1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nội dung và phương pháp kế hoạch hóa TP HCM

89 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 747,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đơn vị cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh... Tro

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM -

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH HOÁ Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM 7

1.1.KINHNGHIỆMKẾHOẠCHHOÁỞMỘTSỐNƯỚC: 7

1.1.1 Kế hoạch hoá tại Nhật Bản 7

1.1.2 Kế hoạch hoá tại Hàn Quốc 10

1.1.3 Kế hoạch hoá ở Malaysia 11

1.1.4 Kế hoạch hoá ở Trung quốc 12

1.1.5 Một số nhận xét chung về kế hoạch của các nước 14

1.2.TỔNGQUANQUÁTRÌNHĐỔIMỚICƠCHẾQUẢNLÝKINHTẾỞVIỆT NAMTRONGTHỜIGIANGẦNĐÂY 15

1.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý quản lý: 15

1.2.2 Nhận xét tổng quát về đổi mới cơ chế quản lý: 19

1.2.3 Kết quả đạt được trong quá trình đổi mới: 21

1.3.QUÁTRÌNHVẬNDỤNGVÀĐỔIMỚIQUẢNLÝKINHTẾỞTHÀNH PHỐHỒCHÍMINH 25

1.3.1 Quan điểm đổi mới qua các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố (từ 1990 – đến nay) 25

1.3.2 Vận dụng cơ chế quản lý mới ở Thành phố Hồ Chí Minh 27

1.3.3 Các kết quả đạt được về mặt kinh tế – xã hội: 29

Giai đoạn 30

1.3.4 Những khó khăn và yếu kém : 35

Trang 3

CHƯƠNG 2

TÌNH HÌNH ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ Ở THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN QUA 39

2.1.XÂYDỰNGVÀQUẢNLÝKẾHOẠCHTHEOTHỜIGIAN 39

2.1.1 Quy hoạch phát triển 39

2.1.2 Kế hoạch 5 năm về phát triển 42

2.1.3 Kế hoạch kinh tế – xã hội hàng năm 44

2.2.HỆTHỐNGKẾHOẠCHTHEONGÀNHVÀLĨNHVỰC 45

2.3.XÂYDỰNGVÀQUẢNLÝCÁCCÂNĐỐILỚNCHỦYẾU 46

2.3.1 Cân đối vốn đầu tư phát triển 46

2.3.2 Ngân sách 47

2.4.QUYTRÌNHKẾHOẠCH 48

2.4.1 Những ưu điểm trong việc đổi mới quy trình kế hoạch hoá 48

2.4.2 Những hạn chế trong qui trình kế hoạch hoá: 49

2.5.NHẬNXÉTCHUNGVỀCÔNGTÁCKẾHOẠCHHOÁỞTHÀNHPHỐHỒ CHÍMINHTRONGTHỜIGIANQUA 49

2.5.1 Thành tựu đạt được của công tác kế hoạch hoá trong thời gian qua 49

2.5.2 Những hạn chế đang tập trung khắc phục 52

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN KẾ HOẠCH HOÁ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 58

3.1-MỘTSỐQUANĐIỂMCHOVIỆCĐỔIMỚICÔNGTÁCKẾHOẠCHHOÁ TRONGTHỜIGIANTỚI 58

3.1.1 Nội dung và phương hướng ưu tiên trong các kế hoạch phải bảo đảm nguyên tắc định hướng XHCN 59

3.1.2.Nội dung của kế hoạch phải cụ thể các mục tiêu ưu tiên và chương trình trọng điểm để phối hợp trong chính sách và điều hành 59

Trang 4

3.1.3 Việc phân cấp kế hoạch giữa Trung ương và địa phương: 61

3.2.NỘIDUNG,TRÌNHTỰXÂYDỰNGKẾHOẠCH5NĂM 62

3.2.1 Cơ sở của kế hoạch định hướng (5 năm) 62

3.2.2 Tổ chức xây dựng kế hoạch: (phối hợp giữa các cơ quan quản lý trong xây dựng kế hoạch) 63

3.2.3 Nội dung và phương pháp lập kế hoạch 5 năm : 65

3.2.4 Xác định các chỉ tiêu kế hoạch : 66

3.2.5 Quy trình lập kế hoạch 5 năm 67

3.3.NỘIDUNG,TRÌNHTỰXÂYDỰNGKẾHOẠCHHÀNGNĂM 70

3.3.1. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU KẾ HOẠCH HÀNG NĂM 70

3.3.2. XÂY DỰNG GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH TRONG KẾ HOẠCH HÀNG NĂM 70

3.3.3. QUY TRÌNH LẬP KẾ HOẠCH 71

3.3.4. PHƯƠNG THỨC ĐIỀU HÀNH KẾ HOẠCH 75

3.4.CÁCGIẢIPHÁPĐẢMBẢOTIỀNĐỀCHOCÔNGTÁCKẾHOẠCHHOÁ .76

3.4.1 Đổi mới hệ thống thu thập và xử lý thông tin 76

3.4.2 Xây dựng và phát triển công tác dự báo và phân tích kinh tế 79

3.4.3 Nâng cao chất lượng bộ máy tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ .81

3.5.KẾTLUẬNVÀKIẾNNGHỊ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt nam, nền kinh tế đã đạt được những thành tựu quan trọng trên các mặt Song tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực cũng như thách thức đối với sự phát triển bền vững kinh tế – xã hội trong thời gian tới đòi hỏi phải có những nổ lực cải cách mới

Kế hoạch hoá là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng của Nhà nước nhằm đạt tăng trưởng lâu bền và đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa Vì thế đổi mới công tác kế hoạch hoá từ quan điểm, định hướng, nội dung, quy trình lập và điều hành cho đến cơ cấu tổ chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch là một nội dung cơ bản của quá trình cải cách nói trên Chất lượng của việc đổi mới công tác kế hoạch hoá sẽ có ý nghiã quan trọng cho những thành công của giai đoạn cải cách trong thời gian tới

Để góp phần vào tiến trình đổi mới trên, chúng tôi quan tâm nghiên cứu

công tác kế hoạch hoá với các mục tiêu chủ yếu: Phân tích, đánh giá hiện

trạng công tác kế hoạch hoá trong thời gian qua, đồng thời đề xuất một số vấn đề về nội dung và phương pháp kế hoạch hoá tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Phạm vi của đề tài tập trung đi sâu vào nghiên cứu cải tiến nội dung,

phương pháp và quy trình kế hoạch tại Thành phố Hồ Chí Minh, đáp ứng mục

tiêu đã trình bày ở trên Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các đơn vị cơ

quan quản lý nhà nước tham gia vào quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 7

Kết cấu của luận văn bao gồm ba chương: Chương 1 (25 trang) nêu lên

tổng quan về kế hoạch hoá ở các nước , từ đó rút ra những kinh nghiệm để ứng dụng đổi mới công tác kế hoạch ở Việt nam Tổng quan về kế hoạch ở Việt nam trong thời gian gần đây nhằm phân tích thành tựu, yếu kém trong công tác kế hoạch của Việt nam Chương 2 (15 trang) đánh giá tình hình đổi mới công tác kế hoạch ở Thành phố Hồ Chí Minh trong việc xây dựng, quản lý kế hoạch theo thời gian, hệ thống kế hoạch theo ngành và lĩnh vực, xây dựng và quản lý các cân đối lớn, từ đó rút ra những nhận xét về những mặt làm được, tồn tại trong công tác kế hoạch hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3 (20 trang) đưa ra một số phương hướng và giải pháp để hoàn thiện kế hoạch hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH HOÁ Ở CÁC

NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM

1.1 KINH NGHIỆM KẾ HOẠCH HOÁ Ở MỘT SỐ NƯỚC

Để nghiên cứu cải tiến công tác kế hoạch cho thích hợp, chúng tôi có tham khảo kinh nghiệm của một số nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia và Trung quốc về: cơ cấu bộ máy, quá trình và các phương pháp xây dựng kế hoạch Bốn nước này được chọn để nghiên cứu vì Nhật Bản là 1 nước công nghiệp đã phát triển, Hàn Quốc là một nước công nghiệp mới, Malaysia là một nước trong ASEAN, đang phát triển và Trung Quốc là nước đang chuyển đổi từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường

1.1.1 Kế hoạch hoá tại Nhật Bản

1.1.1.1 Đặc điểm chung: Kế hoạch hoá ở Nhật Bản đặc trưng cho phương

pháp kế hoạch trong nền kinh tế thị trường Bản chất kế hoạch Nhật Bản mang tính chỉ dẫn, Chính phủ không can thiệp mạnh vào hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân Kế hoạch ở Nhật Bản là 1 quá trình thương lượng của xã hội thông qua hệ thống hành chánh Quá trình này bao gồm việc trao đổi thông tin chính thức và không chính thức giữa khu vực tư và khu vực công Một đặc điểm quan trọng của kế hoạch Nhật Bản là quá trình kế hoạch rất linh hoạt Nhất là đối với kế hoạch đầu tư công cộng Dự báo kế hoạch kinh tế quốc gia và kế hoạch phát triển được xem xét liên tục theo sự thay đổi điều kiện kinh tế Một đặc điểm quan trọng khác của kế hoạch Nhật Bản là vai trò của chính quyền địa phương trong việc chuẩn bị các kế hoạch, Trung Ương không can thiệp trực tiếp

Trang 9

mà chỉ thông qua hệ thống chính sách để tác động vào quá trình xây dựng kế hoạch của địa phương

Nhật Bản đã thực hiện 12 kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội từ sau chiến tranh thế giới lần II đến nay: Hai kế hoạch đầu tiên chủ yếu nhằm vào phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh (từ 1949 - 1960) Các kế hoạch kế tiếp theo tập trung vào đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế (1958 - 1968) Kế tiếp là các kế hoạch kết hợp hài hoà giữa tăng trường kinh tế và phát triển xã hội Từ năm 1980 trở lại đây, các kế hoạch kinh tế đều coi trọng việc dự báo các luồng, các quan hệ mang tính toàn cầu và cải thiện chất lượng đời sống

Mỗi kỳ kế hoạch thường được kết thúc sớm hơn dự kiến và thay thế bằng kỳ kế hoạch mới Hay nói cách khác, các kế hoạch thường “gối đầu” nhau Cách xây dựng kế hoạch như vậy rất năng động, nhằm đáp ứng sự thay đổi nhanh của nền kinh tế thị trường

1.1.1.2 Quá trình xây dựng kế hoạch

Hội đồng kinh tế (the Economic Council: EC) và Cục kế hoạch kinh tế (the Economic Planning Acency: EPA) là 2 cơ quan chính trong quá trình xây dựng kế hoạch Quá trình này bắt đầu khi Thủ tướng yêu cầu Hội đồng kinh tế chuẩn bị bản thảo kế hoạch mới Hội đồng kinh tế, gồm những người có học thức và kinh nghiệm như: những nhà nghiên cứu, nhà doanh nghiệp, hiệp hội lao động, nhà báo và những quan chức Chính phủ đã nghĩ hưu Cục kế hoạch kinh tế (EPA) làm thư ký cho Hội đồng kinh tế và cung cấp cho Hội đồng các tài liệu tham khảo: Các dự báo kinh tế dựa vào các mô hình kinh tế lượng, cũng như chuẩn bị bản thảo kinh tế sơ khởi cho Hội đồng gồm tập hợp các quan điểm, các kiến nghị chính sách ở các cấp thảo luận Sau khi bản thảo hoàn

Trang 10

thiện sẽ được đệ trình lên Chính phủ và được các cơ quan Chính phủ thảo luận và thông qua

1.1.1.3 Quá trình thực hiện kế hoạch

Để liên kết giữa các định hướng trong chính sách trung hạn và quản lý chính sách ngắn hạn, Văn phòng Hợp tác (Coordination Bureau) thuộc EPA chuẩn bị kế hoạch kinh tế hàng năm Kế hoạch hàng năm làm cơ sở để dự toán ngân sách Chính phủ Trong quá trình điều hành kế hoạch hàng năm Chính phủ rất quan tâm đến các chỉ tiêu tăng trưởng Nếu nền kinh tế không đạt các chỉ tiêu đã được dự báo trong kế hoạch trung hạn thì Thủ tướng có thể yêu cầu Hội đồng kinh tế điều chỉnh hoặc lập kế hoạch mới

Dựa vào kế hoạch quốc gia, chính quyền địa phương chuẩn bị các kế hoạch của mình (chủ yếu là kế hoạch đầu tư công cộng) Ở Nhật Bản hơn 80% tổng vốn đầu tư xã hội được thực hiện ở các chính quyền địa phương nên kế hoạch của họ có ý nghiã rất lớn trong phát triển cơ sở hạ tầng Quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch ở mỗi địa phương khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện thực tế Chính phủ không can thiệp trực tiếp (chủ yếu là gián tiếp thông qua hệ thống chính sách), đồng thời phân cấp rất mạnh làm cho kế hoạch trở nên linh hoạt

1.1.1.4 Phương pháp kế hoạch

Để nội dung kế hoạch đạt chất lượng cao và phù hợp với thực tế, Nhật Bản đã hiện đại hoá các phương pháp xây dựng kế hoạch theo hai hướng: một là nâng cao trình độ đội ngũ xây dựng kế hoạch, hai là trang bị phương tiện phân tích thông tin hiện đại Kế hoạch hoá theo các mô hình kinh tế lượng đã rất phổ biến ở Nhật Bản từ năm 1965 Các kế hoạch kinh tế vĩ mô có tính chất dự báo, song phạm vi tính toán rất rộng nhờ sử dụng các công cụ hiện đại, nên

Trang 11

có khả năng dự báo hầu hết các hoạt động trong nền kinh tế thị trường Có 4 mô hình kinh tế lượng được áp dụng trong quá trình xây dựng kế hoạch của Nhật Bản là mô hình vĩ mô trung hạn, mô hình đầu vào - ra, mô hình đa ngành trung hạn, mô hình đa ngành dài hạn

1.1.2 Kế hoạch hoá tại Hàn Quốc

Kế hoạch phát triển lần thứ I của Hàn Quốc được bắt đầu vào năm 1962,, đến nay đã thực hiện 7 kế hoạch 5 năm Bốn kế hoạch đầu tiên tập trung vào tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng trong những năm đó đã gây ra một số mất cân đối kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát Vì thế mục tiêu phát triển kinh tế của các kế hoạch về sau không chỉ là tăng trưởng cao mà quan trọng hơn là nâng cao hiệu quả trong ổn định kinh tế vĩ mô Đồng thời, Hàn Quốc luôn điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu phù hợp với nhu cầu thị trường khu vực và thế giới

1.1.2.1 Quá trình xây dựng kế hoạch

Kế hoạch được tập trung từ Trung ương, chính quyền địa phương chỉ thực hiện các quyết định của Chính phủ, do vậy tạo điều kiện dễ dàng cho việc chuyển đổi mục tiêu phát triển kinh tế Ủy Ban kế hoạch kinh tế (Economic Planning Board: EPB) chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch kinh tế Bộ trưởng Ủy Ban Kế hoạch Kinh tế (EPB) có quyền hạn cao hơn các Bộ trưởng khác và kiêm giữ chức Phó Thủ Tướng Mỗi Bộ có một bộ phận làm kế hoạch, và đơn

vị này cũng có quyền hạn cao hơn các đơn vị khác trong Bộ để có thể đảm nhiệm các hoạt động mà không gặp khó khăn EPB và bộ phận kế hoạch trong mỗi Bộ đề ra các chỉ tiêu hướng dẫn cho chuẩn bị kế hoạch kinh tế Trên cơ sở các chỉ tiêu hướng dẫn này, các cơ quan quản lý như: ngân hàng và các tổ chức

Trang 12

tài chính, các chuyên gia của các doanh nghiệp, các giáo sư ở các trường Đại học, … xây dựng các kế hoạch của ngành mình

Xây dựng kế hoạch 5 năm, gồm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1 chuẩn bị các nguyên tắc hướng dẫn (EPB thực hiện)

+ Giai đoạn 2 làm kế hoạch ở cấp Bộ

+ Giai đoạn thứ 3, EPB thảo luận với mỗi Bộ đồng thời lấy ý kiến của công chúng

+ Giai đoạn 4 tổng hợp kế hoạch trình Thủ tướng phê chuẩn, ban hành + Giai đoạn cuối cùng, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch

1.1.2.2 Phương pháp xây dựng kế hoạch

Trong các giai đoạn kế hoạch, mô hình kinh tế lượng được sử dụng để xác định tốc độ tăng trường phù hợp với các nguồn lực hiện có Sau đó mô hình đầu vào - ra (chia ra khoảng 40 hoặc 50 ngành) được sử dụng để tìm ra một số ngành quan trọng, đồng thời cũng được dùng để kiểm tra khả năng của nguồn lực (giới hạn nguồn tài nguyên) Nếu có giới hạn nào bị vi phạm thì tốc độ tăng trưởng sẽ được điều chỉnh lại

Ngoài ra, mô hình đầu vào - đầu ra còn được sử dụng như là một công cụ để phân tích các tác động của chính sách như: mở rộng xuất khẩu hay thay thế nhập khẩu

1.1.3 Kế hoạch hoá ở Malaysia

Năm 1961, Bộ phận kế hoạch kinh tế (Economic Planning Unit) của Chính phủ được thành lập để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế quốc gia Từ đó đến nay, đã thực hiện 7 kế hoạch 5 năm Do Malaysia là một quốc gia đa chủng tộc và sự chênh lệnh thu nhập rõ nét giữa các nhóm dân cư, nên vấn đề phân phối luôn trở thành trọng tâm của tất cả các kế hoạch Vì vậy ngay từ

Trang 13

những năm đầu phát triển, quan điểm kinh tế của Malaysia là “Tăng trưởng và công bằng” Hai thập niên vừa qua nền kinh tế Malaysia đã có sự phát triển và thay đổi cơ cấu kinh tế đáng kể, lợi ích xã hội được cải thiện nhiều

1.1.3.1 Quá trình xây dựng kế hoạch

+ Hội đồng Kế hoạch Quốc gia (National Planning Council: NPC) để xây dựng kế hoạch Bên cạnh NPC, còn có Hội Đồng Hành Động quốc gia xem xét các vấn đề thực hiện chương trình phát triển và các dự án, Hội đồng Bảo

An Quốc gia giải quyết các vấn đề an toàn Thủ tướng làm Chủ tịch của 3 Hội đồng này Ủy ban kế hoạch phát triển quốc gia (NDPC) là cơ quan tổng thư ký của Chính phủ, phối hợp hoạt động của 3 tổ chức trên Quá trình xây dựng và điều hành kế hoạch ở Malaysia là 1 quá trình hoạt động 2 chiều giữa NDPC và Các Bộ Ngành

1.1.3.2 Phương pháp xây dựng kế hoạch

Bên cạnh các mô hình vĩ mô, việc phân tích vùng và nghiên cứu ở các cấp địa phương, … cũng được thực hiện để bổ sung cho các mô hình vĩ mô Nghiên cứu này ngày càng trở nên quan trọng khi vai trò của thị trường càng tăng trong quá trình phân bổ tài nguyên, chiến lược hướng xuất khẩu và các chính sách giảm bớt luật lệ và tự do hoá Giữa thập niên 60, NDPC đã sử dụng các mô hình vĩ mô để dự báo nhu cầu vốn cho các kế hoạch phát triển và các chỉ tiêu tăng trưởng Giữa thập niên 80 các mô hình được sử dụng rộng rãi để xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu vĩ mô trong kế hoạch lần thứ 3 của Malaysia

1.1.4 Kế hoạch hoá ở Trung quốc

Từ thập niên qua, Trung quốc tiến hành cải cách với quy mô lớn, cơ chế hoạt động hệ thống kinh tế thay đổi rất lớn Thứ nhất, cơ cấu sở hữu doanh

Trang 14

nghiệp được đa dạng hoá: từ sở hữu Nhà Nước thành các loại sở hữu khác nhau Thứ hai, quyền quyết định của người quản lý doanh nghiệp rộng hơn Thứ 3, hoạt động theo cơ chế (quy luật) của thị trường

Để phù hợp với các yêu cầu thay đổi ở trên, hệ thống kế hoạch và phương pháp kế hoạch cũng phải chuyển đổi, quá trình thay đổi theo các khiá cạnh sau:

+ Giảm phạm vi của kế hoạch pháp lệnh, tăng kế hoạch hướng dẫn Tuy nhiên, đối với các hoạt động mà thị trường không đủ để điều khiển cung – cầu thì cần phải được chỉ định bởi kế hoạch trực tiếp Ví dụ: Cơ sở hạ tầng, các tổ chức lợi ích xã hội và công cộng, những ngành công nghiệp quan trọng cho phát triển dài hạn và ổn định kinh tế

+ Kế hoạch chuyển từ việc phân bổ vốn, nguyên vật liệu đến việc phân tích, nghiên cứu và đưa ra các chính sánh hướng dẫn … Sử dụng các công cụ chính sách tác động đến hoạt động của nền kinh tế như: lãi suất, giá cả, thuế, chi tiêu ngân sách Doanh nghiệp có quyền quyết định trong hoạt động của họ + Hiện đại hoá phương pháp làm kế hoạch và ứng dụng các mô hình kinh tế lượng Hầu hết các mô hình này được xây dựng ở các Viện nghiên cứu Trung quốc, sau đó kết quả được gởi đến các cơ quan quản lý kinh tế để tham khảo trong khi làm quyết định

+ Tổ chức lại hệ thống thông tin thống nhất trên toàn quốc: Thống kê, Ngân hàng, Tài chính, các Bộ chuyên ngành, các địa phương để làm cơ sở cho việc phân tích, dự báo và điều hành kế hoạch

Trang 15

1.1.5 Một số nhận xét chung về kế hoạch của các nước

Từ kinh nghiệm kế hoạch hoá của các nước có thể rút ra một số kết luận chung của việc xây dựng kế hoạch để có thể ứng dụng cho cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng như sau:

- Kế hoạch là một quá trình phức tạp bao gồm thu thập khối lượng lớn thông tin, đánh giá kết quả đạt được trong thời gian qua, dự báo xu hướng trong tương lai, và thiết lập các chỉ tiêu cũng như các biện pháp chính sách Các nước đều có các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn và là tài liệu quan trọng để cụ thể hoá chính sách ở các giai đoạn khác nhau

- Trong các loại kế hoạch, các nước tập trung nhiều nhất vào kế hoạch trung hạn (thời hạn là 5 năm), có sự đánh giá và điều chỉnh

- Các nước đều có bộ phận kế hoạch riêng, tạo cơ chế thuận lợi cho việc xây dựng và điều hành kế hoạch và Lãnh đạo rất quan tâm đến công tác kế hoạch

- Mối quan hệ giữa kế hoạch hàng năm và kế hoạch trung hạn (5 năm) là rất quan trọng

- Kế hoạch được xây dựng theo phương pháp liên tục, các chỉ tiêu kế hoạch được điều chỉnh linh hoạt

- Mô hình kinh tế hiện đại được ứng dụng rộng rãi trong việc xây dựng và dự báo kế hoạch Chất lượng và trình độ của đội ngũ chuyên viên kế hoạch rất được quan tâm chú trọng, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ

- Khi nền kinh tế ngày càng phát triển và giao lưu với thế giới nhiều hơn, việc xây dựng kế hoạch có xem xét đến các khiá cạnh hội nhập quốc tế trong các mô hình xây dựng kế hoạch

Trang 16

- Các cơ quan và các thành phần kinh tế khác nhau (doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường, các nhà kinh tế, …) đều tham gia vào việc xây dựng kế hoạch (có sự trao đổi thông tin liên tục giữa khu vực chính phủ và khu vực

tư nhân trong việc xây dựng kế hoạch)

- Mỗi vùng, mỗi tỉnh và các cấp khác nhau trong một quốc gia đều có bộ phận kế hoạch, nhất là ở Trung Quốc giống với nước ta Tuy nhiên, họ đã ứng dụng mô hình I/O để tính GDP và tốc độ tăng trưởng cho mỗi địa phương

- Việc thực hiện có hiệu quả và phối hợp kế hoạch phát triển ở các cấp khác nhau đã trở thành vấn đều quan trọng ở các nước

1.2 TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ

Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

1.2.1 Đổi mới cơ chế quản lý quản lý:

Đại hội đảng toàn quốc lần VI (năm 1986) đã đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của Đại hội V đồng thời đề ra đường lối đổi mới chính sách kinh tế nhằm khai thác nhanh, có hiệu quả, phát huy mọi khả năng hiện có và tiềm tàng của nền kinh tế Đại hội đã xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế – xã hội cho những năm 1986 – 1990 như sau : “sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp với tính quy luật về sự phát triển các ngành sản xuất vật chất Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Củng cố thành phần kinh tế XHCN bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện, cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân

Trang 17

… Hình thành đồng bộ hệ thống mới về quản lý kinh tế, lấy kế hoạch hóa làm khâu trung tâm, thực hiện hạch toán kinh doanh XHCN theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ …” (trích “Văn kiện Đại hội Đảng CSVN lần thứ VI” – 1986 – Nhà xuất bản sự thật : trang 43, 44)

Đường lối đổi mới kinh tế ra đời đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nước ta một cách rõ rệt Thành tựu quan trọng là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Đảng ta đã khẳng định phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH Đây là chủ trương đúng đắn và kịp thời nhằm tháo gỡ những khó khăn, trở ngại của nền kinh tế sản xuất nhỏ, nông nghiệp là chủ yếu Chính sách này giúp các thành phần kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất, tạo

ra nhiều sản phẩm và dịch vụ cạnh tranh với nhau làm cho thị trường trở nên nhộn nhịp hơn Có thể nói đường lối đổi mới của Đảng đã đề ra tại đại hội đảng toàn quốc lần VI là chiếc chìa khóa mở đầu cho công cuộc đổi mới ở nước ta, là tiền đề cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập với kinh tế thế giới Đường lối đổi mới này đã được Đảng đúc kết từ thực tiễn của cả một quá trình xây dựng phát triển đất nước

Đại hội đảng lần thứ VII ngoài những đánh giá thành tựu đạt được từ đường lối đổi mới do đại hội VI đề ra củng đã đánh giá nhận định những khó khăn thách thức mới Đó là đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất còn ở tình trạng đình đốn, lao động thiếu việc làm tăng lên, chế độ tiền lương bất hợp lý làm cho đời sống của những người ăn lương bị giảm sút, đời sống của một bộ phận nông dân còn gặp

Trang 18

nhiều khó khăn … Đại hội cũng đã đánh giá tình hình Quốc tế lúc này có nhiều diễn biến phức tạp đã làm đảo lộn về thị trường xuất nhập khẩu truyền thống, những chương trình hợp tác kinh tế … Trên cơ sở đánh giá tình hình trong nước và Quốc tế Đại hội đã đưa ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm

1991 –1995 Các mục tiêu chủ yếu là : “Vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế … Tiếp tục kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững phát triển sản xuất, bắt đầu có tích lũy nội bộ, tạo thêm nhiều việc làm ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân … Chính sách kinh tế được Đại hội đảng lần thứ VII đề ra là : “Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN Cơ chế vận hành nền kinh tế này là

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch chính sách Trong cơ chế đó, các đơn vị có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh , quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả; nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội … Khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả …Đảm bảo chính sách tiền lương và thu nhập, khuyến khích mọi người tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế …”

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, đại hội đảng bộ toàn quốc lần thứ VIII (từ ngày 28/6/1996 đến 1/7/1996) đã đánh giá 5 năm thực hiện

Trang 19

Nghị quyết đại hội VII và 10 năm đổi mới Đại hội đã nhận định các nhiệm vụ và mục tiêu do đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 –1995 đã được hoàn thành về

cơ bản và công cuộc đổi mới 10 năm đã thu được những thắng lợi to lớn Đó là nước ta đã vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội, đời sống người dân dần dần được cải thiện, tốc độ phát triển kinh tế đạt mức cao nhất từ trước đến nay (tốc độ tăng bình quân GDP giai đoạn 1991 – 1995 là 8,2%), lạm phát bị đẩy lùi … Đánh giá, nhận định bối cảnh Quốc tế, thời cơ và thách thức, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra mục tiêu là : “ …tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa … Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp … Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới – đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 : tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ của nền kinh tế,

tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau”

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế là một động lực to lớn tác động đến tương lai của đất nước khi bước vào thế kỷ XXI Đây là chủ trương đúng đắn, phù hợp với thời đại của những tiến bộ khoa học – kỹ thuật được áp dụng và đưa vào ứng dụng trong thực tế ngày càng nhiều như hiện nay

Trang 20

Việc cơ giới hóa trong nông nghiệp, đổi mới công nghệ và quy trình sản xuất trong công nghiệp, phát triển các ngành dịch vụ như giao thông, bưu điện, tài chính, ngân hàng … đã làm thay đổi bộ mặt nền kinh tế nước ta từ nghèo nàn, lạc hậu trở nên giàu có, hiện đại trước thềm thế kỷ mới

1.2.2 Nhận xét tổng quát về đổi mới cơ chế quản lý:

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam diễn ra từ năm 1986 thực ra đã được chuẩn bị trong giai đoạn tiền đổi mới (từ năm 1979 đến trước Đại hội VI, tháng 12-1986) và diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế lâm vào khủng hoảng gay gắt trong khi thiếu các nguồn viện trợ nước ngoài để tiếp tục duy trì nền kinh tế theo mô hình cũ Trong điều kiện gay gắt đó, các biện pháp ở tầm vĩ mô diễn

ra sau Hội nghị Trung ương VI (khóa IV), tháng 9 – 1979 trong nông nghiệp (cơ chế khoán), mở rộng tự chủ cho doanh nghiệp trong công nghiệp (kế hoạch ba phần) đã tăng thêm sản phẩm hàng hóa và đã là sự tập dượt và chuẩn bị cho nông dân, công nhân và các nhà quản lý doanh nghiệp đón nhận những cải cách mới theo hướng cơ chế thị trường

Do quá trình đổi mới nhận thức diễn ra từng bước và các biện pháp đổi mới nằm giải quyết những vấn đề thực tế của cuộc sống, trong bối cảnh ổn định về chính trị và xã hội, nên trên toàn bộ tiến trình đổi mới, phương pháp chủ yếu là phương pháp từng bước (như cách nói của Tổng Bí thư Đỗ Mười là

“Mưa dầm thấm đất”) Tuy vậy, trong năm 1989, Việt Nam đã áp dụng liệu pháp sốc trong việc thực hiện một loạt những cải cách quan trọng chuyển sang

cơ chế thị trường như tự do hóa giá, tự do hóa mậu dịch, sử dụng các công cụ tiền tệ Các biện pháp cải cách khác được tiến hành từng bước với tốc độc khác nhau cũng phù hợp với kinh nghiệm quốc tế, tuy rằng tốc độ cải cách ở một số

Trang 21

lĩnh vực như cải cách doanh nghiệp nhà nước, vấn đề quyền sủ dụng đất đai là chậm so với yêu cầu và kinh nghiệm của một số nước khác Đổi mới ở Việt Nam không phủ định sạch trơn quá khứ, mà là có sự kế thừa, phát huy các mặt tích cực của quá khứ, đồng thời từng bước đổi mới một cách sâu sắc

Công cuộc cải cách được khởi đầu từ nông nghiệp, khu vực kinh tế quan trọng nhất của Việt Nam với 80% dân số, được mở rộng sang công nghiệp, đã tranh thủ được sự đồng tình, hưởng ứng của toàn xã hội Tiếp đó, cải cách được tiếp tục ở khâu tài chính, giá cả, thương mại, khi các đơn vị sản xuất có nhu cầu và đòi hỏi những điều chỉnh theo hướng tự do hóa giá, thương mại, để giải phóng sức sản xuất, mở đường cho cải cách kinh tế ở tầm vĩ mô có tính bước ngoặt tại Đại hội VI và các cải cách khác năm 1989 Như vậy, quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam là quá trình tác động qua lại giữa cải cách ở khâu vi mô và ở tầm vĩ mô, trong đó cải cách ở tầm vi mô, như mở rộng quyền tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện cơ cế khoán trong nông nghiệp, đã tạo ra môi trường thuận lợi cho tự do hóa giá cả, thương mại Ngược lại, chính việc thiết lập cơ chế giá thị trường, tự do hóa, thương mại vật tư, mở rộng xuất nhập khẩu đã tạo ra môi trường kinh tế thích hợp để các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong trên nhiều lĩnh vực thương nghiệp, dịch vụ và sản xuất

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn mười năm qua đã thực sự đem lại những thay đổi hết sức cơ bản, sâu sắc, không thể đảo ngược được trong chính sách vàc cơ chế của Nhà nước ở các cấp, trong cơ cấu kinh tế về ngành và về các thành phần kinh tế, trong thu nhập và tiêu dùng, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động kinh tế và xã hội Đổi mới đã làm thay đổi cơ bản hành vi của các doanh nghiệp cũng như tâm lý hàng của từng người dân trong sản xuất, tiêu dùng, học tập Mặc dầu còn xa mới đạt được mục tiêu đề ra, nhưng công cuộc đổi mới ở Việt Nam theo các tiêu chuẩn được thừa nhận, thực sự là một cuộc cải cách sâu sắc Những thay đổi đó có thể cảm nhận được ở từng gia đình, từng con người,

Trang 22

ở những thay đổi trong phạm vi, động thái, tâm lý và nhất là trong cuộc sống, nguồn thu nhập, các quan hệ giao tiếp và thông tin ở từng người Đó là những thay đổi tiến bộ, đã bước đầu phát huy được sáng tạo, tinh thần hăng say lao động, học tập, đổi mới từng người dân, dĩ nhiên với mức độ khác nhau giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn Sự ỷ lại, dựa dẫm, lợi dụng sự bao cấp của nhà nước đã được khắc phục một bước quan trọng Tinh thần kinh doanh đã bắt đầu khơi dậy, tạo ra cơ hội và đòi hỏi mỗi người phải phấn đấu, nhân cách con người được khẳng định trong sự đa dạng và phong phú hơn Những thay đổi đó là sâu rộng và mạnh mẽ nhất kể từ năm 1975 đến nay Đó là những thay đổi bền vững, không thể đảo ngược được

Đổi mới đã tạo điều kiện và thúc đẩy quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập khối ASEAN và chuẩn bị gia nhập những tổ chức kinh tế quốc tế khác, vượt qua được cấm vận và bao vây kinh tế, cải thiện rõ rệt vị trí

quốc tế, tạo ra thế và lực mới trên trường quốc tế Đổi mới là một quá trình phù

hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với quá trình chuyển đổi sâu rộng trên thế giới Công cuộc đổi mới là nhân tố quyết định để Việt Nam vượt qua được khủng hoảng và suy thoái kinh tế, tạo được tăng trưởng cao và lâu bền nhất từ trước đến nay, qua đó góp phần vào ổn định xã hội và chính trị So sánh với các nước

trong quá trình chuyển đổi cho thấy, Việt Nam đã vượt qua được những thử thách to lớn và công cuộc đổi mới đã tránh cho dân tộc phải chịu những hy sinh, thiệt thòi không cần thiết

1.2.3 Kết quả đạt được trong quá trình đổi mới:

Cải cách kinh tế của Việt nam trong thời gian qua được đánh giá là thành công, nhất là trong hoàn cảnh bị bao vây về kinh tế (trước năm 1995) và mất đột ngột nguồn tài trợ của Liên Xô, cũng như mất thị trường truyền thống này

Trang 23

Giai đoạn 1990 – 1995: Do công cuộc tự do hoá giá cả, kết hợp với các công cụ tài chính tiền tệ, kể cả việc phá giá đồng tiền để kiểm soát lạm phát Kết quả là lạm phát từ 400% năm 1988 xuống còn 5,2% năm 1993 (xem bảng 1), đây cũng là cơ sở để Việt nam tiến hành cải cách kinh tế ở 3 khu vực kinh tế Cải cách về quyền sử dụng đất đai và phương thức sản xuất kể từ năm 1988

ở khu vực nông nghiệp và nông thôn đã tạo cơ sở khuyến khích, giải phóng lao động của hàng triệu nông dân, tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất lao động ở khu vực này, nên Việt nam từ một nước nhập khẩu gạo đã trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới (sau Thái Lan) Trong công nghiệp, cải cách doanh nghiệp nhà nước bước đầu từ việc giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp và sắp xếp lại, đến đầu những năm 1990 số doanh nghiệp nhà nước đã giảm một nửa so với những năm 1980 Kinh tế đối ngoại đã phát triển theo đường lối mở cửa với sự phát triển, đa dạng hoá và khuyến khích xuất khẩu Đầu tư nước ngoài đã phát triển mạnh mẽ, là nguồn vốn đầu

tư quan trọng cho tăng trưởng kinh tế nhanh trong giai đoạn này (xem bảng 2) Việt nam đã chính thức gia nhập Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á vào tháng 7/1995 và chấp thuận tham gia chương trình AFTA kể từ ngày 1/1/1996 Kết quả cải cách kinh tế của Việt nam đã đạt được những kết quả to lớn như: tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1990 – 1995 là 8,1% (xem bảng 1), xuất khẩu tăng bình quân 29,1%, đầu tư nước ngoài tăng đáng kể và lạm phát được khống chế ở mức một con số

Bảng 1: Các chỉ số về tốc độ tăng trưởng GDP, giá trị sản xuất công nghiệp,

xuất khẩu và tỉ lệ lạm phát từ 1986 – 1999 của Việt nam (%)

Trang 24

vào năm 1995 đã giảm dần xuống mức 5,8% năm 1998 và 4,8% năm 1999,

thấp nhất kể từ năm 1990 trở lại đây Kể từ năm 1998 khủng hoảng tài chính

khu vực đã tác động xấu đến nền kinh tế thông qua việc giảm xuất khẩu và

đầu tư nước ngoài

Bảng 2: FDI vào Việt nam từ năm 1988 – 1999 (chưa tính các dự án của

199 3

199 4

199 5

năm đầu cải cách kinh tế và những cải cách đó chưa thể giải quyết triệt để

những vấn đề phát sinh mới trong giai đoạn hiện nay, cộng thể nền kinh tế Việt

nam bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực nên Việt nam bị

tăng trưởng chậm lại Do đó trong giai đoạn mới, cần có những cải cách mới để

thúc đẩy nền kinh tế Việt nam phát triển nhanh hơn

Trang 25

Nhìn nhận kế hoạch hoá và thị trường với tư cách là các công cụ và lực lượng điều tiết kinh tế vĩ mô Trong cơ chế hiện hành, nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế của mình đối với các doanh nghiệp thông qua hai kênh: điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hoá và các biện pháp hành chính (một số ít), còn lại chủ yếu là điều tiết gián tiếp thông qua các công cụ khác, vận dụng

cơ chế thị trường để tác động đến hoạt động của doanh nghiệp, dùng các đòn bẩy kinh tế để khuyến khích hoặc gây sức ép kinh tế buộc các doanh nghiệp phải phát triển trong khuôn khổ và theo hướng kế hoạch do nhà nước vạch ra

Việc chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đòi hỏi phải có cách nhìn và cách làm mới trong công tác kế hoạch hoá của nhà nước Kế hoạch hoá kinh tế quốc dân của nhà nước phải thực sự bao hàm được các hoạt động kinh tế chủ yếu, không phải chỉ khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế quốc doanh, mà tất cả các thành phần kinh tế; khắc phục khuyết tật cơ bản của hệ thống kế hoạch hoá trường đây, chỉ nặng về kế hoạch hiện vật, vừa chắp vá, vừa thiếu khoa học và không đủ độ tin cậy

Cách tổng hợp kế hoạch hoá từ dưới lên theo kiểu cộng dồn như trước đây không còn phù hợp nữa, mà kế hoạch hoá nhà nước phải được xây dựng trên cơ sở tầm vĩ mô, phân tích kinh tế, dự báo nhu cầu, điều tra khả năng của các thành phần kinh tế Hiện nay công tác kế hoạch hoá vẫn chưa bao hàm hết tất cả các thành phần kinh tế Để nâng cao chất lượng của kế hoạch hoá, các cơ quan nhà nước đã từng bước cải tiến đẩy mạnh công tác điều tra và dự báo kinh tế; đổi mới công tác thống kê, bảo đảm thống kê đầy đủ, kịp thời, chính xác

Như vậy, cần phải đổi mới công tác kế hoạch hoá để có thể quản lý và điều hành nền kinh tế một cách hiệu quả hơn, góp phần vào đẩy nhanh tốc độ

Trang 26

tăng trưởng kinh tế, đất nước phát triển và hoà nhập chung vào quá trình hội nhập chung của thế giới

1.3 QUÁ TRÌNH VẬN DỤNG VÀ ĐỔI MỚI QUẢN LÝ KINH TẾ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.3.1 Quan điểm đổi mới qua các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố (từ 1990 – đến nay)

Đại hội đảng bộ Thành phố lần thứ V đã tổng kết, đánh giá nhận định tình hình, phân tích những việc làm được và chưa làm được trong giai đoạn qua Trên lĩnh vực kinh tế, Thành phố đã đạt được những tiến bộ bước đầu trong thực hiện đường lối đổi mới: công nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng khá, bình quân 7%/năm, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn với cơ chế thị trường, khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng kim ngạch xuất khẩu tăng 34,9%/năm, nhập khẩu tăng 31,5%/năm Về cơ chế quản lý, Thành phố đã có các quy định về tổ chức và ban hành một số chính sách phát triển đối với kinh tế tư nhân, cá thể, kinh tế gia đình và tập thể, đã góp phần phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế Thành phố Tuy nhiên, đại hội cũng đã nhìn nhận là nền kinh tế chuyển biến chậm, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khó khăn còn nhiều thiếu sót trong quản lý, công tác cán bộ đã dẫn đến một số tiêu cực như các vụ đổ bể tín dụng, các vụ lừa đảo … gây ra những thiệt hại lớn và hậu quả nặng nề cho nền kinh tế Trên những cơ sở kết quả đạt được của giai đoạn trước, đại hội V đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế Thành phố giai đoạn 1991 – 1995 là : “Từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý Sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên cơ sở vị trí, tiềm năng, thế mạnh của Thành phố, gắn liền với cơ cấu kinh tế tương đối hoàn chỉnh của vùng nam bộ, mà cốt lõi

Trang 27

là vùng kinh tế trọng điểm phía nam (Thành phố HCM – Bình Dương – Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu), trong đó Thành phố giữ vai trò trung tâm công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thương mại – dịch vụ, khoa học – kỹ thuật, văn hóa Cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố chủ yếu là công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp … Về cơ cấu thành phần kinh tế, phương hướng chung là khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đồng thời sắp xếp, củng cố kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, thực hiện theo định hướng XHCN Bảo đảm vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh theo hướng lấy hiệu quả làm biện pháp chủ yếu Nghiên cứu vận dụng các chính sách để xây dựng kinh tế tư bản nhà nước với quy mô và tốc độ phát triển nhanh; phát huy các hình thức hợp tác liên doanh, liên kết giữa nhà nước với các thành phần kinh tế khác Tổ chức lại và tạo điều kiện cho kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, trên cơ sở tổng kết thực tiễn với những hình thức và quy mô thích hợp, làm ăn có hiệu quả thiết thực Khuyến khích kinh tế cá thể, tư bản tư nhân phát triển đúng pháp luật Hỗ trợ và tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển mạnh” Qua 5 năm thực hiện, kinh tế Thành phố đã đi vào ổn định, liên tục tăng trưởng cùng sự dịch chuyển cơ cấu phù hợp với xu thế công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Thành phố đã đạt và vượt các chỉ tiêu chủ yếu do Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ V đề ra

Xuất phát từ tình hình thực tế và bối cảnh đất nước, bối cảnh quốc tế, Đại hội VI đã đề ra mục tiêu chung cho 5 năm (1996-2000) trên lĩnh vực kinh tế là: “ Tập trung sức khai thác thời cơ, vượt qua thử thách, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội tương ứng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế liên tục, vững chắc theo định hướng XHCN góp phần cùng cả nước thúc đẩy công

Trang 28

cuộc đổi mới phát triển một cách toàn diện và đồng bộ, đạt và vượt các mục tiêu của “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000”, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn trong những năm đầu thế kỷ 21” Một số nhiệm vụ cụ thể là “Đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa công nghiệp và dịch vụ, công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, trước hết là c ơ sở hạ tầng, tạo sự biến đổi đáng kể về chất trong các ngành sản xuất và các ngành dịch vụ then chốt Tập trung đầu tư một số ngành có hàm lượng công nghệ – kỹ thuật cao, trên cơ sở lợi thế của Thành phố; định hình các khu chế xuất, xây dựng các khu công nghiệp tập trung và khu công nghệ cao; hình thành trung tâm tài chính, trung tâm thương mại và dịch vụ hiện đại, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế Thành phố và các tỉnh phía Nam; cùng với các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương thành một trung tâm kinh tế lớn về công nghiệp, thương mại – dịch vụ, tài chính, tiền tệ, vận tải của cả nước và là một trong các trung tâm kinh tế ở khu vực Đông Nam Á Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển đúng định hướng, phù hợp với quy hoạch của Thành phố Tiếp tục sắp xếp và củng cố kinh tế quốc doanh theo hướng giảm số lượng, tăng quy mô một cách hợp lý từng doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động, hình thành các tổng công ty mạnh trên các lĩnh vực, đồng thời phát triển kinh tế hợp tác với nhiều hình thức thích hợp để từng bước đưa kinh tế quốc doanh cùng kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phát triển theo quy hoạch, đúng luật pháp”

1.3.2 Vận dụng cơ chế quản lý mới ở Thành phố Hồ Chí Minh

Những đóng góp về quá trình tìm tòi sáng tạo thí điểm cơ chế mới của Thành phố Hồ Chí Minh cũng đãû góp phần vào việc hình thành đường lối đổi mới kinh tế của Đảng đồng thời được rút kinh nghiệm chung cho cả nước

Trang 29

Chính sách kinh tế mới đã khẳng định và cho phép các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện mới đã phát huy thế mạnh của nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, từ khi chưacó Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty, UBND Thành phố đã có Quyết định 27/QĐ-UB ngày 18 tháng 1 năm 1989 về hướng dẫn thực hiện đăng ký kinh doanh của các hộ kinh tế tư nhân Kế tiếp ngày 26 tháng 10 năm 1989 UBND Thành phố đã ban hành các Quyết định 639/QĐ-UB và 640/QĐ-UB về quy định mức vốn tối thiểu khi thành lập xí nghiệp, công ty tư nhân mà các văn bản của Trung ương chưa đề cập tới Trước yêu cầu cấp bách của thực tế phát triển được thử nghiệm đa phần là ở Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 12 năm 1990 Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghep tư nhân, Luật Công ty Nhờ có sự vận dụng sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng, từ yêu cầu bức xúc của cuộc sống Thành phố Hồ CHí Minh luôn đi đầu trong cả nước trên nhiều phương diện như đa dạng hóa các hình thức sở hữu, phát triển nhanh thành phần kinh tế tư nhân về số lượng doanh nghiệp, về thu hút vốn trong dân, hình thành các mô hình hợp tác kinh doanh có hiệu quả Thành phố hiện chiếm trên 30% về số lượng doanh nghiệp,công ty tư nhân và trên 30% vốn đầu tư của khu vực này so với cả nước Song song với việc đẩy mạnh phát triển các loại hình kinh tế tư nhân, Thành phố tiếp tục tập trung củng cố và phát triển khu vực kinh tế Nhà nước (các đơn vị kinh tế quốc doanh) nhằm nâng cáo vai trò chủ đạo của khu vực này trong giai đoạn chuyển đổi và hội nhập kinh tế ừ năm 1993, Thành phố là địa phương đầu tiên trong cả nước thành lập Ban đổi mới doanh nghiệp Từ khi thành lập ban đổi mới doanh nghiệp đã tư vấn cho lãnh đạo Thành phố về phương hướng cơ cấu sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, torng đó có sắp xếp phân loại lựa chọn các doanh nghiệp cần giữa lại 100% vốn Nhà nước, loại doanh nghệp chuyển đổi sang hình thức công ty cổ

Trang 30

phần với việc thí điểm cổ phần hóa và mở rộng diện cổ phần hóa, thành lập

Tổng công ty Nhà nước

Ngay từ đầu năm 1990 Thành phố đã nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước

về hình thành khu chế xuất, sau đó tìm đối tác lập dự án và trình với Trung

ương để xin triển khai Kết quả sáng kiến này đã cho phép Thành phố hình

thành hai khu chế xuất (Tân Thuận và Linh Trung) hiện nay được coi là thành

công nhất trong cả nước Để có được môi trường đầu tư tốt nhằm thu hút đầu tư

trong và ngoài nước, Thành phố cũng đã có sáng kiến đa dạng hóa các hình

thức đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng trong điều ken nguồn vốn đầu tư từ ngân

sách có hạn Các sáng kiến đã được vận dụng cụ thể nhằm phát triển cơ sở hạ

tầng ỡ Thành phố bao gồm việc thành lập Quỹ đầu tư phát triển đô thị, áp dụng

hình thức đầu tư “đổi đất lấy hạ tầng”, huy động các nguồn lực trong và ngoài

nước đầu tư theo hình thức BOT vào cơ sở hạ tầng, phụ thu tiền đện, nước và

dùng tiền phụ thu này để đầu tư phát triển hệt hống điện, nước cho nông thôn

ngoại thành So với cả nước hiện nay Thành phố chiếm 34,5% số lượng dự án

đầu tư nước ngoài còn hiệu lực và 30,3% tổng số vốn đăng ký

1.3.3 Các kết quả đạt được về mặt kinh tế – xã hội:

Từ năm 1986, chuyển sang giai đoạn đổi mới, kinh tế Thành phố đã có

tốc độ tăng trưởng gấp 3 lần giai đoạn trước (1975 – 1985) Tốc độ tăng bình

quân của từng khu vực kinh tế như sau (trong bảng 3):

Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng của GDP và khu vực kinh tế (%)

Năm Tổng GDP Nông lâm thuỷ

nghiệp Công nghiệp xây dựng Dịch vụ

Trang 31

Những năm 1991 – 1995 là thời kỳ kinh tế Thành phố có tốc độ tăng

trưởng cao nhất (12,62%) Từ năm 1997 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng

kinh tế, tốc độ tăng có chậm lại Tuy nhiên nhìn suốt cả 15 năm đổi mới cơ

chế, kinh tế Thành phố vẫn tăng ở tốc độ cao GDP năm 1999 bằng 1,5 lần

năm 1995, 2,7 lần năm 1990 và 3,9 lần năm 1985

Tăng trưởng kinh tế Thành phố có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh

tế chung của cả nước vì kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng cao

trong cơ cấu kinh tế của cả nước và luôn có tốc độ tăng cao hơn tốc độ chung

của cả nước như giai đoạn 1986 – 1999 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm

của Thành phố Hồ Chí Minh là 10,3%, trong khi đó cả nước là 6,3%

Sản xuất công nghiệp: đã từng bước thay đổi và có tốc độ tăng nhanh

(trong bảng 4) Giai đoạn 1986 – 1990 tốc độ tăng bình quân hàng năm của giá

trị sản xuất công nghiệp là 7,7%, giai đoạn 1991 – 1995 là 15,58% và giai đoạn

1996 – 1999 là 10,63% Từ năm 1990 đã xuất hiện khu vực công nghiệp có vốn

đầu tư nước ngoài và phát triển với tốc độ khá nhanh nên góp phần vào tăng

trưởng chung của Thành phố Đến năm 1999 khu vực này đã có giá trị sản ượng

trên 13.103 tỷ đồng (theo giá so sánh năm 1994), chiếm 26,8% tổng giá trị sản

ượng công nghiệp trên địa bàn

Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp trên địa bàn, có phân theo khu

Trang 32

Trong tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn, khu

vực dân doanh luôn có tốc độ tăng nhanh hơn khu vực quốc doanh, điều này

cho thấy trong môi trường kinh doanh mới, khu vực này năng động hơn và ngày

càng góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế

Đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành được 2 khu chế xuất và

10 khu công nghiệp tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư

trong và ngoài nước, góp phần tích cực cho sự tăng trưởng của công nghiệp

Thành phố Vị trí công nghiệp Thành phố so với công nghiệp cả nước không

ngừng tăng lên Nếu năm 1985 công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh chiếm

23,0% công nghiệp chung của cả nước, năm 1990 là 25,8%, 1995: 28,5% và

đến năm 1999 là 29,6% Nhiều sản phẩm công nghiệp Thành phố được nguời

tiêu dùng cả nước bình chọn là hàng Việt nam chất lượng cao và chiếm tỷ

trọng lớn trong sản ượng của cả nước, như năm 1999 sữa hộp 72%, thuốc lá

585, xà phòng 52%, vải lụa 51%, bia 41%, áo quần may sẵn 31%, … Giá trị các

mặt hàng công nghiệp đã chiếm đến 86% tổng kim ngạch xuất khẩu

Sản xuất nông nghiệp, mặc dù đầu tư kỹ thuật, thay đổi cơ cấu cây

trồng, vật nuôi nên giá trị sản lượng vẫn liên tục tăng lên trong giai đoạn 1986

– 1990 tăng bình quân hàng năm là 3,8% (bảng 5) và giai đoạn 1991 – 1995 là

4,76% Tuy nhiên trong giai đoạn 1996 – 1999 tốc độ tăng bình quân hàng năm

giảm 0,07% vì diện tích đất canh tác giảm 1/3 và lao động nông nghiệp giảm

dần 20% do quá trình đô thị hoá nhanh

Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của nông – lâm – ngư

nghiệp (%)

Giai đoạn Tổng số Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản

Trang 33

1991-1995 4,76 5,18 5,17 2,73

Nguồn: Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh

Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại địa bàn hàng năm trên 20 ngàn tỷ

đồng Đầu tư trong những năm qua đã góp phần rất lớn cho phát triển kinh tế

của Thành phố, đầu tư vốn từ ngân sách tập trung của Thành phố đã ngăn chặn

sự xuống cấp của hạ tầng, nhiều cơ sở mới được xây dựng và hàng năm có trên

2 triệu mét vuông nhà ở được xây dựng

Về cơ cấu kinh tế: Có sự thay đổi đáng kể cả về cơ cấu ngành, cơ cấu

thành phần và cơ cấu vùng Cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ

trọng nông – lâm – ngư nghiệp (khu vực I) và dịch vụ (khu vực III), ngược lại

các ngành công nghiệp và xây dựng (khu vực II) ngày càng lớn Trong bảng 6,

năm 1985 tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp trong GDP từ 6,2% xuống còn 2,3%

năm 1999; dịch vụ giảm từ 64,6% năm 1985 xuống còn 55,3% năm 1999; tỷ

trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 19,2% năm 1985 lên 42,4% năm 1999

Cơ cấu bên trong mỗi ngành cũng thay đổi Trong công nghiệp bước đầu

phát triển các ngành công nghiệp sạch, nâng dần tỷ trọng những ngành có hàm

lượng công nghệ – kỹ thuật cao Đồng thời coi trọng phát triển các ngành

truyền thống sử dụng nhiều lao động (dệt, may, tiểu thủ công nghiệp), các

ngành sử dụng nguyên liệu nội địa, thu hồi vốn nhanh, … Trong khu vực nông –

lâm – ngư nghiệp, cơ cấu ngành lâm nghiệp chuyển từ khai thác và trồng rừng

kinh tế sang trồng rừng phòng hộ là chính Trong thuỷ sản, sản lượng đánh bắt

ngày càng nhiều hơn nuôi trồng, những năm gần đây đánh bắt xa bờ được ưu

tiên đầu tư và khuyến khích phát triển Trong nông nghiệp, chăn nuôi tăng

nhanh hơn trồng trọt

Trang 34

Bảng 6: Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP (%)

Nguồn: Cục Thống Kê Thành phố Hồ Chí Minh

Cơ cấu các thành phần kinh tế trên địa bàn cũng có sự thay đổi Trong

bảng 7, năm 1985 tỷ trọng kinh tế quốc doanh là 51,9% và dân doanh là 48,1%

Kể từ năm 1988 ở Thành phố bắt đầu có các dự án đầu tư nước ngoài, thì khu

vực này tăng rất nhanh, từ 0% đã tăng lên 11,1% năm 1995 và 18,1% năm

Nguồn: Cục Thống Kê Thành phố Hồ Chí Minh

Xuất nhập khẩu: Sau năm 1985, đặc biệt sau khi bình thường hoá quan

hệ ngoại giao với Mỹ, quan hệ kinh tế của Thành phố với các nước được mở

rộng, có bước phát triển mới Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ năm 1990 đến

1995 tăng 3 lần và tiếp tục tăng gấp rưởi sau 4 năm tiếp theo (xem trong bảng

8) Từ năm 1998 xuất khẩu cao hơn nhập khẩu Tỷ trọng các nhóm hàng công

nghệ phẩm trong kim ngạch xuất khẩu tăng lên đáng kể, từ 64,5% năm 1993,

tăng lên 72,8% năm 1995 và 83,8% năm 1999 Nếu tính cả kim ngạch xuất

Trang 35

khẩu của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài, tương ứng 3 năm (1993, 1995 và

1999) thì tỷ trọng hàng công nghiệp sẽ là 65,1%, 75,3% và 86,1% Đến nay

Thành phố đã có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ với trên 70 nước

và lãnh thổ

Bảng 8: Xuất nhập khẩu của Thành phố tại các thời kỳ (ĐVT: triệu

Nguồn: Cục Thống Kê Thành phố Hồ Chí Minh

Về thu hút đầu tư nước ngoài: Từ năm 1988 thực hiện Luật đầu tư nước

ngoài, trong 12 năm đã có trên 40 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Thành phố

với 1.027 dự án được cấp phép, với 12.702 triệu USD vốn đầu tư, 6.110 triệu

USD vốn pháp định Đến nay 830 dự án còn hiệu lực với 10.246 triệu USD vốn

đầu tư, 5.082 triệu USD vốn pháp định Số vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào

kinh doanh bất động sản , khách sạn, nhà hàng và thương mại (chiếm 40,1%),

công nghiệp (chiếm 39%) và vận tải bưu điện (chiếm 10,3%), … Đến năm 1999

khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp 18,1% vào tổng sản

phẩm trên địa bàn (GDP), 29,6% giá trị sản xuất công nghiệp, 17,5% kim

ngạch xuất khẩu và 7,5% thu nội địa của ngân sách Thành phố

Đời sống dân cư được cải thiện, sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế

được tăng cường Do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao nên GDP bình

quân đầu người dân Thành phố đến nay là 1.350 USD, tăng bình quân hàng

năm là 7,8% Chương trình xoá đói, giảm nghèo của Thành phố qua 8 năm thực

Trang 36

hiện giúp vốn, kinh nghiệm làm ăn, dạy nghề, cấp đất, chữa bệnh, … cho trên

100 ngàn hộ Kết quả xoá được 12 ngàn hộ đói và giảm được 35 ngàn hộ nghèo Mức chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng từ 356 ngàn (năm 1995) lên 506 ngàn đồng (năm 1999) Cơ cấu chi tiêu chuyển dịch theo hướng tích cực: chi ăn uống giảm tương đối, ngược lại các khoản chi cho ở, đi lại, học hành, giải trí tăng đáng kể, Số hộ gia đình có tiện nghi sinh hoạt đắt tiền ngày càng nhiều

Nhìn chung, từ khi thực hiện cải cách nền kinh tế đến nay, kinh tế – xã hội của Thành phố đã đạt được những thành quả to lớn về GDP, cơ cấu kinh tế, quan hệ xuất nhập khẩu, đời sống người dân được cải thiện Bên cạnh đó, còn nhiều khó khăn và yếu kém

1.3.4 Những khó khăn và yếu kém :

a Xuất phát điểm thấp, hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghệ còn lạc hậu:

Kinh tế Thành phố trong những năm qua tăng trưởng bình quân mỗi năm 7,1%, có giai đoạn tăng trên 10 – 12% (1990 – 1999); tốc độ tăng cao hơn cả nước và cao hơn nhiều tỉnh, nhưng do xuất phát điểm thấp nên quy mô còn nhỏ bé GDP bình quân đầu người mới được 1350 USD, đó là mức vẫn còn thấp so với nhiều nước

Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hiện có chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế với tốc độ cao Đường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay thiếu về lượng và kém về chất

Trong các doanh nghiệp, thiết bị máy móc đã ít về số lượng lại lạc hậu về công nghệ, phần lớn thuộc thế hệ cũ, chấp vá Ở các đơn vị công nghiệp hệ số hao mòn tài sản cố định trên 27%, riêng doanh nghiệp nhà nước tỷ lệ này là

Trang 37

52% Nếu tính hao mòn thực tế cả hữu hình và vô hình, tỷ lệ đó còn cao hơn Thời gian đã sử dụng bình quân chung của máy móc, thiết bị là 11 năm Đáng lưu ý có 17,5% đã sử dụng 10-15 năm và trên 16,7% đã sử dụng trên 15 năm Về trình độ kỹ thuật chỉ có 1,4% tự động, 36% bán tự động, 20,8% cơ khí, 28,6% bán cơ khí và 12,7% ở trình độ thủ công Về trình độ công nghệ, chỉ có 14% tiên tiến, 50,5% trung bình và 35,5% là lạc hậu

Đầu tư mới chậm Hệ số Icor trên lý thuyết từ 2,5 đến 3,5, nhưng do độ trễ lớn, sự thất thoát trong đầu tư còn nhiều, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả đầu tư thấp

b Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; hàng hóa, dịch vụ thiếu sưc cạnh tranh:

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết là hiệu quả của góc độ sử dụng đồng vốn Đến cuối năm 1999 tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh trên địa bàn gần 200 ngàn tỷ đồng (chưa tính đến các công trình công cộng, cầu đường, đất và một số vật kiến trúc…) Trong đó vốn sở hữu chỉ chiếm 45% Tỷ lệ đó ở khu vực nhà nước 31%, khu vực dân doanh 70% và khu vực có vốn đầu

tư nước ngoài 34% Số vốn bình quân 1 doanh nghiệp đã ít, lại bị chiếm dụng lòng vòng Hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp Tính chung toàn nền kinh tế một đồng vốn chỉ tạo ra được chưa đến 0,2 đồng lợi nhuận 1 năm Trong đó quốc doanh 0,18 đồng và dân doanh 0,23 đồng Nếu trừ đi phần thuế đóng góp cho ngân sách, thì lợi nhuận còn lại trên 1 đồng vốn là 0,11, quốc doanh 0,08 và dân doanh 0,17 thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng Hàng năm số doanh nghiệp bị lỗ khá lớn, thường phải trên 20%

Trang 38

Sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ yếu, giá cao, chất lượng sản phẩm thấp Ngoài ra, chưa ngăn chặn được hiện tượng hàng gian, hàng giả v.v làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ gặp nhiều khó khăn

c Cơ chế quản lý chưa hoàn thiện và sự chậm trễ trong cải cách hành chính là yếu tố cản trở quá trình phát triển:

Chính phủ đã đặc biệt quan tâm tháo gỡ những trở ngại trong cơ chế, tạo điều kiện cho địa phương và doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Song nhiều vướng mắc vẫn còn đó Sức ỳ của các cơ quan quản lý vẫn còn rất lớn Từ chủ trương đến thực hiện còn không ít cản ngại Cái gốc của cơ chế và quản lý hành chính là bộ máy nhà nước và con người

Quá trình chuyển đổi cơ chế là quá trình gay go phức tạp Vì cơ chế cũ đã từng ăn sâu vào nếp nghĩ, cách làm của hàng triệu người Chừng nào cơ chế mới chưa hoàn toàn được xác lập theo chiều sâu, thì tiêu cực còn phát sinh, vì trong nền kinh tế thị trường động lực cá nhân được giải tỏa, nhưng cơ chế quản lý mới chưa hòan thiện, thì động lực cá nhân sẽ biến dạng, méo mó, dẫn đến tình trạng vi phạm kỷ cương, phép nước khá nghiêm trọng, hiện tượng buôn lậu, hối lộ, tham nhũng và các tiêu cực khác liên tục phát sinh

d Đội ngũ cán bộ quản lý và tay nghề người lao động chưa theo kịp với nhu cầu phát triển:

Nguyên nhân chính của những yếu kém và tồn tại trên đây là con người, thiếu hụt những nhà quản lý giỏi, những chủ doanh nghiệp có tài và những người lao động thành thạo công việc

Cho đến nay bộ máy quản lý vĩ mô vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng nấc Đây là mảnh đất nảy sinh lối quản lý hành chính quan liêu, tham nhũng và là

Trang 39

gánh nặng đối với các đơn vị kinh tế cơ sở Điều đáng ngại là trong đội ngũ cán bộ này còn nhiều người thiếu hiểu biết cần thiết và thiếu đạo đức nghề nghiệp

Thành phố có trên 2 triệu lao động, trong đó có gần 6000 người có trình độ trên đại học, gần 25000 cao đẳng, đại học và đội ngũ công nhân kỹ thuật khá đông v.v Nguồn nhân lực đó chiếm tỷ trọng lớn so với cả nước Song so với nhu cầu hãy còn thiếu và yếu Yếu cả về cơ cấu mất cân đối và nhất là yếu về chất lượng đào tạo Mặt khác khâu quản lý, sử dụng còn quá nhiều bất hợp lý, chưa phát huy hết năng lực của đội ngũ này

Ơû đội ngũ quản lý trực tiếp doanh nghiệp, trình độ các giám đốc công nghiệp doanh nghiệp mặc dầu có trình độ cao hơn các ngành khác, nhưng vẫn còn 27% giám đốc chưa có bằng cấp chuyên môn, riêng khu vực dân doanh tỷ lệ này lên đến 37,7% Điều đó rất khó khăn khi họ điều hành cả doanh nghiệp và cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của nhiều doanh nghiệp thời gian qua

Trang 40

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH ĐỔI MỚI CÔNG TÁC KẾ HOẠCH HOÁ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN QUA

Trong bối cảnh chung của cả nước về đổi mới cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đổi mới tuần tự tiến đến đổi mới toàn diện trên nhiều lãnh vực Công tác kế hoạch hoá của Thành phố trong thời gian quan cũng đặt trong bối cảnh đó Trong phạm vi của chuyên đề này, chúng tôi chỉ tập trung phân tích một số vấn đề sau đây:

2.1 XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ KẾ HOẠCH THEO THỜI GIAN

2.1.1 Quy hoạch phát triển

Trong những năm qua, căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000 và tầm nhìn đến năm 2020, thành phố Hồ Chí Minh cũng đã tiến

hành làm quy hoạch kinh tế – xã hội, cụ thể là: Nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 1996 – 2010, hướng vào những vấn đề :

Dựa vào đề cương đã hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo và xây dựng dự án Ban điều hành xây dựng các đề cương chi tiết chung cho Thành phố, cho ngành và cho các Quận (Huyện) Trong quá trình thực hiện đã có quan hệ với các Bộ, Ngành, Viện Trung Ương để nắm bắt quan điểm phát triển ngành và các điạ phương trong cả nước nhằm xây dựng quy hoạch tổng quy hoạch phát triển chung cho cả nước Quy trình xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đã gắn với quy hoạch tổng mặt bằng xây dựng Thành phố, đặc biệt quán triệt các ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về các vấn đề quy hoạch mặt bằng xây dựng và kiến trúc

Ngày đăng: 01/01/2021, 16:51

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w