của loài người [12, tr.51], [19, tr.489] Từ thời Hy Lạp cổ đại, Aristote đã khẳng định “Bàn tay là công cụ của các công cụ” [24], [28] Kỹ năng vận động tinh có sự liên hệ với sự phát triển của não

bộ Khi các cơ nhỏ di chuyển, các đường dẫn tín hiệu trong não được kích thích và

củng cố, đồng thời tăng cường sự phối hợp giữa các tế bào thần kinh và giữa các bộ

phận của não [19, tr.489] Thực tế là đầu ngón tay là nơi hội tụ cơ quan thụ cảm của hệ

thần kinh và là nơi tiếp nhận các xung động để gửi đến não Các trò chơi với bàn ngón tay tác động đến các đầu dây thần kinh ảnh hưởng đến não bộ của trẻ và hoạt động của não sẽ được kích hoạt Nhờ trò chơi với các ngón tay, trẻ thu nhận được các

tay-cảm giác, từ đó phát triển khả năng chú ý Trong quá trình người lớn tương tác, hướng

dẫn trẻ chơi và chơi cùng trẻ, các mối quan hệ giữa người lớn và trẻ sẽ ngày càng tốt hơn [24] Nhiều công trình khoa học đã chỉ ra rằng vùng não cần cho việc học toán, đọc và các chức năng nhận thức khác được kích hoạt khi trẻ sử dụng kỹ năng vận động tinh [20, tr.153] Vì thế nhà triết gia thời kỳ cận đại của Đức Immanuel Kant đã nhận định: “Đôi tay là sự nối dài của bộ não” [24]

Kỹ năng vận động tinh đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với trẻ 18-24 tháng mà về lâu dài, còn giúp trẻ dễ dàng học tập trong tương lai hơn Các kỹ năng vận động tinh giúp trẻ dễ dàng thực hiện các thao tác khám phá, so sánh và phân loại Qua

đó, trẻ học nhiều hơn về môi trường xung quanh mình Các kỹ năng này cho phép trẻ đưa các ý tưởng sáng tạo ra thực tế bằng cách tạo ra các sản phẩm trong hoạt động nghệ thuật và hoạt động vui chơi [14, tr.1] Việc trẻ có khả năng thống nhất hai tay tốt

là một chỉ báo rằng cả hai bên của não đang giao tiếp và chia sẻ thông tin hiệu quả [29] Những trẻ em gặp khó khăn trong việc phối hợp cả hai bên trái-phải thì có thể

Trang 28

gặp khó khăn khi hoàn thành nhiệm vụ sinh hoạt hàng ngày, các nhiệm vụ vận động

thị giác và các hoạt động vận động thô Hơn nữa, kỹ năng vận động tinh mang lại cho

trẻ khả năng dùng dụng cụ để tự giải quyết các vấn đề đơn giản để đạt mục đích chẳng

hạn dùng gậy để lấy vật, cũng như những vấn đề thực tế xảy ra hàng ngày [14, tr.47] Ngoài ra, sự phối hợp tay-mắt của nhận thức và vận động là điều kiện tiên quyết để trẻ

tập đọc và viết từ trái sang phải khi đi học [7, tr.14] Khả năng sử dụng từng ngón tay riêng biệt góp phần phát triển khả năng cầm bút, gõ phím vi tính, chơi nhạc cụ, buộc dây giày và vô số các kỹ năng sinh hoạt hàng ngày khác [31]

Chính vì thế, nhà giáo dục toàn diện Vasyl Sukhomlynsky đã nêu bật vai trò

của kỹ năng vận động tinh đối với não bộ của trẻ với lời khẳng định: “Trẻ nào có kỹ năng vận động tinh tốt hơn thì sẽ thông minh hơn” [24] Kết quả nghiên cứu trên 1000

trẻ từ lúc lọt lòng đến tuổi mẫu giáo do Grissmer, Grimm, Aiyer, Murah và Steele thực

hiện năm 2010 cho thấy kỹ năng vận động tinh của trẻ trước tuổi học là yếu tố dự báo

mạnh mẽ cho sự thành công về sau của trẻ [19, tr.489] Điều này một lần nữa cho thấy

tầm quan trọng của kỹ năng vận động tinh trong sự phát triển của trẻ 18-24 tháng nói riêng và trong cuộc sống của con người nói chung

1.4.2 Vai trò c ủa kỹ năng vận động tinh đối với sự phát triển hoạt động

v ới đồ vật của trẻ 18-24 tháng

Khi kỹ năng vận động tinh phát triển mạnh, trẻ sẽ dễ dàng tham gia vào các

hoạt động đòi hỏi có sự chuyển động của bàn tay, ngón tay, cổ tay nói chung và trong

hoạt động với đồ vật nói riêng [19, tr.489] Khi trẻ thao tác với đồ vật có chủ đích, trẻ

sẽ dần dần tiếp thu các biểu tượng về thuộc tính của đồ vật như hình dạng, kích thước

và trọng lượng… [15, tr.115] Song song đó, trẻ sẽ nhận ra rằng so với vật nhẹ thì vật

nặng sẽ đòi hỏi cần nhiều lực hơn để di chuyển; đối với các vật có kích thước nhỏ, trẻ

nhận ra rằng chỉ cần dùng các ngón tay đã có thể di chuyển được Một điều trẻ dễ dàng rút ra là trẻ có thể tháo rời hoặc ráp các bộ phận của một vật lại [26] Những điều này

sẽ giúp trẻ khám phá chức năng, công dụng của các đồ vật trong thế giới xung quanh

một cách dễ dàng hơn [19, tr.489]

Không dừng lại ở đó, vận động tinh giúp trẻ tăng khả năng sử dụng đồ vật như khả năng sử dụng kéo, muỗng, bút vẽ Nếu trẻ bị hạn chế về vận động tinh thì không

Trang 29

chỉ các kỹ năng tiền học đường mà các kỹ năng học tập ở lớp 1 sẽ khó được hình thành Chẳng hạn như kỹ năng viết, vẽ, lắp ráp, làm thủ công… cũng cần có nền tảng

của kỹ năng vận động tinh [20] Hơn nữa, kỹ năng vận động tinh ảnh hưởng nhiều đến

chất lượng cũng như tốc độ thực hiện nhiệm vụ trong cuộc sống [29] Như vậy, kỹ năng vận động tinh càng phát triển, càng giúp trẻ tham gia đa dạng các hoạt động phức

tạp từ đó nhận thức của trẻ sẽ được mở rộng hơn Đồng thời kỹ năng vận động tinh sẽ giúp các quá trình tâm lý khác được tăng cường [15, tr.114] Chẳng hạn kỹ năng này

sẽ thúc đẩy tưởng tượng sáng tạo của trẻ vì nó cho phép trẻ dễ dàng thể hiện các ý tưởng sáng tạo [25] Dưới lăng kính của thuyết Montessori về sự tập trung chú ý, nhóm tác giả Audrey C Rule và Roger A Stewart và Debra A Giordano đã chứng minh sự tập trung chú ý của trẻ đã tăng lên nhờ trẻ tham gia vào các hoạt động vận động tinh Vì thực chất là kỹ năng vận động tinh chính là yếu tố duy trì sự hứng thú

của trẻ trong các hoạt động với đôi tay [13, tr.14]

1.4.3 Vai trò c ủa kỹ năng vận động tinh đối với sự phát triển kỹ năng tự

áo, không tự xúc ăn được, không biết mang giày…, trẻ sẽ có mặc cảm mình thất bại và không bằng bạn Từ đó, trẻ càng ngại thực hiện hành động tự phục vụ và khi không được luyện tập như vậy, thì kỹ năng vận động tinh của trẻ càng mai một và trẻ sẽ thiếu kinh nghiệm chăm sóc bản thân, phải phụ thuộc vào người khác Vô hình trung, trẻ bị vướng vào vòng luẩn quẩn không biết làm-ngại làm-từ đó càng không biết làm và kết

quả là trẻ sẽ thua kém bạn bè [20, tr.153] Nói cách khác, kỹ năng vận động tinh tốt sẽ giúp trẻ tránh những lúng túng trong những lao động tự phục vụ kéo theo đó, trẻ sẽ thêm tự tin, nhận thức về bản thân sẽ được nâng cao [14, tr.1], [20, tr.153], [22, tr.113], [25]

Trang 30

1.4.4 Vai trò c ủa kỹ năng vận động tinh đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 18-24 tháng

Hoạt động đôi tay cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ, chất lượng của ngôn

ngữ thu được [24] Sự phát triển vận động tinh thúc đẩy sự phát triển của mối liên kết

giữa các bán cầu não Khi đôi tay tương tác với đồ vật thì bán cầu não phải của trẻ thu

nhận một loạt các hình ảnh của các sự vật-hiện tượng và bán cầu não trái sẽ diễn đạt

bằng lời và quá trình này xảy ra do sự gắn kết trên Khi sự gắn kết này mạnh hơn, thì các xung thần kinh sẽ được truyền đi nhanh hơn, thường xuyên hơn, từ đó quá trình tư duy tích cực hay khả năng chú ý cao hơn [24], [28] Hơn nữa khi trẻ thực hiện một vận động tinh nào đó với người lớn, trẻ sẽ được mở rộng vốn từ, rõ nhất là những động từ như xâu, xoay, vặn, xếp chồng,… và khả năng hiểu lời nói khi người lớn yêu cầu trẻ

thực hiện vận động tinh

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

• Về phía trẻ

Kỹ năng vận động bị ảnh hưởng bởi tri giác, hoạt động của hệ thần kinh, nhận

thức, động lực để thực hiện một nhiệm vụ [20, tr.153] Do đó, để phát triển kỹ năng

vận động tinh, yếu tố cần thiết cần quan tâm là những đặc điểm tâm lý nhận thức có liên quan đến sự phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng:

Theo tổng hợp của Nguyễn Ánh Tuyết, trẻ 18-24 tháng đang thuộc vào giai đoạn tuổi ấu nhi với hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật, trẻ luôn hướng vào thế

giới đồ vật để khám phá chức năng và phương thức hành động tương ứng Trong giai đoạn này, trẻ luôn muốn tìm hiểu, khám phá xem cần hành động với các đồ vật xung quanh như thế nào Nhu cầu chủ yếu của trẻ ấu nhi là khám phá thế giới đồ vật và sử

dụng chúng [10, tr.13], [15, tr.125] Do đó, khi gặp một đồ vật nào, trẻ cũng muốn hành động với nó Theo Erik Erikson thì ở trẻ từ 18 tháng đến 36 tháng mâu thuẫn

giữa tự chủ với hoài nghi và xấu hổ Theo đó, trẻ ấu nhi đã và đang phát triển sự tự lực khi trẻ làm chủ kỹ năng vận động mới trong đó có kỹ năng vận động tinh; hoặc có bước tiến mới trong việc tự phục vụ bản thân và không bị phụ thuộc vào người khác [22, tr.111] Theo Bev Olsson, thông qua việc luyện tập cả vận động tinh và vận động thô, trẻ dần dần học cách làm chủ cơ thể mình và trẻ biết được điều mình có thể làm và

Trang 31

luôn mong muốn được độc lập Rõ ràng là giữa vận động tinh và những lao động tự

phục vụ của trẻ có mối quan hệ qua lại Nhờ có vận động tinh của đôi tay mà trẻ tự

thực hiện được các thao tác và khi trẻ được thực hiện thường xuyên những lao động tự

phục vụ thì các động tác tay của trẻ dần khéo léo hơn, chính xác hơn [10, tr.46] Do đó khi phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ, yếu tố tự phục vụ không thể bị bỏ qua

Trong hành động công cụ, lúc đầu sự chú ý của trẻ hướng tới đối tượng nên hành động chưa thành công Chẳng hạn trẻ hướng về đối tượng là “cơm” mà không để

ý đến công cụ là “muỗng” nên trẻ xúc ăn còn rơi vãi nhiều Về sau trẻ mới quan tâm đến quan hệ giữa công cụ và đối tượng hướng tới Trẻ phải thực hành nhiều để bàn tay thích nghi với cấu tạo công cụ [15, tr.127] Cơ sở lý luận này giải thích vì sao vận động tinh của trẻ lứa tuổi này còn vụng về và để phát triển kỹ năng vận động tinh, trẻ

cần được luyện tập nhiều hơn Jodene Smith cũng đã đút kết một đặc điểm của trẻ ấu nhi là trẻ học thông qua việc đi lặp lại thường xuyên một hoạt động [23, tr.9]

Trong hành động thiết lập mối tương quan, trẻ đã biết tính đến thuộc tính của đối tượng để lắp ráp, sắp xếp các đối tượng theo một trình tự nhất định Trẻ ấu nhi nói chung đã biết sắp xếp các vật trong quan hệ không gian nhất định (xếp hình tháp, xâu

hột…) Sau 18 tháng, về ngôn ngữ, trẻ đã có thể nghe hiểu lời nói của người lớn đã tách ra khỏi tình huống cụ thể Do đó, người lớn có thể dùng lời để yêu cầu và chỉ dẫn cho trẻ hành động với đôi tay [15, tr.222] Về mặt tư duy, trẻ 18-24 tháng thuộc thời

kỳ 6 trong giai đoạn giác động theo sự phân kỳ của Piaget Ở trẻ mới xuất hiện khả năng nhập tâm các hành vi, có nghĩa là trẻ không cần hành động thử sai trên bình diện bên ngoài nữa mà có thể bắt chước người lớn để thực hiện chính xác hành động [22, tr.26] Mặt khác, theo nhóm tác giả ICPO "Sức khỏe trong thế kỷ XXI”, trẻ phải có

khả năng mô phỏng sự chuyển động, tức là lặp lại động tác đơn giản theo người lớn [25] Các yếu tố này chứng minh sự cần thiết để những biện pháp phát triển kỹ năng

vận động tinh ở lứa tuổi này như chỉ dẫn bằng lời, làm mẫu, cho trẻ tự thực hiện

Bev Olsson nhận định hứng thú của trẻ ấu nhi nói riêng và trẻ 18-24 tháng không ngừng thay đổi do trẻ phát triển trí tuệ một cách nhanh chóng [10, tr.35] Do đó các bài tập, trò chơi phát triển kỹ năng vận động tinh phải được chọn lọc, thiết kế phù

hợp với lứa tuổi của trẻ và cần có nhiều hoạt động đa dạng đáp ứng các nhu cầu, hứng

Trang 32

thú của trẻ Đây là giai đoạn trẻ là người học năng động, ham thích khám phá, rất hay

bắt chước, hình thành tính độc lập và phát triển ngôn ngữ [10, tr.36]

Ngoài những đặc điểm tâm lý nhận thức trên, theo nhóm tác giả ICPO "Sức

khỏe trong thế kỷ XXI " của Minsk (2010), muốn phát triển vận động tinh trẻ cần đạt được mức độ nhất định của sự phát triển các kỹ năng vận động thô Để thực hiện tốt

một vận động tinh một cách chính xác trẻ phải ngồi vững chắc, giữ cân bằng và cần

phải có một kiểm soát phát triển tốt của đầu, vai [25] Do đó, trẻ cần được luyện tập để nâng cao kỹ năng vận động thô là cần thiết cho sự hình thành và phát triển của kỹ năng

vận động tinh

• Các yếu tố khác

Sự tham gia của người lớn với hoạt động của trẻ ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ năng vận động tinh Thao tác trực tiếp trên đồ vật sẽ dễ hơn so với việc trẻ phải sử

dụng một đồ vật như một công cụ để tác động lên đồ vật khác Nếu trẻ bốc thức ăn

bằng tay, trẻ chỉ việc đưa thẳng tay từ chỗ đặt đồ ăn lên miệng Trong khi trẻ cầm thìa xúc, cấu tạo của muỗng đòi hỏi trẻ phải giữ cho thức ăn không rơi ra ngoài sau khi xúc đầy cơm lên Trong giai đoạn đầu công cụ chỉ như sự nối dài của đôi tay Kế đến, trẻ định hướng vào mối liên hệ giữa công cụ và đối tượng Đến khi bàn tay của trẻ tuân

thủ cấu tạo của công cụ, cũng là lúc trẻ thực sự nắm vững phương thực sự dụng công

cụ-điều được xã hội loài người đúc kết nên [10, tr.25] Để có được điều này, trẻ cần sự

chỉ dẫn một cách có hệ thống của người lớn (làm mẫu hành động, chỉnh sửa tay cho

trẻ, hướng trẻ chú ý đến kết quả Cũng như các hoạt động khác, khi trẻ hoạt động

nhằm phát triển kỹ năng vận động tinh, trẻ cần giao tiếp với người lớn Hành động ban đầu thực hiện hoàn toàn cùng người lớn đến hành động chỉ có sự hỗ trợ một phần đến hành động theo mẫu và cuối cùng là tự thực hiện hành động theo sự chỉ dẫn bằng lời

của người lớn Nắm được điều này, người lớn cần hướng dẫn trẻ theo tiến trình: toàn

phần-từng phần-làm mẫu-chỉ dẫn bằng lời [10, tr.14] Khi người lớn không có thời gian chơi cùng trẻ (hướng dẫn, kích thích bằng tình cảm, động viên) mà chỉ cung cấp cho trẻ đồ chơi phong phú thì đến một lúc nào đó, trẻ sẽ chán và muốn đổi sang đồ chơi khác [14], [15, tr.116] Chính vì vậy, kỹ năng chưa được luyện tập nhiều đã bị gián đoạn Định kiến của người lớn cũng không kém phần ảnh hưởng đến sự khéo léo

của đôi tay Đơn cử như khi người lớn thấy trẻ cố ý tháo rời đồ chơi của mình, hoặc

Trang 33

chạm vào những vật dễ vỡ thì họ cho rằng trẻ đang phá hoại [12, tr.256] Vì vậy, nếu giáo viên và phụ huynh hiểu nhu cầu của trẻ thì sẽ để cho trẻ tự do làm những việc trong khả năng từ đó phát triển

Về đồ vật đồ chơi dùng cho việc phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ, đặc điểm bên ngoài của đồ vật sẽ qui định các trẻ thao tác bằng tay (múc trong tô khác múc trong dĩa, uống nước bằng ca có tay cầm khác ca không có tay cầm) [10, tr.16]

Do đó khi kỹ năng vận động tinh của trẻ còn yếu, giáo viên cần cung cấp những đồ vật cho trẻ dễ sử dụng (muỗng cán dài, tô có miệng lớn, ly có tay cầm…) để việc luyện tập

của trẻ không gặp thử thách ngoài khả năng của trẻ Có được công cụ vừa với đôi tay,

dễ dàng để sử dụng mà bản thân trẻ cầm sai cách thì hiệu quả phát triển kỹ năng vận động tinh không cao Xét riêng trong hoạt động tiền tạo hình, khi trẻ cầm công cụ không chính xác sẽ ảnh hưởng đến thao tác tạo hình của đôi tay Nói cách khác, nếu

trẻ cầm công cụ chính xác thì trẻ sẽ thực hiện dễ dàng các nhiệm vụ liên quan đến kỹ năng vận động tinh và người lớn cần giúp trẻ hoàn thiện thao tác một cách đúng kỹ thuật Do đó một yếu tố không kém phần quan trọng là sự điều chỉnh kịp thời của người lớn khi trẻ sử dụng đôi tay với thao tác không đúng cách Số lượng đồ vật cho

trẻ thao tác cũng là một yếu tố cần lưu ý Đối với trẻ dưới 2 tuổi không nên sử dụng quá 2 cặp (lồng hộp, ghép hình), đồ chơi như tháp, khối gỗ không nên quá 5 bộ phận [10, tr.16] Môi trường trong lớp và ngoài lớp khi có đủ đồ chơi, sẽ tránh được tình

trạng trẻ tranh giành nhau, làm gián đoạn hoạt động của trẻ Đặc biệt là trong lớp có đủ

đồ chơi phát triển vận động tinh thì trẻ mới được luyện tập để từ đó kỹ năng của trẻ phát triển kỹ năng này [19, tr.491] Tương tự như những kỹ năng khác, kỹ năng vận động tinh được hình thành qua con đường luyện tập vì nếu không được tiếp tục củng

cố, kỹ năng này sẽ bị yếu dần Khi dạy trẻ trong giai đoạn 18-24 tháng, các kĩ năng

mới cần được lặp đi lặp lại cho đến khi trẻ thành thạo [10, tr.36] Do đó, luyện tập là

một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của kỹ năng vận động tinh

Diện tích lớp, số trẻ trong lớp cũng là yếu tố quan trọng Nếu trẻ quá đông sẽ khó đáp ứng về số lượng đồ chơi cho từng trẻ Diện tích lớp chật sẽ khiến cho trẻ phải

ngồi sát nhau khi trẻ chơi tập có chủ đích Như vậy, trẻ sẽ dễ giành giật đồ chơi với

bạn làm nảy sinh tình huống để giáo viên phải xử lý Từ đó, thời gian để phát triển vận động tinh qua hoạt động chơi tập không còn là bao

Trang 34

1.6 Biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

1.6.1 Khái ni ệm biện pháp

Trong giáo dục học, thông thường biện pháp được hiểu là cách làm, cách thực

hiện cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa nhà giáo dục với người học hướng đến thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra Biện pháp là những thành tố cụ

thể của một phương pháp nào đó Một phương pháp càng có nhiều biện pháp khác nhau thì càng hữu hiệu cho việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển nhận thức và năng

lực thực hành Biện pháp giống phương pháp ở chỗ nó được qui định bằng hoạt động

hợp tác cùng nhau giữa giáo viên và trẻ nhằm đạt được mục tiêu giáo dục Tuy nhiên phương pháp mang tính khái quát chung hướng đến giải quyết toàn thể nhiệm vụ còn

biện pháp mang tính cụ thể, nhằm mục đích giải quyết những nhiệm vụ đơn lẻ [5, tr.88]

1.6.2 Bi ện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ 18-24 tháng

Từ khái niệm về biện pháp, khái niệm “Biện pháp phát triển kỹ năng vận tinh

của trẻ 18-24 tháng ” trong phạm vi đề tài được xác định như sau:

“Biện pháp phát triển kỹ năng vận tinh của trẻ 18-24 tháng” là cách làm, cách tác động một cách có định hướng của giáo viên nhằm phát triển năng lực thực hiện hành động của trẻ bằng các nhóm cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay phối hợp với cơ mắt

một cách tinh tế và chính xác từ đơn giản đến phức tạp theo từng giai đoạn lứa tuổi

Biện pháp phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ 18-24 tháng căn cứ vào các quan điểm giáo dục mầm non Việt Nam, cụ thể là [5, tr.52-60]:

Các biện pháp đáp ứng quan điểm tích hợp Tích hợp trong hoạt động dưới các hình thức khác nhau đảm bảo trẻ được luyện tập mọi lúc mọi nơi Trong một thời điểm, các biện pháp không chỉ được sử dụng riêng lẻ mà được linh hoạt lồng ghép với nhau để tạo nên sự thay đổi hấp dẫn trẻ hoạt động

Quan điểm hệ thống: trẻ được tạo môi trường hoạt động và được giao nhiệm vụ

từ dễ đến khó đảm bảo giáo dục đi trước sự phát triển

Quan điểm phát huy tính tích cực của trẻ trong hoạt động: phát triển kỹ năng

vận động tinh cho trẻ cần thông qua hoạt động chủ đạo- hoạt động với đồ vật Trẻ được tạo môi trường để hoạt động tích cực, tự do để thực hiện các hành động công cụ

Trang 35

và hành động thiết lập mối tương quan Qua đó trẻ được phát triển kỹ năng vận động tinh

Để các biện pháp được vận dụng hiệu quả trong thực tế, cần đảm bảo các nguyên tắc vận hành sau:

- Các biện pháp được đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với đặc điểm phát triển kỹ năng vận động tinh, hoạt động chủ đạo của trẻ 18 – 24 tháng và từng cá nhân

trẻ; phù hợp với điều kiện thực tiễn của trường, lớp (cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi,

1.6.2.1. Xây d ựng môi trường đồ dùng-đồ chơi kích thích trẻ hoạt động

Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà, xây dựng môi trường đồ chơi là việc trang

bị, sắp xếp đồ chơi và những đồ dùng khác với mục tiêu là đáp ứng khả năng chơi hiện

tại và triển vọng phát triển hoạt động chơi không chỉ của từng cá nhân trẻ mà của cả nhóm trẻ nói chung Môi trường đồ dùng đồ chơi được xây dựng trong trạng thái vận động, mang tính phát triển [4, tr.108]

• Về việc trang bị đồ dùng-đồ chơi:

Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà, trang bị đồ dùng-đồ chơi bao gồm việc bổ sung và cất đồ dùng đồ chơi nếu không cần thiết [4, tr.108] Những cơ sở để trang bị

đồ dùng, nguyên vật liệu giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động tinh:

Đồ dùng-đồ chơi được cung cấp cần tính đến khả năng kích thích trẻ thực hiện chuyển động đơn giản như vuốt, cầm nắm đến những thao tác cao hơn như đặt vào, lấy ra; xếp lại; đổ qua đổ lại Với trẻ có khả năng cầm nắm hạn chế, người lớn cần cho trẻ

sử dụng cọ vẽ, bút sáp loại to cho trẻ dễ cầm Những đồ chơi nhằm tăng cường phối

hợp tay và mắt như xếp chồng các khối vuông, xâu chuỗi hạt lớn, đồ chơi ghép những

khối hình đơn giản được đính chốt nắm trên khung hình lõm [27] Khi đó, trẻ sẽ dùng bàn tay, các ngón tay để cầm chốt nắm và dùng mắt điều khiển để đưa mảnh ghép vào

vị trí thích hợp Những đồ vật nhỏ nhưng đảm bảo an toàn như nho khô, bánh snack,

Trang 36

trái cây được cắt nhỏ… sẽ tạo cho trẻ cơ hội sử dụng ngón cái và các ngón khác để

nhặt [14, tr.20] Một số vật dễ tìm sẽ giúp trẻ phát triển kỹ năng tinh như sợi ruy băng

hoặc len, cọng mì, hột hạt to, hoa, lá, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, giấy báo, tạp chí đã đọc qua, dải ni lông màu sắc tươi sáng… các đồ chơi vừa tay cầm của trẻ (bộ lồng hộp,

bộ xâu hạt, bộ đóng chốt) Đối với các vật có kích thước nhỏ, khi trẻ chơi luôn cần sự giám sát của người lớn [14, tr.24], [8, tr.117]

Đồ chơi giúp trẻ phát triển sức mạnh, kiểm soát và sự khéo léo trong sử dụng

đồ vật-đồ chơi như miếng bọt biển để trẻ vắt, đồ chơi chút chít để bóp [27] Đồ

chơi-đồ vật phát triển vận động tinh cần có ở mọi nơi, trong nhà lẫn ngoài trời Các nguyên

vật liệu cần đa đạng để đáp ứng nhu cầu của từng cá nhân trẻ [20, tr.156] Nói cách khác, môi trường sẽ cung cấp nhiều sự lựa chọn với từng trẻ có khả năng khác nhau

Những lao động tự phục vụ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động tinh

Nhằm kích thích trẻ tự thực hiện dạng lao động này, các vật dụng đều phải nhỏ gọn, dễ

di chuyển và phù hợp với chiều cao, tầm với của trẻ, trẻ có thể lấy bấy kỳ lúc nào [11, tr.89] Môi trường ở đây còn là áo quần, giày dép mà trẻ được mặc, là nơi mà trẻ đi vệ sinh Phụ huynh cần cho trẻ mặc các loại quần áo, giày dép mà trẻ dễ mang vào, cởi ra [21, tr.155] Theo lời khuyên của một số chuyên gia thì việc sử dụng bô nhỏ không

phải là cách tốt để cho trẻ ấu nhi đi vệ sinh Thay vào đó, họ khuyến cáo rằng việc sử

dụng nhà vệ sinh kích thước nhỏ khiến cho trẻ cảm thấy tự tin, thoải mái trong việc sử

dụng nó [21] Ngoài ra trong nhà vệ sinh có những vật giúp trẻ phát triển kỹ năng vận động tinh như nút ấn xả nước

Khi trẻ lên hai, trẻ không còn bị thu hút bởi hình dáng và màu sắc tươi mới của

vật thể nữa Ngược lại, trẻ lại có hứng thú với những vật thể nhỏ hoặc những đồ vật không mấy nổi trội [12, tr.57] Điều đó có nghĩa là trong môi trường của trẻ 18-24 tháng nên có thêm những vật dụng nhỏ từ thiên nhiên như đậu phọng để trẻ tập bóp vỏ,

trứng cút chín để trẻ lột vỏ, vỏ sò để trẻ dùng ngón tay lật úp ngửa, cát…

• Sắp xếp đồ dùng-đồ chơi:

Việc sắp xếp đồ dùng-đồ chơi dựa trên những cơ sở sau:

Các đồ vật cần được đặt/ treo trong tầm tay của trẻ để khuyến khích trẻ tiếp cận

và dùng bàn tay để hoạt động với vật Đặt đồ vật nhỏ hơn nhưng vẫn đảm an toàn

Trang 37

(không có nguy cơ trẻ nuốt được gây ngạt đường thở) trên một khay cho trẻ tự lấy mà không cần nhờ người lớn lấy giúp và hoạt động với chúng [27], [19, tr.491]

Đồ dùng phục vụ cho nhu cầu cá nhân cần bố trí nơi thuận tiện, có dán hình ảnh

để trẻ nhận ra đồ của mình, tạo cơ hội cho trẻ tự lấy sử dụng khi cần thiết và chú ý đến

sự an toàn vị trí để ly uống nước, chậu hứng nước đề phòng trẻ hứng tràn ly, kệ để giày-ba lô…Hình thức chơi chủ yếu của trẻ ở lứa tuổi 18 – 24 tháng là chơi một mình

và thích hay lấy đồ chơi của bạn [4] Do đó, sắp xếp đồ chơi nên để riêng từng bộ, trong từng rổ riêng cho từng trẻ Hạn chế đưa nhiều bộ đồ chơi vào một góc dành cho nhiều trẻ vì trẻ sẽ tranh giành lẫn nhau

Trẻ lứa tuổi này chỉ mới tư duy trực quan hình ảnh ở mức độ giải quyết những tình huống đơn giản và loài tư duy chiếm ưu thế ở lứa tuổi này là tư duy trực quan hành động Khi gặp tình huống có vấn đề, trẻ thường sử dụng phương thức thử sai trên bình

diện bên ngoài để tư duy Thế nhưng, nếu trẻ thử sai quá nhiều lần sẽ khiến trẻ nản chí

Để tránh xảy ra tình trạng như trên, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khuyến khích người lớn không nên cho trẻ thực hành theo phương thức thử sai mà nên dạy trẻ cách quan sát

bằng mắt [15, tr.129], [10, tr.17] Ở các nơi cần sử dụng kỹ năng vận động tinh của trẻ

cần có thêm tranh mẫu hoặc mô hình mẫu nhằm gợi nhớ cho trẻ cách thực hiện Tranh

mẫu sẽ kích thích trẻ hơn nếu đó là hình chụp thật của chính trẻ ở trong lớp

• Tổ chức cho trẻ hành động với đồ dùng-đồ chơi được trang bị

Nếu như lớp học được trang bị đa dạng đồ chơi bắt mắt nhưng chỉ là mang tính trưng bày thì chưa đủ để phát triển kỹ năng vận động tinh của trẻ Do đó, người lớn

cần tổ chức để tất cả trẻ trong lớp được có cơ hội hoạt động trên đồ vật, đồ chơi đã được chuẩn bị và cho trẻ được tự do lấy-cất đồ, thao tác trên chúng mọi lúc mọi nơi

1.6.2.2. T ạo cơ hội cho trẻ vận động với tay mọi lúc mọi nơi trong chế độ

Có thể nói, toàn bộ thế giới đồ vật xung quanh đều có thể là đối tượng và nội dung hoạt động của trẻ ấu nhi nói chung và trẻ 18-24 tháng nói riêng Hơn nữa, trẻ càng nhỏ thì việc thường xuyên thực hành, luyện tập dưới nhiều hình thức và thời điểm khác nhau là điều cần thiết để phát triển kỹ năng cho trẻ Khắc phục những hạn

chế trong thuyết của Piaget, Fischer và Bidell (1994) đã nhận định, trẻ em cần được

Trang 38

phát triển những kỹ năng đơn lẻ trong những tình huống cụ thể mà trẻ tham gia hằng ngày Những kỹ năng đơn lẻ sẽ được kết hợp thành kỹ năng tổng thể [22, tr.51]

Chính vì vậy, sẽ rất thiếu sót nếu giáo viên chỉ phát triển kỹ năng vận động tinh không tận dụng cơ hội để phát triển kỹ năng vận động tinh cho trẻ mọi lúc mọi nơi,

lồng ghép các trò chơi trẻ thường hay chơi là [5, tr.153], [9]:

• Trò chơi thao tác với đồ vật, đồ chơi, trong đó có thể kể đến là lật giở trang sách bìa cứng; lăn bóng; quay những đồ vật quay tròn được; lấy ra bỏ vào thùng được khoét lỗ những vật có kích thước nhỏ; xé lá, xé giấy; múc các loại đậu khác nhau; quay các loại hạt (hạt gấc, hạt hồng xiêm); dùng muỗng to để múc các khối gỗ (kích thước nhỏ hơn quả banh tennis) [37] [8, tr.117-118]

trứng bằng cây đánh trứng; dùng miếng bọt biển để vắt nước từ tô này sang tô khác;

cầm vòi sen xịt để "tắm" cho búp bê; tưới nước cho cây; dùng cái hộp để tạo ra mô hình máy giặt-trẻ nhét vớ vào "máy giặt"-vò vớ-kẹp vớ lên dây; dùng kẹp gắp để gắp bông len; làm mô hình con mèo có khoét lỗ ở miệng và để trẻ đút thức ăn cho mèo; tìm vật trong cát [36]

Việc phát triển kỹ năng vận động tinh không chỉ được thực hiện ở trong lớp mà còn có thể được tổ chức trong thời điểm trẻ hoạt động ngoài trời Tác giả Bev Olsson

đã cung cấp gợi ý về một số hoạt động tổ chức ngoài trời để trẻ phát triển vận động

của tay: [10, tr.37-39]

• Trẻ kéo, đẩy đồ chơi có thể di chuyển được từ nơi này đến nơi khác Trẻ cũng có thể kéo hộp được đính một sợi dây vào và đi khắp mọi nơi

Trang 39

• Trẻ thao tác trên một bảng, bảng này cho phép trẻ thực hiện nhiều vận động tinh như xoay nắm cửa, đẩy chốt cửa, ấn chuông, đóng mở công tắc điện, ấn bảng số điện thoại, xoay kim đồng hồ

• Trẻ đấm tay vào một túi nhỏ căng phồng, bên ngoài có màu sắc sặc sỡ, bên trong được nhét đầy giấy, được treo trên nhánh cây

• Trẻ thao tác đóng mở nắp hộp (đa dạng về màu sắc và dễ mở), bên trong có

thể đặt một phần thưởng để kích thích trẻ mở ra như kẹo, trái cây khô, bánh

• Trẻ được dùng chổi, cọ để sơn dụng cụ ngoài trời

• Giáo viên và phụ huynh thổi bong bóng nước, khuyến khích trẻ bắt lấy, nhưng xà bông là loại an toàn, không ảnh hưởng đến da tay cũng như sức khỏe của trẻ

• Giáo viên và phụ huynh chuẩn bị những quả bóng to nhỏ khác nhau (bóng bàn, bóng tennis, bóng nhựa…) vào các chiếc vớ dài vào buộc vào cành cây để trẻ với tay lên đập

• Chuông nhỏ được buộc vào tay để kích thích trẻ lắc tay

• Tác giả cũng gợi ý một số đồ vật có thể được đem từ nhà đến để trẻ thao tác

bằng tay như đồng hồ treo tường, điện thoại không dùng nữa, bóp, ví…

• Việc thu gom các đồ vật xung quanh là hoạt động yêu thích của trẻ

Trẻ ấu nhi nói chung và trẻ 18-24 tháng nói riêng rất muốn được bắt chước các công việc của người lớn chẳng hạn như sau khi đã quan sát người lớn dọn dẹp trẻ cũng

muốn bắt chước theo nhưng thao tác còn vụng về, không thể làm sạch và gọn hoàn toàn như người lớn Chính vì vậy, Bev Olsson khuyến khích giáo viên và phụ huynh nên giao việc cho trẻ: dùng các tấm bọt biển để lau bàn, nhặt đồ chơi vào đặt vào đúng nơi qui định, gom lá rụng, tưới vườn, bỏ rác vào thùng [10, tr.47] Rõ ràng là thông qua các hoạt động này, không những nhu cầu tự khẳng định mình của trẻ được đáp ứng mà đôi tay của trẻ còn được luyện tập mọi lúc, mọi nơi một cách tự nhiên, không khiêng cưỡng

Nhìn chung, giáo viên và phụ huynh cần cho trẻ cử động bàn tay, ngón tay mọi lúc mọi nơi với các thao tác: đổ, dốc, lấy ra-bỏ vào, lồng vật, tháo ra, xếp tháp, lăn đi lăn lại, nhặt lên, đặt xuống Mỗi lần luyện tập, người lớn có thể kết hợp 2-3 nội dung

Trang 40

trong một hoạt động, kết hợp cử động trẻ đã thực hiện thành thục với cử động trẻ chưa làm được [8, tr.116] Biện pháp chung là lặp lại nhiều lần để trẻ học được sự nhịp nhàng của vận động Sau đó dần dần giảm bớt sự giúp đỡ bằng hành động và bằng lời

của người lớn đến khi chỉ cần làm mẫu một lần là trẻ cũng có thể thực hiện được [14, tr.47], [22, tr.77]

1.6.2.3. Giáo viên kh ởi xướng cho trẻ làm theo và đồng hành cùng trẻ

Do khả năng hạn chế, nên khi trẻ thao tác trên đồ vật sẽ không tránh khỏi chậm

chạp, lóng ngóng, làm rơi đổ Trong khi đó, người lớn không đủ kiên nhẫn chờ đợi hay

nhẹ nhàng hướng dẫn Với sự can thiệp nóng vội, người lớn vô tình đã làm mất đi cơ

hội để trẻ được phát triển kỹ năng vận động tinh Điều đó tuy giúp người chăm sóc trẻ

tiết kiệm thời gian và đơn giản hóa công việc, nhưng sẽ gây trở ngại trong quá trình trưởng thành của trẻ và khiến cho cơ bắp dần trở nên yếu ớt và cuối cùng mất khả năng hoạt động tự nhiên [11, tr.65] Do đó, kỹ năng vận động tinh của trẻ sẽ mai một

dần nếu người lớn cứ tiếp tục làm thay trẻ Việc dạy và luyện tập cho trẻ những lao động tự phục vụ rất cần sự kiên nhẫn của người lớn

Tiến sỹ Alyssa Gonzalez-DeHass và cộng sự đã đề ra hướng áp dụng lý thuyết

của Erik Erikson vào trong việc giáo dục trẻ Theo đó, người lớn cần ủng hộ, khuyến khích trẻ phát triển kỹ năng, nhận ra những gì trẻ làm được và dành thời gian cho trẻ Thay vì làm thay trẻ, người lớn nên cho trẻ được lựa chọn và làm cho độ khó của bài

tập giảm đi một nửa so với thực tế Nhằm giúp trẻ có thể tự thực hiện nhiệm vụ hay

giải quyết vấn đề trong khả năng của mình, giáo viên chỉ nên giúp đỡ chi tiết cho trẻ trong trường hợp cần thiết Nhà giáo dục cần tránh trêu chọc hoặc quá trách mắng sự

cố gắng của trẻ [22, tr.114]

Đây là thời điểm để trẻ ấu nhi sử dụng kỹ năng vận động tinh để làm chủ những

kỹ năng tự phục vụ như tự xúc ăn, tự mặc, tự đi vệ sinh Người lớn không nên hối thúc

mà dành cho trẻ thật nhiều thời gian để tự ăn (khi trẻ có nhu cầu) những thức ăn nhỏ như cà rốt loại nhỏ, phô mai được cắt ra, nho khô Đồng thời giáo viên và phụ huynh

cần cảm thông cho sự vung vãi không thể tránh khỏi khi trẻ ăn một mình Trẻ cũng cần được khuyến khích tự gạt công tắc để đèn sáng lên, ấn nút công tắc mở quạt, tự cởi vớ,

mở-tắt vòi nước Chính sự hỗ trợ, hướng dẫn, kiên nhẫn và khuyến khích của người

Ngày đăng: 02/01/2021, 08:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w