Quan hệ của bộ phận mua hàng với các bộ phận khác trong tổ chức 02 kinh doanh Nhận xét cuối chương 1 Chương 2 THỊ TRƯỜNG MUA – BÁN TÀU BIỂN THẾ GIỚI VÀ QUI TRÌNH THỦ TỤC MUA – BÁN TÀU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ĐOÀN TRỌNG HÙNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2000
Trang 21.1.4 Quan hệ của bộ phận mua hàng với các bộ phận khác trong tổ chức 02
kinh doanh
Nhận xét cuối chương 1
Chương 2
THỊ TRƯỜNG MUA – BÁN TÀU BIỂN THẾ GIỚI VÀ QUI TRÌNH
THỦ TỤC MUA – BÁN TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG QUỐC TẾ
VIỆC MUA – BÁN TÀU BIỂN TRÊN THẾ GIỚI
2.2 THỊ TRƯỜNG TÀU BIỂN THẾ GIỚI 19
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP TỚI THỊ TRƯỜNG MUA BÁN
TÀU QUỐC TẾ:
Trang 32.3.4 Sự phát triển công nghệ, kỹ thuật toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn tới 27
mua - bán tàu quốc tế
2.4 QUY TRÌNH THỦ TỤC MUA – BÁN TÀU ĐÃ QUA SỬ DỤNG TRÊN
THẾ GIỚI
2.4.1 Các bước của quy trình thủ tục mua – bán tàu qua sử dụng quốc tế 28
Nhận xét cuối chương 230A
Chương 3:
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MUA TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM
ĐÁNH GIA ÙTHỰC TRẠNG ĐỘI TÀU VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1.2 Đôi nét về quá trình hoạt động của Tổng công ty Hàng hải Việt nam 32
3.2 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MUA SẮM TÀU ĐÃ QUA SỬ 35
DỤNG CỦA TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM TRONG THỜI
GIAN QUA 3.2.1 Tình hình mua sắm tàu đã qua sử dụng của Tổng công ty Hảng hải Việt
nam ………35 3.2.2 Cơ sở pháp lý của việc mua – bán tàu đã qua sử dụng tại Việt nam 39
3.2.3 Quy trình thủ tục mua sắm tàu biển đã qua sử dụng thực hiện trong những năm
qua tại Việt nam……….47
Hàng hải việt nam trong thời gian qua
Nhận xét cuối chương 3 54A
Chương 4:
ĐỘNG MUA SẮM TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY
HÀNG HẢI VIỆT NAM
4.1 MỤC TIÊU CỦA CÁC GIẢI PHÁP :
4.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MUA SẮM TÀU
Trang 4ĐÃ QUA SỬ DỤNG TẠI TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM
Xây dựng một kế hoạch phát triển đội tàu lâu dài dựa trên cơ sở
khoa học, phù hợp xu thế phát triển thương mại quốc tế và đội tàu thế giới
Xây dựng hệ thống thu hút các nguồn tài chính nhằm hỗ trợ vốncho
việcđầu tư mua tàu, phát triển đội tàu
Xây dựng quy trình thủ tục mua – bán tàu khoa học, hợp lý
và phù hợp với qui định chung của thế giới
4.2.4 Giải pháp 4 : 68
Quy hoạch, đào tạo lại các cán bộ tham gia mua - bán tàu
Nhận xét cuối chương 4 70A
Kết luận
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 5Lời mởû đầu
Kinh tế là ngành khoa học luôn đóng vai trò tiên phong trong việc nghiên cứu, lựa chọn các phương pháp đúng đắn nhất để phát triển kinh tế, vì thế một công trình nghiên cứu khoa học, dù ở bất kỳ lĩnh vực nào của khoa học kinh tế, muốn có thành công mỹ mãn, cũng không thễ thiếu các vấn đề sau:
1 Lý do chọn đề tài :
a Như chúng ta đều biết năng suất lao động có ảnh hưởng quyết định
năng lực cạnh tranh và sức mạnh kinh tế của từng nước, từng doanh nghiệp Theo Các Mác “Năng suất đóng vai trò quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển xã hội”
Đối với Việt Nam ta hiện nay mục tiêu trước mắt cần phải tích cực đồng bộ đẩy nhanh tối đa, tăng năng suất, giảm dần khoảng cách so với các nước, tránh tụt hậu
Để thực hiện tốt mục tiêu này, trước mắt chúng ta phải tiền hành:
• Đẩy mạnh tối đa đổi mới công nghệ và tăng cường sử dụng công nghệ có hiệu quả
• Dịch chuyển cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
• Huy động sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động hiện có của đất nước
Nghĩa là, chúng ta phải thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóùa đất nước trong điều kiện công nghệ Việt nam hiện tại lạc hậu so với thế giới trung bình 2-3 thế hệ Tốc độ đổi mới công nghệ, chỉ bằng một nửa các nước phát triển ở mức độ trung bình trên thế giới Ngành công nghiệp chế tạo máy cái phụcï vụ cho quá trình sản xuất Việt nam chưa phát triển, không thể đáp ứng được các yêu cầu cung cấp thiết bị do các ngành công nghiệp khác đề ra Do vậy, gần như toàn bộ trang thiết bị, phục vụ cho quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đều phải nhập khẩu từ các nước có trình độ công nghệ phát triển cao, như Nhật bản, EU
Việc nhập khẩu các trang thiết bị này đòi hỏi phải có một nguồn vốn rất lớn, được sử dụng hết sức hiệu quả, nhưng trong điều kiện hiện nay vốn nhập khẩu của chúng ta lại phụ thuộc phần lớn vào các doanh nghiệp Nhà nước và việc quản lý vốn này còn đang gặp nhiều khó khăn Nên chúng ta không thể ngay một
Trang 6lúc tiến hành nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại với giá thành rất cao đểà phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa, công ngiệp hóa đất nước
Đồng thời, trình độ lao động của Việt nam hiện nay - công nhân tay nghề cao chỉ chiếm 3%, cán bộ quản lý còn yếu kém - chưa thể đáp ứng nhu cầu phát
triển công nghệ quốc tế Do vậy, chúng ta chưa thể có đủ điều kiện tiếp thu ngay lập tức, đồng bộ công nghệ tiên tiến trên thế giới
Tóm lại, để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chúng ta cần thiết phải nhập khẩu các trang thiết, công nghệ hiện đại, nhưng trong điều kiện hiện tại chúng ta chưa thể có đủ điều kiện tiếp thu ngay lập tức, đồng bộ công nghệ tiên tiến trên thế giới
b Đối với các nước nghèo đang tiện hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trên thế giới như chúng ta vấn đề đặt ra là có thể tiến hành nhập khẩu các trang thiết bị đã qua sử dụng trang bị cho các ngành kinh tê trong nước nhằm giảm giá thành, phù hợp với trình độ người sử dụng, nhưng cần phải định hướng sao cho thích hợp và có những hướng dẫn cụ thể để cho việc mua sắm các trang thiết bị phục vụ sản xuất có hiệu quả Đồng thời, cần phải có cách nhìn nhận đúng đắn và có phương pháp quản lý quá trình mua sắm các trang thiết bị đã qua sử dụng một cách hợp lý Như vậy, quá trình mua sắm thiết bị đã qua sử dụng chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng năng suất lao động và tăng tốc độ phát triển xã hội Việt Nam
c Trong nhiều năm qua, ngành vận tải biển Việt nam đã đóng góp mang
tính quyết định vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam Đây là ngành có các ảnh hưởng quan trọng nhất tới việc phát triển ngoại thương Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Nhưng, do công nghệ đóng tàu Việt Nam lạc hậu nhiều so với nhu cầu của thế giới nên hầu như toàn bộ tàu vận tải đại dương Việt Nam đều phải nhập khẩu từ các nước có công nghệ tiên tiến Đồng thời, vốn mua tàu có hạn nên đại bộ phận là các tàu đã qua sử dụng Vì thế đây là một ngành nhập thiết bị đã qua sử dụng, có doanh số khá lớn, chiếm tỷ trọng cao trong doanh nghiệp số nhập khẩu thiết bị của Việt Nam
Nhưng cho tới nay, dù đã trải qua gần 30 năm tiến hành mua tàu đã qua sử dụng, vẫn chưa có một nghiên cứu,ï hướng dẫn tỉ mỉ, phù hợp của cơ quan quản lý Nhà nước cho quá trình mua sắm tàu biển đã qua sử dụng Là các chuyên viên kinh tế, kỹ thuật đã từng tham gia vào công tác mua – sắm tàu đã qua sử dụng
Trang 7của ngành hàng hải, chúng tôi nhận thấy thực trạng mua sắm tàu qua sử dụng còn nhiều điều bất cập và không hoàn toàn tuân thủ theo các định hướng đã đề ra:
a Không nhập các công nghệ quá lạc hậu, gây ô nhiễm
b Cho phép doanh nghiệp tự chủ lựïa chọn dự án đổi mới công nghệ, trang thiết bị phải phù hợp với giải pháp huy động vốn
c Định hướng đầu tư trang thiết bị hợp lý
d Phù hợp chiến lược kinh doanh
e Phải có mũi nhọn tiên phong, kết hợp truyền thống và hiện đại để khai thác, sử dụng tối đa nhân lực hiện có
Vì thế, đã dẫn tới hậu quả đáng tiếc “Nhiều con tàu phải bán lỗ sau khi
mua do khai thác không hiệu quả hoặc vì mua quá lạc hậu nên không có khách hàng, hoặc vì quá hiện đại so với trình độ khai thác quản lý của Việt Nam”
Thậm chí, nhiều các bộ phụ trách việc mua tàu qua sử dụng và quản lý
khai thác tàu đã trở thành “tội phạm kinh tế” do sự thiếu hiểu biết về mua sắm
“thiết bị đã qua sử dụng” của chính bản thân họ
Chính những lý do nêu trên đã thôi thúc chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu
“Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Tổng công ty Hàng hải Việt nam”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Hệ thống hóa những lý luận cơ bản của việc mua sắm trang thiết bị đã qua sử dụng
Hệ thống hóa các kinh nghiệm mua sắm tàu biển đã qua sử dụng của các quốc gia trên thế giới
Xác định, đánh giá thực trạng mua sắm tàu biển đã qua sử dụng tại Việt nam trong khoảng hơn 15 năm qua Trên cơ sở đó xác định các ưu nhước điểm của công tác mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Việt nam trong thời gian qua
Tìm ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động mua sắm tàu cũ tại Tổng công ty Hàng hải Việt nam, nâng cao hiệu quả kinh tế của công tác mua sắm tàu đã qua sử dụng góp phần nầng cao lới nhuận kinh tế cho hoạt động kinh doanh Hàng hải Việt nam
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài :
Phạm vi nghiên cứu mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Việt nam sẽ bao gồm toàn bộ ngành hàng hải Việt nam với các công ty vận tải hàng hải do trung ương, địa phương quản lý, trong đó chủ đạo là Tổng công ty Vận tải Việt nam, nhưng
Trang 8trong khuôn khổ của đề tài này nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề mua sắm tàu đã qua sử dụng của Tổng công ty Hàng hải Việt nam
Do việc mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Việt nam trải qua nhiều thời kỳ lịch sư,û phát triển kinh tế, với nhiều hệ thống chính sách khác nhau, nhằm đảm bảo tính hiệu quả, thiết thực của đề tài chúng ta chỉ giới hạn nghiên cứu trong thời kỳ đất nước bước vào thời ký đổi mới từ 1985 tới nay
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu của chúng tôi dựa trên các tài liệu hướng dẫn mua sắm trang thiết bị qua sử dụng của thế giới, tài liệu mua – bán tàu quốc tế mà chúng tôi đã thu thập từ InterNet, các công ty tư vấn mua – bán tàu, trang thiết bị quốc tế đã dày công dịch thuật, nghiên cứu, chọn lọc Cũng như tài liệu mua bán tàu thực tế của Tổng công ty Hàng hải Việt nam, các cuộc điều tra, khảo sát cá nhân tiến hành tại các công ty có mua – bán tàu cũ thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt nam nghiên cứu Nhằm nghiên cứu các vấn đề cho kết quả một cách chính xác, có hiệu quả khi áp dụng thực tế chúng tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
a Phương pháp thống kê
b Phương pháp tổng hợp phân tích các số liệu
c Phương pháp điều tra, xử lý số liệu bằng các chương trình xử lý, quản lý dữ liệu : SPSS 10.1, Access 2000, Exel 2000
d Phương pháp chuyên gia
5 Những điểm mới trong đề tài nghiên cứu này :
Công tác mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Việt nam đã thực hiện gần 50 năm nay, nhưng tới nay chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hoàn thiện vấn đề này Chưa có một sự kết nối các vấn đề liên quan tới mua sắm tàu cũ trên thế giới và Việt nam, giữa việc mua sắm tàu cũ và việc đầu tư phát triển kinh tế tại Việt nam ngay trong ngành Hàng hải Việt nam các đơn vị đều tiến hành mua sắm tàu qua sử dụng nhưng không có sự nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và rút ra những biện pháp thích hợp nhằm hoàn thiện công tác mua sắm tàu qua sử dụng tại Việt nam
Thông qua đề tài nghiên cứu này chúng tôi đã đúc rút các kinh nghiệm mua sắm tàu qua sử dụng trên thế giới, đồng thới chúng tôi cũng xem xét một các đầy đủ, khoa học và toàn diện thực trạng mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Việt
Trang 9nam, kết hợp với việc so sánh việc mua sắm tàu đã qua sử dụng giữa các đơn vị trong nước và trên thế giới nhằm phát hiện ra những vấn đề khác biệt, không phù hợp tại Việt nam nếu nghiên cứu riêng lẽ tại từng công ty, đơn vị sẽ không thể nào thấy đươc
Trên cơ sở đó, chúng tôi cố gắng để xuất ra ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác mua sắm tàu đã qua sử dụng tại Tổng công ty Hàng hải Việt nam nói riêng và tại Việt nam nói chung
6 Bố cục luận văn :
Luận văn của chúng tôi bao gồm 70 trang, được chia thành 4 chương có nội dung như sau :
Chương 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về mua sắm thiết bị đã qua sử dụng
Chương 2 : Thị trường tầu biển quốc tế và qui trình, thủ tục mua sắm tàu biển đã
qua sử dụng
Chương 3 : Phân tích đanh giá tình hình mua tàu biển đã qua sử dụng tại Tổng
công ty Hàng hải Việt nam
Chương 4 : Các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động mua sắm tàu biển đã qua
sử dụng tại Tổng công ty Hàng hải Việt nam
Trong luận văn này ngoài Lời mở đầu, Kết luận còn kèm theo 04 sơ đồ, 10 bảng, biểu và 19 biểu đồ và đồ thị, đồng thời cón có 12 bộ phụ lục đính kèm, nhằm
đạt tính thuyết phục cao, giúp người đọc nắm được các vấn đề đã được trình bày
Mặc dù, đã hết sức nỗ lực cố gắng nghiên cứu và thực hiện đề tài này, nhưng do đây là mội đề tài mới, khó, các số liệu phải thu thập từ nhiều ngành, nhiều nguồn, nhiều nước và viết bằng các thứ tiếng khác nhau, quan trọng hơn cả là các số liệu không được công bố công khai, nên chắc rằng luận án còn nhiều khiếm khuyết, chúng tôi kính mong các Thầy cô, các Vị phản biện, các bạn đọc chân thành góp ý để công trình nghiên cứu của chúng tôi có điều kiện hoàn thiện hơn trong tương lai
Xin trân trọng cảm ơn
Người thực hiện đề tài
Trang 10Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MUA SẮM
THIẾT BỊ ĐÃ QUA SỬ DỤNG
Ngay từ đầu thế kỷ XIII trước Công Nguyên, mua sắm hàng hóa đã xuất hiện và trở thành một nghề kinh doanh, các thương gia Phoenicican đã dùng các tấm đất sét nung khắc chữ để xác định những nơi mua hàng của họ Những đơn đặt mua hàng đầu tiên được viết trên các mẩu giấy nhỏ có từ thời Julius Caesas, nó được dùng để giao nhận các bình dầu, rượu và mật
Ngày nay hơn 40 trường Đại học và Cao đẳng ở Mỹ đã có chương trình học bổng về lĩnh vực đầu vào Những chương trình quản trị mua sắm và cung ứng hàng hóa này cũng được áp dụng ở Châu Âu, Úc, Á, Phi
Và 20 năm nữa quản trị mua hàng sẽ là một thách thức hấp dẫn trong lịch sử phát triển Quản trị mua hàng ngày càng được biết như một chức năng tương xứng với thương lượng, tiếp thị và tài chính Nó đã thực sự trở thành một bộ phận quan trọng trong chức năng hoạch định chiến lược của tổ chức (Trích “Quản trị mua và cung ứng hàng hóa”- Donal W Dobler & David N Burt)
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MUA HÀNG:
1.1.1 Khái niệm:
Mua hàng là một nghề mang tính năng động, nó đòi hỏi người thực hiện phải có một kiến thức chuyên môn và sự chuẩn bị lâu dài về kỹ năng, phương pháp thực hiện, cần phải tuân thủ những nguyên tắc có tính khoa học, chuyên môn và lịch sử Cần phải được quản trị dựa trên cơ sở kỹ năng thực hiện theo một phương pháp đúng dựa trên cơ sở sức mạnh của tổ chức và các nghiên cứu nhu cầu công việc đã đề ra
1.1.2 Tầm quan trọng của mua hàng:
- Đảm bảo chất lượng sản phẩm thông qua mua thiết bị và nguyên vật liệu bán thành phẩm
- Giảm thiểu chi phí thông qua việc quản lý tốt các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
- Đảm bảo đạt được đúng tiến độ sản xuất, khống chế được thời gian kể từ khi sản xuất bắt đầu đến khi đưa sản phẩm ra thị trường
- Cung ứng vật tư, trang thiết bị phù hợp với yêu cầu kỹ thuật tương thích, kiểm soát được các yếu tố kỹ thuật thông qua đầu vào
- Đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất thông qua phương án cung ứng, tiến hành liên kết phối hợp các nhà cung ứng nhằm giảm thiểu, triệt tiêu các gián đoạn trong cung ứng và sản xuất
Trang 111.1.3 Vị trí của mua hàng trong tổ chức kinh doanh:
1.1.3.1 Là mặt chức năng kinh doanh tương xứng trong hệ thống tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty,
Gồm các chức năng :
Xây dựng ý tưởng kinh doanh, tổ chức quản trị tài chính, nhân sự, mua hàng sản xuất - chế biến, phân phối là những khâu không thể thiếu trong một doanh nghiệp dù là kinh doanh thương mại, dịch vụ hay sản xuất Trong đó mua hàng là một khâu cơ bản không thể thiếu trong kinh doanh Không thể có tổ chức kinh doanh thành công, có tiềm năng phát triển mà lại không có sự thành công của hoạt động mua hàng Việc mua và phân phối vật tư có ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất kinh doanh của Công ty
1.1.3.2 Mua hàng hóa, bán thành phẩm và nguyên vật liệu là một yếu tố cần thiết cho hoạt động Sản xuất & Kinh doanh
Như chúng ta đã biết :
Muốn tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp cần phải phối hợp tốt các yếu tố : Máy móc, nhân lực nguyên vật liệu, tiền, quản trị
Trong đó nguyên vật liệu là yếu tố sống còn của doanh nghiệp, nó phải được cung cấp đúng lúc, đúng lượng, đúng chỗ với chi phí đúng mức có thể chấp nhận được Mỗi lỗi lầm của việc cung ứng nguyên liệu đều làm tăng chi phí của Công ty làm giảm lợi nhuận
Từ năm 1970 đến nay chi phí mua nguyên vật liệu, bán thành phẩm luôn chiếm ≥ 60% trong cấu thành sản phẩm nên mỗi thay đổi của nó ảnh hưởng rất lớn tới kết quả sản xuất kinh doanh
Do vậy, mua sắm là một yếu tố không thể thiếu đối với một doanh nghiệp đang tồn tại
1.1.3.3 Mua hàng hóa, trang thiết bị là Quá trình quản trị sản xuất ngoài
Công ty
Nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng hóa của một Công ty không đơn thuần là nguyên vật liệu thô mà còn các thứ khác như bán thành phẩm, các chi tiết bộ phận máy để lắp ráp hoàn thiện sản phẩm Vì vậy thông qua việc mua các nguyên liệu, bán thành phẩm bộ phận mua hàng đã quản trị được lĩnh vực sản xuất ngoài Công ty và thông qua đó điều tiết sản xuất của Công ty
Như vậy, chứng tỏ chức năng mua hàng là một bộ phận hoạt động của doanh nghiệp, nó góp phần hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Thông qua việc tiết kiệm, giảm thiểu chi phí đầu vào quá trình mua sắm sẽ làm tăng lợi nhuận cho Công ty
Trang 121.1.4 Quan hệ của bộ phận mua hàng với các bộ phận khác trong tổ chức kinh doanh:
Bộ phận mua hàng đóng vai trò quan trọng trong phần lớn các hoạt động của Công ty nó có mối quan hệ với hầu hết các bộ phận trong Công ty Hoạt động của nó có ảnh hưởng tới toàn bộ các bộ phận trong hệ thống kinh doanh
1.1.4.1 Mối quan hệ Mua sắm - Kỹ thuật:
Kỹ thuật là khâu chuẩn bị sản xuất, thiết lập các quy trình sản xuất, quy định chất lượng sản phẩm đầu ra Để hoàn thành nhiệm vụ này nó phải được hỗ trợ của bộ phận mua - kinh doanh Bộ phận mua hàng phải đi trước một bước, cung cấp trang thiết bị, vật tư để bộ phận kỹ thuật chuẩn bị sản xuất Chất lượng, giá cả vật tư máy móc là yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật sản xuất, chi phí sản xuất, dịch vụ kinh doanh, Đồng thời, kết hợp yếu tố kỹ thuật – mua sắm cho phép tính toán được chi phí sản xuất chính xác Hơn nữa, việc cung cấp vật tư, thiết bị góp phần quyết định mức độ thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu dùng đối với sản phẩm
Kỹ thuật – Mua sắm là các khâu không thể tách rời trong một hệ thống Sản xuất – Kinh doanh
1.1.4.2 Mối quan hệ Mua sắm - Sản xuất:
Mua hàng quyết định thời gian, tiến độ sản xuất Nếu khâu mua hàng không tốt có thể sẽ ngưng trệ sản xuất, giảm tiến độ sản xuất kinh doanh
Nguyên vật liệu không tốt sẽ không thực hiện tốt quy trình công nghệ, gây sự cố ách tắc sản xuất, chất lượng hàng hóa đầu ra bị ảnh hưởng
Việc này sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận, cũng như chiến lược kinh doanh của Công ty
1.1.4.3 Mối quan hệ Mua sắm - Bán sản phẩm:
Mua nguyên vật liệu, bán thành phẩm và trang thiết bị sản xuất phải được dự trù trên cơ sở, số lượng, chất lượng hàng hóa bán ra theo dự kiến
Mua nguyên vật liệu, máy móc và bán sản phẩm phải phối hợp được các lợi ích kinh doanh, nếu giải quyết thích hợp, thỏa đáng mối quan hệ mua - bán sẽ đạt được tối đa hóa lợi nhuận Nhiều công ty luôn chạy theo doanh số nhưng nếu việc gia tăng sản xuất bán sản phẩm làm cho giá nguyên vật liệu công nghệ gia tăng cao hơn thì sẽ có tác hại cho lợi nhuận Đồng thời, trong quá trình mua hàng chúng ta có thể tiếp xúc với rất nhiều người bán hàng, điều đó mang lại các thông tin bổ ích cho kỹ năng bán hàng ở bộ phận phân phối sản phẩm
Tóm lại, mua sắm – bán sản phẩm có mối quan hệ khăng khít hữu cơ, không thể tách rời trong một doanh nghiệp
Trang 131.1.4.4 Mối quan hệ Mua sắm - Tài chính:
Hoạch định kế hoạch tài chính tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kế hoạch mua sắm vật tư, máy móc, trang thiết bị, công nghệ sản xuất Nó có thể mang lại các cơ hội cho phép mua vật tư, máy móc, công nghệ với giá rẻ, hạ chi phí sản xuất, gia tăng bán hàng, tối đa hóa lợi nhuận, bổ trợ cho nguồn tài chính của Công ty
Quá trình mua hàng được hoạch định một cách tối ưu sẽ giúp cho khâu tài chính tổ chức quản trị Tài chính tốt, huy động các nguồn lực tài chính phù hợp với từng giai đoạn, tạo thế chủ động trong kinh doanh, giúp cho doanh nghiệp thuận lợi trong tổ chức kinh doanh thành công
Tài chính – Mua sắm trong doanh nghiệp luôn hoạt động song song không thể tách rời
i Các loại hình mua hàng cơ bản :
1.1.5.1 Mua để kinh doanh (bán lại)
Thương nhân là người thực hiện mua để kinh doanh, thương nhân xác định những gì người tiêu dùng muốn tìm cách mua nó để sau đó có thể cộng thêm số lời gia tăng và bán nó cho khách hàng nhằm thỏa mãn các nhu cầu chất lượng, số lượng hàng hóa và dịch vụ ở mức yêu cầu của khách hàng
1.1.5.2 Mua nhằm mục đích sử dụng, tiêu dùng hoặc sản xuất
Là Người mua tiến hành mua các sản phẩm để tiêu dùng hoặc mua nguyên vật liệu, các chi tiết phụ tùng máy móc phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm bán trên thị trường
Ngoài ra người ta còn có thể phân loại theo các tiêu thức khác như : Mua, Vay – Mua, Thuê – Mua
1.1.6 Các bước của quá trình mua hàng :
1 Xác định nhu cầu mua hàng phối hợp sản xuất, kỹ thuật, bán sản phẩm để xác định mua hàng
2 Xác định năng lực tài chính
3 Lựa chọn và thương lượng với các nhà cung cấp khác nhau
4 Thẩm định, xác định các nhà cung cấp
5 Khảo sát thị trường xác định giá, điều kiện cung ứng tối ưu
6 Phân tích nhu cầu, năng lực Công ty
7 Lựa chọn nhà cung cấp tiêu chuẩn
8 Phát đơn đặt hàng
9 Quản trị quá trình mua sắm – cung ứng
10 Duy trì mối quan hệ với các nguồn hàng cung cấp
Các nghiệp vụ thông thường cần phải có khi tiến hành quá trình mua sắm vật tư, hàng hóa, máy móc trang thiết bị :
Trang 14+ Xác định yêu cầu của doanh nghiệp trong quá trình phát triển và sự thay đổi của thương trường
+ Nghiên cứu thị trường mua vật tư, thiết bị và bán sản phẩm
+ Quản trị hoạt động mua mua sắm
+ Quản trị chất lượng của hàng hóa và dịch vụ cung cấp
+ Nghiệp vụ vận tải, cất giữ máy móc thiết bị, vật tư có được do mua sắm
Quá trình mua sắm sẽ thành công nếu chúng ta biết áp dụng các nghiệp vụ phù hợp với các bước tiến hành, nhưng trong thực tế không phải bao giờ việc này cũng đạt kết quả mỹ mãn, muốn có thành công trong các thương vụ mua sắm, nhất là trong việc mua sắm thiết bị sản xuất, một loại hàng hóa đặc biệt, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu phần tiếp theo của luận án
1.2 MUA SẮM THIẾT BỊ SẢN XUẤT:
Đây là một dạng mua sắm đặc biệt bao gồm mua sắm các thiết bị như máy cái, dây chuyền sản xuấ,t nhà xưởng, phương tiện vận tải có giá trị lớn, sử dụng lâu dài có thể mới, đã qua sử dụng Dạng mua sắm này diễn ra có thể dưới hình thức mua, vay – mua hoặc thuê - mua
1.2.1 Khái niệm:
Mua sắm thiết bị sản xuất thực chất là một quá trình mua sắm vật tư, máy móc có giá trị lớn, quyết định kết quả kinh doanh, tương lai của doanh nghiệp và đưa vào quá trình sản xuất, ví dụ : xe cộ, máy bay, tàu thủy, máy cái việc mua sắm này phụ thuộc vào các yếu tố phát triển kỹ thuật quản lý, xã hội, con người, đồng thời chính nó đóng vai trò quyết định trở lại với đời sống kinh tế của tổ chức
1.2.2 Đặc điểm của thiết bị sản xuất và mua sắm thiết bị sản xuất :
1.2.2.1 Thiết bị sản xuất có giá trị cao, sử dụng lâu dài, có kích cỡ lớn:
Thiết bị tài sản so với vật tư, nguyên liệu, văn phòng phẩm có giá trị cao hơn nhiều Có thời hạn sử dụng và khấu hao sử dụng lâu dài từ một năm cho tới hàng chục năm
Có kích cỡ lớn như máy móc, tàu, xe cộ, dây chuyền sản xuất
Do vậy, đặc trưng của phần lớn việc mua sắm trang thiết bị sản xuất là yêu cầu phải có thời gian chờ đợi Trong khi một số loại trang thiết bị sản xuất đã là tiêu chuẩn ngay khi được bán ra thì rất nhiều loại khác lại không phải như vậy Nhiều loại máy móc sản xuất và thiết bị chuyền động hàng đầu được làm ra (ít nhất là từng phần) để vận hành trong các điều kiện cụ thể đặc trưng cho công việc của từng nơi mua thiết bị Do đó, thời gian chờ đợi cho việc sản xuất luôn luôn là hàng tháng hoặc có khi là hàng năm Ví dụ như việc sản xuất một máy
Trang 15phát tuabin hơi nước có lẽ đòi hỏi công việc đàm phán và xúc tiến khác hẳn với công việc được đòi hỏi trong việc mua sản phẩm thông thường
1.2.2.2 Việc mua sắm diễn ra không thường xuyên:
Thường khoảng một vài năm mới diễn ra một lần Do các thiết bị đang sử dụng vấn đề đã phù hợp, có kinh nghiệm khai thác thiết bị hiện tại của DN Thiết
bị mua thêm chỉ được thực hiện khi thiết bị đang dùng bị hư hỏng hoặc nhu cầu sản xuất ép buộc
Do việc sử dụng cần phải có sự huấn luyện lâu dài trước sau khi mua sắm Không dễ dàng cho hiệu quả sử dụng, ngay sau khi mua sắm
1.2.2.3 Thực chất và mức độ chi tiêu cho mua sắm thiết bị tài sản:
Việc chi tiền quỹ của công ty để mua sắm trang thiết bị sản xuất là một khoản đầu tư Nếu được mua một cách sáng suốt và vận hành có hiệu quả, trang thiết bị sản xuất sẽ tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu Vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất nên việc lựa chọn các trang thiết bị sản xuất chính cần được sự quan tâm rất lớn của cấp lãnh đạo
Mặc dù giá cả các trang thiết bị sản xuất rất khác nhau, việc mua sắm phần lớn các thiết bị chính đều cần chi một khoản tiền lớn Tuy nhiên, giá mua một thiết bị thường không quan trọng bằng các yếu tố chi phí khác Vì một cái máy thường được sử dụng trong mười năm hay hơn nữa nên tổng chi phí vận hành và bảo dưỡng trong suốt đời sống của nó có khi còn lớn hơn chi phí ban đầu cho nó nhiều Vì vậy, tổng chi phí trong đời sống của máy, cân đối với năng suất của nó, là yếu tố chi phí quan trọng hàng đầu Ước tính chi phí vận hành và bảo dưỡng cho những năm tới thật không dễ; thường thì những chi phí đó thay đổi từ năm này qua năm khác Do đó, những cuộc thảo luận về việc lựa chọn giữa một số máy khác nhau thường xoay quanh việc liệu các ước tính chi phí cụ thể đã thật chính xác chưa
Việc lựa chọn thời điểm mua trang thiết bị sản xuất thường thể hiện tình trạng nghịch lý Thường thì khả năng cung cấp nói chung của các nhà sản xuất trang thiết bị sản xuất không điều chỉnh nhanh chóng được theo sự thay đổi mức cầu Cho nên vì phần lớn việc mua sắm trang thiết bị sản xuất của các công ty diễn ra tương đối không thường xuyên và thường có thể bị hoãn lại nên các nhà sản xuất tư liệu sản xuất công nghiệp thường thấy công việc kinh doanh của mình như kiểu “lúc no lúc đói” Khi công việc kinh doanh của khách hàng tiềm năng tốt đẹp thì cần có thêm thiết bị sản xuất để thỏa mãn nhu cầu tăng thêm của khách hàng Nhưng vì các khách hàng khác cũng ở trong tình trạng như vậy nên người mua cũng có khi thấy giá trang thiết bị sản xuất tăng do thị trường thiếu cung Ngược lại, khi công việc kinh doanh của người mua đi xuống và không cần thêm thiết bị nên trang thiết bị sản xuất đưọc cung ứng tràn ngập, thường là với giá giảm
Trang 161.2.3 Các hình thức mua sắm:
Các hình thức thông dụng nhất bao gồm :
1.2.3.1 Mua bằng vốn sẵn có hoặc vay mua đưa vào sử dụng:
Công ty có thể dùng vốn sẵn có hoặc đi vay, góp vốn, mua thiết bị tài sản về sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất của Công ty nhằm mang lại lợi nhuận
1.2.3.2 Thuê - mua:
Công ty có thuê thiết bị của nhà cung cấp nhằm đảm bảo yêu cầu của Công ty Thực chất đây là việc mua trả góp Hình thức là Công ty thuê tài sản của nhà cung cấp, nhưng sau khi đã trả hết tiền thuê có tính tới khấu hao thiết bị thì nhà cung cấp giao toàn bộ thiết bị lại cho Công ty
1.2.3.3 So sánh giữa 2 hình thức mua và thuê - mua:
1.2.3.3.1 Các yếu tố tạo thuận lợi cho việc thuê-mua thiết bị
1 Tính thuận tiện trong vận hành và quản lý
2 Tính linh hoạt trong vận hành
3 Đề phòng khỏi bị lạc hậu
4 Cân đối tài chính
Nhìn một cách nghiêm túc dưới góc độ một cơ chế tài chính, nói chung việc thuê thiết bị cũng có ưu điểm về dòng tiền mặt so với việc thỏa thuận vay vốn ngân hàng theo cách thông thường Thời hạn thanh toán cho việc thuê thiết bị hầu hết đều có thể được kéo dài hơn so với vay tiền ngân hàng, vì vậy giảm được lượng tiền tương đối phải chi trả hàng tháng
1.2.3.3.2 Các yếu tố bất lợi cho việc thuê thiết bị
1 Chi phí Đặc trưng của cho thuê tài chính là kéo dài tới khoảng 3/4 đời
sống hữu dụng ước tính của thiết bị, và chi phí phải trả hàng tháng gộp toàn bộ lại là khoảng 120-135% của giá mua thiết bị
2 Kiểm soát thiết bị Bất lợi thứ hai là việc bên cho thuê vẫn giữ quyền
kiểm soát thiết bị
Trong lĩnh vực mua sắm thiết bị sản xuất, việc mua sắm thiết bị đã qua sử dụng đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong đầu tư sản xuất và việc mua sắm này cũng có những điểm đặc thù riêng của nó Muốn đạt hiệu quả đầu tư sản xuất cao thông qua quá trình mua sắm thiết bị sản xuất đã qua sử dụng, chúng ta phải nắm vững những đặc thù riêng này khi tiến hành tổ chức mua sắm
1.3 MUA SẮM THIẾT BỊ SẢN XUẤT ĐÃ QUA SỬ DỤNG:
Việc mua thiết bị sản xuất không hạn chế người mua bắt buộc phải mua trang thiết bị mới Trong thực tế, tại VN cũng như trên thế giới, việc mua bán thiết
bị máy móc qua sử dụng chiếm một tỉ lệ lớn trong số máy móc thiết bị được đưa vào quá trình mua bán
1.3.1 Tại sao người ta lại muốn mua thiết bị sản xuất đã qua sử dụng?
Trang 17Một người mua có thể mua thiết bị đã qua sử dụng bởi một số lý do sau đây:
A) Chi phí cho thiết bị đã qua sử dụng thấp hơn nhiều so với thiết bị mới Các phân tích của việc hoàn vốn trong đầu tư có thể cho thấy dễ dàng hơn mua thiết bị mới, ngay cả không kể tới yếu tố này thì với cùng tình trạng tài chính công ty có thể dễ dàng đáp ứng mua thiết bị qua sử dụng so với thiết bị mới tương đương với giá của nó thấp hơn nhiều
B) Thiết bị đã qua sử dụng thường dễ thích ứng với điều kiện sản xuất của công ty so với thiết bị mới Trong một số phương án kinh doanh, yếu tố này cho phép có thể bỏ qua nhiều yếu tố khác
C) Lý do thông thường nhất để người ta mua thiết bị đã qua sử dụng vì nó đáp ứng thỏa đáng các nhu cầu của người mua, trong những trường hợp mà mua thiết bị mới là không phù hợp Trong những trường hợp các yêu cầu khai thác đòi hỏi kỹ năng vận hành cao, thiết bị luôn có tính sẵn sàng hoạt động, đòi hỏi cho công suất tối đa hoặc dùng trong ngắn hạn, thiết bị đã qua sử dụng thường cho hiệu quả kinh tế cao trong các năm khai thác sau đó
Với những lý do nêu trên các nhà sản xuất hàng hóa sẵn sàng đầu tư trang thiết bị sản xuất vào dây chuyền sản xuất của họ cho dù quá trình đó luôn có nhiều đặc thù khó khăn trở ngại
1.3.2 Đặc thù của mua thiết bị sản suất đã qua sử dụng:
Ngoài tất cả các đặc trưng vốn có của mua sắm trang thiết bị sản xuất nói chung, mua sắm thiết bị sản xuất đã qua sử dụng còn có thêm các đặc thù riêng sau đây :
a Bản chất của việc mua sắm thiết bị sản xuất qua sử dụng là chi phí đầu
tư sản xuất Nếu mua nhiều, khai thác hiệu quả tài sản này sẽ tạo ra lợi nhuận cho chủ đầu tư
Giá mua chi phí đầu tư lớn, biến động nhiều, các chi phí đa dạng
b So với các loại hàng hóa khác mức độ điều chỉnh nhu cầu của loại tài
sản này chậm, thủ tục mua bán kéo dài dễ làm thương vụ bị hủy bỏ giữa chừng
Khi sản xuất của người mua bị đình đốn hoặc phá sản việc bổ sung đổi mới tài sản cố định là không cần thiết và thậm chí người ta còn bán thiết bị sản xuất
đi làm cho gia tăng cung thiết bị đã qua sử dụng Nguồn cung cấp trở nên dồi dào, giá thiết bị qua sử dụng sẽ giảm mạnh
Thực tế, khi kinh tế suy thoái giá trang thiết bị đã qua sử dụng bị giảm sút mạnh
c Việc mua - bán thiết bị qua sử dụng là vô cùng phức tạp, khó mà xác
định được chính xác tình trạng hiện tại của máy móc qua sử dụng và dự báo chính xác dạng mức độ và thời gian phục vụ máy mang lại cho ta nên cần thiết phải có sự sáng suốt của một người chuyên mua sắm thiết bị qua sử dụng (khi thực hiện
Trang 18mua nó) Hơn nữa, công việc mua bán thực sự cần thiết phải có sự giúp đỡ, hỗ trợ của chuyên gia bảo trì sản xuất có kinh nghiệm
Cần phải thực hiện việc kiểm tra, uy tín, chất lượng của các nhà cung cấp thiết bị đã qua sử dụng Bên cạnh đó còn kiểm tra kỹ lưỡng thiết bị máy móc trước khi quyết định mua Ngay khi có thể phải kiểm tra máy móc định mua thông qua một chu kỳ hoạt động hoàn chỉnh
d Một người dự định mua thiết bị phải xác định được tuổi, thời gian phục
vụ của máy, thông qua các số serial của máy có thể tiếp cận hồ sơ của nhà chế tạo xác định tuổi của máy Các hiểu biết về tuổi máy, quá trình khai thác trước đây của máy sẽ là hướng dẫn hỗ trợ đắc lực, cơ bản cho việc xác định hiệu quả hoạt động sau này của máy Khi làm một đơn vị đặt hàng mua thiết bị đã qua sử dụng cần phải thận trong trong các tiêu chuẩn cần thiết Cần có một môâ tả rõ ràng máy móc Đơn đặt hàng phải chỉ rõ các phụ kiện bao gồm, các dịch vụ bảo hành cung cấp trước và sau khi giao nhận và vấn đề tài chính cũng như thủ tục giao hàng, cũng phải ghi rõ trong thỏa thuận đặt hàng ban đầu
Nói chung, khi bán thiết bị đã qua sử dụng người bán thường không cung cấp các dịch vụ sau bán hàng Tất cả các khâu vận chuyển, xếp dỡ, lắp đặt và chi phí chạy thử cũng như các rủi ro đều do người mua phải chịu
Tóm lại, mua sắm trang thiết bị đã qua sử dụng là một quá trình hết sức khó khăn, phức tạp đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm thực tế lâu năm mới có thể thực hiện thành công các thương vụ mua sắm trang thiết bi sản xuất đã qua sử dụng
1.3.3 Các nguồn cung cấp thiết bị sản xuất đã qua sử dụng:
1.3.3.1 Các thiết bị qua nhà chuyên kinh doanh
Các thiết bị đã qua sử dụng được cung cấp chủ yếu bởi các nhà kinh doanh thiết bị đã qua sử dụng, các nhà kinh doanh chuyên mua các thiết bị dây chuyền tháo dỡ và tổ chức tiếp thị bán chúng Các nhà kinh doanh này thường hoạt động trong các ngành công nghiệp lớn và theo một quy tắc nhất định sẵn có, họ luôn cung cấp đều đặn các thiết bị qua sử dụng chính yếu cho thị trường
Các nhà kinh doanh chuyên nghiệp thường chuyên kinh doanh một số dạng thiết bị nào đó, và bán chúng dưới dạng : phục hồi hoặc hoán cải
Các máy móc được phục hồi thường được bảo hành ở mức độ thấp nhất của nhà kinh doanh và bán với giá 40 - 50% so với máy mới cùng loại Các máy móc phục hồi thường được vệ sinh, sơn lại, thay thế các chi tiết đã bị hư hỏng mài mòn, sau đó mang thử hoạt động ở mức tải, xác định
Các máy móc đã được hoán cải nhà kinh doanh sẽ bảo hành ở mức độ cao hơn nhiều, nhưng giá bán khoảng 50 - 70% so với giá máy mới cùng loại Máy hoán cải thường được sửa chữa hoàn thiện, chúng được tháo dỡ toàn bộ, tất cả các chi tiết bị mài mòn hư hỏng được thay thế, các bề mặt trầy xước được mài rà lại
Trang 19Sau đó lắp lại toàn bộ phục hồi kích thước hình dáng như mới ban đầu, đưa vào thử tải trước khi bán
1.3.3.2 Các thiết bị, máy móc bán trực tiếp bởi chủ máy
Các thiết bị đã qua sử dụng được chủ sở hữu đưa vào mua bán bởi các lý
do thích hợp như sau :
Khi một công ty mua sắm các trang thiết bị mới, họ thường thải ra các thiết bị họ đang sử dụng Mặc dù, máy móc đó có thể lỗi thời so với người chủ cũ, nhưng nó thường hoàn toàn thỏa mãn các nhu cầu của những người mua khác muốn mua lại nó
Hoặc nếu có các thay đổi chính yếu trong quá trình sản xuất hoặc thiết bị của công ty cũng sẽ dẫn tới các thiết bị sản xuất cần phải trang bị tốt hơn nhằm thích ứng sản xuất thì thiết bị cũ cũng sẽ phải bán đi
Cuối cùng, một số thiết bị đã qua sử dụng có thể được cung cấp tự chủ của nó do mất hợp đồng sản xuất sản phẩm hiện đại hoặc do bị ngưng trệ, đình chỉ sản xuất kinh doanh
Đồng thời, một số chủ máy muốn bán thiết bị đã qua sử dụng của mình trực tiếp cho người sử dụng tiếp theo do bởi họ nghĩ rằng họ có thể bán được giá cao hơn so với bán cho người kinh doanh Một số người mua cũng muốn mua theo phương thức này, nó cho phép họ xem xét, kiểm tra, máy móc đang hoạt động và học hỏi được những gì cần thiết thông qua quá trình sử dụng của chủ cũ trước khi
đi tới quyết định mua nó
1.3.3.3 Các thiết bị sản xuất được mua bán thông qua các môi giới
Nhà môi giới là người hoạt động trung gian đưa người mua tới cho người bán (đưa người mua và người bán lại với nhau) Nhưng họ không chịu trách nhiệm cho việc mua bán thiết bị Nhà môi giới đôi khi thực hiện thanh lý phần lớn các thiết bị của một nhà máy Hoặc một nhà cung ứng thiết bị công nghiệp hoặc đại lý của nhà sản xuất cũng hoạt động như một nhà môi giới, hỗ trợ đắc lực khách hàng, giúp công ty giải quyết được một phần thiết bị có thị trường nằm trong giới hạn trong loại sản phẩm, họ cung ứng
1.3.3.4 Mua thông qua các cuộc bán đấu giá
Các cuộc bán đấu giá tạo nên một nguồn thiết bị qua sử dụng Bán đấu giá có một vài dạng như sau :
Một số công ty tổ chức bán đấu giá các sản phẩm họ kinh doanh, các thiết
bị sẵn có trong kho của họ
Thông thường hơn là tổ chức bán thông qua các công ty cung ứng dịch vụ bán đấu giá, các công ty này được hưởng huê hồng thông qua mua bán, huê hồng này thường thấp hơn huê hồng môi giới
Nội dung mua qua đấu giá có tỉ lệ rủi ro cao hơn so với các nguồn cung ứng khác, do các máy móc bán đấu giá thường không có bảo hành và hơn nữa rất hiếm khi người mua có thể xem trực tiếp máy móc tại cuộc bán đấu giá Tuy
Trang 20nhiên trong một số trường hợp máy móc có thể được xem tại cuộc bán đấu giá thông qua video hoặc các màn hình từ xa, cho phép người mua, xem máy móc đang hoạt động tại nhà máy ở nơi khác
1.3.4 Qui trình mua sắm thiết bị sản xuất đã qua sử dụng:
Xem sơ đồ 1.1
1.3.4.1 Thu thập và xử lý thông tin mua - bán:
1.3.4.1.1 Đơn vị tiếp nhận xử lý thông tin ban đầu:
Bộ phận mua và cung ứng vật tư thiết bị của Công ty là đảm bảo được sự cân đối phát triển toàn diện trong trang bị các thiết bị sản xuất Do có thể tiếp xúc hàng ngày với những người bán hàng và các dữ liệu thương mại mới nhất Những cán bộ mua hàng có được khả năng nhạy bén cho phép họ nắm bắt, lựa chọn được những thông tin có giá trị cho người quản lý và khai thác thiết bị
Trong các Công ty lớn, thường có mặt hoặc một nhóm chuyên gia đảm trách việc mua bán này
1.3.4.2.2 Những tiền đề đặt ra cho việc thu thập và lựa chọn thông tin
Khi có một nhu cầu do bộ phận sử dụng, sản xuất đặt ra, nó được phân tích
sơ bộ và xét tới các yếu tố phát triển trong công nghệ mới và khả năng thích ứng với các hoạt động sản xuất hiện có và sau này của Công ty
Các chuyên gia mua cần phải có khả năng, đưa ra giải trình mang tính thuyết phục có đầy đủ các dữ liệu minh chứng loại thiết bị dự định mua đảm bảo đặc tính kỹ thuật, có tính cạnh tranh kinh tế cao cho các bộ phận kỹ thuật, kế toán, kiểm tra xem xét thử phân tích và so sánh chúng
1.3.4.1.3 Xác định các dịch vụ kèm theo, phối hợp hoạt động trước khi mua bán
Trên cơ sở trao đổi thảo luận về các chi tiết kỹ thuật của thiết bị dây chuyền sản xuất, trong quá trình điều tra các thiết bị của các nhà sản xuất khác nhau, nhà quản trị thường tìm ra các hữu ích của nó Để phối hợp chặt chẽ giữa người mua người bán, người mua phải tham gia các cuộc họp thảo luận về tính năng của thiết bị và thương lượng mua bán
Trong các quá trình thảo luận sơ bộ kỹ sư bán hàng của nhà sản xuất có thể đưa ra một bản phác thảo tính năng của thiết bị để được nghiên cứu cho thấy nó phù hợp với yêu cầu người mua Việc người bán đưa ra các nghiên cứu kỹ thuật ban đầu như là một phần hỗ trợ bán hàng của họ Các chi phí này đã được xét tới trong chi phí bán hàng và việc hỗ trợ của người cung cấp là hoàn toàn tự nguyện
Do vậy giá bán phải được tính sao cho đảm bảo được các chi phí ban đầu này và cùng xét tới các tổn thất khi mua bán bất thành
Trong các ngành mà chi phí nghiên cứu ban đầu không được trang trải toàn bộ bởi giá bán, người mua - bán nên có sự thỏa thuận trước về việc này
Với những lý do trên, khâu bán hàng trong các ngành kinh doanh thiết bị tài sản luôn phải tuân theo các chỉ dẫn với sự đánh giá thích hợp với các dịch vụ kỹ thuật trước bán hàng Thông thường người mua muốn có các trợ giúp đầy đủ,
Trang 21nhưng việc nghiên cứu, hướng dẫn kỹ thuật trước bán hàng có thể dẫn tới các chi phí vượt quá dự tính và người mua cần phải có các ràng buộc với người bán vì hầu hết người mua đều muốn tránh chịu các chi phí này Do vậy để tránh các phiền phức ngay trước khi chấp thuận chào hàng của người bán, người mua cần phải nghiên cứu chi phí cần thiết cho các dịch vụ kỹ thuật trước khi mua hàng Nếu chi phí dự kiến tính trong giá, thiết bị, Công ty mua sẽ phải xem xét các hợp đồng có điều khoản thanh toán cho các dịch vụ kỹ thuật trước bán hàng, thông qua việc nghiên cứu kỹ việc mua máy móc thiết bị người mua sẽ đảm bảo việc phát sinh tranh chấp từ các trách nhiệm chưa rõ ràng
1.3.4.2 Đánh giá các đặc tính của thiết bị sản xuất đã qua sử dụng:
1.3.4.2.1 Tổ chức đánh giá:
Việc thành lập một nhóm chịu trách nhiệm mua thiết bị mang lại hữu ích là làm cho các hoạt động mua trở nên thống nhất gắn bó hơn Việc này có thể mang lại hưu ích lớn khi triển khai hoạt động mua thiết bị
1.3.4.2.2 Tiêu thức đánh giá :
1 Đặc trưng kỹ thuật
a Năng lực hoạt động : công suất phát ra / tiêu thụ sản lượng sản xuất
Mức độ đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai
a Kích thước vật lý : dài, rộng, cao, trọng lượng quyết định: môi trường hoạt
động : nhà xưởng, bến bãi đường giao thông luồng lạch, sân bay
b Tính linh hoạt : Khả năêng có thể thay đổi phù hợp điều kiện hoàn cảnh thị
trường
c Mức, loại năng lượng cần cung cấp:
Nhiệt Thủy lực Đảm bảo chi phí năng lượng công ty đáp ứng có thể được
Nguồn cung cấp năng lượngcó đảm bảo thường xuyên, liên tục hay không
d Yêâu cầu bảo dưỡng - sửa chữa - độ tin cậy - khai thác :
Khả năng dễ bảo trì bảo dưỡng, thời hạn nghỉ máy ngắn, khoảng cách kéo dài giữa các kỳ dẫn tới chi phí thấp hay cao
Yêu cầu trình độ của thợ, nhân viên kỹ thuật có quá cao so với công ty Khả năng quản lý, khai thác kỹ thuật của cán bộ công ty có làm chủ được hay không
e Đặc trưng an toàn của thiết bị yêu cầu :
Môi trường hoạt động của công ty có phù hợp yêu cầu cho thiết bị hay không
Đặc tính sử dụng của người vận hành sau này có phù hợp hay không
Sở thích thói quen của người vận hành và thiết bị có phù hợp
Trang 22Các yếu tố ảnh hưởng ô nhiễm môi trường
- Tiếng ồn
- Chất thải
- Các sản phẩm tạo ra có đảm bảo không bị ô nhiễm tác động
Nghĩa là tác động của trang thiết bị tới con người và môi trường xung quanh khi mua sắm cũng như đưa vào hoạt động
2 Đặc tính kinh tế:
1 So sánh năng lực sản xuất sản lượng - chi phí của máy mới với máy đang sử dụng tương đương
Chỉ tiêu :
Công suất Nguyên vật liệu Nhân công
Tính theo đơn vị sản phẩm dịch vụ cho ra thị trường
2 Xác định chi phí theo chu kỳ sống của thiết bị dự tính mua sắm
Xác định chi phí theo chu kỳ sống của thiết bị là quá trình dự báo, nó phụ thuộc vào các yếu tố sau :
a Kinh nghiệm và sự tinh tế của người sẽ sử dụng thiết bị trong việc dự báo hiệu quả của nó
b Kinh nghiệm tổ chức mua đối với các dạng thiết bị tương tự
c Sự nhạy bén tinh tế của nhóm dự báo kinh tế của người mua
Quá trình phân tích các đặc tính kinh tế trong vòng đời của thiết bị qua sử dụng bao gồm các yếu tố được tóm tắt như sau :
Trước hết chúng ta cần xác định giá trị, chất lượng và ước đoán thời gian cho phép hoạt động tin cậy của trang thiết bị đã qua sử dụng Đây là công việc rất khó khăn đòi hỏi được thực hiện bởi các chuyên gia có kiến thức chuyên ngành sâu rộng và giàu kinh nghiệm
Sau khi hoàn tất giai đoạn chuẩn bị quan trọng bậc nhất này chúng ta tiến hành theo các bước sau :
1 Xác định chu kỳ khai thác của thiết bị : Việc xác định dựa trên cơ sở dạng
hoạt động, chu kỳ bảo dưỡng, thời gian bảo dưỡng, tháo dỡ, thời gian, tháo dỡ, lắp ráp Quá trình sửa chữa liên tục trên cơ sở chi tiết hóa các chức năng, tính năng hoạt động của máy hoặc những công việc phải làm trong mỗi tuổi của chu kỳ
2 Yếu tố chi phí cần thiết được xác định trên cơ sở đặc tính và số lượng của các yếu tố
+ Tiêu thụ năng lượng, trung bình, mức độ hoặc diễn biến đối với tất cả các chế độ hoạt động của thiết bị
Trang 23+ Yêu cầu lao động bình thường, tối đa, tối thiểu tại các chế độ khai thác thiết bị Mức độ biến đổi của lao động (số lượng, chất lượng) theo chế độ khai thác
Công suất phát ra
Vùng hoạt động
Mùa hoạt động
+ Yêu cầu thời gian để sản xuất các hư hỏng thường kỳ có thể xảy ra + Yêu cầu thời gian dừng máy giữa các kỳ tháo dỡ, chi phí giảm thời gian hoạt động
3 Tính toán chi phí dự định ở mức độ hiện tại theo giá cả hiện tại
4 Dự tính chi phí cho tương lai có thể phát sinh điều chỉnh theo mức độ lạm
phát và giảm lạm phát Xác định các giá trị có thể thu hồi lại sau khi dự kiến Xây dựng hoàn thiện chi phí theo chu kỳ hoạt động của thiết bị
5 Tính chiết khấu tất cả các chi phí và lợi nhuận tương lai theo giá trị hiện
tại của chúng
6 Tính toán các chi phí và lợi nhuận nhằm đảm bảo chi phí cho chu kỳ hoạt
động toàn bộ Thực hiện hiện giá về hiện tại
Để tính toán cho bước 5 và 6 ta áp dụng công thức sau :
i = 1trong đo ù: TCO = tổng chi phí sở hữu
A = chi phí để nhận được hàng
NPV = hiện giá thuần
Ci = tổng chi phí vận hành xuất hiện trong năm thứ i
Sn = giá trị còn lại ở năm n
Xác định các yếu tố cần thiết khác:
i Số lượng có đáp ứng nhu cầu
ii Chất lượng có phù hợp nhu cầu
iii Số vốn tương ứng với các thiết bị có thể mua
1.3.4.2.3 Phương pháp đánh giá:
a Khi người mua tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng thiết bị máy móc
qua sử dụng phải xem xét vấn đề như một người đánh giá khách quan, độc lập tránh có những ý kiến thiên vị Do hầu hết người sử dụng đều có định kiến với các loại thiết bị đặc biệt, riêng, nên khi đánh giá phải tìm cách loại bỏ các định kiến đối với các thiết bị
b Số lượng đặt nên cân nhắc cho phù hợp với năng lực sản xuất và nhu cầu
của hai bên vì các thiết bị tài sản thường Mua - Bán trong mặt thị trường độc
Trang 24quyền Đảm bảo mua thiết bị hiệu quả người mua phải cùng với các cố vấn kỹ thuật của mình tập hợp và phân tích các thông tin nhằm xác định được năng lực sản xuất và tính năng kỹ thuật của thiết bị xác định chính xác số lượng trang thiết
bị qua sử dụng cần đầu tư trang bị Đây là công việc quan trọng bậc nhất
c Tiếp theo người mua phải tìm hiểu uy tín và năng lực của người bán về
việc cung cấp các dịch vụ kỹ thuật, kể cả lắp đặt, chạy thử lần đầu Đối với việc mua các thiết bị tài sản có giá trị lớn cần xem xét cả năng lực tài chính của người bán nhất là đối với các nhà kinh doanh thiết bị Cuối cùng là phải xác định được các dịch vụ gì người bán sẽ cung cấp cho mình.Để đảm bảo yêu cầu đạt được hiện quả trong quá trình đánh giá này người mua phải có kiến thức về thiết bị Thực tế, trong hầu hết các cuộc thảo luận kỹ thuật giữa người có trách nhiệm của Công ty và các nhà sản xuất thiết bị Người đại diện phải có kiến thức cơ bản khi xác định các vấn đề nằm trong trách nhiệm của anh ta Đây là mặt thách thức lớn Để đảm bảo thành công ở đây người mua cần có các kiến thức kỹ thuật hơn là kỹ năng hiểu và giao tiếp với mọi người Vì thực tế họ đang đứng trước mọi bất lợi là kém các kiến thức kỹ thuật so với các nhà sản xuất Để đảm bảo lợi nhuận sau này cho Công ty người mua luôn phải tạo cho mình sự không thiên vị về đặc tính kỹ thuật, chức năng của thiết bị, đồng thời phải có nỗ lực nhằm quản lý kỹ thuật tốt trong tương lai
Việc phân tích tài chính do phòng kế toán đảm nhận, họ có trách nhiệm tổng hợp và xem xét các kết quả lợi nhuận toàn bộ vì việc này có mối quan hệ mật thiết với ngân sách chi cho mua
Sau khi có kết quả người lãnh đạo tiến hành xem xét toàn bộ, đưa ra biện pháp chỉ tiêu phân tích cụ thể
Trên cơ sở đã có kinh nghiệm với đấu giá, Phòng mua sắm thiết bị có thể thực thi tốt các yêu cầu phân tích và hiệu quả hơn phòng tài chính Việc phân tích này mở rộng ảnh hưởng của phòng mua sắm vật tư thiết bị
Cho dù không cần phải hiểu sâu sắc mọi vấn đề kỹ thuật, bộ phận mua cũng phải tìm hiểu mọi sự cố kỹ thuật có thể xảy ra đưa các chi phí khắc phục đó vào chi phí khai thác và bảo trì dự kiến sau này
Như vậy, nếu một chuyên gia có hiểu biết đầy đủ về tổng chi phí, có thể tính toán một cách hiệu quả nhất, có thể lập dự án chi phí và tính hiệu quả toàn
Trang 25bộ giá và chi phí, lợi nhuận Dựa trên kết quả đó nhóm mua sẽ xem xét và phân tích có hiệu quả
Những lưu ý khi phân tích các yếu tố nhằm lựa chọn mua trang thiết bị :
Một yếu tố cần quan tâm là trách nhiệm của người bán trong giai đoạn bảo hành Đảm bảo tránh các sự cố ngoài ý muốn có thể gây những chi phí tăng thêm cho người mua, người bán sẽ có chính sách cung cấp phụ tùng thay thế, bảo dưỡng kỹ thuật cho người mua, nhất là đối với các máy kiểu mới Thông thường các nhà sản xuất chỉ bảo hành các bộ phận chính yếu, sự cố chính còn các bảo hành, bộ phận, cung cấp các phụ tùng thông thường được chuyển giao cho bộ phận dịch vụ kỹ thuật, bộ phận này theo dõi và ghi chép lưu trữ cả các thông số kỹ thuật của quá trình hoạt động của thiết bị sau này (nếu việc mua bán hoàn tất)
1 Thương lượng, soạn thảo và quản lý thực hiện HĐ mua sắm trang thiết bị qua sử dụng:
Sau khi Giám đốc hoặc Chủ tịch HĐQT chấp thuận phương án mua thiết bị Bộ phận mua phải tiến hành :
1 Thương lượng giá cuối cùng, điều kiện và điều khoản giao nhận trang thiết
bị sản xuất qua sử dụng nêu trong hợp đồng
2 Bản soạn thảo đơn đặt hàng hoặc hợp đồng phải được viết rõ ràng xác định trách nhiệm của cả hai bên theo hiệu quả khai thác của thiết bị và các hoạt động hậu mãi Phải xác định rõ ràng thời gian, phương pháp thử và kiểm tra, tiêu chuẩn đặc tính máy móc, tiêu chuẩn hoạt động, điều kiện bảo hành, trách nhiệm của bên bán đối với dịch vụ sau bán hàng trong lĩnh vực chạy thử, kiểm tra bảo dưỡng về phụ tùng thay thế Các điều khoản, điều kiện này cả hai bên đều được hiểu rõ
3 Trong trường hợp thiết bị mua có ảnh hưởng lâu dài tới quá trình sản xuất kinh doanh Việc mua cần có một chương trình hỗ trợ kèm theo đặc biệt Như yêu cầu tham quan nhà máy trước khi mua và kiểm tra quá trình làm việc Người thực hiện công việc này chính là phòng Mua
4 Nhìn sự việc một cách tổng quát có thể thấy rằng vai trò của bộ phận mua hàng khi mua trang thiết bị sản xuất có định hướng hợp tác cao hơn hẳn và ít mang tính ra quyết định hơn khi đi mua nguyên vật liệu sản xuất theo tiêu chuẩn như thường lệ Dựa trên các nguyên tắc nêu trên xác định chức năng nhiệm vụ bộ phận mua phải làm tổ chức đào tạo đội ngũ chuyên gia thực hiện kịp thời Do việc này ít xảy ra nhưng khi tiến hành cần có đội ngũ cán bộ lớn hơn, chuyên sâu hơn mua vật tư sản xuất thông thường
Tới đây khi hợp đồng đã được ký kết, điều kiện giao – nhận thiết bị sản xuất đã được xác lập và thực hiện ta có thể coi như các hướng dẫn, lý luận về quá trình mua sắm trang thiết bị sản xuất đã qua sử dụng đã được hoàn tất
Trang 26Chương 2
THỊ TRƯỜNG MUA – BÁN TÀU BIỂN THẾ GIỚI VÀ QUI TRÌNH
THỦ TỤC MUA – BÁN TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG QUỐC TẾ
2.1 ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN HÀNG HẢI QUỐC TẾ VÀ
VIỆC MUA – BÁN TÀU BIỂN TRÊN THẾ GIỚI
2.1.1 Lịch sử phát triển hàng hải và Mua – bán tàu biển quốc tế :
a Cho tới trước đây hơn 100 năm hàng hải quốc tế đã có những bước phát
triển mạnh mẽ chắc chắn Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nền sản xuất xã hội cũng phát triển từng bước, nhờ thế thương mại quốc tế cũng phát triển Song song với các con đường bộ xuyên lục địa, các con đường vận tải hàng hóa trên đại dương cũng được khai thông
thuyền giản đơn bằng gỗ, lau sậy có thể di chuyển nhờ sức nước, gió, con người để vận chuyển hàng hóa và hành khách, quân đội…Đến thời đế quốc La mã hưng thịnh người ta đã thiết lập được các hạm đội lớn hàng trăm chiến thuyền vận tải, quân đội, vũ khí, hàng hóa, chiến lợi phẩm Kể từ sau chuyến du hành vòng quanh thế giới của Magienlăng và cuộc thám hiểm Châu Mỹ của Crixtop Colombo thì ngành hành hải quốc tế, cũng như tàu vận tải đã khẳng định được vị trí không gì có thể thay thế được của mình
vận tải biển đã có nhiều phát triển vượt bậc Tổng số tàu vận tải trên thế giớilên đến hàng trăm ngàn chiếc, mỗi chiếc có sức chở từ vài chục hàng đến trăm tấn hàng và hàng trăm nô lệ
sức nước, sức gió và con người Đến cuối thế kỷ 19 mới có một số ít tàu chạy hơi nước ra đời
b Trong 100 năm trở lại đây, ngành hàng hải cũng như đóng tàu biển có
những phát triển vượt bậc Do nhu cầu vận tải hàng hóa tác động, cùng với sự hỗ trợ của các thành tựu khoa học, tàu biển có những biến đổi vượt bậc
Trang 27Động cơ diesel được phát minh ra và ứng dụng vào hàng hải năm 1903 và được ứng dụng trong ngành hàng hải Đại Dương vào 1911 Ngày 04/11/1911 đã hạ thủy con tàu Selandia 6.800 DWT chạy xuyên đại dương đầu tiên mở ra kỷ nguyên mới cho ngành hàng hải Theo Tiến sĩ Diesel thì việc chế tạo các máy diesel rất lớn ứng dụng trong kỷ nguyên này đã được mở ra
Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ đã thúc đẩy hàng hải phát triển hết công suất của nó, người ta ước tính rằng số lượng tàu của Mỹ đóng trong thế chiến bằng ½ toàn bộ số tàu được đóng từ đầu thế kỷ tới thế chiến
mới đã thúc đẩy tàu biển phát triển nhanh về số lượng, kích thước, chất lượng, giá trị
DWT ( Năm 1999).Giá trị một tàu có thể đạt 1,5 tỉ USD/tàu,tốc độ đạt 45 Nm/h, sức chở đạt 550.000 tấn, tiện nghi sinh hoạt tối đa (Tương đương khách sạn 5 sao) Theo dự kiến trong những năm tới hàng hải quốc tế – tàu biển thế giới sẽ giữ vững vị trí trọng yếu trong vận tải hàng hóa và phát triển hết sức nhanh chóng
2.1.2 Tóm lược lịch sử hoạt động mua - bán tàu trên thế giới :
a Ngay dưới thời đế chế La Mã tàu biển đã được coi là hàng hóa Ngoài
việc sử dụng làm phương tiện vận tải nó cũng được mua – bán, trao đổi như một loại hàng hóa Trong các cuộc chiến tranh, tàu bè cướp được cũng mang ra mua - bán trao đổi
trở thành chuyên môn hóa Các xưởng đóng tàu tại Hà Lan, Anh, Đức, Tây Ban Nha sản xuất ra hàng loạt các tàu bán theo đơn đặt hàng cho các công ty vận tải quốc tế lớn và chính phủ các quốc gia Bên cạnh đó các tàu chiến lợi phẩm trong các cuộc chiến, tàu do các nhóm cướp biển cướp được và các tàu thuộc sự sở hữu của các chủ tàu, lãnh chúa, bị phá sản hoặc có nhu cầu trao đổi cũng được đưa vào quá trình mua bán Đây chính là những thương vụ đầu tiên của việc mua bán tàu đã qua sử dụng Và các thủ tục diễn ra cũng hết sức đơn gian, dựa trên sự thỏa thuận của hai bên
b Trong thế kỷ 20 này do các nhu cầu về thương mại, vận tải tàu biển
luôn thay đổi nên quá trình mua - bán tàu qua sử dụng diễn ra liên tục và phát
Trang 28triển không ngừng Các thương vụ mua bán thường diễn ra dưới nhiều hình thức và việc mua - bán rất khó xác định chính xác do các chủ sở hữu có thể sang quyền sở hữu bằng các hình thức thuê vô hạn định, thuê mua Mua bán nhưng không đổi quyền sở hữu đăng ký tàu nên rất khó thống kê Nhưng người ta có thể tính toán một cách gần đúng mỗi năm có khoảng 1.000 thương vụ mua - bán tàu đã qua sử dụng được công khai trên thế giới
Giá trị mua bán của mỗi con tàu trước đây khoảng dưới 1 triệu USD Nay lên tới hàng tỉ USD/tàu như các tàu chở khách lớn tốc độ cao, đủ tiện nghi
c Thủ tục cũng có nhiều thay đổi, do trước đây người ta coi mua bán tàu
chỉ là việc chuyển nhượng tài sản thuần túy chỉ liên quan đăng ký và bảo hiểm tài sản Ngày nay việc mua tàu được coi là quá trình đầu tư vào kinh doanh vận tải biển nên các thủ tục phức tạp hơn giống như thủ tục đầu tư tài chính cho công ty, người ta cũng nghiên cứu tiêu chuẩn hóa các thủ tục mua - bán tàu theo các hợp động hướng dẫn mẫu như :
- Standard Form of 07 Oct 1981 dùng mua – bán tàu đóng mới do Hiệp hội chủ tàu Na uy và Hiệp hội các xưởng đóng tàu Na uy đồng phát hành
- Memorandum of Agreement – SALEFORM 1956/1987/1993 dùng mua – bán tàu do Tổ chức Môi giới mua – bán tàu Na uy và Tổ chức BIMCO phát hành
- Memorandum of Agreement – NIPPONSALES 1965/1977/1999
do Tiểu ban Văn kiện thuộc Sở Giao dịch Mua – Bán tàu Nhật bản phát hành.-
Nhằm đáp ứng những biến đổi đa dạng về hình thức mua bán hiện hành :
- Mua bằng vốn của chủ tàu
- Vay- Mua
- Thuê - Mua
-
2.2 THỊ TRƯỜNG TÀU BIỂN THẾ GIỚI
2.2.1 Những thay đổi lớn của tàu biển trong những năm gần đây:
2.2.1.1 Trong những năm gần đây những vấn đề thương mại quốc tế liên quan tới
thị trường tàu biển có nhiều thay đổi lớn :
- Đầu tư ra nước ngoài, nhất là vào các nước đang phát triển có tài nguyên dồi dào gia tăng
Trang 29- Biến đổi giá nhiên liệu
- Phát triển nhanh về công nghệ thông tin và quản trị tồn trữ toàn cầu
2.2.1.2 Những thay đổi lớn trong ngành tàu biển thế giới:
- Tàu được chia ra nhiều chủng loại hơn trở nên đa dạng hơn:
+ Tàu chở hàng : - Tàu chở bách hóa
o Tàu chở hóa chất
o Tàu chở dầu
+ Tàu chở khách : - Tàu chở khách
- Kích thước cũng trở nên lớn hơn : Đạt 550.000 DWT
- Tốc độ nhanh hơn : Đạt 45 Knt/giờ
- Kỹ thuật áp dụng cực kỳ hiện đại nhờ sự ứng dụng phối hợp các ngành với công nghệ tin học
- Giá trị tàu cũng trở nên lớn hơn Có tàu đạt trên 1 tỷ USD như tàu
khách "Người du hành đại dương" có giá đóng tới 1,5 tỷ USD
- Đặc biệt cơ cấu đội tàu có các thay đổi lớân dẫn tới số tàu tham gia vào đội tàu quốc tế thay đổi Đồng thời phát sinh hàng loạt các thương vụ chuyển nhượng tàu trên thế giới
Với những đặc thù như trên việc mua sắm tàu biển không còn thuần túy chỉ là mua sắm một tài sản, hàng hóa Thực chất việc mua sắm này trở thành một quá trình đầu tư trong ngành hàng hải, thủ tục mua bán trở nên phức tạp hơn, đòi hỏi phải có các qui trình hướng dẫn tỉ mỉ, hợp lý Các qui định hướng dẫn phải tuân thủ theo các qui định chặt chẽ của luật thương mại hàng hải quốc tế
2.2.2 Tình hình mua - bán trong những năm gần đây :
2.2.2.1 Các dạng tàu tham gia vào quá trình mua bán
- Theo dạng đóng mới hay đã sử dụng bán lại
+ Tàu đóng mới
+ Tàu đã qua sử dụng
- Theo công dụng tàu mua - bán
Trang 30+ Chở hành khách thông dụng
+ Chở xe ô tô - hành khách
+ Tàu du lịch
b Tàu chở hàng hóa:
+ Chở hàng bách hóa
+ Chở hàng rời
+ Chở hàng container
- Tàu chở hàng có tính chất đặc biệt
+ Cấu kiện lớn
+ Hàng Bilumin nóng
c Các loại tàu có công dụng đặc biệt
Bao gồm các tàu công trình tàu nghiên cứu tàu khai thác dầu
2.2.2.2 Mục đích mua sắm tàu :
Rất đa dạng nhưng chủ yếu nhằm vào các mục đích chính sau :
+ Khai thác vận tải hàng hóa phổ biến nhất
+ Bán lại nguyên vẹn hoặc hoán cải rồi bán
+ Phá dỡ lấy nguyên vật liệu
Hiện nay việc phá dỡ đang tập trung tại Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladet, Việt Nam
2.2.2.3 Nguồn tàu đã qua sử dụng đưa vào mua - bán :
2.2.2.3.1 Chủ tàu bán tàu đang sử dụng:
Do biến động của thị trường vận tải dẫn tới chủ tàu chuyên tuyến khai thác loại hàng kinh doanh vận tải các tàu họ đang khai thác trở nên không thích ứng mục đích kinh doanh
Hoặc muốn đổi mới đội tàu nâng cao trình độ, công nghệ khai thác tàu
(xem phụ lục các bản chào bán tàu)
2.2.2.3.2 Mua qua môi giới :
Hiện nay trên thế giới có một số công ty tư vấn hàng hải kiêm luôn việc tư vấn thương mại, chính họ đứng ra làm môi giới mua - bán tàu Các chủ tàu có nhu cầu bán tàu sẽ gửi các yêu cầu bán và hồ sơ tàu tới các công ty môi giới đồng
Trang 31thời các công ty muốn mua bán cũng đưa các yêu cầu của đầu tư đổi tàu cho họ tư vấn Như vậy với những thông tin có được họ tiến hành lựa chọn và giúp cả hai bên mua - bán thỏa mãn được nhu cầu của mình, phí cho mỗi thương vụ khoảng 2
- 5% tổng trị giá Thực tế, họ hưởng huê hồng của cả mua - bán
Hiện nay thế giới có một số tư vấn có uy tín trong hàng hải như :
- Drewery Ltd., UK
- Howe Robinson Ltd., UK
- R.S Platou Ltd., UK
2.2.2.3.3 Mua qua các nhà kinh doanh tàu biển:
Trên thế giới có những chủ tàu sau khi phát triển kinh doanh vận tải biển thành công họ có được nguồn tài chính đáng kể, kết hợp với kiến thức đầy đủ, sâu sắc về kỹ thuật tàu, khai thác tàu, nắm bắt được biến động thị trường mua - bán tàu, những nhà tư bản, chủ tàu này đứng ra tổ chức kinh doanh tàu biển
Đầu tiên là các chủ tàu Hy Lạp đầu tư mua tàu khi giá tàu biển hạ và bán tàu khi giá thị trường lên cao, họ đã thu được những khoản lợi nhuận khá lớn Sau này các nhà kinh doanh Hồng Kông cũng đạt nhiều kết quả khả quan trong lĩnh vực kinh doanh này
Xem xét lợi nhuận của các công ty khai thác tàu chợ Hy Lạp chúng ta thấy rõ ngay từ những năm 70 lợi nhuận do mua - bán tàu mang lại lớn hơn nhiều lợi nhuận khai tác tàu Ví dụ như Công ty Style ( Xem Bảng 2-1 )
Ngay cả một số chủ tàu Bắc Âu cũng chỉ kinh doanh vận tải đạt giới hạn thấp nhất của đội tàu và bán tàu nhanh nhằm thu lợi nhuận, đổi mới, hiện đại hóa đội tàu nhanh chóng
Đại đa số chủ tàu Bắc Âu đóng tàu mới sử dụng sau đó bán khi đã thu hồi vốn
2.2.2.3.4 Tàu cũ bán ra từ các cuộc đấu giá, phát mãi :
Hầu hết các tàu bán ra tại các cuộc đấu giá là các tàu cầm cố vay nợ ngân hàng hoặc bị cầm giữ hàng hải
Khi các chủ tàu vì lý do nào đó không thanh toán được các khoản vay, thuê tài chính các tàu của họ sẽ bị bắt giữ theo các lệnh của tòa án có xuất phát từ các khiếu kiện của người cho vay
Trang 32Hoặc các tàu vi phạm luật lệ hàng hải, gây tổn thất mà tiền đền bù quá lớn ngoài khả năng của chủ tàu Hoặc chủ tàu đã được bảo hiểm đầy đủ khi bỏ tàu, họ sẽ tuyên bố tự bỏ tàu Con tàu sẽ thuộc về chính quyền cảng nơi cầm giữ nó, các con tàu như vậy sẽ bị bán đấu giá, số tiền thu được dùng trang trải nợ nần, xử lý các hậu quả do chủ tàu, thuyền viên gây ra
quyết ổn thỏa tránh tàu bị đấu giá, vì trường hợp này bất lợi cho chủ tàu Vì thế số lượng tàu cũ từ nguồn này rất hãn hữu
tàu Việt Nam Một con tàu chìm, ba tàu bị nợ cầm giữ hàng hải
gian gần đây trên thế giới
2.2.2.4.1 Lượng tàu qua sử dụng đưa vào quá trình mua bán:
i Hoạt động mua - bán tàu trên thế giới diễn ra trong tất cả các phạm vi
kinh doanh thuộc vận tải biển, vận tải hàng khô, hàng lỏng, hành khác, tàu làm các dịch vụ đặc biệt Tất cả các loại tàu đều có thể đưa vào quá trình mua - bán trao đổi : tàu dầu, tàu chở hàng rời, tàu khách, tàu chở ô tô, hàng lặn cao tốc, từ nhỏ - lớn
ii Việc mua bán diễn ra dưới nhiều hình thức như mua đứt bán đoạn, thuê
mua, vay mua thuê vô hạn định, sau quá trình thực hiện mua bán con tàu có thể đổi tên, cờ đăng ký tàu đổi sang tên chủ sở hữu là người mua Nhưng cũng có thể giữ nguyên tình trạng pháp lý cũ hoặc thay đổi hoàn toàn nên việc theo dõi mua bán một cách chính xác đầy đủ là rất khó khăn Vì thế các tổ chức tư vấn pháp lý hàng hải quốc tế chỉ có thể thống kê được các vụ mua bán công khai trên thị trường tàu quốc tế ở các loại tàu trên biển - Chủ yếu tàu dầu, tàu chở hàng rời, chở container lớn Còn các tàu có thông số kỹ thuật đánh giá là nhỏ, và không được các chủ tàu công bố thì hầu như chưa được biết đến
iii Theo thống kê của SSY và Drewry là hai nhà tư vấn, quản lý thị trường
tàu lớn nhất trên thế giới thì có được danh sách và bảng tổng hợp lượng tàu bán công khai như sau :
- Tổng trọng tải DWT
Xem bảng 2-2 (Bảng tổng hợp số lượng của một số loại tàu đã qua sử dụng điển hình được mua bán trong 10 năm qua.)
Trang 332.2.2.4.2 So với lượng tàu đóng mới của các tàu cùng loại
- Đồ thị 2-1 (Đồ thị đóng mới - phá dỡ - phát triển tàu hàng rời )
- Đồ thị 2-2 (Đồ thị đóng mới - phá dỡ - phát triểu tàu dầu )
trọng đáng kể về giá trị, số lượng, sản lượng chiếm đóng toàn bộ thị trường kinh doanh tàu biển
thay đổi về số lượng cũng như cơ cấu của đội tàu trên thế giới Nhưng nó làm thay đổi cơ cấu số lượng của đội tàu từng công ty, tập đoàn vận tải và từng quốc gia hoặc khu vực trên thế giới
động trên thế giới Nó xảy ra do biến động của tình hình kinh tế, thế giới tạo ra các luồng vận tải hàng hóa thay đổi, các chủ đầu tư tài chính phát triển khác nhau Các biến động chính trị của từng khu vực
Và cũng chính những thay đổi tuyến phục vụ và cơ cấu đội tàu vận tải sẽ làm biến đổi trở lại tình hình các khu vực kinh tế quốc tế
2.2.2.5 Giá cả của một số loại tàu đã qua sử dụng trên biển :
Bằng các biện pháp thống kế một số thương vụ mua - bán điển hình trên một số loại tàu có tuổi và trọng tải ở một số mức qui định :
- Trọng tải tới 40.000 DWT 5 tuổi
- Trọng tải 40.000 tới 70.000 DWT 5 tuổi
- Trọng tải 70.000 tới 140.000 DWT 8 tuổi Xác định theo phương pháp :
1 Thống kê theo tháng lấy bình quân quyền số theo DWT
2 Tính trung bình theo 3 tháng
3 Tính trung bình theo năm
Xem bảng 2 –2 ( Bảng biến động giá tàu trung bình – Số lượng tàu qua sử dụng mua – bán trong 10 năm trở lại đây.)
Trang 34Qua đó chúng ta nhận thấy tình hình thị trường tàu biển đã qua sử dụng biến động theo các yếu tố sau :
- Cung – cầu tàu biển : Giá tàu đả qua sử dụng hạ thấp nhất vào giữa năm
1999, đồng thời với giá tàu đóng mới Như vậy, rõ ràng cung tàu lớn hơn so với cầu, bị ảnh hưởng bởi:
- Các biến động kinh tế quốc tế : Giáù cước vận tải thay đổi, suy thoái kinh tế thế giới, hoạt động thương mại giảm sút, khủng hoảng tài chính Nhật Bản, khu vực Đông Nam Á là các yếu tố ảnh hưởng rất mạnh tới giá tàu đã qua sử dụng trên phạm vi toàn cầu
Điều này khiến chúng ta phải rất lưu ý tới các biến động kinh tế toàn cầu trước khi bắt tay vào đầu tư đội tàu bằng con đường mua các tàu biển đã qua sử dụng
2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP TỚI THỊ TRƯỜNG MUA BÁN TÀU QUỐC TẾ:
2.3.1 Biến động chính trị, kinh tế thế giới:
Do các biến động chính trị như hợp tác, xung đột chiến tranh giữa các nước, các khu vực trên thế giới, các thị trường cung ứng, tiêu thụ hàng hóa thay đổi dẫn tới các luồng hàng biến động gây ra các nhu cầu vận tải thay đổi đột ngột lớn, đòi hỏi cơ cấu và mức độ phát triển các đội tàu Khu vực thế giới phải thay đổi theo nhằm đáp ứng các nhu cầu vận tải Chính phải đáp ứng nhu cầu vận tải nên nhu cầu cung cấp tàu cùng biến đổi tạo ra những biến động trong thị trường đóng tàu cũng như trao đổi mua bán tàu qua sử dụng Những biến động này kéo theo hàng loạt ảnh hưởng khác cho thị trường tàu quốc tế
Ví dụ: Xung đột Trung Đông gia tăng vào cuối những năm 60 đầu 70 làm gia tăng nhu cầu tàu vận tải dầu cực lớn thế giới làm hàng 100 triệu DWT Làm cho nhu cầu đóng mới, chuyển nhượng gia tăng nhanh chóng, kéo theo sự huy động vốn của các ngân hàng đầu tư cho đóng tàu tăng lên nhiều tỉ Lượng tàu dầu cực lớn (VLCC : Very Large Crude Oil Carrier) đáp ứng đủ đã dẫn tới sự bùng bổ trong ngành đóng tàu làm gia tăng lượng tàu VLCC một cách quá đáng, gây sự mất cân bằng cung cầu trong ngành đóng tàu tạo ra một trào lưu suy thoái làm hàng loạt lượng tàu phải ngưng hoạt động Phải 8 năm sau người
ta mới kiểm soát được suy thoái mà thiết lập được cân bằng mới Chính sự kiện này đã tạo cơ hội cho các nhà đầu cơ tàu biển kiếm lời lớn Khi lượng tàu VLCC gia tăng một cách quá đáng vào giai đoạn 1973 - 1978
Trang 35Giá tàu sụt giảm đột ngột, chờ cho giá thấp nhất các nhà đầu cơ mua tàu giá rẻ hoặc thuê mua theo giá thấp nhất, bán lại tàu hoặc quyền thuê mua khi giá lên dần
2.3.2 Biến động cung cầu hàng hóa – Nhu cầu vận tải thế giới :
Biến động cung cầu hàng hóa giữa các khu vực do các ảnh hưởng kinh tế,
chính trị tác động lên các khu vực trên thế giới, hoặc do các điều kiện tự nhiên, liên đới đột ngột như động đất, bão lụt, các hiện tượng thời tiết như : Elnino gây
ra các biến động trong cung cầu hàng hóa tại các khu vực, dẫn tới nhu cầu vận tải hàng hóa thay đổi
Kết quả : Cung cầu tàu tại các khu vực, các ngành thay đổi làm cho các thương vụ mua bán tàu và giá tàu thay đổi
Ví dụ :
1 Cuộc đình công kéo dài của mỏ than Queesland - Australia gây ra rối
loạn than quốc tế, tạo sự liên đới nhu cầu vận chuyển than từ Hampton - Baltimo gây tắc nghẽn đường sắt Gia tăng lượng than nhập khẩu vào Nhật từ Mỹ qua đường Panama, gây táéc nghẽn giao thông qua kênh Panama Gia tăng ngay nhu cầu của các tàu OBO và Bulker, cỡ Panamax tạo sự tăng giá cước của loại tàu này tức thời, làm tăng giá của loại tàu này đột ngột
Theo thống kê của các nhà quản lý - kinh doanh tàu có 15 - 20 triệu DWT tàu chở hàng rời loại Panamax (75.000 DWT) đã di chuyển tạm thời thông qua thuê hoặc mua trên thị trường làm gia tăng nhu cầu chuyển nhượng vào lúc đó Nhu cầu này hạ dần vào những năm sau đó
2 Do biến động kinh tế, các nhu cầu về hàng hóa thay đổi như các sản
phẩm than, sắt, ngũ cốc, dầu thô là các nguyên nhiên liệu được tiêu dùng và vận tải với số lượng lớn trên thế giới, dẫn tới giá cước vận tải và nhu cầu chủng loại tàu thay đổi Điều này làm biến động cung cầu, tàu đóng mới, chuyển nhượng, làm thay đổi lượng tàu và giá mua bán tàu trên thị trường Để thấy rõ chúng ta xem các đồ thị sau :
Đồ thị nhập khẩu Ngũ cốc
Thép
Than Dầu Đồ thị giá cước vận tải
Trang 362.3.3 Ảnh hưởng của các yếu tố tài chính :
Do mua bán tàu là một dự án đầu tư tài sản thiết bị số tiền đầu tư cho các dự án này thường là lớn và rất lớn Qua thống kê giá tàu ta thấy nó có thể lên tới hơn 1 tỉ USD cho một thương vụ như tàu chở khách “Voya of Sea” và thời gian có thể diễn ra trong vòng 30 ngày đối với chuyển nhượng tàu cũ, cũng có thể kéo dài 2 năm đối với các hợp đồng đóng tàu mới hoạëc mua tàu cũ được hoán cải trước khi đưa vào sử dụng Với những yếu tố trên ta thấy những biến động của tài chính quốc tế có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường kinh doanh tàu
Cuộc khủng hoảng tài chính Nhật Bản và Châu Á có ảnh hưởng lớn tới ngành kinh doanh tàu : Nhu cầu hàng hóa trong khu vực giảm sút, nguồn tài chính đầu tư giảm sút Các chủ tàu thua lỗ bán tàu nhiều, tạo ra nguồn cung tàu bán ra quá mức, tạo ra giá hạ ngay những năm sau đó
(Xem đồ thị 2-3 Biến động giá mua – bán tàu quốc tế )
Đồng thời, 2 cường quốc đóng tàu là Nhật Bản và Hàn Quốc bị cuộc khủng hoảng tài chính tàn phá vào cuối những năm 90, mặc dù ngành đóng tàu suy thoái nhưng lại tạo ra nghịch lý giá tàu đóng mới thấp dưới cả chi phí để giữ ngành tồn tại ở Hàn Quốc, kết quả giá tàu mua - bán trên thị trường giảm đột ngột
Khi giá tàu phục hồi, đầu tư tài chính của chính phủ Trung Quốc cho ngành đóng tàu tương đối thuận lợi kết hợp với các yếu tố khác như quản lý ô nhiễm môi trường dễ dãi, nhân công rẻ mạt làm cho ngành đóng tàu phát triển quá nhanh, người ta dự đoán nếu không kìm hãm kịp thời sẽ xảy ra suy thoái ngành kinh doanh tàu vào năm 2005 - 2010
Đối với phương Tây sự ảnh hưởng có khác :
Nhằm tạo nguồn tài chính để đầu tư cho ngành tàu các chủ tàu có thể cầm cố các tàu đang sử dụng hoặc yêu cầu các nguồn tài trợ khác như từ ngân sách để phát triển đội tàu hợp lý Nhưng nói chung do giá tàu hạ rất nhanh nên các ngân hàng đều không muốn cầm cố tàu cũ
Để đáp ứng vốn đầu tư các chủ tàu huy động vốn từ các cá nhân, các ngành khác như luật sư, bác sĩ, các nhà công nghiệp làm cho mọi người đều
Trang 37thành chủ tàu thông qua phát hành trái phiếu Ở Na Uy việc này bắt đầu từ những năm 80 và ở Đức từ đầu những năm 90
Nhưng nguồn vốn linh hoạt này cũng gây ra những ảnh hưởng cho chủ tàu, thị trường đầu tư tàu
+ Khó khăn cho chủ tàu :
1 Lãi vay luôn cố định nên dòng tiền tệ thu vào, từ khai thác tàu gia tăng ngay cả những năm xấu nhất
2 Vốn này thường giới hạn 8 - 10 năm, thay vì 15 - 20 năm là thời hạn sử dụng hữu ích của 1 con tàu thông dụng (max 20 năm)
3 Vốn đảm bảo cung ứng tàu mới cho thị trường nhưng giá trị, tài sản này
bị giảm dần ngay từ ngày đầu khai thác Cần phải có nguồn thu, vốn bổ sung để duy trì giá trị tàu tương ứng giá trị thương phiếu
4 Nếu thị trường vận tải biển sa sút gây khó khăn cho việc tìm kiếm lợi nhuận các chủ tàu hoặc phải trả từng phần vốn vay hoặc phải tìm kiếm các khoản vay khác để trả cho các khoản vay tới hạn
5 Không có cơ chế rõ ràng về các khoản vay vì nó phụ thuộc nhiều yếu tố nên khó có thể yêu cầu các nhà đầu tư đưa thêm tài trợ dù cho tín dụng tốt và có lãi
+ Thuận lợi cho chủ tàu :
1 Chủ động gia tăng tài sản trong ngắn hạn có thể đầu cơ tàu ngắn hạn
2 Giúp chủ tàu có năng lực vượt biến động bất lợi thị trường tàu ngắn hạn
3 Nguồn vay có lãi cao, nên mức kinh doanh cho lợi nhuận phải cao thúc đẩy chủ tàu phải nỗ lực tạo ra doanh thu lớn hơn chi phí
4 Chủ trái phiếu cho phép chủ tàu được tự chủ kinh doanh, không bị can thiệp vào hoạt động hàng ngày
5 Hiệu quả của thị trường, vốn mang lại cho chủ tàu được đưa trên dự án hoạt động và dòng tiền tệ hơn là tài sản riêng của mỗi người trong công ty
+ Hiệu quả mang lại:
1 Cấp vốn đúng lúc có cơ hội đầu tư, có thể thiết lập một giai đoạn thử
2 Cơ chế cho phép người hưởng lợi nhuận tử cho vay được biết tới và họ được tiếp xúc trực tiếp với các vấn đề họ quan tâm trên thông tin công cộng
3 Có cơ chế cho phép phân chia lợi nhuận khi lợi nhuận bị giảm do cước quốc tế giảm
Trang 384 Chi phí của các khoản vay giảm được các cơ hội rủi ro
5 Với nguồn lớn tới 3 tỉ thu được từ nguồn này đưa vào vốn tàu luôn, người cho vay cho phép củng cố hợp nhất các công ty tàu đang dần bị tan rã
Nguồn vốn này sẽ có tác động lớn đối với việc chuyển nhượng và giá chuyển nhượng tàu qua sử dụng tại châu Âu và các thị trường khác
2.3.4 Sự phát triển công nghệ, kỹ thuật toàn cầu có ảnh hưởng rất lớn tới
mua - bán tàu quốc tế :
Việc mất cân đối trong cung cầu trên thị trường tàu biển không chỉ dựa trên sự thiết lập cung cầu vận chuyển hàng hóa mà còn bởi sự gia tăng hay suy giảm năng lực đóng tàu toàn cầu, khu vực không phù hợp nhu cầu tàu của thị trường
Các quốc gia coi đóng tàu là ngành công nghiệp sử dụng chủ yếu các sản phẩm sắt thép máy móc, thiết bị và lao động Nó có ảnh hưởng tới và bị ảnh hưởng đáng kể bởi các ngành khác
Do sự phát triển công nghệ các máy móc trước kia trang bị cho tàu được chế tạo tại Âu, Mỹ Nay chủ yếu chế tạo tại Hàn Quốc, Nhật Bản 2010 có thể sẽ được nhập từ Trung Quốc, nhờ đó giá đóng tàu giảm đáng kể làm cho giá bán tàu giảm theo
Nhờ công nghệ đóng tàu phát triển nên thời gian đóng tàu giảm chỉ còn dưới 1 năm cho 1 con tàu
Chu kỳ khai thác tàu ngắn hơn nhờ công nghệ quản lý tốt, dẫn tới khấu hao tàu nhanh, giá trị còn lại và tuổi thọ còn lại của tàu giảm nhanh, tạo ra giá bán rất cạnh tranh khiến nhiều nhà đầu tư tàu cũ dễ bị lầm tưởng là khi mua tàu
Nhằm đổi mới công nghệ các nhà đóng tàu và khai thác tàu châu Âu, Nhật chỉ đóng mới và khai thác tàu thu hồi vốn khoảng 5 năm sau đó, tìm cách bán cho các nước đang phát triển để thu hồi Còn Mỹ thường bán cho châu Mỹ la tinh, bằng biện pháp này họ luôn giữ cho mình quyền chủ động điều tiết thị trường mua bán tàu thế giới và kìm hãm các nước đang phát triển trong vòng lệ thuộc
Ví dụ: Toàn bộ tàu Việt Nam bị lệ thuộc vào kỹ năng quản lý và phụ tùng bảo trì tàu của Châu Âu và Nhật
Vì thế giá tàu mua có thể rẻ nhưng chi phí khai thác quản lý sau này hoàn toàn lệ thuộc vào ý định của nhà chế tạo thiết bị và kiểm soát đặc tính tàu Lloyd Veritas NK Rina
2.3.5 Ảnh hưởng bởi trình độ, thói quen của người sử dụng :
Trang 39Thị trường mua bán tàu còn phụ thuộc nhiều vào sự khác biệt của trình độ, thói quen khai thác sử dụng quản lý tàu của người bán và khách hàng Như chúng
ta đã biết các tàu biển lớn hầu hết được chế tạo tại Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ Chúng được làm sao cho phù hợp trình độ của người đặt hàng đầu tiên là các chủ tàu Âu, Nhật, Mỹ Các chủ tàu đầu tiên này thường có trình độ quản lý cao, họ xây dựng được đội ngũ thuyền viên có năng lực chuyên môn rất tốt, có thể lực và tính hợp tác trong công tác thuộc loại hàng đầu thế giới Với đội ngũ nhân viên như vậy họ có thể khai thác con tàu ở chế độ hoạt động tối đa, khoảng 5 năm đầu họ đã có thể thu hồi phần lớn vốn đóng tàu Sau khoảng 5 - 10 năm họ chào bán tàu cho các nước khác
Thông thường do đặc tính và tâm, sinh lý của các khách hàng khác nhau nên các tàu được bán từ Nhật, Hàn Quốc hầu hết sang các nước Châu Á và Phi Các tàu đóng tại Tây Âu , Mỹ bán sang Đông Âu và Nam Mỹ
Các tàu do Tây Âu đóng, trang thiết bị sinh hoạt thường rộng lớn sang trọng và cho ít người sử dụng Các máy móc đều có các chi tiết to nặng, những phần thao tác bằng tay đều nặng nề so với người Châu Á Đặc biệt, hệ thống bảo trì bảo dưỡng phải tuân thủ chặt chẽ và điều kiện làm việc, trang thiết bị sinh hoạt đều phù hợp với xứ lạnh khô
Nên khi mua tàu khách hàng hết sức lưu ý nếu mua các con tàu không phù hợp sẽ rất khó khai thác có hiệu quả sau này
2.3.6 Aûnh hưởng bởi môi trường tự nhiên khai thác tàu:
Hiện nay do quá nhiều tai nạn tàu biển gây ra ô nhiễm môi trường, vì thế các tiêu chuẩn kỹ thuật tàu có gây ra ô nhiễm càng đượïc quy định chặt chẽ hơn
Trang 40tố và xu hướng thay đổi của nó trước khi quyết định xác lập dự án đầu tư của mình
THẾ GIỚI :
Theo các kết quả thu thập thông tin, nghiên cứu mua – bán tàu trên toàn thế giới của các Công ty tư vấn mua – bán tàu hàng đầu là Drewery Ltd UK , Howe Robinson Ltd Uk thì toàn bộ các quốc gia hàng hải và đóng tàu quốc đang mua – bán tàu theo quy trình thống nhất, các quốc gia, các chủ tàu mới tham gia thị trường mua – bán tàu muốn thành công trong việc đầu tư tàu đã qua sử dụng nhất thiết không thể bỏ qua qui trình đó
2.4.1 Các bước của quy trình thủ tục mua – bán tàu qua sử dụng quốc tế :
2 4.1.1 Giai đoạn chuẩn bị
2.4.1.1.1 Xác định các yếu tố cần thiết trên thị trường – Thu thập thông tin thị trường :
- Xác định thông tin nhằm dự đoán những khuynh hướng biến động trên các thị trường chính theo các yếu tố :
+ Nhu cầu vận tải hàng hóa toàn cầu và các thị trường đầu tư
+ Biến động giá cước vận tải
+ Biến động giá tàu cũ
+ Khuynh hướng biến động của giá tàu đóng mới
+ Khuynh hướng biến động của giá tàu phá dỡ tàu
- Dự kiến mua bây giờ sẽ bán vào giai đoạn nào sau đó
- Tìm hiểu về các nhà vận tải và các nhà đầu cơ hàng hoá khác
- Xác định thông tin tài chính dùng liên quan đầu tư
- Xác định chu kỳ biến động thị trường
- Xác định các nhà kinh doanh tài chính trên thị trường mua bán và dự đoán hoạt động của họ
- Xác định cấu trúc của đội tàu vận tải quốc tế, khu vực trong tương lai
2.4.1.1.2 Xác định các lựa chọn tối ưu cho đầu tư
- Dài hạn
- Ngắn hạn
- Tàu chở hàng rời Cỡ nào
- Tàu chở dầu Cỡ nào