Trong bối cảnh như vậy, để có thể hội nhập cùng với cộng đồng tài chính tiền tệ khu vực và thế giới, việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại nóí chung, và kinh doanh ngoại hối nói r
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HỒ THIÊN NGA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM.
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2000
MỤC LỤC
Trang 2Trang
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ……… 3
KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: ……….
3 1.1.1 Định nghĩa về ngân hàng thương mại:……… 3
1.1.2 Các chức năng chủ yếu của Ngân hàng thương mại: ……… 4
1.1.2.1 Chức năng trung gian tài chính:……… 4
1.1.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:……… 4
1.1.2.3 Chức năng tạo ra tiền “bút tệ” theo cấp số nhân……… 5
1.1.2.4 Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác:……… 5
1.1.3 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại……… 5
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:……… 6
1.3 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CŨA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: ……… 8
1.3.1 Các khái niệm:……… 8
1.3.2 Các yếu tố chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ: ……… 9
1.3.2.1 Thị trường hối đoái: ……… 9
1.3.2.2 Tỷ giá hối đoái: ……… 9
Trang 31.3.2.3 Hàng hóa” của thị trường hối đoái:……… 11
1.3.3 Các đối tượng tham gia giao dịch trên thị trường hối đoái: ……… 12
1.3.3.1 Các tổ chức tín dụng: ……… 12
1.3.3.2 Các Ngân hàng Trung ương:……… 12
1.3.3.3 Các nhà môi giới: ……… 13
1.3.4 Các nghiệp vụ chính trong kinh doanh ngoại tệ: ……… 14
1.3.4.1 Nghiệp vụ giao ngay (SPOT):……… 14
1.3.4.2 Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn (FORWARD):……… 14
1.3.4.3 Nghiệp vụ hối đoái hoán đổi (SWAP): ……… 15
1.3.4.4 Nghiệp vụ quyền mua bán ngoại tệ lựa chọn:……… 15
1.3.4.5 Nghiệp vụ Ácbit: ……… 16
1.3.5 Một số vấn đề về quản lý rủi ro đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại……… 16
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM……….
18 2.1 GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM :……… 18
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:……… 18
2.1.2 Cơ cấu tổ chức: ……… 21
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu: ……… 22
2.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TE TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM: ……… 23
Trang 42.3.1 Một số vấn đề về tình hình hoạt động kinh doanh và quản lý
ngoại tệ tại Việt Nam trong thời gian qua:……… 23
2.3.2 Tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank: ……… 29
2.3.2.1 Quá trình thành lập Phòng kinh doanh ngoại tệ của Eximbank:……… 29
2.3.2.2 Cơ cấu tổ chức Phòng kinh doanh ngoại tệ của Eximbank: ……… 30
2.3.2.2 Các hoạt động chủ yếu tại Phòng kinh doanh ngoại tệ của Eximbank: ……… 30
2.3.2.3 Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Eximbank trong khoảng thời gian từ 1997 đến 1999:……… 32
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI EXIMBANK ……… 38
3.1 PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN NHÂN: ……… 38
3.2 XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN:……… 39
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI EXIMBANK: ……… 40
3.2.1 Giải pháp về nguồn nhân lực:……… 41
3.2.2 Giải pháp về tổ chức quản trị: ……… 41
3.2.3 Giải pháp về khách hàng: ……… 43
3.3.4 Giải pháp đa dạng hóa các nghiệp vụ:……… 44
3.2.5 Giải pháp về giảm thiểu rủi ro: ……… 45
Một số kiến nghị KẾT LUẬN ……… 52
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, kể từ khi Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa, đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập trở lại với nền kinh tế thế giới và khu vực, trong đó đặc biệt là việc gia nhập của Việt Nam vào ASEAN đã mở ra một kỷ nguyên mới cho Việt Nam trong việc mở rộng quan hệ kinh tế và thương mại với nước ngoài
Trong bối cảnh như vậy, để có thể hội nhập cùng với cộng đồng tài chính tiền tệ khu vực và thế giới, việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đối ngoại nóí chung, và kinh doanh ngoại hối nói riêng đối với ngân hàng thương mại của Việt Nam không chỉ là một tất yếu khách quan, mà còn là lẽ sống của chính ngân hàng
Chính vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến các hoạt động kinh doanh về ngoại hối và ngoại tệ có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập
Cũng chính vì ý thức được ý nghĩa quan trọng đối với những vấn đề có liên quan đến các hoạt động về ngoại hối và ngoại tệ, cho nên việc nghiên cứu đề tài
“ Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam ” thiết nghĩ là rất cần thiết trong giai
đoạn hiện nay, góp phần cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản lý ngân hàng, các nhà nghiên cứu có quan tâm đến lĩnh vực này
Với phương pháp luận nghiên cứu là phương pháp duy vật lịch sử, trong đó có vận dụng những kiến thức của các môn học về tài chính, ngân hàng và những kinh nghiệm thực tế đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, hy vọng rằng đề tài nghiên cứu dưới đây sẽ trình bày những vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói chung Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu có giới
Trang 6hạn, cho nên đề tài nghiên cứu chủ yếu trình bày những vấn đề về kinh doanh ngoại tệ ở phạm vi vi mô, trong đó cụ thể là tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Xuất phát từ phạm vi nghiên cứu trên, đề tài nghiên cứu sẽ trình bày những nội dung cơ bản như sau:
- Những vấn đề mang tính lý thuyết về hoạt động kinh doanh ngoại tệ nói chung
- Đánh giá thực trạng và những tồn tại trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
- Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Để nêu bật được những nội dung cơ bản này, đề tài nghiên cứu được bố trí trong ba chương:
Chương 1: Lý luận tổng quan về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân
hàng thương mại
Chương 2: Tình hình hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Ngân hàng Xuất
Nhập Khẩu Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh
ngoại tệ tại Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Một lần nữa, hy vọng rằng đề tài nghiên cứu này sẽ là một tài liệu tham khảo có ích cho các ngân hàng, các nhà nghiên cứu có quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh vẫn còn rất mới mẻ đối với thị trường Việt Nam chúng ta
Mặc dù vậy do hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động rất phức tạp và vẫn còn mới mẽ đối với thị trường Việt Nam, vì vậy trong quá trình nghiên cứu chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm, sai sót và mong rằng nhận được
Trang 7sự lượng thứ và đóng góp ý kiến quý báu từ các nhà nghiên cứu, các cá nhân có quan tâm
Nhân đây, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy Lại Tiến Dĩnh, Tiến
sĩ Kinh tế của trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, người đã có công rất lớn trong việc hướng dẫn Tôi để đề tài nghiên cứu sớm được hoàn thành
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1.1 Định nghĩa về ngân hàng thương mại:
Thật ra, từ Ngân hàng rất quen thuộc với chúng ta ngày nay, nhưng khi nói về ngân hàng thương mại, thì ở mỗi quốc gia đều có những định nghĩa khác nhau, như:
Ở Mỹ, người ta cho rằng ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp, Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Đối với Việt Nam, thì theo điều I của pháp lệnh “Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính” ở nước ta, được công bố ngày 24/05/1999 có định nghĩa về Ngân hàng thương mại như sau: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
Như vậy, nói về Ngân hàng thương mại, chúng ta có thể hiểu đó là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ tín dụng, là doanh nghiệp tiến hành thường xuyên các nghiệp vụ huy động vốn, tín dụng, bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, đầu tư chứng khoán và cung cấp các dịch vụ tài chính khác …
Trang 91.1.2 Các chức năng chủ yếu của Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại có các chức năng chủ yếu như sau:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tài chính:
Với chức năng là trung gian tài chính, Ngân hàng thương mại sẽ là cầu nối giữa những người cần vốn để sinh lời và những người có thể vì lý do gì chưa biết cách sử dụng vốn để sinh lời
Thực tế đã cho thấy quan hệ tín dụng trực tiếp giữa chủ thể có tiền chưa sử dụng và chủ thể có nhu cầu tiền tệ cần bổ sung gặp phải nhiều hạn chế, vì người có nhu cầu khó tìm gặp người có khả năng cung cấp Chính vì để khắc phục sự hạn chế này, Ngân hàng thương mại sẽ là cầu nối giữa hai đối tượng trên
1.1.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán:
Với chức năng là trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại cung cấp cho xã hội các phương tiện thanh toán hữu hiệu như: ủy nhiệm chi, séc, thẻ ngân hàng… Từ các phương tiện thanh toán, khách hàng của ngân hàng không phải trả với nhau khối lượng lớn tiền mặt mà chỉ cần ra lệnh cho ngân hàng thông qua các phương tiện được nêu trên
1.1.2.5 Chức năng tạo ra tiền “bút tệ” theo cấp số nhân
Có thể nói việc tạo ra tiền bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động ngân hàng Nhờ tiền ký thác của khách hàng, ngân hàng thương mại có khả năng cho vay Nhưng khi cho vay, ngân hàng lại tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi là tiền “bút tệ” và khi đó ngân hàng thương mại trở thành người cung ứng tiền tệ quan trọng trong nền kinh tế
Trang 101.1.2.6 Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác:
Chức năng làm dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác là bao gồm như: tư vấn, cung cấp các thông tin cần thiết cho các công ty để giao dịch trên thị trường chứng khoán, kinh doanh hối đoái, cho thuê két sắt…
1.1.3 Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Qua các chức năng được trình bày trên, ta thấy ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt có rất nhiều chức năng kinh doanh về tiền tệ, tín dụng Những chức năng đó được thể hiện qua các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại như: thu hút tiền gửi của công chúng; cho vay ; và thực hiện các hoạt động về môi giới trung gian; kinh doanh ngoại tệ, chứng khoán…
Tùy theo sự phát triển kinh tế của mỗi nước, các hoạt động kinh doanh của từng ngân hàng thương mại có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ, nhưng nói chung hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại bao gồm ba lĩnh vực chủ yếu là: nghiệp vụ nợ (huy động), nghiệp vụ có (cho vay) và nghiệp vụ môi giới trung gian hưởng hoa hồng
Nói một cách tổng quát, ngân hàng thương mại được quan niệm như là một doanh nghiệp kinh doanh đồng vốn, ngân hàng vừa là người cung cấp vốn, đồng thời cũng là người sử dụng đồng vốn của khách hàng Tất cả các hoạt động “mua – bán” này thường được thông qua một số công cụ và nghiệp vụ của ngân hàng
Hoạt động của ngân hàng bao gồm nhiều loại nghiệp vụ, nhưng tựu trung lại đây là loại hình kinh doanh tiền tệ – tín dụng của một hệ thống trung gian tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán Như vậy, ngân hàng
Trang 11tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông qua việc sử dụng không chỉ bằng ngưồn vốn tự có của mình mà còn chủ yếu của khách hàng
Vì vậy, chức năng trung gian tài chính đặt ra yêu cầu đầu tiên đối với các ngân hàng thương mại là phải thường xuyên thu hồi đồng vốn đã cho vay để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo toàn nguồn vốn của mình
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp và cá nhân
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là một phạm trù kinh tế, được biểu hiện bằng các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ thuật, xác định trên
cơ sở so sánh chỉ tiêu đầu ra và đầu vào của ngân hàng thương mại Nó phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao, từ đó khẳng định vai trò chủ đạo của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại phải được xem xét một cách toàn diện cả về hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội, cả về mặt thời gian và không gian, cả trong mối quan hệ chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Khi bàn về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại, không thể phủ nhận sự cần thiết của hiệu quả xã hội, nhưng không thể đánh đồng với hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào đảm bảo hiệu quả kinh tế thì mới có thể tạo ra hiệu quả xã hội Hiệu quả kinh tế quyết định, là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội Nếu hiệu
Trang 12quả kinh tế của ngân hàng thương mại giảm, làm cho ngân hàng thương mại mất sức cạnh tranh, thiếu sức sống, trở thành gánh nặng cho Nhà nước, lúc này ngân hàng thương mại không thể đạt được mục tiêu xã hội của mìnhù
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhằm tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại trên thị trường thế giới và thị trường trong nước Năng lực cạnh tranh của ngân hàng được tạo ra bởi tài sản cạnh tranh và quá trình cạnh tranh Tài sản cạnh tranh bao gồm tài chính, công nghệ, cơ sở hạ tầng, con người, v…v… Quá trình cạnh tranh thể hiện ở chất lượng sản phẩm, giá cả, chất lượng phục vụ, mức độ thỏa mãn nhu cầu khách hàng, ……
Hiệu quả kinh doanh nâng cao thì chi phí cho một sản phẩm thấp, nhưng lại đáp ứng tốt những yêu cầu của khách hàng như chất lượng sản phẩm cao, phương pháp phân phối, cung cách phục vụ tốt, giá cả thấp, v.v… sẽ tạo cho ngân hàng thương mại bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hơn, tăng thị phần, tăng lợi nhuận và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên chức, tức là tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh là cơ sở để cho cạnh tranh lâu dài và bền vững
Theo quan niệm truyền thống, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào những lợi thế so sánh về nguồn tài nguyên và nhân lực Nhưng ngày nay, điều này không thể giải thích được cho những nước có nguồn tài nguyên nghèo nàn nhưng khả năng cạnh tranh lại cao Vì vậy khả năng cạnh tranh phải được tạo ra từ nâng cao hiệu quả trong quản lý, sử dụng tối ưu các nguồn nhân tài vật lực
Giữa hiệu quả kinh doanh và cạnh tranh có mối quan hệ nhân quả, trong đó hiệu quả là cơ sở cho khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, khả năng cạnh tranh tăng lên phụ thuộc vào cả hai yếu tố giảm chi phí và tăng mức thỏa mãn nhu cầu Việc tăng khả năng cạnh tranh lại tạo điều kiện cho ngân hàng mở rộng thị trường, tăng
Trang 13lợi nhuận, tăng khả năng đầu tư vào tài sản, mở rộng sản xuất kinh doanh, v.v… Chính những điều đó lại tạo điều kiện cho hiệu quả kinh doanh ngày được nâng cao và đến lượt nó lại tiếp tục tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng
Nâng cao hiệu quả kinh doanh làm tăng sức cạnh tranh của Ngân hàng thương mại là một yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập với khu vực và quốc tế, đây là một chủ trương quan trọng của nước ta hiện nay
1.3 HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ CŨA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.3.1 .Các khái niệm:
- Ngoại hối: Là bao gồm các đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được lưu hành dưới các hình thức tiền giấy, tiền kim loại; các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, thẻ thanh toán, kể cả vàng theo tiêu chuẩn quốc tế…
- Ngoại tệ: Là đồng tiền của một quốc gia khác hoặc đồng tiền chung của nhiều quốc gia
- Ngoại tệ tiền mặt: là tiền giấy, tiền kim loại, séc du lịch và công cụ thanh toán tương tự khác bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật
- Hoạt động kinh doanh ngoại hối: Theo nghĩa rộng, được hiểu là bao gồm các hoạt động đầu tư, vay, cho vay, bảo lãnh, mua, bán và các giao dịch khác về ngoại hối Theo nghĩa hẹp, người ta hiểu hoạt động kinh doanh ngoại hối chỉ đơn thuần là việc mua và bán số dư có trên tài khoản bằng ngoại tệ nên thường được gọi là hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ thực hiện các chức năng cơ bản sau:
• Đảm bảo cho việc thực hiện thanh toán giữa các doanh nghiệp của các ngân hàng trên thế giới
Trang 14• Hỗ trợ các doanh nghiệp tránh các rủi ro khi thay đổi tỷ giá trong thanh toán bằng ngoại tệ
• Tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước ngoài bằng bản tệ tại ngân hàng trong nước…
1.3.3 Các yếu tố chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngoại teä :
1.3.2.1 Thị trường hối đoái:
Trong hoạt động ngoại thương giữa các nước, thanh toán là khâu kết thúc các khoản giao dịch Việc thanh toán đó có liên quan đến hai đồng tiền, một của bên bán và một của bên mua với tên gọi khác nhau và đơn vị tiền tệ khác nhau Thị trường hối đoái chính là nơi diễn ra các quan hệ mua - bán, trao đổi các đồng tiền khác nhau đó
Như vậy, chúng ta có thể hiểu thị trường hối đoái là nơi thực hiện việc trao đổi mua bán các loại ngoại tệ và phương tiện chi trả có giá trị bằng ngoại tệ, trong đó giá cả ngoại tệ được xác định trên cơ sở cung cấu ngoại tệ
Nguyên nhân tồn tại của thị trường này là do các quốc gia muốn giữ chủ quyền trong việc sử dụng và kiểm soát đồng tiền riêng của mình, bởi vì nếu như mọi quốc gia trên thế giới đều sử dụng một đồng tiền thống nhất thì có thể không cần đến thị trường hối đoái nữa
1.3.2.2 Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được đo bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác Chẳng hạn như: 1 USD = 14,000 VNĐ hoặc 1 GDP = 1,63 USD
Quá trình phát triển của nền kinh tế trên thế giới, cho thấy đã có nhiều chế độ tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, được thực hiện chủ yếu là chế độ tỷ giá hối đoái cố định và chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt
Trang 15- Chế độ tỷ giá hối đoái cố định: Cơ sở của việc so sánh hai đồng tiền là dựa vào một thước đo chung theo một công ước chính bao gồm:
• Chế độ bản vị vàng: Tỷ giá hối đoái được hình thành trên cơ sở của việc so sánh hàm lượng vàng của các đồng tiền khác nhau Trong chế độ này, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được cố định vô thời hạn
• Chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo đồng USD (dollar bản vị): Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1924-1933) đã làm sụp đỗ hoàn toàn chế độ bản vị vàng Thay vào đó là hệ thống tỷ giá hối đoái mới – tỷ giá hối đoái BRETTONWOODS, theo đó đồng USD đã thay thế vàng làm tiêu chuẩn cố định cho hệ thống tỷ giá hối đoái mới
- Chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt (thả nổi): Đây là chế độ tỷ giá mà trong đó tỷ giá hối đoái được quyết định bởi các lực lượng của thị trường Tuy nhiên, do tỷ giá tác động trực tiếp đến các hoạt động của nền kinh tế đối nội lẫn đối ngoại, nên các Chính phủ tham gia tác động vào việc hình thành tỷ giá Trong chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt có hai loại:
• Chế độ tỷ giá hối đoái thuần túy: Trong chế độ này, tỷ giá được xác lập hoàn toàn là do cung cầu của các loại ngoại tệ trên thị trường quyết định, không có sự can thiệp của Chính phủ
• Chế độ tỷ giá hối đoái có quản lý: Tỷ giá hối đoái được xác lập theo cơ chế thị trường, nhưng có sự tác động của Chính phủ Thật ra, Chính phủ có thể sử dụng công cụ tỷ giá để điều tiết các hoạt động kinh tế nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế phù hợp theo thông lệ quốc tế
Trang 161.3.2.3 Hàng hóa” của thị trường hối đoái:
Hàng hóa được mua – bán và trao đổi trên thị trường hối đoái chính là ngoại hối Và, nếu căn cứ theo thông tư số 01/1998/TT-NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 63//1998/NĐ-CP ngày 17/08/1998 do Chính phủ ban hành, chúng ta có thể hiểu ngoại hối là bao gồm:
- Các đồng tiền hợp pháp của nước ngoài hiện đang được lưu hành dưới các hình thức tiền giấy, tiền kim loại;
- Các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài như: séc, thẻ thanh toán, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi bưu điện, và các công cụ thanh toán khác;
- Các loại giấy tờ có giá bằng tiền nước ngoài như: trái phíếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
- Các đồng tiền chung khác dùng trong thanh toán quốc tế và khu vực;
- Đồng tiền đang lưu hành của nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Đồng Việt Nam) trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hặc được sử dụng làm công cụ thanh toán quốc tế;
- Vàng tiêu chuẩn quốc tế
So với các loại hàng hóa khác, ngoại hối cần phải được mua, bán đúng nơi quy định theo đúng các phương thức giao dịch và tuân thủ theo các quy định về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước theo từng thời kỳ cụ thể
1.3.3 Các đối tượng tham gia giao dịch trên thị trường hối đoái:
Về nguyên tắc, bất kỳ ai muốn đổi một đồng tiền này sang một đồng tiền khác đều có thể là thành viên của thị trường hối đoái Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ tập trung vào những thành viên quan trọng của thị trường này
Trang 171.3.3.1 Các tổ chức tín dụng:
Có thể nói đây là thành phần đông đảo và quan trọng nhất trên thị trường hối đoái, là thành phần chủ yếu tạo ra thị trường mua bán ngoại tệ
Mục đích của các ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường hối đoái là nhằm :
- Cung cấp các dịch vụ mua bán ngoại tệ một cách tốt nhất cho khách hàng để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
- Quản lý và duy trì trạng thái ngoại hối ở vị thế chủ động nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- Thu lợi nhuận cho chính mình
Bên cạnh những nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ để phục vụ cho hoạt động thanh toán, hầu hết các ngân hàng thương mại lớn còn thực hiện các hoạt động ngoại hối theo hình thức liên ngân hàng, có nghĩa là các ngân hàng trực tiếp mua bán với nhau, không liên quan đến khách hàng
1.3.3.2 Các Ngân hàng Trung ương:
Các Ngân hàng Trung ương không chỉ chịu trách nhiệm phát hành tiền của nước mình và quản lý và điều tiết sự vận động của tiền tệ, mà còn phải gánh vác nhiệm vụ giữ ổn định tỷ giá giữa đồng bản tệ với các đồng tiền khác Điều này hoàn toàn phù hợp với hệ thống “tỷ giá hối đoái cố định”, nhưng ngay cả trong hệ thống tỷ giá thả nổi, ngân hàng trung ương cũng thường xuyên buộc phải can thiệp vào thị trường hối đoái nhằm duy trì trật tự của thị trường
Các ngân hàng Trung ương tham gia vào thị trường hối đoái nhằm hai mục đích là: một là điều chỉnh tỷ giá để đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô tổng thể của
Trang 18một Quốc gia (trong trường hợp một Quốc gia duy trì chế độ tỷ giá cố định hoặc tỷ giá thả nổi có sự quản lý của Nhà nước); hai là để duy trì trật tự của thị trường Với sự can thiệp của Ngân hàng Trung ương, cung và cầu ngoại tệ luôn được giữ ở trạng thái cân bằng và tỷ giá hối đoái tránh được những biến động lớn, gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của nền kinh tế
1.3.3.3 Các nhà môi giới:
Thực tế đã cho thấy, có những trường hợp các ngân hàng không trực tiếp mua bán trên thị trường hối đoái mà sử dụng các người môi giới để làm trung gian cho các hoạt động mua bán ngoại tệ
Các nhà môi giới luôn có các hợp đồng mua bán với các ngân hàng công tác với họ, và các hợp đồng này, được thường xuyên ấn định hạn mức Chính từ các hợp đồng này, và tùy theo từng ngân hàng, đã thỏa tuận trước giá mua tối đa và giá bán tối thiểu đối với các hợp đồng này, đã tạo cho các nhà môi giới những cơ hội lớn để tìm các đối tác có nhu cầu
Thực tế đã cho thấy, việc sử dụng những người trung gian có hai thuận lợi sau:
- Tiết kiệm được thời gian và chi phí liên lạc
- Nhận được sự chào giá tốt hơn
1.3.3.4 Các cá nhân (Individuals):
Bao gồm các cá nhân khi có nhu cầu về ngoại tệ để đi du lịch ở nước ngoài, hoặc để thực hiện việc thanh toán vơí các đối tác ở nước ngoài …
1.3.4 Các nghiệp vụ chính trong kinh doanh ngoại tệ:
1.3.4.1 Nghiệp vụ giao ngay (SPOT):
Trang 19Là nghiệp vụ, trong đó việc thực hiện mua, bán một số lượng ngoại tệ giữa hai bên theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán
Có thể nói đây là nghiệp vụ phổ biến và chiếm tỷ trọng cao trên thị trường hối đoái và thực tế đã cho thấy nghiệp vụ này chiếm đến hơn 80 % giao dịch mua bán trên thị trường hối đoái
-1.3.4.2 Nghiệp vụ hối đoái kỳ hạn (FORWARD):
Là nghiệp vụ, trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một số lượng ngoại tệ theo một tỷ giá xác định, và việc thanh toán sẽ được được thực hiện trong tương lai
Đối với các doanh nghiệp, việc tham gia vào nghiệp vụ này là nhằm tránh những rủi ro do sự biến động của tỷ giá trong tương lai
Đối với các ngân hàng thương mại, nghiệp vụ này được sử dụng để cân bằng trạng thái ngoại hối mỗi khi có một giao dịch phát sinh
Tỷ giá có kỳ hạn sẽ được xác định trên cơ sở tỷ giá giao ngay, thời hạn giao dịch và lãi suất của hai đồng tiền đó Cụ thể là:
Tk = Ts x 1 + KLb
1 + KLa
Tk: là tỷ giá có kỳ hạn của đồng tiền A so với đồng tiền B (A/B)
K: là thời gian, thời hạn thỏa thuận (ngày, tháng, năm)
La: là lãi suất của đồng tiền A (ngày, tháng, năm)
Lb: là lãi suất của đồng tiền B (ngày, tháng, năm)
Trang 20Ts: là tỷ giá giao ngay
1.3.4.3 Nghiệp vụ hối đoái hoán đổi (SWAP):
Là nghiệp vụ, trong đó bao gồm đồng thời cả hai giao dịch : giao dịch mua và giao dịch bán cùng một số lượng đồng tiền này với một đồng tiền khác (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng
Trong giao dịch hối đoái SWAP, lượng tiền mua và bán luôn bằng nhau
Vì vậy, giao dịch hối đoái SWAP không bao giờ làm thay đổi trạng thái hối đoái thực Nếu có thay đổi trong tỷ giá giao ngay của các đồng tiền, cũng không làm phát sinh khoản lỗ hay lãi hối đoái nào do có giao dịch Swap Nếu như đồng ngoại tệ lên giá, số bản tệ bị mất ở đầu bán của giao dịch sẽ được bù đắp ở đầu mua của giao dịch tiếp theo
1.3.4.4 Nghiệp vụ quyền mua bán ngoại tệ lựa chọn:
Là sự thỏa thuận bằng hợp đồng giữa người mua và người bán về quyền chọn mua (call option) hoặc quyền chọn bán (put option), theo đó người mua (bán) được quyền, nhưng không bắt buộc phải mua (bán) một loại ngoại tệ nhất định theo một tỷ giá cố định trước vào một ngày đã được xác định trong tương lai hoặc trước ngày đó
Có thể nói quyền mua (bán) lựa chọn nêu trên là một công cụ đảm bảo tỷ giá thực sự cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư, đồng thời được sử dụng như một công cụ đầu cơ, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu cơ ngoại tệ
Trang 21Nghiệp vụ quyền mua bán lựa chọn hiện đang được các ngân hàng sử dụng rộng rãi dưới hình thức giao dịch tự do với các thương vụ lớn
1.3.4.5 Nghiệp vụ Ácbit:
Ácbít là một nghiệp vụ hối đoái nhằm sử dụng mức chênh lệch tỷ giá giữa các thị trường hồi đoái để thu lợi nhuận Tức là mua ở nơi rẻ nhất và bán ở nơi cao nhất
1.3.6 Một số vấn đề về quản lý rủi ro đối với hoạt động kinh doanh ngoại teä của
ngân hàng thương mại
Ngày nay, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại có
xu hướng ngày một tăng Các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế luôn cho rằng hoạt động kinh doanh ngoại tệ là hoạt động kinh doanh có tính chất rủi ro rất cao, và các tổ chức này đã đề nghị Chính phủ của các quốc gia tuỳ theo điều kiện, đặc điểm hoạt động đối ngoại của mình, phải đề ra các quy chế, quy định thận trọng nhằm bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống tài chính, ngân hàng của từng quốc gia Công cụ để quản lý giới hạn trạng thái ngoại tệ là một công cụ rất tiện ích, không chỉ đơn thuần giúp cho các ngân hàng, các tổ chức tín dụng giảm thiểu rủi ro hối đoái, kiểm soát các hoạt động đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, bảo đảm cung cầu ngoại tệ được phản ánh chính xác, bình ổn tỷ giá và góp phần làm lành mạnh hóa thị trường hối đoái
Tuy nhiên, để quản lý và giảm bớt rủi ro hay tối đa hóa giá trị tài sản của từng loại ngoại tệ và tổng thể các loại ngoại tệ, các ngân hàng thương mại thường sử dụng cả hai phương thức – trạng thái ngoại tệ của từng loại ngoại tệ và tổng trạng thái ngoại tệ
Trang 22Quản lý ngoại tệ theo phương thức trạng thái ngoại tệ của từng ngoại tệ, ngân hàng đo lường qua hai chỉ tiêu:
- Trạng thái ngoại tệ hiện tại ròng: Đó là sự chênh lệch giữa tổng tài sản Có và tổng tài sản Nợ
- Trạng thái ngoại tệ tương lai ròng: Là sự chênh lệch giữa tổng các giao dịch ngoại tệ kỳ hạn mua vào và tổng các giao dịch kỳ hạn bán ra Trong trường hợp trạng thái ngoại tệ dương, thì được gọi là trạng thái dư thừa Ngược lại, sẽ được gọi là trạng thái dư thiếu
Trạng thái ngoại tệ của từng loại ngoại tệ được các ngân hàng thương mại sử dụng để đo lường những khoản lãi hay lỗ tiềm năng trong mỗi đơn vị tỷ giá ngoại tệ đó thay đổi Tuy nhiên, trạng thái này chỉ đo lường khoản lỗ hay lãi mà nguyên nhân từ sự thay đổi trong tỷ giá giao ngay
Như vậy, để quản lý rủi ro ngoại tệ, ngân hàng cần phải xác định sự tương quan tỷ giá song biên giữa nó với các loại ngoại tệ khác Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ điều chỉnh tài sản Có, tài sản Nợ của mỗi loại ngoại tệ với mục đích tối đa hóa giá trị tài sản của ngân hàng và giảm thiểu rủi ro thông qua các nghiệp được nêu trên như: Acbit, mua bán có kỳ hạn,…
Tuy nhiên, để quản lý rủi ro ngoại tệ thông qua trạng thái của từng loại ngoại tệ thì ngân hàng thương mại gặp phải một số nhược điểm khó khắc phục như chỉ xem xét mối quan hệ tỷ giá trực tiếp giữa hai ngoại tệ chứ không đo lường sự biến động tương đối của các ngoại tệ khác Để khắc phục được nhược điểm này, ngân hàng thương mại sử dụng tổng trạng thái ngoại tệ
Quản lý ngoại tệ thông qua tổng trạng thái ngoại tệ thường được đo lường qua ba chỉ tiêu sau:
Trang 23- Tổng trạng thái ngoại tệ gộp: là tổng tất cả trạng thái ngoại tệ dư thiếu và tất cả trạng thái ngoại tệ dư thừa
- Tổng trạng thái ngoại tệ ròng: là sự chênh lệch của tất cả trạng thái ngoại tệ dư thiếu và tất cả trạng thái ngoại tệ dư thừa
- Trạng thái ngoại tệ nhanh: là trung bình cộng của tổng trạng thái ngoại tệ gộp và tổng trạng thái ngoại tệ ròng
Ba chỉ tiêu trên có mối quan hệ như sau: tổng trạng thái ngoại tệ gộp lớn hơn tổng trạng thái ngoại tệ nhanh; tổng trạng thái ngoại tệ ròng là nhỏ nhất
Việc lựa chọn cách nào trong ba cách trên để quản lý rủi ro ngoại tệ phụ thuộc vào sự tương quan giữa các ngoại tệ hay tương quan thay đổi tỷ giá giữa các đồng tiền trong bảng trạng thái ngoại tệ của ngân hàng đó
Trang 24CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI
NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
2.1 GIỚI THIỆU ĐÔI NÉT VỀ NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM (Eximbank):
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
Để thực hiện đường lối đổi mới do Đảng và Nhà nước đề ra, ngành ngân hàng Việt Nam đã tiến hành một bước đổi mới cơ bản, chuyển sang mô hình ngân hàng hai cấp Trong đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà nước về tiền tệ và tín dụng, là ngân hàng phát hành, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng trên lãnh thổ Việt Nam Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng theo cơ chế thị trường trong khuôn khổ pháp luật
Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (gọi tắt là Eximbank) cũng đã ra đời theo Quyết định số 140/CT do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 24.05.1989 với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam chuyên hoạt động kinh doanh về tiền tệ , tín dụng và dịch vụ ngân hàng, nhằm phục vụ sản xuất chế biến hàng xuất khẩu và kinh doanh xuất nhập khẩu
Sau đó, ngày 22/06/1989, Tổng Giám Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại đã ra quyết định số 364/KTĐN/TCCB lập ban trù bị để tổ chức thành lập Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
Tiếp theo đó là ngày 06/04/1992ù, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 0011/NH-GP cho phép ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm
Trang 25vôùi soâ voân ñieău leô ñaíng kyù laø 50 tyû ñoăng Vieôt Nam, töông ñöông vôùi 12,5 trieôu USD vôùi teđn gói môùi laø Ngađn haøng thöông mái coơ phaăn Xuaât Nhaôp Khaơu Vieôt Nam, gói taĩt laø Vietnam Eximbank
Cuõng trong thôøi gian naøy, Ngađn haøng Nhaø nöôùc Vieôt Nam ñaõ ra quyeât ñònh soâ 04/NH-QÑ pheđ chuaơn ñieău leô cụa Eximbank ñöôïc thöïc hieôn caùc nghieôp vú thanh toaùn quoâc teâ vaø thieât laôp quan heô ñái lyù, quan heô taøi khoạn vôùi caùc ngađn haøng nöôùc ngoaøi
Phaùp leônh ngađn haøng ra ñôøi laøm coôt moâc ñöa Eximbank böôùc sang moôt giai ñoán môùi Theo ñoù, baỉng Quyeât ñònh soâ 198/QÑ-NH5 (ngaøy 20.10.1993), Thoâng ñoâc Ngađn haøng Nhaø nöôùc Vieôt Nam chuaơn y vaø cho pheùp Eximbank nađng voân ñieău leô leđn laø 125 tyû ñoăng Vieôt Nam, töông öùng vôùi 125.000 coơ phaăn, vôùi meônh giaù moêi coơ phieâu laø 1 trieôu ñoăng Vieôt Nam
Ñeân thaùng 8 naím 1996, Vietnam Eximbank tieâp túc taíng voân coơ phaăn leđn gaâp ñođi baỉng caùch phaùt haønh theđm 125.000 coơ phieâu ñeơ nađng voân coơ phaăn leđn ñeân
250 tyû ñoăng Vieôt Nam, vaø ñaõ chöùng toû söï lôùn mánh vaø phaùt trieơn cụa mình tređn thöông tröôøng trong vaø ngoaøi nöôùc
Hieôn tái, ngoaøi Hoôi sôû chính ñöôïc ñöôïc tóa lác tái soâ 07 Leđ Thò Hoăng Gaẫm, Eximbank ñaõ phaùt trieơn máng löôùi chi nhaùnh sang caùc tưnh, thaønh nhö: Haø noôi, Caăn thô, Ñaø naüng…
Keơ töø khi ñöôïc thaønh laôp ñeân nay, cho thaây Eximbank coù döôïc moôt vò theâ quan tróng tređn thöông tröôøng, vaø ñaõ trôû thaønh moôt trong nhöõng ngađn haøng coơ phaăn lôùn mánh nhaât cụa cạ nöôùc
Vôùi nhöõng thaønh töïu to lôùn ñaõ ñát ñöôïc trong nhöõng naím qua, Eximbank ñaõ thaôt söï coù uy tín tređn thöông tröôøng trong vaø ngoaøi nöôùc, vaø keât quạ laø:
Trang 26- Năm 1991 và 1992 được Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài Chính tín nhiệm giao thực hiện một phần chương trình tài trợ không hoàn lại của Chính phủ Thụy Điển cho các Doanh nghiệp Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu
- Năm 1993, Eximbank được Ngân hàng Nhà nước chọn để thực hiện chương trình viện trợ của Chính phủ Thụy Sĩ, và bản thân ngân hàng cũng nhận được một phần viện trợ từ chương trình này
- Cũng trong năm 1993, Eximbank đã tham gia vào hệ thống thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Năm 1995, Eximbank đã được chọn để tham gia vào hệ thống thanh toán toàn cầu SWIFT ( Tổ chức Viễn thông Tài Chính Liên Ngân hàng Toàn cầu), và cũng trong năm này, Eximbank trở thành hội viên của Hiệp hội các định chế tài trợ phát triển khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ADFIAP)
- Được chọn là một trong sáu ngân hàng ở Việt Nam tham gia thực hiện dự án hiện đại hóa ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước tổ chức với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới
- Năm 1996 và 1997, trở thành hội viên chính thức của hai Tổ chức thẻ quốc tế Visa và MasterCard
Như vậy, với tốc độ tăng nhanh chóng đối với vốn cổ phần, và những thành tựu đã đạt được, đã cho thấy việc thành lập một ngân hàng thương mại cổ phần như Eximbank trong bối cảnh khi Pháp lệnh Ngân hàng chưa ra đời, chính là một sự thử nghiệm thành công của chính sách đổi mới ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung
Trang 272.1.2 Cơ cấu tổ chức: Xem sơ đồ tổ chức được minh họa dưới đây:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA EXIMBANK
HỘI ĐỒNG QU Ả N TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
PHÒNG KẾ TOÁN GIAO DỊCH
PHÒNG TÍN DỤNG
PHÒNG KẾ TOÁN
TỔNG HƠP
PHÒNG QUAN HỆ
QUỐC TẾ
PHÒNG THANH TOÁN XUẤT – NHẬP
CÁC CHI NHÁNH
PHÒNG XỬ LÝ THÔNG TIN
BAN KIỂM TOÁN
ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU CỔ ĐÔNG
2.1.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu:
Bao gồm các hoạt động chủ yếu như sau:
- Tài trợ xuất khẩu: cấp các khoản vay bằng đồng Việt Nam cho các nhà xuất khẩu để thu mua, chế biến và sản xuất hàng xuất khẩu; ứng vốn thanh toán chứng từ theo thư tín dụng cho các nhà xuất khẩu
- Tài trợ nhập khẩu: cấp các khoản vay ngoại tệ để tài trợ cho việc nhập khẩu vật tư, hàng hóa, các máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nước bao gồm ngắn hạn (dưới 01 năm), trung hạn (1-5 năm) và dài hạn (trên 5 năm); mở L/C trả chậm cho các khách hàng theo quy địnhcủa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Tài trợ dự án: cấp các khoản vay để thực hiện những dự án về kinh doanh, đầu tư, xây dựng mang tính khả thi
Trang 28- Bảo lãnh: phát hành thư bảo lãnh đảm bảo việc thanh toán tiền hàng của nhà nhập khẩu Việt Nam và bảo lãnh vay vốn nước ngoài Phát hành thư bảo lãnh giao hàng, bảo đảm việc giao hàng của nhà xuất khẩu trong nước
Ngoài ra, Eximbank còn thực hiện các hoạt động về bảo lãnh như: phát hành thư bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh để thực hiện hợp đồng…
- Mở tài khoản tiền gửi: bao gồm việc mở tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước
- Nhận tiền gửi: Nhận tiền gửi bằng ngoại tệ, đồng Việt Nam có kỳ hạn và không kỳ hạn; ký quỹ thanh toán; tiền gửi của công ty, cá nhân; tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác…
- Kinh doanh ngoại tệ: Giao dịch mua bán ngoại tệ qua thị trường liên ngân hàng; mua bán các loại ngoại tệ phục vụ nhu cầu thanh toán của khách hàng ; mua bán ngoại tệ với khách hàng theo các phương thức như: thanh toán ngay (SPOT), hoán đổi (SWAP), hay thanh toán có kỳ hạn (FORWARD)…
- Các dịch vụ thanh toán: Bao gồm việc thanh toán bằng thư tín dụng; thanh toán bằng nhờ thu chứng từ D/A,D/P; thanh toán bằng chuyển khoản đi và đến thông qua Telex, SWIFT, chuyển tiền kiều hối; thanh toán bằng chi phiếu; phát hành và thanh toán thẻ tín dụng Visa và MasterCard…
- Các hoạt động khác: Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng khác như: ngân quỹ; chi trả lương; kinh doanh vàng bạc, cầm cố; tư vấn cho khách hàng về sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu …