1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường đại học sư phạm tp hồ chí minh

142 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, sinh viên sư phạm cần phải có những định hướng giá trị đạo đức đúng đắn về nghề nghiệp của mình, bên cạnh đó cũng cần phải tự tu dưỡng và rèn luyện các giá trị đạo đức cho phù hợ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA: TÂM LÝ HỌC

TRẦN THỊ TUYẾT MAI

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA: TÂM LÝ HỌC

TRẦN THỊ TUYẾT MAI

YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 5

DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ 7

MỞ ĐẦU 9

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 9

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 10

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10

3.1 Khách thể nghiên cứu 10

3.2 Đối tượng nghiên cứu 10

4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 11

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 11

6 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 11

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu 11

6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu 12

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 12

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 12

7.3 Phương pháp thống kê toán học 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 13

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị 13

1.1.1.1 Trên thế giới 13

1.1.1.2 Ở Việt Nam 15

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp và định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học 18

1.1.2.1 Trên thế giới 18

1.1.2.2 Ở Việt Nam 20

Trang 4

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 22

1.2.1 Khái niệm giá trị 22

1.2.2 Khái niệm hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị 26

1.2.3 Khái niệm định hướng giá trị 28

1.2.4 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức 31

1.2.4.1 Đạo đức 31

1.2.4.2 Giá trị đạo đức 33

1.2.4.3 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức 34

1.2.5 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp 35

1.2.5.1 Nghề nghiệp 35

1.2.5.2 Giá trị nghề nghiệp 36

1.2.5.3 Giá trị đạo đức nghề nghiệp 37

1.2.5.4 Định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp 37

1.2.6 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học 38

1.2.6.1 Nghề dạy học 38

1.2.6.2 Giá trị nghề dạy học 38

1.2.6.3 Giá trị đạo đức nghề dạy học 39

1.2.6.4 Định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học 39

1.2.7 Biểu hiện định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của SV sư phạm 40

1.2.7.1 Về mặt nhận thức 40

1.2.7.2 Về mặt thái độ 41

1.2.7.3 Về mặt hành vi 42

1.2.8 Vai trò của định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp đối với SV sư phạm 43

1.3 Sinh viên sư phạm và đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm 44

1.3.1 Sinh viên sư phạm 44

1.3.2 Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm 45

1.3.2.1 Đặc điểm chung của sinh viên 45

1.3.2.2 Đặc điểm nhận thức 46

Trang 5

1.3.2.3 Đặc điểm trí tuệ 48

1.3.2.4 Đặc điểm nhân cách 48

1.3.2.5 Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên 50

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm 52

1.4.1 Nhóm yếu tố khách quan 53

1.4.1.1 Môi trường sư phạm 53

1.4.1.2 Chuẩn mực xã hội và những đánh giá của xã hội đối với nghề dạy học 55

1.4 2 Nhóm yếu tố chủ quan 57

1.4.2.1 Hứng thú nghề nghiệp 57

1.4.2.2 Động cơ chọn nghề 59

1.4.2.3 Hình mẫu giáo viên lý tưởng 61

1.4.2.4 Tính tích cực cá nhân 62

Tiểu kết chương 1 64

Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65

2.1 Thể thức nghiên cứu 65

2.1.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 65

2.1.2 Mô tả công cụ nghiên cứu 66

2.1.3 Cách thu số liệu 67

2.1.4 Cách quy đổi điểm 68

2.1.5 Độ tin cậy của thang đo 68

2.1.6 Xử lý số liệu 69

2.2 Kết quả nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường đại học sư phạm TP.HCM 70

2.2.1 Nhận định về các giá trị đạo đức của sinh viên đối với nghề dạy học 70

2.2.2 Những định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm 72 2.2.2.1 Kết quả định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp về mặt nhận thức 72 2.2.2.2 Kết quả định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp về mặt thái độ 76

2.2.2.3 Kết quả định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp về mặt hành vi 79

Trang 6

2.2.3 Nhận định về yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức

nghề nghiệp của sinh viên Sư phạm 82

2.2.3.1 Nhận thức chung về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên 82

2.3.2.2 Kết quả nhận thức của sinh viên về các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học 85

2.3 Một số đề xuất giải pháp giáo dục định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Sư phạm TP.HCM 103

2.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 103

2.3.2 Một số giải pháp giáo dục định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm trường Đại học Sư phạm TP.HCM 103

2.3.2.1 Ở nhà trường 104

2.3.2.2 Đối với bản thân sinh viên 107

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110

1 Kết luận 110

2 Kiến nghị 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

PHỤ LỤC 118

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cám ơn Quý Thầy Cô Khoa Tâm lý học, là những người trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản và kỹ năng hữu ích, cần thiết giúp em có cơ hội ứng dụng trong học tập và thực tiễn nghiên cứu của mình, các thầy cô đã luôn tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ để em có thể hoàn thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Kiều Thị Thanh Trà – Cô đã tận tâm

và nhiệt tình hướng dẫn, động viên em trong suốt thời gian thực hiện Khóa luận của mình

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu trường ĐHSP TP.HCM, các thầy

cô bộ môn khoa Toán, Sinh, Lịch sử, Ngữ văn, Giáo dục tiểu học, Giáo dục Mầm Non, Giáo dục đặc biệt, Vật lý , các bạn sinh viên sư phạm các khối lớp năm 1, năm 2, năm 3 và năm 4 đã hợp tác và hỗ trợ em rất nhiều để việc thu số liệu khảo sát diễn ra thuận lợi

Em xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị, các bạn sinh viên Tâm lý học khóa 39B, đã luôn ủng hộ tinh thần, giúp đỡ em hoàn thành khóa luận của mình

Em sẽ không thể hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp của mình nếu không có một trong những sự giúp đỡ, hỗ trợ trên

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tất cả!

Trần Thị Tuyết Mai

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ KIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 2.1 Thống kê sinh viên trên toàn mẫu khảo sát 65

2 Bảng 2.2 Cách quy đổi điểm cho các câu hỏi có 5 mức độ 68

3 Bảng 2.3 Nhận thức của sinh viên về các giá trị đạo đức đối với

7 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát chung về các yếu tố ảnh hưởng đến

giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên 83

8 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát nhóm yếu tố Môi trường sư phạm 85

9 Bảng 2.9 Kết quả khảo sát nhóm yếu tố Chuẩn mực xã hội và

đánh giá của xã hội 88

10 Bảng 2.10 Kết quả khảo sát nhóm yếu tố Hứng thú nghề nghiệp 91

11 Bảng 2.11 Kết quả khảo sát nhóm yếu tố Động cơ chọn nghề 94

12 Bảng 2.12 Kết quả khảo sát nhóm yếu tố Hình mẫu người giáo

viên lý tưởng 97

13 Bảng 2.13 Kết quả khảo sát nhóm Tính tích cực cá nhân 99

Trang 10

82

2 Biểu đồ 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức

nghề dạy học của sinh viên sư phạm 83

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Xã hội ngày nay đang có những thay đổi và phát triển, điều này đã kéo theo sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và đạt được những thành tựu nhất định Thành tựu ấy đã và đang làm thay đổi một cách toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Trước những thay đổi mạnh mẽ về cuộc sống, các giá trị đạo đức của con người ngày nay cũng

bị ảnh hưởng theo cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực Điều này tác động trực tiếp đến quá trình định hướng và hoàn thiện nhân cách của mỗi người Trước bối cảnh đó, Đảng ta luôn đặt ra yêu cầu phải gắn liền sự tăng trưởng kinh tế với tiến bộ đạo đức và công bằng xã hội, vừa phát triển kinh tế xã hội, nhưng đồng thời phải bảo tồn và phát huy những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

Xã hội Việt Nam đặt ra mục tiêu là đào tạo con người phát triển toàn diện: có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, có lý tưởng Do đó, trong chương trình giảng dạy tại các trường Cao đẳng, Đại học sinh viên luôn được đánh giá dựa trên hai mặt đạo đức và năng lực Bằng chứng là việc đánh giá sinh viên hằng năm không chỉ dựa trên kết quả học tập mà còn căn cứ vào kết quả rèn luyện Đây là một quá trình mà thanh niên sinh viên phải tích lũy bằng nhiều cách khác nhau như: nhiệt tình tham gia các hoạt động, năng nổ tham gia phong trào, rèn luyện các phẩm chất đạo đức, chấp hành nội quy Như vậy, đạo đức sinh viên luôn được các nhà giáo dục đặc biệt quan tâm, việc đào tạo, rèn luyện giá trị đạo đức cho sinh viên luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nói “Người có tài mà không có đức là người vô dụng; Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Thấm nhuần tư tưởng của Người, mục tiêu giáo dục ở nhà trường, luôn hướng đến đào tạo con người một cách toàn diện, hội tụ đủ cả hai

Trang 12

yếu tố đức và tài Đặc biệt đối với những thế hệ giáo viên, những người làm trong lĩnh vực sư phạm, thì yêu cầu này càng phải cao hơn Do vậy, sinh viên sư phạm cần phải có những định hướng giá trị đạo đức đúng đắn

về nghề nghiệp của mình, bên cạnh đó cũng cần phải tự tu dưỡng và rèn luyện các giá trị đạo đức cho phù hợp với những chuẩn mực xã hội và giá trị nghề dạy học

Thực tế cho thấy, việc giáo dục định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm luôn được xã hội quan tâm Tuy nhiên, bên cạnh những sinh viên có định hướng giá trị đạo đức nghề đúng đắn, vẫn còn khá nhiều sinh viên có những tư tưởng, hiện tượng tiêu cực, quan niệm sai lầm trong cách nhìn nhận những giá trị đạo đức nghề nghiệp, những quan điểm tiêu cực này đã và đang nảy sinh trong một số bộ phận thanh niên sinh viên sư phạm như: lối sống hưởng thụ, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống sùng ngoại, bệnh thành tích Vậy vì sao ngày càng có những hiện tượng tiêu cực như vậy nảy sinh trong giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm và các yếu tố gì đã ảnh hưởng đến việc định hướng các giá trị đạo đức nghề của họ?

Từ những lý do trên, đề tài “Yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Sư Phạm TP.HCM” được xác lập

Trang 13

Yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

- Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Trong đó, có 2 nhóm yếu tố chính là yếu tố chủ quan (hứng thú nghề nghiệp; động cơ chọn nghề; hình mẫu giáo viên lý tưởng; tính tích cực cá nhân) và yếu tố khách quan (chuẩn mực xã hội và những đánh giá của xã hội; môi trường sư phạm)

- Nhóm yếu tố chủ quan có ảnh hưởng mạnh hơn đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm, trường Đại học Sư phạm

TP Hồ Chí Minh so với nhóm yếu tố khách quan, trong đó yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất là tính tích cực cá nhân

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về: Giá trị, định hướng giá trị, giá trị đạo đức, định hướng giá trị đạo đức, định hướng giá trị nghề nghiệp, định hướng giá trị nghề dạy học, để xác lập cơ sở lý luận cho đề tài

- Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh Từ

đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục định hướng một số giá trị đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên

6 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên bao gồm hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, hình mẫu người giáo viên lý tưởng, tính tích cực cá nhân, chuẩn mực và đánh giá của xã hội, môi trường sư phạm

Đề tài chỉ nghiên cứu trên khách thể là sinh viên các ngành sư phạm, Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM Vì vậy, định hướng giá trị đạo đức nghề

Trang 14

nghiệp trong nghiên cứu này chỉ quy hẹp về định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học

6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu trên 300 sinh viên sư phạm chính quy, trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, năm học 2016 – 2017

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tham khảo, thu thập tư liệu, phân tích và tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

* Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp chủ yếu được sử dụng nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Thu thập, xử lý và phân tích số liệu trên chương trình SPSS 20

Trang 15

Vấn đề về giá trị, định hướng giá trị đã có từ rất lâu Trong những năm cuối thế kỷ 20, thì vấn đề này ngày càng được nhiều nước quan tâm

và nghiên cứu Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như sau:

Từ năm 1968 – 1974, Viện nghiên cứu thanh niên ở Đức đã tiến hành nghiên cứu ở 1000 học sinh phổ thông và 2000 sinh viên đại học để tìm hiểu định hướng giá trị

Trong những năm 1977 – 1978, Trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên ở Bungari nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanh niên, trong đó có đề cập đến vấn đề giá trị, đặc biệt là sự khác biệt trong thang giá trị của thanh niên so với thế hệ cha ông [45, tr.20]

Vào những năm 1980 ở Hungary, vấn đề giá trị và định hướng giá trị được quan tâm hàng đầu trong các công trình nghiên cứu khoa học xã hội Trong 10 năm, Viện Tâm lý học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Hungary cùng với các trung tâm nghiên cứu thông tin đại chúng đã tiến hành nghiên cứu ba vấn đề xã hội có quan hệ bổ sung cho nhau đó là: hệ thống tôn giáo, lối sống và giá trị Trong các công trình nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến vấn đề giá trị và định hướng giá trị của thanh niên [18, tr 8]

Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Bản đã chú trọng nghiên cứu thanh niên của 11 quốc gia lứa tuổi từ 18 – 24 tuổi Tiếp theo

đó, Viện Kiểm Sát Xã Hội Châu Âu EVS lấy mẫu thanh niên 15 – 24 tuổi

ở 10 nước Châu Âu để nghiên cứu về vấn đề giá trị và định hướng giá trị

Trang 16

Cả hai cuộc điều tra này đều đề cập đến vấn đề “định hướng giá trị của thanh niên nhằm giúp họ chuẩn bị bước vào cuộc sống” [45, tr.20]

Năm 1986 – 1987,UNESCO đã đề nghị câu lạc bộ Rome tiến hành điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỷ 21trong tình hình có nhiều biến đổi đang ảnh hưởng đến xã hội vào những năm cuối thế kỷ 20 [45, tr.20]

Năm 1988, UNESCO đã phát hành tập tài liệu nghiên cứu về hệ thống cấu trúc của giá trị, hình thành bộ công cụ đo đạc, kiểm chứng giá trị, giúp cho những công trình nghiên cứu giá trị đúng hướng [12, tr.7]

Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Phillipin, Indonesia việc nghiên cứu vấn đề giá trị và định hướng giá trị của thanh niên sinh viên cũng được quan tâm Ngoài các chương trình nghiên cứu chuyên sâu theo mục đích riêng biệt, theo chu kỳ 5 năm (bắt đầu từ năm 1972) người ta tiến hành nghiên cứu theo cùng một phương pháp ở nhiều nước trên thế giới, lấy mẫu ở lứa tuổi 18 – 24 và do Nhật Bản chủ trì Qua các cuộc nghiên cứu này người ta thấy được sự phát triển ý thức của thanh niên sinh viên cũng như những giá trị đang chi phối nếp nghĩ và hành động của giới trẻ ngày nay, góp phần xây dựng nên những chính sách phát triển tahnh niên sinh viên ở mỗi quốc gia

Trong đề tài nghiên cứu “Định hướng giá trị của giới trẻ ngày nay”

A.G.Kuznesov đã trình bày kết quả khảo sát phương hướng phát triển của định hướng giá trị của giới trẻ ngày nay Mục đích việc xem xét định hướng giá trị của thanh niên cho phép xác định mức độ tham gia vào xã hội của thanh niên – sự công nhận giá trị cơ bản của xã hội, từ đó xây dựng bức tranh toàn cảnh vị thế xã hội của giới trẻ Nga, nhằm thúc đẩy chính quyền và xã hội thiết lập một chính sách thanh niên hữu hiệu [21] Wang Lu và Xie Weihe thuộc trung tâm nghiên cứu thanh niên và vị

thành niên Trung Quốc, trong công trình “Những giá trị của thanh nhiên

Trung Quốc” (1996) đã trình bày kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà

nghiên cứu Trung Quốc về giá trị của thanh niên Trong đó, họ chú ý đến

Trang 17

sự thay đổi giá trị của thanh niên từ sau quá trình cải cách của đất nước Trung Quốc và được xem xét trên ba khía cạnh: đánh giá của thanh niên

về ý nghĩa, mục đích cuộc sống, giá trị trong cuộc sống hằng ngày và những giá trị xã hội [18, tr.9]

Hơn 10 năm trở lại đây, các nước Châu Á và Đông Nam Á đã có nhiều cuộc hội thảo về vấn đề nghiên cứu giá trị và giáo dục giá trị Các chương trình giáo dục giá trị đã được đưa vào trong trường phổ thông và cộng đồng ở một số nước như: Indonesia, Phillipin, Singapore, Malaysia

và Thái Lan

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị nêu trên đã chỉ ra được những giá trị của cuộc sống và định hướng giá trị của thanh thiếu niên Bên cạnh đó, các đề tài đã chỉ ra những khác biệt trong thang giá trị của thanh niên, xây dựng được những bộ dụng cụ để đo đạc và kiểm chứng cho nghiên cứu thực tế Ngoài ra các công trình nghiên cứu cũng đã bắt đầu được ứng dụng vào trong các trường học và cộng đồng dân cư

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị ở Việt Nam tương đối mới mẻ hơn so với các nước trên thế giới Sau năm 1986, nước ta đã mở cửa để hội nhập với thế giới Sự hội nhập này mang đến cho đất nước nhiều cơ hội và cũng không ít những thử thách ở trên mọi lĩnh vực Một trong những lĩnh vực diễn ra sự giao thoa mạnh mẽ nhất là văn hóa xã hội nói chung và hệ thống giá trị đạo đức nói riêng Trải qua nhiều biến động thăng trầm, hiện nay xã hội Việt Nam đang có sự chuyển biến hệ thống định hướng giá trị một cách rõ nét, đặc biệt là ở các bạn trẻ Chính vì thế, kể từ thập niên 90 trở lại đây đã có rất nhiều tác giả tập trung nghiên cứu vấn đề này Điển hình như:

Năm 1987 – 1988, ban Lý luận giáo dục và giáo dục chuyên nghiệp

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và điều tra về xu hướng nhân cách của sinh

viên” Đề tài đã chỉ ra những xu hướng nhân cách của sinh viên và đề cập

Trang 18

đến vấn đề giá trị sống của sinh viên với những đặc trưng nhất định [12, tr.10]

Năm 1991 – 1995, nhiều đề tài KX thuộc chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước đã tiếp cận vấn đề giá trị, đặc biệt là các đề tài

mã số KX – 07: “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát

triển kinh tế xã hội” Có thể điểm qua một số đề tài sau:

Đề tài “Những đặc trưng và xu thế phát triển nhân cách của con

người Việt Nam trong sự phát triển kinh tế xã hội” mã số KX - 07 - 04 do

PGS.TS Nguyễn Quang Uẩn chủ nhiệm (1995) đã nghiên cứu những giá trị chung, giá trị nhân cách, giá trị nghề nghiệp, giá trị truyền thống và hiện đại của học sinh, sinh viên Dựa trên những giá trị này, đề tài chỉ ra

xu hướng phát triển nhân cách người Việt Nam trong thời kì đổi mới và

mở cửa [45]

Tác giả Thái Duy Tuyên với đề tài “Tìm hiểu định hướng giá trị của

thanh niên trong cơ chế thị trường”, mã số KX - 07 - 10 (1995) đã khảo

sát trên các đối tượng thanh niên, công nhân, nông dân, học sinh - sinh viên, trí thức tại một số thành phố lớn về “nhu cầu, nguyện vọng của thanh niên” và “định hướng giá trị của thanh niên” Các số lượng thu thập được của đề tài đã phần nào phác họa được bức tranh chung về nhân cách của con người Việt Nam qua các mặt như: Nhận thức và giá trị, tâm trạng

và thái độ, hứng thú và thị hiếu, nhu cầu và động cơ, cảm nghiệm và tự đánh giá, nguyện vọng và ước mơ [41]

Luận án Phó Tiến sĩ Triết học của tác giả Dương Tự Đàm “Định

hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (1996) đã nghiên cứu quá trình biến đổi của tình hình thế giới, của

sự đổi mới về kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến nhu cầu, lợi ích và định hướng giá trị của thanh niên sinh viên Tác giả đã xác định một số biểu hiện đặc trưng, xu hướng phát triển và sự chuyển đổi định hướng giá trị trong sinh viên Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đề ra những giải pháp

Trang 19

nhằm giáo dục định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên theo yêu cầu của công cuộc đổi mới [10]

Cùng năm 1996, luận án Phó Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Nguyễn

Thị Khoa với đề tài “Định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình

của nữ trí thức hiện nay”, đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về giá trị, định

hướng giá trị và nêu ra những đặc trưng, xu thế định hướng giá trị chất lượng cuộc sống gia đình của nữ trí thức, từ đó xây dựng những chuẩn giá trị gia đình Việt Nam hiên đại

Năm 1998, luận án Phó Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Lê Quang Sơn

với đề tài “Những đặc trưng tâm lý của định hướng giá trị của thanh niên

Việt Nam hiện đại” Với đề tài này, tác giả đã xem định hướng giá trị như

là những thái độ của nhân cách đối với bản thân và thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai được cấu trúc lại trong các thể nghiệm và biểu tượng của nhân cách [dẫn theo 13, tr.8]

Tập thể tác giả Phạm Minh Hạc, Thụy Như Ngọc, Rusell J.Daiton

với đề tài “Nghiên cứu giá trị thế giới – Việt Nam năm 2001”, Trong cuộc

điều tra giá trị thế giới năm 2001 tại Việt Nam đã thăm dò sự hài lòng về chất lượng cuộc sống, quan hệ xã hội và gia đình, mức độ quan tâm và sự tham gia trong lĩnh vực chính trị, những giá trị kinh tế, niềm tin vào hệ thống chính trị Đề tài cũng đưa ra được bức tranh về sự lựa chọn những giá trị cơ bản trong lối sống, trong thực tế xã hội vào thời điểm trên [dẫn theo 18, tr 11]

Đầu năm 2002, tác giả Đỗ Ngọc Hà với luận án Tiến sĩ “Định hướng

giá trị của thanh niên, sinh viên hiện nay trước sự chuyển đổi về kinh tế,

xã hội của đất nước” Đề tài cho thấy những giá trị nào điều tiết được

cuộc sống hàng ngày và hành vi xã hội của sinh viên, trên cơ sở đó xây dựng biểu mẫu định hướng giá trị của sinh viên Việt Nam [14]

Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Cấn Hữu Hải “Ảnh hưởng

của truyền thống gia đình đến định hướng giá trị của lứa tuổi đầu thanh

Trang 20

niên” (2002) đã đưa ra một số kết luận cho thấy ảnh hưởng của gia đình

đến việc định hướng giá trị của lứa tuổi đầu thanh niên [17]

Tác giả Lê Hương với đề tài nghiên cứu “Đánh giá định hướng giá

trị của con người” đã phân chia định hướng giá trị ở 3 mức độ là nhận

thức, xúc cảm -tình cảm và hành vi Trên cơ sở đó đã đưa ra các định hướng giáo dục giá trị thông qua từng mức độ trên [dẫn theo 18, tr 11] Năm 2005, tác giả Đào Thị Oanh nghiên cứu về định hướng giá trị của học sinh trung học Công trình đã chỉ ra những giá trị truyền thống và những giá trị mới hiện nay của học sinh nước ta Đồng thời cũng đưa ra đâu là nguyên nhân ảnh hưởng đến việc chọn lựa những giá trị mới trong

hệ thống giá trị của học sinh [27]

Bên cạnh đó, trong những năm gần đây xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của Ban Khoa Giáo Trung Ương, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, các Viện nghiên cứu, các tổ chức xã hội, đoàn thể, các báo cáo tham luận tại các hội thảo, diễn đàn bàn về giá trị, định hướng giá trị của con người Việt Nam nói chung và định hướng giá trị đạo đức của thanh niên sinh viên nói riêng

Tóm lại, các đề tài tập trung nghiên cứu giá trị và định hướng giá trị

đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong đó có cả tích cực lẫn tiêu cực của những thay đổi về định hướng giá trị của người Việt Nam nói chung và của thanh niên sinh viên nói riêng Trên cơ sở đó, các đề tài cũng đã đề ra những phương hướng và biện pháp để giúp thanh niên sinh viên hoàn thiện về mặt nhân cách

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp và định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học

1.1.2.1 Trên thế giới

Vấn đề định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp và định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học đã được nhiều nước quan tâm và nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau:

Nghiên cứu “Các giá trị nghề nghiệp và sự lựa chọn nghề nghiệp đối

với những sinh viên năm nhất” do Idit Ben – Shem và Tamara E Avi –

Trang 21

Itzhak, khoa Hướng nghiệp, trường Đại học Haifa Israel (1990) đã đưa ra mối liên hệ giữa các giá trị trong nghề nghiệp và quyết định lựa chọn nghề nghiệp của những sinh viên năm nhất, qua đó có những hỗ trợ phù hợp cho họ trong định hướng nghề nghiệp

Đề tài “Các giá trị nghề nghiệp của sinh viên năm nhất: khám phá

sự khác biệt giữa các nhóm” (2007), do Ryan D Duffy và William E

Sedlack đăng trên tạp chí Phát triển nghề nghiệp, đưa ra kết luận đa phần sinh viên đều khẳng định hứng thú, lương cao, đóng góp cho xã hội và vị thế là 4 giá trị nghề nghiệp quan trọng

Nhóm tác giả Peter Gahan, Lakmal Abeysekea với đề tài: “Điều gì

ảnh hưởng đến các giá trị trong nghề nghiệp của một cá nhân? Tương quan giữa các giá trị trong công việc, văn hóa dân tộc và ý nghĩa tự thân”, Khoa Quản lí trường Đại học Moanash, Caulfield East, Úc phát

hành trong tạp chí Quản trị nguồn nhân lực (2009) Trong đó, giá trị nghề nghiệp thường được xem như là một yếu tố trung tâm ảnh hưởng đến thái

độ và hành vi trong nghề nghiệp của cá nhân và tầm quan trọng của sự hiểu biết về các giá trị nghề nghiệp tiếp tục khẳng định

Đề tài “Các giá trị nghề nghiệp và khả năng thích ứng trong nghề

nghiệp của người lao động Đài Loan”, do Luo Lu và Guo Ching Lin

nghiên cứu đã khám phá các giá trị trong nghề nghiệp của các công nhân làm việc tại Đài Loan và cho thấy mối quan hệ giữa các giá trị nghề nghiệp và khả năng thích ứng trong nghề nghiệp

Tác giả Tan, Esther với đề tài : “Các giá trị trong nghề nghiệp của

thanh thiếu niên Singapor”, đăng tải trên Trung tâm thông tin giáo dục

Singapor cho thấy bất kể tuổi tác, giới tính và chương trình học, học sinh trung học tại Singapor cho thấy một mối bận tâm với tầm quan trọng của các mối quan hệ trong nghề nghiệp Nghiên cứu kết luận rằng chương trình định hướng nghề nghiệp cần được tiến hành sớm thì sẽ hiệu quả hơn Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng đề nghị nên làm rõ cách thức cung cấp định nghĩa về các giá trị nghề nghiệp

Trang 22

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Việc định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp mà cụ thể hơn là giá trị nghề dạy học có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả lao động nghề nghiệp Do đó, có rất nhiều đề tài liên quan đến lĩnh vực này, có thể kể một số đề tài sau:

Tác giả Trịnh Thị Thuận với đề tài: “Tìm hiểu một số biểu hiện về

định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Đại học Sư phạm Việt Bắc” Cho thấy phần lớn sinh viên trường Đại học Sư phạm Việt Bắc

quý trọng và yêu thích nghề dạy học Các em hướng vào mục đích nhằm giúp cho sự hình thành và phát triển đạo đức, nhân cách của bản thân và thế hệ trẻ, hướng vào sự đổi mới, tiến bộ của đất nước Đồng thời có sự đánh giá đúng đắn giá trị của nghề dạy học, phù hợp với xã hội Việt Nam Tuy nhiên vẫn còn mâu thuẫn giữa nhận thức và hành động, giữa mong muốn khả năng và hiện thực, giữa giá trị tinh thần và kinh tế [37]

Tác giả Phạm Gia Cường với đề tài: “Định hướng giá trị nghề

nghiệp và tính tích cực học nghề của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm

Hà Tây” (1998)

Năm 2002, Trần Quốc Thành với đề tài: “Định hướng giá trị nghề

nghiệp của HS lớp 12 THPT một số tỉnh miến núi phía Bắc”, in trên Tạp

chí TLH (số 8), Hà Nội đã nhắc đến tầm quan trọng của việc định hướng nghề nghiệp, nhận thức về nghề nghiệp, xu hướng chọn nghề và những nhân tố ảnh hưởng đến sự định hướng giá trị nghề nghiệp của HS Trong

đó, vai trò của gia đình, bạn bè và các giá trị vật chất về nghề nghiệp có

xu hướng được đề cao trong quá trình định hướng nghề nghiệp của thế hệ trẻ [32]

Năm 2003, Trần Thị Chanh với đề tài: “Định hướng giá trị nghề dạy

học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam” Qua nghiên cứu

thực trạng, tác giả kết luận: “Sinh viên đã nhận thức được các giá trị của nghề dạy học Có sự đan xen giữa các giá trị truyền thống và giá trị hiện đại Thái độ của sinh viên đối với nghề dạy học biểu hiện chưa cao Và

Trang 23

quá trình định hướng giá trị nghề dạy học chưa có sự thống nhất chặt chẽ giữa nhận thức, thái độ và hành vi Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị nghề dạy học như: Điều kiện kinh tế - xã hội, nội dung, phương pháp đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật của trường” [3]

Năm 2006, Tác giả Nguyễn Huy Tuyên với đề tài: “Định hướng giá

trị nghề dạy học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị”

Cho biết sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị đã nhận thức được các giá trị của nghề dạy học, nhưng hướng chủ yếu vào những giá trị

cá nhân Tuy nhiên quan niệm của sinh viên về yêu cầu nhân cách của người thầy giáo còn chưa phù hợp Việc học tập và rèn luyện nghề của sinh viên chưa thật sự tích cực Mức độ nhận thức, thái độ và biểu hiện hành động trong định hướng giá trị nghề dạy học chưa có sự thống nhất [42]

Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Phương

với đề tài: “Định hướng giá trị nghề dạy học của sinh viên trường Cao

đẳng Sư phạm kiên Giang” (2010) Luận văn đã cung cấp hệ thống cơ sở

lý luận đầy đủ về định hướng giá trị nghề dạy học [29]

Năm 2013, Đỗ Thị Ngọc Chi với luận văn “Định hướng nghề nghiệp

của HS THPT trên địa bàn TP Hải Phòng” Kết quả cho thấy những bất

cập trong việc giáo dục và triển khai các biện pháp định hướng giá trị cho

HS tập trung không chỉ về phía nhà trường mà còn chịu sự chi phối mạnh

mẽ từ gia đình và các phương tiện truyền thông đại chúng Sự ảo tưởng ngành nghề và thiếu thông tin chính xác là những yếu tố chính khiến HS chọn lầm nghề [4]

Như vậy, thực trạng định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên Sư phạm đã có nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, nhìn chung các đề tài này chỉ nghiên cứu định hướng giá trị chung, chưa đi sâu về định hướng giá trị đạo đức Bên cạnh đó cũng chỉ nghiên cứu thực trạng là chủ yếu, chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên sư phạm hoặc nếu có chỉ là

Trang 24

những yếu tố chính, cơ bản, chưa đi sâu vào thực tiễn Do đó, người nghiên cứu tập trung vào việc khai thác các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của sinh viên sư phạm, từ đó có thể đưa ra những biện pháp định hướng đúng đắn và rõ ràng

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Khái niệm giá trị

Trong tiếng Anh, khái niệm giá trị thường được nhắc tới qua hai thuật ngữ có ý nghĩa gần như nhau, đó là: “value” – giá trị, ý nghĩa và

“worth” – vừa có nghĩa là giá trị, giá cả, ý nghĩa, vừa có nghĩa là phẩm giá, phẩm chất Tuy nhiên, ngày nay thuật ngữ “value” được dùng phổ biến hơn

Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư Xô Viết, “Giá trị là sự khẳng

định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thế giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hội nói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục đích” [45, tr 51-52] Như vậy, giá trị không phải xuất phát từ bản

thân nội tại vốn có của sự vật, mà là sự phù hợp, có ý nghĩa của những thuộc tính tự nhiên của sự vật đối với hoạt động sống của con người và đối với những mối quan hệ xã hội mà con người tham gia cũng như đáp ứng và thỏa mãn được hứng thú và nhu cầu của con người Giá trị của một

sự vật được quyết định bởi ý muốn của con người Hay nói cách khác, giá trị của một vật chính là sự phản ánh, sự hiện thân của nhu cầu hay ước muốn của chủ thể phản ánh nó Thêm vào đó, giá trị của một vật không phải chỉ do một người phản ánh, mà có thể là do một nhóm người hay một cộng đồng xã hội

Trang 25

Theo từ điển Triết học do M.M.Rozental (Liên Xô) chủ biên (NXB

Tiến bộ Maxcơva, 1975), “Giá trị là những định nghĩa về mặt xã hội của

các khách thể trong thế giới chung quanh nhằm nêu bật tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của khách thể ấy đối với con người và xã hội (cái lợi, cái thiện và ác, cái đẹp và xấu nằm trong những hiện tượng của đời sống xã hội hoặc tự nhiên) Xét bề ngoài, các giá trị là các đặc tính của sự vật hoặc hiện tượng, không phải đơn thuần do kết cấu bên trong của bản thân khách thể, mà do khách thể bị thu hút vào phạm vi tồn tại xã hội của con người và trở thành cái mang những quan hệ xã hội nhất định Đối với chủ thể (con người), các giá trị là các đối tượng lợi ích của nó, còn đối với ý thức của nó thì chúng đóng vai trò những vật định hướng hàng ngày trong thực trạng vật thể và xã hội, chúng biểu thị các quan hệ thực tiễn của con người đối với sự vật và hiện tượng xung quanh mình” [46,

tr.206]

Theo từ điển Tiếng Việt (Nxb Khoa học xã hội), “Giá trị là cái làm

cho một vật có lợi ích, có ý nghĩa hay đáng quý về một mặt nào đó” Mặt

nào đó có thể là mặt đạo đức, trí tuệ, tài năng; hay những quan niệm và thực tại về cái đẹp, về sự thật, về điều thiện của xã hội; hay tính chất quy

ra được thành tiền của một vật trong quan hệ mua bán, đổi chác; hay độ lớn của một đại lượng, một lượng biến thiên Với định nghĩa như trên thì giá trị được hiểu như là “cái chuẩn”, “thang đo” để đánh giá một thuộc tính, đặc điểm nào đó của sự vật hiện tượng, hay của con người trong những hoàn cảnh nhất định và lĩnh vực nhất định [28, tr.102]

Những hiểu biết đầu tiên về giá trị và lý luận về các giá trị có từ thời

xa xưa, gắn liền với Triết học Cuối thế kỷ XIX, giá trị học mới tách ra thành một lĩnh vực khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học Trong những thập kỷ gần đây, khái niệm giá trị được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học như triết học, xã hội học, chính trị học, tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học Ở mỗi ngành

Trang 26

khoa học, khái niệm giá trị được hiểu ở những khía cạnh và góc độ khác nhau:

Dưới góc độ Triết học, có nhiều quan điểm khác nhau về giá trị Tuy nhiên, ở đây chủ yếu được xét theo quan điểm Macxit nên giá trị được coi

là những hiện tượng xã hội đặc thù, mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sáng tạo của con người Giá trị là sự thồng nhất giữa cái chủ quan và cái khách quan [45, tr.51]

Dưới góc độ Xã hội học, giá trị được quan tâm ở nội dung, nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong quá trình hình thành hệ thống giá trị nhất định của một xã hội

Giá trị trong Đạo đức học luôn gắn liền với những khái niệm trung tâm như: cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng, bác ái bởi vì khái niệm giá trị thuộc phạm vi đời sống đạo đức của con người, các quan hệ xã hội

và quá trình hình thành các chuẩn mực, quy tắc đạo đức của xã hội

Dưới góc độ Tâm lý học, khái niệm giá trị được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu hành vi, hoạt động của con người và dự báo sự phát triển của nhân cách Tâm lý học xã hội nghiên cứu giá trị và định hướng giá trị trong cộng đồng, đồng thời giải thích vai trò của chúng trong sự hình thành và phát triển của các hiện tượng tâm lý xã hội như tâm lý dân tộc, nhu cầu, thị hiếu, tập quán, lối sống của các nhóm xã hội [45, tr.261]

- Tác giả V.P Tugariov (Liên Xô) cho rằng “Giá trị là những khách

thể, những hiện tượng và những thuộc tính của chúng mà tất cả đều cần thiết cho con người (ích lợi, hứng thú) của một xã hội hay một giai cấp nào đó cũng như một cá nhân riêng lẻ với tư cách là phương tiện thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích của họ, đồng thời cũng là những tư tưởng

và ý định với tư cách là chuẩn mực, mục đích hay lý tưởng” [45, tr.54]

- Tác giả L.Dramaliev (Bungary) coi “Giá trị là một thành tố khách

quan của xã hội Nó là một loại hiện tượng xã hội đặc biệt (một vật, một đối tượng, một liên hệ, một ý niệm), thỏa mãn được những nhu cầu nhất định của con người Giá trị là một phẩm chất khách quan, một đặc tính,

Trang 27

một khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã trở thành rõ rệt trong quá trình quan hệ qua lại có tính chất xã hội giữa người với người trong hành vi thực tế của họ Với tư cách là một khách thể xã hội, giá trị không thể tách khỏi những nhu cầu, những mong muốn, thái độ, những quan điểm và những hành động của con người với tư cách là một chủ thể của các quan

hệ xã hội” [45, tr.54]

- Theo tác giả Thái Duy Tuyên, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm giá trị, thông thường có thể hiểu giá trị là cái đáng quý, cái cần thiết, có lợi ích, ý nghĩa, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, của giai cấp, nhóm, xã hội nói chung Giá trị là một phạm trù lịch sử, thay đổi theo thời gian, là một phạm trù xã hội, phụ thuộc vào tính chất của dân tộc, tôn giáo, cộng đồng [41, tr.106]

- Tác giả Trần Văn Giàu cho rằng: “Giá trị xuất hiện từ mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn và chiến đấu của con người trong xã hội Giá trị vì thế được xác minh bởi sự đánh giá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm qua thực tiễn”

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực,

đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể”

- Theo tác giả Trần Trọng Thủy: “Giá trị là một hiện tượng xã hội

điển hình biểu thị các sự vật, hiện tượng, các thuộc tính và quan hệ của hiện thực, các tư tưởng chuẩn mực, mục đích lý tưởng các hiện tượng của

tự nhiên và xã hội được loài người tạo ra, nhưng đều phục vụ cho sự tiến

bộ của xã hội và phát triển của cá nhân con người”

- Nhóm tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang cho rằng: cần phải hiểu khái niệm giá trị trong mối quan hệ với các thuật

ngữ liên quan như nhu cầu, sở thích, động cơ Song, “giá trị không

đồng nhất với nhu cầu các giá trị không phải là những động cơ giá trị là những cái cần và có ích cho chủ thể” [45, tr 56-57]

Trang 28

Nhìn chung, theo quan niệm của các nhà khoa học hay dưới góc độ của các ngành khoa học khác nhau cũng như trong một số từ điển đã định nghĩa khái niệm giá trị đều có chung một số đặc điểm như sau:

- Mức độ của một vật đáp ứng nhu cầu và thỏa mãn được khát vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật đó

- Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, xã hội với sự phí tổn cần thiết để tạo ra cái lợi đó

- Giá trị luôn mang tính khách quan Sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người mà phụ thuộc vào sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi của một nhu cầu nào đó của con người Không phải do ý thức mà do yêu cầu của hoạt động thực tiễn qui định giá trị, thực tiễn là tiêu chuẩn của mọi giá trị

- Giá trị được hiểu theo hai góc độ vật chất và tinh thần Giá trị vật chất là giá trị đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người hứng thú, niềm tin, sự thoải mái và thanh thản

- Trong mọi giá trị đều chứa đựng yếu tố nhận thức, tình cảm, hành

vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị

- Giá trị là một phạm trù lịch sử vì giá trị thay đổi theo thời gian, theo sự biến động của xã hội, phụ thuộc vào tính dân tộc, tôn giáo và cộng đồng

Tóm lại, giá trị là những cái cần, cái có ích, có ý nghĩa đối với cá nhân, tập thể và xã hội Nó phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể, giữa chủ thể với chính mình, được đánh giá và có thể bị thay đổi theo những điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể tùy thuộc vào bản chất, trình độ phát triển của nhân cách

1.2.2 Khái niệm hệ giá trị, thang giá trị và chuẩn giá trị

Các giá trị thường được sắp xếp theo những quan hệ nhất định và có những vị trí thứ bậc khác nhau, được con người sử dụng theo những chuẩn khác nhau Cuộc sống con người là tổ hợp các hệ thống giá trị, thang giá trị, chuẩn giá trị

Trang 29

Hệ giá trị hay còn gọi là hệ thống giá trị là một tổ hợp các giá trị

khác nhau, được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định tạo thành một tập hợp mang tính toàn vẹn và hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị [45, tr.62]

Các hệ thống giá trị có vị trí độc lập tương đối và tương tác với nhau theo những thứ bậc khác nhau phù hợp với quá trình thực hiện các chức năng xã hội trong mỗi thời kì lịch sử cụ thể Hệ thống giá trị luôn mang tính lịch sử, chịu sự chế ước bởi lịch sử Vì thế, trong hệ thống giá trị luôn chứa đựng các yếu tố của quá khứ, hiện tại và tương lai, các giá trị truyền thống, các giá trị thời đại, các giá trị mang tính nhân loại, các giá trị mang tính cộng đồng, tính giai cấp, các giá trị mang tính lý tưởng và hiện thực

Thang giá trị là một tổ hợp giá trị, một hệ thống giá trị được sắp xếp

theo một trật tự ưu tiên nhất định Có thể coi thang giá trị là thước đo giá trị Thang giá trị biến đổi theo thời gian, theo sự phát triển, biến đổi của

xã hội loài người và của cộng đồng cũng như của mỗi cá nhân

Thang giá trị, thước đo giá trị đang là vấn đề có tính nhân loại, tính thời đại và tính dân tộc được mọi người quan tâm Thang giá trị của xã hội, của cộng đồng và của nhóm chuyển thành thang và thước đo giá trị của từng người Thang giá trị là một trong những động lực thôi thúc con người hoạt động hướng đến những giá trị phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của mình Khi con người hoạt động sẽ tạo ra những giá trị lại góp phần khẳng định, củng cố, phát huy và bổ sung để hoàn thiện hoặc thay đổi thang giá trị [45, tr.63]

Chuẩn giá trị là những giá trị giữ vị trí cốt lõi, chiếm vị trí ở thứ bậc

cao hoặc vị trí then chốt và mang tính chuẩn mực chung cho nhiều người Khi xây dựng các giá trị theo những chuẩn mực nhất định về kinh tế, về chính trị, về đạo đức, về xã hội hay về thẩm mỹ sẽ tạo ra các chuẩn giá trị Mọi hoạt động của xã hội, của nhóm cũng như của từng cá nhân được thực hiện theo những chuẩn giá trị nhất định sẽ bảo đảm định hướng cho các hoạt động đó và hạn chế khả năng lệch chuẩn mực xã hội, đồng thời

Trang 30

tạo ra những giá trị tương ứng đảm bảo sự tồn tại của con người Chuẩn giá trị chung của nhân loại, theo nhà giáo dục T Makiguchi (Nhật Bản) hệ giá trị “ích, thiện, mỹ” [45, tr.64]

1.2.3 Khái niệm định hướng giá trị

Theo cách hiểu thông thường thì định hướng nghĩa là sự lựa chọn, xác định cho mình lối đi, cách làm hay rộng hơn là cách hành động, cách

cư xử sao cho phù hợp với bản thân và xã hội [13, tr.22]

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết, định hướng giá trị là cơ

sở tư tưởng, chính trị, đạo đức, thẫm mỹ, giúp chủ thể đánh giá thực tại xung quanh và định hướng trong thực tại đó Định hướng giá trị hình thành thông qua chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội và thể hiện trong các mục đích tư tưởng, chính kiến và nhu cầu của nhân cách Trong cấu trúc hoạt

động của con người, định hướng giá trị gắn liền với các đặc điểm nhận thức và ý chí của nhân cách “Hệ thống định hướng giá trị tạo thành nội dung xu hướng của nhân cách và là cơ sở bên trong các mối quan hệ giữa

cá nhân với thực tại” Như vậy “định hướng giá trị” có liên quan đến “xu hướng” trong Tâm lý học Xu hướng là một trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách, là thành phần trong cấu trúc nhân cách 4 thành tố (năng lực, xu hướng, tính cách, khí chất), quy định hành vi và giá trị xã hội của

cá nhân Xu hướng được hiểu là một thuộc tính tâm lý điển hình của cá nhân, bao hàm trong nó một hệ thống những động lực quy định sự lựa chọn các thái độ

Cho đến nay thuật ngữ định hướng giá trị trở nên quá quen thuộc trong lĩnh vực Tâm lý học cũng như xã hội học Dưới đây là một số quan niệm tiêu biểu của các tác giả nước ngoài cũng như trong nước:

Trước hết theo, “Từ điển Tâm lý học tóm tắt” của Liên Xô do A.V.Petrovski và M.G.Iarosevski chủ biên, định hướng giá trị là phương thức chủ thể sử dụng để phân biệt các sự vật theo ý nghĩa của chúng đối với chính mình, từ đó hình thành nội dung cơ bản của xu hướng, động cơ

hoạt động [dẫn theo 10, tr.24]

Trang 31

B.G.AnaNhep: “Việc cá nhân hướng vào những giá trị này hay giá trị khác tạo nên sự định hướng giá trị của họ”

Tác giả người Nga A.G.Zdraromuxlov đã phân tích định hướng giá trị như quá trình hướng đích của mỗi chủ thể với những nỗ lực tìm kiếm mục tiêu, cách thức và phương tiện nhằm thu được lợi ích, cũng như đạt được hiệu quả công việc trong các hoạt động của con người

V.A.Ladov xem định hướng giá trị là những biểu tượng của con người về những mục đích chủ yếu của cuộc đời và những phương tiện cơ bản đạt được những mục đích ấy Định hướng giá trị đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng các chương trình hành vi lâu dài Chúng hình thành trên cơ sở những nhu cầu của chủ thể về việc nắm vững những hình thái

cơ bản của hoạt động sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể xác định

và do tính chất các quan hệ xã hội quy định Các quan hệ xã hội là nguồn gốc khách quan hình thành những nhu cầu của chủ thể [45, tr.68]

Theo Thái Duy Tuyên, khái niệm định hướng giá trị thường được hiểu 2 nghĩa: 1) Mỗi cá nhân hay cộng đồng nào đó định hướng giá trị cho mình có nghĩa là lựa chọn cho mình một giá trị hoặc hệ thống giá trị nào đấy; 2) Mỗi cá nhân hay cộng đồng định hướng giá trị cho một người hay một tập thể có nghĩa là giáo dục giá trị [41, tr.37]

Tác giả Đào Hiền Phương cho rằng: “Định hướng giá trị là sự phản

ánh chủ quan, có phân biệt các giá trị trong ý thức và tâm lý con người Định hướng giá trị của mỗi người mang những nét riêng biệt đặc trưng của người đó Con người sống trong môi trường nào, thuộc thành phần xã hội nào, đều mang những nét chung nhất định của nó về định hướng giá trị Định hướng giá trị không phải là bất biến, nhất là các giá trị vật chất,

nó có sự thay đổi tùy theo môi trường sống và hoạt động thực tiễn Định hướng giá trị chi phối, điều chỉnh hành vi, hoạt động của con người, hướng tới những mục đích cơ bản trong cuộc sống” [dẫn theo 29, tr.17]

Theo Lê Đức Phúc: “Định hướng giá trị là thái độ lựa chọn của con

người đối với các giá trị vật chất và tinh thần, là một hệ thống tâm thế,

Trang 32

niềm tin, sở thích được biểu hiện trong hành vi của con người” [dẫn theo

29, tr.17]

Hà Nhật Thăng thì cho rằng: “Định hướng giá trị là một hệ thống

giá trị chuẩn phù hợp với yêu cầu xã hội, có tính phổ biến được nhiều người thừa nhận,công nhận và tuân thủ thực hiện, hệ thống giá trị đó có tác dụng vừa như là mục tiêu, đối tượng phải chiếm lĩnh, vừa như là động

cơ thúc đẩy con người nhận thức hoạt động để hoàn thiện nhân cách, phát huy vai trò chủ thể của con người trong sự phát triển cá nhân, xã hội

và tự nhiên” [dẫn theo 13, tr.24]

Theo một số tác giả như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy thì “định

hướng giá trị là sự lựa chọn, sắp xếp các giá trị với tư cách là những tiêu chuẩn hành vi của mình, định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành

vi, quyết định lối sống của cá nhân” [dẫn theo 13, tr.24]

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về định hướng giá trị, song có thể nhận thấy một số điểm chung sau về định hướng giá trị:

- Định hướng giá trị được hình thành trong quá trình cá nhân hoặc nhóm người gia nhập vào các quan hệ xã hội với tư cách là chủ thể của các hoạt động đó và hướng vào các giá trị có ý nghĩa cơ bản đối với họ

- Quá trình định hướng giá trị luôn chứa đựng các yếu tố nhận thức (đánh giá), ý chí và cảm xúc (thử nghiệm) và các khía cạnh đạo đức, thẩm

mỹ trong sự phát triển nhân cách

- Là cơ sở bên trong của hành vi, nó quyết định lối sống của mỗi cá nhân

Trân trọng, kế thừa từ những quan niệm về định hướng giá trị đã được nêu trên, với hướng tiếp cận theo quan điểm của Thái Duy Tuyên

Định hướng giá trị trong đề tài này được hiểu là một hệ thống giá trị

chuẩn, phù hợp với yêu cầu của xã hội được cá nhân (hay tập thể) nhận thức, đánh giá, lựa chọn theo nguyện vọng, mong muốn của mình Nó có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi, hoạt động của con người và qui định xu hướng nhân cách của cá nhân

Trang 33

1.2.4 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức 1.2.4.1 Đạo đức

Khái niệm đạo đức đã xuất hiện từ rất lâu trước đây và trở nên quen thuộc với mọi người Vì thế, nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học về con người như Triết học, Tâm lý học, Đạo đức học, Giáo dục học Dưới mỗi góc nhìn khác nhau, có những cách tiếp cận khác nhau về đạo đức:

* Theo từ điển Triết học, “Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và

hành vi của con người, qui định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội Đạo đức là hình thái của ý thức xã hội Chủ nghĩa Mác – Lênin xây dựng quan điểm vầ đạo đức và những yêu cầu của đạo đức không phải trên những định nghĩa chung và trừu tượng

mà trên những điều kiện lịch sử cụ thể Không có đạo đức nào ở ngoài xã hội loài người Trong một xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp Những hình thức kết cấu xã hội và cơ sở kinh tế mà biến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo ” Như vậy, dưới góc nhìn Triết học thì “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội Chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và bởi sức mạnh của dư luận xã hội”

[dẫn theo 13, tr.27]

* Dười góc nhìn của Tâm lý học, đạo đức được hiểu là thành phần quan trọng trong cấu trúc nhân cách, bao gồm hệ thống phẩm chất (Đức)

và hệ thống năng lực (Tài) Là hệ thống những chuẩn mực, biểu hiện thái

độ đánh giá quan hệ giữa lợi ích của bản thân với lợi ích của người khác

và của cả xã hội [dẫn theo 13, tr.27]

Trong hệ thống phẩm chất, có phẩm chất xã hội như thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường, thái độ chính trị, thái độ lao động, phẩm chất cá nhân và phẩm chất ý chí như tính kỉ luật, tính tự chủ, tính mục

Trang 34

đích, tính quả quyết, tính phê phán Phẩm chất cũng bao gồm cả cung cách ứng xử như tác phong, lễ tiết, tính khí

Rõ ràng trong cách tiếp cận khái niệm đạo đức theo quan điểm Tâm

lý học hoạt động như trên, đạo đức đã được thu lại trong một phạm vi hẹp,

đó là những thái độ, hành vi tốt đẹp trong giao tiếp, ứng xử giữa cá nhân với người khác, giữa cá nhân với chính mình trong các dạng quan hệ hoạt động xã hội khác nhau

* Theo Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng thì “Đạo đức là một

hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ

đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ với con người, giữa cá nhân và xã hội ” [43]

* Theo quan điểm của GS.TS Phạm Minh Hạc và các cộng sự trong công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước, được trình bày trong tác phẩm “Về sự phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp

hóa, hiện đại hóa”, “Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định,

những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở rộng về đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con người với con người, với công việc, với bản thân kể cả với thiên nhiên và môi trường sống ” [dẫn theo 13, tr 28]

* Dưới góc độ của đạo đức học, đạo đức gắn với hành vi và động cơ hành vi của con người; đạo đức chỉ được xác định dựa trên ý nghĩa “lợi” hay “hại” của hành vi và động cơ của con người Theo quan điểm này thì

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc trưng của xã hội loài người,

nó có tính lịch sử xã hội, bị ước chế, chi phối bởi những điều kiện khách quan của kinh tế xã hội, dân tộc, lịch sử” Đạo đức có ý nghĩa quan trọng

trong sự phát triển nhân cách con người qua các thời kỳ lịch sử [43]

* Theo Từ điển Tiếng Việt, đạo đức theo một cách hiểu tổng quát là

những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, qui định

Trang 35

hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội Và theo

nghĩa hẹp thì đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người do tu

dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có [28]

Trong đời sống hàng ngày, khái niệm đạo đức được sử dụng để đánh giá tình cảm, thái độ, hành vi của mỗi người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử Những người sống theo chuẩn mực xã hội, gương mẫu thì được mọi người yêu quý, kính trọng và được coi là người có đạo đức Như vậy, khái niệm đạo đức ở đây được dùng để nhận xét nhân phẩm của mỗi người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội, thể hiện trong quan hệ giao tiếp ứng xử với mọi người xung quanh và so với bổn phận, trách nhiệm xã hội đòi hỏi

Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, đạo đức hiểu theo nghĩa

rộng là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm một hệ thống những nguyên

tắc, chuẩn mực xã hội được con người nhận biết, lựa chọn, biểu hiện trong hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của mình, của người khác và tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội Hiểu theo nghĩa hẹp, đạo đức là toàn bộ những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giao tiếp và ứng xử với người khác, với cộng đồng

1.2.4.2 Giá trị đạo đức

Xem xét trên bình diện xã hội, giá trị đạo đức được định nghĩa là

những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng và những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa hành vi của con người

Xem xét tính lợi ích, trên bình diện cá nhân, giá trị đạo đức được

định nghĩa là những cái được con người lựa chọn và đánh giá như một

việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương

Giá trị đạo đức được hiểu là những tiêu chuẩn lối sống được con người hay nhóm người thừa nhận và áp dụng trong hệ thống hành vi, thái

Trang 36

độ của mình một cách có ích đối với các mối quan hệ trong đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương [1, tr.18]

Giá trị đạo đức còn được hiểu là những yếu tố phản ánh mối quan hệ của con người với những chuẩn mực làm người, với luân lý, với yêu cầu chuẩn trên bình diện quy chuẩn xã hội Giá trị đạo đức thể hiện rõ sự chi phối của những yếu tố thuộc về đạo đức được nhiều người và gần như là

cả xã hội thừa nhận Đó cũng chính là những thang đo để đánh giá rằng con người có hướng đi phù hợp với những quy chuẩn chung của xã hội, những chuẩn mực về bộ mặt làm người, về giá trị người một cách đích thực Giá trị đạo đức nhấn mạnh đến yếu tố tự giác của con người, khi được chủ thể nhận thức thì giá trị đạo đức trở thành động cơ bên trong để thúc đẩy hành vi của con người

Giá trị đạo đức được xem xét dựa trên những chuẩn mực đạo đức Chuẩn mực đạo đức là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi phối hành vi đạo đức và được chấp nhận bởi xã hội Chúng là hệ thống các phương pháp, cách thức thực hiện những giá trị đạo đức được chấp nhận rộng rãi và có tác dụng điều chỉnh hành vi đạo đức của một cá nhân, nhóm người hay xã hội

Tóm lại, người nghiên cứu đồng ý với quan niệm giá trị đạo đức là ý thức tự giác thực hiện và tuân theo những quy tắc, quy chuẩn xã hội, còn chuẩn mực đạo đức là hệ thống các nguyên tắc, các phương pháp, cách thức thực hiện những giá trị đạo đức

1.2.4.3 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức

Trong cuộc sống, mỗi người với những hoàn cảnh, tính cách, nhu cầu, lý tưởng sống khác nhau và họ cũng lựa chọn các giá trị đạo đức khác nhau Mỗi người có những thang giá trị, những chuẩn mực giá trị của riêng mình, thể hiện trong cách sống, cách đối nhân xử thế với người khác, với xã hội và với chính bản thân mình Như vậy, quá trình mỗi cá nhân lựa chọn các giá trị đạo đức không chỉ dựa trên đặc điểm riêng của

Trang 37

cá nhân đó, mà còn căn cứ trên bình diện nhân cách của chính chủ thể, cũng như dư luận xã hội về giá trị đạo đức đó [12, tr.37]

Định hướng giá trị đạo đức là một hệ thống chuẩn mực đạo đức, những quy định phản ánh mối quan hệ của con người với con người, con người đối với xã hội và tự nhiên nhằm đảm bảo cho con người được tôn trọng, bình đẳng và phát triển theo quy luật phát triển của con người, quy luật phát triển của xã hội và tự nhiên Hệ thống giá trị đạo đức khi được con người nhận thức thì nó trở thành động cơ bên trong của hành vi con người Vì vậy, việc xác định hệ thống giá trị đạo đức, giáo dục, định hướng giá trị đạo đức có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hoàn thiện nhân cách của mỗi người [12, tr.37]

Người nghiên cứu đồng ý với quan niệm “Định hướng giá trị đạo đức là sự nhận thức, đánh giá, lựa chọn các giá trị đạo đức trong quá trình hoạt động của cá nhân, từ đó thúc đẩy, điều chỉnh hành vi, hành động của mình nhằm hình thành tâm lý và phát triển nhân cách”

1.2.5 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp 1.2.5.1 Nghề nghiệp

Có nhiều định nghĩa về nghề nghiệp: theo E.A.Klimov thì “nghề nghiệp là lĩnh vực sử dụng sức lao động, vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có), nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển” [10, tr.16]

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng xác định: “nghề nghiệp là một lĩnh vực mà trong đó con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những cái cần thiết cho xã hội, nhờ đó con người có thể thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và phát triển của mình” [11, tr.68]

Như vậy, nghề nghiệp là một nghề trong xã hội, đó là công việc chuyên môn trong một lĩnh vực hoạt động nhất định, nó đòi hỏi người làm

Trang 38

nghề phải có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo để lao động có hiệu quả Hoạt động nghề nghiệp có mục đích rõ ràng, nó không những mang lại lợi ích cho xã hội mà nhờ đó con người có thể thỏa mãn những nhu cầu cần thiết cho việc tồn tại và phát triển của mình Nghề nghiệp là một phạm trù lịch

sử, nó ra đời và gắn liền với sự phân công lao động xã hội Sự phân công lao động xã hội đó phản ánh, phụ thuộc vào tính chất xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất

Tóm lại, nghề nghiệp là một dạng hoạt động lao động đòi hỏi ở con

người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm chất đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần, đáp ứng được nhu cầu của xã hội và bản thân

1.2.5.2 Giá trị nghề nghiệp

Giá trị nghề chính là những đánh giá của xã hội đối với nghề, khi

nó đáp ứng được yêu cầu và ý nghĩa của xã hội, do đó, ghề nghiệp càng

có giá trị khi nghề nghiệp đó phục vụ tốt cho sự phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, giá trị nghề nghiệp luôn phát triển cùng với sự phát triển của xã hội và khi nó phục vụ cho sự tiến bộ xã hội, đồng thời làm thỏa mãn những mong muốn, nhu cầu tích cực của con người Nói cách khác, giá trị nghề nghiệp chính là sự đánh giá của xã hội đối với nghề nghiệp đó

Mặt khác, theo cách tiếp cận của Mạc Văn Trang, tác giả cho rằng: “Giá trị của nghề là ở tri thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề, thái

độ phục vụ, đó cũng chính là cái làm nên giá trị của hàng hóa sức lao động” [dẫn theo 12, tr.20]

Từ những phân tích trên, giá trị nghề là những gì thật sự có ý nghĩa, đặc biệt là cần thiết, quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp, nó

có giá trị nâng cao hiệu quả chất lượng lao động nghề nghiệp Tuy nhiên,

Trang 39

giá trị nghề không phải là bất biến, nó thay đổi cùng với sự thay đổi của

xã hội và thời đại [12, tr 20]

1.2.5.3 Giá trị đạo đức nghề nghiệp

Xem xét trên bình diện xã hội, giá trị đạo đức nghề nghiệp được định nghĩa là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng và những quy tắc trong nghề nghiệp được người lao động lựa chọn và thực hiện

Giá trị đạo đức nghề nghiệp được hiểu là những tiêu chuẩn đạo đức trong nghề nghiệp được con người hay một nhóm người lựa chọn và đánh giá, từ đó áp dụng trong hệ thống hành vi, thái độ của mình đối với nghề nghiệp mà mình đã chọn

Giá trị đạo đức nghề nghiệp còn được hiểu là những yếu tố phản ánh mối quan hệ của con người đối với những chuẩn mực đạo đức của nghề nghiệp, với những luân lý, yêu cầu của nghề nghiệp Giá trị đạo đức nghề nghiệp thể hiện rõ sự chi phối của những yếu tố thuộc về đạo đức nghề nghiệp được người lao động thừa nhận Đó cũng chính là những thang đo để đánh giá rằng con người có hướng đi phù hợp với những giá trị đạo đức nghề nghiệp không và hoạt động có hiệu quả không

Tóm lại, người nghiên cứu đồng ý với quan niệm giá trị đạo đức nghề nghiệp là sự ý thức tự giác thực hiện, tuân theo những quy tắc, quy định và chuẩn mực đạo đức của nghề nghiệp mà bản thân hay xã hội đã đặt ra cho nghề nghiệp đó

1.2.5.4 Định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp

Định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp của người lao động có vai trò quan trọng đối với định hướng phấn đấu của cá nhân trong lĩnh vực nghề nghiệp Định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp tích cực, phù hợp với lợi ích riêng và lợi ích chung là một trong số những yếu tố thuận lợi giúp người lao động phát triển sự nghiệp của mình và mang lại lợi ích cho

xã hội Ngược lại, định hướng giá trị đạo đức nghề lệch lạc không những làm hạn chế sự phát triển sự nghiệp cá nhân mà cón ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nghề đó và xã hội

Trang 40

Định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp là định hướng của người lao động đến những giá trị đạo đức nhất định trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp Định hướng giá trị đạo đức nghề nghiệp đó là sự phản ánh chủ quan có sự lựa chọn các giá trị đạo đức nghề nghiệp trong ý thức và tâm

lý con người, là quá trình xác định các giá trị đạo đức của cá nhân đối với nghề Trên cơ sở đó hình thành nhận thức, thái độ, tình cảm nghề nghiệp của mình và nâng cao tay nghề cho phù hợp với điều kiện làm việc của mình

1.2.6 Khái niệm định hướng giá trị đạo đức nghề dạy học 1.2.6.1 Nghề dạy học

Nghề dạy học (hay còn gọi là nghề sư phạm, nghề giáo viên) thuộc nhóm nghề người – người trong xã hội, là một lĩnh vực hoạt động lao động trong hệ thống giáo dục quốc dân [12, tr.19] Nghề dạy học là nghề đào tạo ra những con người phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, do đó nghề dạy học là một trong những nghề được xã hội coi trọng và đề cao

Tóm lại, nghề dạy học là một lĩnh vực hoạt động của giáo viên

theo sự phân công của xã hội Trong đó, các giáo viên bằng chính những phẩm chất, năng lực được xã hội thừa nhận để dạy dỗ thế hệ trẻ trở thành công dân có ích cho xã hội [12, tr.19]

1.2.6.2 Giá trị nghề dạy học

Giá trị nghề chính là sự đánh giá của xã hội đối với nghề Một nghề được coi là có ý nghĩa với xã hội, đáp ứng được yêu cầu của xã hội Nghề dạy học luôn tồn tại và có ý nghĩa rất lớn, là một nghề không thể thiếu trong xã hội hiện nay Lịch sử đã chứng minh nếu không có nghề dạy học thì không có những nghề khác, và không có sự phát triển trong xã hội Nghề dạy học cũng được thừa nhận là nghề cao quý trong những nghề cao quý Chính vì thế mà nghề dạy học có nhiều giá trị tốt đẹp được mọi người ca ngợi và tán dương Giá trị của nghề dạy học mang đầy đủ các đặc trưng bản chất của khái niệm giá trị và khái niệm giá trị nghề

Ngày đăng: 01/01/2021, 18:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w