Với vị thế là một tỉnh trọng điểm của vùng và các yếu tố ưu đãi về cả tự nhiên nhiên lẫn xã hội nên trong những năm gần đây ở An Giang đã mọc lên rất nhiều khu công nghiệp, cụm công nghi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Đô thị hóa tỉnh An Giang: Thực trạng và giải pháp”
là đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu, thu thập, xử lí số liệu và thực hiện Các số liệu, biểu bảng và hình ảnh thể hiện trong luận văn được trích dẫn từ các nguồn cụ thể Nếu
có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Trần Phước Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới thầy TS Hoàng Công Dũng, người trực tiếp hướng dẫn, đã luôn quan tâm, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ về mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Địa lí, trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh và trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình dạy
dỗ và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học này
Xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các cơ quan ban ngành, Ủy ban nhân dân, sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Công thương, cục Thống kê tỉnh An Giang đã nhiệt tình giúp đỡ tôi thu thập tài liệu phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu đề tài Xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 03 năm 2015
Học viên
Trần Phước Hậu
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Đô thị 7
1.1.2 Đô thị hóa 11
1.1.3 Những biểu hiện cơ bản của ĐTH 16
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá đô thị hóa 20
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới đô thị hóa 21
1.2 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và đô thị hóa 24
1.2.1 Khái niệm 24
1.2.2 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và đô thị hóa 25
1.3 Tác động của quá trình ĐTH đến KT – XH và môi trường 26
1.3.1 Tác động tích cực 26
1.3.2 Tác động tiêu cực 27
1.4 Cơ sở thực tiễn 27
1.4.1 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam 27
1.4.2 Đô thị hóa vùng ĐBSCL 32
1.5 Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐÔ THỊ HÓA TỈNH AN GIANG 35
2.1 Khái quát về An Giang 35
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến ĐTH tỉnh An Giang 35
2.2.1 Vị trí địa lý 35
Trang 62.2.2 Các nhân tố về KT – XH 37
2.2.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 45
2.1.4 Hệ thống chính sách phát triển, quy hoạch và quản lý đô thị 49
2.3 Thực trạng đô thị hóa tỉnh An Giang 52
2.3.1 Khái quát quá trình đô thị hóa ở An Giang 52
2.3.2 Thực trạng đô thị hóa 55
2.3.3 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và đô thị hóa ở An Giang 79
2.3.4 Tác động của quá trình ĐTH đến KT – XH và môi trường 81
2.4 Tiểu kết chương 2 84
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ HÓA AN GIANG ĐẾN NĂM 2025 86
3.1 Cơ sở định hướng phát triển đô thị hóa ở An Giang đến năm 2025 86
3.1.1 Cơ sở và định hướng phát triển đô thị vùng ĐBSCL đến năm 2025 86
3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm 2025 97
3.1.3 Quan điểm, định hướng phát triển đô thị hóa An Giang 99
3.2 Giải pháp phát triển đô thị, thúc đẩy đô thị hóa ở An Giang 104
3.3 Tiểu kết chương 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : công nghiệp hóa – hiện đại hóa
CN-XD : công nghiệp - xây dựng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại đô thị ở một số nước 11
Bảng 1.2 Dân số và tỉ lệ dân số đô thị thế giới và các vùng của Việt Nam năm 2012 17
Bảng 1.3 Dân số của một số thành phố lớn trên thế giới năm 2012 18
Bảng 1.4 Tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam giai đoạn 1931 – 2012 28
Bảng 1.5 Tổng số dân, dân số thành thị và tỉ lệ so với dân số thành thị cả nước phân theo vùng kinh tế năm 2012 30
Bảng 1.6 Quy mô dân số thành thị và tỉ lệ dân thành thị của các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL năm 2002 và năm 2012 32
Bảng 2.1 Diện tích, dân số các đơn vị hành chính tỉnh An Giang năm 2012 35
Bảng 2.2 Các quá trình gia tăng dân số của tỉnh An Giang thời kì 2010 – 2012 38
Bảng 2.3 Hiện trạng diện tích đất xây dựng đô thị ở 19 đô thị tỉnh An Giang năm 2012 47
Bảng 2.4 Dân số đô thị và nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn 2002 – 2012 55
Bảng 2.5 Quy mô dân số các đô thị tỉnh An Giang năm 2012 57
Bảng 2.6 Tổng số dân, số dân thành thị An Giang và một số địa phương năm 2012 58
Bảng 2.7 Tỉ lệ dân số thành thị của An Giang và một số địa phương năm 2012 59
Bảng 2.8 Tỉ lệ ĐTH của các huyện, thị, thành tỉnh An Giang năm 2012 64
Bảng 2.9 Tốc độ ĐTH ở An Giang so với ĐBSL và cả nước giai đoạn 2002 – 2012 66
Bảng 2.10 Mật độ dân số 19 đô thị tỉnh An Giang năm 2012 68
Bảng 2.11 Lao động và sự chuyển dịch cơ cấu lao động 70
Bảng 2.12 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang giai đoạn 2002 – 2012 73
Bảng 3.1 Các đô thị tỉnh An Giang vào năm 2025 103
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Dân số trung bình thành thị, nông thôn tỉnh An Giang giai đoạn
2002 – 2012 (Đơn vị: người) 56 Biểu đồ 2.2 Tổng số dân, số dân thành thị tỉnh An Giang và một số địa
phương năm 2012 59 Biểu đồ 2.3 Tốc độ tăng tỉ lệ dân thành thị tỉnh An Giang giai đoạn
2002 – 2012 61 Biểu đồ 2.4 Tỉ lệ dân số thành thị phân theo các khu vực trong tỉnh năm 2012 63 Biểu đồ 2.5 Tỉ lệ dân số thành thị phân theo huyện, thị xã, thành phố tỉnh An
Giang năm 2012 65 Biểu đồ 2.6 Sự chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh An Giang giai đoạn
2002 - 2012 70 Biểu đồ 2.7 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế An Giang giai đoạn 2002 – 2012 73 Biểu đồ 2.8 Giá trị sản xuất phi nông nghiệp và tỉ lệ dân thành thị ở An
Giang giai đoạn 2002 – 2012 82
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đô thị hóa là một hiện tượng đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Ở các nước phát triển đô thị hóa đã diễn ra mạnh mẽ vào giữa thế kỉ XX; tác động của quá trình đô thị hóa đã tạo cho những quốc gia này có tỉ lệ dân đô thị ngày càng lớn và nhiều thành phố triệu dân Song song với quá trình đô thị hóa là sự lớn mạnh về kinh tế và ngày nay là những quốc gia hàng đầu về kinh tế
Ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa diễn ra một cách chậm chạp Đến cuối những năm
1980 tỷ lệ dân đô thị của Việt Nam còn dưới 20% Tuy nhiên đến thập niên 90 của thế
kỷ XX mà đặc biệt là vào những năm đầu của thế kỉ XXI thì quá trình đô thị hóa của Việt Nam đã diễn ra mãnh liệt hơn với nhiều thành phố được thành lập và có những đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Đô thị hóa cũng góp phần vào việc phát triển kinh tế Việt Nam và tạo nên nét văn minh trong lối sống đô thị hội nhập vào cộng đồng thế giới
An Giang là tỉnh nằm ở khu vực ĐBSCL, có đường biên giới giáp Campuchia với chiều dài hơn 100km và là tỉnh có dân số và tổng GDP lớn nhất ĐBSCL Ngoài ra còn
là một trong bốn tỉnh, thành (cùng với thành phố Cần Thơ, Cà Mau, Kiên Giang) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL vào năm
2009 Chính vì thế mà An Giang có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới
Với vị thế là một tỉnh trọng điểm của vùng và các yếu tố ưu đãi về cả tự nhiên nhiên lẫn xã hội nên trong những năm gần đây ở An Giang đã mọc lên rất nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các trung tâm thương mại, cửa khẩu biên giới… Kèm theo sự phát triển này thì các đô thị ở An Giang cũng bắt đầu lớn dần ra và xuất hiện thêm nhiều đô thị mới Hiện tại, toàn tỉnh An Giang có hai thành phố, một thị xã và mười sáu thị trấn (trong đó có một thị trấn được xếp là đô thị loại bốn) với mức đô thị hóa toàn tỉnh năm 2012 là khoảng 30% (xấp xỉ cả nước 32%), là tỉnh có mức đô thị hóa tương đối cao so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL và so với nhiều tỉnh khác trong cả nước
Trang 11Để thực hiện mục tiêu cả nước sẽ cơ bản trở thành là một nước công nghiệp vào năm 2020 với mức đô thị hóa khoảng 40% thì Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang đã có những kế hoạch và mục tiêu cụ thể về vấn đề nâng cấp và phát triển hệ thống đô thị của tỉnh nhà trong giai đoạn hiện nay và định hướng đến năm 2025 Nhận thấy rõ tầm
quan trọng của vấn đề nên tôi chọn nghiên cứu đề tài “Đô thị hóa tỉnh An Giang:
thực trạng và giải pháp”, nhằm góp phần giải quyết những tồn tại và hạn chế trong
quá trình đô thị hóa của tỉnh An Giang
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1 Mục tiêu
Tổng quan về đô thị hóa tỉnh An Giang
Phân tích thực trạng đô thị hóa tỉnh An Giang, tìm ra hạn chế, bất cập; từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phù hợp phát triển đô thị đến năm 2025
2.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu thực trạng đô thị hóa từ đó có cơ sở để xác định và từng bước nâng cao tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh, xây dựng phát triển các thành phố, thị xã, thị trấn và các khu chức năng trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng theo hướng liên kết vùng để trở thành tỉnh văn minh, hiện đại, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển trong hệ thống đô thị cả nước, của vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL và địa phương
Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa tỉnh An Giang Phân tích thực trạng đô thị hóa tỉnh An Giang hiện nay
Xây dựng các chương trình phát triển hệ thống đô thị của tỉnh trong giai đoạn hiện nay và định hướng đến năm 2025; từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp, khả thi để đạt được mục tiêu đề ra
2.3 Giới hạn của đề tài
- Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa, thực trạng phát triển đô thị hóa tỉnh An Giang trong giai đoạn
từ năm 2002 đến năm 2012, từ đó đưa ra định hướng và giải pháp phát triển đô thị đến năm 2025
Trang 12- Về Không gian: đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn tỉnh An Giang và các thành phố, thị xã, thị trấn trong tỉnh
- Về thời gian: phân tích quá trình đô thị hóa tỉnh An Giang từ khi tỉnh được thành lập năm 1975 đến nay, nhưng tập trung chủ yếu vào nghiên cứu giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2012
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Thuật ngữ “đô thị hoá” đã ra đời từ năm 1867, trong tác phẩm “Lí luận chung về đô thị hoá” của tác giả CERDA (Tây Ban Nha), nhưng tác phẩm này
bị quên lãng đến năm 1967 mới được phát hiện lại Vào những năm 20 của thế
kỷ XX, cụm từ “đô thị hoá” xuất hiện ở các tạp chí chuyên ngành về địa lí kinh
tế, dần phổ biến sang các lĩnh vực khác Ngày càng có nhiều các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực: kinh tế, xã hội, kiến trúc, quan tâm đến vấn đề đô thị hóa
Ở Liên Xô cũ, các nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa được quan tâm chủ yếu
là về các lĩnh vực: cấu trúc lãnh thổ nội tại của các thành phố, các trùm đô thị,
sự phát triển các thành phố vệ tinh, quy hoạch các thành phố và các vùng đô thị…
Tại phương Tây các nghiên cứu thường chi tiết và có tính thực tiễn cao
Ý nghĩa nhất là Walter Chiristaller và Liôsơ với lí thuyết “Vị trí trung tâm”, ảnh hưởng sau rộng tới các phân tích không gian trong địa lí thành phố và lĩnh vực xã hội học đô thị Tại Pháp, các nhà khoa học đi sâu về địa lí nhân văn, tại Tây Âu và Bắc Mĩ thì từnhững năm 1920, chuyên ngành “xã hội học đô thị” được hình thành và phát triển nhanh chóng Năm 1953, Hội nghị quốc tế đô thị đầu tiên được tổ chức tại Mĩ với
sự tham gia của các chuyên gia nước Anh, Pháp, Đức, Đan Mạch Năm 1985, Harold Carter xuất bản cuốn “ Nghiên cứu địa lí đô thị” Gần đây, một số tác giả Anh
đã đề cập nhiều đến đặc điểm đa dạng và phức tạp của những xu hướng mới về đô thị hóa trong những giai đoạn lịch sử khác nhau của khu vực và thế giới
Vấn đề đô thị hóa được tác giả Đàm Trung Phường, 1995, phân tích tập trung trong cuốn “ Đô thị Việt Nam”; tác giả Mạc Đường, 2002, trong cuốn “ Đô thị học và vấn đề đô thị hóa” và tác giả Trương Quang Thao, 2003, trong cuốn “ Đô thị học nhập môn” và “Đô thị học - Những khái niệm mở đầu” Về lịch sử phát triển đô
Trang 13thị có nghiên cứu của tác giả Đặng Thái Hoàng, Nguyễn Quốc Thông Ngoài ra còn có các vấn đề về xã hội, quản lí đô thị, kinh tế đô thị, quy hoạch cải tạo, xây dựng và phát triển đô thị của các tác giả khác
Về thực tiễn thì trong những năm gần đây đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về những lĩnh vực liên quan đến quá trình đô thị hóa như: cuốn “Đô thị Việt Nam”,
2005 của Đàm Công Phường; “Đô thị hóa ở Việt Nam trong bối cảnh của thế giới đô thị hóa”, 2006 của Đỗ Thị Minh Đức; Luận án tiến sĩ “Phân tích quá trình đô thị hóa ở Hải Phòng thời kì 1985 – 2007, 2010 của Vũ Thị Chuyên; Luận án tiến sĩ “Tác động của những biến đổi kinh tế – xã hội đến sự phát triển đô thị ơ thị xã Lạng Sơn”, 2002 của Hoàng Phúc Lâm…
Về vấn đề đô thị hóa tỉnh An Giang ngày nay cũng được các cấp quản lý các nhà khoa học quan tâm đúng mực Tuy nhiên cho đến nay dưới góc độ địa lí thì chưa
có một công trình nghiên cứu nào về đô thị hóa tỉnh An Giang
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm lãnh thổ
Bất cứ đối tượng địa lí KT - XH nào cũng gắn liền với một lãnh thổ nhất định, do đó quan điểm lãnh thổ là quan điểm đặc thù của ngành Địa lí Trong lãnh thổ tỉnh An Gian cần phân tích nhiều chiều về không gian và thời gian, trong mối quan hệ đan xen chặt chẽ, đồng thời cũng có liên quan với các lãnh thổ xung quanh địa bàn tỉnh về phương diện tự nhiên, kinh tế, xã hội Do
đó, ranh giới ở đây chỉ mang tính tương đối
4.1.2 Quan điểm tổng hợp
ĐTH là một quá trình phức tạp, đan xen nhiều lĩnh vực và đa cấp độ Áp dụng quan điểm tổng hợp cho phép xem xét các tiêu chí khác nhau của quá trình ĐTH ở tỉnh An Giang trong mối quan hệ tác động qua lại, từ đó sẽ tránh được cái nhìn phiến diện, bỏ sót các yếu tố cần phân tích
4.1.3 Quan điểm lịch sử
Khi nghiên cứu một đối tượng địa lí, phải chú ý tới sự hình thành, phát triển của đối tượng đó trong quá khứ; như vậy mới hiểu được bản chất của sự
Trang 14vật hiện tượng đó ở hiện tại và lí giải được nguồn gốc của chúng Vận dụng quan điểm này vào đề tài cần xem xét quá trình ĐTH của nước ta nói chung và của tỉnh An Giang nói riêng, phân tích những chuyển biến KT - XH trong những điều kiện lịch sử cụ thể trên địa bàn
4.1.4 Quan điểm kinh tế
Trong nghiên cứu Địa lí KT - XH nói chung và đề tài nói riêng thì quan điểm kinh tế cũng có vai trò quan trọng, nó thể hiện thông qua tổ chức lãnh thổ, các số liệu thống kê về thu hút nguồn vốn đầu tư và tác động của nguồn vốn đó tới KT - XH của tỉnh An Giang…
4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Đây vừa là quan điểm vừa là mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm sử dụng nguồn lợi tự nhiên, KT - XH, nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả trong hiện tại vừa không ảnh hưởng đến tương lai
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau một cách có chọn lọc để đảm bảo tính đa dạng và chính xác của thông tin; đồng thời phân tích xử lí các số liệu thu thập được nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài Các số liệu về KT - XH, dân cư - lao động được khai thác ở Cục thống kê An Giang, Sở kế hoạch và đầu tư An Giang, Sở xây dựng, Sở Tài nguyên và môi trường , UBND tỉnh An Giang…
4.2.2 Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu địa bàn Xuất phát từ bản đồ gốc (bản đồ hành chính), các kết quả nghiên cứu lại được thể hiện thông qua các bản đồ, biểu đồ mới để phản ánh các đặc điểm không gian - thời gian của các thành phần
4.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là phương pháp mang tính đặc thù của nghiên cứu Địa lí Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã đi thực tế khảo sát, quan sát thực địa trên địa bàn nghiên cứu
Trang 15và phỏng vấn những người có trách nhiệm Qua kết quả điều tra thực tế đối chiếu lại một số nhận định, kịp thời điều chỉnh hướng nghiên cứu khi cần thiết
4.2.4 Phương pháp dự báo
Từ thực trạng của quá trình ĐTH, định hướng phát triển KT - XH của tỉnh, quá trình phát triển của hệ thống đô thị quốc gia và ở tỉnh An Giang Phương pháp dự báo đưa ra các dự báo về ĐTH của tỉnh An Giang trong tương lai và đưa ra một số đề xuất
5 Đóng góp mới của đề tài
Tổng quan cơ sở lí luận về đô thị hóa
Phát hiện mặt đạt được, tồn tại, hạn chế trong quá trình đô thị hóa tỉnh An Giang
Đề xuất một số định hướng, giải pháp phù hợp để thúc đẩy quá trình đô thị hóa
ở tỉnh An Giang
Là tài liệu tham khảo, tìm hiểu nghiên cứu về đô thị hóa tỉnh An Giang; đồng thời là tài liệu bổ ích cho các cấp quản lí, hoạch định tham khảo để đưa ra các quyết sách đúng đắn
6 Cấu trúc của luận văn
Đề tài gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong phần nội dung được chia làm 3 chương cụ thể như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị hóa
- Chương 2:Thực trạng đô thị hóa tỉnh An Giang
- Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển đô thị tỉnh An Giang đến năm
2025
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đô thị
1.1.1.1 Các khái niệm về đô thị
Các đô thị trên thế giới có lịch sử hình thành và phát triển rất sớm Do đó, từ lúc
sơ khai ban đầu cho đến nay, có rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về đô thị Tuy nhiên, những khái niệm, định nghĩa về đô thị này chỉ mang tính tương đối Có thể dẫn ra một số khái niệm của các tác giả trong và ngoài nước như:
Theo Yu.G Xauskin (Liên Xô): Đô thị là một điểm quần cư có mật độ nhân khẩu cao và dân cư ở đây không có hoạt động nông nghiệp trực tiếp
Theo từ điển Bách Khoa Liên Xô: “Đô thị là khu dân cư rộng lớn, dân cư ở đây chủ yếu hoạt động trong các ngành công nghiệp, thương nghiệp cũng như trong các lĩnh vực phục vụ, quản lí, khoa học và văn hóa”
Điểm chung của cả hai khái niệm trên là đã đưa ra những nét nổi bật nhất của một đô thị: đó là nơi tập trung dân cư đông đúc gắn với hoạt động sản xuất phục vụ phi nông nghiệp
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả nghiên cứu về đô thị và
đã đưa ra nhiều khái niệm về đô thị
Trong cuốn “Kinh tế học đô thị” của Phạm Ngọc Côn đã đưa ra khái niệm đô
thị dưới hai góc độ khác nhau: theo tính chất đô thị và theo điểm dân cư đô thị Theo
tính chất, đô thị phải có 3 điều kiện là tính tập trung với mật độ cao, tính kinh tế và
tính xã hội Tác giả nhận định rằng, đô thị là một thực thể thống nhất hữu cơ của thực thể kinh tế phi nông nghiệp, thực thể xã hội và thực thể vật chất tập trung với mật độ cao tại một khu vực nhất định Theo điểm dân cư đô thị thì đô thị là dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hay của một tỉnh, một huyện
Trang 17Theo tác giả, Đỗ Thị Minh Đức, “đô thị là một khái niệm cơ bản và được sử dụng khá thống nhất ở các quốc gia nhằm chỉ những nơi có dân cư đông đúc, sinh sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp”
Trong quá trình quản lí và hoạch định các chiến lược phát triển KT-XH, phát triển đô thị các cơ quan nhà nước cũng đưa ra một số khái niệm về đô thị
Trong thông tư số 34/2009/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung của Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị và Luật quy hoạch đô thị của Quốc hội khóa XII, đã đưa ra khái niệm: “đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành,
có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT-XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”
Như vậy, đô thị trước hết phải là một lãnh thổ xác định, tại đó dân cư tập trung với mật độ cao, gắn với các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp Đồng thời đô thị còn
là nơi hội tụ nhiều năng lực kinh tế, năng lực khoa học – công nghệ và các giá trị văn hóa, xã hội khác
Tóm lại, đô thị được coi “là một hiện tượng địa lí KT – XH, một tác phẩm hoàn chỉnh của bàn tay nhân loại”, là hình thức quần cư đặc biệt của xã hội loài người Đó
là một tổ chức không gian cư trú, sinh sống với mật độ cao, dân cư hoạt động chủ yếu
ở lĩnh vực phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng hợp, có vai trò hạt nhân, thúc đẩy sự phát triển KT- XH của cả nước hay một vùng lãnh thổ Đô thị phát triển và có cuộc sống nội tại riêng của nó, luôn vận động và phát triển theo các quy luật của xã hội
1.1.1.2 Lãnh thổ đô thị
Đô thị bao gồm thành phố, thị xã và thị trấn được cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập Thành phố được chia thành các khu vực nội thành và ngoại thành Có thể coi các bộ phận nội thành, nội thị là phần hạt nhân, nơi tập trung cao độ nhất về mật độ dân cư, kinh tế,… của đô thị Ngoại thành, ngoại thị và vùng đệm, chịu tác
Trang 18động phát triển lan tỏa từ hạt nhân bên trong, các hoạt động kinh tế thường bao gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp
Đối với thành phố trực thuộc Trung ương; khu vực nội thành được chia thành các quận, quận chia thành các phường; khu vực ngoại thành được chia thành các huyện và huyện chia nhiều xã, thị trấn Nước ta còn có các thị tứ Thị tứ chưa phải là điểm dân cư đô thị, nhưng là trung tâm của các xã hay liên xã, tập trung nhiều công trình công cộng mang tính đô thị, là cơ sở hình thành các điểm dân cư đô thị theo hướng đô thị hóa nông thôn
1.1.1.3 Đặc điểm cơ bản của đô thị
Đô thị như một cơ thể sống
Đô thị là một cơ thể sống, một hệ sinh thái vừa mang tính sinh học, vừa mang tính cơ học, trên cơ sở có sự đan xen tổng hòa và sự tác động tương hỗ của các hệ thống nội lực, ngoại lực theo chiều khác nhau; bất kì sự thay đổi nào của hệ thống
cũng dẫn tới sự thay đổi hay mất cân bằng các đô thị
Đô thị luôn vận động và phát triển
Đô thị là thành quả của một phức hệ giữa con người và tự nhiên Đô thị là một
hệ sinh thái động, thường xuyên chuyển hóa và vận động phức tạp Garnier Chabot đã nhận xét rằng: “đô thị ra đời, lớn lên và phát triển, trở thành khổng lồ, thường thay đổi diện mạo và đôi khi có thể bị mất đi Đô thị không chỉ sống bằng hoạt động của dân cư
ở đó mà còn bằng cả cuộc sống nội tại riêng của nó “Có thể nói đô thị cũng như nói
về con người và cây cỏ vậy”
Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được
Đô thị có thể coi là một hệ điều khiển mở, một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh
Đô thị là tác phẩm hoàn chỉnh của con người, do đó con người luôn là chủ thể, quyết định các mục tiêu cơ bản phát triển đô thị Con người có thể điều khiển được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng quy luật khách quan của nó, nhưng không thể bắt đô thị hoạt động theo ý muốn chủ quan của con người
Từ khái niệm đô thị trong thông tư số 34/2009/TT-BXD, ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản nhất của đô thị là:
Trang 19 Đặc điểm dân cư
Đô thị là khu vực có mức độ tập trung dân cư cao, điều này phản ánh rõ rệt với tính phân tán dân cư nông thôn Tuy nhiên, quy mô dân số và mật độ dân số để một khu vực được coi là đô thị không hoàn toàn đồng nhất giữa các quốc gia
Đặc điểm kinh tế
Hầu hết các khái niệm đều nhận định kinh tế ở đô thị chủ yếu là kinh tế phi nông nghiệp Bởi hoạt động sản xuất nông nghiệp với năng suất, hiệu quả kinh tế thấp, không thể đáp ứng được các nhu cầu sinh tồn và phát triển của số lượng lớn dân cư tập trung với mật độ cao như ở đô thị Ở các đô thị thời phong kiến trở về trước, hoạt động kinh tế chính tại các đô thị là thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đóng vai trò chủ chốt Ngày nay, các hoạt động công nghiệp, dịch vụ với nhiều loại hình khác nhau, có năng suất lao động cao, tạo ra giá trị sản xuất lớn đang là ngành kinh tế tạo nên sức sống của đô thị
Về vai trò đô thị
Đô thị là nơi có sự tập trung cao độ về phân bố dân cư và sản xuất Ngoài ra, đây cũng là nơi tập trung quyền lực về mặt chính trị, hành chính Do đó, các đô thị đồng thời cũng là những trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển KT – XH của các quốc gia hoặc phạm vi không gian lãnh thổ cấp vùng, tiểu vùng, tỉnh…
1.1.1.4 Phân loại đô thị
Để đánh giá vai trò, vị trí của đô thị trong hệ thống đô thị, chúng ta phải sắp xếp chúng theo một “trật tự đô thị” với những tiêu chí nhất định Đó là sự phân loại các đô thị Trên thế giới có nhiều cách phân loại đô thị khác nhau Theo quy mô dân số có đô thị nhỏ, đô thị trung bình, đô thị lớn và siêu đô thị Theo chức năng, có đô thị công nghiệp, đô thị hành chính, đô thị cảng… Theo hình thể, có đô thị hình sao, đô thị theo dạng tuyến, theo chùm… Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những quy định riêng về tiêu chuẩn quy định cho mỗi tiêu chí trong cách phân loại đô thị
Trang 20Bảng 1.1 Phân loại đô thị ở một số nước
(Đơn vị: nghìn người)
Tên nước Đô thị nhỏ Đô thị
trung bình Đô thị lớn
Đô thị cực lớn
LB Nga – Ucraina <50 50 – 100 100 – 250 500 - 1000 Brazil 50 – 100 100 – 500 500 – 1000 >1000
Trung Quốc <100 100 – 500 500 – 1000 >1000
(Nguồn: Phạm Thị Xuân Thọ, Tìm hiểu cấu trúc thành phố Việt Trì)
Nhìn chung, mỗi cách phân loại đô thị đều dựa trên bối cảnh KT – XH cụ thể của mỗi nước Hầu hết các quốc gia đều đưa ra hệ thống phân loại đô thị theo cách tổng hợp, nhưng chủ yếu dựa vào một số tiêu chuẩn cơ bản như vai trò, chức năng, quy mô dân số, mật độ dân số và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
đô thị Theo cách này, trong Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009 của Chính phủ quy định về việc phân loại đô thị, tổ chức lập, thẩm định đề án và quyết định công nhận loại đô thị, hệ thống đô thị nước ta được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V
Ở nước ta, tên gọi các đô thị cũng thể hiện loại và cấp quản lí cũng như quy mô,
vị trí của từng đô thị Thường chúng ta vẫn dùng 3 từ quen thuộc là “thành phố”, “thị xã” và “thị trấn” Thành phố trực thuộc Trung ương phải đạt tiêu chuẩn của đô thị loại đặc biệt hoặc loại I, tương đương với cấp tỉnh Thành phố thuộc tỉnh phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại II hoặc loại III, do tỉnh quản lí Thị xã thuộc tỉnh hoặc thị xã thuộc thành phố trực thuộc Trung ương phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại III và loại IV, do tỉnh quản lí Thị trấn thuộc huyện phải đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV hoặc loại V, chủ yếu do huyện quản lí Những năm gần đây xuất hiện thêm từ “thị tứ”, là trung tâm của các đơn vị cấp xã hoặc liên xã
1.1.2 Đô thị hóa
1.1.2.1 Các khái niệm về đô thị hóa
Định nghĩa về đô thị hóa rất đa dạng, bởi vì đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau trong quá trình phát triển Tùy theo góc độ nghiên cứu
Trang 21của các lĩnh vực ở từng thời điểm lịch sử khác nhau mà có các định nghĩa đô thị hóa khác nhau
Từ khái niệm về đô thị, đô thị hóa được định nghĩa là quá trình hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành đô thị, là quá trình phát triển đô thị của một quốc gia, bao gồm việc mở rộng các đô thị hiện có và hình thành các đô thị mới
Trên góc độ kinh tế, đô thị hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, từ hoạt động sơ khai nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có như nông-lâm-ngư-nghiệp, khai khoáng phân tán trên một diên tích rộng khắp hầu như toàn quốc, sang những hoạt động tập trung hơn như công nghiệp chế biến, sản xuất, xây dựng cơ bản, vận tải, dịch vụ, thương mại, tài chính… Nói cách khác, đó là sự chuyển dịch từ hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên địa bàn thích hợp gọi là đô thị
Dưới góc độ nhân khẩu học và địa lí kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo bằng tỉ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân
Dưới góc độ địa lí học, đô thị hóa được định nghĩa theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, đô thị hóa được hiểu là quá trình lịch sử nâng cao vai trò của các thành phố trong sự vân động và phát triển của xã hội Quá trình này bao gồm những thay đổi trong phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong phân bố dân cư, trong cơ cấu nghề nghiệp xã hội và cơ cấu lao động, trong cấu trúc tổ chức không gian môi trường sống của cộng đồng
Theo nghĩa hẹp, đô thị hóa được hiểu là sự phát triển hệ thống thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn, trung tâm sức hút của vùng lãnh thổ, tăng tỉ trọng của dân số
đô thị trong nước, trong vùng và trên thế giới Ngày nay, quá trình đô thị hóa ngày càng gia tăng, với biểu hiện là sự tăng số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị;
sự tập trung hóa dân cư trong các thành phố và đặc biệt là trong các thành phố lớn; sự phổ biến lối sống thành phố trong toàn bộ mạng lưới điểm dân cư,
Những định nghĩa trên cho thấy tính chất phức tạp, đa chiều, đa cấp độ của đô thị hóa Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Thị Minh Đức đã làm rõ tính đa dạng và cấp độ cũng
Trang 22như tính quy luật của quá trình này “đô thị hóa là quá trình chuyển hóa vận động phức tạp, có quy luật về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội”
Dưới góc độ động lực phát triển, tác giả Trương Quang Thao có cách lý giải khá dễ hiểu về quá trình đô thị hóa hình thành và phát triển gắn với sự phát triển của công nghiệp hóa Công nghiệp phát triển mạnh ở các đô thị, kéo theo sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp Ở góc độ này, nhiều người cũng cho rằng, quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước, đô thị hóa là người bạn đồng hành với công nghiệp hóa
Đô thị hóa là khái niệm đa chiều, đa diện về KT – XH và môi trường, với những biểu hiện thay đổi mạnh mẽ trong đời sống sản xuất Đô thị hóa diễn ra trong mỗi quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ làm thay đổi mạnh mẽ sự phân bố lực lượng sản xuất và sự phân bố dân cư,
sự thay đổi cơ cấu nghề nghiệp, văn hóa xã hội, kết cấu giới tính, lứa tuổi của dân cư, làm thay đổi mạnh mẽ môi trường sống
Với nhiều cách lí giải khác nhau như trên, ta có khái quát:
Đô thị hóa là một quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp có quy luật, đan xen nhiều mặt về kinh tế, xã hội và không gian, trong đó diễn ra sự phát triển quy mô
đô thị, thay đổi phân bố dân cư và cơ cấu nghề nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, mở rộng dần không gian lãnh thổ thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức quản lí đô thị
1.1.2.2 Đặc điểm đô thị hóa
Đô thị hóa là một quá trình mang tính xã hội và lịch sử
Đô thị hóa không thể tách rời khỏi chế độ KT – XH Mỗi nền văn mình đều tạo
ra một phong cách sống, làm việc thích hợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp, phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Đô thị hóa là một quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp có quy luật về
các mặt KT – XH, văn hóa, không gian và môi trường
Tính quy luật của quá trình đô thị hóa biểu hiện ở sự chuyển đổi nghề nghiệp, tăng dân số đô thị, phát triển kinh tế đô thị, mở rộng đô thị Sự chuyển hóa này là tất yếu và cần thiết bởi nó gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất
Trang 23 Đô thị hóa gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Sự phát triển và phân bố công nghiệp là cơ sở quan trọng nhất để hình thành và phát triển đô thị, sự gia tăng số lượng và quy mô các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề là các yếu tố tạo thị mang tính tiên quyết cho quá trình phát triển
đô thị hóa trong thời kỳ CNH – HĐH Mặt khác, hệ thống đô thị khi được hình thành
và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật; cơ sở hạ tầng phát triển lại trở thành nơi hấp dẫn các hoạt động sản xuất công nghiệp Hai quá trình này đan xen, dựa vào nhau và có mối quan hệ hữu cơ khắng khít
Đô thị hóa ngày nay là tất yếu và mang tính toàn cầu
Cùng với sự phát triển kinh tế hàng hóa là sự xuất hiện các trung tâm giao lưu hàng hóa Đô thị hóa hình thành từ quá trình này, đó là quá trình tất yếu của sự phát triển Đô thị hóa không chỉ diễn ra trong một vùng, một quốc gia mà đang trở thành một nhu cầu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới
1.1.2.3 Các giai đoạn đô thị hóa
Có nhiều căn cứ khác nhau để phân kỳ đô thị hóa như dựa theo các mốc thay đổi chính trị trong lịch sử, theo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hay dựa vào quá trình chuyển dịch nhân khẩu và di cư nông thôn – thành thị…
Sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, đưa nền kinh tế thế giới trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau Những tiến bộ về kinh tế đó là nền tảng, là nhân tố quan trọng, tạo đà cho sự phát triển của quá trình đô thị hóa Theo đó, quá trình đô thị hóa được phân chia thành 3 thời kì:
Đô thị hóa tiền công nghiệp (trước thế kỉ XVIII)
Trong thời kì này tương ứng với sự bùng nổ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần I hay cách mạng thủ công nghiệp Khi đó, các đô thị phân tán, quy mô nhỏ, hòa đồng với nông thôn, cấu trúc đơn giản Tính chất đô thị chủ yếu là hành chính, thương
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Tốc đô đô thị hóa chậm, tỉ lệ đô thị hóa thấp
Đô thị hóa công nghiệp (đến nửa thế kỉ XX)
Đô thị hóa trong thời kì này gắn với sự phát triển của cách mạng công nghiệp Tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh, lao động chuyển dịch nhanh từ sản xuất nông nghiệp sang công nghiệp Quá trình đô thị hóa diễn ra chủ yếu theo bề rộng, với
Trang 24các dấu hiệu về sự tăng trưởng dân số, số lượng các thành phố, sự mở rộng các đô thị chiếm ưu thế; hình thành những chùm đô thị, chuỗi đô thị, siêu đô thị Tỉ lệ đô thị hóa đạt từ 20% đến 60%
Đô thị hóa hậu công nghiệp (từ nửa sau thế kỉ XX đến nay)
Trong thời kì này, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều sâu do sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cùng với việc thế giới bước dần sang nền văn minh hậu công nghiệp Đô thị hóa gắn liền với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực và hoạt động sản xuất của xã hội Đô thị hóa diễn ra theo hướng ngược lại với hai giai đoạn trước là phi tập trung hóa, không gian đô thị dàn trải, ranh giới truyền thống của các đô thị bị phá vỡ, vị thế trung tâm đô thị mờ nhạt, nhường chỗ cho các đô thị vệ tinh Lao động ở khu vực III chiếm tỉ lệ lớn nhất và tăng nhanh Đô thị hóa đạt đến trình độ cao, tỉ lệ đô thị hóa đạt đến trên 60%, khi vượt qua 70% thì có xu hướng giảm và ổn định Đô thị hóa lúc này chủ yếu phát triển về chất Lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao, tổ chức đời sống xã hội hợp lý, các cá nhân được phát triển toàn diện trong một môi trường năng động thực sự…
Như vậy, có một sự tương thích giữa 3 cuộc cách mạng kỹ thuật và 3 nền văn minh với 3 giai đoạn của cách mạng đô thị Những bước ngoặt đánh dấu sự phát triển vượt bậc của lực lượng sản xuất cũng là bước ngoặt đối với cách mạng đô thị thế giới Trên phương diện tiếp cận nhân khẩu học, đô thị hóa gắn liền với sự di cư từ nông thôn ra đô thị và sự chuyển dịch nhân khẩu Chuyển dịch nhân khẩu là sự phát triển gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động Đây là một biểu hiện bản chất và dễ nhận thấy của quá trình đô thị hóa Nếu dựa vào dấu hiệu này, quá trình đô thị hóa được chia thành 3 giai đoạn:
Trang 25sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhân khẩu trong nông nghiệp giảm, công nghiệp và dịch vụ tăng lên
Giai đoạn 3
Đây là giai đoạn đô thị hóa chín muồi, chuyển sang giai đoạn xã hội đô thị Dòng di cư nông thôn – đô thị ít hoặc đảo chiều Tỉ lệ dân thành thị đạt trên 80% Đô thị hóa cực đại và chủ yếu phát triển theo chiều sâu
Các chu kì phát triển thành phố trong các giai đoạn đô thị hóa như trên không hoàn toàn diễn ra đồng thời ở tất cả các quốc gia trên thế giới trong cùng một thời điểm
1.1.3 Những biểu hiện cơ bản của ĐTH
1.1.3.1 Tỉ lệ dân số thành thị cao và tăng nhanh
Dân cư thế giới ngày càng tập trung đông vào các đô thị làm cho dân số đô thị tăng cao và nhanh Các nước kinh tế phát triển cao thường có tỉ lệ dân số đô thị cao (mức độ đô thị hóa cao) như : Australia 91%; Anh 90%, Nhật Bản 79%, Hoa Kỳ: 79%, ….ngược lại các nước đang phát triển thường có tỉ lệ dân thành thị thấp, tốc độ tăng tỉ lệ đô thị ở nhiều nước đang phát triển biểu hiện mờ nhạt do dân số tăng tự nhiên rất cao ví dụ như : Ấn Độ giai đoạn 1951-1971 tỉ lệ dân số tăng từ 17,3% lên 19,9%, nhưng dân số tăng nhanh từ 62 lên 109 triệu người Ở Việt Nam tỉ lệ dân thành thị không tăng trong suốt 20 năm (1976: 20,6% đến năm 1995: 20,2%) đến năm 2012 tỉ
lệ dân thành thị là 31,9%; Một số nước đang phát triển khác: Trung Quốc 50%; Sudan
45%; Thái Lan 36%; Lào 26%; Campuchia 21% ) Các nước công nghiệp mới (NICS): Singapore đạt 100%; Đài Loan 80%; Hàn Quốc 82%, Brasil 81%, Achentina 89%
Trang 26Bảng 1.2 Dân số và tỉ lệ dân số đô thị thế giới và các vùng của Việt Nam
năm 2012
(triệu người) Tỉ lệ dân số đô thị (%)
Thế giới 7050 53% Việt Nam 88,8 31,9
Đồng bằng sông Hồng 20,2 31,4
Trung Du Miền Núi Phía Bắc 11,4 17,0
Bắc trung bộ và Duyên Hải
Nam Trung Bộ
19,2 26,0
Tây Nguyên 5,4 28,5
Đông Nam Bộ 15,2 60,5 Đồng bằng sông Cửu Long 17,4 24,3
(Nguồn: Tổng cục thống kê )
1.1.3.2 Dân cư tập trung vào các thành phố lớn và cực lớn
Đô thị thế giới ngày càng tăng nhanh về số lượng và quy mô dân số đô thị, điều
đáng chú ý là trong thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI sự gia tăng nhanh chóng số lượng các
đô thị lớn và cực lớn Năm 1900 toàn thế giới chỉ có 13 đô thị có số dân hơn 1 triệu
dân, đến năm 1995 đã có 330 đô thị có qui mô dân số trên 1 triệu dân Cuối thể kỷ XX,
số đô thị trên 1 triệu dân đã tăng lên 400 đô thị Vào năm 2007, số lượng đô thị có qui
mô dân số trên một triệu dân trở lên có tới 476 đô thị Đầu thế kỷ XX, không có thành
phố nào trên thế giới có dân số là 10 triệu dân Đến cuối thế kỷ XX, có khoảng 20
thành phố có qui mô dân số là 10 triệu dân, đầu thế kỷ XXI có 25 thành phố trên 10
triệu dân trong đó có 19 đô thị thuộc các nước đang phát triển Sự gia tăng dân số đô
thị tại các thành phố lớn và cực lớn là đặc điểm nổi bật của quá trình đô thị hóa hiện
nay
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc , từ năm 1920 đến 1960 theo quy mô dân số
đô thị gia tăng: đô thị trên 2,5 triệu dân tăng 5 lần, đô thị từ 1 triệu đến 2,5 triệu dân
tăng 3 lần, đô thị 100 ngàn dân đến 500 ngàn dân tăng 2,9 lần các đô thị có số dân
từ 5 triệu trở lên cũng tăng nhanh , năm 1980 có 20 đô thị; năm 2010 là 39 đô thị
Trang 27(trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) Đô thị khổng lồ (siêu đô thị) 10 triệu dân trở lên cũng tăng nhanh; năm 2012 thế giới có 13 đô thị trên 10 triệu dân
Bảng 1.3 Dân số của một số thành phố lớn trên thế giới năm 2012
Thành phố Số dân (triệu người)
Thượng Hải (Trung Quốc) 17,84 Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) 13,48 Mumbai (Ấn Độ) 12,48 Moskva (Nga) 11,62
Sao Paulo (Brazil) 11,34 Quảng Châu (Trung Quốc) 11,07 Seoul (Hàn Quốc) 10,58 Jakarta (Indonesia) 8,59
Luân Đôn (Anh) 8,17 Thành phố Hố Chia Minh (Việt Nam) 7,66
(Nguồn: UN, 2012)
1.1.3.3 Lãnh thổ đô thị mở rộng
Quá trình đô thị hóa ngày càng phát triển Các đô thị chiếm một diện tích không nhỏ của Trái Đất Diện tích các đô thị hiện nay chiếm khoảng 3 triệu km2 (hơn 2% diện tích các lục địa và 13% diện tích đất có giá trị sử dụng cao – đất canh tác nông nghiệp) Hiện nay, đô thị ngày càng phát triển các tuyến đường giao thông, các khu công nghiệp, khu dân cư, khu thương mại, khu giải trí nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao của người dân Nhu cầu mở rộng diện tích đất ở, đất khu công nghiệp, đất công trình công cộng tăng cao Do đó, diện tích đất đô thị không ngừng mở rộng Đô thị phát triển phình to ra ngoài ranh giới hiện có để đáp ứng sự gia tăng dân số và sản xuất của đô thị
Thực tế, khi các đô thị phát triển, khả năng thu hút các điểm dân cư nông nghiệp
và các đô thị nhỏ xung quanh càng cao Tập hợp các vùng ảnh hưởng này làm cho đô thị có vùng ngoại ô ngày càng lớn hơn Quá trình mở rộng lãnh thổ đô thị cũng chính
là quá trình chuyển đất nông nghiệp thành đất đô thị (có khi là sự lấn chiếm đất nông nghiệp để xây dựng đô thị, các cơ sở công nghiệp dân dụng…) Hiện nay, nhu cầu sử
Trang 28dụng đất của dân cư thành thị những năm gần đây đã tăng lên hơn hai lần so với đầu thế kỷ XX Đó là do nhu cầu về diện tích nhà ở, cây xanh, công viên, câu lạc bộ…ngày càng phát triển khi chất lượng cuộc sống của người dân đô thị tăng lên Như vậy, chỉ tiêu sử dụng đất và gia tăng diện tích đất đô thị chỉ là chỉ tiêu gián tiếp, biểu hiện nét đặc trưng của quá trình đô thị hóa Theo dự đoán, diện tích đất đô thị sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong khoảng 150 năm tới Tất nhiên, sự lấn chiếm đất đai mới của các đô thị cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực: giảm diện tích gieo trồng, làm suy thoái môi trường…
1.1.3.4 Phổ biến lối sống đô thị vào nông thôn
Lối sống bao gồm những điều kiện và hình thức hoạt động sống của con người, đặc trưng của xã hội, giai cấp, tầng lớp nhất định Đô thị hóa là quá trình có sự chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống đô thị Lối sống đô thị là lối sống hợp cư, dễ biến động và ít có sự liên kết về huyết thống, tập quán, truyền thống
Người dân đô thị hiểu và có ý thức tôn trọng những chuẩn mực mang tính pháp lí cao Đô thị hóa không chỉ gắn với sự phát triển công nghiệp mà còn gắn với sự phát triển các ngành dịch vụ khác như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, tài chính – ngân hàng, khoa học giáo dục… Nhờ quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, những khu vực ven đô dễ dàng tiếp cận các nhóm ngành dịch vụ Từ đó, lối sống của người dân
có sự thay đổi và chất lượng cuộc sống người dân được nâng cao
Quá trình đô thị hóa cũng có ảnh hưởng đến nông thôn ở những góc độ khác nhau: Về sản xuất, nông thôn gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính Nhờ áp dụng máy móc, khoa học kĩ thuật và các dịch vụ do đô thị cung cấp, các vùng nông thôn có sự thay đổi cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế: lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp giảm, lao động trong các ngành phi nông nghiệp tăng nhanh chóng Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế rất rõ rệt theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân ở vùng nông thôn
Như vậy, đô thị hóa là quá trình tiến bộ của xã hội loài người, là xu hướng tất yếu của lịch sử Quá trình đô thị hóa thường song hành với quá trình công nghiệp hóa
Trang 29Đô thị hóa có qui mô rộng khắp trên phạm vi toàn cầu, tuy nhiên có sự khác biệt về mức độ đô thị hóa giữa các nước, các khu vực trên thế giới
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá đô thị hóa
1.1.4.1 Quy mô dân số đô thị
Quy mô dân số đô thị là dân số sống trong khu vực nội thành phố, thị xã, thị trấn Thông qua quy mô dân số đô thị, ta sẽ đánh giá được về mức đô thị hóa, sự phát triển của đô thị đó
Tỉ lệ đô thị hóa phản ánh trình độ công nghiệp trình độ phát triển KT – XH nói chung Muốn nâng cao tỉ lệ đô thị hóa cần tăng năng suất lao động trong nông nghiệp
và phát triển mạnh công nghiệp, xây dựng các ngành dịch vụ
1.1.4.4 Gia tăng dân số đô thị
Là lượng tăng thêm của dân số đô thị theo thời gian Dân số đô thị gia tăng dựa trên 3 nguồn là gia tăng tự nhiên của dân số đô thị; di cư từ nông thôn vào thành thị và gia tăng do điều chỉnh ranh giới đô thị Dựa vào sự gia tăng dân số đô thị có thể đưa ra
dự báo dân số đô thị trong tương lai
1.1.4.5 Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, bưu điện, thương nghiệp, cung ứng vật tư, dịch vụ công cộng, du lịch khoa học, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, y tế, bảo hiểm, thể thao, tài chính, tín dụng, ngân hàng, quản lí nhà nước và lao động khác không thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp (lao động làm muối, đánh bắt cá được tính là lao động phi nông nghiệp)
Trang 301.1.4.6 Cơ sở hạ tầng đô thị
Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ
sở hạ tầng đô thị được đánh giá là đồng bộ khi tất cả các loại công trình cơ sở hạ tầng
xã hội và hạ tầng đô thị đều được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt tiêu chuẩn tối thiểu từ 70% trở lên so với mức quy định của các Quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị.Cơ sở hạ tầng đô thị được đánh giá là hoàn chỉnh khi tất cả các công trình
cơ sở hạ tầng xã hội và kĩ thuật đô thị được xây dựng, nhưng mỗi loại phải đạt được tiêu chuẩn tối thiểu từ 90% trở lên so với mức quy định của Quy chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới đô thị hóa
1.1.5.1 Vị trí địa lí
Có ảnh hưởng sâu đậm tới sự tổ chức lãnh thổ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là
sự tổ chức các đô thị trung tâm, hạt nhân phát triển của vùng và các mối liên hệ kinh tế nội vùng, các mối liên hệ kinh tế quốc tế Từ đó, ảnh hưởng tới tính chất của đô thị, đến lịch sử hình thành và phát triển đô thị Phần lớn các đô thị lớn, nhỏ hiện nay trên thế giới đều nằm ở những nơi có vị trí địa lí thuận lợi, ở giao điểm của các đường giao thông quan trọng, ở dọc lưu vực sông, ở trung tâm các vùng châu thổ đất đai màu mỡ hoặc ở những vị trí cần thiết bố trí phòng chống quân xâm lăng
1.1.5.2 Các nhân tố KT – XH
Lịch sử phát triển và việc điều chỉnh ranh giới hành chính
Hình thành các đơn vị hành chính mới trong đô thị có ảnh hưởng lớn tới quá trình đô thị hóa Mỗi giai đoạn phát triển đô thị đều để lại những dấu ấn quan trọng lên kiến trúc và lối sống đô thị Việc phân chia địa giới hành chính có ảnh hưởng tới quy
mô diện tích đô thị, kéo theo đó là việc thực hiện những mục tiêu phát triển KT – XH của vùng phù hợp với chiến lược đô thị hóa nói chung
Đặc điểm dân cư và nguồn lao động
Đây là yếu tố rất quan trọng tác động đến sự hình thành và phát triển của mỗi
đô thị Số lượng và mật độ dân cư là một trong những tiêu chí đánh giá đầu tiên khi xác định mức độ đô thị hóa của đô thị Các quá trinh sinh, tử và quá trình chuyển cư là các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và tốc độ gia tăng dân số đô thị
Trang 31Các đô thị lớn thường là nơi tập trung số lượng lớn lao động thuộc đủ các ngành, nghề khác nhau, trong đó tỉ lệ lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật chiếm tỉ lệ cao so với các đô thị vệ tinh Nguồn lao động này có ảnh hưởng lớn tới cơ cấu kinh tế các đô thị, qua đó phản ánh chức năng kinh tế của nhiều đô thị Ngoài ra, các đô thị còn tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các luồng di dân và lao động từ các khu vực xung quanh Lượng dân cư và lao động bổ sung có xu hướng ngày càng rộng cùng với sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của các đô thị
Trình độ phát triển kinh tế
Đây là điều kiện của đô thị hóa Trình độ phát triển kinh tế của một nước thể hiện trên nhiều phương diện như quy mô, tốc độ tăng trưởng như GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển của các thành phần kinh tế, trình độ hoàn thiện của kết cấu hạ tầng… Đô thị hóa là kết quả tất yếu của sự phát triển kinh tế, cho nên nền kinh
tế phát triển với trình độ cao thì tốc độ đô thị hóa càng nhanh và tăng trưởng đô thị liên quan chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế Không có phát triển kinh tế, giao lưu trao đổi hàng hóa thì cũng không có sự hình thành các đô thị, trong đó phát triển công nghiệp
và dịch vụ là yếu tố có tính quyết định của quá trình đô thị hóa Do đó, quá trình đô thị hóa thường gắn liền và đi đôi với quá trình công nghiệp hóa và dịch vụ
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ
Đây là giai đoạn đang diễn ra mạnh mẽ trong thế kỉ này chính là động lực làm cho đô thị hóa phát triển sang một trang mới Sự bùng nổ và phát triển của các cuộc cánh mạng công nghiệp, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi mạnh mẽ nhiều mặt của quá trình đô thị hóa như về quy mô đô thị, cơ cấu quy hoạch, kiến trúc đô thị, mối quan hệ, liên kết giữa các đô thị…
Điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
Đây là những điều kiện có tác động trực tiếp tới tất cả các hoạt động và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành đô thị, thúc đẩy đô thị hóa phát triển Giao thông vận tải và thông tin liên lạc có ảnh hưởng lớn tới quy mô và cường độ các luồng hàng hóa, dịch vụ ra – vào mỗi đô thị, giúp các đô thị nối liền với nhau, dễ dàng gắn kết, lan tỏa và chi phối nhau trên toàn mạng lưới đô thị của cả nước hay cả vùng Điều kiện này là cơ sở để tạo nên môi trường cảnh quan hiện đại, văn minh của mỗi đô thị
Trang 32 Đường lối và hệ thống chính sách phát triển KT –XH
Đây là cơ sở pháp lý cho nội dung phát triển đô thị hóa và chính nó cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đô thị hóa Những chính sách đổi mới của Nhà nước, xu thế thay đổi của môi trường chính trị xã hội ảnh hưởng quan trọng tới hệ sinh thái và cấu trúc
đô thị, đến định hướng quá trịnh đô thị hóa Chiến lược đô thị hóa là một bộ phận cấu thành quan trọng không thể tách rời với chiến lược KT – XH Hệ thống chính sách quản lí phát triển đô thị, chính sách sử dụng đất đai, chính sách phát triển kinh tế đô thị, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng… có ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của quá trình đô thị hóa
Quy hoạch và quản lí đô thị
Giúp cho đô thị phát triển một cách bền vững Đô thị là một cơ thể sống, đô thị luôn vận động và phát triển, sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được theo quy luật khách quan của nó Dưới góc độ địa lí, mỗi đô thị là một không gian địa lí hoàn chỉnh cách cấp cao hơn
Bối cảnh khu vực và quốc tế
Đây là yếu tố thúc đẩy quá trình đô thị hóa Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế phổ biến, không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế mà trên mọi lĩnh vực
Đô thị hóa cũng được toàn cầu hóa, nghĩa là các hình thái kiến trúc, kinh nghiệm và phương pháp quản lí đô thị hiện đại, liên doanh trong xây dựng đô thị… đang diễn ra phổ biến ở nhiều quốc gia Đặc biệt, các nước đang phát triển, những nước đang trong quá trình đô thị hóa sẽ rút ra được nhiều bài học từ các nước phát triển nhằm định hướng và thực hiện đô thị hóa, giải quyết hiệu quả việc cải tạo và xây dựng đô thị trong điều kiện thực tế của quốc gia mình
1.1.5.3 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Nhóm các nhân tố tự nhiên có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển các đô thị, trong đó nổi bật là các nhân tố địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn, khoáng sản
Địa chất, địa hình
Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc xác định vị trí, đặt nền móng cho các công trình đô thị Địa hình có thể mang lại những điều kiện thuận lợi, hoặc gây ra những khó khăn đối với việc xây dựng hình thái đô thị và việc tổ chức đất đai xây
Trang 33dựng đô thị, nghệ thuật bố trí không gian kiến trúc và các hoạt động kinh tế, đời sống của nhân dân trong đô thị Địa hình còn là yếu tố tác động đáng kể tới sức lan tỏa ảnh hưởng của các đô thị
Quy mô diện tích đất đai
Đây là nhân tố ảnh hưởng đến quy mô lớn nhỏ của đô thị, khả năng mở rộng hay hạn chế của các đô thị Trình độ sử dụng hợp lí đất đô thị có tác động trực tiếp đến hiệu quả phát triển kinh tế đô thị
và nhu cầu sinh hoạt của người dân
Tài nguyên khoáng sản
Đây là đối tượng sản xuất trực tiếp của công nghiệp khai thác và là nguồn nguyên liệu không thể thiếu của nhiều ngành công nghiệp khác Chính vì thế, những nơi có nguồn khoáng sản phong phú sẽ tạo điều kiện để phát triển công nghiệp, cùng với đó là các hoạt động dịch vụ đi kèm Việc phát triển công nghiệp, dịch vụ chính là
cơ sở để các đô thị hình thành và phát triển Do đó, có thể coi những vùng công nghiệp gắn với khoáng sản (thường là công nghiệp nặng) cũng là những khu vực có mạng lưới
Trang 34công nghiệp hóa vẫn đang được tiến hành với những khoảng thời gian và mức độ khác nhau Vì vậy, cách hiểu về công nghiệp hóa cũng còn có sự khác nhau
Theo Ladriere: “công nghiệp hóa là một quá trình mà xã hội chuyển từ kiểu kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp năng suất thấp và tăng trưởng chậm sang một kiểu kinh tế và cơ bản dựa trên nền công nghiệp với năng suất và tăng trưởng nhanh”
Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII đã xác định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT – XH từ sử dụng lao động thủ công là chính sang
sử dụng một cách phổ biến lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Như vậy, công nghiệp hóa là một quá trình biến đổi về chất của nền kinh tế, chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp với cơ cấu kinh tế lạc hậu, dựa trên lao động thủ công, năng suất thấp sang nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế hiện đại dựa trên lao động sử dụng bằng máy móc, tạo ra năng suất lao động cao
1.2.2 Mối quan hệ giữa công nghiệp hóa và đô thị hóa
1.2.2.1 Tác động của công nghiệp hóa tới đô thị hóa
Quá trình hình thành các đô thị hiện nay được hình thành đều gắn liền với sự phát triển của các ngành công nghiệp Sự phát triển công nghiệp là cơ sở quan trọng nhất để hình thành và phát triển đô thị Tác động của công nghiệp hóa tới đô thị hóa có những đặc điểm sau:
- Công nghiệp hóa là hạt nhân cơ bản, là động lực làm tăng quá trình tập trung hóa dân cư cùng các hoạt động KT – XH khác
- Công nghiệp hóa là cơ sở để hoàn thiện cơ cấu các ngành kinh tế đô thị, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị
- Quá trình công nghiệp hóa còn tác động tới việc hình thành chức năng và sức hút đô thị
- Công nghiệp hóa tạo ra nhiều chuyển biến trong cơ cấu lãnh thổ đô thị Sự chuyển biến này bắt nguồn từ sự thay đổi trong cơ cấu lãnh thổ kinh tế đô thị Điều
Trang 35này thể hiện rõ nét qua các vấn đề về cơ sở hạ tầng đô thị, cơ sở vật chất kỹ thuật, vấn
đề nhà ở, phát triển không gian đô thị…
- Khi đô thị không bắt nguồn từ công nghiệp hóa, sẽ tạo ra nhiều thách thức trong việc phát triển KT – XH, cũng như phát triển đô thị
1.2.2.2 Tác động của đô thị hóa tới quá trình công nghiệp hóa
Đô thị hóa là biểu hiện tổng hợp các yếu tố của sự phát triển với nhận thức cao của con người ĐTH có khả năng tạo ra sự thay đổi sâu sắc về mọi mặt như quy mô dân số, cơ cấu lao động, cấu trúc hình thái quần cư, phân bố dân cư, cấu trúc không gian môi trường đô thị ĐTH càng được đẩy mạnh sẽ có tác dụng thúc đẩy CNH càng nhanh Vì thế, ĐTH sẽ có những đặc điểm sau:
- Đô thị hóa với việc tập trung dân cư sinh sống với mật độ cao là điều kiện cần
để tập trung sản xuất công nghiệp
- ĐTH cũng làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất
- ĐTH có khả năng thúc đẩy và mở rộng thị trường, tạo điều kiện quay vốn nhanh cho sản xuất công nghiệp nói riêng và các ngành sản xuất khác nói chung
- ĐTH với sự tập trung và đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ tác động tới chất lượng công nghiệp hóa
- Sự gia tăng dân số và sự phổ biến rộng rãi lối sống thành thị trong dân cư của quá trình ĐTH, sẽ làm thay đổi đáng kể bộ mặt của các đô thị
- Khi ĐTH phát triển nhanh hơn công nghiệp hóa mà không phù hợp với công nghiệp hóa sẽ dẫn tới tình trạng ĐTH quá tải
1.3 Tác động của quá trình ĐTH đến KT – XH và môi trường
1.3.1 Tác động tích cực
ĐTH thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế đô thị hóa gắn liền với sự phát triển khoa học kĩ thuật, tập trung lao động, đặc biệt lao động có chất lượng cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư phát triển hoàn chỉnh Những yếu tố này giúp cho chi phí vận tải, chi phí sản xuất giảm đáng kể Từ
đó, hiệu quả kinh tế tăng, giúp tăng trưởng kinh tế nhanh chóng Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, năng suất lao động trong các ngành kinh tế tại các vùng đô thị tăng
Trang 36lên nhanh chóng, tạo ra khối lượng vật chất ngày càng lớn với giá trị ngày càng cao, giúp tăng nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Ngược lại, sự tập trung các cơ sở sản xuất thuc đẩy sự đầu tư đồng bộ vào cơ sở hạ tầng và thúc đẩy ĐTH
1.3.2 Tác động tiêu cực
Bên cạnh những tác động tích cực mà ĐTH đem lại thì quá trình này cũng đem lại những tác động tiêu cực như làm cho sản xuất nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển lên thành phố Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo và các vấn đề tệ nạn xã hội
1.4 Cơ sở thực tiễn
1.4.1 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam
Từ sau Đại hội Đảng VI (1986), công cuộc đổi mới bắt đầu đã thực sự tác động mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa, chấm dứt một cách hữu hiệu một giai đoạn mà ở đó vai trò của các đô thị đã bị lãng quên Có thể khái quát đô thị hóa ở nước ta hiện nay
2012, tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam mới đạt 31,9%, Trung Quốc là 50%, Indonesia là 48%
Tốc độ tăng dân số đô thị ở nước ta khá chậm chạp do nhiều nguyên nhân Nước ta có dân số đông, sống tập trung ở khu vực nông thôn tham gia sản xuất nông nghiệp là chính, tỉ lệ gia tăng dân số nông thôn lại cao Ở khu vực thành thị, công nghiệp được tập trung phát triển, nhưng chưa tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với các luồng
Trang 37dân cư, cũng như chưa tạo ra được lực đẩy phát triển kinh tế cho các vùng ngoại thành, nông thôn, nên tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm
Trong những năm gần đây, tốc độ tăng dân số thành thị của nước ta có sự chuyển biến tích cực hơn Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm
2009, trong thời kì 1999 – 2009, dân số thành thị nước ta tăng khá nhanh với tỉ lệ tăng bình quân là 3,4%/năm, trong khi con số này ở khu vực nông thôn là 0,4%/năm
Bảng 1.4 Tỉ lệ đô thị hóa của Việt Nam giai đoạn 1931 – 2012 (đơn vị: %)
Năm Tỉ lệ đô thị hóa Năm Tỉ lệ độ thị hóa
(Nguồn: Tổng hợp số liệu chuyên đề Tổng cục thống kê)
Nếu như giai đoạn 1982 – 1996, tỉ lệ đô thị hóa chỉ tăng lên 1,8% thì sang giai đoạn 2002 – 2010 tỉ lệ này đã tăng tới 6,8% Dự báo tới năm 2015, dân số thành thị nước ta sẽ đạt 35 triệu, năm 2020 tăng lên 44 triệu người, chiếm 43% dân số cả nước
và năm 2025 số dân thành thị đạt 52 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa sẽ đạt 50%
Nước ta đang bước vào thời kì đô thị hóa tăng tốc Đây là kết quả của cơ chế
mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Hệ thống đô thị tiếp nhận nhiều dự án đầu tư nước ngoài và sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp, khu chế xuất Cũng theo báo cáo của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (2006), các thành phố lớn nhỏ ở Việt Nam hiện chiếm 70% tổng sản lượng kinh tế, đầu tư nước ngoài tập trung vào hầu hết các đô thị, các thành phố lớn Những yếu tố mới thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh
tế và mức thu nhập bình quân khiến tốc độ đô thị hóa gia tăng theo
- Số lượng các đô thị tăng lên nhanh chóng
Trang 38Với sự phát triển nhanh của quá trình đô thị hóa trong những năm gần đây, số lượng các đô thị, các thành phố ở nước ta đã tăng lên nhanh chóng, nhất là hệ thống các thị trấn, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Tuy nhiên, phần lớn đều chưa đạt các tiêu chí về xếp loại đô thị như về quy mô đô thị, KT – XH, cơ cấu kinh tế, hệ thống cơ
sở hạ tầng kỹ thuật…
Năm 1986, cả nước có 480 đô thị Đến nay, theo báo cáo của Cục Phát triển đô thị (BXD), tính đến ngày 31/12/2013, cả nước có 770 đô thị Trong đó, có Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh là hai đô thị đặc biệt; 15 đô thị loại I; 16 đô thị loại II; 45 đô thị loại III; 66 đô thị loại IV; 626 đô thị loại V Cả nước có 5 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội , TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ Trong hội thảo về phát triển đô thị bền vững gần đây, lãnh đạo BXD cho biết bình quân mỗi tháng cả nước mọc lên một đô thị
- Quá trình đô thị hóa giữa nông thôn và thành thị mang tính chất xen cài, hòa trộn với nhau ở mọi phương diện
Quá trình đô thị hóa gắn với công cuộc đổi mới phát triển đất nước, đẩy mạnh CNH – HĐH, nông nghiệp, nông thôn Do đó, xét ở nhiều khía cạnh như không gian
đô thị, cơ sở hạ tầng, lối sống hay các mối quan hệ KT – XH… thì quá trình đô thị hóa
ở thành thị và đô thị hóa ở nông thôn nước ta không có nhiều khác biệt Tác phong và lối sống nông nghiệp còn phổ biến trong các khu dân cư đô thị, nhất là ở các đô thị vừa
và nhỏ Thành phần dân cư nông thôn, nông nghiệp và các làng nghề cổ truyền vẫn xuất hiện và tồn tại giữa lòng các đô thị lớn Tỉ trọng dân số nông thôn trong các đô thị còn lớn
- Đô thị hóa không đồng đều giữa các vùng trong cả nước
Tỉ lệ đô thị hóa của nước ta là 31,9%, nhưng phân hóa không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Đông Nam Bộ là vùng có tỉ lệ đô thị hóa cao nhất cả nước và vượt
xa so với mức trung bình toàn quốc là 60,5% (năm 2012) Thấp nhất là các vùng Trung du và miền núi Phía Bắc, chỉ chiếm 6,9% dân số thành thị cả nước; Tây Nguyên chiếm gần 5,4% Đây là những vùng còn nhiều khó khăn trong phát triển KT – XH, lại
là địa bàn cư trú chủ yếu của các đồng bào dân tộc ít người
Trang 39Riêng hai đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đã chiếm hơn 30% dân
Tỉ lệ so với dân thành thị cả nước (%)
Toàn quốc 88773 28269 100 TDMN phía Bắc 11401 1948 6,9 Đồng Bằng Sông
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2012)
- Quy mô đô thị nhỏ bé và tính chất không thuần nhất, chưa tương xứng với khả năng phát triển của các vùng lãnh thổ
Quy mô các đô thị ở nước ta chủ yếu thuộc loại vừa và nhỏ Tính đến năm
2013, với 770 đô thị trên phạm vi cả nước, chỉ mới có 2 đô thị đặc biệt (Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh) và 15 đô thị loại I ( Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Vinh…) là những đô thị lớn có quy mô dân số đông Còn lại hầu hết các đô thị xếp vào loại nhỏ, với quy mô dân số nhỏ hơn 200.000 người
Chức năng đô thị nước ta khá đa dạng, bao gồm các đô thị tổng hợp như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh; đô thị công nghiệp như Thái Nguyên, Việt Trì, Biên Hòa, Uông Bí, Thủ Dầu I ; đô thị cảng là Hải Phòng, Đà Nẵng…; đô thị cửa khẩu như Móng Cái, Lào Cai, Lộc Ninh, Hà Tiên…; đô thị nghỉ dưỡng như Nha Trang, Đà Lạt,
Sa Pa…; Hiện nay, mạng lưới các đô thị này được nối liền, thông thương với nhau nhờ
Trang 40vào hệ thống giao thông vận tải và thông tin liên lạc Sự phát triển của mạng lưới các
đô thị chính là động lực thúc đẩy kinh tế chung của toàn vùng như cả nước
- Không gian đô thị ngày càng được mở rộng
Trong những năm gần đây, nhất là từ sau năm 2000, tốc độ ĐTH tăng nhanh, làm cho nhu cầu mở rộng đô thị cũng tăng lên mạnh mẽ Biểu hiện rõ nhất là tốc độ
mở rộng không gian đô thị, nhu cầu sử dụng đất đai đô thị phục vụ cho hoạt động kinh
tế, cư trú, cơ sở hạ tầng đô thị… bùng nổ Năm 2012, Việt Nam có diện tích đất ĐT là khoảng 350.000 ha chiếm 1.1% diện tích tự nhiên cả nước Theo dự báo đến năm 2020 diện tích đất đô thị sẽ tăng lên đạt 460.000 ha và với dân số tương ứng là 46 triệu người chiếm 45% dân số của cả nước Cũng trong dự báo này thì đến năm 2025 diện tích đất đô thị sẽ tăng lên hơn 500.000 ha, dân số đô thị là 52 triệu người, tỉ lệ ĐTH đạt 50%
Việc phát triển ĐT ngoài dự báo đã tác động nhiều đến diện tích đất nông nghiệp Để đạt được quỹ đất đô thị, xu thế chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp vẫn tiếp diễn, đối với các ĐT lớn thì xu thế chuyển đất nông nghiệp ven
Hệ thống ĐT chuỗi gồm chuỗi ĐT nằm ven biển kéo dài từ Móng Cái tới Hà Tiên và chuỗi ĐT nằm dọc theo đường quốc lộ 1A
Hệ thống cấu trúc ĐT theo không gian điểm, gồm các tụ điểm ĐT ở vùng núi phía Bắc, phía Tây và phía Nam
Hiện tại, hệ thống đô thị theo không gian chùm phát triển mạnh hơn cả, sau đó
là hệ thống đô thị chuỗi Hệ thống các đô thị điểm phát triển chậm hơn, chưa khai thác
và phát huy hết tiềm năng nên hiệu quả KT – XH của các đô thị này không cao
- ĐTH nước ta đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững