Phương pháp đánh giá kết quả thử nghiệm: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi tiến hành lấy ý kiến qua phiếu nhận xét dành cho 1 CBQL, 2 GVMN lớp thử nghiệm để tìm hiểu về hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Trần Thị Thanh Tuyền
ỨNG DỤNG PORTFOLIO VÀO ĐÁNH GIÁ TRẺ MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Trần Thị Thanh Tuyền
ỨNG DỤNG PORTFOLIO VÀO ĐÁNH GIÁ TRẺ MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN THỊ THU HIỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU……… 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu… 2
3.2 Khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 3
7.2 Phương pháp điều tra thực trạng 3
7.3 Phương pháp thử nghiệm 4
8 Cấu trúc luận văn 5
9 Đóng góp mới của đề tài 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TRẺ NÓI CHUNG VÀ ĐÁNH GIÁ BẰNG PORTFOLIO NÓI RIÊNG 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu 6
1.1.1 Sự xuất hiện và phát triển của phương pháp đánh giá bằng portfolio thế giới 6
1.1.2 Sự xuất hiện và phát triển của phương pháp đánh giá bằng portfolio ở Việt Nam……… 7
1.2 Các cách tiếp cận đánh giá trong giáo dục 8
1.2.1 Khái niệm đánh giá trong giáo dục 8
1.2.2 Các cách tiếp cận đánh giá trong giáo dục và đánh giá trẻ mầm non …….9
1.2.3 Các phương pháp đánh giá và những ưu điểm, nhược điểm 13
1.3 Sử dụng portfolio trong đánh giá trẻ mầm non 18
1.3.1 Khái niệm portfolio 18
1.3.2 Ưu điểm và hạn chế của portfolio 20
Trang 41.3.3 Cách thức đánh giá bằng portfolio 21
1.3.4 Khả năng ứng dụng đánh giá bằng portfolio vào giáo dục mầm non
ở Việt Nam 28
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TRẺ MẪU GIÁO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 32
2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ tìm hiểu thực trạng 32
2.2 Phương pháp tìm hiểu thực trạng đánh giá trẻ mẫu giáo trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh 33
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2.2 Đôi nét về địa bàn nghiên cứu 33
2.2.3 Phương pháp lấy số liệu 34
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
2.2.5 Phân tích kết quả điều tra 36
Tiểu kết chương 2 51
Chương 3 XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM PHƯƠNG ÁN ỨNG DỤNG PORTFOLIO TRONG ĐÁNH GIÁ TRẺ 5-6 TUỔI 52
3.1 Bối cảnh trường và lớp thử nghiệm 52
3.2 Định hướng xây dựng phương án ứng dụng portfolio trong đánh giá trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non X 53
3.2.1 Các bước tiến hành thử nghiệm ứng dụng portfolio trong đánh giá trẻ
5-6 tuổi 54
3.2.2 Tổ chức thử nghiệm 62
3.2.3 Kết quả thử nghiệm 76
3.3 Kết luận 85
Tiểu kết chương 3 86
ĐỀ XUẤT 87
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố trong các công trình khác Học viên
Trần Thị Thanh Tuyền
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Tp HCM cùng Qúy thầy cô giảng dạy trong suốt hai năm học Những kiến thức và phương pháp Thầy Cô truyền đạt
là nền tảng quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn này
Qúy thầy cô phòng sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện để tác giả có thể tham gia học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời tri ân chân thành và sâu sắc nhất đến TS Phan Thị Thu Hiền, người cô đã nhiệt tình hướng dẫn và góp ý trong suốt quá trình viết luận văn
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý
CL : Công lập GDMN : Giáo dục mầm non GVMN : Giáo viên mầm non
TT : Tư thục
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Xu hướng đánh giá kết quả học tập………9 Bảng 2.1 Những nội dung giáo viên chú trọng khi đánh giá trẻ mẫu giáo………… 35 Bảng 2.2 Mức độ sử dụng các phương pháp đánh giá trẻ mẫu giáo………36 Bảng 2.3 Mức độ lựa chọn các thời điểm đánh giá trẻ mẫu giáo……….40 Bảng 2.4 Nguồn thông tin mà GVMN và CBQL biết đến portfolio………45
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của GVMN và CBQL về sự cần thiết đánh giá trẻ………… 34 Biểu đồ 2.2 Mức độ sử dụng các phương pháp đánh giá trẻ của GVMN……….37 Biểu đồ 2.3 Đánh giá của CBQL về việc sử dụng các phương pháp đánh giá trẻ
của GVMN……… 38 Biểu đồ 2.4 Mức độ hiểu biết của GVMN về việc đánh giá trẻ……… 41 Biểu đồ 2.5 Đánh giá của CBQL về mức độ hiểu biết của giáo viên về việc đánh
giá trẻ………42 Biểu đồ 2.6 Mức độ hiểu biết và vận dụng portfolio trong đánh giá trẻ của GVMN
và CBQL………44
Trang 10cũng như điểm mạnh và điểm yếu của trẻ để xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp [5]
Tuy vậy, các nghiên cứu cho thấy nhiều bất cập đang tồn tại trong đánh giá trẻ mầm non Thực tế đánh giá đang chú trọng đánh giá kết quả của học sinh đạt được hơn
là đánh giá quá trình [4], [7], [40] Đánh giá trẻ tại các trường mầm non hiện nay được thực hiện chủ yếu sau khi kết thúc một chủ đề, cuối học kì và cuối năm học Do đó, giáo viên tập trung đánh giá kiến thức, kĩ năng dựa trên mục tiêu đã đề ra hơn là những năng lực bên trong của trẻ Đánh giá diễn ra một chiều mà không có những phản hồi từ phía trẻ và phụ huynh Hạn chế lớn nhất là các phương pháp đánh giá sử dụng rời rạc chưa
có sự phối hợp chặc chẽ với nhau Tất cả thông tin từ kết quả đánh giá không đủ tin cậy
và toàn diện để đánh giá chính xác về việc học và sự phát triển của trẻ Điều này dẫn đến giáo viên không biết điều chỉnh kết hoạch sao cho phù hợp với trẻ và phát huy tối
đa tiềm năng của trẻ
Trên thế giới, các tác giả Blackbourn, Hamby, Hanshaw, và Beck nói rằng thực tiễn đánh giá lấy trẻ làm trung tâm là cơ sở để nâng cao chất lượng đang diễn ra trong môi trường giáo dục [17] Những thuật ngữ mới về đánh giá lấy người học làm trung tâm bao gồm: đánh giá phát triển (Formative Assessment), đánh giá thực tế (Authentic Assessment) và đánh giá kiểu mới (Alternative Assessment) [3] Trong đó, portfolio là một phương pháp đánh giá thực tế Portfolio giúp giáo viên và phụ huynh theo dõi sự tiến bộ của trẻ tại mọi thời điểm Trẻ được tham gia vào quá trình tự đánh giá công việc
Trang 112
trong portfolio từ đó giúp trẻ nhận thấy sự tiến bộ và tự hào về kết quả đạt được Portfolio
là cầu nối giữa gia đình và nhà trường, phụ huynh được tìm hiểu, tham gia nhận xét hoạt động của trẻ nhờ đó hiểu rõ sự tiến bộ của trẻ và có phương pháp giáo dục phù hợp Ngoài ra, portfolio tích hợp đánh giá với quá trình học Xem xét những điểm nêu trên, cho thấy portfolio là một phương pháp mang lại nhiều thông tin và đánh giá sự phát triển toàn diện ở trẻ
Portfolio được ứng dụng rộng rãi tại các nước trên thế giới tuy nhiên còn khá mới
mẻ đối với GDMN Việt Nam, vì thế ứng dụng portfolio trong đánh giá trẻ là vô cùng cần thiết trong xu hướng đổi mới giáo dục nhằm hướng với mục tiêu “dạy học lấy trẻ làm trung tâm” Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng portfolio vào đánh giá học sinh bậc đại học, cao đẳng, trung học và mầm non, những công trình đều cho rằng đây là một phương pháp hữu ích và cần thiết ứng dụng rộng rãi hơn nữa Từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ mầm non tại Tp Hồ Chí Minh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng đánh giá trẻ tại một số trường mầm non trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh nói chung và thực trạng ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ mầm non nói riêng, đề tài xây dựng và thử nghiệm phương án ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ mầm non
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ mầm non
3.2 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đánh giá trẻ mầm non
4 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ mầm non thì sẽ mang lại thông tin toàn diện hơn về quá trình học tập và phát triển của trẻ và hình thành ở trẻ năng lực tự điều chỉnh, tự đánh giá đồng thời tạo mối liên kết giữa gia đình và nhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 127 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề đánh giá trẻ mầm non và sử dụng portfolio trong đánh giá ở bậc mầm non
7.2 Phương pháp điều tra thực trạng
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Chúng tôi dùng bảng hỏi với 20 CBQL và 100GVMN cả 3 độ tuổi (mầm, chồi, lá) Chúng tôi tiến hành điều tra tại 6 trường mầm non trong khu vực nội thành (quận
10, quận 3, quận Tân Bình) và 4 trường mầm non ở vùng ven Tp Hồ Chí Minh (Gò vấp, Thủ đức) Tại mỗi quận chúng tôi chọn 2 trường trong đó có 1 trường mầm non công lập (đạt chuẩn quốc gia) và một trường mầm non tư thục nhằm phản ánh bức tranh chung
về thực trạng đánh giá trẻ mẫu giáo tại Tp Hồ Chí Minh
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ
Trang 134
Chúng tôi thu thập và phân tích hồ sơ có liên quan đến đánh giá trẻ của GVMN
mà chúng tôi phỏng vấn để có minh chứng cụ thể hơn về thực trạng đánh giá trẻ tại Tp
Hồ Chí Minh
7.2.4 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp xử lý số liệu (định tính)
Xác định chủ đề phân tích
Đọc dữ liệu và lập cơ sở mã hóa
Thiết lập tiêu chuẩn để chọn lọc dữ liệu
Sắp xếp dữ liệu theo chủ đề
Đếm dữ liệu ở mỗi chủ đề, chọn lọc dữ liệu
Liên hệ kết quả với lý thuyết, phân tích và lý giải kết quả
Phương pháp xử lý số liệu (định lượng)
Sử dụng phần mềm excel để xử lí số liệu thu thập
7.3 Phương pháp thử nghiệm
Phương pháp thử nghiệm giải quyết nhiệm vụ thứ ba của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và tìm hiểu thực trạng đánh giá trẻ tại trường mầm non, chúng tôi tiến hành xây dựng và thử nghiệm phương án ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ 5- 6 tuổi tại một trường mầm non để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của phương án
Phương pháp đánh giá kết quả thử nghiệm:
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Chúng tôi tiến hành lấy ý kiến qua phiếu nhận xét dành cho 1 CBQL, 2 GVMN lớp thử nghiệm để tìm hiểu về hiệu quả của việc ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ 5 - 6 tuổi
Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi phỏng vấn trực tiếp 1 CBQL, 2 GVMN và 6 phụ huynh ở 2 lớp thử nghiệm để thu thập thêm thông tin từ đó có đánh giá khách quan
về hiệu quả của việc ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ 5 - 6 tuổi
Phương pháp nghiên cứu hồ sơ: Chúng tôi dựa trên portfolio của trẻ và hồ sơ ghi chép quá trình thử nghiệm, từ đó phân tích và đánh giá về hiệu quả của quá trình thử nghiệm phương án ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ 5 – 6 tuổi
Phương pháp xử lý số liệu đánh giá kết quả:
Xử lý số liệu định tính (phỏng vấn và hồ sơ ghi chép) theo các bước sau:
Trang 145
Xác định chủ đề phân tích
Đọc dữ liệu và lập cơ sở mã hóa
Thiết lập tiêu chuẩn để chọn lọc dữ liệu
Sắp xếp dữ liệu theo chủ đề
Đếm dữ liệu ở mỗi chủ đề, chọn lọc dữ liệu
Liên hệ kết quả với lý thuyết, phân tích và lý giải kết quả
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá trẻ nói chung và đánh giá bằng portfolio nói riêng
Chương 2: Thực trạng đánh giá trẻ mẫu giáo trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Chương 3: Xây dựng và thử nghiệm phương án ứng dụng portfolio trong đánh giá trẻ 5
- 6 tuổi
9 Đóng góp mới của đề tài
9.1 Về lí luận
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về khái niệm, cách tiếp cận mới trong đánh
giá, phương pháp đánh giá nói chung và đánh giá bằng portfolio nói riêng Khái quát
quy trình đánh giá bằng portfolio trong giáo dục mầm non
9.2 Về thực tiễn
Đề tài đã phân tích thực trạng đánh giá trẻ mẫu giáo trên địa bàn TP Hồ Chí
Minh Thông qua ứng dụng portfolio trong đánh giá trẻ giúp giáo viên đánh giá toàn
diện về việc học và sự phát triển ở trẻ từ đó đề xuất kế hoạch dạy học tiếp theo
Trang 156
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TRẺ
NÓI CHUNG VÀ ĐÁNH GIÁ BẰNG PORTFOLIO NÓI RIÊNG
cụ thể Cách tiếp cận mới trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập hướng tới “Đánh giá
vì sự thành công của người học” Ba đặc trưng cơ bản trong cách tiếp cận mới trong đánh giá bao gồm: đánh giá thực tế, đánh giá kiểu mới và đánh giá phát triển [3] Trong
đó, portfolio là phương pháp đánh giá thực tế phù hợp nhất đối với nhấn mạnh “quá trình” trong việc nuôi dưỡng những kĩ năng và tư duy sáng tạo hơn xây dựng một khối kiến thức khổng lồ trong nhiều môn học [37] Portfolio đã xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kì Portfolio trở thành phương pháp đánh giá tại các trường học từ những năm 1960 và
1970 Ban đầu portfolio được sử dụng như là bộ sưu tập công việc của học sinh trong các môn học viết, âm nhạc, nghệ thuật Thông qua bộ sưu tập này giáo viên nhận thấy
sự nỗ lực của người học hơn đánh giá dựa trên giấy – viết [38] Những ý tưởng sử dụng portfolio tăng mạnh trong năm 1990 Với yêu cầu đánh giá phải có ý nghĩa thật sự cho dạy học và hoạt động học tập của học sinh thì portfolio đã sử dụng rộng rãi tại các tiểu bang Hoa Kì như phương pháp đánh giá hướng tới năng lực của người học [34], [38] Ngoài ra, cũng trong giai đoạn này, giáo dục Australia cũng có hai khuynh hướng ảnh hưởng tới đánh giá là đánh giá thực tế và đánh giá dựa trên kết quả đạt được, trong đó portfolio xuất hiện liên quan như một chiến lược đánh giá thực tế và lấy người học làm trung tâm [30] Năm 1990, viện phát triển chương trình giáo dục ở Hồng Kông cũng yêu cầu sử dụng thông tin phản hồi để cải thiện việc học tập cho học sinh Nhấn mạnh
“đánh giá vì hoạt động học tập” hơn “đánh giá kết quả học tập” Trong đó, portfolio được xem có nhiều ưu thế vì học sinh, giáo viên và phụ huynh tham gia vào đánh giá công việc của học sinh [36] Xu hướng mới trong đánh giá cũng đã lan rộng đến các quốc gia Châu Á trong đó, Singapore đã có thay đổi về hình thức và phương pháp đánh
Trang 167
giá để phù hợp với sự thay đổi của chương trình Năm 2004, ngoài việc sử dụng phương pháp truyền thống, quan sát, thì portfolio cũng đã được sử dụng để đánh giá việc học của học sinh [29]
Xu hướng đổi mới đánh giá trong giáo dục trên thế giới nói chung đã ảnh hưởng đến xu hướng đổi mới đánh giá trong GDMN ở các quốc gia Trong khi portfolio đã được biết đến trong giáo dục tại các quốc gia từ thế kỉ XX thì đến thế kỉ XXI, portfolio mới được quan tâm và sử dụng trong đánh giá trẻ Năm 2003, các tiểu bang Hoa Kì xem xét và nhận ra những hạn chế trong việc đánh giá dựa trên điểm số bởi vì điểm số không đánh giá được thành tích của trẻ Điểm số không phản ánh điểm mạnh và điểm yếu cũng như nỗ lực của trẻ [27] Trong khi đó khuynh hướng mới của chương trình nhấn mạnh tới những ý tưởng và khả năng giải quyết vấn đề của trẻ Ngoài ra, trẻ em có sự đa dạng khác nhau như: chủng tộc, sắc tộc, văn hóa, ngôn ngữ và gia đình có thu nhập khác nhau Đánh giá cần phải đảm bảo độ tin cậy và độ giá trị [27] Nhận ra những yêu cầu trên, năm 2006 tại California ngoài sử dụng chuẩn đánh giá còn kết hợp portfolio, quan sát…
để thu thập thông tin về quá trình học tập của trẻ Từ đó, portfolio được xem là phương pháp sử dụng trong đánh giá trẻ phổ biến tại các tiểu bang Hoa Kì Hiện nay, portfolio
đã được biết và sử dụng ở các quốc gia như Australia, Anh, NewZeland….[29], [39] Trong khi trên thế giới đã áp dụng portfolio vào đánh giá học sinh thì xu hướng này mới xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây
1.1.2 Sự xuất hiện và phát triển của phương pháp đánh giá bằng portfolio ở
Việt Nam
Hiện nay, ngành giáo dục Việt Nam đang đặc biệt quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm Để thực hiện mục tiêu trên thì bên cạnh việc tạo ra một môi trường hoạt động cho trẻ, thì việc đánh giá việc học và sự phát triển của trẻ là vô cùng quan trọng [11] Đổi mới về phương pháp dạy học phải đồng bộ với đổi mới kiểm tra đánh giá Đánh giá trong dạy học lấy người học làm trung tâm là cần chú trọng đến “quá trình” hơn “sản phẩm”, vì hoạt động giáo dục đã thay đổi nên cần có thông tin và giải pháp hỗ trợ việc học trong suốt quá trình học tập của học sinh [27] Vì vậy, đòi hỏi phải có phương pháp đánh giá phù hợp Khi đó, portfolio là một phương pháp đánh giá tiên tiến và được ứng dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 17tổ chức nhằm cho thấy sự tiến bộ của học sinh qua từng giai đoạn [13] Trong GDMN,
sử dụng portfolio được đề cập đến trong bài viết của tác giả Trần Nguyễn Nguyên Hân như “Ứng dụng đánh giá portfolio vào hoạt động dạy trẻ làm quen chữ viết cho trẻ 5 –
6 tuổi” và “Lí luận và thực tế sử dụng công cụ đánh giá portfolio trong đánh giá trẻ mầm non” [9], [10] Tất cả các nghiên cứu trên đều cho rằng portfolio là phương pháp đánh giá mang lại nhiều thông tin hữu ích và cần thiết ứng dụng rộng rãi trong giáo dục Việt Nam Các nghiên cứu trên được ứng dụng đối với bậc học trung học cơ sở, trung học phổ thông, cao đẳng và đại học tuy nhiên đối với bậc học mầm non ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ còn là chủ đề mới và điều này làm chúng tôi rất mong muốn thực hiện nghiên cứu này
1.2 Các cách tiếp cận đánh giá trong giáo dục
1.2.1 Khái niệm đánh giá trong giáo dục
Trong thực tế có nhiều định nghĩa về đánh giá trong giáo dục Căn cứ vào những nét đặc thù của giáo dục (xét từ bình diện chức năng và đối tượng) có thể định nghĩa như sau: Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập, lí giải kịp thời, có hệ thống các thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân về chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo [6]
Đánh giá trong GDMN được định nghĩa như sau: “đánh giá là quá trình thu thập thông tin về trẻ từ nhiều bằng chứng khác nhau, sau đó sắp xếp và giải thích những thông tin” [21] Ngoài ra còn có định nghĩa“đánh giá là quá trình giáo viên thu thập và
Trang 189
phân tích thông tin về việc học của trẻ để cung cấp thông tin cho việc đánh giá và lập
kế hoạch giáo dục tiếp theo” [32]
Đánh giá có hai vấn đề liên quan: một là việc thu thập thông tin về trình độ, khả năng tiếp thu của người học dựa vào mục tiêu học tập Điều này có nghĩa là phải thông qua việc kiểm tra quá trình và kết quả học tập của người học để có được thông tin Hai
là việc đề xuất, điều chỉnh hoạt động dạy – học cho phù hợp Dựa trên kết quả thu thập
và phân tích, so sánh với mục tiêu đã đề ra xác định trình độ người học từ đó điều chỉnh hoặc xây dựng kế hoạch dạy học cho phù hợp
Nhìn chung bản chất của các định nghĩa đều là thu thập thông tin để đưa ra nhận định, đánh giá và điều chỉnh kế hoạch dạy học sao cho phù hợp với khả năng người học Tuy nhiên, hai khái niệm có sự khác biệt trong việc lựa chọn phương pháp pháp thu thập thông tin đánh giá Đánh giá trong GDMN có đặc điểm đặc trưng bởi vì trẻ mầm non còn hạn chế về chữ viết và ngôn ngữ cũng như sự phát triển của trẻ thay đổi liên tục vì vậy đòi hỏi những thông tin thu thập phải rất đa dạng và thể hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau [11], [27] Do đó, phương pháp đánh giá cũng phải đa dạng phù hợp với sự phát triển thể chất, tình cảm, nhận thức và ngôn ngữ của trẻ ở từng giai đoạn
Như vậy, đánh giá trong giáo dục mầm non là một quá trình thu thập thông tin
về trẻ thông qua các phương pháp, hình thức đánh giá khác nhau từ đó tổng hợp, giải thích thông tin thu được một cách có hệ thống nhằm hiểu biết sâu sắc về việc học, sự tiến bộ của trẻ và sử dụng thông tin để đưa ra quyết định giáo dục phù hợp với khả năng của từng cá nhân trẻ
1.2.2 Các cách tiếp cận đánh giá trong giáo dục và đánh giá trẻ mầm non
Trong giáo dục, xét theo tính liên tục và thời điểm đánh giá thì đánh giá trong giáo dục được chia thành các xu hướng:
Bảng 1.1 Xu hướng đánh giá kết quả học tập
Trang 19Các vấn đề/câu hỏi (ma trận mục tiêu/ đề
thi) và tiêu chí đánh giá không được nêu
trước
Các vấn đề/ câu hỏi (ma trận mục tiêu/ đề thi) và tiêu chí đánh giá được nêu rõ từ trước
Tạo sự cạnh tranh Tạo sự hợp tác và chia sẽ
Chú trọng mục tiêu cuối cùng của việc
giảng dạy
Chú trọng đến kinh nghiệm học tập và sự tiến bộ của người học
Chú trọng sản phẩm Chú trọng quá trình
Tập trung vào kiến thức sách vở Tập trung vào năng lực thực tế
Qua bảng 1.1 cho thấy cách tiếp cận đánh giá truyền thống hay gọi đánh giá kết quả tính tổng hợp, bao quát nhằm cung cấp thông tin về sự tinh thông/ thành thạo của học sinh ở các mặt nội dung kiến thức, kĩ năng thái độ sau khi kết thúc một môn học, khóa học, học phần, chương trình Đánh giá kết quả thường được thực hiện vào cuối một khóa học/hớp học hoặc cuối học kì/ cuối năm học Mục tiêu chính của đánh giá kết quả là xác định mức độ thành tích của học sinh, nhưng không quan tâm đến thành tích đạt được như thế nào và kết quả đánh giá này được sử dụng để công nhận người học đã hoặc không hoàn thành khóa/lớp học Đây là hình thức đánh giá bằng cách cho điểm và
có thể dùng điểm để so sánh với những học sinh khác trong cùng nhóm đối tượng, nhằm xếp loại người học Trong khi đó, cách tiếp cận đánh giá mới nhấn mạnh đến “quá trình” hơn “sản phẩm” Đánh giá thể hiện trong nhiều hình thức và phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Một trong những mục đích chính của đánh giá quá trình học tập của học sinh là để thu thập những thông tin phản hồi để nâng cao chất lượng giảng dạy và điều chỉnh kế hoạch giảng dạy, nhằm giúp học sinh tiến bộ trong quá trình học tập của mình Việc chia sẻ kết quả đánh giá với phụ huynh, học sinh và giáo viên sẽ mang lại cái nhìn tổng quan hơn về sự tiến bộ của học sinh Cách tiếp cận mới thì nhiệm vụ đánh giá gắn liền với quá trình hoạt động diễn ra trên lớp học hoặc ngoài lớp học Trong cách tiếp cận
Trang 2011
mới hướng tới năng lực người học, đánh giá được xem là hoạt động học tập được giáo viên chú trọng trong các hoạt động hằng ngày trên lớp Với cách tiếp cận này, học sinh được xem như là cầu nối giữa kiến thức giữa kiến thức họ đã biết, và những kiến thức
họ chưa biết, cần phải trau dồi thêm Học sinh được học cách giám sát, theo dõi chính
tư duy và quá trình học tập của mình để xác định những điểm còn thiếu sót và điểm cần phát huy từ đó điều chỉnh phương pháp học tập của mình
Sau đây là ba phương pháp cơ bản của kiểm tra đánh giá trong lớp học theo cách tiếp cận mới của thế giới: “đánh giá phát triển”, “đánh giá thực tế”, và “đánh giá kiểu mới”:
“Đánh giá phát triển” chỉ những hoạt động kiểm tra đánh giá được thực hiện
trong quá trình dạy học Với mục đích lấy thông tin phản hồi cho học sinh và giáo viên, mối quan tâm của “đánh giá phát triển” là hiệu quả của hoạt động giảng dạy trong việc phát triển khả năng của người học chứ không phải là việc minh chứng người học đã đạt được một mức thành tích nào đó Đánh giá phát triển không chú trọng đến kết quả của học sinh mà điều quan trọng ở đây hình thành học sinh những kĩ năng học tập có ý nghĩa
và cần thiết cho việc hướng đến xây dựng phẩm chất và năng lực con người thế kỉ XXI
đó chính là khả năng tư duy phản biện [18]
“Đánh giá thực tế” nhằm đánh giá khả năng của người học trong “ngữ cảnh thực” Hay nói cách khác, người học học cách vận dụng các kỹ năng học được để thực hiện một nhiệm vụ của thực tiễn hoặc của dự án nào đó [18] Việc đánh giá thực tế chú trọng đến năng lực thực hành, năng lực hành động giải quyết vấn đề đặt ra trong thực tiễn, có thể khắc phục những nhược điểm của đánh giá truyền thống (được cho là đã đặt học sinh vào vai trò thụ động hơn là chủ động), huy động mọi khả năng của bản thân để giải quyết mọi vấn đề từ bối cảnh thực Do vậy, để vận dụng phương pháp đánh giá này, giáo viên
và học sinh cần tạo ra những nhiệm vụ có ý nghĩa, sử dụng cách đánh giá đa diện, tương tác tích cực, tập trung vào năng lực tư duy bậc cao Trong đó, đánh giá hồ sơ học tập (portfolio) là hình thức đánh giá thực tế điển hình nhất, đại diện cho mọi phương pháp đánh giá mới Đánh giá bằng hồ sơ học tập không hoàn toàn mới Hình thức đánh giá này chỉ mới vì tính chất tổng hợp và phức tạp của các nội dung cần giá Đánh giá hồ sơ
có thể sử dụng vào mục đích đánh giá thường xuyên cũng như mục đích tổng hợp đánh
Trang 2112
giá về học sinh, bao gồm đánh giá của giáo viên và đánh giá đồng cấp, có thể đưa ra nhận định đánh giá theo chuẩn và theo tiêu chí Các loại hình kĩ năng đánh giá khác nhau có thể tìm thấy trong hồ sơ học tập bao gồm: đánh giá khả năng siêu tư duy của học sinh, tự đánh gá, đánh giá đồng cấp, đánh giá của giáo viên
Tương tự khái niệm “đánh giá thực tế”, khái niệm “đánh giá kiểu mới” chỉ mới xuất hiện trong hệ thống kiểm tra đánh giá trong khoảng 3 thập niên qua Về ý nghĩa, hai thuật ngữ này có một số điểm tương đồng vì cả hai đều đề cập đến các phương pháp kiểm tra đánh giá khác với phương pháp đánh giá truyền thống như bài tự luận, câu hỏi trắc nghiệm,…Tuy nhiên, bên cạnh đó hai khái niệm có những điểm khác nhau Trong khi “đánh giá thực tế” nhấn mạnh sự liên hệ của việc kiểm tra đánh giá trong nhà trường với thực tế cuộc sống bên ngoài, thì “đánh giá kiểu mới” nhấn mạnh tính mới mẻ, đa dạng và sáng tạo trong tổ chức hoạt động học và của những cách thực hiện kiểm tra đánh giá khác với cách làm theo lối mòn truyền thống [18]
Trong GDMN, xu hướng đổi mới chương trình giáo dục đòi hỏi mọi khía cạnh phải thay đổi và cập nhật liên tục vì thế đánh giá trẻ đang chuyển từ chiến lược đánh giá truyền thống dưới dạng kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực và khả năng giải quyết vấn đề của trẻ [27] Trước đây, xu hướng dạy học lấy thầy làm trung tâm chịu ảnh hưởng bởi thuyết hành vi Dạy học và đánh giá chỉ diễn ra một chiều từ phía giáo viên và không
sự phản hồi từ phía trẻ Tuy nhiên, xu hướng mới trong giáo dục hiện nay “dạy học lấy trẻ làm trung tâm” chịu ảnh hưởng bởi học thuyết kiến tạo của Piaget và Vưgotsky [21] Đòi hỏi dạy học và đánh giá phải là sự tương tác hai chiều giữa giáo viên-trẻ Khuynh hướng mới trong đánh giá là hướng tới sự toàn diện, phát triển và tích hợp với việc học,
vì thế đòi hỏi phải có chiến lược hợp lí và phù hợp như đánh giá thực tế hay đánh giá dựa trên kết quả đạt được (performance based assessments) Cả hai phương pháp đánh giá đều cung cấp: (1) học tập và phát triển liên tục của trẻ, (2) thông tin về toàn bộ trẻ
em không chỉ về những kĩ năng mà còn những gì trẻ nắm vững, (3) cung cấp thông tin cho phép giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy học, (4) ví dụ về những gì trẻ làm và giải thích sự hiểu biết của chúng [27, tr.236] Trong đó, portfolio là một hình thức đánh giá thực tế cung cấp một cái nhìn đa chiều về những gì trẻ có thể hiểu và sử dụng Portfolio cung cấp mẫu công việc của trẻ tại nhiều thời điểm với những minh chứng
Trang 2213
khác nhau như: quan sát, bảng kiểm, sản phẩm của trẻ, phỏng vấn…Trẻ tự do lựa chọn
và tự đánh giá công việc trong portfolio của mình [21], [27]
Tóm lại, đánh giá tổng kết và đánh giá quá trình trong một bối cảnh học tập thường được gọi là đánh giá về kết quả và đánh giá vì quá trình học tập hay vì sự tiến
bộ của người học Cả hai cách tiếp cận đều có đặc trưng rõ rệt Đánh giá kết quả thường
có bản chất tổng kết và nhằm mục đích đo lường kết quả người học đạt được Đánh giá kết quả thường diễn ra sau khi kết thúc một môn học/học kì/năm học Đánh giá quá trình học tập hay vì sự tiến bộ của người học lại mang bản chất thường xuyên và được giáo viên sử dụng để rà soát điều chỉnh phương pháp giảng dạy cũng như lên kế hoạch giáo dục tiếp theo
1.2.3 Các phương pháp đánh giá và những ưu điểm, nhược điểm
Các phương pháp đánh giá trong giáo dục
Trong giáo dục có nhiều phương pháp đánh giá khác nhau tùy vào mục đích đánh giá mà lựa chọn phương pháp phù hợp Có 3 phương pháp thu thập thông tin: phương pháp truyền thống bằng giấy – viết, quan sát và đàm thoại [15]
Phương pháp đánh giá bằng giấy – viết
Phương pháp đánh giá bằng giấy – viết là phương pháp mà học sinh trả lời các câu hỏi hoặc một vấn đề trên giấy-viết Giáo viên thu thập minh chứng thông qua các bài test, bài báo cáo, vẽ một bức tranh, viết tiểu luận hoặc điền phiếu bài tập Phương pháp đánh giá bằng giấy – viết có hai hình thức: câu hỏi thu thập và cung cấp Câu hỏi thu thập với nhiều sự lựa chọn, đúng - sai, ghép các đối tượng với nhau Cung cấp là đưa ra đối tượng hoặc trình bày đối tượng đòi hỏi học sinh phải trả lời câu hỏi [15]
Trang 23 Ưu điểm
Quan sát cung cấp thông tin chính xác, tin cậy cả quá trình và kết quả Đưa ra quyết định cải thiện kết quả đánh giá
Giúp giáo viên hiểu hơn về câu trả lời của người học
Bằng quan sát, có thể xác định vấn đề bằng cách phân tích sâu vấn đề
Nhược điểm
Mất nhiều thời gian
Đòi hỏi phải sử dụng công cụ đặc biệt tốn nhiều chi phí
Phụ thuộc vào các yếu tố chủ quan của người quan sát [15]
Đàm thoại
Đàm thoại là phương pháp chính thứ ba giáo viên sử dụng để thu thập dữ liệu Đàm thoại là sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm thu thập thông tin từ người học [15] Phương pháp đánh giá này được lồng ghép vào quá trình dạy học từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc để nắm bắt được nhu cầu, kinh nghiệm, hứng thú và khả năng hiểu và vận dụng của người học
Ưu điểm
Phương pháp đàm thoại tạo điều kiện cá nhân nhút nhát trả lời
Kích thích tư duy bởi vì thông qua câu hỏi học sinh phải suy nghĩ và tìm ra phương án trả lời
Nhược điểm
Trang 2415
Mất nhiều thời gian trong việc soạn câu hỏi phù hợp
Đặt câu hỏi trong nhóm nhỏ kích thích nhiều người trả lời như vậy sẽ không đảm bảo độ tin cậy
Đòi hỏi kĩ thuật lựa chọn, cung cấp, quan sát, và đặt câu hỏi [15]
Các phương pháp đánh giá trong GDMN
Phương pháp đánh giá trong GDMN được chia thành hai nhóm: nhóm các phương pháp đánh giá trẻ đã được chuẩn hóa và nhóm các phương pháp đánh giá trẻ chưa được chuẩn hóa [11]
Các phương pháp đánh giá trẻ đã được chuẩn hóa
Các phương pháp đánh giá trẻ đã được chuẩn hóa gồm các test (trắc nghiệm) chuẩn hóa Các test này thường dùng để đo và đánh giá sự phát triển chung hoặc một số đặc điểm tâm lí nào đó của nào trẻ Các test này đã được chuẩn hóa vì nó đã được định chuẩn dựa trên kết quả thu được từ một mẫu trẻ lớn có thể đại diện cho tập hợp những trẻ cần nghiên cứu Do tính chất ngắn gọn và tính tiêu chuẩn hóa của của trắc nghiệm giúp tiết kiệm thời gian Sự biểu đạt dưới hình thức định lượng Tính tiện lợi đối với việc xử lý toán học Tuy nhiên có nhược điểm: đòi hỏi phải có kinh nghiệm sử dụng và tốn nhiều thời gian [11], [21], [27]
Các phương pháp đánh giá trẻ chưa chuẩn hóa
Các phương pháp đánh giá trẻ chưa được chuẩn hóa là những phương pháp có thể sử dụng để đánh giá trẻ nhưng lại chưa được chuẩn hóa trên một nhóm mẫu lớn, có tính đại diện Các phương pháp đánh giá trẻ chưa được chuẩn hóa bao gồm: quan sát trẻ, dùng bảng liệt kê hay thang đo, trò chuyện với trẻ, các bài tập do giáo viên tự thiết kế, phân tích sản phẩm của trẻ, portfolio và trò chuyện với phụ huynh [11], [27]
Quan sát trẻ
Quan sát là theo dõi, thu thập và ghi lại những biểu hiện của trẻ trong cuộc sống hằng ngày (cử chỉ, lời nói, hành vi) từ đó phân tích, nhận xét và đánh giá trẻ Phương pháp đánh giá này được thực hiện trực tiếp trong quá trình hoạt động của trẻ [27] Do đặc điểm trẻ mầm non hạn chế về ngôn ngữ vì vậy quan sát giúp giáo viên hiểu hơn về
hành vi cũng như quá trình tiến bộ hằng ngày của trẻ Quan sát cho phép đánh giá nhiều
hành vi của trẻ mà không thể đánh giá bằng các cách khác Dễ sử dụng vì nếu dùng
Trang 2516
phương pháp trắc nghiệm thì trình tự trắc nghiệm chính thức gây căng thẳng đối với cả người lớn và trẻ Tuy nhiên có nhược điểm: phụ thuộc vào các quan niệm, kinh nghiệm, hứng thú của người quan sát [27]
Bảng kiểm kê và thang đo
Bảng kiểm kê là tập hợp các chỉ số về những vấn đề chính của chương trình hay các nhân tố chính của sự phát triển Bảng kiểm được đánh giá dựa trên tiêu chí đạt/ không đạt Thang đo dùng để xác định mức độ chất lượng hành vi, kĩ năng khi xuất hiện [11], [27] Đánh giá bằng bảng kiểm rất linh hoạt: giáo viên có thể đánh giá các chỉ số mọi lúc, mọi nơi, với nhiều cách đánh giá khác nhau như: quan sát, trò chuyện, bài tập, tình huống….Ghi nhận lại hành vi của trẻ một cách thường xuyên, vì bảng kiểm kê luôn luôn thực hiện bằng tay Khi giáo viên có những thông tin mới, có thể cập nhật lại Tuy nhiên có nhược điểm: mất nhiều thời gian Để việc sử dụng bảng kiểm kê có hiệu quả, giáo viên cũng cần phải có kinh nghiệm nhất định: do trong bảng kiểm kê kiểm tra các chỉ số, giáo viên mới chưa có kinh nghiệm gặp khó khăn xác định cách đánh giá các chỉ
số trong bảng kiểm kê Ngoài ra, đánh giá bằng bảng kiểm mang tính chủ quan, phụ thuộc vào người đánh giá [11], [27]
Bài tập do giáo viên thiết kế
Giáo viên tự thiết kế bài tập để đánh giá trẻ, để thu thập thông tin về nhu cầu, hiểu biết và khả năng của trẻ Từ đó, giáo viên có thể đưa ra quyết định, những cách thức hướng dẫn phù hợp với khả năng của trẻ Những bài tập có thể là nhiệm vụ học tập, tình huống hay những bài tập đơn giản giáo viên đưa ra trong quá trình dạy trẻ Bài tập mang tính linh hoạt bởi vì giáo viên có thể sử dụng dụng cụ, phương tiện có sẵn trong lớp để xây dựng bài tập đánh giá trẻ Giáo viên chỉ sử dụng bài tập đánh giá với trẻ nào kiến thức, kĩ năng chưa nắm vững Tuy nhiên có nhược điểm đòi hỏi giáo viên phải có kinh nghiệm, kĩ năng và thời gian để thiết kế bài tập đánh giá [11]
Trò chuyện với trẻ
Là phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi có mục đích nhằm thu thập thông tin
và tìm hiểu lí do, nguyên nhân của các sự kiện xảy ra [11] Phương pháp này sử dụng mọi lúc, mọi nơi giúp giáo viên nắm được trình độ hiểu biết, tình cảm, nhu cầu … của trẻ Thông qua trò chuyện giúp giáo viên hiểu đặc điểm từng cá nhân trẻ Tuy nhiên có
Trang 26bộ, nỗ lực và thành quả của trẻ đạt được ở một hay nhiều hoạt động theo từng giai đoạn
cụ thể [25] Kết quả đánh giá của portfolio sẽ được sử dụng có hiệu quả trong việc điều chỉnh và xây dựng kế hoạch giáo dục Sử dụng portfolio trẻ có thể lựa chọn và tự nhận
xét về sản phẩm hoạt động của mình Nhờ đó trẻ có thể nhận biết sự tiến bộ của mình
Portfolio làm phát triển sự hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh Phụ huynh có thể trực tiếp tìm hiểu, nhận xét các sản phẩm hoạt động của trẻ, nhờ đó hiểu rõ hơn về sự tiến bộ của trẻ Luôn hướng đến điểm mạnh của trẻ, quan tâm đến khả năng có thể hoàn thành của trẻ Tuy nhiên cũng có nhược điểm: Portfolio được thu thập và tổng hợp liên tục nên
cần nhiều thời gian Khó đảm bảo đủ dung lượng file cần thiết để lưu trữ tài liệu Nếu
giáo viên chú ý tới việc ghi chép và bảo quản tài liệu thì có thể xem nhẹ quá trình học tập của trẻ [21], [27]
Phương pháp phân tích sản phẩm của trẻ
Là dựa trên những sản phẩm trẻ tự làm ra trong hoạt động: tranh vẽ, bài thơ, những câu chuyện, những công trình xây dựng…từ đó giáo viên phân tích mức độ hình thành kiến thức, kĩ năng, năng khiếu hay triệu chứng bệnh tật hay lệch lạc trong lĩnh vực nào đó của trẻ Phương pháp đánh giá dựa trên sản phẩm của trẻ cung cấp thông tin cả quá trình và sản phẩm Sản phẩm của trẻ dễ dàng thu thập bởi vì trẻ tham gia nhiều hoạt động trong lớp học Sản phẩm có thể được thu thập và so sánh tại mọi thời điểm Tuy nhiên cũng có nhược điểm: nếu nhấn mạnh đánh giá trên sản phẩm có thể thay đổi đánh giá từ “quá trình” sang “sản phẩm” Khó khăn để biết có bao nhiêu sản phẩm lưu trữ
Trang 2718
Trẻ có những sản phẩm kì lạ, vì vậy khó để biết được nhu cầu cần thiết trong lớp học [11], [27]
Phương pháp trò chuyện với phụ huynh
Đánh giá trẻ thông qua phụ huynh có thể tiến hành dưới nhiều hình thức như giao tiếp hằng ngày, buổi họp phụ huynh, gửi email, hoặc đến thăm nhà trẻ… Giáo viên sử dụng nhiều cách giao tiếp khác nhau như câu hỏi, thảo luận và phản ánh của phụ huynh liên quan đến đánh giá trẻ Thông qua trò chuyện với phụ huynh sẽ mang lại thông tin chính xác về hành vi của trẻ Phụ huynh cũng chia sẽ sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ
vì vậy giúp giáo viên có kế hoạch dạy học phù hợp Tuy nhiên có nhược điểm: một số thông tin từ phụ huynh có thể làm giáo viên nhận thức sai lệch về trẻ Nếu phụ huynh không hiểu mục đích đánh giá sẽ tạo cho trẻ áp lực buộc chúng phải thực hiện bằng mọi cách [21]
Phân tích trên cho thấy, không một phương pháp nào là vạn năng, mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định Do đó, tùy thuộc vào nội dung và từng đối tượng mà tiến hành lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp Đối với bậc học mầm non do đặc điểm trẻ mầm non hạn chế ngôn ngữ và chữ viết cũng như đặc điểm phát triển cá nhân mỗi trẻ khác nhau vì vậy cần phải sử dụng phối hợp các phương pháp đánh giá như quan sát, trò chuyện, đánh giá thực… để thu thập thông tin đa dạng về trẻ cũng như có thể hiểu biết sâu sắc hơn về sự phát triển toàn diện ở trẻ [21], [27]
1.3 Sử dụng portfolio trong đánh giá trẻ mầm non
1.3.1 Khái niệm portfolio
Thuật ngữ portfolio đã xuất hiện từ khá lâu Trong xã hội, những người nghệ sĩ, người mẫu, nhiếp ảnh gia, nhà báo đã luôn tạo portfolio thành những công việc tốt nhất
của họ Trong giáo dục một portfolio của học sinh là “một bộ sưu tập có hệ thống các công việc của học sinh và liên quan tới các vật liệu mà mô tả các hoạt động của học sinh, những thành tích hoặc những thành tựu của một hoặc nhiều hơn một môn học” [28] Ngoài ra, portfolio còn được hiểu là “một kế hoạch thu thập thành tích của người học mà các dữ liệu là những gì mà học sinh đã hoàn thành và các bước thực hiện được đặt trong đó” [42] Bộ sưu tập bao gồm những bằng chứng về những phản ánh của học
sinh, tự đánh giá, hướng dẫn để chọn các nội dung portfolio và các tiêu chí để đánh giá
Trang 2819
chất lượng công việc Mục đích là để giúp học sinh thu thập portfolio của mình mà giải thích về tài năng của họ, đại diện cho khả năng viết và kể những câu chuyện về thành tích học tập của họ Đây là cách hiệu quả để giao tiếp với phụ huynh và động viên học sinh cho những thành tích sau này [42]
Bên cạnh những khái niệm về portfolio, trong GDMN thì “Portfolio là bộ hồ sơ thu thập sản phẩm hoạt động của cá nhân trẻ hay các ghi chép của giáo viên về trẻ để chứng minh cho sự tiến bộ, nỗ lực và thành quả của trẻ đã được ở một hay nhiều hoạt động theo từng giai đoạn cụ thể” [14], [19] Theo Shore & Grace cho rằng “Portfolio
là hồ sơ tập hợp những nội dung làm bằng chứng cho thấy sự thay đổi về trình độ tăng trưởng và phát triển của trẻ theo thời gian” [25]
Nhìn chung, có nhiều khái niệm về portfolio tuy nhiên chúng ta vẫn thấy sự tương đồng và thể hiện đúng bản chất của portfolio Portfolio dùng để trưng bày thành tích, trải nghiệm, sự tiến bộ cũng như khả năng nổi bật của trẻ Portfolio cung cấp thông tin
cơ bản để hướng dẫn việc học và phát triển tiếp theo Khái niệm portfolio có ba nguyên tắc mấu chốt là bộ sưu tập, lựa chọn và phản ánh Trước tiên phải là một bộ sưu tập phải được tạo ra Các bộ sưu tập là tất cả các hoạt động, nhiệm vụ và các dự án được xây dựng trong một khung cảnh cụ thể Căn cứ vào bộ sưu tập đó, đưa ra quyết định lựa chọn các đối tượng tùy thuộc vào mục đích của portfolio Mục đích rõ ràng sẽ giúp hình thành portfolio cuối cùng Các thiết kế của các portfolio phụ thuộc vào những gì chúng
ta muốn tìm hiểu về trẻ và những gì chúng ta muốn trẻ tìm hiểu về bản thân mình Cuối cùng phản ánh những gì xảy ra Đây là giai đoạn cuối cùng, trẻ phải đưa ra quyết định lựa chọn và đánh giá công việc của mình Đây là nguyên tắc thứ ba có thể biến đổi một
bộ sưu tập thành một kinh nghiệm học tập có ý nghĩa [42]
Từ những phân tích các khái niệm khác nhau về portfolio, chúng tôi nhận thấy portfolio có những đặc trưng sau:
Ghi lại sự phát triển toàn diện của trẻ ở mọi thời điểm
Cung cấp thông tin để thiết kế chủ đề/ dự án
Trẻ tự đánh giá công việc của mình
Là một phương tiện để giao tiếp với phụ huynh
Tích hợp đánh giá với quá trình học
Trang 29tự hào về kết quả đạt được
Portfolio làm phát triển sự hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh Phụ huynh có thể trực tiếp tìm hiểu, nhận xét sản phẩm hoạt động của trẻ, nhờ đó có thể hiểu
rõ hơn sự tiến bộ của trẻ và có phương pháp giáo dục phù hợp
Trẻ được phát triển kỹ năng tự đánh giá bản thân và đánh giá người khác
Dựa theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, portfolio giúp trẻ biết xây dựng mục đích cá nhân, thúc đẩy động cơ hoạt động, có ý thức trách nhiệm và cố gắng vì
sự tiến bộ bản thân
Portfolio cung cấp thông tin học tập của trẻ cho giáo viên Nhờ đó mà giáo viên
có thể đánh giá chính xác năng lực của trẻ
Portfolio luôn hướng đến điểm mạnh của trẻ, quan tâm đến khả năng có thể hoàn thành của trẻ
Đánh giá được tiến hành mỗi ngày trong các hoạt động giáo dục Kết quả của đánh giá sẽ giúp giáo viên lập kế hoạch và điều chỉnh chương trình giáo dục [21], [27]
Khó bảo đảm đủ dung lượng file cần thiết để lưu trữ tài liệu
Nếu giáo viên quá chú ý đến việc ghi chép và bảo quản tài liệu thì có thể xem nhẹ quá trình học tập của trẻ
Trang 3021
Khó đảm bảo nội dung của portfolio dẫn kết quả đánh giá của portfolio khó đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan [21], [27]
1.3.3 Cách thức đánh giá bằng portfolio
Cách thức đánh giá bằng portfolio trong giáo dục
Đánh giá bằng portfolio có bốn bước sau:
Bước 2: Tiêu chí trình bày
Tiêu chí trình bày là cần thiết để đánh giá từng cá nhân Nếu không có tiêu chí, đánh giá không thể nào phù hợp với bản chất của portfolio Bản chất và quá trình xây dựng tiêu chí tương tự như xây dựng tiêu chí đánh giá cho thang đo và bảng kiểm Cũng như thang đo và bảng kiểm, giáo viên và học sinh tham gia xác định tiêu chí trình bày portfolio Điều này giúp học sinh làm chủ mọi trình bày của mình và giúp chúng suy nghĩ những mẫu portfolio mà chúng sẽ thực hiện
Bước 3: Sắp xếp
Ngoài xác định mục đích và tiêu chí trình bày, phải sắp xếp thông tin thu thập và lưu giữ Một điều đáng quan tâm giáo viên đánh giá thấp thời gian thu thập và trình bày sản phẩm của học sinh cũng như quản lí và lưu giữ những hồ sơ cần thiết Đối với cấp học thấp, giáo viên phải đối mặt vấn đề như portfolio sẽ lưu trữ ở đâu, khi nào học sinh
có thể tiếp cận chúng, làm cách nào để kiểm tra những mẫu công việc trong portfolio của học sinh Đối với cấp học cao hơn, học sinh có trách nhiệm cho portflolio của mình, với kiểm tra định kì của giáo viên
Trang 3122
Bước 4: Đánh giá và chấm điểm
Chấm điểm portfolio là một quá trình mất nhiều thời gian liên quan đến đánh giá từng mẫu công việc của cá nhân và toàn bộ portfolio Portfolio cá nhân được đánh giá thông qua tiêu chí trình bày được thể hiện dựa vào bảng kiểm, thang đo và bảng tự đánh giá Cho phép học sinh tự đánh giá portfolio của họ và khuyến khích học sinh phản ánh
và học tập Tiêu chí trình bày để đánh giá toàn bộ portfolio khác biệt so với đánh giá từ đối tượng riêng lẻ trong portfolio Để thuận tiện đánh giá, có bốn cách tiếp cận để cung cấp ý tưởng để tổng kết và chấm điểm cho portfolio:
Thứ nhất, ghi chú rõ ràng, có một vài portfolio không cần chấm điểm chức năng của chúng là cung cấp ví dụ về công việc của học sinh cho giáo viên và phụ huynh
Thứ hai, nếu mục đích chính của portfolio là kiểm tra sự tăng trưởng hoặc sự cải thiện của học sinh, so sánh toàn bộ portfolio trước và sau khi tham gia Ví dụ, nếu portfolio gồm có đoạn văn viết của học sinh, giáo viên có thể so sánh trước và sau khi tham gia đánh vần, diễn đạt rõ ràng câu từ, chữ viết hoa, cách chấm câu và tổng kết những ý tưởng chính
Thứ ba, nếu mục đích của portfolio là kiểm tra sự hiểu biết của học sinh trong một vài môn học như khoa học, toán, giáo viên có thể yêu cầu mỗi portfolio đều đi kèm với câu trả lời của học sinh về tầm quan trọng và mối quan hệ lúc bắt đầu và kết thúc môn học Mỗi giáo viên nên hiểu tiêu chí đánh giá từng môn học bằng cách đọc và phân tích phản ánh của học sinh
Cuối cùng là báo cáo tổng kết và giải thích về nội dung chứa đựng trong portfolio [15]
Tóm lại, dựa trên nội dung trong portfolio giúp giáo viên mở rộng thông tin thu thập về thành tích của học sinh Thông qua quy trình đánh giá thể hiện rõ vai trò chủ động của người học trong việc tự thiết lập mục tiêu và tự đánh giá công việc của mình Học sinh hiểu hơn về việc học của họ và chủ động hơn đánh giá truyền thống bằng giấy – viết Hiệu quả của portfolio là giảm đi khoảng cách giữa dạy học và đánh giá
Cách đánh giá bằng portfolio trong GDMN
Các bước đánh giá bằng portfolio trong đánh giá trẻ bao gồm: xác định mục đích,
dự tính sắp xếp, và lưu trữ portfolio Sau đó giáo viên phải xác định minh chứng trong
Trang 3223
portfolio, thu thập và sắp xếp Cuối cùng, giáo viên phải xác định đánh giá như thế nào
về sự tiến bộ của học sinh để báo cáo [27]
Bước 1: Xác định mục đích, dự tính sắp xếp, lưu trữ và minh chứng trong portfolio
Xác định mục đích
Mục đích của portfolio được xác định bởi mục tiêu đánh giá của giáo viên Nếu mục đích là đánh giá sự phát triển để báo cáo tại một thời điểm thì sử dụng portfolio đánh giá Nếu mục đích để thể hiện hoạt động của học sinh như tự đề xướng mục tiêu học tập, tham gia và tự đánh giá thì sử dụng portfolio hoạt động Nếu portfolio thực hiện dành cho buổi họp phụ huynh thì sử dụng portfolio triển lãm Nếu mục đích để cung cấp thông tin cho giáo viên năm học tiếp học thì sử dụng portfolio ghi chép Giáo viên có thể xác định nhiều mục đích cho một portfolio Portfolio có thể sử dụng cho cả đánh giá
và triển lãm Cả giáo viên và trẻ đều có phần công việc riêng của mình [27]
Dự tính sắp xếp
Đối với đánh giá bằng portfolio trong trường mầm non, việc sắp xếp theo trình
tự thời gian là lựa chọn tốt nhất để trưng bày tiến bộ của trẻ trong nhiều lĩnh vực Nếu giáo viên sử dụng chương trình dạy theo chủ đề, thì vật liệu đặt vào portfolio có thể sắp xếp theo chủ đề Nếu portfolio là để phục vụ như hệ thống đánh giá từng lĩnh vực riêng
lẻ thì sắp xếp theo từng nội dung riêng lẻ như đọc, viết, kĩ năng thực hành…
Sau đây gợi ý để tạo một portfolio:
Một bảng minh chứng
Một trang tiêu đề miêu tả về trẻ và mục đích của portfolio
Sử dụng nhãn dán để phân chia nội dung của từng phần trong portfolio
Ghi ngày tham gia trên tất cả minh chứng
Đánh giá mỗi phần bao gồm cả giáo viên và trẻ đánh giá và cả bình luận của giáo viên [27]
Dự tính nơi lưu trữ
Có nhiều hình thức để lưu trữ portfolio như:
Thư mục tập tin
Thư mục X-ray
Trang 33 Hình ảnh trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động trong chủ đề/dự án
Hình ảnh trẻ thu thập, tìm kiếm thông tin
Hình ảnh trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập, vui chơi, lao động
Hình ảnh trẻ tham gia làm việc nhóm và hoạt động cá nhân
Hình ảnh trẻ trình bày kết quả trước lớp
Những lời nói thể hiện khả năng tự đánh giá của trẻ
Minh chứng về việc học của trẻ trong các lĩnh vực (tại các thời điểm khác nhau)
Những sản phẩm vẽ, nặn, cắt dán, xây dựng,…
Những bài tập trẻ thực hiện như: toán, tô màu, viết, khám phá khoa học…
Video/Audio ghi lại câu chuyện, bài hát mà trẻ thể hiện hoặc khả năng đọc/ viết
Minh chứng về những khả năng, hứng thú và đặc điểm cá nhân của trẻ
Những sản phẩm đặc biệt cho thấy:
Trang 3425
Sản phẩm hoạt động là vật chứng minh cho quá trình và kết quả hoạt động của trẻ Việc thu thập tất cả sản phẩm hoạt động của trẻ không những gây lãng phí thời gian, công sức và chi phí mà còn gây khó khăn cho giáo viên trong việc sắp xếp, bảo quản và phân tích hồ sơ của trẻ Việc lựa chọn nội dung lưu trữ ở portfolio cần tuân theo mục đích và tiên chí đánh giá cụ thể
Nội dung của portfolio bao gồm quan sát, phiếu ghi chép hội thoại, phiếu ghi chép nội dung hội ý với phụ huynh, với trẻ, hình ảnh, bảng kiểm, sản phẩm hoạt động ngôn ngữ, tranh vẽ trên bảng, tranh vẽ trên bàn, sản phẩm trẻ tự làm hay làm chung với bạn trong hoạt động vui chơi tự do, băng ghi âm cuộc trò chuyện với trẻ, phụ huynh, danh sách tranh trẻ tìm đọc, băng thu âm câu chuyện của trẻ, ca khúc trẻ hát đơn ca hay đồng ca, tác phẩm trẻ tự làm hay cùng làm với bạn, câu chuyện trẻ kể, trò chơi đóng kịch, phiếu tự đánh giá của trẻ, tóm tắt đánh giá portfolio của giáo viên, nội dung khảo sát hứng thú và năng lực của trẻ, ghi chép về quan hệ bạn bè của trẻ [21], [27]
Quan sát và ghi chép
Đánh giá portfolio bao gồm sản phẩm hoạt động của trẻ và tài liệu ghi chép của giáo viên Thông qua quan sát, giáo viên có thể nắm thông tin về trẻ ở tình huống tự nhiên Trong quá trình quan sát, giáo viên thường sử dụng pháp ghi chép tình huống, bảng kiểm, chuẩn đánh giá Tài liệu quan sát của giáo viên nên bố trí trong file riêng, không để chung với hồ sơ đựng sản phẩm hoạt động của trẻ [21]
Bước 3: Lựa chọn và sắp xếp portfolio để đánh giá
Nhiệm vụ chính của giáo viên là để xác định cần đánh giá cái gì trong portfolio, phụ thuộc vào mục đích portfolio Barbour and Desjean Perrotta đề nghị cần phải cân bằng giữa quá trình và sản phẩm [16] Quá trình làm việc sẽ phản ánh sự tiến bộ của trẻ hướng tới mục tiêu phát triển kĩ năng và nhận thức Sản phẩm là bước cuối cùng trong quá trình mà trẻ đạt được Vì vậy, chúng ta phải cân bằng giữa mẫu công việc bao gồm quá trình và sản phẩm của trẻ Nội dung portfolio nên bao gồm: kết quả đánh giá truyền thống, đánh giá thực tế hay đánh giá dựa trên kết quả đạt được và quan sát [27]
Lựa chọn minh chứng
Sự phù hợp của minh chứng:
Trang 35Giáo viên nên lựa chọn minh chứng chứa đựng nhiều thông tin, dễ dàng thu thập
và đại diện cho những hoạt động trong lớp học Những minh chứng phải phản ánh những khía cạnh về việc học và sự phát triển của trẻ Những hoạt động trong lớp học tạo nên kết quả về một portfolio có chất lượng cao thông qua những minh chứng có ý nghĩa và hứng thú của trẻ
Tùy thuộc vào từng độ tuổi, sự phát triển và kinh nghiệm của trẻ để ra quyết định
ai là người chọn minh chứng đặt vào portfolio Đối với trẻ mầm non và tiểu học thì vẫn chưa đảm đương trách nhiệm chính đối với portoflio của họ Do đó, giáo viên sẽ là người đưa ra quyết định và hỗ trợ trẻ lựa chọn để đảm bảo thông tin không bị bỏ lỡ
Sau đây là một vài gợi ý công việc đặt vào portfolio tùy thuộc vào từng độ tuổi
và sự phát triển khác nhau ở trẻ:
Sản phẩm của trẻ làm trên giấy như: cắt, vẽ, in, dán hoặc viết…
Nhật kí: toán, viết, vẽ… phản ánh sự trải nghiệm và tăng trưởng của trẻ
Hình ảnh trẻ tham gia trong các hoạt động học, chơi trong lớp và ngoài lớp, lạo động
Hình ảnh trưng bày bằng giấy do cá nhân trẻ hoặc nhóm trẻ thực hiện
Công việc của trẻ thực hiện trên máy tính như: vẽ, tô màu, toán, viết, trò chơi
Biểu đồ tham gia: về những gì trẻ đã làm trong một ngày hoặc một khoảng thời gian
Video ghi lại câu truyện trẻ kể, bài hát, thể hiện vận động của trẻ
Quan sát và ghi chép lại những hoạt động của trẻ (ví dụ: quan sát về việc đọc của trẻ, trẻ tự đọc hoặc có sự giúp đỡ của phụ huynh)
Nhận xét của phụ huynh, ghi chú từ buổi họp phụ huynh [21], [27]
Sắp xếp minh chứng:
Trang 3627
Sắp xếp có thể dựa theo từng lĩnh vực phát triển như thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm-xã hội và thẩm mỹ hoặc theo môn học như toán, khoa học, tự nhiên-xã hội, chữ viết Giáo viên khi bắt đầu sử dụng portfolio có thể tập trung dựa trên 1 lĩnh vực, như ngôn ngữ và chữ viết Giáo viên sử dụng bút với nhiều màu sắc và giấy note
để ghi chép cuộc đối thoại và sắp xếp theo từng lĩnh vực
Giáo viên thường xuyên kiểm tra để đảm bảo rằng tất cả những lĩnh vực hoặc môn học chứa đựng minh chứng cho tất cả các trẻ Giáo viên đưa ra danh sách dự tính minh chứng cho mỗi portfolio để theo dõi những gì cần phải thu thập Mỗi minh chứng đặt vào portfolio đều phải ghi ngày, tên trẻ [21]
Bước 4: Phân tích portfolio để đánh giá
Giáo viên, trẻ và phụ huynh đánh giá nội dung portfolio để xác định sự tiến bộ của trẻ và có kế hoạch phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển của trẻ Để chuẩn bị cho buổi thảo luận, trước tiên giáo viên phải thực hiện phân tích dựa trên mục tiêu học tập,
sự tiến bộ và tiêu chí để giải thích thành tích học tập của trẻ Giáo viên xác định những
gì trẻ đã học dựa trên mẫu công việc, phỏng vấn, bảng kiểm, thang đo, tự đánh giá, bài tập đánh giá giáo viên thiết kế Đánh giá công việc của trẻ trong nhiều lĩnh vực phát triển, sự liên tục của kĩ năng, và những mục tiêu trong portfolio Sử dụng tiêu chí đã thành lập, giáo viên phát triển một hồ sơ về điểm mạnh và điểm yếu của trẻ, cũng như
sở thích và sự sáng tạo liên quan tới nhiều loại hình công việc khác nhau [27]
Giáo vên gửi bản nhận xét về sự tiến bộ của trẻ sau khi kết thúc dự án/cuối học kì/năm học và gửi về gia đình trẻ, tiếp nhận ý kiến đóng góp từ gia đình hay dùng cho giáo viên tham khảo
Tiến hành họp hội ý portfolio
Buổi họp hội ý portfolio vào cuối năm học thường tổ chức cho phụ huynh và giáo viên Nội dung của buổi họp dựa trên cơ sở của bảng tóm tắt portfolio để phổ biến thông tin về trẻ có thể điều chỉnh nội dung của bảng tóm tắt Các nội dung được quyết định sau cùng ở đánh giá portfolio có thể được trẻ, giáo viên và phụ huynh hội ý và lựa chọn
Tổ chức triển lãm portfolio
Mục đích của việc triển lãm portfolio là nhằm công khai và phổ biến thông tin về đánh giá portfolio của tất cả trẻ trong trường cho những người liên quan đến trẻ như phụ
Trang 3728
huynh, giáo viên ở các nhóm lớp khác, ban giám hiệu, các vị phụ huynh Giáo viên có thể trò chuyện với trẻ về lí do chọn sản phẩm để giới thiệu để trẻ có thể giới thiệu sản phẩm hoạt động yêu thích của mình cho người khác trong buổi triễn lãm
Như vậy, cách đánh giá bằng portfolio có thể khái quát như sau: xác định mục đích, tiêu chí, thu thập, sắp xếp và cuối cùng là đánh giá Điểm khác biệt đánh giá bằng portfolio đối với những bậc học cao hơn học sinh là người xây dựng portfolio cho mình Kết quả đánh giá thể hiện trên điểm số cụ thể Tuy nhiên, đánh giá bằng portfolio trong GDMN thì giáo viên và trẻ cùng tham gia xây dựng portfolio Kết quả đánh giá không thể hiện bằng điểm số thay vào đó giáo viên sẽ nhận xét về điểm mạnh và điểm yếu mà trẻ phải cố gắng hơn
1.3.4 Khả năng ứng dụng đánh giá bằng portfolio vào GDMN ở Việt Nam
Đổi mới trong giáo dục mầm non hiện nay là theo hướng “dạy học lấy trẻ làm trung tâm”, mọi hoạt động đều xuất phát từ trẻ và hướng vào trẻ Như vậy, trẻ vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình giáo dục [8] Đánh giá trẻ hiện nay cũng có những điểm mới:
Về mục đích đánh giá: đánh giá mức độ đạt được/chưa đạt được về khả năng, nhận thức, kĩ năng hành động, thái độ ứng xử của trẻ, làm cơ sở điều chỉnh chương trình và lập kế hoạch giáo dục linh hoạt, phù hợp khả năng của đa số trẻ trong trường/ lớp mầm non theo từng độ tuổi
Đối tượng đánh giá: đối tượng đánh giá chính là trẻ
Nội dung đánh giá: các lĩnh vực phát triển của trẻ
Về phương pháp đánh giá: đánh giá thông qua quan sát, trò chuyện, phân tích sản phẩm của trẻ và trắc nghiệm
Về hình thức đánh giá: đánh giá thường xuyên và đánh giá theo định kì [8] Đổi mới phương pháp dạy học tất yếu phải đổi mới trong đánh giá trẻ Đánh giá lấy “trẻ làm trung tâm” yêu cầu giáo viên phải hiểu đánh giá có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục, giúp giáo viên định hướng mục tiêu giáo dục, xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp Do đó, đòi hỏi giáo viên phải linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp, hình thức đánh giá trẻ, đồng thời tạo điều kiện cho trẻ tự đánh giá hoạt động của mình Giáo viên cần phải hiểu đánh giá chỉ nhằm mục đích động viên, khuyến khích trẻ
Trang 3829
tích cực hoạt động Vì thế, giáo viên không nên chê bai, phê bình, so sánh sẽ làm giảm hứng thú hoạt động của trẻ Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện đánh giá trẻ còn nhiều lúng túng, chưa phát huy mục tiêu giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm” Để giúp giáo viên có thể tiếp cận với cách đánh giá tiên tiến và được nhiều nước trên thế giới áp dụng, chúng tôi
đã nghiên cứu ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ mầm non Portfolio có thể đáp ứng những vấn đề đặt ra ở trên Portfolio là sự phối phợp các phương pháp để đánh giá quá trình học tập và sự phát triển của trẻ Portfolio giúp xâu chuỗi lại tất cả hoạt động của trẻ từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc một chủ đề/dự án Do đó, cung cấp thông tin chính xác và tin cậy Ngoài ra, portfolio lôi kéo cả phụ huynh, trẻ cùng tham đánh giá, tạo mối liên kết chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường Đánh giá diễn ra hằng ngày, kể cả bên trong và ngoài lớp học nhằm cung cấp thông tin đa dạng để điều chỉnh kế hoạch dạy học phù hợp với khả năng của trẻ [27]
Portfolio còn khá mới mẻ trong GDMN ở Việt Nam, đã có một vài nghiên cứu lí luận về sử dụng portfolio trong đánh giá trẻ tuy nhiên cũng chưa được áp dụng rộng rãi tại các trường mầm non Hiện nay, cũng đã có một số trường mầm non quốc tế đã sử dụng portfolio như là hồ sơ để báo cáo sự tiến bộ của trẻ với phụ huynh như: trường mầm non quốc tế X, quận Tân Bình, trường mầm non Y, quận 3 Qua thăm dò giáo viên tại trường mầm non Y cho biết phụ huynh rất hài lòng về cách đánh giá này và cùng tham gia vào đánh giá trẻ Phụ huynh nhận thấy sự tiến bộ từng ngày của trẻ thông qua những hoạt động được ghi lại trong portfolio Ngoài ra, giáo viên cho rằng thông qua portfolio họ phát hiện ra điểm mạnh và điểm yếu của trẻ cần phải hỗ trợ Một giáo viên
ở trường Mầm Non Y cho rằng sử dụng portfolio phải mất nhiều thời gian ghi chép nhưng mang lại nhiều thông tin về trẻ cung cấp cho phụ huynh, từ đó phụ huynh tin tưởng và hợp tác hơn Kết quả thử nghiệm chương 3, còn cho thấy khả năng vận dụng portfolio vào đánh giá trẻ rất khả quan Ban giám hiệu trường cho biết sẽ ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ 5-6 tuổi vào đầu năm học
Cùng với quan điểm mới trong đánh giá trẻ và những thành công khi sử dụng portfolio ở các trường mầm non quốc tế, đặc biệt trường thử nghiệm cho thấy sử dụng portfolio vào đánh giá trẻ trong GDMN Việt Nam là hoàn toàn có thể thực hiện Tuy
Trang 3930
nhiên ban đầu thực hiện sẽ không tránh những khó khăn vì vậy cần phải có những buổi tập huấn và giáo viên thực hành thường xuyên sẽ mang lại hiệu quả nhất định
Trang 40Việc nghiên cứu cơ sở lí luận của portfolio trong đánh giá trẻ tại chương 1 được xem là nền tảng để chúng tôi đi sâu tìm hiểu thực trạng đánh giá trẻ mẫu giáo trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, từ đó tiến hành thử nghiệm phương án ứng dụng portfolio vào đánh giá trẻ 5 – 6 tuổi nhằm đánh giá tính khả thi và phù hợp của portfolio với mục tiêu GDMN hiện nay