Năm 2004 Lý thuyết và phê bình nữ quyền: từ phê bình xã hội đến phân tích diễn ngôn của Ellen Messer - Davidow đã đưa ra những quan niệm của mình và tiến trình phê bình cùng lý thuyết
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Tất cả nội dung,
số liệu, bảng thống kê trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố ở bất cứ công trình nào
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Giàu
Trang 4Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành tới PGS.TS Bùi Thanh Truyền, người đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã hết lòng giảng dạy khóa 25 chuyên ngành Văn học Việt Nam cùng các thầy cô, các cán bộ Phòng Sau Đại học tạo mọi điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến nhà văn Sương Nguyệt Minh đã nhiệt thành cung cấp tác phẩm và giúp tôi hoàn thành bài phỏng vấn về ông để có thêm cứ liệu xác tín cho việc nghiên cứu đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã hết lòng động viên và tạo thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học
Tp.HCM, tháng 09 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Ngọc Giàu
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 11
1.1 Từ chủ nghĩa nữ quyền và nữ quyền luận đến diễn ngôn nữ quyền 11
1.1.1 Chủ nghĩa nữ quyền và các chặng đường lịch sử 11
1.1.2 Nữ quyền luận và các thuyết nữ quyền 16
1.1.3 Diễn ngôn nữ quyền - đặc điểm chung và hướng tiếp cận 21
1.2 Chủ thể sáng tạo- lữ khách song hành cùng vô thức 28
1.2.1 Khái niệm về chủ thể sáng tạo 28
1.2.2 Mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo với quyền lực và hệ hình tri thức 29
1.2.3 Chủ thể sáng tạo với diễn ngôn nữ quyền 32
1.3 Văn học nữ quyền Việt Nam đương đại và nhà văn Sương Nguyệt Minh 34
1.3.1 Văn học nữ quyền Việt Nam đương đại 34
1.3.2 Sương Nguyệt Minh - cây bút nam nhiều duyên nợ với văn học nữ quyền 39
Tiểu kết chương 1 44
Chương 2 DIỄN NGÔN NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI SƯƠNG NGUYỆT MINH NHÌN TỪ CHỦ THỂ NAM 45
2.1 Khẳng định vẻ đẹp thân thể - sức mạnh riêng, đầy bí ẩn của phụ nữ 45
2.1.1 Vẻ đẹp phồn thực tràn đầy sức sống, gần gũi với tự nhiên 45
2.1.2 Thân thể - yếu tính của sức mạnh, bản thể nữ 53
2.1.3 Vẻ đẹp song hành cùng số phận 60
2.2 Xây dựng thế chủ động nữ giới 67
2.2.1 Chủ động trong việc tự quyết cuộc sống 67
2.2.2 Chủ động nhìn nhận thế giới đàn ông 73
Trang 62.3.1 Cái nhìn quy chụp đặc điểm thiên nhiên vào người phụ nữ 90
2.3.2 Quan niệm Cái đẹp là tai hại và sự phán xét nữ giới với các tiêu chí nam quyền 92
2.3.3 Về phạm trù trinh tiết của nữ giới và vấn đề “không chồng mà chửa” 96
Tiểu kết chương 2 99
Chương 3 DIỄN NGÔN NỮ QUYỀN TRONG VĂN XUÔI SƯƠNG NGUYỆT MINH NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRẦN THUẬT 100
3.1 Diễn ngôn nữ quyền với cốt truyện 100
3.1.1 Cốt truyện phân mảnh 100
3.1.2 Cốt truyện giàu kịch tính 103
3.1.3 Cốt truyện nội quan 106
3.2 Diễn ngôn nữ quyền với điểm nhìn trần thuật 109
3.2.1 Điểm nhìn không gian và thời gian 109
3.2.2 Sự hòa phối điểm nhìn bên trong và điểm nhìn tâm lí 113
3.3.3 Sự di động điểm nhìn của người kể chuyện cùng nhân vật 118
3.3 Diễn ngôn nữ quyền với ngôn ngữ 120
3.3.1 Ngôn ngữ đối thoại đậm thiên tính nữ 120
3.3.2 Sự gia tăng ngôn ngữ vô thức 123
3.3.3 Sự xuất hiện của từ ngữ thông tục 126
3.4 Diễn ngôn nữ quyền với giọng điệu trần thuật 128
3.4.1 Giọng trữ tình tha thiết 129
3.4.2 Giọng ngợi ca, thán phục và thương cảm, xót xa 132
3.4.3 Giọng hoài nghi, chất vấn 135
Tiểu kết chương 3 138
KẾT LUẬN 139
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC
Trang 71.2 Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam được quan tâm khá sớm, “Đăng cổ tùng báo” vào năm 1907, có mục Nhời đàn bà gây được sự chú tâm của độc giả Đây là một diễn đàn
riêng để phụ nữ nói lên tiếng lòng của mình Tất nhiên, trước đó, trong giai đoạn văn học trung đại, các cây bút tên tuổi tài năng đã xuất hiện như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương Nhưng đến giai đoạn sau này, nhất là sau
1986 thì vấn đề nữ quyền mới từng bước khẳng định vị thế và quyền lực chi phối của mình Việc lấy phụ nữ làm trung tâm là quyền của người cầm bút Không phải cứ là tác phẩm ra đời bởi nhà văn nữ mới phát ra diễn ngôn nữ quyền Bên cạnh các cây bút
Lý Lan, Dạ Ngân, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Hiền Phương, Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Xuân Hà,… là các nhà văn nam viết về phụ nữ khá thành công, đưa ra những cảm nghiệm về tâm hồn nữ giới đầy tinh tế và vi diệu Đó là Nguyễn Huy Thiệp với giọng văn đầy triết lí hay Nguyễn Quang Thiều với chất điệu trầm tư… Sẽ là một thiếu sót nếu ta không nhắc đến cái tên Sương Nguyệt Minh - một nhà văn viết về nhân tình, thế thái, điển hình là phụ nữ bằng tất cả sự thấu hiểu, trải nghiệm qua năm tháng làm lính gian khổ và sóng gió đời người
1.3 Ngoài ra, việc vận dụng lí thuyết diễn ngôn nữ quyền - một lí thuyết mới nở
rộ vào đầu thế kỷ XX để soi chiếu và khảo sát, phân tích tác phẩm Sương Nguyệt Minh sẽ giúp độc giả có cái nhìn toàn diện, khách quan về thế giới nữ và sự chi phối quyền lực của vấn đề này Từ đó, đọc giả cũng nhận ra được sự khác biệt về diễn ngôn
nữ quyền xuất phát bởi chủ thể sáng tạo giữa chủ thể nữ và nam Tuy thể hiện diễn ngôn nữ quyền bàng bạc khắp trang văn mình nhưng Sương Nguyệt Minh đã thổi vào
đó một làn gió mới, lạ, mang phong cách riêng của bản thân ông
Trang 82 Lịch sử vấn đề
2.1 Nghiên cứu về lí thuyết diễn ngôn nữ quyền
Đầu tiên là về khái niệm diễn ngôn, đây là một trong những vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm bàn luận từ đầu thế kỷ XX đến nay Nó bắt nguồn từ phương Tây với những cái tên nổi bật như Van Dijk, F.de Saussure, David Nunan, Gillian Brown - George Yule, Barthes,… Thật ra, khái niệm diễn ngôn đã được đề cập từ giai đoạn trước dưới một hình thức khác nếu như xem diễn ngôn là sản phẩm của lịch sử, của xã hội, của những cơ chế quyền lực nhất định trong phạm vi nhất định Và xét ra, khái niệm diễn ngôn nữ quyền cũng từ đó dần hình thành
Theo tiến trình nghiên cứu, chủ nghĩa hình thức Nga ra đời vào đầu thế kỷ XX
đã mở màn và tạo điều kiện cho diễn ngôn nói chung và diễn ngôn nữ quyền nói riêng phát triển sau này Với việc đoạn tuyệt phương pháp nghiên cứu văn học theo con đường xã hội và lịch sử, chủ nghĩa này đã chọn con đường ngữ học để phân tích văn bản Đặc biệt, việc xem ngôn ngữ và các thủ pháp ngôn từ như là những yếu tố thể hiện đặc trưng khu biệt của văn học đã giúp cho nhà ngữ học Thuỵ Sĩ Ferdinand de Saussure đưa ra những lập luận rất xác đáng, giúp cho việc nghiên cứu văn bản trở nên tin cậy và khách quan hơn Đồng thời, tư tưởng của ông trở thành hạt mầm cho các công trình ngôn ngữ học của thế kỷ XX, không chỉ riêng diễn ngôn nữ quyền mà hầu hết các loại hình diễn ngôn
Tác phẩm Cours de linguistique génerale (Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương)
để đời của de Saussure - người đại diện cho việc nghiên cứu diễn ngôn theo ngôn ngữ học, xuất bản vào 1916, dựa trên các bài giảng của ông tại Đại học Genève Saussure
đã phát hiện sự hệ thống của ngôn ngữ và việc quy định lẫn nhau của chúng trong một
hệ thống Chính những cặp đối lập lưỡng phân trong việc nghiên cứu ngôn ngữ mà ông đưa ra đã tạo một bước ngoặt trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề này Ông đã chỉ rõ hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu ngôn ngữ, hơn nữa, làm nền cho những nghiên cứu khoa học khác Riêng với khái niệm diễn ngôn nữ quyền, nhờ Saussure, các nhà nghiên cứu, phê bình tác phẩm, khi tiến hành mổ xẻ phân tích để chỉ ra các đặc điểm nhân vật nữ, họ biết phân tích cấu trúc diễn ngôn trong mối quan hệ với ngữ cảnh phát ngôn, nhân vật phát ngôn,… Sau này, vấn đề trên còn được các nhà nghiên cứu như
Trang 9Roland Barthes, Todorov,… phát triển Tuy nhiên, việc "đóng khung" chỉ nghiên cứu
nội tại ngôn ngữ học, làm cho hướng nghiên cứu ngôn ngữ dường như áp đặt: "Chúng
tôi cho rằng việc nghiên cứu các hiện tượng ngoại vi của ngôn ngữ có thể đạt được những thành quả tốt đẹp, nhưng không thể cho rằng không có nó thì không thể hiểu được cơ chế nội tại của ngôn ngữ" [14, tr.50] Việc loại bỏ hẳn những cái thuộc phạm
trù lời nói ra khỏi phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ khiến sự nhìn nhận về diễn ngôn, nhất
là diễn ngôn nữ quyền thiếu đi sự toàn diện
Tiếp theo, một tên tuổi nữa, ảnh hưởng đến việc nghiên cứu diễn ngôn nữ quyền sau này là M Bakhtin - người đại diện cho nghiên cứu diễn ngôn theo phong
cách học “Tư tưởng về diễn ngôn của ông có vai trò như một bản lề, hay một cầu nối
bắc từ quan niệm về diễn ngôn của ngôn ngữ học cấu trúc sang quan niệm diễn ngôn của các trường phái lí luận hậu hiện đại” [63] Ông có đưa ra những ý kiến phản bác
quan điểm ngôn ngữ được triển khai trên cơ sở tư tưởng của Saussure Tuy nhiên, tư tưởng của ông vẫn có nét giống với những quan điểm lý thuyết quan trọng nhất của
các trào lưu văn hóa - văn học hậu hiện đại Đặc biệt, tiểu luận Vấn đề các thể loại lời
nói viết vào quãng những năm 1952 - 1953 là một công trình nghiên cứu thể hiện quan
điểm của Bakhtin một cách tập trung nhất về diễn ngôn Nó giúp người đọc sáng tỏ rất nhiều những công trình nghiên cứu trước đó, cũng như ngọn nguồn sản sinh ra các mô hình lý thuyết độc đáo của ông Bakhtin nhấn mạnh đến đối thoại và xem đó là bản chất của diễn ngôn Ngoài ra, ông còn chú trọng hướng đến phân tích những phát ngôn
cụ thể Thường thì các phát ngôn có sự liên kết với nhau trong một tổ chức mà ông gọi
là lời nói Theo ông, lời nói là cái có trước chi phối tổ chức lời nói của ta, thấm vào tư duy và bật ra vô thức khi giao tiếp Điều này có tác dụng phân tích diễn biến trạng thái tâm lí và dòng suy nghĩ đầy phức tạp của giới nữ Một luận điểm khác của Bakhtin còn
đề cập đến tính chất lưu trữ dữ liệu đời sống và tính lịch sử trong thể loại lời nói Qua lời nói, người ta có thể thấy sự đa dạng, muôn hình muôn vẻ của lịch sử Bởi thế, sẽ có
những phát ngôn chi phối, ảnh hưởng quyền lực, “những tư tưởng chủ đạo của các
bậc chúa tể trí tuệ ở một thời đại nào đó, những khẩu hiệu, những nhiệm vụ cơ bản nào đó được thể hiện bằng ngôn từ” [63] Vận dụng điều này, ta có thể lí giải hiện
tượng văn học nữ quyền ở phương Tây và các nước phương Đông giai đoạn nửa cuối
Trang 10thế kỷ XX đến nay Đồng thời, nó cũng phản ánh sự chi phối quyền lực các phát ngôn
nữ quyền và trái với nó là nam quyền để có sự đánh giá khách quan hơn nữa
Hướng tiếp cận diễn ngôn theo xã hội học, đứng đầu là M Foucault Trong những năm 60 thế kỷ XX, ông triển khai các luận điểm về điều chỉnh các hoạt động tạo lập – luân chuyển của diễn ngôn Từ những năm 70 trở đi, ông lại quan tâm đến
mối quan hệ giữa diễn ngôn – tri thức và quyền lực Năm 1970, ông cho ra đời Trật tự
diễn ngôn (L'Ordre du discours) Các tác phẩm khác của ông có ảnh hưởng sâu đậm
đến nghiên cứu văn học, cả trên phương diện những đề tài cụ thể (tính dục, cái tôi, vấn
đề nữ quyền ) và trên phương diện lí thuyết như vấn đề tác giả, vấn đề lịch sử văn học, vai trò của phê bình văn học, Tất cả những ảnh hưởng nhiều mặt, đa dạng này của Foucault với nghiên cứu văn học, về cơ bản, đều có thể được cắt nghĩa từ việc nhìn nhận văn học như một diễn ngôn Foucault đã hướng tới sự đa dạng hóa nội hàm
của thuật ngữ “diễn ngôn” ngay trong định nghĩa của chính mình: “Thay vì giảm dần
các nét nghĩa đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm
ý nghĩa của nó: lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định được cá thể hoá, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn (regulated practice) nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [20, tr.90] Ông đã đưa ra ba định nghĩa về diễn ngôn và chúng vô cùng giá trị
Thứ nhất, đây là định nghĩa rộng nhất, là diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung Thứ hai, diễn ngôn được hiểu như là một hệ thống các nhận định được cá thể hóa Và định nghĩa này thường được Foucault sử dụng để nhận dạng các diễn ngôn cụ thể, thường là một nhóm những nhận định tổ chức theo một cách thức nào đó và có một hiệu lực chung Chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn y học, diễn ngôn phân tâm học… Thứ ba, diễn ngôn được coi là hoạt động được kiểm soát nhằm tạo ra các tập hợp đánh giá, chính định nghĩa này đã ảnh hưởng lớn đối với nhiều nhà lí luận Tuy ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập nhưng trong nghiên cứu, các định nghĩa này luôn được sử dụng phối hợp với nhau tùy theo hướng triển khai và mục đích Việc nghiên cứu diễn ngôn nữ quyền, một cách tự nhiên gắn liền với định nghĩa thứ hai Nhưng trong quá trình phân tích cũng cần chú ý khả năng tạo nghĩa và hiệu lực của nó đến thế
Trang 11giới khách quan (theo định nghĩa thứ nhất) Đồng thời định nghĩa thứ ba cũng được khai thác Chính nhờ những quan niệm của Foucault mà diễn ngôn nữ quyền dần dần củng cố “địa vị” Nhất là khi chủ nghĩa nữ quyền từ sau hậu chiến thứ II từng bước khẳng định quyền lực chi phối của mình
Năm 1989, Guy Cook trong Discours (published by Oxford University Press)
cũng có đưa ra những nhận xét chung, tuy không nói thẳng đến diễn ngôn nữ quyền
nhưng cũng có ý bao gồm đến khái niệm này Ông viết: “In addition, there are many
other disciplines- philosophy, psychology and psychiatr, sociology and anthropology, Artificial Intelligence, media studies, literary studies- which often examine their object
of study- the mind, society, other cultures, computers, the media, works of literature- through languge, and are this carying out their own discourse anylysis, very often some of the best” [12] (Ngoài ra, còn có nhiều ngành khoa học khác như triết học, tâm
lí học, tâm thần học, xã hội học, nhân loại học, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu truyền thông đại chúng, nghiên cứu văn học - là những ngành thường xem xét đối tượng nghiên cứu của chúng như tâm trí, bối cảnh xã hội, các nền văn hoá, các loại máy tính,
sự truyền thông đại chúng, các sáng tác văn học, thông qua ngôn ngữ và do vậy các ngành trên cũng thực hiện sự phân tích diễn ngôn của riêng chúng, mà thường một số trong đó lại thuộc loại xuất sắc) Khi nghiên cứu về diễn ngôn nữ quyền, người nghiên cứu cần xem xét đặt nó vào bối cảnh xã hội, văn hoá,… thông qua ngôn ngữ
Đến 1993, Raman Selden cho ra đời A Reader's Guide to Contemporary
Literary Theory, có một chương trong sách viết về chủ nghĩa nữ quyền Ở đó, ông đưa
ra năm tiêu điểm chính “dính líu” trong hầu hết những thảo luận về sự khác biệt giới tính gồm sinh học, kinh nghiệm, vô thức, những điều kiện kinh tế - xã hội và diễn ngôn Ông cũng khẳng định vấn đề diễn ngôn nhận được nhiều sự chú ý bởi các nhà
nữ quyền Theo ông họ cho rằng phụ nữ bị đàn áp một cách nền tảng bởi một ngôn ngữ bị nam giới thống trị Đồng thời, bài viết cũng nhắc đến lập luận của Foucault và quan điểm ngược lại của nhà ngôn ngữ xã hội học Robin Lakoff
Chính những quan niệm, tư tưởng về diễn ngôn đã được đề cập đến ở trên cũng tác động đến phê bình văn học nữ quyền mà giai đoạn có nhiều bài nghiên cứu nhất là
từ năm 1990 trở về sau Nổi bật là quyển Lý thuyết văn học nữ quyền của Mary
Trang 12Eagleton đã khảo sát mối quan hệ giữa phụ nữ và diễn ngôn, giữa giới tính và thể loại, đặt ra vấn đề gây tranh luận về sự khác biệt trong đọc nữ và viết nữ
Năm 2004 Lý thuyết và phê bình nữ quyền: từ phê bình xã hội đến phân tích
diễn ngôn của Ellen Messer - Davidow đã đưa ra những quan niệm của mình và tiến
trình phê bình cùng lý thuyết văn học nữ quyền đã làm thành một bộ phận của hệ thống tri thức được sản sinh trong lĩnh vực nghiên cứu nữ quyền
Riêng ở Việt Nam, giai đoạn mở cửa giao lưu với nước ngoài về mọi mặt đã tạo điều kiện thuận lợi cho lí thuyết này du nhập và phát triển Lúc đầu, do tính mục đích của từng công trình mà vấn đề diễn ngôn còn tản mạn, hầu hết chỉ nói nhiều đến khái
niệm diễn ngôn như công trình Lí luận văn học của Phương Lựu chủ biên, Chủ nghĩa
cấu trúc trong văn học của Trịnh Bá Đĩnh, Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn của
Nguyễn Thị Ngọc Minh, hai bài viết Khái niệm diễn ngôn, Khái niệm diễn ngôn trong
nghiên cứu văn học hôm nay của Trần Đình Sử, Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ của Trần Thiện Khanh, Dẫn nhập lí thuyết diễn ngôn của M.Foucault và nghiên cứu văn học của TS Trần Văn Toàn,… Nhưng nhìn chung,
chưa có công trình nào chuyên sâu về diễn ngôn nữ quyền, nếu có nói đến thì chỉ là thoáng qua
2.2 Nghiên cứu về văn xuôi Sương Nguyệt Minh
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu văn chương Sương Nguyệt Minh khá “thưa thớt” Tuy các sáng tác của ông vào loại “khá” về số lượng tác phẩm và đạt giá trị cao
về nội dung lẫn nghệ thuật trong giai đoạn văn học đương đại Việt Nam Năm 2010, tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, học viên Trần Thị Phương Loan đã
bảo vệ thành công luận văn Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Sương Nguyệt Minh, đề
tài đã triển khai, phân tích, đánh giá về thế giới nhân vật và một số phương diện nghệ thuật được thể hiện qua các truyện ngắn của nhà văn
Cũng trong năm 2010, sự ra đời truyện ngắn Dị hương đã làm tên tuổi của
Sương Nguyệt Minh nâng lên tầm cao mới, nhất là sau khi ông nhận giải thưởng danh
giá của Hội Nhà văn Bài viết của nhà báo Minh Minh trong tờ Dân trí với tiêu đề Nhà
văn Sương Nguyệt Minh: "Sex" với "Dị Hương" đã đưa ra những bình luận đánh giá
tích cực về nội dung và nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm của ông Hàng loạt các bài
Trang 13viết khác về truyện ngắn này của ông như Sương Nguyệt Minh: mới với “Dị hương”
của Khuyết Gia trong báo Văn hoá - nghệ thuật số 242-2011 cũng đưa ra những bình luận về cái hay của tác phẩm Đến tháng 3 năm 2011, Nguyễn Trọng Bình qua bài viết
Góp thêm một cái nhìn về truyện ngắn “Dị hương” của Sương Nguyệt Minh cũng đưa
ra một cách tiếp cận mới về truyện ngắn này Người viết đề cập đến sự cảnh tỉnh xã hội thông qua bi kịch của những “con người trần tục” bị “thần thánh hóa” là Nguyễn Ánh và hoàng hậu Ngọc Bình trong tác phẩm Đồng thời, Nguyễn Trọng Bình còn nhận xét về bút pháp “huyền ảo” nhưng không thật “chắc tay” của Sương Nguyệt Minh Tuy có hai luồng ý kiến đánh giá về truyện ngắn này, nhưng xét cho cùng,
truyện ngắn Dị hương của ông đã có bước chuyển biến mới và hiếm có nhà văn đương
đại nào lại được các nhà báo, người nghiên cứu văn học lúc bấy giờ tập trung bình luận như Sương Nguyệt Minh
Năm 2012, tại Đại học Sư phạm Thái Nguyên, học viên Trần Thị Hồng Gấm
cũng có đề tài Sự vận động trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh Luận văn đã cung
cấp cái nhìn khách quan về sự vận động trong đề tài, hệ thống nhân vật và bút pháp nghệ thuật
Đến năm 2014, Sương Nguyệt Minh cho ra đời tiểu thuyết Miền hoang Tác
phẩm được viết bằng trải nghiệm thực tế của ông khi làm lính ở chiến trường K Cuốn sách cũng nhận được nhiều ý kiến đánh giá Chẳng hạn bài viết vào ngày 07/12/2014
của Việt Quỳnh trong trang Thể thao và văn hoá với tiêu đề Nhà văn Sương Nguyệt
Minh: Tiểu thuyết từ ám ảnh của “người lính lạc rừng” đã giúp đọc giả có cái nhìn
khách quan hơn về tác phẩm Ngày 23/07/2015, Lã Nguyên đã viết bài Tôi đọc miền
hoang của Sương Nguyệt Minh, đưa ra những lập luận xác đáng về giá trị tác phẩm
mang lại, đóng góp của tiểu thuyết ấy cho nền văn học Việt Nam đương đại Gần đây
nhất, ngày 28/09/2015 trang giaitri.vnexpress đưa tin về tác phẩm Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh đoạt giải sách hay 2015 Bài viết có cập nhật hình ảnh của tác giả, tác phẩm cùng dòng bình luận ngắn về giá trị của nó
Trang 142.3 Nghiên cứu về diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh
Trên Diễn đàn văn nghệ ngày 07/03/2012, bài viết Chiến tranh mang gương
mặt phụ nữ trong văn xuôi hậu chiến (Thái Phan Vàng Anh) có đề cập đến hình tượng
phụ nữ của văn xuôi hậu chiến, trong đó có nhắc đến tác giả Sương Nguyệt Minh
Trịnh Minh Hiếu, với bài viết Phụ nữ làng quê hiện đại trong truyện Sương Nguyệt
Minh đăng ngày 25/09/2013, đã bình luận về sự am hiểu của nhà văn này về người phụ
nữ, nhất là việc song kết giữa tính hiện đại và truyền thống ở hình tượng phụ nữ trong các sáng tác của ông
Trong bài phỏng vấn Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Muốn tự do tuyệt đối, đừng
cầm tiền tài trợ! của Hồng Thanh Quang, anh có câu hỏi dành cho Sương Nguyệt
Minh: “Anh nghĩ thế nào về cái gọi là thân phận đàn bà trên bàn cờ của lịch sử? Họ
đáng thương hay đáng phục? Anh đã gửi gắm những thông điệp gì qua nhân vật mỹ
nữ của anh trong "Dị hương"? Sương Nguyệt Minh đã trả lời: “Thân phận đàn bà trên bàn cờ lịch sử vẫn chỉ là món hàng của những người đàn ông quyền lực đánh đổi lấy
sự bình yên của cá nhân, của bờ cõi, hoặc đổi lấy đất đai ; vì trong xã hội phong kiến thì mọi ngọn cỏ, hạt cát cũng là của vua Thực ra, các mỹ nhân ấy đáng thương hơn đáng phục Các nhà văn cứ thường bồi đắp thêm các phẩm chất hi sinh của họ trong hoàn cảnh ấy để tôn vinh, để từ câu chuyện cá nhân nâng lên “tầm thời đại” thành ra họ đáng phục Trong hoàn cảnh ấy, họ không có sự lựa chọn, ông ạ Còn mỹ nữ trong “Dị hương” là biểu tượng của cái đẹp Nguyễn Ánh là biểu tượng của quyền lực Tôi muốn nói đến mối quan hệ cái đẹp và quyền lực Quyền lực có thể nâng niu cái đẹp nhưng cũng có thể nghiền nát cái đẹp theo cách riêng của nó Tôi cũng muốn nói đến cái đẹp và chiến tranh; cái đẹp mong manh, dễ vỡ, mà lại bị chiến tranh tàn sát.”
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và rõ ràng về nữ quyền trong sáng tác của ông Luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khách quan, toàn diện về diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi của nhà văn này
Trang 153 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Qua việc khảo sát các tác phẩm văn xuôi của Sương Nguyệt Minh, người viết tập trung khai thác, phân tích diễn ngôn nữ quyền được thể hiện trên hai phương diện chính là chủ thể sáng tác và trần thuật Từ đó, người viết đánh giá về phong cách khác biệt và đóng góp của tác giả trong nền văn học nữ quyền Việt Nam đương đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh, phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm 32 truyện ngắn của tác giả, tập tản văn Đàn ông
chọn khe ngực sâu (2013) và tiểu thuyết Miền hoang (2014) Nhưng người viết chỉ tập
trung phân tích các truyện ngắn và tiểu thuyết của ông
4 Phương pháp nghiên cứu
4.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Sử dụng phương pháp này, người viết với mong muốn mã hoá được phương diện trần thuật, cấu trúc các tác phẩm của nhà văn Sương Nguyệt Minh, từ đó giúp vấn đề sáng tỏ hơn và cách nhìn nhận nó cũng được cụ thể
4.4 Phương pháp đối chiếu, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu, phân tích vấn đề, ở một số mục, người viết sẽ tiến hành so sánh về một vài khía cạnh được thể hiện khác nhau giữa nhà văn Sương Nguyệt Minh với một số nhà văn nữ khác như Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Lý Lan, Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc Tư,
Trang 164.5 Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, người viết còn sử dụng một số thao tác
khác như tiến hành khảo sát, thống kê một số khía cạnh trong các tác phẩm của nhà văn Sương Nguyệt Minh
5 Đóng góp khoa học của luận văn
Về ý nghĩa khoa học, đề tài sẽ giúp vấn đề diễn ngôn nữ quyền được hiểu sâu
sắc và toàn diện hơn Đồng thời, thông qua đó, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh cũng được bao quát và đánh giá khách quan Từ đấy, đề tài góp phần khẳng định vai trò của nhà văn này trong tiến trình văn học nữ quyền Việt Nam đương đại
Về ý nghĩa thực tiễn, ngoài việc hiểu một nhà văn có cuộc đời từng trải gắn bó
với đời lính và nhìn mọi sự khúc xạ qua lăng kính thấu hiểu, đa chiều, luận văn còn giúp nhận diện bộ mặt của văn học nữ quyền Việt Nam đương đại Bên cạnh đó, đề tài cũng là tài liệu tin cậy khi nghiên cứu tác giả Sương Nguyệt Minh sau này hoặc những vấn đề về diễn ngôn nữ quyền hay văn học nữ quyền Việt Nam
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung của luận văn được triển khai theo ba chương Trong đó, chương 1 gồm 33 trang
đi vào tìm hiểu khái quát về từ chủ nghĩa nữ quyền và nữ quyền luận đến diễn ngôn nữ quyền, chủ thể sáng tạo với diễn ngôn nữ quyền, văn học nữ quyền Việt Nam đương đại và cuộc đời, quan niệm, nguyên cớ se kết nhà văn Sương Nguyệt Minh đến với đề tài này
Chương hai được triển khai thành ba mục lớn gồm 54 trang đi sâu tìm hiểu diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh nhìn từ chủ thể nam qua việc khẳng định vẻ đẹp thân thể - sức mạnh riêng, đầy bí ẩn của người phụ nữ, xây dựng thế chủ động nữ giới và nhận thức lại những quan niệm định kiến nam quyền về nữ giới Từ đó, người viết cũng so sánh sự giống và khác về diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh với các nhà văn nữ
Cuối cùng là chương 3 gồm 38 trang đi sâu phân tích làm rõ diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi Sương Nguyệt Minh nhìn từ góc độ trần thuật ở các khía cạnh: cốt truyện, điểm nhìn trần thuật, ngôn từ và giọng điệu trần thuật
Trang 17Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG
1.1 Từ chủ nghĩa nữ quyền và nữ quyền luận đến diễn ngôn nữ quyền
1.1.1 Chủ nghĩa nữ quyền và các chặng đường lịch sử
Sự ra đời của chủ nghĩa nữ quyền vào cuối thế kỉ XVIII là cột mốc quan trọng kéo theo sự thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về vai trò và quyền lợi của phụ nữ trong các lĩnh vực, nhất là chuyên ngành xã hội học Xung quanh khái niệm “chủ nghĩa nữ quyền” (Feminism) cũng có nhiều ý kiến khác nhau Theo từ điển Oxford Dictionaries,
đó là: “Niềm tin và mục tiêu là phụ nữ nên có các quyền và cơ hội như nam giới; cuộc
đấu tranh để đạt được mục tiêu này” (Oxford University Press, 2016) Với Judith
Lorber: “Chủ nghĩa nữ quyền là một phong trào xã hội mà mục đích căn bản là sự
bình đẳng giữa đàn bà và đàn ông” [44] Còn trong cuốn Lí thuyết văn học Hậu hiện đại, nhà lí luận Phương Lựu đã khẳng định đấy là “sản phẩm của phong trào cách mạng tư sản cận đại” với mục đích: “đòi quyền nam nữ bình đẳng” [52, tr.185] Dù
các quan điểm đưa ra không được đồng nhất với nhau nhưng vẫn có điểm chung giúp
ta có thể hiểu chủ nghĩa nữ quyền là tập hợp các phong trào và quan điểm, tư tưởng, ý
thức hệ nhằm mục tiêu xây dựng, bảo vệ các quyền lợi cho người phụ nữ Trong đó, những hoạt động tổ chức cũng như tuyên truyền, vận động mọi người tin vào sự bình đẳng giữa đàn ông với phụ nữ và các giải pháp rất được chú ý và quan tâm
“Chủ nghĩa nữ quyền không xuất phát từ một hệ thống lý thuyết trừu tượng mà
từ phong trào xã hội hình thành nên một chủ thuyết về giải phóng phụ nữ” [109, tr.8]
Thật ra, vấn đề nữ quyền đã bắt đầu manh nha từ thế kỷ XV trong công trình khoa học của Christine de Pisan (1364-1430) Bà đã đưa ra những ý kiến của dân chúng về việc phụ nữ không được bình đẳng với nam giới và bị xem là một dạng người khác biệt vì không có vị trí trong xã hội Từ thế kỷ XVI đến XVII, vấn đề này vẫn xuất hiện rời rạc
ở một số công trình khác nhưng chưa dấy lên làn sóng mạnh mẽ Chủ nghĩa nữ quyền thật sự được đánh dấu với sự kiện từ ngay sau Đại cách mạng tư sản Pháp bùng nổ, tháng 10 năm 1789, một nhóm khá đông, đa phần là phụ nữ Paris xông thẳng vào trụ
Trang 18sở Quốc Dân đại hội, đòi quyền lợi cho giới mình và yêu cầu phải có sự bình đẳng giữa nam và nữ Chủ nghĩa trên ra đời bởi trong xã hội có những bước chuyển mình
quan trọng, chủ yếu từ hai nguyên nhân Một là do phụ nữ bị bóc lột nặng nề về sức
lao động, cả thể xác lẫn tinh thần, họ nhận thức được có sự bất bình đẳng giới nên họ cùng đứng lên đòi quyền lợi cho mình Nhất là sau Thế chiến thứ I, Hoa Kì và một số nước ở Châu Âu đã chấp nhận cho phụ nữ có quyền bỏ phiếu để đáp trả những nỗ lực của họ trong chiến tranh Chính vì điều này đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần phản
kháng và “nổi dậy” của nữ giới Hai là, sự ra đời của một số nhà cấp tiến với các
thuyết lập luận chứng minh phụ nữ không phải chỉ là “cái tử cung” như nam giới mặc định mà họ có những vai trò riêng trong các lĩnh vực xã hội, cần được tôn trọng và nên
có cái nhìn đúng đắn về họ Bên cạnh đó, những nhà cấp tiến này còn đưa ra các lí lẽ đòi sự công bằng cho nữ giới trong mối quan hệ với nam giới, đồng thời họ chứng minh nếu để nữ giới phát huy khả năng mà họ có sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển vì hơn một nửa dân số thế giới này là nữ
Chủ nghĩa nữ quyền được khởi đầu ở Pháp với cái tên của nhà triết gia Charles Fourier, ông là người chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội không tưởng và cũng được coi là người đã đặt ra từ "chủ nghĩa nữ quyền" vào năm 1837 Nhưng nó lại được phát triển và đẩy mạnh ở Mĩ và các nước Tây Âu, từ đó lan rộng sang các nước khác trên thế giới Mục tiêu của chủ nghĩa nữ quyền có sự thay đổi theo từng giai đoạn, văn hóa và quốc gia, có những điều ngày nay đối với chúng ta tưởng chừng rất bình thường nhưng với phụ nữ trong xã hội trước đây, họ phải trải qua các cuộc “chạm trán”, “đấu tranh” thì mới đạt được
Dựa theo thời gian, lịch sử chủ nghĩa nữ quyền có thể chia làm ba giai đoạn,
còn gọi là ba đợt sóng Làn sóng thứ nhất (The first wave of feminism) bắt đầu từ cách
mạng Pháp 1789 đến 1960 Giai đoạn này diễn ra mạnh mẽ ở Anh và Mĩ, đánh dấu
bằng cuốn sách Một biện minh cho quyền phụ nữ (A vindication of the right of
women) của Mary Wollstonecraft (1792), bà là một nhà văn, nhà triết học và nhà bảo
vệ quyền phụ nữ người Anh thế kỷ XVIII Quyển sách đưa ra những lập luận của bà về phụ nữ cần được đối xử bình đẳng với đàn ông và sự mường tượng của bà về trật tự xã hội dựa trên nguyên lí bình đẳng đó Hơn nữa, bà còn khẳng định, phụ nữ không phải
Trang 19tự nhiên là thấp kém so với đàn ông mà chỉ do họ thiếu sự giáo dục vì phụ nữ thời bấy giờ không được phép đi học một cách tự do Lần lượt sau đó là các cuốn sách đòi
quyền cho nữ giới xuất bản mở rộng ở cả Anh và Mĩ: Luật về tài sản của phụ nữ kết
hôn (Women’s Property Act), cuốn Sự khuất phục của phụ nữ (The Subjection of
Women) vào năm 1869 của cặp vợ chồng John Stuart Mill cùng Harrriet Taylor, Thế
giới do đàn ông tạo ra (The Man - Made World) ra đời năm 1911 bởi Charlotte
Perkins Gilman,… Năm 1949, việc xuất bản ở Pháp cuốn Giới tính thứ hai (Le
deuxième sexe/ The second sex) của Simone de Beauvoir đánh dấu bước ngoặt lớn trong chủ nghĩa nữ quyền Bà đã đưa ra những cơ sở về vấn đề “nữ tính” và nguyên nhân của bất bình đẳng giới, từ đấy đề ra những giải pháp thiết thực Beauvoir còn chỉ
ra được điều thiếu sót trong các công trình nghiên cứu trước đó Tuy nhiên, do dựa trên lập trường hiện sinh chủ nghĩa nên hạn chế của bà đó là nhấn mạnh quá nhiều vào yếu tố tâm lý chủ quan dẫn đến một số kết quả sai lệch
Các phong trào, các tổ chức vì phụ nữ được thành lập Điển hình là “Hội liên
hiệp xã hội và chính trị của phụ nữ” (Women’s Social anh Political Union - WSPU) ở
Anh, thành lập năm 1930 do bà Emmeline cùng con gái bà khởi xướng, dẫn dắt Còn ở
Mỹ, nổi bật với tổ chức “Hội đồng phụ nữ quốc tế” (International Council of Women),
thành lập năm 1888, đây là một tổ chức nữ quyền lớn và lâu đời nhất thế giới Ngoài
ra, đất nước này còn có những tổ chức sau phát triển trở thành Đảng với các luận thuyết sắc bén, hoạt động rõ ràng gồm Đảng Phụ nữ (Women Party) năm 1914 mà gốc
của nó là “Hội Liên hiệp Quốc hội” (Congressional Union) và Đảng Tự do của phụ nữ
(Women’s Peace Party) năm 1915 Song song với các quyển sách và hoạt động tổ
chức trên là các thuyết nữ quyền phát triển không ngừng, đặc biệt là Thuyết nữ quyền
xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism) và chủ nghĩa nữ quyền phúc lợi (Welfare
feminism)
Làn sóng này đã đạt được những thành quả vô cùng ý nghĩa mà ấn tượng nhất
đó là đòi được quyền bầu cử cho phụ nữ Bên cạnh đó, quyền bình đẳng về pháp lí cho giới này cũng được nhìn nhận lại rõ ràng như: trả lương bình đẳng, nhất là lương hưu cho phụ nữ góa chồng, những người mẹ đơn thân được nhận lương thực và có cơ hội tham gia dịch vụ dân sự bình đẳng, phụ nữ có quyền được bảo vệ, quyền chăm con, sở
Trang 20hữu tài sản và chủ động li hôn, các bộ luật về chống cưỡng hiếp trẻ em cũng được chú trọng, bảo vệ các trẻ em gái khỏi chế độ buôn nô lệ da trắng bằng cách nâng cao tuổi được cho phép làm nghề này,… Riêng vấn đề phụ nữ tránh thai để kiểm soát mức sinh lại có nhiều luồng ý kiến giữa các nhà nữ quyền Một số thì đồng ý, số khác - nhất là phụ nữ thuộc giai cấp công nhân thì chống lại điều này Một số ít lại xem hôn nhân chỉ
là điều phù phiếm, chẳng đáng thèm muốn, họ không tin hôn nhân khác giới là bình thường, là niềm vui Nhưng dù có thế nào thì làn sóng thứ nhất này với kết quả phụ nữ được quyền bầu cử đã làm cho phong trào nữ quyền không còn mang tính chất của
phong trào quần chúng như trước mà nó mang tính chất của “phong trào cải cách nghị
trường” [104, 35]
Làn sóng nữ quyền thứ hai (The second wave of feminism) bắt đầu từ năm
1960 đến 1980 của thế kỉ XX Dựa trên nền tảng các thành quả đã đạt được trước đó, các nhà nữ quyền của Mĩ và Tây Âu (nhất là Anh) phát triển, mở rộng phạm vi nghiên cứu, phân tích sâu sắc các khía cạnh bất bình đẳng giữa nam và nữ Từ đó, phong trào lan tỏa mạnh sang các nước ở Châu Á và Châu Phi Mặc dù, phong trào đấu tranh và những lí luận về nữ quyền cũng đã tồn tại trong lịch sử các quốc gia khu vực này nhưng những nghiên cứu về giới được xem là một ngành khoa học mới và được tranh luận sâu, ý nghĩa hơn trong giới khoa học xã hội chỉ bắt đầu từ những thập niên 60, 70 của thế kỉ XX Ngoài ra, vấn đề giới không chỉ thu hút các nhà nghiên cứu thuộc hầu hết các ngành khoa học xã hội như Xã hội học, Nhân chủng học xã hội, Dân tộc học,… mà còn hấp dẫn các nhà nghiên cứu tự nhiên như Sinh vật học, Nhân chủng học giải phẫu,… Giai đoạn này, vấn đề giới và sự phát triển của các thuyết nữ quyền có sự
khác nhau ở các nước nhưng nhìn chung đều có sự “đan xen chặt chẽ với lịch sử của
các phong trào dân tộc, các phong trào đòi sự bình đẳng và chính quyền tự do Các cuộc vận động nữ quyền được hoạt động theo thứ tự ưu tiên của dân tộc và chính trị dân tộc” [109, tr.24] Cuốn sách Bí ẩn nữ tính (Feminine mystique) của Betty Friedan
ra đời năm 1963 đã đánh dấu cột mốc quan trọng Đây là một công trình nghiên cứu về tầng lớp nữ trung lưu ở Mỹ vào vào thập niên 1950 - 1960 Sách của Friedan mang đến cho các ngành nghiên cứu về giới lúc bấy giờ những giá trị về nội dung và phương pháp, đặc biệt là các phương pháp khoa học rất phong phú như: trò chuyện, tra cứu thư
Trang 21tịch, thu thập ý kiến những chuyên gia của các ngành nghề khác nhau trong xã hội, phỏng vấn sâu,… Bà đặt ra những câu hỏi và trả lời xoáy sâu chúng khiến vấn đề đặt
ra rất thuyết phục Bà kết luận rằng chính bản thân nữ giới hãy lập nên cho mình một bản kế hoạch để thay đổi cuộc đời, hãy thay đổi bản thân trước đã rồi sau đó ý tưởng
thay đổi xã hội mới thực hiện được Bà viết: “Các nhà nữ quyền nhìn nhận rõ ràng
rằng giáo dục và quyền tham gia vào công việc tiến bộ hơn của xã hội là nhu cầu to lớn nhất của phụ nữ (…) Phụ nữ, cũng như nam giới, chỉ có thể tìm thấy bản sắc trong công việc dùng tới khả năng đầy đủ của mình Một phụ nữ không thể tìm thấy bản sắc của mình thông qua người khác – chồng, con cô ta Cô ta không thể tìm thấy
nó trong công việc nhà lặp đi lặp lại nhàm chán” [26, tr.466] Làn sóng này còn gắn
liền với phong trào New Left vì có sự nổi loạn của những phụ nữ tham gia phong trào chống lại các đấng mày râu Phong trào giải phóng phụ nữ giai đoạn này nhằm đấu tranh cho phụ nữ có lý thuyết và hoạt động chính trị được chia làm hai dòng chính Một là phong trào nữ quyền xã hội chủ nghĩa (mácxít), hai là phong trào nữ quyền triệt
để và cách mạng Các nhà lí luận nữ quyền đã đưa ra hai khung lí luận khác nhau về lí
luận nữ quyền và phát triển gồm “Phụ nữ trong phát triển” (Women in development - WID) và “Phụ nữ và phát triển” (Women and Development - WAD)
Về làn sóng thứ ba (The third wave of feminism), nó bắt đầu từ năm 1980 cho đến nay Đây là giai đoạn mới trong lịch sử nữ quyền và thể hiện tính toàn cầu hóa của
lí luận nữ quyền với những lí thuyết của các nhà nữ quyền thuộc giai cấp khác nhau, chủng tộc khác nhau và xuất phát từ nhiều nền văn hóa, chế độ khác nhau Không chỉ đào sâu vấn đề giới dựa trên nền tảng của làn sóng nữ quyền thứ hai, làn sóng trên còn tập trung làm rõ sự khác biệt giữa phụ nữ với phụ nữ vì theo quan điểm của các nhà lí luận nữ quyền, “không phải mọi sự khổ đau đều như nhau” Ngoài ra, họ còn xoáy mạnh vào các vấn đề như các chỉ báo về sự lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới; sự đa dạng hoàn cảnh phụ nữ do các yếu tố chủng tộc, dân tộc, văn hóa,…; nêu ra các tình trạng áp bức, bất bình đẳng trên cơ sở giới, chủng tộc, lứa tuổi, giai cấp,… Nghiên cứu của các nhà lí luận này xuất phát từ thực tiễn kinh nghiệm cuộc sống của họ Các lí thuyết thuộc làn sóng thứ ba rất đa dạng, nhưng phát triển mạnh nhất là lí luận nữ quyền phụ nữ da đen, lí luận nữ quyền các nước đang phát triển và lí luận nữ quyền
Trang 22phụ nữ đồng tính luyến ái Sau những năm 1980, cả các nhà lí luận nữ quyền cùng lí luận phát triển hoài nghi với hai khung quan điểm WID và WAD vì theo họ chúng không quan tâm đến những nguyên do đã sinh ra và duy trì sự bất bình đẳng giới Bởi
thế, họ tập trung chuyển sang quan điểm “Giới và phát triển” (Gender and
Development - GAD)
Như vậy, có thể nói, chủ nghĩa nữ quyền với một chặng đường đầy biến động
đã từng bước chứng tỏ vai trò lịch sử của mình Sự ra đời và phát triển của nó là một
hệ quả tất yếu trong xã hội và chính hoàn cảnh thực tiễn xã hội lại tác động ngược các
lí thuyết nữ quyền cũng như hoạt động, phong trào về giới khiến cho chúng từng bước hoàn thiện hơn Và dù thế nào, ta cũng không thể phủ nhận những giá trị về bình đẳng giới mà nó đấu tranh không ngừng để đạt được
1.1.2 Nữ quyền luận và các thuyết nữ quyền
Đề cập đến chủ nghĩa nữ quyền thì không thể nào bỏ qua một khái niệm nữa, đó
là “nữ quyền luận” (Feminist Reasoning) Hai khái niệm này có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhờ những lí thuyết nền tảng của nữ quyền luận mà các phong trào, hoạt động của chủ nghĩa nữ quyền được củng cố Chính từ thực tiễn xã hội của từng làn sóng nữ quyền mà nữ quyền luận cải biến nội dung của mình để phù hợp hơn “Nữ
quyền luận” được hiểu là hệ thống những quan điểm, các tư tưởng khoa học về các
nguyên nhân, tình trạng bất bình đẳng của nữ giới, từ đó đề ra các giải pháp, hướng khắc phục nhằm đạt được mục tiêu bình đẳng giới, công bằng giới trong các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị,…
Có thể nhận định rằng, trong lịch sử lí luận khoa học xã hội, không có một lí thuyết nào lại mang sự phát triển nhanh chóng và nổi bật trên từng bước hoàn thiện chính nó như lí thuyết nữ quyền Trước hết, về khái niệm, lí thuyết nữ quyền, theo
trang study.com trong bài What is Feminist Theory? - Definition & Overview, đây là
“một trong các lý thuyết xã hội học hiện đại, trong đó phân tích tình trạng của phụ nữ
và nam giới trong xã hội với mục đích sử dụng kiến thức đó để cuộc sống phụ nữ tốt hơn Lý thuyết nữ quyền cũng đặt câu hỏi về sự khác biệt giữa phụ nữ, bao gồm các chủng tộc, giai cấp, dân tộc, tình dục, quốc tịch, tuổi giao nhau với giới tính Lý thuyết
nữ quyền quan tâm nhất tới việc cho phụ nữ có một tiếng nói và làm nổi bật những
Trang 23cách khác nhau mà phụ nữ đã đóng góp cho xã hội” Trang xahoihoc.org lại định
nghĩa nó một cách rõ hơn: lí thuyết nữ quyền “là phần mở rộng của chủ nghĩa nữ
quyền vào giảng lý thuyết hay triết học Nó nhằm mục đích để hiểu bản chất của sự bất bình đẳng giới Nó xem xét vai trò của phụ nữ qua xã hội, kinh nghiệm, sở thích, công việc, và chính trị nữ quyền trong nhiều lĩnh vực, chẳng hạn như nhân học và xã hội học, truyền thông, phân tâm học, kinh tế gia đình, văn học, giáo dục, và triết học”
Trên thế giới, do có sự khác nhau về văn hóa, chủng tộc, tôn giáo,… nên có rất nhiều trường phái lí thuyết nữ quyền khác nhau như lí thuyết nữ quyền mác xít (Maxist Feminism), lí thuyết nữ quyền Tự do (Liberal Feminism), lí thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism), lí thuyết nữ quyền phân tâm học (Psychoanalytic Feminism), lí thuyết nữ quyền hậu hiện đại (Post - modern Feminism), lí thuyết nữ quyền da đen (Black Feminism),… Người viết xin làm rõ 8 loại thuyết nữ quyền có tầm ảnh hưởng mạnh trên toàn thế giới
Một là thuyết nữ quyền tự do (Liberal feminism) hình thành từ làn sóng nữ
quyền thứ nhất, được thể hiện trong cuốn Sự bênh vực quyền của phụ nữ viết bởi Mary Wollstonecraft và Sự bị trị của phụ nữ của John Stuart Mill Các nhà nữ quyền tự do
cho rằng, sự áp bức của phụ nữ bắt nguồn từ các ràng buộc về tập quán, phong tục và pháp lí Phụ nữ luôn bị xem là dạng người kém năng lực, trí tuệ, thể chất hơn nam giới nên họ bị gạt qua bên lề xã hội Quan điểm này ảnh hưởng của chủ nghĩa Khai sáng, theo họ, nữ và nam giới cần có quyền lợi công bằng như nhau Hơn nữa, họ cổ vũ cho
sự tự giải phóng bản thân của nữ với tư cách cá nhân qua việc bác bỏ vai trò giới tính truyền thống bản thân Về ưu điểm, thuyết này đã phần nào góp công trong việc hình thành tư tưởng quyền bình đẳng giới nữ và giúp chất lượng cuộc sống phái nữ cải thiện, nâng cao Nhưng bên cạnh đó, nó vẫn có những hạn chế khiến quan hệ giới không được biến đổi triệt để, bởi thuyết này quá chú trọng tự do cá nhân, coi nhẹ vấn
đề giới và chưa có sự hợp nhất giới nữ vì thực chất đây chỉ là phong trào đòi bình đẳng của phụ nữ da trắng tư sản
Hai là thuyết nữ quyền mácxít (Maxist Feminism), thuyết này nghĩa là hiểu và vận dụng quan điểm mácxít trong tác phẩm của các tác giả nữ quyền ở phương Tây
Họ chủ yếu dựa theo tư tưởng Ăng-ghen Các nhà nữ quyền thuộc thuyết này chỉ ra rõ
Trang 24nguyên nhân của sự áp bức phụ nữ là do chế độ tư hữu mà điển hình là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc Bởi thế, muốn giải phóng khỏi áp bức, phụ nữ phải tham gia cuộc cách mạng giai cấp lật đổ hai chế độ trên mà tiến tới chủ nghĩa xã hội, vì lúc này
tư liệu sản xuất sẽ thuộc về mọi người, phụ nữ cũng sẽ được bình đẳng với nam Ngoài
ra, họ còn khẳng định phụ nữ cần tham gia nền sản xuất, thoát khỏi cơ cấu gia đình vì gia đình là hạt nhân nuôi dưỡng hệ thống tư bản chủ nghĩa Thuyết nữ quyền mácxít đã giúp tất cả phụ nữ dù là tư sản hay vô sản hiểu rõ ràng sự áp bức phụ nữ là do cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội của chủ nghĩa tư bản và một khi xã hội còn tồn tại giai cấp thì không thể nào có sự bình đẳng giới Nhưng, vẫn có nhiều ý kiến không đồng ý với nhận định của họ, điển hình là hai nguồn phê phán của Jean Bethke Elshtain và Alison Jaggar Với Jean Bethke Elshtain, bà không chấp nhận việc xem gia đình như một nơi
áp bức vì theo bà đây chính là nơi phụ nữ tìm thấy được bình yên Còn Alison Jaggar lại phê phán thuyết này chỉ thiêng về vấn đề giai cấp, chế độ không phân tích rõ sự bất bình đẳng giới từ phía người nam Hay nói cách khác, nữ quyền mácxít chú tâm quá trong việc xem xét chủ nghĩa tư bản hơn chế độ nam trị Đặc biệt, lí thuyết mácxít còn
ít nhắc đến vấn đề tái sinh sản và tính dục của phụ nữ
Ba là thuyết nữ quyền phân tâm học (Psychoanalytic Feminism) bắt nguồn từ lí thuyết Freud và những khái niệm “giai đoạn tiền Êđip”, “mặc cảm Êđip” Theo các nhà nữ quyền phân tâm học, nguồn cội của sự áp bức phụ nữ nằm sâu trong tâm lí của chính phụ nữ vì sợ quyền lực bản thân mình mà “mặc cảm Êđip” mang lại Bản thân những cô bé tách mình ra khỏi mẹ - đối tượng tình yêu đầu đời rất chậm nên sự hòa nhập của cô vào nền văn hóa là không trọn vẹn Các cô bé chịu ảnh hưởng lớn của mẹ
và chịu chi phối bởi quyền lực thống trị nam Lí thuyết trên cũng cho rằng “mặc cảm Êđip” là một cái bẫy do nam giới sáng tạo ra, vì vậy phụ nữ cần tránh xa Cho nên họ cũng không chấp nhận những biến thể của “mặc cảm Êđip”, nhất là sự quy định các đặc điểm được coi là “nam tính” (sự tự lập, quyền uy, tính phổ biến) hay “nữ tính” (sự
lệ thuộc, tình yêu, tính cục bộ) Vì vậy, điểm mạnh của lí thuyết này là cung cấp thêm con đường giải phóng phụ nữ và chỉ rõ ra phương hướng không chỉ đấu tranh giành quyền mà cần loại bỏ những “dấu ấn” nam giới đã mặc định trong suy nghĩ của nữ Mặc dù vậy, do chỉ đứng trên khía cạnh tâm lí để giải quyết vấn đề giới nên thuyết vẫn
Trang 25chưa được toàn diện, tính khả quan không cao
Bốn là thuyết nữ quyền triệt để (Radical Feminism) ra đời trong làn sóng nữ quyền thứ hai, thuyết này xoay quanh các đề tài chính gồm: tái sản xuất (reproduction), giới (gender) và tính dục (sexuality) Thuyết khẳng định chính hệ thống nam trị đã bóc lột, áp bức nữ giới Muốn được giải phóng, phụ nữ phải diệt tận gốc chế độ nam trị và các thiết chế xã hội cùng văn hóa liên quan đến nó vì theo các nhà nữ quyền triệt để, nam giới thống trị phụ nữ cả về thể xác lẫn tính dục Ngoài ra, theo họ, sinh học phụ nữ, nhất là khả năng tái sinh sản và tâm lí cưu mang chăm sóc rất riêng biệt của giới là nguồn động lực cho sức mạnh giải phóng phụ nữ Nghĩa là, để giải phóng bản thân, phụ nữ phải tự quyết lúc nào cần các biện pháp kiểm soát sự sinh sản của mình (tránh thai, triệt sản, nạo thai) và phương pháp hỗ trợ sinh con (thụ tinh,
đẻ mướn), ngay cả quyết định nuôi hay không nuôi con cái Giữa những quan điểm trong thuyết này luôn có sự bất đồng và đấu tranh lẫn nhau Nhưng dù thế nào, thuyết
nữ quyền triệt để cũng có những đóng góp cụ thể Nó chỉ ra được nguyên nhân gốc rễ của sự áp bức phụ nữ là do chế độ nam trị và tính dục, bác bỏ quan niệm yếu tố sinh học khiến nữ giới lệ thuộc vào nam giới Đồng thời, thuyết đã chú tâm đến các cách thức mà nam giới kiểm soát phụ nữ (triệt sản, luật nạo thai,…) và dùng tính dục như một thứ thỏa mãn nhu cầu của mình, từ đó đề ra giải pháp cho sự bình đẳng giới Tuy được đánh giá cao, nhưng thuyết nữ quyền triệt để vẫn có điểm hạn chế Do tuyên bố phụ nữ mang tính siêu việt hơn nam giới về cả mặt sinh học lẫn phẩm chất, khẳng định
và chủ trương đẩy mạnh quan hệ đồng tính, kêu gọi nữ giới cắt mọi quan hệ với giới nam khiến thuyết có phần cực đoan, thái quá
Năm là thuyết nữ quyền hiện sinh (Existentialist Feminism) với tên tuổi ghi dấu
ấn cho thuyết là Simone de Beauvoir Theo bà, phụ nữ bị áp bức vì chị ta “là người khác” (otherness) không phải là nam giới Nam giới là người tự do, có cái tôi (Self) và quyết định mọi việc, ngay cả ý niệm về phụ nữ Và phụ nữ muốn trở thành cái Tôi cần biến mình thành những gì chị muốn, rời bỏ các định nghĩa, “nhãn hiệu” mà nam giới đặt ra Đóng góp của thuyết nữ quyền hiện sinh là cung cấp một hướng mới để giải phóng phụ nữ, đưa ra những lựa chọn và cách hiểu phụ nữ cho các nhà xã hội học, nên coi giới này là biểu hiện của một cách sinh tồn mang nữ tính Về hạn chế, thuyết
Trang 26không xuất phát từ kinh nghiệm sống của phụ nữ, xem xét cơ thể phụ nữ một cách tiêu cực (đánh giá là không ý nghĩa, bẩn thỉu, đáng xấu hổ,…) và lấy chuẩn mực nam giới
là mục tiêu đạt đến sự tự do của phụ nữ , điều này đi ngược với những nghiên cứu của phong trào nữ quyền
Sáu là thuyết nữ quyền xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism), đây là thuyết được tiến hành mang hiệu quả nhất vì kế thừa các lí thuyết nữ quyền trước đó và phát triển thành hai cách tiếp cận khác nhau Một là lí thuyết hệ thống kép (dual systems theory) đưa ra quan điểm chủ nghĩa tư bản và chế độ nam trị cùng “tham gia” áp bức phụ nữ Bởi thế, muốn hiểu rõ sự áp bức của chúng cần phân tích, xem xét chúng như
là mỗi hiện tượng riêng rồi mới khảo sát trong mối quan hệ biện chứng với nhau Hai
là lí thuyết các hệ thống thống nhất (unified system theories) với sự cố gắng làm rõ, chứng minh chủ nghĩa tư bản và chế độ nam trị cùng nhau thông qua sử dụng một hệ thống khái niệm Hơn nữa, chúng còn không tách khỏi nhau mà có mối liên quan rất mật thiết Về ưu điểm, thuyết đã có cái nhìn đầy đủ hơn khi cho rằng cả giới cùng giai cấp đều cùng là nguyên nhân áp bức phụ nữ Nhưng ngược lại, hạn chế của thuyết là không nên thống nhất cả hai vấn đề trên vào cùng một khái niệm vì phụ nữ có cách cảm nghiệm riêng theo giai cấp, sắc tộc
Bảy là thuyết nữ quyền hậu hiện đại (Post - medern Feminism) ra đời với quan điểm phản đối các nhà nữ quyền xã hội chủ nghĩa Theo thuyết này, không thể cũng không nên thống nhất khái niệm giai cấp và giới với nhau vì điều đó quá phi lí về mặt triết học, hơn nữa thuyết nữ quyền rất đa dạng không đơn nhất Điểm ưu trội của thuyết là hướng phụ nữ đến thế chủ động với ý niệm “đừng thay đổi thế giới nhưng hãy tự thay đổi chính mình” Bên cạnh đó, bản thân nó mang lại nhiều tranh cãi, nhất
là việc phá vỡ các “đại tự sự” đã lâu đời trong xã hôi
Tám là thuyết nữ quyền da đen (Black Feminism) ra đời ở Mỹ trong hoàn cảnh sống bị đối xử tệ bạc, tách biệt giữa người da trắng và da đen, nhất là phụ nữ Các nhà
nữ quyền theo thuyết này khẳng định không thể bỏ qua yếu tố tộc người và màu da khi nghiên cứu sự áp bức phụ nữ Sự áp bức phụ nữ da đen khác với phụ nữ da trắng, mà điểm khác cơ bản đó là với phụ nữ da đen, gia đình là nơi đoàn kết lại để chống chế độ phân biệt sắc tộc Cống hiến của thuyết là cung cấp một hướng mới, khi nghiên cứu
Trang 27bất bình đẳng giới không nên bỏ qua vai trò của sắc tộc Về hạn chế, thuyết này phạm
vi áp dụng hẹp, không phổ biến cho nữ giới các sắc tộc khác trên thế giới bị áp bức
Tóm lại, do biến chuyển xã hội mà các thuyết nữ quyền ra đời, mỗi một thuyết
nữ quyền được đề cập ở trên có những quan điểm, tư tưởng riêng Với mục đích đòi công bằng cho phụ nữ và giải phóng họ khỏi vòng kìm kẹp áp bức, các thuyết nữ quyền đã đóng góp những giá trị sâu sắc Chính các thuyết này là nền tảng, cơ sở cho các phong trào nữ quyền, tạo nên bộ mặt toàn vẹn cho chủ nghĩa nữ quyền Mỗi thuyết đều có những điểm mạnh và điểm yếu khác nhau nên khi áp dụng để nghiên cứu vấn
đề về nữ giới cần vận dụng hợp lí các thuyết với nhau, tránh đi theo một thuyết tách biệt vì sẽ gây ra hiện tượng cực đoan
1.1.3 Diễn ngôn nữ quyền - đặc điểm chung và hướng tiếp cận
1.1.3.1 Khái niệm diễn ngôn nữ quyền
Khái niệm diễn ngôn ra đời đã cung cấp những giá trị thiết thực trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn Tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà nội hàm của thuật ngữ này cũng có sự khác nhau Chẳng hạn, ý kiến của Crystal dẫn theo David Nunan:
“Diễn ngôn là một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu,
thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lí lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay chuyện kể” [75] Còn với Cook, dẫn theo David Nunan, trong quyển Discourse trang 156, ông coi diễn ngôn như là “các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích” Định nghĩa trên có sự khác biệt với
Widdowson, Brown cùng Yule, Nunan, vì họ cho rằng, diễn ngôn như là một quá trình giao tiếp, mà kết quả của quá trình phụ thuộc vào việc biến đổi của sự thể, những ý định mong muốn làm rõ Chính văn bản là sản phẩm của quá trình này Bởi thế, tiếp
thu cách định nghĩa của Widdowson, Nguyễn Hòa lại đưa ra một nội hàm khác: “Diễn
ngôn là một sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không
có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể” [36, tr.33]
Cũng có lúc, các nhà nghiên cứu đồng nhất diễn ngôn với văn bản, diễn ngôn với phát ngôn Trên thực tế, các khái niệm này là một thể riêng biệt nhưng giữa chúng có những điểm giao thoa nhau Với đề tài này, người viết xin hiểu diễn ngôn dựa trên các quan điểm của M.Foucault Ở những thời điểm khác nhau, Foucault lại đưa những
Trang 28cách lí giải về diễn ngôn khác nhau, khiến cho thuật ngữ này trở nên đa dạng trong
chính định nghĩa của nó Bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm
nay đăng trên trang trandinhsu.wordpress.com có trích dẫn quan niệm của nhà triết học
này: “Tôi cho rằng, trong bất cứ xã hội nào, việc sản xuất ra diễn ngôn đều phải kinh
qua kiểm soát, lựa chọn, tổ chức và phải được cân nhắc qua trình tự nhiều lần nhằm trung lập hóa sự toàn trị của quyền lực và các mối nguy hiểm gắn liền với nó, thức tỉnh những điều chưa dự kiến trước về sự kiện phát ngôn, nhằm tránh tính vật chất của quyền lực ấy và sự uy hiếp ấy” Hay một cách giải thích khác của ông: “Diễn ngôn, nói toẹt ra, cần phải hiểu như một sự cưỡng bức mà chúng ta thực hiện đối với sự vật, trong mọi trường hợp, nó là một thực tiễn mà chúng ta ép buộc cho chúng” Có thể
thấy, những quan niệm về diễn ngôn của Foucault đã làm rõ ràng hơn bản chất xã hội
và giá trị thẩm mỹ của ngôn từ văn học Tuy nhiên, để hiểu và giải thích được khái niệm trên theo cách của Foucault là điều không hề dễ dàng vì nó ở vị trí “chơi vơi”
giữa ngữ học và xã hội học, nó mang ý nghĩa liên ngành Trong bài viết Dẫn nhập lí
thuyết diễn ngôn của M.Foucault và nghiên cứu văn học, Trần Văn Toàn đã dẫn lại
khái quát ba định nghĩa về diễn ngôn của Sara Mills dựa theo phát biểu của Foucault,
một là “diễn ngôn bao gồm tất cả các nhận định nói chung” [37, tr.335], hai là diễn ngôn như là “một nhóm các nhận định được cá thể hóa” [37, tr.337], ba là “diễn ngôn
như một hoạt động được kiểm soát/ điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định” [37, tr.337] Xét trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định, diễn ngôn như là
hình thức biểu hiện ngôn ngữ mang tư tưởng, ý thức hệ của một tập hợp người Nó không đơn thuần bao hàm ý thức quần thể người ấy mà còn quay ngược lại, âm thầm chi phối tất cả tư tưởng, hành vi, lời nói của con người thuộc quần thể đó Có những cơ
chế ràng buộc lời nói của con người, giống Foucault đã khẳng định: “Anh tưởng là anh
đang nói, kì thực là lời nói đang nói về anh” [90] Từ những cơ sở trên, người viết đưa
ra cách hiểu riêng của mình: Diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của một tập
hợp người, chịu sự chi phối bởi các cơ chế quyền lực nhất định mà mục đích nghiên cứu nó là chỉ ra được các cơ chế quyền lực nào kiểm soát chủ thể lời nói
Diễn ngôn nữ quyền là một khái niệm thuộc hướng tiếp cận xã hội học của Foucault Sự ra đời của nó là một kết quả tất yếu do sự chuyển biến của xã hội Hình
Trang 29thái ý thức xã hội và các cơ chế quyền lực trong xã hội chi phối diễn ngôn Ngay cả trạng thái tri thức của con người cũng là một nhân tố gây ảnh hưởng đến diễn ngôn trong từng giai đoạn xã hội Theo Foucault, diễn ngôn với bản chất riêng biệt của nó tác động mạnh đến con người Có thể ví diễn ngôn cùng cơ chế quyền lực tác động nó như một cái máy đúc khuôn khổng lồ mà cơ chế quyền lực là bộ máy với kết cấu vững bền, diễn ngôn như những chiếc khuôn và tư tưởng, hành vi, lời nói của con người là những thứ đã được định hình trong khuôn ấy Dù muốn dù không, diễn ngôn cùng các yếu tố nội tại của nó điều chỉnh con người, nhào nặn con người theo các khuôn mẫu sẵn có, hoặc có thể cầm tù bản thân con người Diễn ngôn sẽ thay đổi theo các giai đoạn lịch sử nhất định và đặc biệt, khi các cơ chế quyền lực tác động nó có sự biến đổi, diễn ngôn cũng sẽ ảnh hưởng mà chuyển biến theo Riêng “nữ quyền”, đó là các quyền lợi bình đẳng giới được khẳng định dành cho phụ nữ và các trẻ em gái Vậy, từ
các khái niệm trên, về nội hàm có thể hiểu diễn ngôn nữ quyền là hình thức biểu hiện
ngôn ngữ của tập hợp các cá thể dùng ngôn ngữ (là phương tiện chủ yếu) nhằm bộc lộ những nhận định, tư tưởng đã được cá thể hóa với mục tiêu đạt được sự công bằng cho nữ giới, xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa hai giới nam và nữ Những nhận định thuộc
về loại diễn ngôn này chịu sự chi phối của cơ chế quyền lực, mô hình tư duy và các nguyên tắc ràng buộc nhất định, ngầm điều chỉnh ngôn ngữ, phương thức, hành vi của
nữ giới thoát khỏi vòng kìm kẹp của cơ chế nam trị và chủ động, tự tin, ý thức hơn giá trị bản thân, tự do sống với quyền lợi, bản ngã và truy tìm bản sắc riêng của giới mình Tồn tại dựa trên các nhận định mang nghĩa và có hiệu lực trong xã hội, diễn
ngôn nữ quyền mang lại những giá trị sâu sắc
Diễn ngôn nữ quyền qua các giai đoạn khác nhau có sự thay đổi và dần từng bước bổ sung hoàn thiện, luôn bị kiểm soát, chỉnh lí bởi cơ chế quyền lực của nữ quyền (chủ yếu) và cơ chế quyền lực nam trị (thứ yếu) xem xét, co kéo trạng thái tri thức con người vì cơ chế này đã tồn tại lâu đời và gây ảnh hưởng sâu đậm trong vô thức Sự ra đời của diễn ngôn nữ quyền nói riêng và diễn ngôn nói chung là do các nhân tố ý thức hệ, hệ thống quyền lực và trạng thái tri thức con người có sự thay đổi Riêng về diễn ngôn nữ quyền, chính các phong trào nữ quyền bùng nổ, bối cảnh lịch
sử thế giới có sự thay đổi: phụ nữ từng bước khẳng định vị thế và ý thức rõ “quyền
Trang 30năng” của mình qua những hành động, lời nói, tư tưởng có sự phá vỡ vòng kìm kẹp cố hữu lâu đời của chế độ nam trị Từ những cá thể khởi xướng ban đầu, các nhận định về
nữ mở rộng phạm vi và mức độ lan tỏa ra các khu vực trên thế giới và ngày càng có hiệu lực Diễn ngôn nữ quyền như một làn sóng mạnh mẽ trỗi dậy và có thể nói nó song hành cùng lúc khi chủ nghĩa nữ quyền manh nha, phát triển và các thuyết nữ quyền luận ra đời, vì lúc này cơ chế quyền lực cũng như hệ tri thức về nữ quyền mới được củng cố Nếu xét dựa trên quan điểm của Foucault thì diễn ngôn nữ quyền cũng
có những chặng đường hoàn thiện chính nó như các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa
nữ quyền Nhưng đừng vì thế mà lẫn lộn giữa các khái niệm “diễn ngôn nữ quyền”,
“nữ quyền luận” và “chủ nghĩa nữ quyền” Giữa ba cụm từ này có chung một điểm giao thoa là mong muốn đem lại sự bình đẳng giới, củng cố các quyền lợi cho người phụ nữ và đều là hệ quả tất yếu của xã hội Về sự khác biệt, chủ nghĩa nữ quyền bao hàm tập hợp các phong trào và quan điểm, tư tưởng, ý thức hệ xây dựng, bảo vệ các quyền lợi cho người phụ nữ Còn nữ quyền luận lại là hệ thống những quan điểm, các
tư tưởng khoa học về các nguyên nhân, tình trạng bất bình đẳng của nữ giới, từ đó đề
ra các giải pháp, hướng khắc phục nhằm đạt được mục tiêu trên Riêng diễn ngôn nữ quyền, đây lại là thuật ngữ sử dụng rộng khắp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn - hệ thống cơ chế biểu đạt của ngôn ngữ bởi tập hợp các cá thể, nhằm bộc lộ những nhận định, tư tưởng đã được cá thể hóa chịu sự chi phối của cơ chế quyền lực,
mô hình tư duy và các nguyên tắc ràng buộc nhất định, ngầm điều chỉnh ngôn ngữ, phương thức, hành vi của nữ giới thoát khỏi vòng kìm kẹp của cơ chế nam trị và chủ động, tự tin, ý thức hơn giá trị bản thân, tự do sống với quyền lợi, bản ngã mình Ngoài
ra, tính chất, mục đích và giá trị nghiên cứu của ba vấn đề trên cũng có sự khác biệt, có thể làm rõ chúng qua bảng sau:
Trang 31Chủ nghĩa
nữ quyền
Nữ quyền luận Diễn ngôn nữ quyền
Điểm giống
- Là hệ quả tất yếu của chuyển biến xã hội, lịch sử
- Mong muốn đem lại sự bình đẳng giới, củng cố các quyền lợi cho phụ nữ
- Mang những giá trị sâu sắc, làm thay đổi vị thế của nữ giới trong các lĩnh vực
Hệ thống những quan điểm, các tư tưởng khoa học về các nguyên nhân, tình trạng bất bình đẳng của nữ giới,
từ đó đề ra các giải pháp, hướng khắc phục
Hình thức biểu hiện ngôn ngữ của tập hợp các cá thể nhằm bộc
lộ những nhận định,
tư tưởng đã được cá thể hóa Những nhận định thuộc về loại diễn ngôn này chịu
sự chi phối của cơ chế quyền lực, mô hình tư duy và các nguyên tắc ràng buộc nhất định, ngầm điều chỉnh ngôn ngữ, phương thức, hành vi của nữ giới thoát khỏi vòng kìm kẹp của cơ chế nam trị và chủ động, tự tin, ý thức hơn giá trị bản thân, tự do sống với quyền lợi, bản ngã mình
Tính chất cơ
bản
Mang tính lịch sử
và triết học
Mang tính xã hội học
Giao giữa ngữ học và
xã hội học
Mục đích nghiên
cứu
Đi đến chấm dứt mọi phân biệt đối
xử với phụ nữ, giải phóng phụ
nữ
Lí giải thực trạng, nguyên nhân của việc áp bức phụ
nữ, đề ra giải pháp (chủ yếu là hành động ý thức) của
Phơi bày cơ chế quyền lực chi phối
Trang 32phụ nữ và nam giới để thay đổi tình trạng này
Giá trị
Làm thay đổi đời sống nữ giới và khẳng định vị thế của họ
Cung cấp những nền tảng cho chủ nghĩa nữ quyền củng cố và phát triển
Mở ra lối nghiên cứu mới - nghiên cứu lịch
sử, tư tưởng, văn hóa
1.1.3.2 Đặc điểm chung của diễn ngôn nữ quyền
Diễn ngôn nữ quyền có những đặc điểm riêng biệt, có thể khái quát thành ba ý cơ bản sau Một là, diễn ngôn nữ quyền là phương thức biểu đạt của tư tưởng và lịch sử
về nữ quyền Các chuỗi sự kiện liên tiếp về việc đấu tranh, kêu gọi, đưa ra những nhận định quyền bình đẳng cho nữ giới đã tạo nên bộ mặt toàn diện cho loại diễn ngôn này Cho nên muốn hiểu rõ được nó phải tìm hiểu thực tế diễn ngôn cùng các cơ chế quyền lực chi phối Hai là diễn ngôn nữ quyền đưa ra các nhận định lấy phụ nữ làm trung tâm, giải thiêng những “huyền thoại” của nam giới đặt ra để lừa mị nữ giới nhằm đem lại vị thế cho người phụ nữ, nhất là mạnh mẽ đấu tranh xóa nhòa ranh giới bất bình đẳng giữa nam và nữ, thường là tôn vinh hình tượng phụ nữ với vẻ đẹp thân thể riêng biệt, sự chủ động trong công việc, đời sống, quyết định tình yêu,… Hơn nữa, còn có sự xuất hiện của hành trình đi tìm bản thể nữ, sống là phải đúng với chính bản thân mình
Ba là, diễn ngôn nữ quyền có sự thay đổi theo từng giai đoạn để phù hợp với chuyển biến trong xã hội
1.1.3.3 Các hướng tiếp cận diễn ngôn nữ quyền và hướng tiếp cận của người viết
Nhờ những định nghĩa của Foucault mà việc nghiên cứu văn học trở nên thú vị hơn Mặc dù diễn ngôn nữ quyền, bản thân cái tên của nó thuộc hướng nghiên cứu xã hội học nhưng không phải ta chỉ được phân tích theo hướng tiếp cận của Foucault mà
có thể đi theo hai hướng tiếp cận còn lại là hướng tiếp cận ngôn ngữ học và phong cách học vì giữa các hướng này có sự giao thoa nhau
Về hướng tiếp cận ngôn ngữ học, ta có thể làm rõ diễn ngôn nữ quyền dựa trên các quan điểm của nhà ngôn ngữ học F.de Saussure để đi sâu nghiên cứu diễn ngôn nữ
Trang 33quyền qua cấu trúc nội tại của văn bản, từ đó chỉ ra được các yếu tố nội tại chi phối cấu trúc diễn ngôn như thời, thức, thể, giọng, ngôi,… Hoặc có thể nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn này trong mối quan hệ với nhân vật phát ngôn, ngữ cảnh phát ngôn
Đối với hướng tiếp cận phong cách học, diễn ngôn nữ quyền có thể dựa theo các quan điểm của M.Bakhtin để làm rõ tính đối thoại giữa diễn ngôn nữ quyền với nam quyền nhằm phá đi cái “quyền uy”, “độc tôn” mà nam giới đã đưa ra, tự xem mình là duy nhất, còn nữ giới là thứ bên lề, là cái khác Bên cạnh đó, còn có thể nghiên cứu các thể loại lời nói, phát ngôn cụ thể tồn tại trong bộ mặt diễn ngôn nữ quyền
Riêng về hướng tiếp cận xã hội học cũng là hướng nghiên cứu mà người viết muốn vận dụng Có thể tìm hiểu và phân tích diễn ngôn nữ quyền qua các quan điểm,
tư tưởng của Foucault Đó là đặt văn bản vào trong các mối liên hệ với loại hình diễn ngôn khác, đồng thời tìm hiểu những cơ chế tạo lập, kiểm soát, chi phối văn bản ngôn
từ ẩn chứa diễn ngôn trên, hay nói cách khác là yếu tố ẩn mình đằng sau văn bản Xem xét về diễn ngôn nữ quyền, người viết thấy rất khả quan nếu như tiếp cận và nghiên cứu nó dựa theo hướng xã hội học của Foucault, nhất là đi từ vấn đề chủ thể Bởi vì, để tồn tại khái niệm gọi là diễn ngôn nữ quyền trong xã hội không phải là điều đơn giản Trải qua khoảng thời gian dài, sau khi được xã hội chấp nhận, có những phát ngôn nữ quyền không chỉ xuất phát từ giới nữ mà còn được thể hiện ở nam giới Giữa hai chủ thể sáng tác này có sự giao thoa nhất định nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt cụ thể Cho nên, việc khảo sát diễn ngôn nữ quyền nhìn từ chủ thể nam qua cây bút Sương Nguyệt Minh sẽ có nhiều đóng góp mới Ngoài ra, ta cũng sẽ hiểu thêm được các cơ chế quyền lực tồn tại trong vô thức sẽ ảnh hưởng thế nào trong cách viết của các chủ thể Đồng thời, việc làm rõ cấu trúc nội tại của các tác phẩm Sương Nguyệt Minh cũng
có thể vận dụng theo một trong ba hướng tiếp cận trên Và người viết sẽ vận dụng nghiên cứu khía cạnh này theo hướng xã hội học nhằm tìm ra được những điểm sáng khi lấy nữ giới làm trung tâm, thể hiện những nhận định có hiệu lực về nữ giới nơi nhà văn mặc áo lính này
Trang 341.2 Chủ thể sáng tạo - lữ khách song hành cùng vô thức
1.2.1 Khái niệm về chủ thể sáng tạo
Những nghiên cứu của Foucault đã có những đóng góp quan trọng cả về lĩnh vực văn học và xã hội Trong những quan điểm về diễn ngôn, ông cũng nhắc đến chủ thể sáng tác, chính các kiến giải của ông về nó đã mang đến nhiều giá trị thiết thực Nói về vấn đề chủ thể, thuật ngữ này đã xuất hiện và được xem xét khá sớm trong giai đoạn lịch sử văn học, nhưng mang tính liên ngành và đặt vào trong bối cảnh thời đại thì có lẽ Foucault là riêng biệt nhất Trước đây, trong các công trình nghiên cứu của mình, Aristote có đưa ra cấu trúc thể loại văn học với ba phương thức mô phỏng các nguyên tắc cấu trúc bên trong của một tác phẩm Ba phương thức này tương ứng với
ba kiểu quan hệ giữa chủ thể (người mô phỏng, chủ thể lời nói) và khách thể (sự kiện, nhân vật được mô phỏng, ý nghĩ, các tư tưởng) trong tác phẩm văn chương Khái niệm chủ thể lúc đầu được hiểu là tác giả nhưng sau này được các nhà lí luận làm rõ hơn và được hiểu bao gồm chủ thể lời nói, chủ thể của ý thức được thể hiện trong từng văn bản Với riêng Foucault, khái niệm này được nhắc đến như một nguyên lí - nguyên lí tác giả (the Author), ông không hiểu nó theo đơn vị một cá nhân của cách truyền thống
mà gắn cho nó đi cùng các chức năng nhất định của liên chủ thể Nghĩa là một tác giả khi viết tác phẩm sẽ bị chi phối bởi các yếu tố tri thức và quyền lực của một tập thể,
Foucault nói: “Một người không phải bất cứ lúc nào, ở đâu, muốn nói cái gì thì nói” [90, tr.172] Bởi thế, phân tích diễn ngôn theo hướng xã hội học thì không thể bỏ qua yếu tố này vì “nghiên cứu diễn ngôn cũng không phải chỉ đi tìm tác giả, chủ đích tác
giả theo quan niệm truyền thống, vì diễn ngôn là sản phẩm của liên chủ thể” [90,
tr.186] Nếu R.Barthes cho rằng “Tác giả đã chết” thì Foucault không phủ nhận hết vị trí tác giả Nhưng theo ông, tác giả không còn là một chủ thể sáng tạo toàn năng mà là
“một kiến tạo để thực hiện những chức năng nhất định” [37, tr.352] Từ những quan
điểm của Foucault, người viết tự rút ra định nghĩa về chủ thể sáng tạo văn học theo
cách hiểu của mình: Chủ thể sáng tạo là tác giả được hình thành từ nhiều yếu tố như
điều kiện sống (tự nhiên, xã hội), hệ thống hình thành (quê hương, gia đình),… Trong quá trình sáng tác, nhà văn sẽ trải qua hai quá trình gồm khách quan hóa và chủ quan hóa, nghĩa là luôn bị các vô thức xã hội như một cơ chế quyền lực chi phối tác động
Trang 35và qua cảm nghiệm, nhận thức bản thân mà biến cái vô thức ấy thành ý thức Đó cũng
là sứ mệnh của tác giả vì như S.Freud nói: “Nhận thức cái vô thức là phương pháp
chữa bệnh tinh thần” [90, tr.176]
Bên cạnh đó, chủ thể sáng tác còn phải song hành với tài năng và lương tâm, đạo đức, cần biết nhận thức hiện thực, lựa chọn hiện thực, biến nó thành các hình tượng, nhận định mang giá trị tư tưởng làm rung động lòng người Mỗi cá nhân sống trong xã hội đều bị chi phối bởi các cơ chế quyền lực cụ thể, cả nhà văn cũng như vậy Cho nên khi nghiên cứu về diễn ngôn, nhất là diễn ngôn nữ quyền, cần phân tích về chủ thể Thường người ta quan niệm nói về nữ, phát ngôn cho nữ thường là những cây bút cùng phái Nhưng khi diễn ngôn nữ quyền được xã hội chấp nhận thì phạm vi chủ thể sáng tác lấy nữ làm trung tâm cũng có sự thay đổi Nhiều nhà văn nam xuất hiện với sự am hiểu sâu sắc về nữ cùng cung cấp cái nhìn, tư tưởng được thể hiện từ góc độ nam giới về nữ giới mang điểm khác biệt và có giá trị Chủ thể sáng tác vừa là sản phẩm của bối cảnh xã hội nhưng cũng là sản phẩm của riêng nghệ sĩ
1.2.2 Mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo với quyền lực và hệ hình tri thức
Suốt những năm 1970, Foucault luôn quan tâm về mối quan hệ giữa quyền lực và tri thức, trong đó diễn ngôn là một mắt xích không thể thiếu để tìm hiểu hai yếu tố này
Và mối quan hệ trên không tồn tại đơn thân mà tác động qua lại với các đối tượng khác, trong đó có chủ thể Nhận thức và phát ngôn của chủ thể sáng tạo luôn bị giới hạn và kiểm soát bởi các thiết chế, đằng sau nó là bàn tay vô hình của quyền lực Lời nói và suy nghĩ của chủ thể không được biểu hiện một cách tự do, chúng bị định hình
và nhốt chặt vào các khuôn khổ có trước một cách vô thức Nhà triết học phương Tây
E.Fromm đã từng viết: “Mỗi xã hội chỉ cho phép một số tư tưởng, tình cảm nào đó có
thể đạt đến trình độ ý thức, còn một số khác thì chỉ tồn tại trong trạng thái vô thức”
[90, tr.175]
Để hiểu về mối quan hệ này, trước hết ta cần nắm được khái niệm “hệ hình tri
thức” - đây là các “hệ thống phán đoán giá trị tự hình thành trong một thời kì nhất
định, hay nói giản dị hơn là nhận thức chung của cộng đồng trong một thời đại nhất định” [52, tr.111] Còn với Sara Mills, bà lại diễn giải tri thức là tập hợp các cấu trúc
diễn ngôn mà bên trong chúng, một nền văn hóa xác định nên những ý niệm của nó
Trang 36Đồng thời, bà còn khẳng định tri thức bị ảnh hưởng và thay đổi theo từng giai đoạn
nhất định Tùy vào tiêu chuẩn của hệ hình mà tri thức được quy định Hơn thế nữa, hệ
hình tri thức còn có tác dụng xác định chân lí của từng thời đại Nó giống như màn sương vô thức bao phủ lên từng thời đại, làm cho các ý niệm, quan điểm, suy nghĩ thuộc từng giai đoạn cũng khác nhau Chẳng hạn, trong xã hội cũ, với lễ giáo phong kiến hà khắc “trọng nam, khinh nữ”, họ quan niệm người phụ nữ không được đến trường và chỉ giữ các công việc đồng án, chăm con, phục tùng chồng, nhưng trong xã hội ngày nay, khi dần dần vị thế của nữ giới đã cải thiện thì kéo theo những tiêu chuẩn
về họ cũng thay đổi Người phụ nữ lí tưởng cần “giỏi việc nước, đảm việc nhà”, tự tin, vuông vén, đảm đang, chăm chút và luôn làm đẹp bản thân cả về hình dáng lẫn tâm hồn Họ có những cơ hội học hỏi, rèn luyện bản thân, tự quyết hơn trong cuộc sống, không nhất thiết phải dựa vào chồng Bởi thế, hệ hình tri thức có vai trò như một thứ khuông khổ vừa cho phép con người nhận thức thế giới vừa giới hạn và lọc tư duy con người
Tiếp theo, một định nghĩa nữa khi nghiên cứu về diễn ngôn cũng như chủ thể sáng tác, ta không thể bỏ qua, đó là “quyền lực” Quyền lực về bản chất nó là một hiện tượng lịch sử, xuất phát bởi nhiều điểm khác nhau trong xã hội Nó tồn tại khắp nơi và
điều chỉnh lời nói, hành động của con người Quyền lực không đơn giản chỉ là quyền
lực nhà nước, mà phân tán trong các mối quan hệ xã hội như cha - con, ông chủ - người làm, thầy giáo - học sinh,… Nó cũng không đơn thuần là sự cưỡng bức, cái ngăn cản tự do của người khác Quyền lực không mang một mô hình phổ quát cho tất
cả các chế độ, xã hội, thời kì lịch sử Tùy vào các mối quan hệ quyền lực, các đối tượng bên trong nó có sự tác động qua lại và mang những mô hình khác nhau Quyền lực vừa trấn áp từ bên trên vừa phản kháng từ bên dưới Foucault cũng phát biểu: ở đâu có quyền lực thì ở đó sẽ có đấu tranh Foucault đã cụ thể hóa quyền lực bằng hình ảnh một nhà tù hình tròn, nơi đó, tất cả các phạm nhân đều cảm thấy bị giám sát bởi một con mắt vô hình
Quyền lực và diễn ngôn có một mối quan hệ rất phức tạp, Foucault nói: “Diễn
ngôn vừa có thể là một công cụ, vừa là hệ quả của quyền lực; đồng thời, cũng là một vật cản, một khối chướng ngại vật, một mũi kháng cự và một điểm bắt đầu cho chiến
Trang 37lược đấu tranh Diễn ngôn làm lan truyền và sản sinh quyền lực, nó củng cố chính nó, nhưng củng hủy hoại nó và phơi bày nó, làm cho nó yếu đi và khiến nó có thể gây trở ngại cho chính nó” [63] Quyền lực luôn can thiệp quá tình tạo lập, vận hành diễn
ngôn Theo Foucaul, hệ hình tri thức là sản phẩm được tạo ra bởi các diễn ngôn và đằng sau diễn ngôn lại là quyền lực nên những tri thức mà chúng ta có được là các kết quả mâu thuẫn của quyền lực mà ra Ví dụ, lật lại các tài liệu của Pháp về Việt Nam khi chúng xâm lược và đô hộ nước ta hai lần, ta có thể thấy nhận định đánh giá và các đặc điểm được kiến tạo về Việt Nam: là một đất nước với thiên nhiên hoang vu, bí ẩn; Con người Việt Nam là một chủng tộc mông muội, xấu xí, tàn ác, cần được khai hóa, sửa đổi Những tri thức trên là kết quả của quá trình khai thác thuộc địa và là một thứ công cụ hữu hiệu duy trì quyền lực ở Việt Nam
Qua các phân tích từ hệ hình tri thức đến quyền lực và diễn ngôn, ta có thể thấy rằng mỗi cá nhân luôn chịu ảnh hưởng và kiểm soát bởi các tri thức và quyền lực Một cách vô thức, chủ thể sáng tác cũng như vậy Bàn tay vô hình của quyền lực áp đặt và kiểm soát chủ thể trong từng thời điểm Khi một diễn ngôn đời sống đoạt vị thế sẽ gây
ra những áp lực kéo theo sự thay đổi đời sống cộng đồng và cả cá nhân Chủ thể sáng tác sống trong guồng quay xã hội, bối cảnh lịch sử nhất định sẽ chịu tác động đến đời sống bản thân Trong quá trình sáng tác, những ảnh hưởng bởi quyền lực và các tri thức đã nhận được trước đó sẽ nhẹ nhàng đi vào tác phẩm văn học của chủ thể ngay lúc bắt đầu suy nghĩ cho đến khi hoàn thành đứa con tinh thần mình
Giữa chủ thể sáng tác và hệ hình tri thức cùng quyền lực không đơn thuần chỉ là mối quan hệ một chiều mà có tác động lẫn nhau Chủ thể bị kiểm soát, chi phối trong trạng thái vô thức bởi quyền lực và hệ hình tri thức Ngược lại, chủ thể sàng lọc lại các nhận định, tri thức nhận được mà có thể đồng tình, chấp nhận, làm cho các hệ hình tri
thức cùng quyền lực đó vững mạnh, bền chắc hơn Do “các cá nhân không phải là nơi
để quyền lực thực thi mà họ chính là những mắt xích hình thành nên hệ thống quyền lực như một tổng thể” [37, tr.344] Hoặc chủ thể sáng tạo sẽ phản kháng lại quyền lực
và hệ tri thức ấy, tìm cách bài xích chúng
Cho nên, xét từ góc độ nào cũng thấy rằng chủ thể sáng tạo luôn chịu ảnh hưởng,
bị chi phối bởi quyền lực và hệ hình tri thức Việc nói cái gì, nói như thế nào luôn bị
Trang 38kiểm soát chặt chẽ của những thế lực ngầm và luật lệ bên trong, bên ngoài diễn ngôn Điều này chứng tỏ chủ thể sáng tác không phải là những chủ thể tự do biểu lộ ý kiến riêng của bản thân, luôn bị hạn chế trong những khung có trước nó Bên cạnh đó, nó còn khiến chủ thể sáng tác chỉ có thể nói theo một cách cố định, sử dụng duy nhất một
bộ lễ phục ngôn từ Nhưng nói thế nào ta cũng không thể phủ nhân vai trò của chủ thể sáng tạo Chính hành động ý thức được những trạng thái vô thức của mình và biến đổi
nó từ vô thức thành ý thức đã góp phần cung cấp cho giới nghiên cứu bộ mặt toàn diện hơn khi phân tích các cơ chế tạo lập những yếu tố nằm ẩn sau văn bản
1.2.3 Chủ thể sáng tạo với diễn ngôn nữ quyền
Diễn ngôn nữ quyền thể hiện trong nhiều lĩnh vực cuộc sống, đặc biệt là văn học Nhắc đến diễn ngôn nữ quyền, thường người ta sẽ nghĩ ngay đến chủ thể sáng tác nữ Vấn đề này gây nhiều tranh luận cho giới học thuật, nghiên cứu từ giữa cuối thế kỉ XVIII cho đến nay với những cái tên nổi tiếng Ở phương Tây ta có Emily Jane Bronte
(Đồi gió hú), Helena Mniszek (Con hủi), Alex Flinn (Người đẹp và quái thú), Toni Morrison (The Bluest Eye), Elfriede Jelinek (Cô gái chơi dương cầm), Stefenie Mayer (Chạng Vạng), Alice Walker (Sắc tím)… Ở phương Đông cũng nổi dậy không kém
với các nhà văn Nhật: Yoshimoto Banana cùng hàng loạt tác phẩm nổi tiếng thế giới
viết về nữ như Kitchen, N.P, Asleep, Vĩnh biệt Tsugumi, ; Yamada Eimi qua Trò đùa
bỡn của những ngón tay, Thế giới Harlem, Rác Rưởi, Những con mắt trong giờ ngủ,…; Văn học Trung Quốc cũng khá đặc biệt: Cửu Đan cùng Quạ đen, Người con gái phiêu bạt,…, Vương An Ức với tác phẩm: Tam luyến, Trường hận ca, Thắm sắc hoa đào…; Trì Lợi có các tác phẩm: Hễ sướng thì hét lên, Triền miên nước và lửa, Người đàn bà bất hạnh,… Để người nữ trở thành chủ thể văn học cần có những điều
kiện xã hội nhất định Chính các phong trào tranh đấu và lí thuyết dành cho nữ quyền mạnh mẽ và triệt để ở phương Tây mà vị trí, tiếng nói của người phụ nữ dần dần được củng cố Thật ra, chủ thể văn học nữ xuất hiện ngay từ đầu nhưng bị xã hội lãng quên
Nhà phê bình Trần Thiện Khanh, trong Kháng cự tình trạng mất tiếng nói đã chỉ ra:
“Chỉ khi nào nữ giới xuất hiện như một chủ thể ngôn từ, chủ thể thẩm mỹ, chủ thể trải nghiệm, chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn học thì khi đó mới có văn học nữ Và chỉ khi nào phụ nữ sáng tác như một chủ thể - tác nhân chống lại sự tỏa chiết của nam
Trang 39quyền, sự đặt định, kiến tạo của nam giới về tính nữ; phủ nhận kiểu diễn ngôn giả tạo, gán ghép và thiên kiến “đàn bà là…”, công khai chống lại sự nhào nặn hình ảnh người nữ trong nền văn minh của đàn ông; đòi hỏi phải đặt đàn ông thành một vấn đề cần được nhận thức lại và diễn giải lại… thì khi đó mới có văn học nữ quyền” [46] Ý
kiến này vẫn đúng ở khía cạnh nhìn nhận văn chương nữ giới nhìn từ phía chủ thể nữ nhưng vẫn có nhiều cây bút nam lấy nữ làm trung tâm và thể hiện thành công những nhận định sâu sắc nghiêng về nữ giới Điển hình, người viết muốn đề cập đến hai tác phẩm kinh điển của phương Tây và phương Đông qua hai nhà văn lớn Victor Hugo và Rabindranath Tagore Với Victor Hugo, ông đã xây dựng nhân vật Esméralda trong
tiểu thuyết Thằng gù nhà thờ Đức Bà một cách thắng thế Ở cô là sự vẹn tròn cả vẻ
đẹp ngoại hình lẫn nhân phẩm, luôn hành xử một cách chủ động: chủ động tìm đến tình yêu với Phoebus, hơn nữa nàng còn bộc lộ sự tự tin, bản lĩnh, chủ động lựa chọn cách sống của mình, thà chết chứ không chấp nhận tình yêu đầy bệnh hoạn và tàn bạo
của giám mục Frollo Còn trong tiểu thuyết Đắm thuyền, Tagore đã xây dựng hai nhân
vật nữ có cá tính trái ngược nhau gồm Kamala và Hemnalini Họ tuy có số phận bất hạnh nhưng bước đầu cũng đã giải phóng bản thân khỏi gọng kìm kẹp của tôn giáo và quan niệm hà khắc của Ấn Độ trước đây
Sara Mills viết: “Ở đâu có sự mất cân bằng về quan hệ quyền lực giữa các nhóm
người hoặc giữa các thiết chế/ nhà nước thì ở đó sẽ có một sự sản xuất về tri thức”
[59, tr.69] Cũng theo Foucault, đối tượng nghiên cứu thuộc dạng này thường là những người có vị trí quyền lực thấp hơn Diễn ngôn nữ quyền cũng như vậy Đa phần với loại diễn ngôn này, số lượng nữ viết về nữ nhiểu hơn, từ các nhà nữ quyền luận, đến các nhà phê bình và rồi là chủ thể sáng tác văn học Đặc biệt, khi chủ thể nữ cầm bút,
họ đem đến cho độc giả sự đối thoại quyết liệt với các thành trì tư tưởng nam giới Họ đưa ra những tự thuật về cảm nghiệm bản thân Từ đó, thế giới đầy bí ẩn của nữ hiển hiện rõ hơn và vị thế họ được củng cố
Riêng chủ thể nam, khi viết về nữ và dùng câu văn mình mà bênh vực, củng cố quyền năng của nữ giới thì đây là những hành động đầy ý nghĩa, góp một cái nhìn nhiều chiều về diễn ngôn nữ quyền Giữa hai chủ thể sáng tác trên vẫn có nhiều điểm giống nhau, cùng chịu chi phối một cách vô thức các nhận định, tư tưởng của quyền
Trang 40lực, hệ hình tri thức nam trị đã tồn tại lâu đời ăn sâu vào tiềm thức con người và các quan điểm riêng về nữ giới xuất hiện sau này đã phần nào phản kháng, đối thoại lại các thiết chế nam quyền đó Với hệ thống các quan điểm đặt ra có lợi cho tập thể người nam mà hầu hết chủ thể nữ bất bình và dùng triết lí nữ quyền để đánh vào thành trì ấy
Có nhiều lúc, vì hạ bệ nam giới qua các nhân vật khiến cho tác phẩm của các nhà văn
nữ sẽ phiến diện, trở nên cực đoan Còn chủ thể nam, ảnh hưởng bởi hai guồng quay trên và qua bộ lọc bản thân, trong văn họ vẫn lấy nữ làm trung tâm, từ đấy vẫn đề cập tinh thần nữ quyền ở giới này nhưng đồng thời, các chủ thể nam không thoát khỏi các thiết chế quyền lực nam trị nên diễn ngôn nữ quyền nhìn từ chủ thể nam có sự dằn xé nhau trong bản thân nội tại
1.3 Văn học nữ quyền Việt Nam đương đại và nhà văn Sương Nguyệt Minh
1.3.1 Văn học nữ quyền Việt Nam đương đại
1.3.1.1 Khái niệm văn học nữ quyền và bối cảnh văn học nữ quyền Việt Nam đương đại
Văn học nữ quyền xuất hiện như một dòng văn học phản kháng Khái niệm Văn
học nữ quyền (Female literature) cho đến nay vẫn chưa được thống nhất giữa các nhà
nghiên cứu Nguyễn Giáng Hương, trong bài viết Văn học nữ quyền Pháp thế kỉ XX,
trang lyluanvanhoc.com, cho rằng có hai cách hiểu thuật ngữ này Về nghĩa rộng, đó là
“một loạt các văn bản tồn tại dưới các dạng như: nói về phụ nữ, viết bởi phụ nữ,
hướng tới công chúng nữ, được nữ giới đọc (ở đây chỉ một bộ phận lớn nữ giới), phục
vụ cho một ý kiến hay lý lẽ nào đó của phụ nữ Các dạng văn học này không tồn tại riêng lẻ mà giao thoa với nhau trong các văn bản văn học, thể hiện tính đa dạng của văn học nữ Còn về nghĩa hẹp, nó được định nghĩa như “một thể loại sáng tác văn chương với một chủ thể-khách thể năng động: người phụ nữ trong quá trình giải phóng mang tính lịch sử… Văn học nữ quyền là một vũ khí tư tưởng quan trọng của công cuộc giải phóng phụ nữ hướng tới sự bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực… góp phần lật đổ những quan niệm nam quyền ấu trĩ, khẳng định vị trí của phụ nữ trong xã hội đương thời” Nhưng trong bài Phê bình văn học nữ quyền đăng trên trang
sachhay.org, Hồ Khánh Vân có đưa ra định nghĩa của mình: “Văn học nữ quyền bao
gồm những sáng tác của phụ nữ có ý thức nữ quyền mạnh mẽ” Tác giả cũng trích dẫn