Trên cơ sở đó, người nghiên cứu có điều kiện tiếp xúc và khám phá thêm nhiều tầng nghĩa sâu xa trong tác phẩm của nhà văn, đặc biệt, đặt truyện ngắn trong tương quan với thơ và các thể l
Trang 1Dương Nguyễn An Phương
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2Dương Nguyễn An Phương
NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BẠCH VĂN HỢP
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Những nội dung được trình bày trong luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Bạch Văn Hợp Các tham khảo, trích dẫn sử dụng trong luận văn có ghi nguồn gốc cụ thể (tên tác giả, công trình, thời gian, hình thức công bố)
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm nguyên tắc nghiên cứu khoa học, quy chế đào tạo, tôi xin chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn Dương Nguyễn An Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình từ quý thầy cô, anh chị, bạn bè cùng gia đình Với lòng kính trọng sâu sắc, tác giả mong muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu, Phòng Sau Đại học, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
TS Bạch Văn Hợp – cán bộ hướng dẫn khoa học – người đã tận tình giúp đỡ, chỉ dẫn và khuyến khích tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tổ thông tin thư viện Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ Thông tin Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, các anh chị, các bạn lớp Văn học Việt Nam k25 cùng gia đình, bạn bè đã động viên tác giả trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn Dương Nguyễn An Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU 10
1.1 Truyện ngắn 10
1.1.1 Khái niệm 10
1.1.2 Đặc trưng thể loại 13
1.1.3 Một vài nét về truyện ngắn Việt Nam sau 1986 21
1.2 Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 26
1.2.1 Con người và sự nghiệp 26
1.2.2 Nguyễn Quang Thiều – “Người nhà quê” phục dựng cố hương qua dòng ký ức 31
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU 37
2.1 Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 37
2.1.1 Khái lược về người kể chuyện 37
2.1.2 Các dạng thức người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 45
2.2 Giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 61
2.2.1 Vài nét về giọng điệu trần thuật 61
2.2.2 Đặc trưng giọng điệu trần thuật truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 62
Tiểu kết chương 2 70
Trang 6Chương 3 KẾT CẤU TRẦN THUẬT VÀ LỜI VĂN NGHỆ THUẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU 71
3.1 Kết cấu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 71
3.1.1 Sơ lược về kết cấu trần thuật 71
3.1.2 Các dạng kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 72
3.2 Lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 82
3.2.1 Khái quát về lời văn nghệ thuật 83
3.2.2 Thành phần lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 84
3.2.3 Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 99
Tiểu kết chương 3 113
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 1986 được xem là cột mốc đánh dấu một bước tiến vượt bậc của văn
học Việt Nam Thời kì này, khu vườn văn học mang màu sắc rực rỡ, đa dạng và phong phú với nhiều hình thức thể loại Trong số đó, thể loại truyện ngắn đặc biệt nổi bật lên và được xem như là thế mạnh của giai đoạn này Những cái tên như Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương,
Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, … đã không còn xa lạ với độc giả
Nguyễn Quang Thiều là cái tên quen thuộc với rất nhiều độc giả trong và ngoài nước Những trang viết bình dị, đầy suy tư của ông đã khắc họa nên thế giới hình tượng rất riêng trong lớp tác giả sau 1986 Ngòi bút Nguyễn Quang Thiều có mặt khắp các lĩnh vực như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận, kịch bản, báo,… và đều có những thành công nhất định Tên tuổi ông bắt đầu tạo dấu
ấn trong lòng độc giả từ các tập thơ: Ngôi nhà 17 tuổi (1990), Sự mất ngủ của
lửa (1992) (giải thưởng Hội Nhà văn 1993), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), … Thơ ông được xem là một bước
cách tân mới mẻ của thơ hiện đại Việt Nam Sau thành công về thơ, các tập
truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông (1989), Người đàn bà tóc trắng (1993),
tiếp tục khẳng định vị thế của Nguyễn Quang Thiều trên văn đàn Việt Đặc biệt, một số tác phẩm điện ảnh được chuyển thể dựa trên cốt truyện của Nguyễn
Quang Thiều đã gây nên tiếng vang lớn, nổi bật nhất phải kể đến Lời nguyền của
dòng sông (huy chương vàng Liên hoan phim truyền hình quốc tế tại Bỉ năm
1993)(chuyển thể từ truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông)
Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều như dòng chảy của một con sông, hiền hòa, bình lặng mà ẩn chứa sâu thẳm sau bề mặt những con chữ là nỗi khắc khoải của tâm trạng trước hiện thực lạnh lùng và quá khứ bình dị đã một đi không trở lại Giai điệu nhẹ nhàng của câu chữ thổi một điệu hồn thân quen đến người đọc từ những cánh đồng rau khúc rộng bát ngát, những đêm trăng, con
Trang 8tôm cái tép, tiếng gà gáy sáng mai… đến những câu chuyện thường ngày của khoảng không gian sau lũy tre làng, gợi nỗi nhớ thương trong lòng mỗi người
Đó không chỉ là hình ảnh làng quê Bắc Bộ mà rất nhiều người còn thấy trong đó bóng dáng quê hương của chính mình Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trong
Thơ Việt Nam đương đại nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều đã khẳng
định: “Là thi sĩ hiện đại, dù chìm ngập trong cõi mộng mị hoang tưởng, dù luôn
nỗ lực lạ hóa cách biểu đạt thì cuối cùng Nguyễn Quang Thiều vẫn bị ám ảnh và gắn kết với cuống nhau văn hóa dân tộc” 29, tr.255
Cái “cuống nhau văn hóa dân tộc” ấy đã đi vào truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều tạo nên một biểu tượng nghệ thuật đặc sắc Tất cả những gì trân quý về cố hương được ông biểu hiện thông qua lối dẫn chuyện tài tình, lối kể mộc mạc đằm thắm Việc tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều nhằm lí giải một trong những phương diện làm nên thành công trong lĩnh vực truyện ngắn của ông Trên cơ sở đó, người nghiên cứu
có điều kiện tiếp xúc và khám phá thêm nhiều tầng nghĩa sâu xa trong tác phẩm của nhà văn, đặc biệt, đặt truyện ngắn trong tương quan với thơ và các thể loại khác để thấy được nét đặc trưng trong sáng tác truyện ngắn nói riêng và quan điểm nghệ thuật nói chung của Nguyễn Quang Thiều
1.2 Lý thuyết Tự sự học xem nghệ thuật trần thuật như một trong những phương diện nghiên cứu cơ bản nhất Tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều giúp người nghiên cứu củng cố hệ thống lý thuyết về trần thuật, coi đó như một công cụ để tiếp cận thế giới đa sắc màu của nhà văn Từ đó có cái nhìn cụ thể hơn về một tác giả mà tên tuổi đã được khẳng định trong nền văn học Việt Nam thời kì Đổi mới, đồng thời góp phần tìm hiểu diện mạo của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều mong muốn có một cái
nhìn cụ thể hơn nữa về vấn đề trần thuật trong truyện ngắn của tác giả, đồng thời
Trang 9góp phần khẳng định tài năng và những đóng góp quan trọng của nhà văn đối với nền văn học nước nhà
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Quang Thiều là nhà văn giành được rất nhiều sự mến mộ từ bạn đọc Nếu như thơ của ông gây nên nhiều ý kiến trái chiều trong dư luận, tạo nên những “sự mất ngủ” cho cả văn đàn thì mảng văn xuôi lại chiếm được cảm tình tuyệt đối qua những hình tượng chân chất thôn quê, cái không khí bình dị, tĩnh lặng mà đầy nhức nhối ám ảnh Nhiều nhà nghiên cứu đã có những nhận định rất sâu sát về truyện ngắn ông, đó là “mảnh ghép” đặc trưng của “muôn ngàn hương vị”: “Thế mạnh của nhà văn trẻ Việt Nam này (Nguyễn Quang Thiều) tập trung trong sự giản dị nhưng đẹp ngời ngợi của câu chữ và vấn đề được đặt ra! Đẹp và thống thiết!”, “Những truyện ngắn bình dị nhưng đẹp và xót xa Mỗi trang viết ngừng lại trước một hình ảnh, hiện ra giữa vùng sáng một Việt Nam của hôm nay, một mảnh ghép hài hòa một cách lạ lùng giữa truyền thống và hiện đại Thấp thoáng chút biếm, hài hước và trìu mến pha trộn trong những câu chuyện của muôn ngàn hương vị…” 153
Có thể khẳng định, ở văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng, Nguyễn Quang Thiều đã giành được những thành công nhất định Nhân vật của ông không chết cằn trên trang sách mà biến hóa với đầy đủ những yếu tố tâm lí tinh tế nhất, sâu sắc nhất Nó hiện lên sinh động, chân thực và cũng rất đời Đó
là những câu chuyện buồn về hồi ức và phảng phất cái huyền ảo mơ mơ thực thực Phải chăng “ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê” (chữ dùng của Nguyễn Bính), nên khi đọc Nguyễn Quang Thiều ta lại thấy như được “đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta”?
Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều chưa có nhiều công trình đi sâu tìm hiểu Tuy vậy, một số bài viết trên các báo, tạp chí cũng đã góp phần định hình
và mở ra hướng nghiên cứu cho đề tài
Trang 10Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao về cái hay, cái đẹp trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều, truyện ngắn của ông thực sự đã tạo nên dấu ấn riêng
trong lòng độc giả Tâm Thanh trong Văn học Việt Nam đương đại và những
giới hạn của thực tiễn sáng tạo đã đề cập đến Nguyễn Quang Thiều như một
trong những cây bút chủ đạo của thời kì Đổi mới: “Văn học Việt Nam từ sau
1975 với các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuấn, Dư Thị Hoàn, Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh, Nguyễn Bình Phương là những tên tuổi nỗ lực vượt qua giới hạn để sáng tạo nghệ thuật” 96
Khuất Bình Nguyên trong Sự mất ngủ của thi ca có nói: “Đọc truyện
ngắn của Thiều, (…) tôi thường thấy vang lên sự khắc khoải của số phận con người vọng qua các dòng sông yên tĩnh như tương phản, lại như đồng điệu với đời sống đầy trắc ẩn ở cõi trần gian Thiều viết văn xuôi với bản lĩnh của người thi sĩ Truyện của ông tràn ngập chất thơ (…) Văn ông ngợi ca sự chiến thắng của con người trước định mệnh và dù phải đắng cay như ngọn lửa cuối cùng vùi trong than bụi vẫn ấm nóng tình yêu cuộc sống” 157
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong Một số gương mặt truyện ngắn
1993 khẳng định vị thế của Nguyễn Quang Thiều trên văn đàn Việt: “Nguyễn
Quang Thiều là cây bút truyện ngắn có hạng hiện nay (…) Bút pháp truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều từ thơ mà ra - tinh tế, bay bổng, giàu chất liên tưởng” Đồng thời, ông cũng cho rằng chính “lối văn tự nhiên, linh động” của Nguyễn Quang Thiều đã “mang vào văn chương và truyện ngắn một sắc thái mới mẻ - tính chất hiện đại trong lối viết bao hàm trong đó nhiều yếu tố vừa
hiện thực, vừa trữ tình, và kịch” Trần Hương trong Nguyễn Quang Thiều -
người đa dạng đã viết: “Đọc những tập thơ và văn xuôi (truyện ngắn và tiểu
thuyết) của hắn thấy ở đó đủ các chiều kích con người Văn xuôi của Thiều cũng
Trang 11vậy, kích thích các nhà sản xuất điện ảnh như: “Mùa hoa cải bên sông”, “Kẻ ám sát cánh đồng” Văn trong hai cuốn đều đẹp, đều cuốn hút” 152
Bên cạnh đó, thi pháp truyện ngắn của ông cũng được giới chuyên môn
đề cập đến rải rác ở một số báo, tạp chí Trong Truyện ngắn - những vấn đề lí
thuyết và thực tiễn thể loại, Bùi Việt Thắng đã đề cập đến hình thức nghệ thuật
mới được sử dụng trong truyện Hai người đàn bà xóm Trại: “Về khía cạnh thi
pháp, truyện ngắn 1986- 2000 đã trở nên phong phú về hình thức, phong cách và bút pháp (…) Hình thức đa dạng có truyền kì hiện đại: “Bến trần gian” của Lưu Sơn Minh; “Hai người đàn bà xóm Trại” của Nguyễn Quang Thiều…”
104, tr.88
Tác giả Thiên Sơn trong Hộp đen - Nguyễn Quang Thiều đã tổng quát về
đặc trưng nội dung truyện ngắn và đặc biệt chú ý đến đoạn kết trong thi pháp nghệ thuật của nhà văn: “Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu kì ảo, chiều sâu nhân văn và triết
lí Anh thường tạo ra những chi tiết đầy bất ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết”
Như Bình trong Ngọn lửa Nguyễn Quang Thiều quan tâm đến chất ngôn
từ đầy huyền bí, màu nhiệm trong văn Nguyễn Quang Thiều: “Ngôn ngữ của anh có một nội lực kinh khủng, nội lực của sự ma mị và quyến rũ, từ hình ảnh, ngôn ngữ, ẩn dụ, và tính triết lý, đưa người đọc vào trí tưởng tượng huyền ảo, đóng đinh người đọc bằng chính những sự sáng tạo mới mẻ và độc đáo” 144
Cũng như vậy, Nguyễn Hữu Hồng Minh trong Châu thổ, dấu chân Giao
Chỉ (Chân dung Nguyễn Quang Thiều) khẳng định ngôn từ trong các tác phẩm
của Nguyễn Quang Thiều có một sức hút riêng, sức hút ấy đến từ tâm thế Việt
và sự trầm mặc trong con người tác giả: “Nguyễn Quang Thiều là một “điện từ”
bí ẩn Một năng lượng mạnh Nguồn sáng tạo dồi dào đó đã bục phát qua nhiều lĩnh vực ngoài thơ như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch bản, báo
Trang 12chí… Nếu như ngôn ngữ Trịnh Công Sơn ở cấp bậc cao độ tinh lọc rung cảm; kéo gần” lại mọi tâm hồn vì “tâm thức Việt” thì ngôn ngữ Nguyễn Quang Thiều
có cơ ngược trở lại; chia cắt mỗi tâm hồn là một thế giới riêng lẻ bởi “tâm thế Việt” Sự chia cắt có bóng dáng u mặc của lịch sử, mỗi miền mỗi vùng “cát cứ” riêng Chưa bao giờ nhập hẳn vào nhau Đó cũng là gốc của những mặc cảm cội rễ” 156
Bên cạnh những bài báo, tạp chí đã kể trên, một số luận văn thạc sĩ cũng
đã đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều Có thể
kể đến như luận văn Cấu trúc truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều của Trịnh Thị
Thảo (2010) đã đề cập đến phương thức tổ chức cốt truyện và các nguyên tắc trần thuật tuyến tính, phi tuyến tính trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều,
luận văn Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều nhìn từ góc độ thể loại của Tăng
Thị Hoàn (2012) đã cung cấp khái quát nhất về một số đặc điểm trên bình diện nội dung và nghệ thuật Qua đó, khẳng định đóng góp của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều với văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới
Nguyễn Quang Thiều là một nhà văn có tài, có tâm với đời sống văn học
“Cây bút có hạng” đó không lúc nào thôi trăn trở, nghĩ suy về cuộc sống cũng như những kiếp người nhỏ bé nơi đồng quê chất phác, mộc mạc Truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều giản dị mà sâu lắng, nhẹ nhàng mà đau đáu khắc khoải Những ai đã từng đọc qua tác phẩm của ông hẳn không dễ quên đi những gương mặt, những số phận thao thức trên từng trang sách Chính dư âm ấy khiến chúng ta không thể phủ nhận cái tài và cái duyên của ông với văn học
Việc nghiên cứu thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
đã có những nhận định xác đáng, bước đầu làm nền tảng cho công tác tiếp cận tác phẩm Tuy vậy, những công trình nghiên cứu trước đây cũng như một số tài liệu mà người thực hiện có cơ hội tiếp xúc hầu như chưa đi vào khai thác một cách có hệ thống và toàn vẹn giá trị nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn của
Nguyễn Quang Thiều Do vậy, chọn đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện
Trang 13ngắn Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi hy vọng đem lại một cái nhìn toàn diện
hơn về giá trị của việc tổ chức trần thuật trong văn xuôi của tác giả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều Xuất phát từ yêu cầu của đề tài, chúng tôi không khảo sát toàn bộ sáng tác của tác giả mà chỉ tập trung tiến hành nghiên cứu các tập truyện ngắn:
- Mùa hoa cải bên sông (1989)
- Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều (1997)
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo thêm các tập thơ của tác giả và một số tác phẩm của các tác giả khác như Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài,… để vận dụng khi cần thiết
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm của luận văn khai thác nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều Cụ thể ở các bình diện người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, kết cấu, lời văn và giọng điệu nghệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những lý thuyết về tự sự học, chúng tôi có sử dụng thêm một số phương pháp khác trong quá trình thực hiện đề tài như sau
4.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Việc phân tích, tìm hiểu những chi tiết trong các tác phẩm, sau đó khái quát, tổng hợp lại thành những đặc điểm riêng trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Quang Thiều giúp sự nhìn nhận, xem xét trở nên thấu đáo hơn
4.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh góp phần làm phong phú, sáng tỏ thêm nhiều phương diện của vấn đề được đề cập trong luận văn
Trang 144.3 Phương pháp hệ thống
Đặt các truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều trong tương quan với thơ, họa của ông để rút ra những vấn đề có tính quy luật, từ đó thấy được những đặc trưng trong nghệ thuật trần thuật của tác giả Đồng thời đặt tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều trong tương quan với các nhà văn khác cùng thời, trong xu hướng sáng tác chung của văn học để làm nổi bật đóng góp của nhà văn
4.4 Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp thống kê, phân loại giúp chúng tôi tiến hành khảo sát truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều theo từng phạm vi như điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ, Việc phân loại, thống kê những yếu tố mang khuynh hướng dị biệt hay đặc trưng trong một khối lượng lớn tác phẩm sẽ giúp việc nghiên cứu trở nên sáng rõ, có tính thuyết phục cao
5 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
Nguyễn Quang Thiều, chúng tôi hướng đến việc tìm hiểu các phương thức cấu
trúc nên thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của tác giả thông qua việc khảo sát các truyện ngắn Cụ thể là việc tổ chức kết cấu, điểm nhìn, lời văn nghệ thuật, giọng điệu, … Từ đó, lí giải sức hút của truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều đối với đông đảo bạn đọc từ bình diện nghệ thuật, đồng thời khẳng định vị trí, vai trò của nhà văn trong nền văn học nước nhà
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương
Chương 1 Truyện ngắn và truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Ở chương 1, chúng tôi khái quát những vấn đề chung về lý thuyết truyện ngắn, sự nghiệp sáng tác và vị trí của Nguyễn Quang Thiều trên văn đàn Việt
Chương 2 Người kể chuyện và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Trang 15Ở chương 2, chúng tôi tìm hiểu về các dạng thức, vai trò của người kể chuyện và giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Chương 3 Kết cấu trần thuật và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Ở chương 3, trọng tâm nghiêng về và kết cấu trần thuật và lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Trang 16Chương 1 TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU 1.1 Truyện ngắn
Văn học là một bức bích họa bằng ngôn từ tuyệt đẹp của nhân loại mà truyện ngắn là nét vẽ sinh động và có sức hấp dẫn lạ kì trong tổng thể tuyệt tác
ấy Trải qua từng giai đoạn phát triển, các tác gia Việt đã học hỏi tinh hoa từ những nền văn học lớn trên thế giới, đồng thời có ý thức tự biến đổi, tạo nên một nền văn học vừa mang tính hiện đại, vừa thấm đẫm bản sắc truyền thống của dân tộc Cùng chung nhịp đập với nền văn chương nước nhà, truyện ngắn cũng đã có những sự cách tân và thể nghiệm quan trọng đưa đến thành công của không ít tên tuổi lớn trong làng văn Việt Truyện ngắn hiện đại đã và đang tạo nên những bước chuyển mình vững chắc mang đậm hơi hướng thời đại và dấu ấn bản thể
con người trong cuộc sống mới
đó độc giả có cảm nhận đa chiều về nhân vật và sự kiện, thoát khỏi lối cảm thụ một chiều truyền thống Có thể nói truyện ngắn là “một thể tài “xung kích” giàu tính năng động, một người lính trinh sát trên các bước chuyển của đời sống và văn học” 53, tr.221
Trang 17Các nhà nghiên cứu cũng như giới phê bình, lý luận trong và ngoài nước
đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về truyện ngắn Tuy chưa thực sự có ý kiến thống nhất nhưng những vấn đề cốt yếu liên quan đến thể loại đã được xem xét cặn kẽ trên từng phương diện
Theo Pautopxki, “Truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái bình thường, và cái gì bình thường hiện
ra như một cái gì không bình thường” 73, tr.105 Aimatop cho rằng: “Toàn bộ truyện ngắn là một tấm khảm lớn lao về cả thời đại Với những mảng tường như rất bé nhỏ, nó giúp phần tạo nên cả tấm chân dung hoàn chỉnh” 73, tr.119 Maugam quan niệm rất giản dị: “Truyện ngắn là một tác phẩm tùy dài ngắn, người ta có thể đọc trong mươi phút hay một giờ, trong đó mọi việc chỉ liên quan tới một đối tượng hay một trường hợp duy nhất, được xác định rõ ràng Hoặc như mọi chuyện có liên quan tới một loạt trường hợp khác nhau nữa, tất cả phải được phối hợp lại trong một hình thức trọn vẹn Truyện ngắn cần phải viết sao để người ta không bổ sung thêm vào đó chút gì, cũng không thể rút bớt ra chút gì hết!” 73, tr.146 Julio Cortazar nhận định: “Truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống” 25, tr.479] Gulaiep nhận định truyện ngắn là “một hình thức tự
sự loại nhỏ Nó khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một
sự kiện nào đó thường xảy ra trong đời một nhân vật, hơn nữa thường bộc lộ một nét nào đó của nhân vật” 33, tr.54 Như vậy, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm và những đặc điểm riêng biệt của truyện ngắn để nhận diện với những thể loại khác
Bên cạnh đó, giới học thuật trong nước cũng đã đưa ra nhiều định nghĩa
về thể loại này, hầu hết các nhà văn đều nhất quán quan điểm truyện ngắn là
“một thể tài bộc lộ rất rõ cái “chất” của người viết, cá nhân người viết truyện ngắn để lại dấu ấn rất sâu sắc trong tác phẩm” 58, tr.225
Trang 18Từ điển văn học định nghĩa truyện ngắn là “hình thức tự sự loại nhỏ
Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn
là tính ngắn gọn (…) Trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn”
40, tr.457
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn là “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ
Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ (…) Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn
và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết” 36, tr.370-371
150 thuật ngữ văn học khẳng định “Truyện ngắn là thể tài tác phẩm tự sự
cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; Tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc
nó liền một mạch không nghỉ Truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo”
6, tr.345-346
Đồng tình với các ý kiến trên, Phương Lựu cho rằng: “Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự (…) Truyện ngắn có thể kể về một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật nhưng cái
Trang 19chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà cái nhìn tự sự với cuộc đời” 63, tr.397
Tựu chung lại, truyện ngắn là một tác phẩm văn xuôi nghệ thuật hư cấu có dung lượng nhỏ đề cập đến một khía cạnh nào đó trong cuộc sống, với hệ thống
sự kiện, nhân vật bị giới hạn trong một phạm vi nhất định Do đặc trưng thể loại, truyện ngắn thường chỉ đề cập đến một phạm vi nhỏ của đời sống, ở đó con người ít khi mang tính cách đầy đặn, trọn vẹn và hoàn chỉnh, mà thường bộc lộ một mặt nào đó trong suy nghĩ, tâm tưởng về cuộc đời và nhân thế Kết cấu truyện ngắn không gồm nhiều tầng tuyến, mà chủ yếu gây ấn tượng mạnh bởi hệ thống chi tiết độc đáo, có sức hấp dẫn, gợi nên sự rung động trong lòng người đọc
Thứ nhất, về mặt dung lượng, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng
đặc trưng cốt lõi của truyện ngắn là dung lượng nhỏ Về mặt hình thức, theo Maugam, truyện ngắn có từ mười nghìn đến mười hai nghìn chữ Thời gian đọc một truyện ngắn là từ vài phút đến một giờ, đảm bảo “tính duy nhất về ấn tượng”, “tính tổng thể về hiệu quả” (chữ dùng của Baudelaire) 23, tr.8 Antonop cho rằng truyện ngắn chỉ nên có độ dài “từ 7-8 trang đánh máy” 73, tr.144 Grojnowski lại cho độ dài của truyện ngắn nên từ 3 dòng đến 30 trang
Về mặt nội dung, truyện ngắn thể hiện “lát cắt đời sống”, tức là chỉ đề cập đến
Trang 20một vấn đề nhỏ trong toàn bộ cái rộng lớn bao la của cuộc sống thực tại khách quan Đặt trong tương quan với tiểu thuyết, có thể thấy khá rõ sự đối lập của hai thể loại này Tiểu thuyết chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn, còn truyện ngắn lại khắc họa một hiện tượng, một nét bản chất trong đời sống con người Do vậy, dung lượng của tiểu thuyết thường dài, có khi lên tới vài ngàn trang, còn truyện ngắn thu gọn trong tầm vài chục trang Ngoài ra, khả năng dung hợp thể loại với các lĩnh vực nghệ thuật khác như âm nhạc, điện ảnh, hội họa,… làm sức chứa của tiểu thuyết được mở rộng Hơn thế nữa, chính bởi đặc trưng hình thức tự sự cỡ lớn nên tiểu thuyết dễ dàng tập trung miêu tả một cách tỉ mỉ toàn bộ sự phát triển của sự kiện, biến cố liên quan đến cuộc đời nhân vật chính, nghĩa là hướng đến quá trình phát triển của sự việc, trong khi truyện ngắn chủ yếu chú trọng đến kết quả của sự việc Bên cạnh đó, truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, chỉ hướng vào thể hiện một nét tính cách nào đó của nhân vật, một sự kiện, một “khoảnh khắc” mang ý nghĩa với tuyến truyện, bởi vậy, nó đòi hỏi ở người viết sự dồn nén các chi tiết, nhân vật, sự kiện, tư tưởng tình cảm của tác giả Có thể hình dung vấn đề dung lượng trong sự đối sánh giữa tiểu thuyết và truyện ngắn ở những điểm như “lớn - nhỏ, nhiều – ít, quá trình – kết quả, đa tuyến – đơn tuyến, toàn cảnh – cận cảnh, diện – điểm” 104, tr.63
Như vậy, dung lượng nhỏ là đặc điểm đầu tiên để người đọc nhận ra diện mạo của truyện ngắn Cần lưu ý rằng, đặc điểm ngắn và có cốt truyện vốn đã xuất hiện trong truyện kể dân gian như: truyện cười, giai thoại, truyện cổ tích nhưng hình thức này không được xếp vào thể loại truyện ngắn Truyện ngắn với đặc điểm thể tài riêng biệt chỉ thực sự phát triển ở các nền văn học hiện đại Mặt khác, “hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” (A.Tonxtoi)
73, tr.100, quan trọng là từ hình thức nhỏ gọn đó, nhà văn phản ánh nội dung như thế nào để thể hiện được cái tâm và cái tầm của chính mình Truyện ngắn hay là truyện ngắn mang chiều sâu trong việc nhìn nhận, xem xét và đánh giá đời sống thực tại, con người trong thời đại ấy Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng
Trang 21dung lượng của truyện ngắn là “dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết” (dung lượng ở đây nên hiểu theo nghĩa là sức chứa), trong vài trang sách mà “rõ mặt một cuộc đời, một kiếp người, một thời đại” 73, tr.60 Đỗ Chu cho rằng “Sức chứa trong truyện có thể rất nhiều, sức nổ rất lớn” 73, tr.60 Như vậy, tuy dung lượng nhỏ gọn nhưng cái sức chứa, sự phản ánh của truyện ngắn trải ra trên một phạm vi sâu rộng mới thực sự tạo nên đặc trưng riêng cho thể loại này Các nhà văn khác nhau thể hiện dung lượng tác phẩm ngắn gọn theo những phương pháp khác nhau, tạo nên dấu ấn phong cách riêng Thực chất, vấn đề ngắn gọn trong văn học chưa bao giờ là vấn đề đơn giản Về căn bản, nguyên tắc ngắn gọn đòi hỏi trong văn không có những khoảng trống vô nghĩa, sáo rỗng, những đoạn chết; ngắn gọn nhưng phải đảm bảo đủ tư tưởng và nội dung chuyển tải đến bạn đọc Trong truyện ngắn, những triết lí nhân văn về cuộc sống và con người, những giá trị thẩm mỹ của cả thời đại được cô đúc, dồn nén và hoàn thiện trong một hình thức nghệ thuật toàn vẹn Giai đoạn về sau, rất nhiều truyện ngắn hiện đại đã có sự biến đổi về số lượng ngôn từ, “một là nới rộng hơn khuôn khổ quen thuộc, tiến đến gần kích cỡ truyện vừa để đủ sức chứa không chỉ cái thoáng chốc của đời sống mà cả một quá trình, một số phận (…) Ở một cực khác là thu gọn nhỏ hơn nữa để trở thành những truyện rất ngắn” 2, tr.188
Thứ hai, khi nhắc đến đặc trưng của truyện ngắn, cốt truyện là yếu tố
không thể không nói đến Các tác giả trong Từ điển văn học khẳng định “Cốt
truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian và không gian”
41, tr.1847
Cây đại thụ trên làng văn thế giới - thi hào Goeth có yêu cầu rất cao với cốt truyện, ông từng nhấn mạnh tầm quan trọng của cốt truyện trong sự sáng tạo nghệ thuật ngôn từ khi cho rằng nếu “cốt truyện không dùng được” thì tài năng của người nghệ sĩ vẫn chưa được chứng nhận 73, tr.114, cùng với đó, A Tonxtoi quan tâm đến vai trò của cốt truyện, một cốt truyện hay “có khả năng
Trang 22khiến cho những tư tưởng, những quan sát và những hiểu biết đang chồng chất hỗn loạn bỗng hiện ra thành lớp lang rành mạch” 73, tr.98 Cốt truyện truyền thống thường gồm các thành phần cơ bản: trình bày, khai đoan (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào), kết thúc (mở nút) Các yếu tố này phát triển theo tiến trình vận động của sự kiện từ lúc mở đầu đến kết thúc truyện Theo nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, cần xem xét cốt truyện như một hệ thống những sự kiện phản ảnh cuộc sống và các xung đột xã hội, qua đó, tính cách nhân vật được hình thành, phát triển qua sự tương tác với những mối quan hệ có liên quan khiến tư tưởng tác phẩm được bộc lộ rõ nét Bên cạnh đó cũng cần chú ý thêm
về những phương diện nhỏ của cốt truyện như câu chuyện, sườn truyện, tình tiết, chi tiết và đoạn kết Những yếu tố này góp phần tạo nên sự độc đáo, bất ngờ cho cốt truyện, đồng thời giúp người đọc “thấu thị” về chân lí đời sống và có cảm nhận, nhận thức riêng định hướng hành động trong hiện tại Tóm lại, với truyện ngắn, cốt truyện phải đảm bảo yêu cầu giới hạn về thời gian, không gian nghệ thuật, mọi sự kiện xảy ra đơn giản, không phức tạp “Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người” 36, tr.371
Thứ ba, kết cấu là một phương diện quan trọng phải kể đến khi nghiên
cứu truyện ngắn Kết cấu không tách rời cốt truyện, nó song hành và gắn bó mật thiết với cốt truyện tạo nên sự hoàn chỉnh về nghệ thuật cho tác phẩm văn học Kết cấu truyện ngắn “không chia thành nhiều tuyến phức tạp” 40, tr.457 Điều
này cũng được khẳng định trong Từ điển thuật ngữ văn học “Kết cấu của truyện
ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hay liên tưởng” 36, tr.371 Ma Văn Kháng đánh giá cao vai trò của kết cấu, ông cho rằng để tổ chức được các phương diện trong tác phẩm đạt đến chỉnh thể thẩm mỹ toàn vẹn thì nhà văn cần sắp xếp khéo léo sao cho “toàn truyện là một vòng khép kín, không dài quá, không ngắn quá, không
Trang 23xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào” 104, tr.87 Trong mối quan hệ với chủ đề tư tưởng, kết cấu tuy có sự độc lập nhất định, nhưng không tách rời chủ đề chung của tác phẩm Kết cấu là sự phác họa khung sườn truyện,
là phương châm hành động của nhà văn, mọi hệ thống chi tiết trong kết cấu của tác phẩm đều phải làm toát lên chủ đề mà tác giả hướng đến, làm rõ được nội dung tư tưởng mà nhà văn kí thác
Tùy vào thiên hướng sáng tạo, dụng ý nghệ thuật hoặc cảm quan thẩm mỹ
mà mỗi nhà văn lại đưa ra trong tác phẩm của mình những kiểu kết cấu khác nhau Đó có thể là kết cấu tuyến tính, kết cấu đảo lộn thời gian, kết cấu tâm lí hay kết cấu theo tuyến nhân vật, … Giai đoạn truyện ngắn hiện đại nở rộ, bên cạnh những kiểu kết cấu truyền thống, các kiểu kết cấu mới xuất hiện như kết cấu lắp ghép, kết cấu truyện lồng truyện, kết cấu phân mảnh, kết cấu dòng ý thức, … xuất hiện nhiều tạo sức hấp dẫn với bạn đọc Bên cạnh đó, cần phân biệt khái niệm “kết cấu” và “bố cục” để có cái nhìn chân thực và chính xác hơn
về vai trò của kết cấu Như vậy, kết cấu tạo nên mạch thống nhất với chủ đề tư tưởng của tác phẩm, là nơi kiến tạo để tính cách nhân vật phát triển theo định hướng của nhà văn
Thứ tư, một trong những đặc trưng quan trọng của truyện ngắn là tình
huống truyện Nhờ việc đặt câu chuyện và nhân vật vào “những tình huống đặc biệt”, “những tình huống nhiều màu vẻ” mà sự cô đúc về tư tưởng nghệ thuật của truyện ngắn được thể hiện khá rõ nét Các tình huống trong truyện thường gắn liền với các biến cố có tính chất quyết định hoặc có ảnh hưởng lớn đến nhân vật cũng như toàn bộ diễn tiến mạch truyện Xtaylin nhấn mạnh vai trò của tình huống truyện như sau: “Những tình huống này cần thiết đối với việc xây dựng một hình tượng nhiều mặt và sâu sắc cũng như đối với việc xây dựng một hệ thống tình tiết nhiều mặt, thống nhất và có logic nội tại cho tác phẩm nghệ thuật” 77, tr.55 “Tình huống góp phần biểu lộ nội dung”, tình huống cho phép
“bộc lộ những hứng thú quan trọng và sâu sắc cũng như cái nội dung chân thực
Trang 24của tâm hồn” là điều kiện giúp truyện ngắn đạt được những bước thành công ở thực tiễn 104, tr.95
Nhà văn Nguyên Ngọc đặc biệt chú ý đến tình huống truyện, ông cho rằng truyện ngắn như một cơ thể sống, cũng có những huyệt điểm mà chỉ cần nhắm vào đó cũng có thể “làm rung động tất cả” 104, tr.99 Bằng cách “nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hằng ngày”, truyện ngắn “điểm huyệt” được những rung động tinh vi, nhỏ bé nhất trong hiện thực đời sống, đưa lên trang viết và gây ấn tượng mạnh với độc giả Nguyễn Kiên cho rằng điều quan trọng với truyện ngắn là phải “lựa cho được cái tình thế tự nó bộc lộ ra nét chủ yếu của tính cách và số phận, tự nó đặc trưng cho một hiện tượng xã hội” 73, tr.40 Cũng theo ông, truyện ngắn bao gồm những tình huống phức hợp như tình huống – tâm trạng, tình huống – kịch, tình huống – tượng trưng, và một số tình huống khác (Tình huống – thắt nút, tình huống – tương phản, tình huống – luận đề,…) Có thể khẳng định, bản chất năng động của thể loại truyện ngắn đã “bấm huyệt” đời sống bằng cách sáng tạo nên những tình huống nghệ thuật đặc sắc Những tình huống này phản ánh sự phức tạp, biến hóa khôn lường của đời sống thực tại vào tác phẩm, bởi vậy, có giá trị lớn lao trong việc sáng tạo tác phẩm và
kí thác tâm tư, tình cảm của nhà văn
Thứ năm, nhân vật là điểm mấu chốt tạo nên sự thành công của truyện
ngắn Ở một khía cạnh nào đó, “Nhân vật sáng tạo nên cốt truyện, cốt truyện chính là sự phát triển của tính cách” 104, tr.110 Tính toàn vẹn của con người thể hiện trong văn học ở dạng cơ bản nhất, là toàn bộ những đặc điểm ngoại hình (nét mặt, dáng người, tên riêng,…) và thế giới tinh thần bên trong (ý nghĩ, hành động, các mối quan hệ) Nhà văn Nguyễn Kiên khẳng định nhân vật là một trong các khâu tạo nên thành công của truyện ngắn: “Dù không thể xây dựng những nhân vật hoàn chỉnh như trong tiểu thuyết, nhưng truyện ngắn vẫn phải
Trang 25có những nhân vật với động cơ bên trong, những khát vọng cụ thể của nó (…) Bản thân các nhân vật phải mang vấn đề” 73, tr.38 Nhân vật của truyện ngắn thường được tác giả tập trung làm nổi bật một nét tính cách nào đó “thường không phải là số cộng của những tính cách đơn lẻ hay là phức hợp, đối lập của những nét tính cách khác nhau mà là một nét tính cách tiêu biểu nhất được bộc
lộ qua một hành động giàu sức biểu hiện nhất” 23, tr.27 Cũng chính vì “nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người” 41, tr.1254, nên nhân vật mang những suy tư, chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc đời, con người, mang dáng dấp của nhà văn từ hoài bão, khát vọng và lý tưởng (có thể không thành ở thế giới thực) đến chi tiết cuộc đời và những biến cố xảy
ra trong diễn tiến số phận nhân vật Tuy vậy, nhân vật trong tác phẩm chỉ mang tính ước lệ, không đồng nhất với con người ngoài hiện thực Truyện ngắn thành công khi nhà văn biết tinh lựa khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy đủ nhất bản tính của mình Theo Bùi Hiển, địa hạt văn chương yêu cầu con người xuất hiện phải “tự nhiên nhất”, và là “con người sống”, nhân vật không phải là “sơ đồ luân lý”, không nên xây đắp những điển hình mang tính toàn vẹn, hoàn hảo quá
so với thực tại khách quan 73, tr.17
Thứ sáu, thế giới nghệ thuật của truyện ngắn còn là giọng điệu Giọng
điệu là chất nghệ thuật toát ra từ âm hưởng chung của toàn bộ tác phẩm X.Voronin đánh giá tầm quan trọng của giọng điệu nghệ thuật rất cao, ông coi
nó như “cái nhạc tính của tâm trạng, cái khiến cho ở người đọc không ngừng nảy sinh những liên tưởng, những cảm xúc Thiếu nó, không thể có nghệ thuật”
73, tr.136 Phùng Quý Nhâm cho rằng “một trong những phương diện để nhận
ra giá trị đích thực của tác phẩm là nhận ra giọng điệu của tác phẩm” 77, tr.57
Giọng điệu trong truyện ngắn khá đa dạng và phức tạp, có thể kể đến một
số giọng điệu phổ biến như giọng giãi bày, tâm tình, giọng trầm lắng, lạnh lùng, giọng châm biếm, giọng hài hước, giọng hào hùng, giọng buồn thương,… Thực
Trang 26tiễn sáng tạo văn chương cho thấy, trong cùng một tác phẩm, có khi tác giả nhất quán một giọng điệu, cũng có khi đan xen linh hoạt nhiều giọng điệu khác nhau Cũng như thế, có tác giả chỉ trung thành với một giọng điệu trong suốt quá trình sáng tác, cũng có tác giả nhạy bén, liên tục đổi mới, thể nghiệm nhiều loại giọng điệu nhằm tìm ra cho mình một hình thức nghệ thuật phù hợp nhất Cũng có một
số trường hợp xuất hiện sự tương đồng về giọng điệu của những tác giả đồng đại
và lịch đại gây nên nhiều tranh luận trong giới nghiên cứu phê bình Tuy vậy, có thể khẳng định, giọng điệu là một phương tiện thể hiện phong cách của nhà văn, không ai có thể bắt chước ai
Việc chỉ ra sáu đặc điểm trên như đặc trưng khu biệt của truyện ngắn không có nghĩa là truyện ngắn chỉ có những đặc trưng như thế “Văn học là nhân học” (Marxim Gorki), tác phẩm văn học là chỉnh thể thẩm mỹ kết hợp hài hòa hai bình diện nội dung và hình thức Sức hấp dẫn của truyện ngắn không chỉ ở khả năng sáng tạo vô biên của mỗi tác giả, ở giá trị phản ánh đời sống và kết tinh tư tưởng về thế giới và nhân loại mà còn ở hình thức nghệ thuật đắc dụng được sử dụng trong tác phẩm “Để một truyện ngắn đứng được, cần phải làm cho sự sống ngoài đời trở thành sự sống trong truyện Chính là truyện ngắn phải vươn tới cái đó, nó ra đời vì cái đó, cũng vì cái đó nó sống và chết” 73, tr.85
Truyện ngắn hiện đại phản ánh đời sống theo nguyên tắc tư duy tiểu thuyết, nó mô tả đời sống như một thực tại đang tiếp diễn Thế giới đời sống mà truyện ngắn hướng đến khám phá, tìm hiểu và thể hiện không phải là thế giới đã hoàn tất của quá khứ, không phải những cái kết tốt đẹp, có hậu thường thấy trong truyền thống mà đó là khoảng không của thực tại đang tiếp diễn với ngồn ngộn sức sống, với hiện thực căng tràn, đầy ứ, trong thế giới ấy mọi chuyện hiện lên sinh động và chân thực “như nó vốn có” Đó là thế giới của cái thường biến, cái hằng ngày chứa đầy những dang dở, nghịch dị, khó lường Nó tuân theo nguyên tắc “nhà văn là người đứng giữa đời nói chuyện đời cho người đời nghe”
84
Trang 271.1.3 Một vài nét về truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Sau năm 1975, một kỷ nguyên mới mở ra với toàn dân tộc Việt, kỷ
nguyên độc lập, thống nhất, đi lên Chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong lúc hậu quả chiến tranh còn chưa được khắc phục thì cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc nổ ra gây thiệt hại lớn về người và của, cùng với đó là nền kinh tế yếu kém, lạm phát tăng cao, cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp kìm hãm sự phát triển Đứng trước yêu cầu cấp thiết của thời đại, Đại hội Đảng lần VI đã đề ra các nghị quyết trong công tác đổi mới toàn diện đất nước, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh yêu cầu “cởi trói”, “đổi mới tư duy” trong mọi lĩnh vực của đất nước Công cuộc đổi mới trên tất cả các phương diện bước đầu có những thành công nhất định, tạo sự khởi sắc cho nền kinh tế cũng như lĩnh vực văn hóa tư tưởng Văn học Việt hòa chung vào dòng chảy của thời đại, đón nhận luồng gió đổi mới và đã có những sự chuyển mình rõ rệt mang dấu ấn độc đáo Ở giai đoạn trước, do yêu cầu của cuộc kháng chiến dân tộc, văn học nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng lấy nhiệm vụ phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng làm mục tiêu hàng đầu Do vậy, ý thức cộng đồng được đề cao tuyệt đối, cùng với đó, cảm hứng sử thi bao trùm hầu hết các sáng tác nhằm nêu bật con người anh hùng với tính cách phi thường trong hoàn cảnh bom rơi đạn lạc đầy gian lao, khổ ải Những tình huống gay cấn, đấu tranh quyết liệt không khoan nhượng giữa hai chiến tuyến đối lập ta – địch được triển khai nhằm phục vụ mục đích tuyên truyền và cổ động Cách mạng Hình tượng bất tử của người lính gắn liền với vẻ đẹp lí tưởng cách mạng xuyên suốt cả chặng đường đã chi phối toàn bộ đời sống nội tại văn chương giai đoạn này Truyện ngắn lúc bấy giờ mang đậm hơi thở thời đại, làm sống dậy vẻ đẹp hùng tráng của một thời kì chiến đấu gian khổ, khốc liệt nhưng vô cùng anh dũng Hoàn cảnh xã hội thay đổi, văn chương không linh hoạt nắm bắt tình hình để thay đổi mà vẫn chỉ đề cập đến những vấn
đề lớn, khiến một giai đoạn dài sau khi nước nhà thống nhất, văn học đã bị chững lại
Trang 28Đại hội Đảng lần VI với chủ trương đổi mới trên mọi phương diện đã có sức tác động không nhỏ đến văn chương Hiện thực ngồn ngộn chất sống cùng
tư duy nghệ thuật đổi mới đã đem đến cho các nhà văn những chất liệu phong phú cho sáng tác của chính mình Trần Đình Sử đánh giá bước chuyển mình quan trọng của văn học Đổi mới: “Chỉ từ sau năm 1986, với công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, con người trong văn học mới thật sự trải qua một bước ngoặt mới Chất sử thi nhạt dần và quan niệm thế sự đời tư, triết lí văn hóa về con người nổi lên trở thành nét chủ đạo, làm thay đổi cả diện mạo văn học”
87, tr.95
Một hiện thực đầy đặn với nhịp thở chân thật gắn liền với những suy nghĩ thực tế của con người trở nên hết sức sinh động trong văn chương Kinh tế thị trường rõ ràng đã tạo nên những cơ hội, những thách thức mới, đồng thời, nó cũng tạo ra nhiều sự lai căng, hỗn tạp, thậm chí mặt trái đó còn là quy chuẩn đạo đức bị lung lay, lối sống thực dụng cùng sức mạnh của đồng tiền lên ngôi khiến mọi giá trị truyền thống rạn nứt Không khí dân chủ hóa đã tạo động lực cho nhà văn phản ánh những sự thực trần trụi của đời sống, những góc khuất sâu xa trong tâm lí mỗi con người trong xã hội mới Văn chương trở nên đa dạng, sinh động hơn bao giờ hết với cái nhìn đa chiều, đa diện Hoàng Thị Văn trong công
trình Đặc trưng truyện ngắn Việt Nam từ 1975 đến đầu thập niên 90 cho rằng
quá trình diễn tiến của văn học hai thập niên sau chiến tranh có thể chia làm hai giai đoạn: 1975 – 1985 là thời gian đầu văn học chuẩn bị cho sự chuyển đổi, từ
1985 – 1995 là thời kì văn học phát triển sôi động thể hiện cảm hứng nghệ thuật mới
Các nhà văn Đổi mới có ý thức mạnh mẽ trong việc “cởi trói” những lối mòn cũ, những ước lệ truyền thống bó hẹp tư duy sáng tạo nghệ thuật Các tác giả này một mặt gìn giữ và trân trọng những thành tựu ở giai đoạn trước, cùng với đó là sự tìm tòi, cách tân trên các thể loại từ phương diện nội dung đến hình thức Đúng như cái tên của nó, giai đoạn văn học Đổi mới không lặp lại những
Trang 29gì cũ kĩ, sáo mòn, khuôn khổ mà bứt phá, vượt thoát khỏi cái khung thể loại, từ
tư tưởng của tác giả đến chủ đề phản ánh trong tác phẩm và hình thức biểu đạt nội dung tư tưởng đó Trong đó, truyện ngắn thời kì này mang những nét chuyển biến hết sức rõ ràng và độc đáo
Vũ Tuấn Anh khẳng định những cách tân cơ bản của truyện ngắn Đổi mới: “Truyện ngắn đã có những cách tân quan trọng cả trong hình thức và thi pháp” 2, tr.189 Bùi Việt Thắng đánh giá cao tầm quan trọng của những cải biến về nội dung cũng như kĩ thuật viết của các nhà văn truyện ngắn: “Đặc biệt với truyện ngắn, những thành công liên tục của nó đã làm hiển hiện một chân trời rộng lớn của thể loại” 103, tr.117
Truyện ngắn thời kì này không phải chỉ là những mảng hiện thực đơn điệu, tẻ nhạt được nhìn một chiều mà nó hiển hiện sống động dưới nhiều góc nhìn khác nhau, qua nhiều lăng kính và có ý thức đối thoại, phản tỉnh khi trở về với quá khứ để đánh giá, nhìn nhận lại theo một cách hoàn toàn khác “Truyện ngắn hôm nay tiếp tục xới lật các mảng hiện thực ở cả hai chiều quá khứ và hiện tại để mong góp một tiếng nói định vị cho người đọc một thái độ nhìn nhận, đánh giá việc của bây giờ, của nơi đây” 71 Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét
về thế hệ người cầm bút ở thời đại mới với thái độ tin tưởng, đồng thời gửi gắm niềm tự hào, kì vọng vào thế hệ nhà văn trẻ: “Con thuyền truyện ngắn hôm nay
có những tay chèo lái khá không bị chìm dưới lớp sóng mà biết khai mở những luồng lạch riêng vượt lên nhìn bao quát và xuyên sâu khắp biển cả” 71
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã tác động mạnh mẽ đến văn học
cả nước nói chung và truyện ngắn nói riêng Không phải ngẫu nhiên mà ở giai đoạn này, truyện ngắn được xem là “lực lượng xung kích của văn học” trong thời đại mới
Về nội dung phản ánh, truyện ngắn lúc này đã phong phú hơn và tiếp cận sát với hiện thực đời sống, hướng tới những tình huống đời thường, đi sâu vào
Trang 30những rung cảm thầm kín nhất trong nội tâm con người Cuộc sống bộn bề với những mảng hiện thực đa dạng, phức tạp là nguồn cảm hứng dồi dào cho thế hệ nhà văn khai thác Con người rũ bỏ lớp hào quang sử thi anh hùng ca giai đoạn trước đó để trở về với đời thực, một cuộc đời với những chấn thương nặng nề không chỉ về thể xác mà còn là tổn thương sâu sắc ở tinh thần Không những thế, hiện thực cuộc sống gấp gáp còn tạo ra hoàn cảnh mới, con người hối hả chạy đua với nền kinh tế thị trường khiến những thang bảng đạo lý bị đảo lộn, thế giới trở nên hỗn loạn Con người càng về giai đoạn sau càng rơi vào trạng thái “khủng hoảng niềm tin” vào các giá trị truyền thống trước đó, cô đơn, giãy giụa trên ranh giới thiện – ác, giữa việc không đánh mất chính mình và vật lộn xoay sở thích nghi với cuộc sống hiện tại
Hoàn cảnh xã hội thay đổi, kéo theo đó là ý thức đổi mới của chủ thể sáng tạo đã tạo tiền đề cho bước đột phá của truyện ngắn thời kỳ này Đặc biệt, về hình thức thể loại, văn học giai đoạn này có sự thâm nhập, đan xen lẫn nhau Những quan niệm giới hạn về thể loại truyền thống bị phá vỡ, giờ đây, truyện ngắn không chỉ là thể loại tự sự đơn giản nhất quán như trước, nó mang đậm hơi thở thời đại với khả năng biến hóa linh động Người viết có thể vận dụng thủ pháp làm mờ lằn ranh trên đường biên thể loại để sáng tạo ra những hình thức mới mang dụng ý nghệ thuật của bản thân Sự dung hợp thể loại biểu hiện khá rõ qua chất thơ trong văn xuôi, chất tiểu thuyết trong truyện ngắn, và hàng loạt những đặc điểm về thi pháp khác như liên văn bản, tính giễu nhại, Hình thức truyện ngắn cũng trở nên khá đa dạng, phong phú, yếu tố kỳ ảo, giả cổ tích được đưa vào các tác phẩm khá nhiều Theo Bích Thu, một “lực lượng hùng hậu” các tác giả thời kì này đã tạo nên diện mạo đa sắc thái cho truyện ngắn “Đó là những cây bút lão thành Tô Hoài, Bùi Hiển, Trần Kim Trắc,… vẫn dẻo dai sức viết, thâm trầm mà hóm hỉnh trong các tác phẩm Là Vũ Tú Nam, nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng với cái nhìn từng trải vẫn đều đặn ra sách Là Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Trang
Trang 31Thế Hy, Nguyễn Quang Thân vẫn không ngừng bộc lộ năng lực phát hiện mới trong quá trình sáng tạo Rồi tiếp đó là các cây bút gây ấn tượng với người đọc như Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Hoa, Dạ Ngân, Bảo Ninh, Chu Lai Là sự xuất hiện của lớp trẻ dồi dào bút lực: Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Trần Thị Trường, Ngô Tự Lập, Từ Nguyên Tĩnh…” 124 Đội ngũ tác giả tiếp nối các thế hệ cầm bút này
đã tạo nên cho truyện ngắn sự da dạng, phong phú, không những phát huy ưu thế đặc trưng của thể loại mà còn làm mới cho diện mạo truyện ngắn thời kì này Văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng trong giai đoạn này đạt được khá nhiều thành tựu quan trọng Đây được đánh giá là thời kì “được mùa” của truyện ngắn, khi mà “truyện ngắn lên ngôi” và “thăng hoa” không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng Nhận định về truyện ngắn những năm 90 nhà văn Nguyễn Trung Thành cho rằng: “Hầu hết mỗi truyện ngắn là cả một cuộc đời, một số kiếp, thậm chí một thời đại Cầm cái truyện ngắn nghe nặng trịch trong tay Dung lượng của nó là dung lượng của tiểu thuyết phơi bày tất cả mấy năm trước, nhưng nó lại ngắn – cái ngắn này là vô cùng quan trọng – ngắn, bắt buộc phải ngắn, cố tình ngắn, nên đã loại bỏ đi được rất nhiều tạp chất, để cho tác phẩm đặc sệt lại thành một thứ quặng ròng, nặng và nhọn” 73
Như vậy, truyện ngắn với đặc trưng về hình thức thể loại đã có những bước tiến nhất định trên chặng đường văn học Việt nói chung Qua từng thời kỳ, truyện ngắn cùng với những thể loại khác đã góp phần xây dựng nên một diện mạo văn chương Việt đa sắc thái Phản ánh hiện thực cũng như thể hiện chiều sâu nội tại trong tâm hồn con người bằng sự thể nghiệm nhiều hình thức sáng tạo, truyện ngắn tạo nên những bước chuyển mang tính quyết định cho văn học Việt Truyện ngắn đã và đang thực hiện quá trình “phá vỡ chiều hướng êm ả và
sự cân bằng vốn đang trở thành vô nghĩa” trong văn học, thành tựu nó mang lại không chỉ là sự “cởi trói” khỏi những khuôn mẫu cứng nhắc của truyền thống
mà còn là “tiếng nổ của ánh sáng”
Trang 321.2 Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Xuất hiện trên làng văn từ những năm đầu thập niên 80, Nguyễn Quang Thiều gây được ấn tượng mạnh với bạn đọc qua những trang thơ thấm đẫm cảm hứng về cội nguồn, những khát khao, hy vọng về tự do và hành trình mải miết tìm lại bản thể trước nhịp sống hiện đại Xuyên suốt mạch thơ ông là những hình ảnh thân thương nhất với con người, đó là quê hương, là đồng lúa, là rơm rạ, … Những chiêm nghiệm về đời sống, sự suy tư trăn trở về cuộc đời, con người hình thành nên trong thơ Nguyễn Quang Thiều một âm hưởng man mác, khắc khoải
và đầy dự cảm Tiếp nối thành công ở thơ, Nguyễn Quang Thiều tiếp tục thể nghiệm sáng tác trên những thể loại khác nhằm phát triển độ dày dặn cho sức viết và tìm lối đi riêng, thích hợp cho ngòi bút của mình
1.2.1 Con người và sự nghiệp
1.2.1.1 Con người
Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 tại thôn Hoàng Dương, xã Sơn
Công, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, nay thuộc địa giới Hà Nội Ông tốt nghiệp
đại học ở Cuba, sau đó về phục vụ quê hương ở nhiều chức vụ khác nhau (tuần
báo Văn Nghệ, An ninh thế giới, Tuần Việt Nam (tuanvietnam.vn thuộc báo điện
tử Vietnamnet.vn)) Hiện ông đảm nhận vị trí Phó tổng thư ký thứ nhất Hội Nhà văn Á – Phi, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, sinh sống tại Hà Đông, thành phố Hà Nội
Được biết đến như một người đa tài, Nguyễn Quang Thiều khẳng định thiên hướng của mình trong lĩnh vực nghệ thuật và cầm bút với khá nhiều thành công không chỉ ở văn chương mà còn trong hội họa Đa phần độc giả biết đến Nguyễn Quang Thiều với vai trò là nhà thơ hiện đại của Việt Nam, mà ít người biết rằng ông còn tìm tòi, thể nghiệm bút pháp với truyện ngắn, tiểu thuyết, dịch thuật và biên kịch
Bén duyên với văn chương khi còn khá sớm, Nguyễn Quang Thiều đã sáng tác thơ từ đầu những năm 1980 Ông từng đạt giải ba cuộc thi thơ do tạp
Trang 33chí Văn nghệ quân đội tổ chức vào năm 1983, năm 1989 đạt giải thơ hay Nhưng chỉ khi trình làng tập thơ Ngôi nhà mười bảy tuổi, ông đã gây nên tiếng vang lớn
trên văn đàn Việt Quả thật, Nguyễn Quang Thiều được xem là một cây bút đa năng, có sức viết lớn và được xem như một trong những lá cờ đầu trong phong trào cách tân thơ hiện đại đồng thời góp phần quảng bá văn học Việt Nam ra bên ngoài biên giới
Lớn lên ở làng Chùa với những gì bình dị, yên bình nhất có lẽ là bước đệm để Nguyễn Quang Thiều đạt được thành công trong sự nghiệp với hệ thống hình ảnh, biểu tượng gắn liền với nếp sinh hoạt làng xã, với văn hóa cộng đồng mang đậm nét truyền thống của làng quê Bắc Bộ Cùng với đó, sự nghiêm khắc
từ những bài học của cha, cái dịu dàng nồng đượm của mẹ và sự ấp iu gắn bó thân mật với người bà đã tạo nên trong văn thơ Nguyễn Quang Thiều không khí bình yên của vùng nông thôn Ở đó, có xóm làng, có quê hương, có cha mẹ, có
kí ức tuổi thơ mà mỗi người đọc khi soi mình trong những hồi tưởng ấy đều có thể nhận thấy phần nào tuổi thơ của chính mình
Đọc Nguyễn Quang Thiều, thấy như những gì thân thuộc nhất tràn về trong tâm thức, cùng với đó là khát khao kiếm tìm, ngưỡng vọng và mang ơn cội nguồn Cội nguồn như mạch nước thiêng liêng xuyên suốt chiều dài tác phẩm của ông tạo nên dấu ấn riêng biệt
Nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định “truyện ngắn mang rất rõ cái chất của từng người viết (…) Sự nhất quán trong chủ đề là điều ta vẫn bắt gặp ở những ngòi bút chân chính” 73, tr.25 Sự nhất quán về chủ đề trong các sáng tác của Nguyễn Quang Thiều là một nét vẽ nối liền từ thơ sang văn xuôi Trong sáng tác của ông, hình ảnh con sông Đáy và làng Chùa trở đi trở lại như một biểu tượng
ám ảnh Đó là dấu ấn của chốn linh thiêng - vùng đất tâm linh đầy thành kính và ngưỡng vọng của một người con giàu cảm xúc luôn thường trực trong tâm thức
về đất mẹ, về cội rễ của mình Ta bắt gặp hàng loạt các sự vật, hiện tượng đối lập nhau cùng tồn tại trong văn thơ ông như: bóng tối- ánh sáng, sự sống- cái
Trang 34chết Đặc biệt, trong tác phẩm gần đây nhất, cuốn Người kể chuyện lúc nửa đêm
và những giấc mộng, dường như Nguyễn Quang Thiều dành sự quan tâm đến
“phần âm” của cuộc sống khá rõ nét Đó phải chăng là cách ông “khơi gợi lên sự phục sinh và cội nguồn của cuộc sống” trong tác phẩm của mình?
Những trang sách của Nguyễn Quang Thiều đượm mùi vị quê hương, tưởng chừng như người đàn ông trầm lắng suy tư bên khói thuốc ấy đang “khóc thương những ngôi làng” trong “khúc bi ca” bất tận về tình yêu đôi lứa và tình người Những ám ảnh sâu xa từ trong tiềm thức kết hợp với sự trải nghiệm dày dạn, xương máu trên đường đời đã tạo nên những suy ngẫm đậm chất thế sự trong văn thơ ông Chính cái suy tư, chiêm nghiệm về cuộc sống, về thế giới ấy
đã không ngừng thôi thúc Nguyễn Quang Thiều, nó yêu cầu bức thiết được bung tỏa trong câu chữ, hơn thế, để bộc lộ cái tâm, cái tài của người nghệ sĩ Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều đã góp nhặt những gì tinh túy nhất, giản dị nhất mà ý nghĩa nhất để “giữ lửa” cho con người trong nhịp sống hiện đại
1.2.1.2 Sự nghiệp
Đến với văn chương, Nguyễn Quang Thiều luôn chủ động tự tìm tòi, thể nghiệm những điều mới lạ Ông ít khi chịu bó buộc mình trong một thể loại nhất định Chính điều này đã tạo nên cho văn chương đương đại một cây bút mà dấu
ấn để lại đa dạng trên khắp các thể loại Từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn học, ở “cuộc chơi” nào Nguyễn Quang Thiều cũng định vị được cho mình một cá tính riêng không dễ nhầm lẫn với bất cứ tác giả nào khác
Nguyễn Thị Minh Thái từng cho rằng: “Bản chất của Nguyễn Quang Thiều là một nhà thơ Tác giả đến với văn chương bắt đầu từ thơ Dù có di chuyển liên tục giữa hai địa hạt văn xuôi - thơ, Nguyễn Quang Thiều vẫn không thoát khỏi cái bản ngã của một nhà thơ Trong văn anh luôn tràn đầy sự lãng mạn, tư duy hình ảnh, suy ngẫm và tưởng tượng" 160 Dễ nhận thấy trong các tác phẩm của Nguyễn Quang Thiều là tâm trạng đau đáu nỗi niềm hoài cổ, âm hưởng này triền miên, xuyên suốt, thể hiện một cái tôi đa cảm luôn trong trạng
Trang 35thái truy tìm bản thể, hướng về cội nguồn với những băn khoăn, day dứt, những suy tư ngẫm nghĩ rất đời, rất người Chính nỗi buồn, nỗi trăn trở về cuộc đời, về con người tạo nên tinh thần nhân đạo trong nguồn mạch văn chương Nguyễn Quang Thiều
Nguyễn Quang Thiều trải hồn trên những trang viết, nhờ đó mà các sáng tác của ông đậm chất thế sự, tính thời sự được khắc họa rõ nét bên cạnh những
dự cảm về thời đại Với ông, ngôn ngữ thơ ca phải là thứ ngôn ngữ “gần với tiếng nói đời thường nhất", “sự quyến rũ của ngôn ngữ không phải là sự tầng tầng lớp lớp những nghĩa và những cấu trúc đầy tính hình thức mà chúng ta cố tạo ra cho nó hay tìm cách gán ép cho nó Mà sự quyến rũ của ngôn ngữ là khi
nó bị ném thẳng vào bức tường của sự thật và ngay lập tức bật trở lại như chúng
ta ném một quả bóng” Hơn thế, ông đề cao sự tưởng tượng, liên tưởng của người sáng tác để tạo ra được những biểu tượng, hệ thống hình ảnh mang tính
ám ảnh, gợi nhớ nhiều điều, để lại dấu ấn sâu đậm trong người đọc Là người miệt mài sáng tạo và không lúc nào ngơi nghỉ, Nguyễn Quang Thiều có ý thức nghiêm túc về bổn phận, trách nhiệm của một “phu chữ” (chữ dùng của Lê Đạt) Ông quan niệm “hãy sống, hãy mơ ước và sáng tạo không ngưng nghỉ trong im lặng nếu không có lý do để than thở Khi nhà văn sống đến từng nào thì họ sẽ viết đến từng đó” Là nhà văn, hãy viết những gì của chính bản thân mình trải nghiệm, viết từ tận sâu trái tim và tâm hồn mình “tôi phải là chính tôi và không phải bất kỳ một ai khác, kể cả một vị Thánh” 121, tr.6
Cũng như nhiều nghệ sĩ ngôn từ khác, Nguyễn Quang Thiều đã góp nhặt một số lượng không ít tác phẩm vào cánh đồng văn chương bất tận của người
việt Tính tới nay, ông đã có 10 tập thơ: Ngôi nhà 17 tuổi (1990), Sự mất ngủ
của lửa (1992), Những người đàn bà gánh nước sông (1995), Trường ca Những người lính của làng (1996), Nhịp điệu châu thổ mới (1997), Thơ Nguyễn Quang Thiều (1997), Thơ cho thiếu nhi (1998), Bài ca những con chim đêm (1999), Cây ánh sáng (2010), Châu thổ (2012); 4 tiểu thuyết: Vòng nguyệt quế cô đơn
Trang 36(1991), Cỏ hoang (1992), Tiếng gọi tình yêu (1993), Kẻ ám sát cánh đồng (1995); 5 tập truyện ngắn: Người đàn bà tóc trắng (1994), Đứa con của 2 dòng
họ (1996), Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều (1996), Nguyễn Quang Thiều: tác phẩm chọn lọc (2006), Mùa hoa cải bên sông (2013); 5 tập truyện cho thiếu nhi: Người cha (1997), Bí mật hồ cá thần (1997), Con quỷ gỗ (2000), Câu chuyện ngọn núi bà già mù (2002); 2 tập chân dung văn học: Ba người (in chung)
(2005), Người (in chung) (2008); 4 tạp văn và tiểu luận: Có một kẻ rời bỏ thành
phố (2010), Người kể chuyện lúc nửa đêm và những giấc mộng (2016); Trong ngôi nhà của mẹ (2016), Trong căn phòng một người bại liệt (2016), 3 tác phẩm
dịch thuật: Chó Dingo- tuyển truyện ngắn Australia thế kỷ XX (1995), Khoảng
thời gian không ngủ (Thơ Mỹ, in chung) (1997), Năm nhà thơ hiện đại Hàn Quốc (2000)
Ngoài ra, ông cũng có những tác phẩm được xuất bản ở nước ngoài, như
Petide La Fille Du Fleuve- truyện ngắn in tại Pháp (1997), La Petite Marchande
De Vermicelles – truyện ngắn in tại Pháp (1998), The Women Carry River Water
– in tại Mỹ (1997) Bên cạnh đó, thơ và truyện ngắn của ông cũng được in trên các báo, tạp chí danh tiếng của Anh, Nga, Na-uy, Colombia, Thụy Điển, Đài Loan, Hàn Quốc,… Tên tuổi của Nguyễn Quang Thiều gắn liền với những thước
phim kỷ niệm một thời như: Lời nguyền của dòng sông (chuyển thể từ truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông (Huy chương vàng Liên hoan phim truyền hình quốc tế tại Bỉ - 1993), Chuyện làng Nhô (chuyển thể từ tiểu thuyết Kẻ ám sát
cánh đồng), Ba người đàn bà (chuyển thể từ truyện ngắn Người đàn bà tóc trắng)
Về cơ bản, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Quang Thiều ghi nhận hai giải
thưởng lớn: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993 cho tập thơ Sự mất
ngủ của lửa, Giải thưởng Final cho tập thơ The Women Carry River Water của
The National Literary Translators Association of America năm 1998
Trang 37Ngoài ra, Nguyễn Quang Thiều còn góp mặt trong nhiều triển lãm hội họa lớn trong nước Tiêu biểu là triển lãm tranh khỉ mừng tết Bính Thân 2016 tổ chức tại Hà Nội và “Khói trời mênh mông” lấy cảm hứng từ âm nhạc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn diễn ra từ 28/2- 25/3 tại Hàng Da Galleria (Hà Nội) và
từ 1-10/4 tại Hội An
1.2.2 Nguyễn Quang Thiều – “Người nhà quê” phục dựng cố hương qua dòng ký ức
Có thể khẳng định, Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong trong trào lưu hiện đại hóa thi ca mà còn là cây viết văn xuôi giàu cảm xúc Con người ông không chỉ là một nhà báo linh hoạt và nhạy bén mà còn là một nhà văn ưu tư với những phiền muộn đậm tính nhân đạo
Như đã đề cập ở trên, Nguyễn Quang Thiều viết rất nhiều thể loại Tuy lĩnh vực nào cũng đạt được thành công, ghi dấu ấn với những tác phẩm danh tiếng nhưng nhắc tới Nguyễn Quang Thiều, người ta nhớ đến đầu tiên là một thi
sĩ - một nhà thơ cách tân nổi tiếng gây nhiều tranh cãi trong các cuộc bút chiến trên văn đàn Việt Nam hiện đại Với thơ ca, ông bung trổ hết tài năng vào câu chữ, đắm mình trong những khoảnh khắc đầy ám ảnh và hiển hiện như một “sự mất ngủ” Ông thừa nhận thơ ca là “nơi duy nhất để tôi giải phóng tôi và để tôi trú ẩn”, đồng thời cho rằng thơ là để “cứu rỗi thế giới”, “là chiếc neo giữ thơ không rơi vào vùng phi nhân tính” Có lẽ chỉ trong thơ, ông mới bộc lộ một cách tài tình nhất những ẩn ức, ám thị cũng như những lo âu, suy tư về thực tại trước mắt
Phạm Khải nhận xét: “Nếu như thơ Hoàng Nhuận Cầm có sức cuốn của
giai điệu thì thơ Nguyễn Quang Thiều lại có sức hút của ý tưởng” 154 Cùng với sự trưởng thành qua thời gian, Nguyễn Quang Thiều đã chứng tỏ bản lĩnh của mình trước dư luận Từ những năm 1990, thơ đương đại Việt Nam bắt đầu
có sự chuyển đổi lớn về mặt thi pháp Nối tiếp những thành công dang dở trước
đó của Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền và Trần Dần, Nguyễn Quang Thiều
Trang 38là nhà thơ đầu tiên bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của mình,
đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt
Thơ Nguyễn Quang Thiều với lối cách tân “độc đạo và thẳng tắp” về bút pháp cũng như âm điệu trữ tình đã khơi dậy một mạch ngầm trong văn học Việt những năm 90 Đỗ Quyên đánh giá: “Thơ Nguyễn Quang Thiều kích nâng nền
mỹ học truyền thống lên với tư duy và hiện thực hiện đại nhưng vẫn bảo toàn tính chất của nó” 162 Sự đổi mới trong thơ ông gắn liền với cội rễ tuổi thơ, đó
là thế giới của sự vĩnh hằng, cái đẹp và chiều sâu từ trong tâm thức Trong thơ ông chất chứa nỗi buồn, nặng trĩu lo lắng vì hiện trạng nông thôn biến đổi trước những tác động của xã hội công nghiệp hóa, tràn ngập sự khắc khoải và dự cảm
về sự sống, con người và thời đại Thơ Nguyễn Quang Thiều về mặt tâm linh, đã gắn chặt với mảnh đất làng Chùa cùng những hình bóng của quá khứ, đồng ruộng làng quê Tất cả được thể hiện phong phú qua những hồi tưởng trên trục quay của bánh xe thời gian Nguyễn Quang Thiều tự nhận “Trong thơ ca tôi tự cho mình những khoảng tự do tuyệt đối (…) Trong thơ tôi, tôi là một gã điên, là một con ruồi, một con chó nhỏ canh giữ nỗi buồn của chính mình, và tôi được là chính tôi” 161
Maugam từng nói “Trong nghệ thuật, điều quan trọng nhất đối với tôi là bản lĩnh nghệ sĩ” 73, tr.161 Bản lĩnh của người cầm bút thể hiện qua chặng đường sáng tác của tác giả, qua những luận bàn tranh cãi của giới học thuật và độc giả về vấn đề tiếp nhận tác phẩm của chính tác giả Không chỉ vậy, bản lĩnh
ấy còn thể hiện qua tính cách của người cầm bút, đổi mới, cách tân hay giữ vững chuẩn mực của thi pháp truyền thống? Những vấn đề đó quyết định chiều sâu nội tại của tác phẩm cũng như luận đề tư tưởng của tác giả Nguyễn Quang Thiều đã giữ vững lập trường tư tưởng của bản thân, xác định con đường “độc đạo” xuyên suốt từ thơ sang địa hạt văn xuôi
Trang 39Có thể nói, ở địa hạt thơ ca, Nguyễn Quang Thiều đã chắt chiu tài năng của mình, ủ men cho những giọt rượu nồng đượm nhất thì với văn xuôi, mà cụ thể là truyện ngắn, sự chú ý đến đặc trưng thể loại cũng như phương thức thể hiện trong nội dung, hình thức còn khá sơ sài Ông từng tâm sự: “Với văn xuôi, tôi chỉ sắm vai người kể chuyện Những câu chuyện tôi được chứng kiến tận mắt, những câu chuyện tôi được người khác truyền lại Nó không phải những câu chuyện của cá nhân tôi, nó là câu chuyện mà bất cứ ai cũng một đôi lần từng trải qua” 154 Hơn một lần, Nguyễn Quang Thiều thừa nhận mình không có duyên với truyện ngắn, bản thân ông cũng không chấp bút viết về truyện ngắn
sau tập Mùa hoa cải bên sông Lý giải cho điều này, có thể hiểu rằng thế mạnh
của ông là thơ, những tâm tư, tình cảm cũng như những nghĩ suy, trăn trở về thời đại được ông miêu tả qua câu chữ, nhịp điệu, vần điệu và những khoảng trống ngôn từ Hình thức thơ – văn xuôi thích hợp để tác giả kí gửi những nỗi băn khoăn, hy vọng và tiếng nói thống thiết của mình Còn truyện ngắn lại mang đặc trưng riêng khiến việc bộc lộ tầm nhìn và quan điểm mang nhiều hạn chế, vì vậy Nguyễn Quang Thiều đã không phát triển ngòi bút của mình hướng về truyện ngắn Cũng có thể, truyện ngắn với ông là một nét vẽ thanh, mảnh và mang nét độc đáo riêng Ông chủ ý hướng truyện ngắn đi theo một phong cách nhuần nhị, lãng mạn, đầy chất thơ và dừng lại khi “chất” trong truyện ngắn đã đúng như trong mong đợi của mình Tuy không mặn mà lắm với truyện ngắn nhưng những đứa con tinh thần này của ông lại có một sức sống lâu bền bất ngờ trong lòng độc giả Thiên Sơn từng nhận định: “Truyện ngắn của anh hấp dẫn bởi chất thơ, bởi những chi tiết độc đáo và cả sắc màu kỳ ảo, chiều sâu nhân văn
và triết lý Anh thường tạo được những chi tiết đắt đầy bất ngờ cuối mỗi truyện, gây được ấn tượng sau mỗi cái kết Với một người chuyên viết văn xuôi, nếu vươn đến tầm truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều chắc hẳn đã là một sự nghiệp vinh quang” 84
Trang 40Cùng là những mảng đề tài rất quen thuộc với mỗi người chúng ta như câu chuyện tình yêu còn chưa vượt ra ngoài vòng cương tỏa của định kiến xã hội bao đời nay, mối thù truyền kiếp giữa hai họ tộc mà thế hệ sau cố gắng xóa nhòa vẫn không được, là dư âm hậu chiến với niềm đau day dứt, là cuộc rượt đuổi, truy tầm hạnh phúc và sự khắc khoải chờ đợi của những người phụ nữ mòn mỏi bên bờ sông, hay cuộc sống thuần hậu của những người dân chất phác nơi thôn quê, … nhưng điểm cốt lõi trong truyện ngắn ông là sự vận động vươn đến ánh sáng, thứ hào quang rất đỗi nhỏ nhoi và đơn giản của hạnh phúc, của tình người Bên cạnh đó, niềm tin bất diệt vào lẽ phải và tình yêu thương con người tràn ứ trên mỗi trang sách đã khơi gợi ở mỗi bạn đọc lòng lương thiện và ý thức gìn giữ nhân cách trước biến cố thăng trầm của thời cuộc Tất cả đã tạo nên trong văn xuôi Nguyễn Quang Thiều một nét rất riêng, không lẫn vào bất cứ tác giả nào Văn Nguyễn Quang Thiều cũng như thơ, không có cái gai góc, kịch tính mà lãng đãng, diệu vợi nỗi niềm nhân thế, nhựa sống âm thầm chảy dưới mạch ngầm văn bản Thế giới văn xuôi của ông thuần nhất với hình tượng con người trầm tĩnh trong nội tâm mà không nguôi dằn vặt, day dứt trước biến động của thời cuộc Hầu hết đó đều là những con người sống với lương tâm chính trực, có tấm lòng lương thiện và trân trọng đạo nghĩa Riêng về truyện viết cho thiếu nhi, nguồn cảm hứng chủ yếu được khơi gợi từ con gái nhà thơ Cứ mỗi lần đặt bút viết cho trẻ thơ “là một lần tâm hồn cằn cỗi của tôi - những người lớn lại trở nên trong sạch, phẳng phiu lạ kỳ” Nhiều khi những gì xuất hiện trong thế giới truyện thiếu nhi chỉ đơn giản là giấc mơ về con tò he của ông nội, những truyền thuyết hư thực từ đời ông bà, thế nhưng chính nó đã đem lại giá trị riêng cho văn học thiếu nhi trong khối lượng sáng tác của tác giả
Nguyễn Quang Thiều là một nghệ sĩ tài hoa Chất tài hoa ấy lưu chuyển từ trong sâu thẳm con người tác giả, nó thấm đẫm mùi vị quê hương và nỗi đau đáu trước nhân thế, tình người “Người nhà quê” ấy mải miết trên hành trình phục
dựng cố hương qua dòng ký ức tuôn chảy lai láng mỗi khi đêm về Nguyễn