Thế nhưng, sản lượng NTTS của Cà Mau trong những năm qua còn thấp, lại thường xuyên xảy ra dịch bệnh, thị trường tiêu thụ đặc biệt là thị trường ngoài nước còn nhiều biến động mặc dù họ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng và kết quả trình bày trong luận văn được thu
thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được công bố trong các công trình nào khác
Tác gi ả
Ph ạm Ngọc Hoa
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy TS Trịnh Duy Oánh
đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo và sữa chữa cho tôi ngay từ khi chọn đề tài, viết đề cương đến khi hoàn thành luận văn
Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Phòng Sau Đại học Trường Đại học
Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh cùng với Khoa Địa lí và Thư Viện Trường đã tạo
mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi học tập, trang bị kiến thức và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Kế đến, tôi cũng xin cảm ơn Ủy ban Nhân dân, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê Cà Mau, Chi Cục Nuôi Trồng Thủy Sản của tỉnh Cà Mau… đã nhiệt tình giúp đỡ, cung
cấp các số liệu, tư liệu quý báu, hữu ích cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Lời sau cùng, tôi xin gửi lời tri ân đến gia đình, Ban Giám hiệu cùng với quý
thầy cô trường THPT Trần Văn Thời và các bạn thành viên lớp cao học K25 Họ là
những người đã động viên, ủng hộ, luôn sát cánh bên tôi và tạo động lực cho tôi học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác gi ả
Ph ạm Ngọc Hoa
Trang 5M ỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các hình
Danh mục các bản đồ
M Ở ĐẦU .1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NUÔI TRỒNG TH ỦY SẢN 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Khái niệm, phân loại NTTS 8
1.1.2 Vai trò của nuôi trồng thủy sản 12
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến NTTS 15
1.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.2.1 Tổng quan về tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam 29
1.2.2 Tình hình nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL 32
Chương 2 HIỆN TRẠNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TỈNH CÀ MAU 35
2.1 Tổng quan về tỉnh Cà Mau 35
2.2 Vai trò của ngành NTTS trong nền kinh tế của tỉnh Cà Mau 38
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến NTTS tỉnh Cà Mau 41
2.3.1 Vị trí địa lí 41
2.3.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 42
2.3.3 Kinh tế xã hội 49
2.3.4 Đánh giá chung những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động đến NTTS tỉnh Cà Mau 57
2.4 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau 60
Trang 62.4.1 Diện tích nuôi trồng thủy sản 60
2.4.2 Năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản 67
2.4.3 Chất lượng nuôi trồng thủy sản 75
2.5 Đánh giá chung hiện trạng ngành nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau 87
2.5.1 Những thành tựu đạt được 87
2.5.2 Hạn chế 88
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG TH ỦY SẢN TỈNH CÀ MAU 90
3.1 Định hướng phát triển NTTS tỉnh Cà Mau đến năm 2020 90
3.1.1 Cơ sở đưa ra định hướng 90
3.1.2 Định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau đến năm 2020 95
3.2 Giải pháp phát triển NTTS tỉnh Cà Mau 100
3.2.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 100
3.2.2 Giải pháp về khoa học công nghệ 101
3.2.3 Giải pháp về vốn đầu tư 102
3.2.4 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 104
3.2.5 Giải pháp chế biến, thị trường tiêu thụ và xúc tiến thương mại 105
3.2.6 Giải pháp về sản xuất giống và hậu cần cho dịch vụ nuôi 107
3.2.7 Các giải pháp khác 110
K ẾT LUẬN 111
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 113 DANH M ỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long GTSX : Giá trị sản xuất
NTTS : Nuôi trồng thủy sản QCCT : Quảng canh cải tiến TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TP : Thành phố
TS : Thủy sản UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH M ỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1 Phân bố nguồn nước mặt ở Việt Nam 24
Bảng 1.2 Diện tích NTTS nước ta giai đoạn 2005-2013 30
Bảng 1.3 Diện tích NTTS phân theo vùng của nước ta năm 2005 và 2013 30
Bảng 1.4 Diện tích NTTS phân theo địa phương của vùng ĐBSCL năm 2005 và 2013 33
Bảng 2.1 Số đơn vị hành chính của tỉnh Cà Mau năm 2014 35
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất giống giai đoạn 2009-2014 53
Bảng 2.3 Diện tích NTTS của tỉnh Cà Mau phân theo địa phương giai đoạn 2005-2014 61
Bảng 2.4 Diện tích NTTS của Cà Mau theo loại thủy sản giai đoạn 2005-2014 61
Bảng 2.5 Diện tích NTTS nước mặn, lợ của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005-2014 63
Bảng 2.6 Diện tích NTTS nước mặn, lợ của tỉnh Cà Mau phân theo loại thủy sản giai đoạn 2005-2014 63
Bảng 2.7 Diện tích nuôi tôm mặn, lợ của tỉnh Cà Mau phân theo phương thức giai đoạn 2005-2014 65
Bảng 2.8 Diện tích và sản lượng NTTS của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005-2014 70
Bảng 2.9 Sản lượng NTTS của tỉnh Cà Mau phân theo loại nước nuôi giai đoạn 2005-2014 73
Bảng 2.10 Tôm giống nhập vào tỉnh Cà Mau 77
Bảng 3.1 Dự báo lượng cung TS trên thế giới đến 2020, tầm nhìn 2030 91
Bảng 3.2 Dự báo nhu cầu tiêu thụ TS toàn cầu năm 2020 92
Bảng 3.3 Dự báo cung-cầu TS ở trong nước đến năm 2020 93
Bảng 3.4 Diện tích tôm nuôi phân theo phương thức của Cà Mau năm 2014, quy hoạch đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 97
Trang 9DANH M ỤC CÁC HÌNH
Biểu đồ 1.1 Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản của nước ta giai đoạn
2005-2013 31
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu lao động theo ngành tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005-2014 37
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu GDP phân theo ngành tỉnh Cà Mau qua hai năm 2005
Biểu đồ 2.5 Diện tích nuôi tôm nước mặn, lợ của tỉnh Cà Mau phân theo địa
phương qua hai năm 2005 và 2014 (Đơn vị: ha) 64
Biểu đồ 2.6 Diện tích NTTS nước ngọt của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005- 2014 67
Biểu đồ 2.7 Cơ cấu giá trị sản xuất phân theo ngành nông-lâm-ngư nghiệp và
ngành thủy sản của tỉnh Cà Mau năm 2014 68
Biểu đồ 2.8 Giá trị sản xuất thủy sản phân theo ngành của tỉnh Cà Mau giai
đoạn 2005-2014 69
Biểu đồ 2.9 Tốc độ tăng trưởng của diện tích, năng suất và sản lượng NTTS
của tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005-2014 71
Biểu đồ 2.10 Cơ cấu sản lượng tôm nuôi trong tổng sản lượng NTTS của tỉnh
Cà Mau giai đoạn 2005-2014 72
Biểu đồ 2.11 Sản lượng NTTS tỉnh Cà Mau phân theo loại TS giai đoạn
2005-2014 72
Biểu đồ 2.12 Năng suất NTTS và năng suất tôm nuôi của tỉnh Cà Mau giai
đoạn 2005-2014 73
Biểu đồ 2.13 Sản lượng và năng suất tôm nuôi mặn lợ của tỉnh Cà Mau phân
theo địa phương năm 2014 74
Trang 10DANH M ỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Cà Mau 34
Bản đồ hiện trạng nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau 86
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Cà Mau-vùng đất cuối trời cực Nam Tổ quốc, từ lâu đã được mệnh danh là nơi
“đất nở hoa, rừng biết đi, biển sinh sôi” Với vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã ấy mang đậm chất tự nhiên cùng với con người Cà Mau hiền lành, tốt bụng, thật thà,… Tất cả
và tất cả đã làm nên một hình ảnh “Cà Mau” ấn tượng, hấp dẫn
Mặc dù là một vùng đất trẻ, mới được khai phá khoảng trên 300 năm nhưng với hình ảnh ấy, con người ấy đã làm cho vùng đất Cà Mau luôn khắc sâu vào trong tiềm
thức của mỗi người Cà Mau được nhiều người biết đến với khu Ramsar nổi tiếng, vườn quốc gia U Minh Hạ, khu công nghiệp khí-điện-đạm Cà Mau cung cấp sản phẩm cho cả nước
Nằm ở vị trí trung tâm mối quan hệ với các nước Đông Nam Á, có thể dễ dàng giao lưu và hợp tác với các nước trong khu vực, Cà Mau lại được thiên nhiên ban tặng nhiều điều kiện thuận lợi: khí hậu hài hòa, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt,
hệ thống rừng đước, rừng tràm bạt ngàn xanh thẳm, ba mặt lại giáp biển Hơn thế nữa,
Cà Mau có diện tích lớn thứ 2 trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) (sau
tỉnh Kiên Giang), môi trường nước hài hòa giữa ngọt và mặn Tất cả những điều đó đã
tạo cho Cà Mau có nhiều tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai
Thế nhưng, sản lượng NTTS của Cà Mau trong những năm qua còn thấp, lại thường xuyên xảy ra dịch bệnh, thị trường tiêu thụ đặc biệt là thị trường ngoài nước còn nhiều biến động mặc dù họ rất thích những sản phẩm từ ngành này,… Từ đó cho
thấy tiềm năng NTTS của tỉnh chưa phát huy đúng với khả năng vốn có của nó cũng như chưa tạo được sản phẩm đặc trưng của riêng mình Như vậy, việc hoạch định và tìm ra hướng đi đúng cho ngành NTTS tỉnh Cà Mau giúp cho việc phát huy thế mạnh
của tỉnh một cách toàn diện là rất cần thiết Đồng thời, nhận thức được tầm quan trọng
của NTTS tỉnh, tôi quyết định chọn đề tài “Nuôi tr ồng thủy sản tỉnh Cà Mau: Hiện
tr ạng và định hướng phát triển” nhằm góp phần nhỏ bé của mình cho việc xây dựng
kế hoạch phát triển kinh tế chung của tỉnh
Trang 122 M ục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 M ục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về NTTS, đề tài đi sâu vào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng phát triển NTTS của tỉnh Cà Mau
Từ đó bước đầu đưa ra định hướng và một số giải pháp để giúp cho việc NTTS của
tỉnh Cà Mau có hiệu quả hơn, góp phần khai thác tốt hơn tiềm năng cũng như phát triển kinh tế tỉnh nhà trong thời gian tới
2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên thì luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ quan trọng là:
- Một là, tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về NTTS
- Hai là, phân tích các nhân tố ảnh hưởng NTTS của tỉnh Cà Mau
- Ba là, phân tích hiện trạng NTTS của tỉnh Cà Mau
- Bốn là, căn cứ vào hiện trạng NTTS của Việt Nam, của tỉnh Cà Mau để đưa ra định hướng nhằm phát triển NTTS của tỉnh Cà Mau trong tương lai và đề xuất một số giải pháp thích hợp nhằm phát triển NTTS của tỉnh theo hướng bền vững
3 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động NTTS và các hoạt động liên quan đến ngành NTTS, cụ thể là các đối tượng thủy sản (TS) được nuôi trồng ở tỉnh Cà Mau được chọn làm đối tượng để nghiên cứu Hay nói cách khác nghiên cứu về hiện trạng NTTS trên địa bàn tỉnh Cà Mau và từ đó đưa ra định hướng phát triển ngành NTTS của tỉnh
4 Gi ới hạn của đề tài
4.1 Gi ới hạn về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và hiện trạng NTTS của
tỉnh Cà Mau trong đó đi sâu về diện tích, năng suất, sản lượng, chất lượng, mô hình NTTS có hiệu quả Từ đó đề ra phương hướng và giải pháp khắc phục những mặt hạn
chế, thúc đẩy cho ngành NTTS của tỉnh phát triển hơn trong tương lai
4.2 Gi ới hạn về mặt lãnh thổ
Luận văn chỉ nghiên cứu ngành NTTS trên địa bàn tỉnh Cà Mau và so sánh trong
phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước
Trang 134.3 Gi ới hạn về thời gian
Luận văn nghiên cứu vấn đề từ năm 2005 đến năm 2014, định hướng đến năm
2020 và tầm nhìn năm 2030
5 L ịch sử nghiên cứu
Cùng với sự phát triển của kinh tế hiện đại, ngành NTTS có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế đất nước nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng Nhu cầu đòi hỏi của
những sản phẩm NTTS trong cơ cấu bữa ăn ngày càng cao Đặc biệt, trong những năm
gần đây, những sản phẩm của ngành NTTS vừa đáp ứng nhu cầu trong nước vừa đảm
bảo phục vụ xuất khẩu và trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực Việt Nam nói chung
và các tỉnh ĐBSCL có rất nhiều tiềm năng phát triển ngành NTTS và ngành NTTS đã đóng góp rất lớn trong cơ cấu kinh tế của cả nước, của tỉnh Vì vậy, đã có nhiều sách, nhiều công trình nghiên cứu về NTTS Dưới đây là một số sách, công trình nghiên cứu
đã trở thành tư liệu cho tác giả tham khảo như:
- Nguyễn Minh Tuệ-Lê Thông với “Địa lí Nông-Lâm-Thủy sản Việt Nam” đã đưa ra khái quát chung, thực trạng phát triển và phân bố, định hướng phát triển TS đến năm 2020
- Viện Kinh tế Quy hoạch Thủy Sản với “ Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành TS Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” đã đánh giá hiện trạng phát triển TS giai đoạn 2001-2011, xác định mục tiêu tổng thể, định hướng phát triển,
đề xuất phướng án quy hoạch ngành TS đến năm 2020, tầm nhìn 2030
- Viện Nghiên Cứu nuôi trồng thủy sản với đề tài khoa học “Nghề nuôi trồng
thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long: Hiện trạng và xu hướng phát triển” đã nêu bức tranh tổng quát về nghề NTTS của ĐBSCL và các giải pháp phát triển
- Nguyễn Duy Chinh (2008) với dự án “Tổng quan nguồn lợi Thủy sản, Chiến lược và Chính sách phát triển ngành thủy sản Việt Nam” đã phân tích sự phát triển của ngành NTTS, phân tích vai trò xóa đói giảm nghèo của NTTS
- Phạm Xuân Thủy (2008) với “Quản Trị doanh nghiệp nuôi trồng thủy sản” đã phân tích được vị trí, vai trò của ngành hải sản và kêu gọi đầu tư cơ sở vật chất cho ngành NTTS
Trang 14- Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn với “Từ điển thuật ngữ nuôi trồng thủy
sản của FAO năm 2008” đã giải thích một số thuật ngữ NTTS theo chữ cái của Tiếng Anh
Riêng tỉnh Cà Mau, mặc dù có nhiều lợi thế để phát triển ngành NTTS nhưng chỉ
có một số ít công trình nghiên cứu lĩnh vực này như:
- Nguyễn Văn Bé với công trình “Giải pháp về vốn đầu tư cho phát triển nuôi
trồng thủy sản ở tỉnh Cà Mau” đã nghiên cứu chủ yếu về thực trạng cơ cấu giá trị sản
xuất NTTS, giá trị xuất khẩu, thực trạng về vốn đầu tư cho NTTS và đưa ra một số giải pháp chủ yếu về nguồn vốn
- Nguyễn Việt Thắng với công trình “Nghiên cứu giải pháp phát triển nuôi trồng
thủy sản tại huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau” đã đề cập đến giải pháp giúp phát triển NTTS trên địa bàn của một huyện thuộc tỉnh Cà Mau
- Tỉnh đang thực hiện quy hoạch nuôi trồng thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030…
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về ngành NTTS của Việt Nam nói chung
và của tỉnh Cà Mau nói riêng đã đề cập đến vấn đề về kinh tế TS, thực trạng về giá trị
sản xuất, nguồn vốn đầu tư,… Và cho đến nay, dưới góc độ địa lý, chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về các nhân tố ảnh hưởng đến NTTS tỉnh Cà Mau cũng như hiện trạng và đưa ra những định hướng phát triển ngành NTTS của tỉnh
6 Quan điểm nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
6.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Nghiên cứu một vấn đề phải đặt nó trong mối quan hệ toàn cảnh mới có thể so sánh và đảm bảo tính khách quan Việc nghiên cứu NTTS tỉnh Cà Mau cũng không ngoại lệ, cần phải đặt nó trong phạm vi cả nước và quốc tế để thấy được một bức tranh toàn cảnh
6.1.2 Quan điểm lịch sử-viễn cảnh
Quá trình phát triển của một sự vật, hiện tượng ở hiện tại luôn có mối liên hệ với quá khứ và cả trong tương lai Vì vậy, khi nghiên cứu NTTS cần phải đặt nó trong mối liên hệ quá khứ-hiện tại-tương lai để đảm bảo tính logic, tính khoa học và chính xác
Trang 15trong nghiên cứu Trên cơ sở nhìn nhận quá khứ có thể lý giải cho sự phát triển ở hiện
tại và hoạch định ra kế hoạch cho sự phát triển bền vững trong tương lai
6.1.3 Quan điểm hệ thống
NTTS là một bộ phận nhỏ của ngành nông nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung nên nó có mối quan hệ với các ngành khác và trong nội bộ ngành cũng có sự
gắn bó chặt chẽ với nhau Khi nghiên cứu NTTS cần phải đặt nó trên quan điểm hệ
thống để thấy được sự tác động qua lại với các ngành khác, với toàn bộ nền kinh tế tạo thành hệ thống Vì vậy, phải coi vấn đề phát triển NTTS là một hệ thống nằm trong hệ
thống kinh tế xã hội hoàn chỉnh, luôn luôn vận động và phát triển không ngừng
6.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Sự phát triển kinh tế-xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên môi trường ở
hiện tại và cả trong tương lai Vì vậy, khi nghiên cứu và phát triển NTTS phải đặt trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Phát triển NTTS cần phải đi đôi với việc khai thác hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường nhất là môi trường nước nhằm đảm
bảo sự phát triển về kinh tế, bền vững về môi trường và ổn định về mặt xã hội và đặc
biệt góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp thu thập-xử lý tài liệu
Đây là phương pháp đầu tiên và rất cần thiết trong quá trình nghiên cứu Từ
những nguồn tài liệu thu thập được như sách, các báo cáo khoa học, quy hoạch tổng
thể của ngành, số liệu thống kê,… tác giả đã chọn lọc, so sánh, đối chiếu, xử lý và sắp
xếp những nội dung cần thiết phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ đã đặt ra cho việc nghiên cứu nhằm tạo sự hợp lí, tính khoa học và logic cho nội dung đề tài
6.2.2 Phương pháp thống kê
Phương pháp thống kê là một phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu Trên cơ sở những số liệu đã thu thập được, tác giả so sánh, tính toán và
thống kê các số liệu theo từng thời kì, từng giai đoạn chẳng hạn như diện tích NTTS,
sản lượng, giá trị sản xuất,… để từ đó nhận xét, đánh giá và rút ra kết luận chính xác cho quá trình nghiên cứu
Trang 166.2.3 Phương pháp phân tích-tổng hợp
Sau khi thu thập được những tài liệu, thông tin liên quan, tác giả tiến hành sắp
xếp, đối chiếu để tìm hiểu mức độ chính xác của thông tin Sau đó sẽ phân tích, tổng
hợp những thông tin cần thiết Việc vận dụng phương pháp này giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghiên cứu và rút ra được những nội dung đầy đủ nhất, sâu sắc nhất đáp ứng được yêu cầu cũng như nhiệm vụ đã đặt ra
6.2.4 Phương pháp bản đồ-biểu đồ
Trong quá trình nghiên cứu địa lí địa phương, phương pháp này được sử dụng để
thể hiện sự vật, hiện tượng và mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng một cách trực quan, cụ thể và rõ ràng hơn Điều đó sẽ làm cho quá trình nghiên cứu thêm sinh động
và có sức lôi cuốn hơn Và đây cũng chính là phương pháp đặc trưng của khoa học địa
lí Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, phương pháp bản đồ-biểu đồ ngày càng hoàn thiện và chính xác hơn
6.2.5 Phương pháp khảo sát thực địa
Đây là một phương pháp cần thiết trong nghiên cứu Phương pháp thực địa là phương pháp đi khảo sát thực tế đến những địa điểm cụ thể để có thể quan sát rõ ràng hơn, đồng thời có thể thu thập thêm tài liệu hoặc tự ghi chép, ghi lại hình ảnh cần thiết Phương pháp này giúp tác giả có cái nhìn cụ thể hơn và đánh giá chính xác hơn vấn đề nghiên cứu
6.2.6 Phương pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lí
Đây là một trong những phương pháp khá quan trọng trong quá trình nghiên cứu cũng như giúp cho việc trình bày được xúc tích, cô đọng, rõ ràng và lôi cuốn hơn Tác
giả đã sử dụng phần mềm Mapinfo để thiết kế và xử lý thông tin dưới hình thức các
bản đồ, biểu bảng Có thể coi đây là một công cụ hữu hiệu trong nghiên cứu địa lí kinh tế- xã hội nói chung và NTTS nói riêng
6.2.7 Phương pháp dự báo
Đây là phương pháp dự đoán sự phát triển trong tương lai dựa trên cơ sở của quá
khứ và hiện tại Vận dụng phương pháp này, tác giả sẽ dựa vào tiềm năng cũng như
hiện trạng để dự báo những vấn đề có thể xảy ra trong tương lai và từ đó đưa ra định
Trang 17hướng, giải pháp cho sự phát triển bền vững kinh tế xã hội nói chung và cho NTTS Cà Mau nói riêng
7 B ố cục của đề tài
Bố cục của đề tài bao gồm các nội dung lớn sau đây:
- Mở đầu
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về nuôi trồng thủy sản
- Chương 2 Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau
- Chương 3 Định hướng và giải pháp phát triển nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 18C hương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái ni ệm, phân loại NTTS
1.1.1.1 Khái ni ệm NTTS (aquaculture)
Ngành TS xuất hiện và có quá trình phát triển từ rất lâu đời với điểm xuất phát là đánh bắt và NTTS Thời kỳ đầu, đánh bắt TS là ngành quan trọng và đóng vai trò chủ
yếu trong ngành TS Còn NTTS chưa được chú trọng phát triển bởi vì con người chưa
có ý thức được việc tái tạo nguồn lợi và đảm bảo môi trường cho sự phát triển của các loài TS Những năm gần đây, nguồn lợi TS tự nhiên có nguy cơ sụt giảm và cạn kiệt
do nhiều nguyên nhân khác nhau nên sản lượng đánh bắt TS có xu hướng giảm Vì
vậy, ngành NTTS đã được phát triển và ngày càng trở nên quan trọng
Thuật ngữ NTTS được sử dụng khá rộng rãi để chỉ việc nuôi các động vật thủy sinh (cá-fish, và sinh vật có vỏ-shellfish) và thủy thực vật (rong biển-seaweeds) trong môi trường nước ngọt và lợ Theo tiếng Anh thì aquaculture = aqua (nước) + culture (nuôi) Hay nói cách khác NTTS là hoạt động canh tác ở môi trường nước (farming in water) [28]
Qua nghiên cứu tài liệu có thể đưa ra một số khái niệm cơ bản về NTTS như sau: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: NTTS là một hoạt động sản xuất tạo ra nguyên liệu TS cho quá trình tiêu dùng sản phẩm hoạt động xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Theo quan điểm của các nhà sinh học: NTTS là một hoạt động tạo ra các điều
kiện sinh thái phù hợp với sự trưởng thành và phát triển các loại TS để thúc đẩy chúng phát triển qua các giai đoạn của vòng đời [17]
Theo giáo trình kinh tế TS: NTTS là một bộ phận sản xuất có tính nông nghiệp
nhằm duy trì, bổ sung tái tạo và phát triển nguồn lợi TS, các sản phẩm TS được cung
cấp cho các hoạt động tiêu dùng và chế biến xuất khẩu Hoạt động nuôi trồng diễn ra trên nhiều loại hình mặt nước với nhiều chủng loại khác nhau, bên cạnh đó sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng phục vụ cho hoạt động NTTS [17]
Theo quan điểm của Pillay (1990): NTTS là một khái niệm dùng để chỉ tất cả các hình thức nuôi trồng động thực vật thủy sinh ở các môi trường ngọt, lợ, mặn [31]
Trang 19Theo quan điểm của FAO (2008): NTTS còn được gọi là canh tác dưới nước Nuôi các loài động vật (cá, giáp xác, nhuyễn thể,…) và trồng các loài thực vật (rong
biển,…) trong môi trường nước ngọt, lợ và mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể [18]
Tóm lại, NTTS là hoạt động canh tác dưới nước có môi trường thích hợp cho đối tượng là các động thực vật thủy sinh
+ Nuôi đăng quầng: là hình thức nuôi cá loài TS trong các quầng lưới hay đăng
tre có kích thước rất khau tùy theo loài nuôi Quầng có thể có một mặt giáp với bờ nhưng đáy lồng là nền đáy của sông, bãi triều hay đầm phá
+ Nuôi bãi tri ều: là hình thức nuôi quảng canh sò huyết, vẹm, hầu, điệp, nghêu,
… trên nền bãi triều ven biển Sau một thời gian nuôi thì chúng thường được thu hoạch
bằng phương pháp cào lớp bùn đáy Phương thức nuôi này cũng được dùng trong trồng rong biển
Theo đặc tính môi trường sống thì có thể phân thành TS nước ngọt, TS mặn, lợ
Trang 20+ TS nước ngọt là những loài có hết hay phần lớn đời sống trong môi trường
nước ngọt như cá tra, cá mè vinh, tôm càng xanh,…
+ TS m ặn, lợ là những loài có hoàn toàn chu kỳ sống trong môi trường nước lợ
hoặc mặn như tôm sú, tôm hùm, cá chẽm, cá mú,…
Tuy nhiên có những loài TS sống cả trong môi trường nước ngọt và nước lợ như
cá rô phi, cá nâu,…
Ngoài ra, theo đối tượng nuôi thì có nuôi cá, nuôi sò, nuôi tôm, rong biển,…[28]
Nuôi cá nước ngọt ở các loại hình mặt nước
+ Nuôi cá nước tĩnh: để đạt năng suất cao người ta thường nuôi ghép nhiều loại
có tập tính ăn khác nhau Trong ao nuôi truyền thống nuôi ghép mè, trôi ta, trắm đen, chép Sau này, NTTS phát triển người ta đưa ra một vài công thức nuôi ghép với quy trình kỹ thuật lấy một loài chủ rồi ghép với các loài khác Ví dụ như ao nuôi cá rô phi làm chủ (tính cho 1 ha): rô phi 45%, mè trắng 20%, mè hoa 5%, cá trôi 20%, trắm cỏ 4%, chép 6%
+ Nuôi cá nước chảy: Tận dụng các khe suối, kênh rạch có nước chảy làm ao nuôi hoặc đào ao nuôi rồi dẫn dòng chảy qua đường ống vào ao Cách làm rất đa dạng, sáng tạo, quy mô ao nhỏ bé, nhưng tổng diện tích rất rộng có khi cả xã cũng có ao như Sơn La, Bình Liêu (Quảng Ninh),… do đó có ý nghĩa kinh tế-xã hội to lớn Đối tượng nuôi chủ yếu là cá trắm cỏ, có thể nuôi ghép một ít cá chép, cá rô phi,… Vật liệu làm
lồng đa dạng như tre, luồng, gỗ, sắt, lưới,…
Nuôi cá bè trên sông rất phát triển ở vùng ĐBSCL, đối tượng nuôi chính là cá tra, basa Nhà ở làm ngay trên lồng bè nuôi cá, có bố trí chỗ ăn ở hợp lí và phòng chống ô nhiễm nước vùng nuôi cá
+ Nuôi cá ruộng trũng: Nghề nuôi cá ruộng trũng có lịch sử phát triển lâu đời ở nước ta và các nước Đông Nam Á Hiện nay các loại hình nuôi cá ruộng phổ biến là xen canh và luân canh Thông thường có thể nuôi xen canh lúa-cá, lúa-tôm hoặc nuôi luân canh một vụ lúa, một vụ tôm
Nuôi cá nước lợ và cá biển
Nuôi cá nước lợ và cá biển phát triển rất chậm, mới được tập trung chủ đạo vào
cuối những năm cuối thế kỉ XX Nuôi cá nước lợ có hiệu quả kinh tế khá cao, tỷ suất
Trang 21lợi nhuận đạt 60-90% Hình thức nuôi phổ biến trong đầm, eo, vịnh và lồng bè
Nuôi tôm và các thủy sản khác
Hiện nay ở Việt Nam có một số hình thức nuôi tôm tiêu biểu sau:
+ Nuôi tôm nước ngọt: có tôm càng xanh đã chủ động được giống bằng cách cho
đẻ nhân tạo thành công
+ Nuôi tôm nước lợ: có tôm sú và một số loại khác như tôm rảo, tôm thẻ Kết quả nuôi tôm sú cho kết quả kinh tế cao ở nhiều tỉnh
+ Nuôi tôm nước mặn: chủ yếu là tôm hùm (nuôi lồng dưới) cho lợi nhuận cao Song lại có khó khăn do chưa chủ động được về giống
Nuôi TS khác: cua biển hoặc các loài nhuyễn thể như nghêu, sò,…
Theo phương thức nuôi thì có nuôi quảng canh, nuôi quảng canh cải tiến (QCCT), nuôi bán thâm canh, nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp,…
Nuôi quảng canh (còn gọi là hình thức nuôi truyền thống): là hình thức nuôi
bằng nguồn thức ăn tự nhiên trong các ao, hồ, đầm ở nông thôn và vùng ven biển, mức
độ kiểm soát hệ thống nuôi thấp, mức độ đầu tư ban đầu, kỹ thuật sản xuất và hiệu quả
sản xuất thấp (năng suất < 500kg/ha/năm), phụ thuộc nhiều vào thời tiết, chất lượng nước, nuôi tận dụng mặt nước tự nhiên (ví dụ như đầm, phá, vịnh, eo ngách) và không
chủ động được thức ăn tự nhiên cho cá
Nuôi qu ảng canh cải tiến: là hình thức nuôi có năng suất từ 0,5-5 tấn/ha/năm, có
thể cho ăn bổ sung bằng thức ăn chất lượng thấp, giống được sản xuất từ các trại (giống nhân tạo) hay thu gom ngoài tự nhiên, bón phân vô cơ hay hữu cơ thường xuyên, quan sát một số chất lượng nước đơn giản Nuôi trong ao, lồng đơn giản
Nuôi bán thâm canh: là hình thức nuôi có năng suất từ 2-20 tấn/ha/năm lệ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên nhờ vào bón vôi hay cho ăn bổ sung, giống được sản
xuất từ các trại (hay là giống nhân tạo), bón phân định kỳ, trao đổi nước hay sục khí
định kỳ, cấp nước bằng máy bom hay tự chảy Nuôi trong ao, quầng hay bè đơn giản Nuôi thâm canh: là hình thức nuôi có năng suất dưới 200 tấn/ha/năm, kiểm soát
tốt các điều kiện nuôi, chi phí đầu tư ban đầu, kỹ thuật áp dụng và hiệu quả sản xuất đều cao và có xu hướng tiến tới chủ động kiểm soát tất cả các điều kiện nuôi (khí hậu
và chất lượng nước) và các hệ thống nuôi có tính nhân tạo
Trang 22Nuôi công nghiệp: là hình thức nuôi hoàn toàn bằng con giống và thức ăn nhân
tạo với mật độ rất cao Sử dụng máy móc thiết bị nhằm tạo cho vật nuôi một môi trường sinh thái và các điều kiện tối ưu, sinh trưởng tốt nhất, không phụ thuộc vào thời
tiết và mùa vụ, trong thời gian ngắn nhất đạt các mục tiêu sản xuất và lợi nhuận Một
số nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Đức, Nhật,… có trình độ nuôi TS tương đối cao và phổ biến, mỗi năm đạt tới hàng ngàn tấn sản phẩm
Nuôi TS k ết hợp: là hình thức nuôi TS chia sẻ tài nguyên như nước, thức
ăn,…với các hoạt động khác thường là nông nghiệp, công nghiệp, cơ sở hạ tầng (chất
thải trong sản xuất, trạm thủy điện) Ví dụ như nuôi cá trong hồ chứa nước thủy điện Nuôi kết hợp TS với nông nghiệp: nuôi TS bán thâm canh kết hợp với nông
nghiệp (bao gồm cả chăn nuôi) là hình thức nuôi phối hợp để tận dụng điều kiện của nhau Ví dụ nuôi kết hợp cá với trồng lúa
Nuôi luân canh: là hình thức không nuôi liên tục hai hay nhiều vụ một đối tượng trên cùng một diện tích sản xuất Ví dụ một vụ tôm càng xanh và một vụ trồng lúa trên
ruộng lúa hay nuôi luân phiên một vụ tôm sú và một vụ cá rô phi trong ao tôm
Theo tính chất môi trường nuôi thì có nuôi vùng nước lạnh, vùng nước ấm, nuôi vùng cao, nuôi vùng đồng bằng, nuôi nội địa, nuôi ven biển,…
1.1.2 Vai trò c ủa nuôi trồng thủy sản
1.1.2.1 Cung c ấp thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
NTTS có vai trò quan trọng trên nhiều lĩnh vực Đầu tiên, chúng ta phải kể đến
đó là việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người thông qua việc cung cấp nguồn
thực phẩm giàu đạm, có giá trị dinh dưỡng cao Các chất đạm từ tôm, cua, sò huyết,…
dễ tiêu hóa, không gây béo phì và nhất là cung cấp nguyên tố vi lượng như i-ôt, canxi,
sắt,… rất có lợi cho sức khỏe Đặc biệt, trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại,
chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu sử dụng sản phẩm từ NTTS trong cơ cấu bữa ăn cũng tăng lên Xét ở tầm vĩ mô, ngành NTTS đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm nhất là trong giai đoạn hiện nay nguồn lợi TS
tự nhiên ngày càng cạn kiệt
Trang 231.1.2.2 Cung c ấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến
Ngành NTTS cung cấp một nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế
biến và một số ngành khác Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiếp chế biến
thực phẩm gồm cá, tôm, nhuyễn thể, rong biển (đồ hộp, nước mắm, khô, agar,…) Ngoài ra, NTTS còn cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi Bột cá và các phế
phẩm, phụ phẩm của TS chế biến là nguồn thức ăn giàu đạm cho gia súc, gia cầm
Sản phẩm NTTS cũng là nguyên liệu quý cho ngành công nghiệp dệt (agar giúp định hình sợi vải, giữ màu lâu hơn), làm đồ trang sức (ngọc trai, đồi mồi), dược phẩm (vỏ bào ngư, rong thuốc giun),… từ đó đẩy mạnh phát triển nguồn hàng xuất khẩu
Hiện nay, các nhà máy chế biến TS mọc lên càng nhiều Để đáp ứng nguồn nguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến thì đòi hỏi ngành NTTS cũng ngày càng tăng lên về diện tích và cả sản lượng NTTS được xem là nguồn cung ứng ổn định hơn ngành khai thác TS
1.1.2.3 T ạo nguồn hàng xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước
NTTS không những đáp ứng hàng hóa trong nước mà còn tham gia vào mặt hàng
xuất khẩu Đặc biệt trong những năm gần đây, tôm và cá tra đã trở thành mặt hàng
xuất khẩu chủ lực của đất nước trong nhiều năm Việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm NTTS không những mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn mà còn tạo môi trường thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lí tiên tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm Đồng thời, việc đẩy mạnh xuất khẩu còn góp phần mở rộng quan hệ thương mại với các nước trên thế giới Hàng TS của Việt Nam đã có mặt trên
164 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong tương lai ngành NTTS sẽ còn đóng góp nhiều hơn nữa vào sự phát triển kinh tế của đất nước
1.1.2.4 T ạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Sự phát triển NTTS đã góp phần đưa một số vùng nông thôn, vùng ven biển và
hải đảo thoát khỏi tình trạng đói nghèo Trong những năm gần đây, kinh tế của nhiều vùng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tích cực nhờ vào việc chuyển đổi mô hình trồng lúa sang NTTS cụ thể là nuôi tôm NTTS phát triển đã thu hút một lực lượng lớn lao động và đã tạo ra nhiều việc làm ổn định, đa dạng Người dân có thể tham gia vào các hoạt động dịch vụ đầu vào như giống cá, thức ăn, hóa chất, khuyến
Trang 24ngư, dịch vụ lao động và thu hoạch (mua bán sản phẩm, chế biến) Điều đó đã góp
phần tăng thêm nguồn thu nhập và chất lượng cuộc sống được nâng lên và có điều kiện thích nghi với kinh tế thị trường Như vậy, NTTS còn góp phần làm giảm tỉ lệ thiếu
việc làm ở nông thôn nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung
1.1.2.5 Chuy ển dịch cơ cấu kinh tế
Hòa mình vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước thì trong nội bộ
của khu vực nông-lâm ngư-nghiệp cũng đã có sự chuyển dịch là tăng tỉ trọng của ngành chăn nuôi đặc biệt là NTTS Sự phát triển mạnh mẽ ngành NTTS là nền tảng
vững chắc cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Chính Phủ đã ra nghị quyết
09 NQ/CP ngày 15/06/2000 về chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và tiêu
thụ sản phẩm nông nghiệp Đó cũng chính là yếu tố thúc đẩy cho sự chuyển đổi diện tích NTTS diễn ra mạnh mẽ hơn Trong những năm gần đây do một số mặt hàng nông
sản xuất khẩu của Việt Nam giảm sút lại bấp bênh, trong khi đó các mặt hàng TS lại có giá khá cao Hơn nữa, hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau nước mặn đã xâm
nhập vào các cửa sông, cửa biển và việc canh tác lúa nước trên các vùng nước mặn, nước lợ gặp nhiều khó khăn trong khi đó việc phát triển NTTS trong những vùng nước này lại là một tiềm năng Điều này làm cho nhu cầu chuyển đổi diện tích NTTS trong nông nghiệp càng trở nên cấp thiết Xu hướng chuyển đổi trồng lúa kém hiệu quả, năng suất thấp như trồng lúa 1 vụ ở ruộng trũng, đất trồng cói, làm muối năng suất
thấp sang NTTS hoặc NTTS kết hợp Ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam hiện nay thì
việc chuyển đổi đất trồng lúa ở vùng trũng sang nuôi cá đã đem lại hiệu quả kinh tế cao
Phát triển NTTS đã thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế như doanh nghiệp (DN) Nhà Nước, DN liên doanh, DN cổ phần… Đặc biệt là sự tham gia của số lượng lớn các hộ gia đình ở vùng nông thôn đã góp phần phát triển kinh tế tư nhân và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Phát triển NTTS kéo theo sự phát triển các ngành dịch vụ và công nghiệp hỗ trợ như công nghiệp chế biến TS, các dịch vụ vận
tải, kinh doanh thức ăn, thuốc thú y,… tạo thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp Vì
vậy, phát triển NTTS đã làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp và lao động ở
Trang 25nông thôn, đưa nông thôn từng bước phát triển hiện đại tạo đà cho sự phát triển kinh tế đất nước theo hướng bền vững và tiến bộ hơn
1.1.3 Các nhân t ố ảnh hưởng đến NTTS
Cũng như các ngành kinh tế khác, NTTS chịu tác động của nhiều nhân tố, trong
đó chia thành ba nhân tố: vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên và kinh tế-xã hội
1.1.3.1 V ị trí địa lí
Vị trí địa lí là nhân tố quan trọng quy định đến các đặc điểm tự nhiên của một
quốc gia và có ảnh hưởng cơ bản đến ngành NTTS Vị trí địa lí quyết định đến tính
chất biển một quốc gia Vị trí tiếp giáp với biển sẽ hình thành nên cơ cấu NTTS có cả nước lợ, nước mặn và ngược lại Đồng thời vị trí địa lí còn quy định những đặc điểm
của khí hậu và từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ thủy văn, nguồn lợi sinh vật thông qua các đặc điểm của khí hậu Vị trí địa lí quy định đặc điểm khí hậu nước ta là khí
hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, lượng nhiệt lớn nên có thể NTTS các loài nhiệt đới Đồng
thời nước ta có mưa nhiều nên nguồn nước dồi dào với diện tích mặt nước lớn, nguồn sinh vật phong phú, có thể phát triển NTTS quy mô lớn và đa dạng thành phần loài
1.1.3.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
NTTS chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì chi phí đầu tư cho NTTS sẽ ít và ngược lại nếu điều kiện tự nhiên không
thật thuận lợi thì chi phí đầu tư cho NTTS sẽ lớn Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là tiền đề cơ bản để phát triển ngành NTTS Các điều kiện tự nhiên quan
trọng hàng đầu là đất đai (diện tích mặt nước), khí hậu, nguồn nước,…
ao, hồ, đầm, phá, sông ngòi, kênh rạch trong nội địa, đất phi nông nghiệp được giao,
Trang 26cho thuê để NTTS, đất sử dụng cho kinh tế trang trại NTTS nước lợ và nước mặn thường được phát triển trên đất bãi bồi ven sông, ven biển, các bãi cát, cồn cát ven
biển, mặt nước trên các cánh rừng ngập mặn,… Hiện nay, mặt nước NTTS chiếm một
phần đáng kể trong diện tích mặt nước tự nhiên của thế giới Diện tích mặt nước NTTS
sẽ có thể được tăng lên nếu áp dụng các biện pháp canh tác hợp lý
Mặt nước NTTS quyết định đến sự tồn tại và phát triển của các loài TS Các loại hình mặt nước khác nhau thì phát triển nuôi trồng các loài TS khác nhau Nếu tách chúng ra khỏi môi trường mà chúng đang sống thì chúng sẽ chỉ tồn tại trong thời gian
ngắn hơn Đồng thời diện tích mặt nước NTTS còn ảnh hưởng rất lớn đến năng suất,
sản lượng NTTS
Diện tích mặt nước tự nhiên trên toàn thế giới là rất lớn bao gồm hệ thống các
sông như sông Nile, sông Amadon, sông Missisipi, sông Mekong,… Đây được xem là nguồn cung cấp nước ngọt cho các ao, hồ, sông ngòi để sinh hoạt và sản xuất Mặt nước tự nhiên này có vai trò đặc biệt quan trọng để phát triển NTTS Trên các sông này NTTS phát triển theo các hình thức nuôi lồng, bè hoặc tận dụng đào ao để NTTS nước ngọt Ngoài ra còn có các ao, hồ, kênh, rạch được dẫn nước từ các sông lớn vào
để NTTS nước ngọt Đây cũng là mặt nước tự nhiên có giá trị lớn để NTTS
Bên cạnh mặt nước tự nhiên thì NTTS còn phát triển trên theo hình thức nhân tạo
nhất là trên các hồ thủy điện, ao nhân tạo góp phần làm tăng thêm diện tích NTTS
Hiện nay, NTTS theo hình thức này phát triển mạnh ở các vùng đồi núi Vốn ít có sông ngòi và hồ tự nhiên việc NTTS tưởng chừng như rất khó khăn và không thể thực
hiện được nhưng với trình độ kỹ thuật ngày càng cao, nhu cầu bữa ăn ngày càng được
cải thiện và cũng để đáp ứng nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thì việc NTTS ở vùng đồi núi không còn là vấn đề nữa đặc biệt là đối với các nước có nền kinh
tế phát triển
Hơn nữa, các đại dương trên thế giới chiếm diện tích lớn (khoảng 361 triệu km2
,
gấp 2,4 lần diện tích lục địa) với một lượng nước phong phú dồi dào là điều kiện thuận
lợi phát triển NTTS mặn lợ Cùng với sự thay đổi của điều kiện tự nhiên đặc biệt là
vấn đề biến đổi khí hậu đang diễn ra mạnh mẽ đã làm cho nước mặn ngày càng xâm
Trang 27nhập sâu vào đất liền, vào các ao, hồ, kênh, rạch Điều này cũng góp phần mở rộng thêm diện tích NTTS trên phạm vi toàn thế giới
Như vậy diện tích mặt nước có ảnh hưởng rất lớn đến NTTS Tùy theo loại hình
mặt nước mà mỗi vùng, mỗi khu vực có thể phát triển NTTS theo các hướng khác nhau Tuy nhiên đôi lúc diện tích mặt nước NTTS còn có tính chất quyết định đến khâu tố chức các hình thức NTTS nhằm tận dụng tối đa diện tích mặt nước góp phần làm tăng năng suất, sản lượng NTTS
Việt Nam có đường bờ biển dài 3260km và vùng đặc quyền kinh tế trên biển
rộng hơn 1 triệu km2
, gấp 3 lần diện tích phần đất liền cùng với vùng mặt nước nội địa
rộng lớn đã tạo cho nước ta nhiều thuận lợi để NTTS cả nước ngọt, nước lợ và mặn
“Diện tích mặt nước có khả năng NTTS của nước ta theo Quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khoảng 1,7 triệu ha” [30, tr.177], (chưa kể diện tích các sông, suối, kênh rạch và mặt biển) Các mặt nước có thể NTTS gồm 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, hàng nghìn đảo lớn nhỏ ven biển, vùng nước của rừng ngập
mặn và rừng tràm, các hệ thống sông ngòi, kênh rạch, hệ thống hồ thủy lợi và thủy điện, ao đầm, ruộng ngập nước, vùng đất cát ven biển,…
Trong số 1,7 triệu ha có thể NTTS có 660 nghìn ha vùng triều có thể nuôi tôm cua và đặc sản biển, 120 nghìn ha ao hồ nhỏ, mương vườn có thể nuôi thâm canh ao và đặc sản nước ngọt, 400 nghìn ha hồ chứa, 580 nghìn ha ruộng có thể kết hợp nuôi TS
và trồng lúa, 500 nghìn ha mặt nước sông có thể nuôi cá lồng bè trên sông Ngoài ra còn có 300-400 nghìn ha eo, vịnh, đầm phá ven biển có thể đưa vào sử dụng nhưng chưa được quy hoạch Ngoài diện tích mặt nước tự nhiên nước ta còn tạo ra môi trường sống nhân tạo cho các loài TS trên các hồ thủy điện, thủy lợi ĐBSCL là vùng
có diện tích mặt nước NTTS lớn nhất nước với khoảng 1 triệu ha đất ngập lũ Như vậy
tiềm năng mặt nước NTTS nước ta là rất lớn, có thể phát triển tất cả các loại hình mặt nước và trên các miền khác nhau từ đồng bằng đến vùng trung du, đồi núi và ven biển,
hải đảo
Đồng thời nước ta đang chuyển đổi cơ cấu đất nông nghiệp cùng với diện tích đất hoang hóa nhiều nên khả năng mở rộng diện tích NTTS còn rất lớn Từ khi có Nghị quyết 09/2000/NQ-CP, việc chuyển đổi sang diện tích đất nuôi TS bắt đầu được đẩy
Trang 28mạnh Hiện nay, nhiều diện tích đất trũng ngập nước, đất chua mặn trồng lúa năng suất
thấp, kém hiệu quả đã chuyển sang NTTS hoặc NTTS kết hợp như vùng ruộng trũng nhiễm mặn được chuyển từ trồng lúa sang nuôi tôm sú, nuôi cua biển hoặc luân canh lúa-tôm, vùng ruộng trũng nước ngọt chuyển sang luân canh lúa-cá, lúa-tôm càng xanh
hoặc cải tạo các vùng hoang hóa ven sông, ven biển đã góp phần làm tăng hiệu quả cho NTTS Chính những lí do đó đã làm diện tích NTTS được mở rộng và song song
với môi trường nhất định sẽ có những loài thủy sinh nhất định mang tính chất đặc trưng cho từng vùng
Diện tích mặt nước NTTS của Việt Nam năm 2009 là 1044,7 nghìn ha và đến năm 2014 thì diện tích đạt 1053,9 nghìn ha Trong những năm gần đây nhiều địa phương tiếp tục chuyển đổi diện tích NTTS theo hướng đa cây, đa con kết hợp với nhu
cầu của thị trường đã góp phần làm tăng năng suất, diện tích cũng như hiệu quả NTTS đồng thời đảm bảo được sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái Thêm vào đó hình thức nuôi lồng bè đã phát triển khắp các vùng nhất hình thức nuôi vùng biển tăng
b Khí hậu
Khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động NTTS, nó quyết định thời gian nuôi, thành phần loài, tốc độ sinh trưởng, dịch bệnh và hiệu quả kinh tế của hoạt động nuôi Khí hậu có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của NTTS Điều kiện khí
hậu với các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, chế độ gió, độ ẩm,… thích hợp thì NTTS có thể tiến hành quanh năm và ngược lại với những bất lợi do khí hậu mang đến như bão, lũ lụt, hạn hán sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến NTTS đặc biệt là việc
tổ chức sản xuất và sự sinh trưởng của các loài TS Sự phân mùa của khí hậu tạo nên
sự thay đổi của điều kiện thủy văn, từ đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triển của
Trang 29TS theo mùa, tạo nên tính mùa của TS đồng thời tạo nên mùa tiêu thụ sản phẩm NTTS Chính vì vậy, NTTS có tính bấp bênh, không ổn định
Các yếu tố của khí hậu có nhiều ảnh hưởng đến điều kiện sống, khả năng sinh
sản và cư trú của các loài trong NTTS Trong đó chế độ nhiệt đóng vai trò quan trọng
cho quá trình sinh trưởng và phát triển của các loài NTTS Ở những vùng có nhiệt độ trung bình năm cao là điều kiện để các thủy sinh vật phát triển quanh năm Tuy nhiên,
mỗi loài thích nghi với một giới hạn nhiệt độ riêng và khả năng chống chịu của chúng
nằm trong khoảng giới hạn nhất định Nhiệt độ sinh trưởng và phát triển của tôm nước
lợ giới hạn trong khoảng là 28o
-30oC, nếu nhiệt độ dưới 28o
C và vượt lên trên 30o
C thì tôm sẽ bị ảnh hưởng như bỏ ăn, chậm lớn hay phát sinh dịch bệnh Ngoài ra nhiệt độ ảnh hưởng đến môi trường nuôi Khi nhiệt độ tăng lên làm cho nước trong ao nóng lên làm cho hàm lượng ô-xi trong nước giảm mạnh vào ban đêm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài nuôi, có thể bị chết hoặc chậm lớn Như vậy, sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng NTTS Tuy nhiên, sự tăng nhiệt độ trong khoảng mức cho phép tăng năng suất sơ cấp cho các ao nuôi, tạo nguồn thức ăn quan
trọng cho các loài nuôi trở thành điều kiện tốt cho NTTS Điều này được tìm thấy trong nghiên cứu của các vùng nuôi tôm miền Bắc nước ta Còn ở miền Nam thì nhiệt
độ thích hợp cho các loài thủy sinh phát triển từ 27-28o
C
Ánh sáng cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động NTTS đặc biệt là quá trình quang
hợp, tổng hợp chất hữu cơ của thực vật Số giờ chiếu sáng nhiều sẽ tạo thuận lợi cho quá trình trên và tạo nguồn thức ăn quan trọng cho nhiều loài sinh vật thủy sinh
Lượng mưa là nguồn cung cấp nước quan trọng cho NTTS Khi nắng nóng kéo dài lượng mưa khan hiếm thì đối với những khu vực NTTS nằm gần nguồn cung cấp nước (sông, kênh rạch) hoặc nuôi lồng bè trong khu vực nước lớn thì ít bị ảnh hưởng nhưng đối với khu vực xa nguồn cung cấp nước thì hoạt động NTTS bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đồng thời lượng mưa cũng ảnh hưởng đến độ mặn trong ao nuôi Trong
hoạt động NTTS nước mặn lợ, độ mặn đóng vai trò quan trọng Khi lượng mưa tăng lên thì độ mặn trong ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi khả năng chịu đựng làm cho cá, tôm bị sốc, chết hoặc chậm lớn Thế nhưng lượng mưa phong phú là điều
Trang 30kiện thuận lợi để thực hiện ngọt hóa cho các cánh đồng thông qua việc tháo chua rửa
mặn và có thể bố trí nuôi tôm vào mùa khô cho các cánh đồng này
Khí hậu có tác động mạnh mẽ đến hoạt động NTTS Khi các yếu tố khí hậu tăng lên cùng biến đối khí hậu đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất TS Mưa bão ngày càng mạnh hơn, nhiệt độ tăng cao lên làm cho các vùng đồng bằng, ven biển và hải đảo bị ngập lụt trong mùa mưa, hạn hán
và xâm nhập mặn trong mùa khô Mưa bão lớn, mực nước biển dâng sẽ làm tăng thêm tình trạng ngập lụt, gây khó khăn cho vấn đề thoát nước, làm thay đổi độ mặn trong ao
Một trong những thiên tai ảnh hưởng lớn đến NTTS là bão Khi bão xảy ra với thời gian dài và cường độ lớn sẽ gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến NTTS nhất là NTTS ven biển Ở vùng ven biển, nơi mà cộng đồng dân cư sống chủ yếu dựa vào NTTS thì khi bão xảy ra, ảnh hưởng đến kế sinh nhai của họ là điều khó tránh khỏi Bão có thể tàn phá hệ thống đê bao của ao nuôi, lồng bè trên biển Đồng thời khi bão và nước biển dâng cao còn làm tăng mức độ sạt lở đất Điều này đã xảy ra phổ biến trong mấy thập niên gần đây với hai loại hình là xói lở bờ biển và sạt lở đất ven sông và vùng cao, phá
hoại các cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão, các công trình giao thông gây ảnh hưởng
lớn đến hoạt động TS nói chung và NTTS nói riêng Còn khi nhiệt độ tăng cao thì các loài TS có nguy cơ mắc bệnh lại càng cao, đặc biệt là hiện tượng xâm nhập mặn diễn
ra mạnh mẽ trong những năm gần đây Nắng nóng cùng với độ mặn tăng cao làm cho các loài cây cỏ trong ao nuôi bị chết và phân hủy nhanh, làm mất đi nguồn thức ăn cho các loài TS và còn làm thay đổi độ trong, độ đục của ao ảnh hưởng đến môi trường nuôi Mực nước biển dâng cao và nhiệt độ biến đổi nhanh là hai yếu tố làm giảm kinh
có nét đặc trưng riêng, góp phần tạo nên sự da dạng về sản phẩm
Trang 31“Miền Bắc chịu ảnh hưởng mạnh nhất của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ thấp
nhất cả nước” [30, tr.183] Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 8 và chịu ảnh hưởng của bão, các hiện tượng thời tiết bất thường và tác động mạnh mẽ đến NTTS
Miền Trung thì nhiệt độ cao hơn, trung bình 25,5-27,5o
C, lượng mưa trung bình 2300-3100mm, mưa tập trung vào thu đông (từ tháng 4 đến tháng 11), biên độ dao động thủy triều lớn là điều kiện cho các vịnh, đầm, phá NTTS Đây là khu vực có nhiều thiên tai nhất cả nước như bão và đặc biệt có gió phơn Tây Nam với nhiệt độ cao
dễ phát sinh dịch bệnh, thủy sinh vật chết hoặc chậm phát triển,… gây ảnh hưởng lớn đến NTTS
Miền Nam với khí hậu cận xích đạo nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình năm cao, mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 Đây là vùng ít thiên tai hoạt động NTTS phát triển nhất cả nước đặc biệt là vùng ĐBSCL
Khí hậu của mỗi miền khác nhau tạo nên phương thức và nuôi trồng các loài TS khác nhau Điều đó đã góp phần phát huy có hiệu quả và tạo ra những sản phẩm TS đặc trưng riêng cho mỗi vùng, miền trên phạm vi cả nước
Tóm lại, khí hậu vừa làm giảm năng suất, sản lượng, chất lượng NTTS, nó cũng
vừa tạo nhiều điều kiện cho ngành NTTS phát triển Như vậy diện tích mặt nước chính
là điều kiện để NTTS còn khí hậu được xem là yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng
của ngành NTTS
c Ngu ồn nước
Có thể nói nguồn nước là một trong những yếu tố quyết định sự thành công cho phát triển NTTS Những nơi có nguồn nước phong phú thường hình thành vùng NTTS phong phú Tuy nhiên do ảnh hưởng của khí hậu và địa hình, nguồn nước trên Trái Đất phân bố không đều và thay đổi theo mùa Vào mùa lũ thì lượng nước tập trung rất nhiều và ngược lại thì vào mùa cạn lượng nước trở nên khan hiếm Mỗi loài TS đều có
những đặc điểm sinh thái, môi trường sống riêng chứ không phải môi trường nào nó cũng tồn tại được Nguồn nước không những ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của NTTS nó còn có vai trò cực kì quan trọng trong việc tổ chức phát triển cũng như ảnh hưởng đến sự tồn tại của sinh vật thủy sinh thông qua tính chất của nguồn nước
Trang 32Nguồn nước ảnh hưởng đến NTTS chủ yếu là nguồn nước trên mặt và còn được
gọi là tài nguyên nước mặt Tài nguyên này tồn tại thường xuyên hoặc không thường xuyên trong các thủy vực trên mặt đất như sông ngòi, kênh, rạch, ao, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo, đồng ruộng, đầm lầy,… Trong đó, nguồn nước trên các hệ thống sông được
sử dụng chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt Nhìn chung nguồn nước trên mặt có vai trò
rất lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng, một khu vực nói chung và ngành NTTS nói riêng Theo tính chất môi trường nước ảnh hưởng đến NTTS, nguồn nước được phân thành 3 loại: nước mặn, nước ngọt và nước lợ Mỗi một môi trường khác nhau sẽ có những đối tượng TS riêng phù hợp với đặc tính của từng loại môi trường
Nước mặn, lợ: nước mặn ngày càng xâm nhập sâu vào đất liền thông qua các hệ
thống sông ngòi ở ven biển Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển NTTS nước mặn
Hiện tượng xâm nhập mặn ngày càng có xu hướng tăng lên đặc biệt hiện nay biến đổi khí hậu đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ, mực nước biển ngày càng dâng cao, nước
mặn tràn sâu vào nội địa làm cho diện tích mặt nước NTTS bị nhiễm mặn trên diện
rộng Ở Việt Nam theo nghiên cứu tổng cục thủy văn trong nhiều năm nay, trung bình
mỗi năm mực nước biển dâng cao lên 2mm/năm và có khả năng trong 50-70 năm sau
có thể mực nước biển sẽ cao hơn 50-60cm Điều này sẽ thuận lợi cho việc NTTS mặn,
lợ
Nước ngọt: nguồn nước ngọt trên thế giới rất phong phú, tập trung chủ yếu
trong các ao, hồ và nhiều nhất ở sông ngòi Đây có thể được coi là nguồn nước mặt Nguồn nước mặt này được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và bị mất đi thông qua quá trình bốc hơi, chảy vào đại dương hoặc thấm xuống đất Nước mặt được cung cấp bởi lượng nước mưa Tổng lượng nước trong một hệ thống tại một thời điểm
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lượng mưa, khả năng chứa của các hồ, độ thấm xuống đất, tốc độ bốc hơi, đặc điểm dòng chảy Đồng thời các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ mất nước Tuy nhiên, yếu tố ảnh hưởng lớn đó là lượng mưa Ở những vùng gió mùa mưa nhiều, sẽ cung cấp một lượng nước dồi dào phục vụ cho hoạt động NTTS
Trang 33Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nên có nguồn nước mặt phong phú Hơn
nữa, do nhiều hệ thống sông ở nước ta bắt nguồn từ lãnh thổ của các nước láng giềng (hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long từ Trung Quốc, hệ thống sông Mã, sông Cả từ Lào,…) nên khối lượng nước mặt lớn hơn lượng nước mưa, nghĩa là nguồn nước mặt tương đối phong phú Điều này thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói chung và NTTS nói riêng Nước ta có lượng mưa hàng năm tương đối lớn trung bình 1.800-
2.000mm Đây là nguồn bổ sung khá lớn cho nguồn nước mặt Mạng lưới sông suối, kênh rạch nước ta khá dày đặc, phân bố tương đối đồng đều trên lãnh thổ Dọc ven
biển cứ khoảng 10km có một cửa sông Mật độ sông ngòi là 0,12km/km2
Chỉ tính các con sông có chiều dài từ 10km trở lên đã có 2.560 con sông với tổng diện tích lưu vực
là 292.470km2 Ở phía Bắc có hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình; Ở ĐBSCL có sông Tiền, sông Hậu; ở Tây Nguyên có sông Xêrê Pôk, Xê Xan; ở Đông Nam Bộ có sông Đồng Nai Tổng lượng dòng chảy hàng năm khoảng 840 tỉ m3, trong đó riêng nội địa 328 tỉ m3
, chiếm 38,8% lưu lượng dòng chảy
Trang 34B ảng 1.1 Phân bố nguồn nước mặt ở Việt Nam
-Lưu vực sông vùng Quảng Ninh
-Lưu vực sông Cao Bằng, Lạng Sơn
17,4 8,5 8,9
2,0 1,0 1,0
15,7 7,2 7,2
4,8 2,2 2,2
8,0 2,3 2,9 2,8
58,3 14,7 19,8 23,8
17,9 4,5 6,3 7,3
IV Duyên hải Nam Trung Bộ
-Khu vực Quảng Nam, Đà Nẵng
-Khu vực Quãng Ngãi, Bình Định
-Khu vực Phú Yên, Khánh Hòa
48,7 21,6 14,6 12,5
5,8 2,6 1,7 1,4
48,7 21,6 14,6 12,5
14,8 6,6 3,2 4,4
VI Đông Nam Bộ
Lưu vực sông Đồng Nai
34,9 30,0
4,2 3,0
34,9 8,4
10,6 2,6
VII Đồng Bằng sông Cửu Long
Nguồn: Viện Quy hoạch thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Như vậy, nước đối với NTTS rõ ràng là rất cần thiết và không thể thiếu được vì đơn giản không có nguồn nước thì không có NTTS Nguồn nước là môi trường sống
cơ bản của các loài thủy sinh Tuy nhiên hiện nay do nhiều nguyên nhân khác mà chất lượng nguồn nước đã bị suy giảm, nhiều nơi nguồn nước còn bị ô nhiễm nghiêm trọng
và đang ở mức báo động Điều này không những ảnh hưởng đến ngành NTTS mà còn ảnh hưởng rất lớn đến các ngành sản xuất khác và đặc biệt là sinh hoạt của người dân
Trang 351.1.3.3 Kinh t ế - xã hội
Nếu điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để hình thành ngành NTTS thì nhân tố kinh tế-xã hội lại đóng vai trò quyết định Cùng có các nhân tố tự nhiên tương tự như nhau nhưng sự phát triển ngành NTTS ở mỗi vùng, lãnh thổ khác nhau Điều này được quyết định bởi các nhân tố kinh tế - xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Có ảnh hưởng lớn đến ngành NTTS, dân cư vừa là lực lượng lao động vừa là nguồn tiêu thụ sản phẩm NTTS Do vừa là yếu tố đầu vào nhưng đồng thời cũng là yếu
tố đầu ra cho ngành NTTS nên dân cư và nguồn lao động là nhân tố quan trọng hàng đầu trong ngành NTTS nói riêng và các ngành sản xuất khác
Dưới góc độ là chủ thể của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất chủ yếu nên số lượng và chất lượng nguồn lao động có ảnh hưởng đến NTTS cả chiều rộng lẫn chiều sâu Dân số đông, nguồn lao động dồi dào có thể mở rộng diện tích, quy mô NTTS Dân cư có học vấn, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao sẽ thúc đẩy khả năng ứng dụng khoa học công nghệ giúp tăng năng suất và hiệu quả sản xuất
Dưới góc độ là thị trường tiêu thụ, số dân có ý nghĩa quyết định đến quy mô NTTS Dân số đông cùng với mức sống cao thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm NTTS sẽ
lớn Ngoài ra cơ cấu dân số già hay trẻ, thói quen ăn uống cũng có ý nghĩa quan trọng đến việc lựa chọn sản phẩm NTTS
Như vậy, quy mô, cơ cấu dân số, mức sống dân cư, chất lượng dân cư cùng với thói quen ăn uống sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động NTTS Do những đặc điểm
của ngành NTTS nên lao động trong ngành này có tính thời vụ và do ngành này có truyền thống lâu đời nên người lao động có nhiều kinh nghiệm sản xuất Tuy nhiên so
với khai thác TS cần nguồn lao động trẻ, khỏe, có nhiều kinh nghiệm còn trong NTTS
cần nguồn lao động phức tạp và đa dạng hơn đặc biệt là đòi hỏi cao về trình độ và kỹ năng nghề nghiệp Đây cũng chính là khó khăn lớn của ngành NTTS trên thế giới và
cả ở Việt Nam
b Nguồn vốn
Nguồn vốn có vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển ngành NTTS Do vốn đầu tư ban đầu cơ bản cho xây dựng cũng đã lớn và trong suốt
Trang 36quá trình sản xuất nếu gặp khó khăn về vốn sẽ ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng nuôi trồng Vốn không chỉ đầu tư cho quá trình sản xuất mà còn đầu tư cho cả tư liệu lao động Nguồn vốn có quy mô lớn được đầu tư vào sản xuất sẽ tạo điều kiện cho việc
áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất thúc đẩy ngành NTTS phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Vốn đầu tư cho NTTS có từ các nguồn như vốn Ngân sách Nhà Nước, tín dụng ngân hàng, vốn đầu tư nước ngoài và vốn tự có của người dân
Vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà Nước được sử dụng dưới hình thức đầu tư xây
dựng đường giao thông, các công trình thủy lợi, cho vay lãi suất thấp,… Còn nguồn
vốn đầu tư nước ngoài cho ngành NTTS ít và tập trung chủ yếu vào một số chương trình trọng điểm Ngoài ra một nguồn vốn quan trọng chủ yếu cho NTTS là dựa vào
vốn tự có của người dân
Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn NTTS tương đối lớn, thời gian quay vòng vốn khá lâu, vốn có nhiều rủi ro nên việc huy động nguồn vốn cho ngành NTTS là một vấn
đề cần được quan tâm
- Việc ứng dụng khoa học-công nghệ vào nghiên cứu giống và đã tạo ra nhiều
giống mới thích nghi với các điều kiện khác nhau Từ đó đã giúp cho việc chủ động được công nghệ sản xuất giống Trong NTTS thì con giống là yếu tố quyết định nên khi chủ động được nguồn giống thì NTTS có thể phát triển ổn định Cuộc cách mạng
về giống đã góp phần quan trọng làm cho năng suất cao và góp phần phát triển NTTS theo hướng công nghiệp
- NTTS còn áp dụng công nghệ sinh học trong nghiên cứu phòng và trị bệnh cho các đối tượng nuôi như bệnh đốm trắng, bệnh đầu vàng ở tôm Việc áp dụng kĩ thuật này đã trở thành công cụ phát hiện bệnh cho các vùng NTTS Đồng thời nghiên cứu các phương pháp điều trị các bệnh cho NTTS và các chất kích thích miễn dịch cho tôm, cá
Trang 37- Khoa học-công nghệ trong NTTS còn được áp dụng thông qua việc sản xuất nguồn thức ăn Điển hình là phát triển các nhà máy thức ăn trong nước, tạo cơ chế thông thoáng trong việc sản xuất và xuất nhập khẩu thức ăn, chế phẩm sinh học, các
sản phẩm xử lý và cải tạo môi trường nhằm đem lại chất lượng cao hơn
- Ngoài ra, khoa học-công nghệ được áp dụng trong việc chế biến các sản phẩm NTTS Vấn đề đáp ứng nguồn nguyên liệu cho khâu chế biến; vấn đề dư lượng kháng sinh trong sản phẩm TS và các vấn đề thương mại đã và đang trở thành rào cản đối với
việc xuất khẩu các sản phẩm NTTS Vì vậy, việc ứng dụng khoa học-công nghệ trong khâu chế biến để nâng cao giá trị sản phẩm cũng như thời gian bảo quản sản phẩm là
rất quan trọng Trong những năm vừa qua, nhờ ứng dụng những thành tựu khoa công nghệ đã giải quyết được phần nào các yêu cầu bức thiết của sản xuất như nâng cao năng suất, tăng sản lượng cung ứng được nguồn nguyên liệu cho sản xuất, tạo ra
học-những sản phẩm chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho khâu chế biến
xuất khẩu Hiện nay, nhu cầu sử dụng các sản phẩm TS ngày càng nhiều mà nguồn nguyên liệu thì còn thiếu, giá nguyên liệu còn cao thì đòi hỏi phải chế biến ra những
sản phẩm có chất lượng tốt, giá trị sản phẩm cao là điều cần thiết
xuất hàng hóa Để có được lợi nhuận thì các nhà sản xuất phải tìm đầu ra cho sản
phẩm của mình Mọi biến động trên thị trường đều có tác động đến hiệu quả sản xuất
của ngành NTTS Nhu cầu tiêu thụ của người dân, việc phát triển mạnh của công nghiệp chế biến cùng với chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu đã giúp mở rộng hơn thị trường tiêu thụ sản phẩm NTTS, thúc đẩy ngành NTTS ngày càng phát triển hơn
Th ị trường trong nước phụ thuộc vào quy mô dân số, mức sống dân cư Quy
mô dân số lớn cùng với mức sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu tiêu thụ sản
phẩm NTTS ngày càng có xu hướng tăng và ngược lại Ở Việt Nam, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng tiêu thụ sản phẩm TS trong nước hàng năm
Trang 38tăng 20-30%, mức tiêu dùng các loại TS cung cấp chiếm khoảng 50% về tiêu dùng
thực phẩm chứa protein, trong đó sản phẩm nuôi trồng chiếm hơn ½ sản phẩm TS cung cấp Mức tiêu thụ TS bình quân của nước ta khoảng 25kg/người và có xu hướng ngày càng tăng lên Đây sẽ là tiềm năng thúc đẩy cho sự phát triển của ngành TS nói chung và ngành NTTS nói riêng Trước đây, lượng tiêu thụ sản phẩm TS chỉ ở dạng tươi sống, chưa qua chế biến Đối tượng phục vụ thị trường này là các Nhà hàng, các nhà máy chế biến, các chợ ở địa phương Nhưng ngày nay, công nghiệp chế biến ngày càng phát triển, mức sống được nâng lên thì nhu cầu tiêu thụ sản phẩm NTTS có giá trị kinh tế cao, chất lượng tốt ngày càng nhiều hơn Thị trường không chỉ là các Nhà hàng, các chợ mà ngay cả trong từng hộ gia đình ở nông thôn cũng có nhu cầu sử dụng
rất nhiều Trong điều kiện sản lượng khai thác TS không ổn định thì ngành NTTS ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường một cách
bền vững
Thị trường ngoài nước thì nhu cầu tiêu thụ sản phẩm NTTS rất lớn (nhất là các
nước phát triển) và giá cũng cao hơn thị trường trong nước Nhu cầu này đã giúp cho các nước đang phát triển trở thành nơi sản xuất và các nước phát triển trở thành nơi tiêu thụ sản phẩm TS Thị trường tiêu thụ rộng lớn là yếu tố thúc đẩy cho sự phát triển
mạnh mẽ của ngành NTTS Việc xuất khẩu những sản phẩm TS không những mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước mà còn giúp cho nhiều nước có điều kiện học hỏi
kĩ thuật công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm của mình hơn Tuy nhiên, thị trường ngoài nước thường có nhiều biến động Các sản phẩm xuất khẩu trên thị trường
thế giới đặc biệt là thị trường lớn đòi hỏi phải có chất lượng cao, mẫu mã đẹp Các mặt hàng TS của Việt Nam đã có mặt trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong đó, các thị trường chính là Hoa Kì, Nhật Bản, EU, Liên Bang Nga, với những sản phẩm nổi
tiếng như các loại cá da trơn Hiện nay lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam tuy lớn nhưng không ổn định, rất nhiều lô hàng của Việt Nam bị trả lại do không đảm bảo được vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Gần đây, cùng với vụ kiện bán phá giá của Mỹ
đã làm nhiều mặt hàng xuất khẩu TS của Việt Nam giảm sút và gây ra ảnh hưởng xấu đến ngành NTTS
Trang 39Như vậy, thị trường tiêu thụ là yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng nhất định đến
sự phát triển ngành NTTS Các yếu tố tự nhiên, lao động, khoa học công nghệ được xem là yếu tố đầu vào còn thị trường là yếu tố quyết định đầu ra cho sản phẩm, tác động đến sự tồn tại của ngành NTTS Vì vậy, chúng ta cần có những giải pháp thích
hợp để tạo ra những sản phẩm có chất lượng có thể đáp ứng nhu cầu thị trường Điều
đó góp phần tạo nên yếu tố bền vững cho ngành NTTS
lối chính sách có thể tạo ra bước ngoặt cho NTTS và có thể đưa ngành chuyển sang giai đoạn phát triển mới
NTTS chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố Các nhân tố tự nhiên là điều
kiện quan trọng cho sự phát triển của ngành NTTS còn nhân tố quyết định là kinh tế-
xã hội, trong đó các yếu tố về vốn, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ và đặc biệt
là đường lối chính sách sẽ đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngành NTTS
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 T ổng quan về tình hình nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
Nước ta có đường bờ biển dài 3260 km với 28 tỉnh, thành phố giáp biển và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2
cùng với hệ thống sông ngòi, kênh rạch, đầm phá dày đặc Đây là tiềm năng rất lớn để phát triển ngành NTTS cả nước ngọt, mặn và
lợ Theo Quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì diện tích mặt nước có khả năng NTTS của nước ta vào khoảng 1,7 triệu ha Đồng thời, khả năng mở
rộng diện tích NTTS còn nhiều Năm 2005, diện tích NTTS nước ta 952,6 nghìn ha trong đó diện tích NTTS nước ngọt đạt 288,2 nghìn ha và NTTS mặn lợ đạt 660,5 nghìn ha Nhưng đến năm 2013 diện tích NTTS nước ta đã tăng lên và đạt 1046,4 nghìn ha, trong đó diện tích nuôi trồng nước ngọt, mặn lợ tương ứng là 305,9 nghìn ha
và 736,9 nghìn ha Việc mở rộng diện tích được tiến hành chủ yếu trên các vùng trũng
Trang 40ngập nước ven biển, trong các thủy vực nước mặn ven bờ, các bãi cát ven biển và đặc
biệt chuyển từ vùng đất trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS
B ảng 1.2 Diện tích NTTS nước ta giai đoạn 2005-2013 (Đơn vị: nghìn ha)
1044,7
336,5 704,5 3,7
1052,6
314,2 735,2 3,2
1046,4
305,9 736,9 3,6
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Trong môi trường nước ngọt, đối tượng NTTS của nước ta chủ yếu là cá và được nuôi trên các ao, hồ, sông ngòi, kênh rạch Còn đối với nước mặn lợ, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm (chiếm diện tích lớn nhất) và cá (chiếm tỉ trọng nhỏ) Diện tích nuôi cá và tôm nước ta tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL Đây là vùng tập trung nhiều
diện tích NTTS và cũng là vùng đóng góp lớn nhất sản lượng NTTS trong cả nước
B ảng 1.3 Diện tích NTTS phân theo vùng của nước ta năm 2005 và 2013
Các vùng Năm 2005 Năm 2013
C ả nước 952,6 100 1046,4 100 Đồng Bằng sông Hồng 89,2 9,4 106,8 10,2
Đồng bằng sông Cửu Long 680,2 71,4 753,4 72,0
Ngu ồn: Tổng hợp và xử lí số liệu từ tổng cục thống kê Việt Nam
Ngành TS nước ta có truyền thống bắt đầu từ năm 1960 nhưng đến thập niên 90 thì NTTS mới phát triển mạnh và có tốc độ tăng trưởng về sản lượng vượt qua khai