1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) vận dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động để tính giá thành kinh doanh dịch vụ tại tổng công ty bến thành phục vụ ra quyết định quản trị

111 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên để thuận lợi cho quá trình kiểm tra , kiểm soát yếu tố chi phí sản xuất có thể phân loại theo nội dung sau : Nguyên vật liệu và công cụ , dịch vụ mua ngoài , chi phí nhân công

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM -

NGUYỄN VĂN TỲ

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG ĐỂ TÍNH GIÁ THÀNH KINH DOANH DỊCH VỤ KHÁCH SẠN PHỤC VỤ

RA QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Năm 2000

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU Chương I - TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN GIÁ THÀNH

I- Lý luận chung về hệ thống kế toán giá thành ……….Trang 1

1 Sự cần thiết phải có hệ thống kế toán giá thành đối với quản lý …….Trang 1

2 Bản chất của giá thành sản phẩm ……… Trang 1

3 Yêu cầu đối với việc tổ chức hạch toán giá thành ………Trang 4 3.1 Phải đảm bảo yêu cầu kiểm tra , kiểm soát của nhà nước ………….Trang 4 3.2 Đảm bảo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp ……… Trang 5

4 Phương pháp hạch toán giá thành trong chế độ kế toán Việt nam ….Trang 5 4.1Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ……… Trang 5 4.1.1 Phân loại chi phí sản xuất ……….Trang 5 4.1.2 Phân loại giá thành sản phẩm ……….Trang 6

4.2 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng

tính giá thành sản phẩm ……….Trang 7 4.3 Phương pháp phân bổ chi phí ……… Trang 7 4.4 Phương pháp tính giá thành trong chế độ kế toán Việt nam ……….Trang 9 4.4.1 Phương pháp tính giá thành trực tiếp ……… Trang 9 4.4.2 Phương pháp hệ số ……….Trang 9 4.4.3 Phương pháp tỷ lệ ………Trang 9 4.4.4 Phương pháp đơn đặt hàng ……….Trang 9 4.4.5 Phương pháp phân bước ……….Trang10 4.4.6 Phương pháp định mức ……… Trang 10

II- Tổng quan về giá thành trên cơ sở hoạt động ( Activity Based Costing )

1 Sự cần thiết khách quan của phương pháp tính giá thành

trên cơ sở hoạt động ……… Trang10

Trang 3

2 Nội dung của phương pháp kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động ….Trang 11

2.1 Sự khác biệt giữa phương pháp giá thành trên cơ sở hoạt động

với giá thành truyền thống ……….Trang 11 2.2 Nội dung phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động ………….Trang13 2.2.1 Phân tích giá trị theo quy trình sản xuất ……….Trang 13

2.2.2 Nhận diện , ghi nhận chi phí cho từng trung tâm hoạt động

và phân bổ chi phí sản xuất chung ……….Trang 14

2.3 Trình tự hạch toán của phương pháp giá thành trên cơ sở

hoạt động ……….Trang 15

3 Đánh giá về phương pháp kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động Trang 17 3.1 Ưu điểm của phương pháp tính giá thành trêncơ sở hoạt động Trang 17 3.2 Hạn chế của phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt độngTrang 18

4 Điềukiện vận dụng phương pháp giá thành trên cơ sở hoạt động Trang 19 4.1 Môi trường kỹ thuật sản xuất ……… Trang 19 4.2 Môi trường thông tin ……… Trang 19 4.3 Nhận thức và năng lực của nhà quản trị và kế toán viên ……… Trang 20 4.4 Mức độ cạnh tranh ………Trang 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Chương II - THỰC TRẠNG KẾ TOÁN GIÁ THÀNH KINH DOANH

DỊCH VỤ KHÁCH SẠN TẠI TỔNG CÔNG TY BẾN THÀNH

I -Thực trạng kế toán giá thành kinh doanh dịch vụ khách sạn

tại Tổng công ty Bến thành ……… Trang 22

1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ khách sạn

tại tổng công ty Bến thành ……….Trang 22

2 Đặc điểm về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành

Trang 4

tại Tổng công ty Bến thành ………Trang 23

2.1 Đối với hoạt động kinh doanh tour du lịch ………Trang 23 2.2 Đối với hoạt động kinh doanh khách sạn ……… Trang 24

3 Kế toán tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ du lịch , khách sạn Trang 25

3.1 Tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ , khách sạn ………Trang 25 3.2 Tài khoản sử dụng ……… Trang 27 3.3 Trình tự hạch toán ……… Trang 29 3.4 Sổ kế toán chi tiết ………Trang 32 3.5 Sổ kế toán tổng hợp ……… Trang 32

3.6 Phân bổ chi phí sản xuất chung tại Tổng công ty

Bến thành………Trang

4 Tính giá thành kinh doanh dịch vụ và khách sạn tại Tổng

công ty Bến thành ……….Trang 4.1 Tính giá thành kinh doanh tour du lịch ………Trang 4.2 Tính giá thành hoạt động khách sạn……….Trang

II -Nhận xét chung về kế toán giá thành kinh doanh dịch vudu lịch ï,

khách sạn tại Tổng công ty Bến thành ……….Trang

1 Ưu điểm của tính giá thành theo chế độ kế toán hiện hành

tại Tổng công ty Bến thành ………Trang

2 Những hạn chế của tính giá thành theo phương pháp hiện tại … Trang

KẾT LUẬN CHƯƠNG II Chương III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH KHÁCH SẠN TRÊN

CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG PHỤC VỤ QUYẾT ĐỊNH QUẢN TRỊ TẠI TỔNG CÔNG TY BẾN THÀNH

1 Sự cần thiết phải áp dụng phương pháp tính giá thành

trên cơ sở hoạt động tại Tổng công ty Bến thành ………Trang

Trang 5

2 Mục tiêu hoàn thiện của đề tài ………Trang

3 Một số kiến nghị về việc vận dụng phương pháp tính giá thành

trên cơ sở hoạt động ……….Trang 3.1 Xác lập trung tâm hoạt động ………Trang 3.2 Thiết lập hệ thống phương pháp phân bổ chi phí ……….Trang 3.3 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán ……….Trang 3.4 Vận dụng tài khoản kế toán ……… Trang 3.5 Hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm ……… Trang 3.5.1 Tập hợp chi phí sản xuất ……….Trang 3.5.2 Tính giá thành sản phẩm ……… Trang 3.6 Tổ chức hệ thống sổ kế toán ……… Trang 3.7 Tổ chức báo cáo kế toán ……… Trang

KẾT LUẬN CHƯƠNG III

KẾT LUẬN

* Tài liệu tham khảo

* Phụ lục

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

Cung cấp thông tin là chức năng quan trọng của kế toán nhằm phục vụ cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra quyết định kinh doanh Trong hệ thống thông tin , giá thành là một thông tin quan trọng đối với việc chỉ đạo kinh doanh , chính vì vậy cung cấp giá thành nhanh chóng , chính xác là yêu cầu quan trọng Trong hệ thống giá thành sản phẩm, các phương pháp tính giá thành hiện nay nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu của chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển , yêu cầu về cung cấp thông tin giá thành ngày càng đòi hỏi phải kịp thời , chính xác Phương pháp tính giá thành truyền thống đã đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh , nhưng nó có những hạn chế nhất định đó là chưa được chính xác và không kịp thời Để có thể cung cấp thông tin , phục vụ cho việc ra quyết định quản trị phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động (Activity Based Accounting -ABC ) hiện đang được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng nhằm có thể tính giá thành một cách nhanh chóng , đồng thời tính chính xác cao hơn so với phương pháp tính giá thành hiện nay Nhằm mục đích nghiên cứu việc vận dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động vào thực tiễn công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp Việt nam luận văn nghiên cứu sự vận dụng của phương pháp này vào tính giá thành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại Tổng công ty Bến thành Trong giới hạn khuôn khổ của đê tài và để viêc nghiên cứu có trọng tâm nhằm đưa ra những giải pháp hữu hiệu đề tài nghiên cứu hai loại hoạt động kinh doanh tour du kịch và kinh doanh khách sạn tại Tổng công ty Bến thành

Luận văn được thực hiện tập trung vào ba mục tiêu sau:

+ Hệ thống hóa những vấn đề về lý luận kế toán giá thành theo chế độ kế toán hiện hành và kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động

Trang 7

+ Thực trạng về kế toán giá thành kinh doanh dịch vụ du lịch và khách sạn tại Tổng công ty Bến thành

+ Đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động vào việc tính giá thành kinh doanh dịch vụ tour du lịch và khách sạn nhằm phục vụ ra quyết định quản trị

Đối tượng nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng về giá thành trong chế độ kế toán hiện hành và phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động Qua nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện giá thành trên cơ sở hoạt động tại đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch là Tổng công ty Bến thành

Phương pháp nghiên cứu là phép duy vật biện chứng , có quan điểm lịch sử có kết hợp đồng thời các phương pháp khảo sát , phương pháp phân tích , phương pháp so sánh , phương pháp quy nạp , diễn giải và phương pháp hệ thống hóa để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu về lý luận , thực trạng cũng như các giải pháp cụ thể trong việc thực hiện mục tiêu của đề tài

Luận văn tốt nghiệp với đề tài : “ Vận dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động để tính giá thành kinh doanh dịch vụ khách sạn phục vụ

ra quyết định quản trị “ dài 65 trang , 9 bảng biểu và 16 phụ lục , ngoài phần lời mở đầu và kết luận , luận văn có 3 chương :

Chương I - Tổng quan về kế toán giá thành Chương II - Thực trạng về kế toán giá thành kinh doanh dịch vụ , khách sạn

tại Tổng công ty Bến thành

Chương III - Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp tính giá thành

trên cơ sở hoạt động nhằm phục vụ quyết định quản trị tại Tổng công ty Bến thành

Trang 8

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN GIÁ THÀNH

I – Lý luận chung về hệ thống kế toán giá thành

1 Sự cần thiết phải có hệ thống kế toán giá thành đối với quản lý

Hệ thống kế toán giá thành là một hệ thống triển khai thông tin về chi phí sản xuất kinh doanh phục vụ cho các mục tiêu sau của quản lý doanh nghiệp :

• Xác định chi phí sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm

• Cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp những thông tin trong việc đưa ra các quyết định quản lý

• Phục vụ cho việc lập dự toán , kiểm tra chi phí và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Trong các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh dịch vụ hệ thống kế toán giá thành được sử dụng rộng rãi nhằm xác định giá thành sản phẩm và dịch vụ Đối với giá thành sản phẩm thì chi phí sản xuất là yếu tố đầu vào Kế toán giá thành sản phẩm tập hợp chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất và phân bổ các chi phí này cho các sản phẩm đã được sản xuất Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cần phải tính giá thành sản phẩm để có thể đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất , chất lượng điều hành quá trình sản xuất của từng doanh nghiệp Hệ thống kế toán giá thành đối với doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin về giá thành sản phẩm , làm căn cứ cho việc định giá tiêu thụ sản phẩm , đồâng thời còn làm căn cứ xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra kế toán giá thành sản phẩm còn dùng làm căn cứ để xác định trị giá hàng tồn kho của doanh nghiệp là một chỉ tiêu phản ảnh tình hình và hiệu quả của việc sử dụng vốn kinh doanh

2 Bản chất của giá thành sản phẩm

Trang 9

Khi nói đến giá thành sản phẩm có nhiều quan điểm khác nhau :

+ Quan điểm cho rằng giá thành là hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hóa được dùng để sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định Theo quan điểm này giá thành sản phẩm chủ yếu bao gồm hai bộ phận là giá trị tư liệu sản xuất đã hao phí để sản xuất sản phẩm và giá trị lao động mới sáng tạo ra phải trả cho người lao động Quan điểm về giá thành này phổ biến ở nước ta trước đây

+ Quan điểm cho rằng giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bất kể nó nằm ở bộ phận nào trong các bộ phận cấu thành giá trị sản phẩm Theo quan điểm này phải xem xét và giải quyết sự hình thành và phát sinh các chi phí thuộc tổng chi phí bất biến

và chi phí khả biến phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Tổng

chi phí bất biến sẽ giữ nguyên ở mức độ không đổi , nó không bị ảnh hưởng bởi sản lượng sản phẩm sẽ được sản xuất ra là bao nhiêu trong đơn vị thời gian đó Tổng chi phí khả biến là những chi phí sẽ thay đổi với sự tăng giảm của khối lượng sản phẩm sản xuất ra Tổng chi phí bất biến và tổng chi phí khả biến thực chất là tổng chi phí tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm nó tương ứng với mức sản phẩm hoàn thành

+ Quan điểm cho rằng giá thành là biểu hiện mối liên hệ tương quan giữa một bên là chi phí sản xuất và một bên là kết quả đạt được trong từng giai đoạn nhất định Quan điểm này gắn liền yêu cầu đánh giá chất lượng sản phẩm ở từng giai đoạn sản xuất hoặc bộ phận sản xuất mà ở đó có thể xác định lượng chi phí tiêu hao và kết quả sản xuất đạt được Quan điểm này không đi sâu vào phân tích nội dung bên trong cấu thành nên giá thành sản phẩm mà chủ yếu tìm đại lượng tương quan phục vụ cho việc kiểm tra , phân tích , đánh giá hiêu quả hoạt động theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ

Trang 10

Từ các quan điểm như trên có thể thấy bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ Hay nói một cách khác , nó phản ảnh sự kết hợp các yếu tố vật chất đầu vào với những phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm , cùng với những đánh giá của cá nhân nhằm cung cấp thông tin hữu ích về giá thành cho các đối tượng sử dụng

+ Các yếu tố đầu vào : Như chúng ta đã biết giá thành sản phẩm là chỉ tiêu

phản ảnh toàn bộ hao phí trực tiếp và gián tiếp tới quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm , dịch vụ của doanh nghiệp , nó chính là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất , chịu sự tác động của cơ chế quản lý kinh tế và các nhân tố kỹ thuật

Trong điều kiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa trước đây , giá thành sản phẩm theo quy định chỉ tính đến các yếu tố chi phí trực tiếp và gián tiếp với doanh nghiệp còn các yếu tố chi phí nằm trong chính sách kinh tế của Nhà nước không được tính vào giá thành sản phẩm Sở dĩ có tình trạng này là vì cơ chế tiền lương trong nền kinh tế kế hoạch hóa gồm hai bộ phận là lương bằng tiền được hạch toán vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp còn phần lương hiện vật nằm trong chính sách phân phối của Nhà nước nằm ngoài yếu tố chi phí sản xuất nên không được tính vào giá thành sản phẩm Chính vì vậy giá thành sản phẩm trong điều kiện cơ chế kinh tế kế hoạch hóa là giá thành chưa đầy đủ dẫn đến các doanh nghiệp hoạt động nhìn chung đều có lãi nhưng xét ở góc độ ngành hay địa phương hoặc quốc gia có thể không có lãi thậm chí có thể còn bị lỗ Đối với cơ chế kinh tế thị trường giá thành có ý nghĩa hết sức quan trọng không những với từng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa to lớn với Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và điều hành nền kinh tế quốc dân Để có thể đảm bảo việc thu hồi vốn một cách đầy đủ trong điều kiện cơ chế kinh tế thị trường mọi khoản chi phí dù phát sinh ở đâu , dù nhằm mục đích gì , thuộc bộ phận nào trong cơ cấu giá trị sản phẩm cũng là những khoản chi cần được bù đắp để đảm bảo khả năng tái sản xuất Từ đó các doanh

Trang 11

nghiệp phải có trách nhiệm tính đúng , tính đủ các khoản chi phí mà họ đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy xét về tổng thể giá thành sản phẩm chịu sự tác động trực tiếp của cơ chế quản lý ở những giai đoạn khác nhau

Sự tác động của nhân tố khoa học kỹ thuật đến các yếu tố đầu vào Giá thành sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố chi phí sản xuất mà trong đó yếu tố kỹ thuật có vị trí quan trọng Trong điều kiện kỹ thuật công nghệ còn chưa phát triển

ở trình độ cao các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất phụ thuộc vào nguyên vật liệu , nhân công và các chi phí khác ở trình độ thấp nên chi phí sản xuất thông thường là cao Còn khi công nghệ phát triển ở trình độ cao nguyên vật liệu , dịch vụ ở đầu vào của quá trình sản xuất có thể thấp , trình độ nghề nghiệp của người lao động cao và do vậy không những chí phí thấp mà còn tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn làm cho giá thành sản phẩm thấp

+ Các phương pháp hạch toán : Trong hạch toán giá thành việc tập hợp

chi phí sản xuất nhằm mục đích thấy rõ các yếu tố chi phí sản xuất tham gia vào giá thành sản phẩm Việc phân loại chi phí sản xuất cho thấy cấu thành của giá thành sản phẩm làm cho chỉ tiêu giá thành phản ảnh được từng mặt công tác của doanh nghiệp Hiện nay phương pháp hạch toán và tính giá thành sản phẩm đang vận dụng theo các phương pháp khác nhau Mỗi phương pháp thực hiện sẽ có giá thành khác nhau Ví dụ phương pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng khác nhau thì có thể sẽ ảnh hưởng đến chi phí về vật liệu trong sản xuất Aùp dụng phương pháp tính giá xuất kho khác nhau cũng ảnh hưởng tới chi phí và giá thành sản phẩm Aùp dụng phương pháp đánh giá giá trị sản phẩm dở dang cũng như áp dụng phương pháp tính giá thành sản phẩm khác nhau cũng có ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm Về phương pháp hạch toán cũng có ảnh hưởng , ví dụ trong cơ cấu giá thành trong chế độ kế toán trước đây còn có sự tham giá của khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp , nhưng trong chế độ kế toán hiện nay yếu tố chi phí này là chi phí mang tính thời kỳ không nằm trong khoản mục giá thành

Trang 12

+ Những đánh giá của cá nhân đến quá trình tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm : Giá thành sản phẩm được tính toán chính xác , đầy

đủ là tùy thuộc vào :

„ Việc lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm phù hợp với đặc điểm sản xuất sản phẩm và quy trình công nghệ cho từng doanh nghiệp

„ Lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và phương pháp tính giá thành sản phẩm sao cho thích hợp với các điều kiện về công nghệ sản xuất , điều kiện về cơ chế quản lý và hạch toán tại doanh nghiệp

3Yêu cầu đối với việc tổ chức hạch toán giá thành

3.1Phải đảm bảo yêu cầu kiểm tra , kiểm soát của nhà nước

Có thể nói yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhìn chung bao gồm các yếu tố : chi phí về tư liệu lao động , chi phí về đối tượng lao động , chi phí về lao động và các yếu tố chi phí khác bằng tiền Tuy nhiên để thuận lợi cho quá trình kiểm tra , kiểm soát yếu tố chi phí sản xuất có thể phân loại theo nội dung sau : Nguyên vật liệu và công cụ , dịch vụ mua ngoài , chi phí nhân công , hao mòn tài sản cố định , các chi phí khác bằng tiền

Việc phân loại chi phí như vậy nhằm mục đích kiểm tra , kiểm soát của cơ quan Nhà nước đối với các doanh nghiệp nhằm đảm bảo việc tính đúng tính đủ chi phí sản xuất làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm qua đó làm căn cứ xác định hiệu quả hoạt động để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước Các yếu tố chi phí sản xuất như nguyên vật liệu phụ thuộc vào công nghệ sản xuất đồng thời phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm được sản xuất và định mức tiêu hao nguyên vật liệu Từ đó các cơ quan chức năng có thể kiểm tra kiểm soát các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất đồng thời còn kiểm tra việc tiêu thụ sản phẩm thông qua khối lượng sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ Kiểm tra yếu tố chi phí nguyên vật liệu hiện nay còn thuận lợi là việc áp dụng luật thuế giá trị

Trang 13

gia tăng là do các doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các chế độ quy định về chứng từ kế toán ở đầu vào của quá trình sản xuất và đầu ra đầu ra của quá trình tiêu thụ sản phẩm

Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài là do các đơn vị bên ngoài cung cấp cho doanh nghiệp phục vụ trực tiếp và gián tiếp cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như vận chuyển , bảo hiểm , điện , điện thoại , dịch vụ tư vấn pháp lý … Chi phí khấu hao tài sản cố định là yếu tố chi phí sản xuất mà Nhà nước kiểm tra phụ thuộc vào số lượng tài sản doanh nghiệp hiện đang sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh bao gồm tài sản cố định hữu hình , vô hình và tài sản cố định thuê tài chính Việc tính khấu hao tài sản cố định phải chấp hành theo đúng quy định của Nhà nước về thời gian sử dụng tài sản cố định để lấy đó làm căn cứ xác định số khấu hao để tính vào chi phí sản xuất

Yếu tố chi phí về lương và các khoản trích theo lương của công nhân sản xuất cần phải căn cứ vào chính sách tiền lương ở mỗi thời kỳ nhât định , căn cứ vào số lượng lao động , vào hình thức trả lương , vào khối lượng sản phẩm sản xuất Đồng thời còn căn cứ vào chính sách của Nhà nước về khoản trích theo lương như bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế , và kinh phí công đoàn

Các khoản chi phí khác bằng tiền : Là nội dung chi phí trực tiếp phát sinh trong quá trình sản xuất mà cơ quan chức năng kiểm tra kiểm soát thuận lợi bởi theo quy định hiện nay các khoản chi phí phải có chứng từ hợp pháp , hợp lệ thì mới được dùng làm căn cứ tính vào chi phí và được khấu trừ thuế giá trị gia tăng

3.2 Đảm bảo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp giá thành và hạch toán giá thành có ý nghĩa to lớn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với các doanh nghiệp khác nhau việc xác định phương án hạch toán giá thành phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh , quy mô cũng như trình độ nghiệp vụ

Trang 14

chuyên môn về quản lý của từng doanh nghiệp Chính vì vậy việc xác lập phương án hạch toán giá thành phải gắn liền với yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp cần phải xác lập đối tượng tính giá thành để phục vụ cho việc tính giá thành và hạch toán kinh tế nội bộ trong doanh nghiệp Đây là yêu cầu quan trọng đối với các doanh nghiệp nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trường , bởi việc xác định đối tượng tính giá thành và tính đúng , tính đủ các yếu tố chi phí để tính giá thành sản phẩm là việc làm hết sức cần thiết để hạch toán nội bộ trong doanh nghiệp làm căn cứ để các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh

4 Phương pháp hạch toán giá thành trong chế độ kế toán Việt nam

4.1Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

4.1.1 Phân loại chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau cả về nội dung , tính chất công dụng , vai trò của nó trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp , từ đó cần phải có sự phân loại chi phí sản xuất theo tững tiêu thức khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán Có thể phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức sau :

a- Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế ( Phân loại theo yếu tố chi phí )

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm các yếu tố sau : + Chi phí nguyên vật liệu

+ Chi phí nhân công

+ Chi phí khấu hao tài sản cố định

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài

+ Thiệt hại trong sản xuất

+ Chi phí khác bằng tiền

b- Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành

Trang 15

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất gồm ba khoản mục chi phí như sau :

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

+ Chi phí nhân công trực tiếp

+ Chi phí sản xuất chung

Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục giá thành sẽ làm căn cứ cho việc tính giá thành sản phẩm và từ đó làm căn cứ quyết định giá bán sản phẩm , làm căn cứ xác định hàng tồn kho , hiệu quả hoạt động sản xuất

c Phân loại theo phương pháp tính nhập chi phí vào chỉ tiêu giá thành sản phẩm

Toàn bộ chi phí sản xuất có thể được chia thành hai loại : Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

+ Chi phí trực tiếp là những chi phí có thể tính trực tiếp vào chỉ tiêu giá thành của từng loại sản phẩm

+ Chi phí gián tiếp là những chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm khác nhau và được tính vào chỉ tiêu giá thành sản phẩm thông qua phương pháp phân bổ gián tiếp thích hợp

Theo cách phân loại này sẽ thấy được yếu tố trực tiếp tham gia vào việc tạo sản phẩm và thấy được các yếu tố cần thiết trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm nhưng nó là các yếu tố gián tiếp

d- Phân loại theo quan hệ giữa chi phí với khối lượng công việc sản phẩm hoàn thành

Theo cách phân loại này chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành các loại : Biến phí và định phí và chi phí hỗn hợp

* Biến phí là những chi phí có thể thay đổi với số lượng sản phẩm được sản xuất nó tỷ lệ thuận với sự thay đổi của khối lượng công việc hay sản phẩm hoàn thành , ví dụ chi phí vật liệu trong quá trình sản xuất

Trang 16

* Định phí là những chi phí về nguyên tắc không thay đổi theo công việc hay sản phẩm hoàn thành , ví dụ chi phí khấu hao tài sản cố định

* Chi phí hỗn hợp : Là chi phí có cả yếu tố biến phí và định phí , ví dụ chi phí dịch vụ điện thoại , điện năng

Phân loại chi phí theo quan hệ giữa chi phí với khối lượng sản phẩm hoàn thành có ý nghĩa trong việc quản lý chi phí , như đối với biến phí đó là những định mức về tiêu hao nguyên vật liệu , là định mức về sản phẩm phải sản xuất với từng công nhân có trình độ thành thạo nghề nghiệp khác nhau

4.1.2 Phân loại giá thành sản phẩm

Giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp là yếu tố quan trọng để có thể xác định giá bán sản phẩm , để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Theo quy định hiện hành giá thành sản phẩm chỉ bao gồm các chi phí có liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm còn các chi phí khác không liên quan đến sản xuất kinh doanh của doanh nhiệp thì không hạch toán vào giá thành sản phẩm Để có thể quản lý quá trình sản xuất cần thiết phải có sự phân loại giá thành sản phẩm , đó là cần xây dựng kế hoạch sản xuất thì doanh nghiệp cần thiết phải dựa vào giá thành kế hoạch , giá thành định mức , nhưng để làm căn cứ xác định hiệu quả , xác định giá bán thì lại cần phải xác định giá thành thực tế hoặc để làm căn cứ xác định hiệu quả hoạt động cần phải tính giá thành toàn bộ Trong các doanh nghiệp sản xuất hiện nay sử dụng các loại giá thành như sau :

* Giá thành kế hoạch : Là giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh của kỳ kế hoạch và được căn cứ vào các định mức , dự toán chi phí của kỳ kế hoạch hoặc có thể còn căn cứ vào giá thành thực tế của kỳ trước

* Giá thành định mức : Là giá thành được tính trước khi bắt đầu sản xuất kinh doanh và được xây dựng trên cơ sở định mức tại từng thời điểm nhất định

trong kỳ kế hoạch

Trang 17

* Giá thành thực tế : Là giá thành được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm và nó được xác định căn cứ vào chi phí tiêu hao thực tế của nguyên vật liệu , nhân công và các chi phí khác Căn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí , người ta chia giá thành sản phẩm thành hai loại là giá thành sản xuất và

giá thành toàn bộ

+ Giá thành sản xuất : Được tính trên cơ sở các chi phí sản xuất phát sinh

trong phạm vi phân xưởng sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

+ Giá thành toàn bộ : Được tính trên cơ sở toàn bộ chi phí có liên quan

việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Do đó giá thành toàn bộ còn gọi là giá thành đầy đủ và được tính bằng cách lấy giá thành sản xuất cộng với chi phí kinh doanh ( gồm bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp )

4.2 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

Các doanh nghiệp sản xuất có đặc điểm là có quá trình sản xuất sản phẩm từ các loại nguyên vật liệu Từ đó có thể thấy đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là từng phân xưởng sản xuất , từng đơn hàng , từng công đoạn sản xuất hoặc từng nhóm sản phẩm hay từng loại sản phẩm nhất định

Cũng từ đặc điểm sản xuất sản phẩm và yêu cầu của quá trình quản lý đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể là sản phẩm hoàn thành , các bán thành phẩm , chi tiết sản phẩm hoặc sản phẩm quy đổi

4.3 Phương pháp phân bổ chi phí

Chi phí sản xuất phân loại theo khoản mục giá thành gồm ba loại là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Trong đó chi phí sản xuất chung là khoản mục phí có liên quan đến việc chế tạo

ra các sản phẩm trong một phân xưởng , một bộ phận sản xuất do vậy cần phải có

Trang 18

phương pháp tính toán chi phí sản xuất chung cho mỗi loại sản phẩm , đơn đặt hàng …… Các phương pháp áp dụng có thể là

* Phân bổ chi phí sản xuất chung theo sản lượng

Theo phương pháp này sử dụng chỉ tiêu sản lượng sản phẩm sẽ sản xuất làm căn cứ để phân bổ chi phí bằng cách lấy tổng chi phí sản xuất chung chia cho sản lượng sản xuất

Ưu điểm : Phương pháp này tiết kiệm chi phí ở bộ phận văn phòng bởi số lượng sản phẩm hoàn thành là số liệu sẵn có tại các phân xưởng không cần tốn kém chi phí tổng hợp

Nhược điểm : Nếu chi phí sản xuất chung chỉ bao hàm chi phí bất biến thì không thấy mối quan hệ giữa chi phí với sản lượng sản phẩm sản xuất

* Phân bổ chi phí sản xuất chung theo tiền lương công nhân sản xuất

Phương pháp này chi phí sản xuất chung phân bổ cho các loại sản phẩm được sản xuất dựa trên cơ sở tiền lương phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất và được phân bổ bằng cách lấy tổng chi phí sản xuất chung chia cho lương phải trả công nhân sản xuất sau đó nhân với lương phải trả cho công nhân sản xuất sản phẩm mà cần phân bổ

Ưu điểm : Phương pháp này đơn giản , thấy được mối quan hệ giữa chi phí tiền lương của công nhân sản xuất với giá thành sản phẩm

Nhược điểm : Không chính xác trong trường hợp trình độ thành thạo nghề nghiệp của công nhân khác nhau và trong trường hợp sản xuất ở mức độ tự động hóa khác nhau

* Phương pháp phân bổ chi phí theo số giờ máy chạy

Phương pháp này căn cứ vào số giờ máy chạy của các máy công tác trong quá trình sản xuất để phân bổ chi phí sản xuất chung bằng cách lấy tổng chi phí sản xuất chung chia cho tổng số giờ máy chạy sau đó nhân với số giờ máy chạy của loại sản phẩm cần phân bổ

Trang 19

Ưu điểm : Phương pháp này đơn giản , dễ thực hiện , có tính đến hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị

Nhược điểm : Không chính xác trong trường hợp sử dụng các loại máy móc

ở những mức độ hiện đại khác nhau

* Phương pháp phân bổ chi phí theo tỷ lệ nguyên vật liệu

Phương pháp này phải tính tỷ lệ nguyên vật liệu tham gia sản xuất từng loại sản phẩm từ đó làm căn cứ tính chi phí sản xuất chung theo từng loại sản phẩm này theo tỷ lệ đã xác định Tỷ lệ nguyên vật liệu xác định bằng cách lấy nguyên vật liệu cần phân bổ chia cho tổng số vật liệu cần sản xuất và nhân với 100 để tính tỷ lệ

Sau đó dùng tỷ lệ này phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng loại sản phẩm doanh nghiệp sản xuất

Ưu điểm : Phương pháp này đơn giản

Nhược điểm : Chỉ có thể thực hiện với các doanh nghiệp có quy trình sản xuất sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm mang tính đồng bộ cho các loại sản phẩm

4 Phương pháp tính giá thành trong chế độ kế toán Việt nam

Tính giá thành sản phẩm là một nội dung quan trọng trong hệ thống kế toán nhằm làm căn cứ để quyết định giá bán sản phẩm đồng thời còn là căn cứ quan trọng để xác định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với hệ thống kế toán quản trị tính giá thành sản phẩm là yêu cầu quan trọng trong việc ra quyết định kinh doanh Hiện nay việc tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp thông thường áp dụng các phương pháp sau :

4.1 Phương pháp tính giá thành trực tiếp

Phương pháp trực tiếp còn gọi là phương pháp giản đơn và thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có quy trình công nghệ giản đơn , số lượng mặt hàng sản xuất ít , khối lượng sản phẩm không lớn , chu kỳ sản xuất ngắn Về sản phẩm

Trang 20

dở dang thông thường ở các doanh nghiệp này không có hoặc ít , và mức độ tương

đối đồng đều giữa các kỳ sản xuất

4.2 Phương pháp hệ số

Aùp dụng trong doanh nghiệp có quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất phức tạp như khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất cùng với các chi phí khác có thể thu được nhiều loại sản phẩm khác nhau , các doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất ra sản phẩm có tính liên hoàn Tập hợp chi phí sản xuất cho các loại sản phẩm theo quy trình sản xuất , sau đó dùng phương pháp hệ số xác định giá thành từng loại sản phẩm

4.3 Phương pháp tỷ lệ

Trong trường hợp quy trinh sản xuất tương tự nhau , cùng sử dụng một loại nguyên vật liệu nhưng tạo ra nhiều sản phẩm có quy cách khác nhau thì có thể không cần tập hợp chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm mà tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm sau đó dùng phương pháp tỷ lệ xác định giá thành của từng loại sản phẩm trong nhóm sản phẩm đó Việc xác định tỷ lệ cần phải thích hợp có thể là tỷ lệ với giá thành kế hoạch , tỷ lệ với hao phí nguyên vật liệu trực tiếp

Khí áp dụng phương pháp này đầu tiên là dùng phương pháp trực tiếp để xác định giá thành nhóm sản phẩm sau đó dùng phương pháp tỷ lệ xác định giá thành từng loại sản phẩm trong nhóm đó

4.4.4 Phương pháp đơn đặt hàng

Trường hợp doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng theo đơn đặt hàng của người mua với khối lượng không lớn lắm , thời gian hoàn thành không dài , việc sản xuất có thể chấm dứt theo từng đơn đặt hàng thì doanh nghiệp có thể tính giá thành theo từng đơn đặt hàng Khi sản xuất phải tập hợp chi phí sản xuất theo từng đơn đặt hàng , phải quy định mã số cho từng đơn đặt hàng Các chi phí sản xuất ø tập hợp theo từng đơn đặt hàng theo nguyên tắc là các chi phí nguyên vật

Trang 21

liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp hạch toán trực tiếp theo đơn đặt hàng , còn chi phí sản xuất chung được tập hợp theo phân xưởng sản xuất , cuối kỳ chi phí sản xuất chung được phân bổ cho đơn đặt hàng

4.4.5 Phương pháp phân bước (Phương pháp giá thành công đọạn )

Phương pháp này các doanh nghiệp sản xuất chia quá trình sản xuất ra thành từng công đoạn , mỗi công đoạn tính giá thành riêng , cuối kỳ tính giá thành trên cơ sở giá thành từng công đoạn Đặc điểm của phương pháp này : Khi tính giá thành của công đoạn sau phải biết được giá thành công đoạn trước đó Phải theo dõi , tính giá thành của từng công đoạn để chuyển sang giai đoạn sau Tính giá thành sản phẩm được tiến hành theo định kỳ như quy định mà không chờ khi sản phẩm hoàn thành Đối tượng hạch toán chi phí phương pháp này là công đoạn sản xuất

Phương pháp này có hai phương pháp đó là phương pháp kết chuyển tuần tự và phương pháp kết chuyển song song

+ Phương pháp kết chuyển tuần tự : Theo phương pháp này phải tính giá thành ở từng công đoạn Ví dụ phải tính giá thành ở công đoạn đầu ,khi tính giá thành công đoạn thứ hai phải lấy giá thành công đoạn đầu ( coi như chi phí nguyên vật liệu ) cộng với chi phí phát sinh ở giai đoạn hai và cứ thế tuần tự cho đến khi tạo thành phẩm của doanh nghiệp

+ Phương pháp kết chuyển song song :

Theo phương pháp này trong mỗi giai đoạn chỉ tính chi phí của bán thành phẩm trong mỗi giai đoạn Hay nói một cách khác là chi phí sản xuất không di chuyển cho mỗi giai đoạn chế biến mà tính nhập vào giá thành của bán thành phẩm một cách song song Khi tiến hành chỉ cần xác định chi phí bỏ ra ở mỗi giai đoạn , sau đó dùng phương pháp tổng cộng chi phí sẽ tính được giá thành sản phẩm hoàn thành

4.4.6 Phương pháp định mức

Trang 22

Phương pháp này được xây dựng trên cơ sở hệ thống định mức tiêu hao lao động , nguyên vật liệu và dự toán về chi phí sản xuất chung , kế toán xác định giá thành định mức của từng loại sản phẩm Đồng thời hạch toán riêng các thay đổi , các chênh lệch so với định mức phát sinh trong quá trình sản xuất và phân tích

toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ

II – Tổng quan về kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động ( Activity Based Costing - ABC )

1.Sự cần thiết khách quan của phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động

Theo chế độ kế toán hiện hành , tập hợp chi phí sản xuất theo ba khoản mục chi phí là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Trong đó chi phí sản xuất chung là chi phí liên quan đến việc sản xuất các sản phẩm trong cùng một bộ phận , một phân xưởng sản xuất Theo truyền thống khi tính giá thành sản phẩm cần phải phân bổ khoản mục chi phí sản xuất chung cho sản phẩm đã hoàn thành , thường phân bổ theo sản lượng sản phẩm sản xuất , theo số giờ máy chạy , theo lương công nhân sản xuất sản phẩm…… Điều này được xem là hợp lý trong nhiều năm qua với điều kiện một nền sản xuất còn chịu nhiều tác động của yếu tố chi phí nhân công Còn hiện nay và tương lai khi công nghệ sản xuất ngày càng phát triển , khi yếu tố chi phí nhân công ngày càng giảm thiểu do quá trình tự động hóa trong sản xuất ngày càng cao , khi quá trình sản xuất mà chi phí sản xuất chung ngày càng gia tăng và chiếm tỳ trọng cao trong tổng chi phí thì phương pháp phân bổ này không còn phù hợp nữa Đồng thời quy mô các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngày càng lớn theo mô hình các Tổng Công ty , các Xí nghiệp liên hợp , thì việc tính giá thành theo phương pháp truyền thống không còn phù hợp bởi nó không đảm bảo yêu cầu cung cấp thông tin một cách kịp thời cho các nhà quản trị , nhất là trong việc phân bổ

Trang 23

chi phí sản xuất chung không còn phù hợp với yêu cầu quản lý ngày càng nhanh , hiệu quả

2 Nội dung của phương pháp kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động

2.1 Sự khác biệt giữa phương pháp giá thành trên cơ sở hoạt động với giá thành truyền thống

So với phương pháp tính giá thành truyền thống thì ABC không có sự khác biệt trong hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp , mà sự khác biệt tập trung vào việc phân bổ chi phí sản xuất chung

Kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động là hệ thống kế toán giá thành mà theo đó chi phí sản xuất chung được phân bổ dựa trên mức độ hoạt động Hoạt động ở đây được hiểu như là : “ một sự kiện hay nghiệp vụ làm phát sinh chi phí trong một tổ chức “

Sự khác nhau cơ bản giữa ABC với hệ thống kế toán giá thành truyển thống là ở đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chung Thay vì tập hợp chi phí sản xuất chung vào các phân xưởng sản xuất như kế toán giá thành truyền thống thì ABC tập hợp chi phí sản xuất chung theo các trung tâm hoạt động Có thể lấy ví dụ về khoản chi phí về tiền điện phải trả , theo phương pháp kế toán giá thành truyền thống được hạch toán vào chi phí sản xuất chung ở phân xưởng sản xuất Nhưng theo phương pháp ABC phải căn cứ chi phí này phát sinh ở trung tâm hoạt động nào , nếu ở trung tâm bảo trì máy móc thì tập hợp theo trung tâm này , còn nếu phát sinh ở trung tâm hoạt động máy móc thì tập hợp chi phí này ở trung tâm hoạt động máy móc Theo ABC quá trình phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm là quá trình gồm hai giai đoạn như sau :

• Giai đoạn 1 : Xác định những trung tâm hoạt động liên quan đến chi phí sản xuất chung và ghi nhận chi phí sản xuất chung cho mỗi trung tâm hoạt động

Các chi phí sản xuất chung khác nhau nhưng cùng liên quan đến một trung tâm hoạt động thì hợp thành một “ Khu vực chi phí “

Trang 24

• Giai đoạn 2 : Phân bổ chi phí của mỗi khu vực chi phí theo những tiêu thức phù hợp

Như vậy theo phương pháp ABC việc tập hợp chi phí sản xuất chung và phân bổ chi phí phải dựa trên cơ sở là xác định trung tâm hoạt động và phân bổ chi phí của mỗi khu vực theo những tiêu thức nhất định

Mô hình tập hợp và phân bổ chi phí theo ABC mô phỏng như sau

Bảng số 1

Giai đoạn 1 Chi phí sản xuất chung

Tập hợp chi phí SX

chung cho từng Các trung tâm hoạt động

trung tâm hoạt động

hoạt động cho từng đối tượng sử dụng theo các

Giá thành sản phẩm tiêu dùng hoạt động

Như vậy có thể thấy đặc trưng của phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động là ghi nhận và đo lường chi phí của những hoạt động gây ra sự biến động của chi phí , từ đó phân bổ chi phí của các hoạt động cho các sản phẩm , dịch vụ theo mức độ tiêu dùng các hoạt động Có thể mô phỏng mô hình kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động như sau :

Trang 25

Các yếu tố chi phí Các trung tâm Đo lường chi

2.2 Nội dung phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động

Trong hệ thống kế toán giá thành truyền thống chi phí sản xuất được phân thành hai loại là :

Chi phí trực tiếp là những chi phí trực tiếp tham gia vào quá trình chế tạo ra sản phẩm như chi phí vật liệu , chi phí nhân công

Chi phí gián tiếp là những chi phí cần thiết nhưng nó liên quan gián tiếp tới quá trình sản xuất như chi phí lương nhân viên quản lý , chi phí khấu hao tài sản cố định , dịch vụ mua ngoài ……… Những chi phí này trong quá trình sản xuất được áp dụng các phương pháp phân bổ cho các sản phẩm để làm căn cứ tính giá thành sản phẩm

Với phương pháp giá thành trên cơ sở hoat động nó đã cố gắng cao nhất để các chi phí được phân bổ trực tiếp cho các sản phẩm

Phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động được xây dựng theo các bước như sau :

2.2.1 Phân tích giá trị theo quy trình sản xuất : Quy trình là những yếu tố

công việc chính được thực hiện bởi một tổ chức , là những gì mà tổ chức đó phải làm để biến đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm , dịch vụ ở đầu ra Phân tích giá trị theo quy trình là việc phân tích một cách hệ thống các hoạt động cần thiết để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hay một số dịch vụ Phân tích thực hiện theo từng bước trước hết chỉ ra các quy trình ở cấp tổ chức Sau đó các quy

Trang 26

trình này được phân chia nhỏ thành những quy trình chi tiết Bước phân chia cuối cùng sẽ chỉ ra các hoạt động Sự phân tích giá trị chỉ ra những hoạt động đã tạo ra giá trị sảnphẩm , dịch vụ của doanh nghiệp Tập hợp những hoạt động được kết nối với nhau như thế gọi là một chuỗi giá trị nó chỉ ra những hoạt động sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất sản phẩm , những hoạt động như vậy gọi là hoạt động làm tăng giá trị hoặc những hoạt động không làm tăng thêm giá trị Đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm quy trình chế tạo ra sản phẩm mới là hoạt động làm tăng thêm giá trị , còn các bước khác trong quá trình sản xuất như vận chuyển vật liệu , bảo quản vật liệu , kiểm tra chất lượng sản phẩm …….là những hoạt động không làm tăng thêm giá trị dù quá trình này chi phí có phát sinh nhưng không làm tăng thêm giá trị sản phẩm

Sau khi tiến hành quá trình phân tích phân tích giá trị , các hoạt động gắn với sản xuất sản phẩm được thể hiện trong quy trình Một số hoạt độngkhác nhau có liên quan với nhau được gộp thành một trung tâm hoạt động như hoạt động vận chuyển vật liệu , sắp xếp vật liệu , chuẩn bị vật liệu … được gộp vào một trung tâm hoạt động là chuẩn bị nguyên vật liệu Trung tâm hoạt động được hiểu là một bộ phận của quy trình sản xuất mà nhà quản trị muốn báo cáo riêng về chi phí của hoạt động trong đó

Để có thể đảm bảo tính chính xác trong việc phân bổ chi phí có thể sắp xếp các trung tâm hoạt động theo mối quan hệ giữa các hoạt động với sản phẩm và với quá trình sản xuất theo các hoạt động như sau

+ Những hoạt động phát sinh theo đơn vị : Là những hoạt động được thực hiện cho mỗi đơn vị sản phẩm Chi phí cho các hoạt động này tùy thuộc vào sản lượng sản phẩm được sản xuất

+ Những hoạt động phát sinh theo lô , nhóm sản phẩm : Gồm những hoạt động phải được thực hiện cho mỗi lô , nhóm sản phẩm Chi phí của hoạt động này

Trang 27

tùy thuộc vào số lượng lô sản phẩm chứ không phụ thuộc số sản phẩm được sản xuất

+ Những hoạt động nhằm hỗ trợ sản phẩm : Gồm những hoạt động được thực hiện để hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm nào đó của doanh nghiệp chứ không nhất thiết phải thực hiện mỗi khi một đơn vị hay một lô sản phẩm được sản xuất

+ Những hoạt động điều hành chung : Những hoạt động này liên quan đến toàn bộ quá trình sản xuất chứ không chỉ riêng một lô sản phẩm hay một loại sản phẩm riêng biệt nào

2.2.2 Nhận diện , ghi nhận chi phí cho từng trung tâm hoạt động và phân bổ chi phí sản xuất chung

Việc ghi nhận vàphân bổ chi phí sản xuất chung thực hiện theo quy trình : Tập hợp chi phí cho từng trung tâm hoạt động - Ở giai đoạn này toàn bộ chi phí được tập hợp cho mỗi trung tâm hoạt động hợp thành một khu vực chi phí Sau đó chi phí sản xuất chung được phân bổ cho các đối tượng tiêu dùng hoạt động theo một tiêu thức hợp lý Để có thể đạt được độ chính xác cao cần xác định nguyên nhân gây ra chi phí của từng trung tâm để từ đó làm căn cứ cho việc phân bổ chi phí Một nguyên nhân gây ra chi phí được coi là một sự kiện hoặc hoạt động làm phát sinh chi phí Từ đó lấy nó làm căn cứ phân bổ chi phí theo công thức phân bổ phí như sau :

Tỷ lệ phân bổ Tổng chi phí cuả trung tâm hoạt động chi phí của trung tâm =

hoạt động Tổng số đơn vị nguyên nhân gây ra chi phí Từ đó tính mức phân bổ chi phí của một trung tâm cho sản phẩm theo công thức sau :

Trang 28

Mức phân bổ chi phí Tỷ lệ Số đơn vị nguyên nhân gây ra của một trung tâm = phân bổ x chi phí được tiêu dùng

cho sản phẩm chi phí cho sản phẩm

Chi phí của mỗi trung tâm hoạt động còn có thể phân tích thành biến phí và định phí Khi đó cần xác định tỷ lệ phân bổ chi phí của mỗi trung tâm theo biến phí và định phí

2.3 Trình tự hạch toán cuả hệ thống kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động (qua phương pháp tài khoản kế toán )

Nhìn chung trình tự hạch toán của kế toán trên cơ sở hoạt động so với phương pháp kế toán giá thành truyền thống về cơ bản không có gì khác biệt Nó chỉ có điểm khác đó là việc tập hợp chi phí sản xuất chung theo kế toán trên cơ sở hoạt động cần phải mở chi tiết đối với tài khoản này để tập hợp chi phí và phân bổ chi phí theo từng trung tâm hoạt động Như vậy so với kế toán giá thành truyền thống việc tập hợp chi phí và phân bổ chi phí chung sẽ chi tiết hơn theo từng hoạt động Phân bổ chi phí sản xuất chung theo ABC cho các sản phẩm được thực hiện bằng cách lựa chọn các tiêu thức phân bổ ø gắn liền đến việc thực hiện các hoạt động theo yêu cầu của các sản phẩm

( Xem sơ đồ trình tự hạch toán phụ lục số 1 )

3 Đánh giá về phương pháp kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động

3.1 Ưu điểm của phương pháp giá thành trên cơ sở hoạt động

3.1.1 Tính giá thành trên cơ sở hoạt động làm tăng tính chính xác của giá

thành sản phẩm

Theo phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động chi phí sản xuất chung được tập hợp cho từng loại hoạt động mà không tập hợp theo từng phân

xưởng hay từng bộ phận sản xuất Việc phân bổ chi phí sản xuất chung không

theo tiêu thức nhất định như phương pháp giá thành truyền thống mà theo mức độ

hoạt động gây ra chi phí

Trang 29

Phương pháp giá thành trên cơ sở hoạt động làm thay đổi về nhận thức đối với các nhà quản trị doanh nghiệp về chi phí như một số loại chi phí theo phương pháp truyền thống được coi là chi phí gián tiếp thì nay được gắn với những hoạt động cụ thể và như vậy chúng được ghi nhận cho từng loại sản phẩm riêng

biệt từ đó được coi là những chi phí trực tiếp

3.1.2 Tính giá thành trên cơ sở hoạt động làm hoàn thiện hệ thống kế

toán giá thành sản phẩm

Tính giá thành trên cơ sở hoạt động có thể nói là một hệ thống quản trị chi phí Sở dĩ nói như vậy bởi hệ thống kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động quản lý chi phí theo từng hoạt động để từ đó làm căn cứ phân bổ chi phí và tính giá thành được chính xác Nếu kế toán tài chính tập trung vào việc báo cáo chi phí , phản ảnh chi phí đã xảy ra ở thời điểm quá khứ thì kế toán quản trị hướng đến tương lai đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất kinh doanh , kiểm soát chi phí và có tác dụng hạn chế chi phí không hữu ích Việc kiểm soát chi phí đồng nghĩa với việc đảm bảo chi phí ở mức độ hợp lý có thể chấp nhận được Khi hệ thống kế toán giá thành cung cấp các thông tin chính xác và kịp thời về chi phí trên một đơn vị sản phẩm , nhà quản trị sẽ có khả năng xử lý một cách nhanh chóng nếu như chi phí tăng cao đến mức không thể chấp nhận được Bằng phương pháp so sánh giữa giá thành thực tế với giá thành kế hoạch , giá thành dự toán với giá thành của các kỳ trước các nhà quản trị có thể xác định những khâu cần chấn chỉnh và ra các biện pháp phù hợp Tính giá thành trên cơ sở hoạt động giúp cho việc kiểm soát chi phí tốt hơn Nhà quản trị có thể nhận ra rằng cáchtốt nhất để kiểm soát chi phí trước hết là kiểm soát các hoạt động gây ra

chi phí

3.1.3 Tính giá thành trên cơ sở hoạt động hỗ trợ cho việc ra quyết định

kinh doanh

Trang 30

Việc áp dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động là việc tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động và nó góp phần vào phục vụ quyết định kinh doanh của các nhà quản trị Đó là việc định giá tiêu thụ sản phẩm định giá sản phẩm chuyển giao nội bộ , là việc tiếp tục nên sản xuất hay loại bỏ kinh doanh

một loại sản , nên sản xuất sản phẩm ở mức độ bao nhiêu thì có hiệu quả nhất …

3.1.4 Tính giá thành trên cơ sở hoạt động góp phần hỗ trợ cho phân tích

kinh tế trong doanh nghiệp

Kế toán giá thành truyền thống ghi nhận tất cả các chi phí phục vụ sản xuất , kiểm tra chất lượng , chuẩn bị nguyên vật liệu …… và coi như là các yếu tố chi phí cố định Tuy nhiên phân tích giá thành trên cơ sở hoạt động đã cho thấy tuy những chi phí này hầu như là bất biến trong mối tương quan với số lượng sản phẩm nhưng lại biến động trong tương quan với các nguyên nhân gây ra chi phí Trong phân tích hoạt động doanh nghiệp , việc phân tích mối quan hệ giữa chi phí , sản lượng , lợi nhuận luôn phải xem xét đến các yếu tố trình độ công nghệ , kỹ thuật sản xuất và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh Từ việc nắm đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất , biết sản lượng sản phẩm sản xuất , biết các chi phí cần thiết phải bỏ ra để phục vụ kinh doanh nếu trong điều kiện như nhau có thể thấy được sản xuất loại sản phẩm nào thì hiệu quả loại nào ít hiệu quả Muốn vậy việc tính giá thành dưạ trên cơ sở hoạt động sẽ đảm bảo phân tích được sâu sắc và cụ thể hơn , giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn về giá thành một

cách thực chất hơn

3.2 Hạn chế của phương pháp kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động

Mặc dù tính giá thành trên cơ sở hoạt động có những ưu điểm như đã phân tích trên nhưng vẫn tồn tại những hạn chế nhất định , đó là :

3.2.1Vẫn tồn tại phương thức phân bổ chi phí sản xuất

Việc phân bổ chi phí sản xuất vốn là hạn chế của phương pháp tính giá thành bởi nó hạn chế độ chính xác của việc tính giá thành sản phẩm , với việc tính

Trang 31

giá thành trên cơ sở hoạt động dù một số chi phí sản xuất chung được ghi nhận trực tiếp cho sản phẩm thông qua việc sử dụng các trung tâm hoạt động nhưng vẫn còn một phần chi phí liên quan đến hoạt động điều hành chung phải phân bổ cho sản phẩm theo tiêu thức nhất định

3.2.2 Aùp dụng tính giá thành trên cơ sở hoạt động phải duy trì hệ thống chi phí tốn kém

Một trong những vấn đề nổi rõ khi áp dụng tính giá thành trên cơ sở hoạt động là phải thiết lập hệ thống thông tin , cung cấp kịp thời cho việc tính giá thành Và như vậy yếu tố chi phí của quá trình quản lý lại tăng lên nhưng xét về mặt hiệu quả thì hiện nay vẫn còn ở trong một mức độ nhất định Khi xem xét các yếu tố chi phí bao giờ cũng cần phải đặt trong điều kiện hiệu quả của các chi phí đó là

gì Việc thiết lập hệ thống kế toán giá thành trên cơ sở hoạt động đòi hỏi phải có những nhân viên kế toán không những thành thạo về nghiệp vụ kế toán mà còn phải tinh thông cả về kỹ thuật và quy trình công nghệ sản xuất Và như vậy phải hình thành một trung tâm chi phí , từ đó lại làm cho chi phí quản lý tăng thêm

3.2.3 Đòi hỏi về các nguyên tắc hạch toán của doanh nghiệp phải có những thay đổi cho phù hợp với yêu cầu quản trị của tính giá thành trên cơ sở hoạt động Về nguyên tắc hạch toán vẫn phải tôn trọng các quy định của chế độ do nhà nước ban hành , tuy nhiên để có thể đáp ứng được yêu cầu của hạch toán giá thành trên cơ sở hoạt động cần thiết phải đưa ra những quy định như việc chi tiết hóa các khoản chi phí thì gắn liền với nó phải có các sổ kế toán , các tài khoản kế toán chi tiết theo từng trung tâm hoạt động cho phù hợp

4 Điều kiện vận dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động Thực chất tính giá thành trên cơ sở hoạt động không phải là vấn đề quá mới và khác biệt hoàn toàn với phương pháp giá thành truyền thống mà nó là hệ thống giá thành mang tính chất tinh vi , sâu sát hơn , chính xác hơn trong việc tính giá thành Tuy nhiên vì đây là vấn đề còn mới hơn nữa nó phục vụ cho yêu cầu quản

Trang 32

trị rất lớn do vậy áp dụng tính giá thành trên cơ sở hoạt động cần phải xem xét đến một số vấn đề đó là :

4.1 Môi trường kỹ thuật của sản xuất

Đối với quá trình sản xuất trong điều kiện kỹ thuật cao , hiện đại các yếu tố chi phí sản xuất chung ngày càng tham gia nhiều vào cơ cấu giá thành thì việc vận dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động càng có ý nghĩa Trong điều kiện sản xuất mà yếu tố chi phí nhân công còn chiếm tỷ trọng cao , các yếu tố khoa học công nghệ còn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu giá thành thì phương pháp này chưa phù hợp Chính vì vậy hiện nay phương pháp này mới chỉ được áp dụng ở các nước có nền kinh tế phát triển , ơ những quốc gia có một trình độ công nghệ cao Quy trình sản xuất có thể phức tạp , nhưng tựu trung lại là có chung môi trường sản xuất và có cơ sở để tính toán các chi phí chung cho từng đối tượng sản phẩm

4.2 Môi trường thông tin

Vì yêu cầu của tính giá thành trên cơ sở hoạt động là nhằm phục vụ cho các quyết định quản trị do vậy một trong những vấn đề hết sức cần thiết là phải có môi trường thông tin phù hợp , hữu hiệu Có thể cung cấp ngay thông tin một cách chính xác kịp thời cho các nhà quản trị doanh nghiệp Muốn vậy cần phải tạo một môi trường thông tin của doanh nghiệp , của các đối tượngcó liên quan để có thể cung cấp thông tin một cách kịp thời nhất

4.3 Nhận thức và năng lực của nhà quản trị cũng như các kế toán viên

Đối với các nhà quản trị việc tiếp nhận thông tin để có thể có những quyết định là yêu cầu hết sức khách quan Điều này bản thân các kế toán viên là những người cung cấp thông tin , thu thập thông tin cần phải có nhận thức đúng đắn về vai trò thông tin trong quá trình quản trị Những kế toán viên phải có năng lực trong việc tổ chức thông tin , ghi nhận , xử lý thông tin và cung cấp thông tin một cách kịp thời

Trang 33

4.4 Mức độ cạnh tranh

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các tổ chức kinh tế , giữa các doanh nghiệp các doanh nghiệp cần phải thấy đó chính là điều kiện bắt buộc để họ phải có sự vươn lên trong việc tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh Tính giá thành đảm bảo ngày càng chính xác đó chính là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp có thể đánh giá mình khách quan hơn , đúng đắn hơn Muốn vậy cần phải thiết lập hệ thống kế toán giá thành phù hợp với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giúp cho nhà quản trị thấy rõ giá thành của từng hoạt động , của từng loại sản phẩm họ đã sản xuất ra

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trang 34

Tính giá thành sản phẩm là yêu cầu tất yếu khách quan đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp thông tin cho việc định giá tiêu thụ sản phẩm , xác định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như xác định trị giá hàng tồn kho của doanh nghiệp Theo chế độ kế toán Việt nam hiện nay áp dụng phương pháp giá thành trên cơ sở tập hợp chi phí và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các loại sản phẩm theo các tiêu thức như tiền lương công nhân sản xuất , số giờ máy chạy … Sau đó dựa vào các phương pháp tính trị giá sản phẩm dở dang và phương pháp tính giá thành để tính giá thành cho từng loại sản phẩm Phương pháp tính giá thành như hiện nay bộc lộ những thiếu sót nhất định như không kịp thời cung cấp thông tin cho các nhà quản trị , cùng với việc phân bổ chi phí chỉ theo một số tiêu thức nhất định nên giá thành thiếu chính xác Để có thể khắc phục thiếu sót này của phương pháp giá thành truyền thống hiện nay nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động Luận văn đã tiến hành hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến hệ thống kế toán giá thành nói chung và đặc biệt là trình bày một cách có hệ thống về cơ sở lý luận của phương pháp tính giá thành trên cơ sở hoạt động , qua đó cho thấy phương pháp này sẽ khắc phục được một số thiếu sót của phương pháp giá thành truyền thống là cung cấp thông tin kịp thời , phương pháp phân bổ chi phí linh hoạt và đảm bảo tính chính xác cao hơn Tuy nhiên đây là phương pháp mới được nghiên cứu và vận dụng nên cũng vẫn còn có một số hạn chế nhất định như vẫn phải áp dụng phương pháp phân bổ chi phí Dù phương pháp phân bổ chi phí theo mức độ hoạt động có chính xác hơn nhưng nó lại đòi hỏi phải có sự đầu tư nghiên cứu , thiết lập hệ thống giá thành nhằm kịp thời cung cấp thông tin về chi phí và giá thành cho các nhà quản trị doanh nghiệp

Trang 35

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN GIÁ THÀNH

KINH DOANH DỊCH VỤ KHÁCH SẠN TẠI TỔNG CTY BẾN THÀNH

I – Thực trạng kế toán giá thành kinh doanh dịch vụ hướng dẫn du lịch và khách sạn tại Tổng Công ty bến thành

1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ tại Tổng Công ty bến thành

Tổng Công ty Bến thành là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập dựa trên cơ sở các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận I do Uûy ban Nhân dân quận I quản lý Về chức năng nhiệm vụ của Tổng công ty là sản xuất kinh doanh trên các lĩnh vực thương mại , xuất nhập khẩu , kinh doanh dịch vụ du lịch , khách sạn Tại Tổng Công ty Bến thành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch khách sạn ……… bao gồm các hoạt động : Kinh doanh nhà hàng , kinh doanh khách sạn , kinh doanh các tour du lịch , kinh doanh vũ trường và các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của ngươi du lịch nhất là đối tượng khách nước ngoài Tại Tổng công ty Bến thành hệ thống các khách sạn được phân cấp quản lý cho các đơn vị trưc thuộc như Công ty du lịch Bến thành , các đơn vị trực tiếp kinh doanh như khách sạn Hoàng gia , Viễn đông ……

Hoạt động dịch vụ du lịch tại Tổng công ty Bến thành bao gồm :

• Hoạt động kinh doanh khách sạn : Đây là hoạt động cho thuê phòng ngủ với các yêu cầu về trang thiết bị hiện đại nhằm tạo sự thoải mái cho nhu cầu của khách du lịch là các thương nhân , các khách du lịch là người nước ngoài và khách

du lịch là người Việt nam và các đối tượng khác

• Hoạt động về hướng dẫndu lịch ( tour du lịch ) : Là hoạt động nhằm đưa khách du lịch tham quan các danh lam thắng cảnh , khu du lịch , các di tích văn hóa

Trang 36

, lịch sử của thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong cả nước nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu long , giới thiệu với khách du lịch về truyền thống văn hóa dân tộc Việt nam , về đất nước con người Việt nam

• Hoạt động về kinh doanh nhà hàng : Là hoạt động chế biến các sản phẩm ăn uống nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng đa dạng về các món ăn đồ uống cho khách du lịch , đặc biệt các món ăn , đồ uống của người Việt nam nhằm giới thiệu văn hóa ẩm thực Việt nam với khách nước ngoài Đồng thời còn phải nắm vững các nguyên tắc về chế biến và phục vụ theo yêu cầu của khách nước ngoài theo phong tục tập quán về ăn uống của các nước mà du khách yêu cầu

• Các dịch vụ khác như visa , vũ trường …….… là những hoạt động luôn đi đôi với hoạt động kinh doanh du lịch nhằm tạo sự thoải mái , thuận lợi cho khách hàng trong thời gian họ ở tại các khách sạn Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng mạnh của kinh tế thị trường nhất là có sự tham gia cạnh tranh của các nhà kinh doanh nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt nam theo luật đầu tư nước ngoài thì việc tạo sự thoải mái thuận lợi , tin tưởng cho khách hàng , đặc biệt với khách nước ngoài họ còn chưa hiểu nhiều về nước ta là yêu cầu đặt ra rất cao nhằm chiếm lĩnh thị trường và tạo thế làm ăn ổn định lâu dài Chính vì vậy các hoạt động phục vụ cho nhu cầu của khách du lịch phải là một chiến lược kinh doanh của Tổng công ty

Trong giới hạn khuôn khổ của đề tài và để việc nghiên cứu có trọng tâm nhằm đưa ra những giải pháp hữu ích , có tính khả thi nên đề tài chỉ đi vào nghiên cứu hai loại hoạt động của kinh doanh dịch vụ đó là hoạt động kinh doanh khách sạn và hoạt động kinh doanh tour du lịch Đây cũng là hai hoạt động mang tính đặc trưng của hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch , nó không những đáp ứng yêu cầu về nghỉ ngơi của khách du lịch mà còn tạo điều kiện cho họ có nhiều điều kiện hiểu biết hơn về đời sống văn hóa , các giá trị tinh thần của con người Việt nam

Trang 37

2 Đặc điểm về hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Tổng Cty Bến thành

Tổng công ty Bến thành là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại , xuất nhập khẩu , sản xuất hàng tiêu dùng và kinh doanh dịch vụ du lịch việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ theo hệ thống kế toán Việt nam quy định cho các doanh nghiệp Đó là các chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ du lịch được tập hợp theo ba khoản mục chi phí là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Với việc tập hợp chi phí theo khoản mục phí như vậy sẽ giúp cho công ty tính giá thành sản phẩm dịch vụ từ đó làm căn cứ để định giá tiêu thụ sản phẩm dịch vụ , làm căn cứ để xác định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

2.1 Đối với hoạt động kinh doanh tour du lịch

Đối với hoạt động tour du lịch là hoạt động đưa khách du lịch tham quan các khu du lịch , các danh lam thắng cảnh , các di tích văn hóa… … do đặc điểm hoạt động trên địa bàn rộng với các nhiều chi phí khác nhau do vậy việc hạch toán chi phí hoạt động kinh doanh này dựa trên cơ sở các chi phí của tour du lịch như chi phí vận chuyển du lịch , chi phí về dịch vụ trên đường du lịch , chi phí liên quan đến điều hành du lịch…….đó là các yếu tố đầu vào của hoạt động để làm căn cứ

tính giá thành và xác định hiệu quả hoạt động kinh doanh

* Phân loại chi phí sản xuất của hoạt động tour du lịch tại Tổng công ty

Bến thành như sau :

Chi phí về nguyên vật liệu : Là những chi phí về vật liệu trực tiếp tham gia vào hoạt động tour du lịch , bởi đây là những hao phí vật chất thực tế tham gia

vào việc tạo nên giá trị của các tour du lịch

Chi phí nhân công trực tiếp : Là những chi phí về nhân công trực tiếp tham gia vào các tour du lịch , bao gồm chi phí về tiền lương , các khoản trích theo tiền

lương của nhân viên thực hiện các tour du lịch

Trang 38

Chi phí sản xuất chung : Là những chi phí liên quan đến hoạt động tour du lịch như chi phí tiếp nhận khách hàng , chi phí khấu hao phương tiện vận chuyển ,

chi phí tuyên truyền quảng cáo …………

* Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm tour du

lịch

Đối tượng tập hợp chi phí tour du lịch là các tour du lịch Các tour ở đây được xác định theo từng loại tour như tour du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh , tour

du lịch tại Vũng tàu , tour du lịch tại Hà nội ……

Đối tượng tính giá thành với tour du lịch là tour du lịch đã được thực hiện

* Phương pháp tập hợp chi phí , phân bổ chi phí và phương pháp tính giá

thành :

Tại Tổng công ty Bến thành việc tập hợp chi phí kinh doanh tour du lịch thực hiện theo các đối tượng chi phí là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp cho từng tour du lịch Riêng với chi phí sản xuất chung thì tập hợp theo cả đơn vị sau đó áp dụng các phương pháp phân bổ để phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng hoạt động như tour du lịch , khách sạn , nhà hàng ………Đối với tour du lịch do đặc điểm hoạt động nên chi phí lại phân bổ theo từng loại du lịch mà hiện nay Tổng công ty đang áp dụng phương pháp hệ số cho từng loại tour

du lịch , tùy theo mức độ hoạt động như quãng đường của tour du lịch , số ngày của tour du lịch ………Phương pháp tính giá thành đối vơi tour du lịch hiện nay Tổng công ty Bến Thành áp dụng phương pháp trực tiếp đồng thời có vận dụng việc xây dựng các hệ số đối với từng lại tour du lịch Dựa vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp cho các tour du lịch , chi phí sản xuất chung được phân bổ cho hoạt động tour du lịch , từ đó căn cứ vào hệ số đối với từng loại tour du lịch , xác định hệ số phân bổ làm căn cứ tính giá thành cho

từng loại tour du lịch

2.2 Đối với hoạt động kinh doanh khách sạn

Trang 39

Đối với hoạt động kinh doanh khách sạn là hoạt động mà yếu tố chi phí đầu vào là chi phí khấu hao tài sản cố định chiếm một tỷ trọng lớn do vậy cần phải quan tâm tới việc sử dụng , quản lý các loại tài sản cố định Đồng thời hoạt động kinh doanh khách sạn cũng liên quan rất lớn tới yếu tố chi phí công cụ , dụng cụ do vậy xét về yếu tố quản lý cần phải có những biện pháp nhằm định mưc hợp lý việc sử dụng công cụ nhằm vừa tạo sự thoải mái với khách hàng nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu hiệu quả kinh tế

* Phân loại chi phí sản xuất của hoạt động kinh doanh khách sạn tại Tổng

công ty Bến thành như sau :

Chi phí về nguyên vật liệu : Là những chi phí về vật liệu trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh khách sạn , bởi đây là những hao phí vật chất thực

tế tham gia vào việc tạo nên giá trị của hoạt động kinh doanh khách sạn

Chi phí nhân công trực tiếp : Là những chi phí về nhân công trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh khách sạn , bao gồm chi phí về tiền lương các khoản

trích theo tiền lương của nhân viên ở bộ phận kinh doanh khách sạn

Chi phí sản xuất chung : Là những chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh khách sạn như chi phí tiếp nhận khách hàng , chi phí khấu hao tài sản cố

định , chi phí tuyên truyền quảng cáo …………

* Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm kinh

doanh khách sạn

Đối tượng tập hợp chi phí kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh phòng ngủ tại khách sạn Để đảm bảo tính giá thành được chính xác tại Tổng công ty phân loại phòng ngủ theo những tiêu thức khác nhau như diện tích , trang

thiết bị …… và chia thành các phong loại 1 , phòng loại 2 , phòng loại 3 ………

Đối tượng tính giá thành với kinh doanh khách sạn là theo từng loại phòng

ngủ của khách sạn đã được cho thuê

Trang 40

* Phương pháp tập hợp chi phí , phân bổ chi phí và phương pháp tính giá

thành :

Tại Tổng công ty Bến thành việc tập hợp chi phí kinh doanh khách sạn thực hiện theo các đối tượng chi phí là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp cho từng loại phòng ngủ cho thuê Riêng với chi phí sản xuất chung thì tập hợp theo cả đơn vị sau đó áp dụng các phương pháp phân bổ để phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng hoạt động như tour du lịch , khách sạn , nhà hàng ………Đối với kinh doanh khách sạn do đặc điểm hoạt động là kinh doanh phòng ngủ , hoạt động này liên quan rất nhiều đến chi phí khấu hao tài sản cố định nên chi phí chung lại phân bổ theo từng loại phòng , hiện nay Tổng công ty đang áp dụng phương pháp hệ số cho từng loại phòng , tùy theo diện tích kinh doanh của từng loại phòng , tuỳ theo mức độ trang thiết bị cho từng loại phòng , tùy theo vị trí từng loại phòng ………Hiện nay tại tổng công ty Bến Thành áp dụng phương pháp tính giá thành kinh doanh khách sạn theo phương pháp trực tiếp có vận dụng việc xây dựng các hệ số đối với từng loại phòng ngủ Dựa vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp cho các phòng ngủ , chi phí sản xuất chung được phân bổ cho hoạt động kinh doanh khách sạn , từ đó căn cứ vào hệ số đối với từng loại phòng ngủ , xác định hệ số phân bổ làm căn cứ tính giá

thành cho từng loại phòng ngủ

3.Kế toán tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ du lịch và khách sạn

3.1 Chi phí kinh doanh tour du lịch và khách sạn

Xuất phát từ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh về dịch vụ du lịch và khách sạn nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là theo từng loại hoạt động như hoạt động khách sạn , tour du lịch , nhà hàng , vũ trường …… Tại Tổng công ty Bến thành tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ theo ba khoản mục chi phí đó là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp , chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

• Đối với hoạt động kinh doanh khách sạn

Ngày đăng: 01/01/2021, 16:54

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w