1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng con người bất đắc chí trong thơ trung đại việt nam từ cuối thế kỉ xviii đến đầu thế kỉ xix (qua khảo sát thơ chữ hán của nguyễn du và cao bá quát)

146 206 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

một cần câu/ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” Nhàn,… Và khi đến với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, con người trong thơ bắt đầu rõ nét hơn ở thái độ “bất đắc chí”, biểu lộ sự chán g

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hoài Nam

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ” TRONG THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

TỪ CUỐI THẾ KỈ XVIII ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XIX

(QUA KHẢO SÁT THƠ CHỮ HÁN

CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Hoài Nam

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ” TRONG THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

TỪ CUỐI THẾ KỈ XVIII ĐẾN ĐẦU THẾ KỈ XIX

(QUA KHẢO SÁT THƠ CHỮ HÁN

CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá của các tác giả khác, đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Hoài Nam

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Thu Yến, người trực tiếp hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo đã giúp tôi hoàn thành luận văn khoa học này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn và Phòng Sau Đại học, Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn tập thể Thầy, Cô giảng dạy chuyên ngành Văn học Việt Nam (Cao học khóa 25) đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn những đóng góp quý báu của quý Thầy, Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn khoa học

Tôi cũng xin cảm ơn gia đình, quý đồng nghiệp, bạn bè đã động viên và khích lệ tôi trong quá trình học tập và viết luận văn

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

Tác giả

Nguyễn Hoài Nam

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 11

1.1 Thời đại 11

1.2 Tác giả 14

1.2.1 Nguyễn Du 14

1.2.2 Cao Bá Quát 17

1.3 Sự xuất hiện hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ trung đại Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX 19

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ” TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 27

2.1 Con người ý thức cao về tài năng, nhân cách và trách nhiệm của bản thân 27

2.2 Con người từ bất hòa với xã hội đến con người nổi loạn 36

2.3 Con người bất lực trước thời cuộc 54

2.4 Con người ôm nặng nỗi thương mình, đau đời 62

Chương 3 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ” TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT) – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 83

3.1 Lựa chọn thể loại, đặt nhan đề 83

3.2 Cách lựa chọn hình ảnh, từ ngữ 85

3.2.1 Cách lựa chọn hình ảnh 85

3.2.2 Cách lựa chọn từ ngữ 93

3.3 Giọng điệu 107

3.3.1 Giọng mạnh mẽ, tự tin 109

Trang 6

3.3.2 Giọng phẫn hận, khinh bạc 112

3.3.3 Giọng buồn thương, tự trào 119

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBQ: Cao Bá Quát

ND : Nguyễn Du

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bên cạnh văn học dân gian là các sáng tác của nhân dân lao động, văn học viết, đặc biệt là văn học viết từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX đã góp vào dòng chảy của thơ ca nghệ thuật một mạch nước trong trẻo, lúc sâu lắng, lúc cuồn cuộn trào dâng, bồi đắp cho văn học Việt Nam thêm mượt mà, màu mỡ Vì vậy, các sáng tác của cha ông giai đoạn này (văn học trung đại) được nghiên cứu, đưa vào trường phổ thông giảng dạy như một sự ghi nhận của người đời sau dành cho người đi trước, cũng là cách để thơ văn xưa đến với lòng người nay, khoảng cách người trước – người sau vì vậy mà thêm ngắn lại Dễ ngộ nhận những gì được quan tâm, viết nhiều, nghiên cứu nhiều, cảm nhiều sẽ bị khai thác cạn kiệt, không còn đất cho người đời sau tiếp tục tìm tòi, phát hiện; tuy nhiên văn học trung đại Việt Nam nói chung và thơ ca của những tác giả lớn giai đoạn này nói riêng vẫn mãi là kho vàng vô tận Ở đó, thiên nhiên, lịch sử và con người càng trở nên rõ nét hơn qua văn học, đặc biệt là hình ảnh các nhà nho thi sĩ - thế

hệ cầm bút chính của văn học trung đại

Có một thực tế là những tác phẩm trung đại trong trường phổ thông hiện nay được đưa đến cho người học chưa có sự đồng đều mà có sự cách quãng rất rõ Trong Chương trình Trung học Cơ sở có 19 tác phẩm với 8 tác phẩm thơ và 11 tác phẩm thuộc các thể loại khác (tập trung nhiều ở khối lớp 7); chương trình Trung học phổ thông có tất cả 24 tác phẩm với 12 tác phẩm thơ (tập trung nhiều ở khối 10, 11) và 12 tác phẩm thuộc các thể loại khác Trong số 20 bài thơ mà học sinh được học trong chương trình phổ thông, ít nhiều người đọc cũng hiểu được phần nào tâm sự của người

xưa Đó là quan niệm về độc lập chủ quyền của Lí Thường Kiệt trong Nam quốc sơn

hà; là mong ước một non sông bền vững đến muôn đời trong Tụng giá hoàn kinh sư

(Trần Quang Khải); là tâm tình lánh đục về trong, làm bạn với thiên nhiên ở Nguyễn

Trãi trong Côn sơn ca; tình bạn gắn bó của Nguyễn Khuyến qua Bạn đến chơi nhà; là

vẻ đẹp của con người có sức mạnh, có lí tưởng và nhân cách cao cả trong Thuật hoài

của Phạm Ngũ Lão cùng khí thế hào hùng của thời đại nhà Trần; là hình ảnh một nhà

thơ mẫu mực như Nguyễn Bỉnh Khiêm ngợi ca thú thanh nhàn: “Một mai một cuốc

Trang 9

một cần câu/ Thơ thẩn dầu ai vui thú nào” (Nhàn),… Và khi đến với Nguyễn Du,

Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, con người trong thơ bắt đầu rõ nét hơn ở thái độ “bất đắc chí”, biểu lộ sự chán ghét của người trí thức đương thời và niềm khao khát thay đổi cuộc sống, những thổn thức cho kiếp nhân sinh nhiều nước mắt, cho thế thái nhân tình dễ đổi thay,… Cùng với họ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương qua thơ văn của mình cũng góp thêm tiếng nói khắc họa chính bản thân mình và nói hộ cho thế hệ các nhà thơ đương thời tâm trạng “bất đắc chí” Vì vậy, chân dung các nhà nho, thi sĩ ngày càng rõ nét hơn ở khía cạnh thể hiện cái tôi cá nhân bất mãn trước thời cuộc Chỉ đáng tiếc là sự cách quãng trong phân phối các bài học về tác phẩm của các nhà nho – thi sĩ khiến cho học sinh chưa có một cái nhìn bao quát về nét riêng mà chung của một thế

hệ cầm bút tỏ lòng này Nhìn từ phương diện con người nghệ thuật, con người “bất đắc

chí” là sản phẩm của thời đại được phản ánh hết sức rõ nét trong thơ ca và có một sức

hấp dẫn riêng Với Nguyễn Du và Cao Bá Quát, đây là hai trong số những tác giả lớn của văn học Việt Nam giai đoạn trung đại - là những hiện tượng chỉ xuất hiện một lần trong văn học mà người viết đặc biệt yêu mến Việc phục dựng lại hình tượng con người “bất đắc chí” qua thơ văn của họ, thiết nghĩ là nhiệm vụ mang ý nghĩa khoa học

và thực tiễn trên nhiều phương diện, cũng là một nhu cầu của người đời sau, cũng là cách thế hệ hôm nay tìm về, trân trọng những giá trị tinh thần của lịch sử, từ đó hướng đến tương lai tốt đẹp

Với những lí do đó, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ Trung đại Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX (qua khảo

sát thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Cao Bá Quát)” làm đề tài của luận văn này

Trang 10

cho người đọc một cái nhìn hoàn chỉnh về chân dung của một thế hệ các nhà nho thi sĩ giai đoạn hậu kì văn học trung đại

3 Lịch sử vấn đề

3.1 Về tác giả Nguyễn Du

Nguyễn Du là một tác giả lớn trong văn học trung đại, nên sẽ không có gì ngạc nhiên khi số lượng các công trình nghiên cứu về ông khá đồ sộ, đặc biệt là tiếp nhận,

nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều Riêng thơ chữ Hán, sau khi Nguyễn Du qua đời,

các tập thơ chữ Hán của ông đã bị thất lạc Năm 1924, lần đầu tiên một số bài thơ chữ

Hán Nguyễn Du được sưu tầm và trích dịch trong cuốn Truyện cụ Nguyễn Du của Lê

Thước và Phan Sĩ Bàng; phải đến năm 1931, trên tạp chí Nam Phong số 161 mới ra mắt bạn đọc đầu tiên với 13 bài Năm 1959, Bùi Kỷ - Phan Võ - Nguyễn Khắc Hanh

có bản dịch Thơ chữ Hán Nguyễn Du với 102 bài (Nxb Văn hóa Hà Nội) Năm 1965, tuyển tập Thơ chữ Hán Nguyễn Du do Lê Thước - Trương Chính dịch xuất bản với

249 bài (Nxb Văn học, Hà Nội) Năm 1988, Đào Duy Anh dịch 249 bài trong Thơ chữ

Hán Nguyễn Du được in bởi Nxb Văn học Năm 1996, Nguyễn Du toàn tập ra đời Tập

1 là thơ chữ Hán do Mai Quốc Liên và nhóm cộng sự của ông phiên âm, dịch nghĩa và chú giải Năm 2007, ông Trần Văn Nhĩ - một thầy giáo dạy Toán đã nghỉ hưu - với vốn Hán tự học của mình và niềm say mê cái đẹp của thi ca, ông đã dựa vào tập 1 của

Nguyễn Du toàn tập của Mai Quốc Liên và một số công trình khác để cho ra đời cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nxb Văn hóa - Văn nghệ, in lần 2, 2015) Cũng trong năm

2015, nhân kỉ niệm 250 năm năm sinh của Nguyễn Du (1965 - 2015), nhân việc Unesco tôn vinh Nguyễn Du là danh nhân văn hóa thế giới, Mai Quốc Liên và nhóm

cộng sự của ông cho in lại cuốn Nguyễn Du toàn tập với tập 2 là phần Thơ chữ Hán

của Nguyễn Du với 250 bài Người viết coi đây là một tài liệu tham khảo có giá trị về văn bản cũng như phần dịch nghĩa, một mặt vì nó vừa đảm bảo tính kế thừa từ những người nghiên cứu, sưu tầm đi trước, vừa cố gắng khắc phục những sơ suất, nhược điểm của những bản dịch cũ; một mặt nó được trình bày một cách đầy khoa học, nguyên văn chữ Hán tương đối chính xác, phần dịch nghĩa sát ý và phần dịch thơ chuyển tải được nội dung tư tưởng của tác giả Nguyễn Du

Trang 11

Về tình hình nghiên cứu phê bình, qua tìm hiểu tư liệu, chúng tôi nhận thấy người

có công mở đường cho việc nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du là Đào Duy Anh

Trong bài viết Thi tập của Nguyễn Du trong công trình Khảo luận về “Kim Vân Kiều”, lần đầu tiên vị trí của thơ chữ Hán Nguyễn Du được khẳng định: “về hình thức cũng

như về nội dung, thơ chữ Hán Nguyễn Du có thể đề vào hàng với thơ Cao Bá Quát và

có thể đem so sánh với thơ Đường” Đặc biệt, Đào Duy Anh là người đầu tiên khẳng

định rằng những sáng tác chữ Hán này “là nguồn tư liệu quí giá để tìm hiểu cái phẩm

cách phức tạp và bi đát” của Nguyễn Du Có thể nói đây là những ý kiến có giá trị gợi

mở cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình ở các giai đoạn sau như Trương Chính, Nguyễn Đổng Chi, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Lê Trí Viễn, Nguyễn Huệ Chi, Vũ Đình Liên, Nguyễn Lộc (miền Bắc); Bùi Hữu Sủng, Thanh Lãng, Đỗ Trọng Huề (ở miền Nam) trong chặng đường từ 1954 đến 1975 Sau 1975 có Phan Hữu Nghệ, Đỗ Đức Dục, Đặng Thanh Lê, Mai Quốc Liên, Lê Thu Yến, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi,… Những thành quả và phát hiện cụ thể từ hệ thống bài viết, tuyển tập trên đã góp phần không nhỏ vào việc tìm hiểu các giá trị của thơ chữ Hán Nguyễn Du của chúng

tôi Riêng các tác giả từng đề cập đến một, hai khía cạnh biểu hiện cho con người “bất

đắc chí” trong thơ Nguyễn Du phải kể đến Trương Chính, Đào Duy Anh, Hoài Thanh,

Đào Xuân Quý, Nguyễn Lộc, Vũ Khiêu, Nguyễn Huệ Chi, Mai Quốc Liên, Lê Thu Yến, Điều này cho thấy dù ở thời đại nào, con người yêu thơ vẫn luôn cố gắng tìm tòi và phát hiện vẻ đẹp trong bề sâu tâm hồn con người cụ Nguyễn, đặc biệt là qua thơ chữ Hán

3.2 Về tác giả Cao Bá Quát

Cho đến nay, với một lượng tác phẩm đồ sộ, Cao Bá Quát xứng đáng là một

trong những đại diện tiêu biểu cho nền thơ ca chữ Hán của văn học trung đại Và những công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán của ông cũng đạt nhiều thành tựu Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, sưu tầm thơ Cao Bá Quát chia ra 3 nhóm sau:

Nhóm thứ nhất là những công trình sưu tầm, dịch thuật thơ chữ Hán được thực hiện bởi những nhà Hán học, nhà nghiên cứu nổi tiếng như: Trúc Khê, Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Hoàng Tạo, Tảo Trang, Giản Chi, Tố Hữu, Vũ Tuấn Sán, Ngô Linh

Trang 12

Ngọc, Trần Lê Văn, Nguyễn Tiến Đoàn, Nguyễn Đình Thảng, Nguyễn Văn Lãng, Thái Trọng Lai, Đinh Thanh Hiếu, Kiều Thu Hoạch, Huy Cận, Ngô Văn Phú, Trần Nhuận Minh, Vũ Duy Thông,… Đó cũng là những con người góp phần không nhỏ để tạo nên

một tuyển tập giá trị - có thể coi là tài sản của quốc gia - Cao Bá Quát toàn tập (hai

tập) do Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thực hiện mà Mai Quốc Liên làm chủ biên

Có thể coi đây là tài liệu sưu tầm có giá trị nhất đến thời điểm này và cũng là tư liệu chính để người viết thực hiện luận văn bên cạnh một số tài liệu khác tham khảo thêm

như: Cao Bá Quát - về tác gia và tác phẩm (Nxb Giáo dục) do Nguyễn Hữu Sơn và Đặng Thị Hảo tuyển chọn và giới thiệu; Tuyển tập Thơ chữ Hán Cao Bá Quát (Nxb

Văn hóa - Văn nghệ) do Trần Văn Nhĩ dịch thơ;…

Nhóm thứ hai là những bài viết có tính chất nghiên cứu bao quát thơ Cao Bá Quát nhìn từ phương diện nghệ thuật hoặc nội dung; hoặc tìm hiểu một điểm đặc sắc

về nội dung hoặc nghệ thuật qua một số bài thơ tiêu biểu Nhóm này có một số bài viết

và công trình nghiên cứu của các tác giả như: Hồ Sen, Phạm Trọng Tâm, Kiêm Đạt, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Đức Tiến, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Tài Thư, Tố Hữu, Nguyễn Thu Phương, Mai Quốc Liên, Đinh Thị Thái Hà, Phạm Quang Trung, Nguyễn Kim Châu, Nguyễn Ngọc Quận, Ngoài ra, tiếp nối những bài nghiên cứu của người

đi trước là những tìm tòi, phát hiện của các cá nhân: năm 2003, có luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Thái Hà với đề tài: “Cao Bá Quát - Lương tâm và khí phách thời đại qua thơ chữ Hán”; năm 2010, có luận văn thạc sĩ của Đoàn Duy Linh: “Khảo sát một số đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Cao Bá Quát”,…

Nhóm thứ ba là những bài viết có tính chất tìm hiểu những vấn đề còn khúc mắc liên quan đến cuộc đời, con người hay là những tài liệu sưu tầm liên quan đến các giai thoại về cuộc đời Cao Bá Quát của một số tác giả tiêu biểu như: Sở Cuồng, Nguyễn Tường Phượng, Trúc Khê, Nguyên Sa, Lữ Hồ, Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Duy Diễn, Châu Hải Kỳ, Kiêm Đạt, Nguyễn Minh và K.T.X, Thuần Phong, Tảo Trang, Chu Thiên, Hồng Liên, Lê Xuân Giáo, Nguyễn Quỳnh, Phạm Văn Sơn, Vũ Khiêu, Phạm Văn Diêu, Phương Tri, Xuân Diệu, Hoa Bằng, Nguyễn Anh, Tương Huyền, Lê Trí Viễn, Phan Công, Đặng Thanh Lê,

Trang 13

Cũng như với Nguyễn Du, các tác giả từng đề cập đến một, hai khía cạnh biểu

hiện cho con người “bất đắc chí” trong thơ Cao Bá Quát phải kể đến tên tuổi của

Nguyễn Đức Tiến, Phạm Văn Sơn, Mai Quốc Liên, Nguyễn Anh, Dương Quảng Hàm, Phạm Trọng Tâm, Nguyễn Huệ Chi,… Những tác giả này đều có sự nhìn nhận đa chiều khi viết về hiện tượng Cao Bá Quát nhưng điểm thống nhất là công nhận Cao Bá Quát như một nhà thơ lớn của dân tộc với nhân cách, sự nghiệp văn chương rất đáng trân trọng và nghiên cứu Ở khía cạnh con người “bất đắc chí” trong thơ Cao Bá Quát,

ít hay nhiều các tác giả trên cũng chỉ ra những biểu hiện cụ thể hoặc mang tính khái quát cao, rất hữu ích để người viết tiếp cận

3.3 Về những bài viết có liên quan đến đề tài của luận văn

Nhìn chung, chưa có một công trình, bài nghiên cứu nào đi sâu và một cách toàn diện về hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ trung đại từ cuối thế kỉ XIII đến đầu thế kỉ XIX trong từng bình diện biểu hiện mà chủ yếu là tập trung khai thác tâm trạng “bất đắc chí” của từng nhà thơ riêng lẻ, ở một hay hai biểu hiện chưa có tính bao quát Chẳng hạn về Nguyễn Du, nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cũng có nhắc đến và lí giải thái độ “bất đắc chí” của nhà thơ khi làm quan dưới triều Nguyễn là bởi nhà thơ

luôn mang tâm sự day dứt của kẻ bề tôi phải thờ hai chúa trong Khảo luận về Kim Vân

Kiều (1943) Hoài Thanh năm 1960 trong bài viết “Tâm tình của Nguyễn Du qua một

số bài thơ chữ Hán” đăng trên tạp chí Văn nghệ cũng phát biểu có phần tương tự với ý

kiến trên của Đào Duy Anh Năm 1965, trong phần giới thiệu cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du (Nxb Văn học), nhà nghiên cứu Trương Chính cho rằng cái “bất đắc chí” của Nguyễn Du trong những năm làm quan là do hiện thực cuộc sống mà triều Nguyễn gây ra và tâm sự của Nguyễn Du trong hai tập thơ này không nằm ngoài nỗi nhớ nhà, thú săn bắn, cho cuộc đời là bể dâu, muốn về yên nghỉ bên cạnh việc ca tụng lòng tiết nghĩa, phê phán những người hèn hạ, chỉ cầu phú quý công danh,

Sau này, các nhà nghiên cứu Trương Chính, Đào Xuân Quý, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Lộc, Hà Minh Đức, Mai Quốc Liên dù không dùng trực tiếp từ “bất đắc chí” nhưng đều có những lí giải sâu sắc về thái độ, suy ngẫm của Nguyễn Du đối với thời

Trang 14

đại, triều đình, cuộc đời và con người - là những biểu hiện cho tâm trạng “bất đắc chí”

ấy

Trong cuốn “Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du” (1998), tác giả Lê Thu Yến nhiều lần đề cập đến cái chí của Nguyễn Du: con người “hùng tâm tráng

chí”, “mộng lớn chí cao” nhưng cuộc đời đã khiến người tráng sĩ đôi lúc hụt hẫng, trở

thành “con người thất chí” và thơ văn ông chính là bức tự họa rõ nét nhất cho con

người ấy Cuốn sách này còn đề cập đến những biểu hiện khác của “con người thất

chí” – Nguyễn Du trong thơ như chất hùng thời thanh niên, cái bi khi mộng không

thành, chí không đạt, hay là cái thất chí lãng mạn thể hiện ở việc lao vào hưởng

lạc,…[110, tr.65-69]

Về Cao Bá Quát, sử dụng từ “bất đắc chí” đầu tiên để nói về ông phải kể đến

Dương Quảng Hàm Trong Việt Nam văn học sử yếu (1941), Dương Quảng Hàm viết

về Cao Bá Quát: “Ông là một bậc có tài lỗi lạc nhưng không được trọng dụng nên

sinh ra chán nản, bực tức, khinh khi ngạo vật, kết cục làm loạn mà phải giết chết, bởi thế trong thi ca của ông, ta nhận thấy cái tư tưởng yếm thế, tình cảm phẫn uất của một

kẻ bất đắc chí” [38, tr.176]

Nguyễn Đức Tiến (1962) trong bài viết “Sự lập chí của Cao Bá Quát”, có cho

rằng Cao Bá Quát không dừng lại ở cái chí thường thấy ở kẻ sĩ theo Nho học mà là Ý CHÍ ĐẾ VƯƠNG [88, tr.394] Bài viết này có nhiều luận giải hay nhưng tiếc rằng sự đúc kết ở trên đi hơi xa so với những gì văn chương Cao Bá Quát thể hiện

Trong bài viết “Nhân sinh quan của nhà nho Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX qua thi

ca” (1965), Phạm Văn Sơn có đề cập đến chữ “chí” theo chủ trương của Nho giáo,

ông đặc biệt so sánh nhân sinh quan giữa hai con người Nguyễn Công Trứ và Cao Bá

Quát, có đoạn: “Hai người cùng giống nhau ở chỗ cùng ham chuyện thơ thần rượu

thánh, cao sơn lưu ưng vào trường đời đã quan niệm thế sự và thời cuộc khác nhau Nguyễn Công Trứ, vọng mỹ nhân kiểu Tô Đông Pha nhớ cảnh cũ người xưa trên dòng Xích Bích nhưng vào trường đời đã quan niệm thế sự và thời cuộc khác nhau Nguyễn Công Trứ xuất đầu lộ diện vào đời Nguyễn - Sơ tuy tánh tình chẳng tốt đẹp nhưng không chán ghét, trái lại chỉ mong có “mưa dồn sóng vỗ” để “ra tay buồm lái với

Trang 15

cuồng phong, chí những toan xẻ núi lấp sông, làm tiếng phi thường đâu đấy tỏ”… Còn Cao Chu Thần không chấp nhận Nguyễn – triều là chánh thống như hầu hết mọi

sĩ dân Bắc hà thuở ấy, lại thêm vì tài học hơn người tuy đã có khi cố gắng hòa mình vào cái xã hội sông Hương núi Ngự rồi rút cục vẫn không sao tránh được cái cảnh

thuyền xuôi nước ngược, bất như ý” [82, tr.491-492]

Tác giả Nguyễn Anh (1972) trong bài viết: “Cao Bá Quát, kẻ bất đắc chí, con

người nổi loạn hay nhà cách mạng?” cũng đề cập đến Cao Bá Quát như một con

người có tư tưởng cách mạng, “lại sống trong một xã hội quá già nua, bệnh hoạn, có

tài nhưng không được chế độ trọng dụng, với bản tính kiêu ngạo, tự cao tự đại, Cao

Bá Quát trở thành kẻ bất đắc chí”, về sau, “chính biến tháng 10 năm 1864 là cơ hội ngàn năm một thuở để cho Cao Bá Quát có dịp bộc phát tâm thức bất đắc chí, căm phẫn của mình” [1, tr.679]

Hay trong một bài viết gần đây của Mai Quốc Liên “Cao Bá Quát – một thiên tài

kì vĩ của văn học Việt Nam”, có nhận định “Đó là một con người có một hoài bão lớn, một ý chí khác thường, một lòng ưu ái đối với vận mệnh Tổ quốc và nhân dân…” [51,

tr.17]

Có thể mỗi bài viết, ý kiến trên đều có giá trị hết sức lớn lao để người viết tiếp cận, hiểu rõ hơn đề tài và làm nền tảng cho việc nghiên cứu, sắp xếp luận điểm của luận văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn hướng đến việc nghiên cứu một hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh về con người mang tâm trạng “bất đắc chí” bằng thơ trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX qua việc khảo sát phần thơ chữ Hán của hai tác giả lớn tiêu biểu cho giai đoạn này là Nguyễn Du (1765 - 1820) và Cao Bá

Quát (1809 - 1855) Trong đó, Nguyễn Du với Nguyễn Du toàn tập (tập 2) phần Thơ

chữ Hán (250 bài), Mai Quốc Liên - Vũ Tuân Sán dịch nghĩa, chú thích, Nhà xuất bản

Văn học; Cao Bá Quát với 418 bài thơ chữ Hán in trong cuốn Cao Bá Quát toàn tập

(tập một) của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nhà xuất bản Văn học

Trang 16

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu bối cảnh thời đại, cuộc đời – những yếu tố chi phối sáng tác của Nguyễn Du và Cao Bá Quát, từ đó hiểu thêm về nội dung tác phẩm

Phương pháp hệ thống: đặt Nguyễn Du, Cao Bá Quát vào hệ thống những nhà thơ của văn học trung đại, từ đặc điểm riêng của thơ chữ Hán - như một thành tố của

hệ thống mà nhìn thấy đặc điểm chung của thơ ca - vừa phản ánh tâm hồn hai nhà thơ vừa phản ánh cả một thế hệ những nhà Nho cầm bút trước, sau và cùng thời

Phương pháp so sánh được dùng để làm rõ bản chất của đối tượng trong mối tương quan với một số hiện tượng văn học khác như: thơ Nguyễn Trãi, thơ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến,…

Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng với tư cách là phương pháp chủ đạo để tìm hiểu đặc điểm của đối tượng; kết hợp với thống kê, phân loại được sử dụng như một thao tác phụ trợ để làm tăng sức thuyết phục cho những kết luận rút ra từ luận văn

6 Những đóng góp của luận văn

Luận văn đi sâu vào khảo sát từng phương diện biểu hiện của con người “bất

đắc chí” trong thơ chữ Hán của hai tác giả Nguyễn Du và Cao Bá Quát (nhìn từ

phương diện nội dung); cách thức biểu hiện (nhìn từ phương diện nghệ thuật); từ đó khái quát lên tâm sự, nỗi niềm của cả một thế hệ nhà nho tài cao nhưng sinh bất phùng thời

Những kết quả trên có thể áp dụng được vào thực tế giảng dạy, vào việc tiếp nhận tác phẩm thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Cao Bá Quát và các nhà nho khác trong văn học trung đại Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương như sau:

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Trang 17

Trong chương này, luận văn giới thiệu khái quát về xã hội và con người Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX cũng là thời đại sản sinh ra hai tác giả lớn của văn học là Nguyễn Du và Cao Bá Quát với một số nét chính về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp văn học

Sau đó, từ lý thuyết về hình tượng con người nghệ thuật trong thơ ca nói chung, luận văn tìm hiểu nguyên nhân của sự xuất hiện con người mang tâm trạng “bất đắc chí” trong thơ; cùng với đó là sự lí giải về ý nghĩa của cụm từ có nguồn gốc từ tiếng Hán này

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ” TRONG THƠ CHỮ

HÁN CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

Trong chương này, luận văn chỉ ra những biểu hiện về phương diện nội dung của hình tượng con người “bất đắc chí” qua phần thơ chữ Hán của hai tác giả trên các

biểu hiện:

2.1 Con người ý thức cao về tài năng, nhân cách và trách nhiệm của bản thân; 2.2 Con người từ bất hòa với xã hội đến con người nổi loạn;

2.3 Con người bất lực trước thời cuộc;

2.4 Con người ôm nặng nỗi thương mình, đau đời

Chương 3 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ” TRONG THƠ CHỮ

HÁN CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT – NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT

Tiếp nối chương hai, chương ba của luận văn chỉ ra những biểu hiện về phương diện nghệ thuật của hình tượng con người “bất đắc chí” qua phần thơ chữ Hán của hai tác giả trên các bình diện thể loại; cách lựa chọn hình ảnh, từ ngữ; giọng điệu (mạnh

mẽ, tự tin; phẫn hận, khinh bạc; buồn thương, tự trào)

Trang 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Thời đại

Thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến khủng hoảng triền miên Bức tranh chế độ phong phong kiến đã bắt đầu chuyển dần từ gam màu sáng sang gam màu tối và ngày càng đậm nét, phủ lên một không khí xám xịt cho cả bức tranh xét về tổng thể mà ở đó, con người phải vật lộn với nhiều vấn đề từ bên ngoài và cả bên trong chính mình

Nội chiến diễn ra liên tục trong hai thế kỉ trước: hết cuộc chiến LêMạc (1545 1592) lại đến cuộc tranh giành quyền lực giữa chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1627 - 1672) đã chia cắt đất nước thành từng vùng miền và nhấn chìm non sông trong biển máu và sự đói nghèo, trì trệ Sang thế kỉ XVIII, nội chiến tạm chấm dứt nhưng loạn lạc vẫn xảy ra khắp nơi, các cuộc thanh trừng, sát phạt giữa các tập đoàn phong kiến vẫn diễn ra Vua chúa thi nhau ăn chơi hưởng lạc, quan lại xu nịnh, ra sức bóp nặn dân nghèo khiến nhân dân lầm than, khốn khổ cùng cực

-Đó là chưa kể đạo đức xã hội, giáo dục, khoa cử xuống cấp một cách trầm trọng; kinh

tế kiệt quê, đói kém mất mùa xảy ra thường xuyên đến mức Lịch triều hiến chương

loại chí viết: “Người dân bỏ cày cấy, trong làng xóm không nhà nào có thóc gạo dự trữ Dân lưu tán bồng bế dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường Giá gạo cao vọt một quan không ăn được một bữa cho no Dân phần nhiều ăn rễ cây, thịt chuột, thịt rắn

Số dân đi lang thang mười phần chết đói mất chín, những làng xưa có tiếng là trù phú nay chỉ còn có hai, ba nhà mà thôi, ” [13, tr.19] Tất nhiên cũng có những vị chúa có

thực tài, mong muốn thay đổi nhưng lực bất tòng tâm, không thể xoay chuyển được

một xã hội đã mục ruỗng từ rường cột Ở Đàng Trong, dù cuộc sống có dễ thở hơn

nhưng chế độ thuế khóa vẫn không kém nặng nề, có nơi vẫn xảy ra nạn đói

Những mâu thuẫn tồn đọng trong nhiều thế kỉ trước bùng nổ dẫn đến phong trào đấu tranh của nhân dân nổ ra khắp nơi đến mức các nhà nghiên cứu gọi thế kỉ XVIII -

nửa đầu thế kỉ XIX là “thế kỉ của khởi nghĩa nông dân”, tiêu biểu như khởi nghĩa của

Nguyễn Dương Hưng (1737), Lê Duy Mật (1738), Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Ngô Trác Oánh (1739), Hoàng Công Chất (1740) và đỉnh cao là phong trào Tây Sơn (1771)

Trang 19

do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo đã cùng một lúc lật đổ các tập đoàn phong kiến trong nước: nhà Nguyễn (Đàng Trong), chính quyền Lê - Trịnh (Đàng Ngoài) và đập tan các cuộc xâm lược từ hai phía: quân Xiêm và quân Thanh; thống nhất Nam Bắc, xóa bỏ sự chia cắt đất nước tồn tại trên hai thế kỉ Trong thời gian tồn tại 143 năm, nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi hoàng đế Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và sụp đổ hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 đã cố gắng để khôi phục lại địa vị của tư tưởng Nho giáo để làm chỗ dựa cho sự thống trị, đã cố gắng xây dựng bộ máy chính quyền phong kiến theo hướng quân chủ chuyên chế cao độ; cố

gắng trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá song hiệu quả thấp Để bảo vệ quyền lợi của

mình, nhà Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách kìm hãm sự phát triển của đất nước (khống chế hành vi của các nho sĩ cấp tiến, đối ngoại thì “bế quan tỏa cảng”, hạn chế giao thiệp ngoại bang, chống đạo Thiên Chúa, thực hiện chế độ thuế khóa nặng nề ) nên không tạo được những chuyển biến mới, tích cực để đất nước theo kịp sự phát triển của thế giới Vì vậy, trong gần nửa đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn đã làm cho tiềm lực đất nước ngày càng suy yếu, ngày càng nghèo nàn, lạc hậu, không khí xã hội khá căng thẳng, đất nước không đủ sức kháng cự trước những đe dọa của chủ nghĩa thực dân đang đến gần

Một điều đáng chú ý là trong nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, có sự tham gia lãnh đạo của tầng lớp trí thức Điều này đã phản ánh những mâu thuẫn cơ bản đã đến hồi không thể giải quyết được; đồng thời sự sụp đổ thần tượng, sự suy đồi của tư tưởng chính thống và sự hỗn loạn của kỉ cương xã hội là cơ sở làm xuất hiện tư tưởng chống đối tư tưởng chính thống, vượt khỏi khuôn khổ xã hội, tư tưởng tự do dân chủ

cũng dần manh nha Như vậy, “nhà văn sẽ có nhiều khoảng không tự do hơn cho sự

sáng tạo của mình mà chính quyền không đủ sức quản lý và kiểm soát nổi Điều đó hết sức có ý nghĩa đối với sự phát triển văn học” [90, tr.17]

Thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX chứng kiến quá nhiều sự đổi thay đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn học Về mặt tích cực, sự phát triển của kinh tế hàng hóa diễn ra trước đó (từ thế kỉ XVI, XVII) đã dẫn đến sự hình thành một tầng lớp

Trang 20

thị dân, thương nhân, thợ thủ công ở các đô thị lớn với tư tưởng phóng khoáng, tự do, không chịu bó mình trong một số những quan hệ và đạo đức Nho giáo đã trở nên gò

bó, chật hẹp Công việc buôn bán, tiếp xúc với những khuôn khổ ngoài chuẩn mực đạo đức truyền thống đã tạo nên họ cách sống, cách suy nghĩ mới mẻ hơn, từ đó mà thấy được những mặt trái, cứng nhắc, giáo điều với những ràng buộc khắt khe, trái tự nhiên của lễ giáo phong kiến nên có xu hướng đấu tranh đòi sự công bằng Những tác giả và cũng là độc giả này trở thành những khuôn mặt không thể thiếu của đời sống văn học nhộn nhịp và sôi động của giai đoạn thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX

Theo nghiên cứu của Vũ Thanh, riêng từ giữa thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XVIII, trong giới nho sĩ Đàng Ngoài đã bắt đầu diễn ra một cuộc cải cách xã hội được gọi là phong trào Thực học Phong trào này được khởi xướng bởi một số nhà nho cấp tiến, tiêu biểu là Vũ Công Đạo (1629 - 1714, đỗ Tiến sĩ năm 1659, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Công, từng đi sứ Trung Quốc) và Vũ Thạnh (1663 - ?, đỗ Thám hoa năm 1685, làm quan đến chức Bồi tụng), được tiếp nối bởi Nguyễn Tông Quai (1693-

1763, đỗ Hoàng giáp năm 1722, giữ chức vụ Hộ bộ Tả thị lang, hai lần đi sứ Trung Quốc), Lê Quý Đôn (1726 - 1785) và tiếp theo là Bùi Huy Bích (1744 - 1818), Phan Huy Chú (1782 - 1840), Cuộc cải cách đã tập trung vào cách tân nền Nho học đang

sa sút, cách tân nền pháp luật, trong đó thành công hơn cả là cải cách văn chương, chẳng hạn như cổ súy cho việc chú trọng những giá trị thực tiễn của văn chương, đả phá văn phong sáo rỗng, nặng về ca tụng một chiều đạo lí thánh hiền, cổ súy cho người sáng tác phải chú ý đến hiện thực cuộc đời, từ đó dẫn đến những đổi mới căn

bản về nhiều phương diện trong văn học thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX “Đây

chính là giai đoạn văn học chuyển biến từ mối quan tâm đặc biệt tới đạo đức luân lí, tôn giáo sang hướng nhiều hơn đến thực tế đời sống, đến con người Văn học đã trở nên bớt “thiêng”, bớt đi những nội dung đạo lí xa rời thực tiễn, gắn bó với cuộc đời hơn, cụ thể, chi tiết hơn, lấy thực tại làm đối tượng phản ánh Các nhà văn nhà thơ đã hướng đến việc phản ánh những vấn đề của hiện thực đời sống, đặc biệt là cuộc đời của những người có số phận bi đát trong xã hội.” [98, tr.20] Bên cạnh bộ phận sáng

tác, phong trào Thực học cũng thúc đẩy sự phát triển nền học thuật nước nhà, dùng

Trang 21

học thuật biên khảo thực tiễn Tinh thần thực tiễn của cuộc cải cách đã góp phần làm xuất hiện những nhà văn hóa lớn, với những tác phẩm học thuật đồ sộ, với những nhà văn - nhà bác học tiêu biểu như: Nguyễn Tông Quai, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú, Trong sáng tác cũng xuất hiện những “người khổng lồ” như Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều, Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Họ vừa có tâm hồn biết cảm thông với đời của một nghệ sĩ lớn, vừa chứa đựng trong mình những tri thức sâu rộng của một bậc thức giả Sự kết hợp ấy đã góp phần tạo nên những tác phẩm vĩ đại như:

Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Thượng kinh kí sự, Hoàng Lê nhất thống chí, Vũ trung tùy bút, Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc lại xuất hiện một lớp nhà nho đa tài và có

nhiều trước tác giá trị như vậy

Có thể nói, văn học thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX là giai đoạn phát triển rực

rỡ nhất, kết tinh mọi thành tựu tám thế kỉ của văn học Việt Nam trung đại, được mệnh danh là giai đoạn văn học cổ điển và mở ra một thời kì phát triển mới, hết sức thịnh vượng trong đời sống văn hóa và văn học Tất cả các thể loại văn học đến giai đoạn này đều phát triển đến đỉnh cao, hình thành những thể loại được coi như thuần túy dân tộc, xuất hiện những tác giả, tác phẩm thuộc loại lớn nhất trong văn học Việt Nam như hai tác giả Nguyễn Du, Cao Bá Quát - nổi bật với phần thơ chữ Hán mà luận văn chúng tôi đang khảo sát

1.2 Tác giả

1.2.1 Nguyễn Du

Nguyễn Du (1765 - 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan, có thế lực vào bậc nhất đương thời đến mức người địa phương có ca dao nói về dòng họ này:

Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước, họ này hết quan

Cha là Nguyễn Nghiễm, sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, tên

tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên, có biệt hiệu là Hồng Ngự cư sĩ đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm

quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tức Thượng thư bộ hộ triều Lê Ông là một quan

Trang 22

văn, thỉnh thoảng lại cầm quân đi đánh giặc, có công được khen thưởng Nhưng gia đình Nguyễn Du không phải chỉ có nhiều người làm quan mà còn có nhiều người viết sách, làm văn, nghĩa là một gia đình có truyền thống về văn học Nguyễn Quỳnh, ông nội của Nguyễn Du là một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh Dịch Nguyễn Nghiễm một sử gia, đồng thời là một nhà thơ Nguyễn Khản anh cả Nguyễn Du giỏi

thơ Nôm, hay làm thơ đối đáp với Trịnh Sâm, lại là người “ham thích hát xướng, gặp

khi con hát tang trở cũng cứ cho tiền bắt hát, không lúc nào bỏ tiếng tơ tiếng trúc”

Tương truyền Nguyễn Khản là một trong những người có dịch Chinh phụ ngâm của

Đặng Trần Côn ra tiếng Việt Rồi Nguyễn Đề anh cùng mẹ với Nguyễn Du, Nguyễn Thiện cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột, Nguyễn Hành em ruột Nguyễn Thiện đều là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng Mẹ của Nguyễn Du là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, tên

là Trần Thị Tần (1740 - 1778), con gái một người làm chức câu kế, quê làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên Du (Đông Ngàn), xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh Các nhà nghiên cứu căn cứ vào chỗ bà ra đời ở một vùng quan họ nổi tiếng, làng

bà lại có truyền thống hát tuồng và bản thân bà, một cô gái xuất thân từ một gia đình bình thường, lại lấy lẽ một ông quan to trong triều đình, họ phán đoán rằng bà là một

cô gái đẹp và giỏi nghề ca xướng Không có tài liệu nào ghi chép nhưng chắc chắn những năm ấu thơ của Nguyễn Du đã chịu ảnh hưởng từ mẹ Sống trong một môi trường như thế, năng khiếu văn học của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở và phát triển

từ sớm

Những năm tuổi nhỏ, nhà thơ sống trong vàng son, nhung lụa của cuộc sống quý tộc giàu sang nhưng kéo dài không bao lâu, những biến cố dữ dội của thời đại và của gia đình đã nhanh chóng đẩy nhà thơ ra giữa bão táp của cuộc đời Trong hoàn cảnh

ấy, Nguyễn Du đã sống phiêu bạt nhiều năm trên đất Bắc (1786 – 1796) rồi về ở ẩn tại quê nội Hà Tĩnh (1796 – 1802) Sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi (1802), Nguyễn Du ra làm quan bất đắc dĩ với triều Nguyễn Năm 1813 - 1814, ông được cử làm chánh sứ sang Trung Quốc lần thứ hai, nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh, mất

ở Huế, thọ 54 tuổi Mộ ông nguyên táng tại làng An Ninh, huyện Hương Trà (gần sau chùa Thiện Mụ) Năm Giáp Thân (1824), người ta cải táng ông và đưa về quê nhà

Trang 23

Tiên Điền, Hà Tĩnh Lúc nhà thơ qua đời, quan lại ở kinh nhiều người làm câu đối phúng viếng hết lời ngợi ca tài hoa rất mực của nhà thơ Có những câu thơ, câu đối như:

Nhất viện cầm tôn nhân ký khứ Đại gia văn tự thế thanh truyền

(Rượu đàn đầy viện người đi vắng Văn tự hơn đời tiếng dội vang) Hay:

Nhất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh, sinh bất thiểm, Bách niên sự nghiệp, tại gia, tại quốc, tử do vinh

(Một kiếp tài hoa, làm sứ, làm khanh, sinh chẳng thẹn, Trăm năm sự nghiệp, ở nhà, ở nước, chết còn vinh.) Nguyễn Du là người có kiến thức sâu rộng, am hiểu văn hóa dân tộc và văn chương Trung Quốc Cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho Nguyễn

Du một vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu sắc với những đau khổ của nhân dân Năm 1965 ông được Hội đồng hòa bình thế giới của UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới và quyết định kỉ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông Nguyễn Du đã để lại một di sản văn chương đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất,

ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển:

Ở thơ chữ Hán, Nguyễn Du có 3 tập thơ: Thanh Hiên thi tập gồm: 78 bài làm lúc ông đang sống lẩn tránh ở quê vợ và quê nhà Nghi Xuân (1786 - 1804); Nam trung tạp

ngâm gồm: 40 bài là tập thơ sáng tác lúc ra làm quan với triều Nguyễn (1805 - 1813); Bắc hành tạp lục gồm: 132 bài làm lúc phụng mệnh vua dẫn đầu đoàn đi sứ Trung

Quốc (1813 - 1814); tổng cộng 250 bài

Ở thơ chữ Nôm, Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) gồm 3254 câu thơ lục bát và Văn tế thập loại chúng sinh gồm 184 câu viết theo thể

song thất lục bát Ngoài ra, ông còn có một số tác phẩm đậm chất dân gian như Văn tế

sống hai cô gái Trường Lưu và bài vè Thác lời trai phường nón

Trang 24

Nguyễn Du là tập đại thành của văn học phong kiến, là người kế thừa một cách sáng tạo truyền thống tốt đẹp của văn học dân tộc và nâng truyền thống ấy lên một đỉnh cao chói lọi; là nhà thơ nhân đạo lỗi lạc với tấm lòng sâu sắc, bao dung, đồng thời ông đã dùng ngòi bút phê phán hiện thực mạnh mẽ, sắc bén Sáng tác của Nguyễn Du

là sự kết tinh những thành tựu chữ Hán và chữ Nôm của dân tộc, tổng hợp tinh hoa của

nhiều thể loại văn học để sáng tác Truyện Kiều Với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã có

công lớn trong việc đưa ngôn ngữ văn học tiếng Việt lên trình độ điêu luyện, cổ điển Với những tập thơ chữ Hán, Nguyễn Du khẳng định cái mẫu mực của một bậc tài nho

và tầm vóc lớn của một tâm hồn ưu thời mẫn thế, luôn lộng gió thời đại Từ những đóng góp đó, ông thật xứng đáng với danh hiệu Đại thi hào dân tộc và Danh nhân văn

hóa thế giới

1.2.2 Cao Bá Quát

Cao Bá Quát (1809 - 1855) tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc ngoại thành Hà Nội Ông sinh trong một gia đình nhà nho, tiên thế từng có nhiều người đỗ đạt, làm quan như Cao Bái Hiên, Cao Cửu Chiếu, Cao Huy Diệu, Cao Dương Trạc; đồng thời với Cao Bá Quát có Cao Huy Tố, Cao Xuân Nguyên, Cao Duy Tân cũng là những người thành danh Thân sinh Cao Bá Quát là Cao Huy Giảng tuy là nhà nho danh tiếng nhưng không ra thi cử để hiển đạt, tất cả hi vọng gửi vào việc dạy dỗ hai người con trai Bá Đạt và Bá Quát Cho nên, thuở nhỏ, Cao Bá Quát được cho đi học rất sớm và nổi tiếng

là thông minh, học giỏi, lại sớm có ý thức về tài văn chương của mình

Cao Bá Quát còn là một người phóng khoáng, thích tự do như sau này ông tự nhận trong thơ:

Thiếu niên tâm tích tảo thanh cuồng,

Dĩ bả thành khuy tính lưỡng vương (vong)

(Từ thuở trẻ tính nết đã phóng khoáng rồi, Đôi đường thành hay bại đều không để trí nhớ.)

(Cấm sở cảm tự, túng bút ngẫu thư)

Trang 25

Bởi vậy, ông ưa làm theo ý mình, ít khi chịu theo khuôn phép Nết ấy, ngay từ nhỏ, ông thân sinh của Cao Bá Quát đã nhận thấy trong lời văn của con mà nhận xét:

“… Văn của Bá Quát hơn về tài tứ nhưng kém về khuôn phép” Sau này, nó biểu lộ

trong mọi hành động của ông: đi thi làm bài thì cứ lấy ý riêng của mình mà suy luận, nên đi thi Hương từ năm mười bốn tuổi, năm hai mươi ba tuổi mới đỗ cử nhân Sau đó trong chín năm, cứ ba năm một lần vào Huế thi Hội nhưng lần nào cũng bị đánh hỏng Năm 1841, ông được gọi vào Huế để giữ một chức tập sự ở Bộ Lễ Chẳng bao lâu sau khi làm việc ở Bộ Lễ, ông bị bắt giam và chịu cực hình tra tấn trong gần 3 năm vì khi làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, ông đã dùng muội đèn chữa những chỗ phạm trường quy trong hai mươi tư quyển thi đáng được lấy đỗ Việc bị phát giác, ông bị bắt giam, bị tra tấn rồi bị kết vào tội chết, sau giảm xuống tội giảo giam hậu, tức được giam lại đợi lệnh Sau gần ba năm bị giam cầm khổ sở, ông được triều đình tạm tha, nhưng phải đi xuất dương hiệu lực (để lấy công chuộc tội) trong phái bộ do Đào Trí Phú làm trưởng đoàn Khi về nước, ông bị thải hồi Bốn năm sau được cử đi làm giáo thụ ở Quốc Oai (Hà Tây), một vùng hẻo lánh lúc bấy giờ

Cuộc đời với nhiều thăng trầm mang lại cho con người chuộng cởi mở như Cao

Bá Quát cơ hội được đi nhiều, tiếp xúc nhiều với nhiều người, nhiều cảnh đời, nhiều nền văn hóa khác nhau Những dịp này đã giúp Cao Bá Quát có cái nhìn sâu sắc hơn

về đời sống của nhân dân mình, về những giá trị tinh thần của dân tộc đồng thời cũng

nới rộng một tầm nhìn, một cách nghĩ trước những cái lạ mắt “Ở Cao Bá Quát có sự

phá vỡ cách sống, cách nghĩ của một tri thức Nho gia.” [54, tr.11] Chính lẽ đó, về

sau, năm 1855, vùng Sơn Tây, Bắc Ninh xảy ra hạn hán nặng, nạn châu chấu quấy phá làm mùa màng thất bát, nhân dân cực khổ đã nổi dậy chống triều đình, Cao Bá Quát nhân đó bắt tay với những người chủ chốt, mượn cớ khôi phục nhà Lê, tôn Lê Duy Cự làm “minh chủ”, tự xưng là “Quốc sư”, tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại triều đình nhà Nguyễn nhưng bị đàn áp thẳng tay nên cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị chết trong một trận đánh Nhà Nguyễn còn ra lệnh “tru di tam tộc” họ Cao, truy sát hậu duệ, tiêu hủy tác phẩm của Cao Bá Quát

Trang 26

Có thể nói, suốt cuộc đời Cao Bá Quát là một cuộc hành trình không nghỉ, với đủ thăng trầm và cung bậc cảm xúc; cuối cùng là tìm được đường đi cho mình để thực hiện khát vọng suốt một đời người Thất bại của một Cao Bá Quát tuy là tất yếu song

nó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho những kẻ đứng đầu xã hội lúc bấy giờ, cũng là lời cổ vũ cho những cá nhân không thể hòa hợp với hoàn cảnh, bị hoàn cảnh vùi dập đứng lên để đấu tranh, dù phải hi sinh

Về sự nghiệp văn chương, ông để sáng tác rất nhiều Nhưng sau án “tru di tam tộc”, tác phẩm của ông bị thất tán, tản mác hoặc lẫn lộn với các tác giả khác Dẫu vậy, nhờ công sức của rất nhiều thế hệ, cho đến nay, thơ văn của ông ngày càng được tập hợp và công bố khá đầy đủ, cụ thể là gần một nghìn bốn trăm bài thơ và hơn hai chục bài văn xuôi Ngoài ra, Cao Bá Quát còn là tác giả của một số bài phú Nôm và hát nói Thơ ông mới mẻ, phóng khoáng, chú trọng tình cảm tự nhiên của con người, đương thời rất được mến mộ Ông được tôn là THI THÁNH, là thiên tài kì vĩ của thi ca Việt Nam như lời khen tặng tương truyền là của vua Tự Đức:

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường

Xét về vị trí lịch sử, ông là nhà thơ lớn sáng tác bằng chữ Hán kế sau Nguyễn

Du “Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, ông là đại thi hào của dân

tộc Việt Nam, đặt nền tảng cho nền văn học uyên bác nước nhà thời trung đại, thấm đẫm tinh thần nhân văn, đại nghĩa, đạt đến tuyệt đỉnh về nghệ thuật.” [67, tr.5]

1.3 Sự xuất hiện hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ trung đại

Việt Nam từ cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX

Theo Trần Đình Sử:

“Con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của văn học Dù là tác phẩm trữ tình,

tự sự, kịch, dù trực tiếp hay gián tiếp thì văn học đều miêu tả con người Nhân vật là hình thức miêu tả con người một cách tập trung ( ) Nhân vật văn học được biểu hiện trong văn học bằng các phương tiện văn học ( ) Nói một cách khái quát, nhân vật văn học là con người được miêu tả ra bằng các phương tiện văn học.” [83, tr.26-27]

Một trong những phương tiện đó chính là hình tượng nghệ thuật

Trang 27

Theo Từ điển thuật ngữ Văn học: “Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của

phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và cải tạo hiện thực theo quy luật của nghệ thuật”

[40, tr.98] Đó là chất liệu cụ thể mà chúng ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Hình tượng nghệ thuật có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận Nhưng nói đến hình tượng nghệ thuật, người ta thường nghĩ tới hình tượng con người với những chi tiết biểu hiện cảm tính phong phú

Nói về hình tượng con người trong văn học trung đại, Trần Đình Sử cho rằng đó

là con người vũ trụ, con người đạo đức, con người đấng bậc và con người cá nhân Gắn với đề tài của luận văn, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến hình tượng con người cá nhân ý thức cao về cái tôi của mình trong giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ

XVIII Trong giai đoạn này, về cơ bản con người cá nhân được “khẳng định trên bình

diện tinh thần, như một thực thể tinh thần, siêu nghiệm dưới các hình thức tu dưỡng, lựa chọn xuất xử, hoàn thiện nhân cách, tự hạn chế nhu cầu vật chất, tự đối lập với thói tục Con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn mình với đạo, với tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của cộng đồng Yếu tố quyền lợi cá nhân chưa được chú ý [80, tr.194] Còn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, “con người trong văn học đã kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhân như một quyền tự nhiên” [80, tr.194] Nhất là ở giai đoạn cuối thế kỷ

XVIII, xã hội phong kiến Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Mọi chân giá trị của xã hội bị đảo lộn hay băng hoại Đây cũng là thời đại khởi nghĩa của nông dân Chính từ điều kiện xã hội ấy, ý thức cá nhân bắt đầu trỗi dậy Con người cá thể cảm thấy bị trói buộc nặng nề phi lý của đạo lý, của lễ giáo phong kiến, của hệ

thống ước lệ thẩm mỹ phong kiến Trần Đình Sử trong bài viết “Con người cá nhân

trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII” đã chỉ rõ: “Quá trình tự ý thức cá nhân ở đây gắn liền với quá trình sụp đổ của các khái niệm giáo lý, sự phai nhạt của hào quang, của thánh hiền, do đó mang tính chất là một cuộc phát hiện lại, một sự thể nghiệm lại Đây cũng là quy luật chung của ý thức cá nhân trong văn học trung đại các dân tộc nói chung” Cũng trong bài viết này, nhà nghiên cứu chỉ ra các biểu hiện cụ thể của

Trang 28

một số tác giả tiêu biểu Đó là con người cá nhân lo sợ tuổi trẻ chóng tàn trong Chinh

phụ ngâm (thế kỉ XVIII) của Đặng Trần Côn; giá trị hư ảo, vô nghĩa của cá nhân con

người trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741 - 1798); con người cá

nhân bản năng trong thơ Hồ Xuân Hương (thế kỉ XVIII -XIX); con người cá nhân cô

đơn, xót mình đầy tâm trạng trong thơ chữ Hán và Truyện Kiều của Nguyễn Du Để

rồi tất cả tạo nên hình tượng con người cá nhân trong thơ hài hòa, tự tin, phong lưu, tự

do, đứng trên mọi sự tính toán, được mất, khen chê Đấy là bước phát triển cao nhất của ý thức cá nhân mang nội dung phong phú, hài hòa trong văn học Việt Nam thời trung đại

Qua quá trình khảo sát, chúng tôi có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng mạnh mẽ Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị đương thời nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống Điều này là nền tảng vững chắc về mặt lý thuyết để người viết đi vào tìm hiểu hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ trung đại cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX với những biểu hiện cụ thể xuất phát từ ý thức cá nhân phát triển ở một mức độ cao hơn so với thời kì trước đó

Nhắc đến sự xuất hiện hình tượng con người cá nhân mang tâm trạng “bất đắc chí” không thể không nhắc đến lực lượng sáng tác Về lực lượng sáng tác của văn học giai đoạn này phải nói đến sự lớn mạnh cùa đội ngũ những “nhà nho tài tử” - những con người ít chịu khép mình trong khuôn khổ chật hẹp của lễ giáo phong kiến xuất hiện trong bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa giai đoạn thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX như đã trình bày ở trên, đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các “nhà nho tài

tử” Họ là ai? Trần Đình Hượu cho rằng “những tìm tòi ( ) đáng quan tâm nhất ( ) là

những tìm tòi trong tầng lớp sĩ (…) họ luôn luôn phải suy nghĩ về cách sống, nghĩ về những vấn đề trách nhiệm, hạnh phúc, lạc thú, về ý nghĩa cuộc sống Vấn đề làm day dứt các thế hệ nhà nho là lựa chọn “xuất, xử”, ra làm quan hay rút lui ẩn dật ( ) Cuộc đấu tranh tư tưởng lặp đi lặp lại như thế tạo ra hai hình tượng văn học, hai mẫu

Trang 29

nhà nho: người hành đạo và người ẩn dật Người hành đạo chỉ tìm lẽ sống của mình trong học thuyết Nho giáo Nhưng người ẩn dật phải cầu viện đến học thuyết Lão Trang hay Phật, tìm ý nghĩa cuộc đời ngoài cái Nho giáo chỉ cho họ Về sau, khi đô thị

đã phát triển mạnh, những nhà nho nghệ sĩ quen sống cuộc sống đô thị, tìm hạnh phúc

và lạc thú theo một hướng khác ( ) là [những] “nhà nho tài tử” (1986) [46, tr.119]

Qua trường hợp các truyện Nôm tài tử giai nhân, Trần Đình Hượu cho rằng: “Tài tử

cũng là nho sĩ ( ) ( ) nhưng lí tưởng làm người của họ ( ) không ở chỗ tu thân, hành đạo, trí quân trạch dân mà là thoả mãn tính cách thị tài và đa tình (…) Họ không quan tâm nhiều đến nghĩa quân thần, ( ) đến trách nhiệm với xã hội và còn đi xa hơn nữa đối lập tình với tính, tài với đức, tự coi là những cá nhân chứ không còn là thần tử ( ) Ước mong tự do và hạnh phúc chỉ mới đặt ra trong một phạm vi hẹp là tình yêu ( ) Tài tử là những nhà nho chưa thể gọi là “bội đạo”, “li kinh” nhưng rõ ràng đã

xa rời quĩ đạo chính thống, tức là những nhà nho tu thân hành đạo hay ẩn dật theo lẽ xuất xử”(1988) [47, tr.131] Theo ông, có thể chia các nhà nho sáng tác văn học thành

hai nhóm, “một nhóm tương đối chính thống và nhóm khác ít nhiều thoát li chính thống Thuộc xu hướng chính thống là văn chương những nhà nho hành đạo, gắn văn

chương với Đạo, Lí (…) Thuộc xu hướng phi chính thống là văn chương của các nhà nho coi trọng tự do tự tại của cá nhân ( ) thường có trong các nhà nho ẩn dật ( ) Ẩn dật và hành đạo không đối lập nhau mà thường lại thống nhất trong mỗi người (…)

Đối lập với mẫu người hành đạo - ẩn dật ( ) là “nhà nho tài tử” (1988) [44, 252] Sau này ông còn tiếp tục giới thuyết kĩ hơn khi cho rằng: “Chúng tôi chia nhà

tr.251-nho - chỉ kể trong phạm vi sáng tác văn học - ra làm ba loại: nhà tr.251-nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử Nhà nho hành đạo không phải là tất cả những người thi

đỗ, làm quan; nhà nho ẩn dật không phải là tất cả các ẩn sĩ, nhất là không phải những người chủ trương thoát tục; còn nhà nho tài tử thì cần đến một thuyết minh phức tạp hơn; không nên lầm lẫn với khái niệm “tài tử” thường dùng mà cũng không đồng nghĩa với khái niệm “tài tử” mà Kim Thánh Thán dùng để đánh giá một số tác phẩm văn học Trung Quốc ( )”

Trang 30

Như vậy, nhà nho tài tử là những người thị tài (đề cao tài năng của mình, vốn là điều cấm kị của những người học ở “cửa Khổng sân Trình”) Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát đều là những người thị tài, có tài năng xuất chúng và luôn đề cao tài năng của mình Họ cũng là những người liên tài, tức là biết đến và cảm thông với tài năng của người khác, Nguyễn Du chính là đại diện tiêu biểu cho người liên tài Đa số sáng tác của ông đều viết về những người có tài Nhà thơ phát hiện ra tài năng của họ, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp và cảm thông những người tài hoa mà bị cuộc đời vùi dập, không được xã hội chấp nhận Các nhà nho tài tử cũng là những người đa tình (đề cao chuyện tình cảm, đặc biệt là tình yêu nam nữ, những tình yêu ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến và cảm thông với nỗi khổ về tinh thần và thể xác của người khác) Tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng và cảm thông với những con người thiệt thòi về tinh thần trở thành đề tài quan trọng bậc nhất của văn học đương thời

Có thể nói những nhà nho tài tử hết sức đông đảo và là lực lượng tinh hoa nhất tạo nên thành tựu chủ yếu của văn học giai đoạn này Họ chính là tác giả của truyện Nôm bác học, ngâm khúc và hát nói hay văn thơ chữ Hán với nhiều cách tân, vượt thoát khỏi khuôn khổ của thơ ca xưa, gắn bó sâu sắc hơn với đời sống Bởi không phải nhà nho tài tử thì khó có thể viết được hát nói với hát nói gắn liền với nghệ thuật trình diễn ca trù, gắn với sinh hoạt diễn xướng của ả đào, kĩ nữ Không phải các nhà nho tài

tử cũng khó có thể sáng tác được một truyện Nôm bác học hay, một khúc ngâm làm xao động lòng người, bởi để viết được những tác phẩm xuất chúng ở giai đoạn này, đòi hỏi người sáng tác phải trải nghiệm, lăn lộn nhiều hơn với tình trường, tình đời - điều

mà một nhà nho chính thống khó có thể “nhập cuộc”

Thêm nữa, những biến động xã hội và văn học (đặc biệt là trong lực lượng sáng tác, lực lượng độc giả mới) đã dẫn đến những thay đổi trong quan niệm sáng tác Văn học xa rời dần mục đích tải đạo, hướng nhiều đến cuộc đời Các nhà văn tập trung viết

“những điều trông thấy”, “nghe thấy”, cảm nhận thấy Sự phát triển chín muồi và đồng

bộ của các phương diện văn học, sự tác động mạnh mẽ mang tính thực tiễn, thực chứng của phong trào cải cách đã tạo nên ý thức về hiện thực một cách rõ rệt ở người sáng tác Tính hiện thực và tính thực tiễn của văn chương trở thành những tiêu chí

Trang 31

quan trọng mang tính thời đại của các tác phẩm văn học Các nhà văn nhà thơ nói

nhiều đến chữ “Tâm” (“Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” - Nguyễn Du), cảm thông

với những thân phận đau khổ Chức năng nhận thức, chức năng thẩm mĩ trở nên quan trọng hơn chức năng giáo huấn vốn đóng vai trò chủ đạo trong văn học nhà nho Bên cạnh thứ văn chương nghiêm túc tải đạo, dạy đời là thứ văn chương để chơi, để tặng,

để hưởng thụ, để cảm thông, để đả kích, để phê phán và giễu nhại Bên cạnh các chủ

đề trung tâm truyền thống nặng về ca ngợi là thứ văn chương vị đời, thứ văn chương

“ngoài lề”, “giải trung tâm”, thứ văn chương “ngoại biên” của Đặng Trần Côn,

Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Vũ Trinh, Quan niệm về cái đẹp, về đạo đức cũng khác trước rất nhiều, điều đó thể hiện một cách mạnh mẽ tiêu biểu như trong

Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du khi ông ca ngợi vẻ đẹp và đạo đức nhân cách,

sự trinh tiết của một kĩ nữ như Kiều hay vẻ đẹp kì lạ trong các bài thơ viết về người phụ nữ của Hồ Xuân Hương,

Nói thêm hơn về những nhà nho đương thời, bên cạnh những nhà nho bình dân bao gồm những người theo nghiệp nghiên bút nhưng đỗ đạt thấp đành lấy việc dạy học làm vui thì không thể không thể không nhắc đến những nhà nho được học hành đầy

đủ, đỗ đạt làm quan như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Họ là những nhà nho thi sĩ mang tư tưởng tiến bộ, tài cao, chí tại bốn phương nhưng không được trọng dụng hoặc cảm thấy bất lực trước thời cuộc Cuộc đời làm quan chưa hẳn hanh thông thậm chí có lúc rơi tình cảnh cùng cực của đau đớn; sự khác biệt giữa thực tế đời sống của nhân dân, cá nhân và lí tưởng Nho giáo, lí tưởng bản thân khiến họ chất chứa nhiều tâm sự Họ gửi nỗi niềm đó vào thơ, mượn thơ để nói hộ lòng mình dù rõ rệt hay kín đáo Hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ cũng vì vậy mà hình thành

Vậy nên hiểu như thế nào về ý nghĩa ba chữ “bất đắc chí”? Về chữ “chí” và tầm

quan trọng của nó thực ra đã được Khổng Tử nhắc đến và được ghi lại trong tự thuật ở

Luận ngữ khi ông nhắc việc “thập ngũ chí nhi vu học” (mười lăm tuổi đã lập chí vào

việc học) Sau này đến Chu Hy (1130 - 1200), người dựa vào kinh sách của Nho giáo

mà sáng lập ra Tân Nho giáo nhấn mạnh thêm rằng: con người có tâm, tâm vốn được

cấu tạo bởi “khí” thanh khiết nhất, chính là “căn” (cội rễ) Nó phải được chăm sóc,

Trang 32

giữ cho thanh khiết nếu con người muốn cư xử như mình cần cư xử Ông thường

khuyên học trò mình “chính kỳ tâm” hoặc “tìm lại cái tâm đã mất” Cái giúp “chính

kỳ tâm” chính là “chí”, được Chu Hy giải thích là mục đích hoặc khuynh hướng của

tâm; hoặc theo nghĩa đen là “nơi tâm đứng đầu” Con người phải cố gắng giữ chí cho vững vàng vì nếu chí mạnh mẽ và kiên định, nó sẽ dẫn dắt tâm theo chính đạo, đi đến

sự lĩnh hội “lý” và tránh những ham muốn xấu xa Và “lập chí” là một trong những

điệp khúc mà Chu Hy thường xuyên khuyên nhủ học trò, cũng là nhiệm vụ mà người nho sĩ phải hoàn thành [26, tr.137-150]

Về ý nghĩa, theo Trần Đại Vinh trong Sổ tay từ ngữ Hán Việt Ngữ văn THCS: chí

là “lòng mong muốn” [108, tr.26]; theo Nguyễn Trọng Khánh trong Sổ tay từ ngữ Hán

- Việt dùng trong nhà trường”: “tấm lòng mà kẻ sĩ hướng tới, chí hướng” [31, tr.56];

theo Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt: “Ý muốn bền bỉ theo đuổi một việc gì tốt

đẹp” (danh từ) [59, tr.194]; theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì “chí” là “cái lòng muốn - ý riêng” [2, tr.160] Như vậy,“bất đắc chí” (chữ Hán viết 不得志) là một

cụm danh từ với danh từ chính là “chí” và phụ ngữ “bất đắc” có nghĩa là thể hiện ý

chí lớn (có thể là chí nam nhi, chí công danh, chí nhàn dật, chí lo đời, ) nhưng không thể hoặc không có điều kiện thực hiện được để thỏa ý nguyện; hay vì một lí do nào đó

mà bị vùi dập tạo ra sự phẫn nộ, uất ức Những uất ức không được giải tỏa, lâu ngày dồn nén tạo nên sự bất bình, phá phách Điều đó cần đến một sự giải tỏa nên họ thường có thái độ bất cần Đây là từ thường dùng để chỉ tình cảnh, tâm trạng của các nhà nho thời xưa Nó đã manh nha thể hiện trong thơ ca trước thế kỉ XVIII nhưng chưa thật trọn vẹn, một mặt vì lúc đó chế độ phong kiến vẫn còn là những trang vàng trong lịch sử dân tộc, mâu thuẫn giữa những con người tài cao chí lớn với xã hội phong kiến chưa đến mức gay gắt; một mặt vì cái phi ngã trong văn học trung đại vẫn còn kềm tỏa người viết trong việc bộc lộ cái tôi cá nhân trong các sáng tác của mình

Các nhà nho thi sĩ giai đoạn cuối thế kỉ XVII nửa đầu thế kỉ XIX hầu hết đều mang tâm trạng “bất đắc chí” ấy, có chăng là cách họ biểu hiện mỗi người khác nhau

mà thôi nhưng điểm chung là mượn thơ ca để nói hộ lòng mình cho nên hình tượng con người “bất đắc chí” trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du và Cao Bá Quát cũng là

Trang 33

một sản phẩm của thời đại, vừa mang đặc điểm của con người vũ trụ, con người đạo đức vừa có ý thức cao về cá nhân đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, dân tộc; từ con người bất hòa với xã hội đến con người nổi loạn; để rồi khi không thay đổi được gì, họ rơi vào trạng thái bất lực, ôm nặng nỗi thương mình và đau đời Mỗi nét tâm trạng ấy

có mỗi cách biểu hiện riêng từ cách lựa chọn thể thơ, ngôn ngữ thơ đến giọng điệu, Tất cả dù trên phương diện hình thức hay nội dung đều giúp người đọc có thêm hiểu biết về thế hệ những người cầm bút đương thời

******

Có thể thấy, Nguyễn Du và Cao Bá Quát là hai nhà thơ lớn của dân tộc đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, được nhiều độc giả yêu mến, tìm hiểu, nghiên cứu Cuộc đời của hai nhà thơ có nhiều điểm tương đồng: cùng sinh ra vào thời thế loạn lạc, cùng theo nghiệp bút nghiên nhưng ít nhiều không bằng phẳng trên con đường hoạn lộ; trải qua nhiều thăng trầm trong một thời đại với nhiều biến động; đồng thời cả hai đều có

cơ hội đi nhiều nơi, tiếp xúc được nhiều người trong và ngoài nước nên tầm nhìn rộng

mở, tư tưởng phóng khoáng,… Đó là cơ sở thời đại và cá nhân đưa đến sự hình thành con người “bất đắc chí” trong thơ của hai tác giả Cộng thêm với tài năng nghệ thuật đặc biệt, con người “bất đắc chí” trở thành một hình tượng đặc biệt nổi bật trong thơ hai ông, rất đáng để chúng ta tìm hiểu, khám phá và khẳng định giá trị Từ con người trong đời thực mà hiểu thơ, từ con người trong thơ ca mà hiểu thêm con người trong đời thực Hai hướng đi nhưng chỉ một mục đích là làm rõ hơn những nhận thức của người yêu văn chương về những tác phẩm, về những con người cách chúng ta một khoảng cách lớn về thời gian và không gian, tư tưởng, tình cảm và thời đại

Trang 34

Chương 2 HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI “BẤT ĐẮC CHÍ”

TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU VÀ CAO BÁ QUÁT –

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Con người ý thức cao về tài năng, nhân cách và trách nhiệm của bản thân

Mỗi người chúng ta thường tự hỏi: “Mình sinh ra là ai? Mình sống để làm gì và

sống cho những gì? Mình phải sống như thế nào?, ” Trả lời những câu hỏi muôn

thuở ấy cũng chính là xác định cho mình một nhân sinh quan cần có, xác định con đường cần phải đi, một nếp sống, nếp nghĩ cần phải theo để đạt được một cuộc sống tinh thần, vật chất sung sướng, thoải mái trong cuộc đời này Với những bậc cao nhân,

họ đòi hỏi phải có những câu trả lời lí tưởng, nghĩa là một cuộc sống lí tưởng khác với nếp sống, nếp nghĩ của thường nhân bởi nếu không đạt tới cái phi thường, cuộc sống của kẻ sĩ sẽ không còn ý nghĩa

Bởi vậy, kẻ sĩ theo học thuyết Khổng Tử là kẻ sinh ra để “lập chí” - phục vụ

nhân sinh, coi nước trọng hơn nhà, coi xã hội hơn gia đình, coi người hơn ta, lấy việc giúp đời làm mục tiêu và cũng đặt hạnh phúc, danh dự của mình ở đó Họ chủ trương:

“chí tang bồng hồ thỉ, chỉ lập công chí lưu danh, chí phụng sự” - làm cội rễ cho mọi

hành động từ thiếu thời cho đến khi có tuổi tác Nói như Nguyễn Công Trứ về công danh:

Vũ trụ chi gian giai phận sự, Nam nhi đáo thử thị hào hùng

(Việc đời đều coi là phận sự của mình Làm trai như thế mới đáng mặt hào hùng.)

(Kẻ sĩ)

Ông thường nhắc trong mỗi bài hát nói những chữ nợ nam nhi, nợ tang bồng, nợ

công danh, cả đến nợ “trung hiếu, nợ sách đèn”, nói chung nợ đời Mà công danh thì

phải lập, nợ đời thì phải trả bởi để làm tròn phận sự hiếu tử, trung thần Ông cho rằng người nam nhi, nhất là người anh hùng hào kiệt sinh ra là do cái tú khí của non sông chung đúc Sinh ra với sở bẩm thông minh, tài giỏi như vậy, khác nào như nhận lĩnh một kho tàng quý báu của trời đất, vậy phải tiêu dùng thi thố lập ra công nghiệp để trả

Trang 35

nợ hoá công Người trả nợ không ai khác là đấng nam nhi “hữu chí”- anh hùng và tài

tử Cho nên, cuộc đời kẻ sĩ là hành trình trả những món nợ độc đáo ấy - là hành trình

“lập chí” và đem cái “chí” ấy biến thành hành động có ích, để “tiến vi quan”; và nếu không được, hoặc chưa được, thì “thối vi sư” “Quan” hoặc “sư” - là để thoát kiếp nông dân, là để vượt lên một đẳng cấp khác, được gọi chung là Kẻ Sĩ Mà muốn lọt vào thế giới quan trường là phải dấn vào con đường văn chương - cử nghiệp; là phải khởi nghiệp bằng văn chương Ở đây văn chương không phải là một trong nhiều nghề như cách hiểu của chúng ta bây giờ, có khởi đầu từ Tản Đà và vẫn còn xa lạ với Tú

Xương Bởi văn chương là tất cả Nó là kinh điển Nho gia Nó là cái dạy người ta tu

thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Nó là đạo - đạo làm người, đạo làm quan Nó là chí

- chí lập thân, lập nghiệp Văn chương là thứ cẩm nang để chỉ dẫn mọi suy nghĩ, ứng

xử, hành động của con người

Trong hành trình ấy, kẻ sĩ xử thế có ba giai đoạn Giai đoạn còn tiềm ẩn hoặc chưa đắc thời thì phải tồn tâm, dưỡng tính, tu thân, giữ cương thường, nuôi chính khí, vui cảnh nghèo Thời hiển đạt là sau khi “rồng mây gặp hội” đem tài lương đống và mũi can tương lập công nghiệp để lưu danh bách thế, trả nợ vũ trụ Thời nhàn dật là sau khi công thành danh toại, rút lui về nơi tuyền thạch, tiêu dao sơn thuỷ, hưởng những thú thi tửu cầm kì; thậm chí như quan niệm của Nguyễn Công Trứ - cái công danh đã lập nên một cách gian nan ấy, chẳng nên để mình bận tâm mà tham lam luyến tiếc Đó chính là con đường mà kẻ sĩ cần phải đi dù trước họ, có biết bao người hữu chí mà vô lực với cuộc đời; dù cùng thời với họ, có biết bao người bách niên hữu chí vẫn nằm co, được bao nhiêu kẻ có thể đi hết cả ba chặng đường một cách trọn vẹn mà không trải qua những quanh co, gập ghềnh Họ là con người xã hội - phận sự, con người hành động - dấn thân, cống hiến và khởi đầu cho tất cả điều đó là dùi mài kinh

sử, rèn võ luyện tài để cho chữ đầy túi, thơ đầy tâm, văn võ kiêm toàn, lúc xử thế thì giữ hạnh rất cao, lúc xuất thì phục vụ rất hùng, để rồi sau hết, công thành danh toại, sẵn sàng coi giàu sang như cái dép rách, ném đi mà lui về với cuộc sống lâm tuyền Cho nên điều đầu tiên và dễ nhận thấy nhất ở các nhà nho “bất đắc chí” đó là họ đều là những người có tài cao, chí lớn và hữu tâm với cuộc đời Họ ý thức cao về tài

Trang 36

năng và nhân cách của bản thân, đặt trong mối quan hệ với xã hội, với những kẻ đạo đức giả, ra vẻ đạo mạo, có học thức đương thời

Điều này ta có thể thấy ở Nguyễn Công Trứ - người vẫn được coi là một đại diện xứng đáng và cuối cùng của Nho giáo Việt Nam - khi giữa thanh thiên bạch nhật dám

vỗ ngực xưng danh:

Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng Khi thủ khoa, khi tham tán, khi tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây cờ đại tướng

Có khi về phủ doãn Thừa Thiên

Với Nguyễn Du là một người xuất thân trong một gia đình danh gia vọng tộc, thuở nhỏ được học hành đàng hoàng, lớn lên lại có sự từng trải nên vốn văn chương, vốn hiểu biết về cuộc đời đủ để tự hào Chính ông từng nhận mình rằng:

Tam thập hành canh lục xích thân,

Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân

Bản vô văn tự năng tăng mệnh,

Hà sự kiền khôn thác đố nhân?

(Tấm thân sáu thước tuổi ba mươi,

Vì thông minh làm sai lệch tổn hại đến tính chân thực trời phú cho

Vốn chẳng có văn chương có thể ghét số mệnh,

Thì sao trời đất ghét lầm người [làm văn chương]?)

(Tự thán II, ND) Câu thơ trên, Nguyễn Du dùng “lục xích” là khiêm tốn coi mình là người non

dại, chưa trưởng thành nhưng bên cạnh đó cũng mang một sự nhìn nhận bản thân vừa thông minh vừa giỏi chuyện văn chương

Ông còn ví mình là con chim đẹp hay văn chương lúc bình sinh như chim

phượng (Tống Nguyễn Sĩ Hữu Nam quy); tự nhận mình là bậc “đạt nhân” (tức người thấu hiểu đạo lý của cuộc sống) trong Tạp ngâm II, “thái phác” (ngọc trong đá) trong

Ký hữu, là bậc “anh hùng” trong Xuân tiêu lữ thứ; là kẻ “cao tài” (tài cao) trong

Trang 37

Ninh Minh giang chu hành; kể cả khi về già nhớ lại: “Tráng niên ngã diệc vi tài giả”

(Thuở trẻ ta cũng có tài ví như cây gỗ tốt - Vĩnh Châu Liễu tử hậu cố trạch) hay là kẻ

có chí cao qua hình ảnh kiếm dài tựa trời xanh trong Khất thực: “Tằng lăng trường

kiếm ỷ thanh thiên” (Ngạo nghễ kiếm dài tựa trời xanh) Ngay từ thời trẻ, nhiều lần

ông nhận mình là tráng sĩ với hùng tâm tráng chí ngất trời trong Tạp thi I Nguyễn Du mượn việc bày tỏ cảm xúc với con chó săn trong bài Điệu khuyển mà dõng dạc khẳng định mình là con ngựa hay, là người sinh ra đã mang khí phách khác thường: “Tuấn

mã bất lão tử”; “Phàm sinh phụ kỳ khí/ Thiên địa phi sở dung” Nói như vậy có nghĩa

là ông chấp nhận đã sinh ra là người tài thì cuộc đời sẽ khó yên ổn cũng như ngựa hay không bao giờ chết già, kẻ có khí phách thì trời đất khó dung; và dẫu có bỏ mình thì cũng không oán không thán

Có tài, có tâm nhưng giữa cuộc đời ô trọc, tài không được thực thi thì tâm cũng phải giữ cho sạch trong nên ý thức giữ gìn nhân cách của một bậc nhà nho luôn canh cánh trong ông Cho nên dù phải nằm bệnh bên dòng Quế giang đã mười tuần, nhiều

sầu não thì Nguyễn Du vẫn dặn lòng: “Bất trung trần cấu tạp thanh hư” (Không cho

bụi bặm bám lẫn tâm hồn trong trẻo của ta); khi hùng tâm mờ mịt, gặp thời loạn lạc thì cười khóc theo thói tục, trầm lặng ít nói, giữ gìn sức sống còn lại của tuổi già và quan trọng hơn là tấm lòng sáng như gương:

Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,

Giam mặc tàng sinh lão bệnh dư

Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự,

Tứ thời tâm kính tự như như

(Trong loạn lạc, cười khóc theo thói tục,

Trầm lặng ít nói, giữ gìn sức sống còn lại trong tuổi già và bệnh tật

Lá rụng hoa nở, cảnh bày trước mắt,

Suốt bốn mùa, tấm gương lòng tự giữ trong sáng vĩnh hằng.)

(Tạp thi II, ND)

Thậm chí kể cả khi tự nhận mình là kẻ “Bạch đầu vô lại chuyết tàng thân” (Đầu bạc bất tài, vụng dại đường lập thân) thì vẫn “Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần” (Lại vui

Trang 38

mừng vì mày râu không nhiễm bụi) Trong bài Đạo ý, Nguyễn Du nhắc đến lòng mình

và đạo lý qua hình ảnh nước giếng và trăng:

Túng bị nhân khiên xả Nhất dao hoàn phục chỉ Trạm trạm nhất phiến tâm Minh nguyệt cổ tỉnh thủy

(Nếu bị người khuấy động, Chao đảo lại thôi liền

Trong suốt tấm lòng này, Nước giếng xưa dưới trăng sáng.) Cảnh tuyệt đẹp của nước giếng không gợn sóng và trong suốt dưới ánh trăng là hình ảnh của một tâm hồn trầm tĩnh, tự chủ, không “chao đảo” để nhận thức và thực hiện đạo lý Nhà thơ tâm niệm cần giữ lòng mình như nước giếng trong bởi nước giếng trong, tức là cặn bùn đất lâu ngày đã lắng hết xuống đáy, nên được dân chúng chuộng dùng, giếng mới tồn tại lâu năm Làm người cũng vậy, tâm có sạch trong, sống có ích

và ý nghĩa với cuộc đời mới được người yêu mến Đó là tâm niệm của kẻ học đạo thánh hiền mà Nguyễn Du nói hộ

Tài và tâm như thế, Nguyễn Du đem hết sức mình ra để trả nợ núi sông theo lý tưởng của người học nho, thể hiện trách nhiệm với cuộc đời:

Lão khứ chung hoài báo quốc tâm

(Già rồi vẫn ôm tấm lòng báo nước)

(Thành hạ khí mã, ND) Thập niên hứa quốc quân ân trọng

(Mười năm dâng mình cho nước vì ân vua nặng)

(Đại tác cửu thú tư quy I, ND)

Thiên địa nhất thân trung dịch hiếu, Phong trần vạn lý quốc vong gia

(Một thân trong trời đất lấy trung đổi hiếu Muôn dặm gió bụi, vì nước quên nhà)

Trang 39

(Đại tác cửu thú tư quy II, ND)

Quân ân tự hải hào vô báo

(Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp)

(Nam quan đạo trung, ND)

Thơ chữ Hán Cao Bá Quát cũng thể hiện một con người tài cao, chí lớn, thâm

trầm Từ điển văn học (bộ mới) ghi: “Cao Bá Quát là một nhà thơ rất có bản lĩnh Từ

những tác phẩm đầu tiên đã thấy lòng tin của nhà thơ vào ý chí và tài năng của mình.” [66] Cho nên, người đọc sẽ không ngạc nhiên khi tuổi trẻ của Cao Bá Quát

được ghi lại bằng hàng loạt bài thơ tràn đầy khí phách:

Thí tương mai tử trịch sơn gian,

Nhất ác thanh tư ký bích loan

Ký thủ lai thời xuân sắc hảo,

Dữ nhân cộng tác họa đồ khan

(Thử đem hột mai ném lên trên núi,

Một nắm giống thanh tao gửi lên ngọn đá xanh

Hãy nhớ lấy sau này khi vẻ xuân tươi tốt,

Sẽ thành một bức tranh cho mọi người xem chung.)

(Tài mai, CBQ) Bất kiến ba đào tráng

An tri vạn lý tâm?

(Nếu không thấy ba đào hùng tráng

Thì biết sao được cái chí lớn muôn dặm?)

(Thanh Trì phiếm chu nam hạ, CBQ)

Cao Chu Thần trong một đêm tiễn bạn cũng uống rượu, cũng mời trăng theo lẽ thường của một thi sĩ, thế nhưng, váng vất trong ly rượu chia tay, trong ánh trăng bàng

bạc giữa đêm thu sông Trà là một chí khí lớn của kẻ “trượng phu án kiếm” (trượng phu chống kiếm - Trà giang thu nguyệt ca); “Sính hoài thiên hạ tiểu” (Mở rộng lòng thấy thiên hạ nhỏ - Nhạc Dương lâu ký; mượn hình tượng Nho tướng đời Hán là Ban Siêu để khẳng định: “Ý chí Long Tuyền tại/ Công danh hổ huyệt diêu” (Chí khí mạnh

Trang 40

trong gươm Long Tuyền/ Công danh lập từ hang hùm xa vời - Ban Siêu đầu bút) ngụ ý phải dũng cảm, dám chấp nhận mọi hiểm nguy để giành chiến thắng; trong Bảo xuyên

ông nhục kiến thứ họa, tẩu bút thù chi thì khẳng định “Mộ niên tâm thượng tráng”

(Tuổi già, lòng còn trai tráng); ví mình là bậc “cao nhân”, “Ngô khế tại huyền hư” (Chí hướng của ta là nơi hư không xa tắp - Tương đáo cố hương; trong Bồng doanh đô

xứng liệt tiên du thì nhận mình là “Tiền thân nguyệt phủ tu/ Hồng trần kinh tiểu trích”

(Thân kiếp trước từng sửa búa trăng/ Trải qua đợt bị đày ngắn hạn xuống cõi bụi

hồng); trong Tặng trà lũ cử nhân thì nhận mình là “ngoan tiên” (ông tiên bướng bỉnh); trong Di Xuân dĩ bồn liên vi thu phong sở tồi hữu thi kiến ký, nhân thứ kỳ vận, ca dĩ

họa chi ví mình như hoa sen: “Công thành ý toại diểu nhiên khứ/ Bất dữ phàm hủy tương phan liên” (Công thành chí toại rồi đi tắp/ Không dây dưa gì với các loài hoa cỏ

tầm thường); tự so sánh mình với vua rượu (Lý Bạch) hay chỉ có hoa lan bản chất thơm tho, hương thơm bay xa, là bạn hoa sen mới xứng đáng đứng cùng người quân tử

trong Lan tỉ quân tử; “Hỗn tích phong trần lý” (Sống lẫn trong đám phong trần) trong

Độc thi; không chịu chỉ làm một người giỏi chữ nghĩa trong Thứ vận Thận Tư “Phóng quan nhị hà” đồng Di Xuân, Hòa Phủ: “Thử thân hà sự tác thi ông?” (Thân này vì cớ

gì cứ phải làm một nhà thơ!),

Đã là người quân tử, là kẻ sĩ của thời ấy tất phải có văn chương, học hành Cao

Bá Quát đã gán cho văn chương một thiên chức Đó chính là chữ “danh” trên bước đường khẳng định nhân cách “kẻ sĩ” của mình cho dù ông thừa biết hoạn lộ công danh

Thiếu tráng thành danh tức chủ ân

(Bình sinh gắng học để biết ý trời, Tuổi trẻ nên danh tức là nhờ ơn vua.)

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w