1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của nguyễn nhật ánh (2000 2015)

132 87 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 828,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng cái nhìn luôn tươi mới về thế giới trẻ thơ và phong cách đa dạng, những tác phẩm văn chương của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lần lượt ra mắt với số lượng đáng kể và luôn chiếm lĩnh trái

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH (2000 – 2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH (2000 – 2015)

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 3

Cảm ơn ba mẹ, những người thân, bạn bè, đồng nghiệp, Ban giám hiệu, tổ Ngữ văn trường Trung học phổ thông Lương Thế Vinh,… đã luôn sẻ chia, động viên và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi học tập và nghiên cứu

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Bùi Thanh Truyền Các số liệu, tham khảo, trích dẫn sử dụng trong luận văn đều có ghi nguồn cụ thể

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH (2000 – 2015) 11

1.1 Vấn đề người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật từ góc nhìn tự sự học 11

1.1.1 Người kể chuyện và các kiểu người kể chuyện trong văn xuôi 11

1.1.2 Điểm nhìn trần thuật và các dạng thức điểm nhìn của người kể 15

1.2 Người kể chuyện và cách thức tổ chức điểm nhìn trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015) 18

1.2.1 Người kể chuyện với điểm nhìn toàn tri 18

1.2.2 Người kể chuyện với điểm nhìn nội quan, ngoại quan 23

1.2.3 Người kể chuyện với điểm nhìn lạ hóa 31

1.2.4 Người kể chuyện với sự dịch chuyển, hòa kết điểm nhìn 41

Tiểu kết 46

Chương 2 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC THỜI GIAN, KẾT CẤU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH (2000 – 2015) 47

2.1 Người kể chuyện và cách thức tổ chức thời gian trần thuật 47

2.1.1 Thời gian tuyến tính 48

2.1.2 Thời gian đảo tuyến 50

Trang 6

2.1.3 Thời gian kì ảo 55

2.2 Người kể chuyện và cách thức tổ chức kết cấu trần thuật 59

2.2.1 Kết cấu chương hồi 60

2.2.2 Kết cấu lắp ghép 64

2.2.3 Kết cấu truyện lồng truyện 66

Tiểu kết 72

Chương 3 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH (2000 – 2015) 73

3.1 Người kể chuyện và ngôn ngữ trần thuật 73

3.1.1 Các kiểu lời phát ngôn của người kể chuyện 74

3.1.2 Tính đa thanh của ngôn ngữ người kể chuyện 79

3.1.3 Sự gia tăng ngôn ngữ đời sống đương đại của trẻ thơ vào diễn ngôn người kể chuyện 83

3.2 Người kể chuyện và giọng điệu trần thuật 89

3.2.1 Giọng hồn nhiên trong sáng 91

3.2.2 Giọng trữ tình tha thiết 95

3.2.3 Giọng đối thoại, triết lí 98

Tiểu kết 106

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong nhiều năm trở lại đây, tên tuổi nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã thực

sự quen thuộc với nhiều bạn đọc, đặc biệt là thiếu nhi và những người yêu thích truyện thiếu nhi Không chỉ trẻ thơ mà cả người lớn mỗi lần đến với sáng tác của ông là một lần được cầm trên tay tấm vé để bước lên chuyến tàu trở về tuổi thơ Mười lăm năm đầu thế kỉ XXI đã chứng kiến bước ngoặt mới trong đường văn Nguyễn Nhật Ánh Điều này có thể dễ dàng nhận thấy trong nghệ thuật trần thuật của nhà văn, mà hình tượng người kể chuyện là một phẩm tính nổi bật 1.2 Bằng cái nhìn luôn tươi mới về thế giới trẻ thơ và phong cách đa dạng, những tác phẩm văn chương của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lần lượt ra mắt với

số lượng đáng kể và luôn chiếm lĩnh trái tim độc giả bởi đề tài gần gũi, cốt truyện nhẹ nhàng, giọng văn trong sáng, hồn nhiên đã đưa người đọc trở lại với thế giới thần tiên của tuổi thơ bằng “phi thuyền văn chương” đậm chất riêng Nguyễn Nhật Ánh sớm định hình cho mình mảng văn viết về thiếu nhi và đã đạt được rất nhiều thành công rực rỡ Nghiên cứu văn học thiếu nhi qua các sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh sẽ góp phần giải mã được những yếu tố làm nên những thành công rực rỡ cho nhà văn xứ Quảng này

1.3 Để thổi hồn vào trong những sáng tác của mình, Nguyễn Nhật Ánh đã không ngừng tìm kiếm những mới mẻ, tìm tòi và thay đổi các kiểu nhân vật, nhất là về người kể chuyện Nhà văn từng phát biểu tại lễ trao giải thưởng Văn học ASEAN tại Thailand (2010): “Mỗi dân tộc đều có treo một quả chuông trước cửa sổ tâm hồn của mình Nhà văn có sứ mạng phải rung những quả chuông đó lên, bằng văn chương” [12] Và ông đã trở thành người đi “rung chuông” xuất sắc khi đã tạo nên những thanh âm thật đẹp cho tâm hồn, đặc biệt dành cho thiếu nhi Nhân vật người kể chuyện trong các sáng tác của nhà văn đa dạng về hình thức, ngôi kể mang đến những sắc thái riêng cho từng tác phẩm

Trang 8

Nghiên cứu Người kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật

trần thuật, vấn đề đang rất được quan tâm trong nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học Về thực tiễn, đề tài góp phần tìm hiểu về những sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh – một nhà văn đương đại xuất sắc đã đạt được những thành công rực

rỡ trong mảng văn học thiếu nhi, một “hiện tượng văn chương” đang được chú ý

và là một trong những tác giả được đông đảo bạn đọc quan tâm, yêu thích nhất hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nguyễn Nhật Ánh là một trong số ít nhà văn đương thời đã tạo dựng cho mình một chỗ đứng khá vững chắc trong lòng của độc giả Chẳng mấy ai còn

ngạc nhiên khi chứng kiến bạn đọc của Cho tôi một vé đi tuổi thơ, Lá nằm trong

lá, Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ… không chỉ là thiếu nhi, mà còn là thanh

niên, người lớn… Để đạt được hiệu quả đó là do ông luôn biết cách tạo nên phong cách riêng của mình Chính tác giả đã từng chia sẻ: “Tôi biến hóa những

kỷ niệm vào trang viết Mỗi người trong cuộc đời đều có những vui buồn, sướng khổ Sống tận cùng đến tất cả những cảm xúc của mình là chất liệu cho nhà văn" Nhờ lối viết chân thật như thế, người đọc ở mọi lứa tuổi có thể cảm nhận được chính bản thân mình ẩn hiện trong tác phẩm Vì tầm ảnh hưởng khá rộng rãi, Nguyễn Nhật Ánh dần được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn học, dễ dàng tìm thấy những bài nghiên cứu, bình luận, phê bình, những luận văn xoay quanh những vấn đề mới mẻ trong các tác phẩm của nhà văn Tuy nhiên cho đến nay, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào thực sự quan tâm đến khía cạnh “người kể chuyện” trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh Nếu

có đề cập đến vấn đề này thì chỉ được nhắc đến một cách khái quát, chứ không

có sự chuyên sâu, cụ thể các tác phẩm trên phương diện rộng Sau đây là một số bài nghiên cứu về nghệ thuật kể chuyện trong truyện thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh và những nghiên cứu liên quan đến người kể chuyện trong truyện viết cho

Trang 9

thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (giai đoạn từ 2000 – 2015)

viết Nghệ thuật trần thuật trong Cho tôi một vé đi tuổi thơ, Đảo mộng mơ, và

Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh vào năm 2011 đã nghiên

cứu khá kĩ lưỡng về quan điểm trần thuật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Song luận văn chưa thực sự quan tâm đến vai trò của người kể chuyện và cũng chỉ bó hẹp phạm vi ở ba tác phẩm, chưa có tầm bao quát nhất định Hoàng

Trường Giang cũng thành công với Những đóng góp của nhà văn Nguyễn Nhật

Ánh trong truyện viết cho thiếu nhi với cứ liệu là bộ truyện Chuyện xứ Lang

Năm 2012, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hằng với tên gọi Thế giới trẻ

thơ trong truyện của Nguyễn Nhật Ánh được khảo sát trên một lượng khá lớn

các tác phẩm, nhưng đề tài lại chú trọng đề cập nhiều đến ngôn ngữ đối thoại được sử dụng hầu như phổ biến trong truyện Người viết khẳng định: “Mặc dù

sử dụng nhiều từ địa phương và tiếng lóng như vậy nhưng tác phẩm của nhà văn không làm cho bạn đọc cả nước thấy khó hiểu hay nhàm chán, bởi ngôn ngữ văn học của Nguyễn Nhật Ánh rất sáng sủa, việc sử dụng tiếng địa phương, tiếng

lóng rất có liều lượng, góp phần làm nên tính phổ cập của tác phẩm” [44] Dù

chỉ được nhắc đến như là một vấn đề nhỏ, song những công trình này đã phần nào tạo dựng tiền đề cho những nghiên cứu mang tính chuyên sâu và phổ quát của các tác phẩm Vừa qua, nhân kỉ niệm sinh nhật lần thứ 60 của nhà văn

Trang 10

Nguyễn Nhật Ánh, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn học – Nghệ thuật trẻ em,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổ chức hội thảo khoa học Nguyễn Nhật

tích cực từ các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Kết quả của hội thảo là một

tập sách ra đời với tên gọi: Nguyễn Nhật Ánh – hiệp sĩ của tuổi thơ “Tập sách là

kết quả nghiên cứu bước đầu của một số tiếng nói trong giới nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học; của một số nhà văn có chung một niềm đam mê sáng tác cho thiếu nhi – những người “đồng bệnh” với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Do

là những tiếng nói học thuật đầu tiên về Nguyễn Nhật Ánh, nên chúng chỉ như là những phác thảo mang tính nhận diện, đối thoại, gợi dẫn, đặt trong nhiều tiếng nói khác bình đẳng và trân quý” [68, tr.10-11] Một trong những bài nghiên cứu

được đưa vào bản thảo sách là Nghệ thuật tự sự trong tác phẩm Tôi thấy hoa

vàng trên cỏ xanh của Nguyễn Nhật Ánh được viết bởi Nguyễn Thị Hải Phương

Bài viết đã khảo sát dựa trên cứ liệu Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh để làm rõ

nghệ thuật tự sự qua các phương diện: xây dựng nhân vật kể chuyện, xây dựng không gian, thời gian và sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu Nhìn chung, bài viết đã mang đến cái nhìn khá sâu sắc về nghệ thuật kể chuyện trong văn phong Nguyễn Nhật Ánh, song vì chỉ tập trung vào một cứ liệu nên công trình chưa quy chiếu toàn cảnh các tác phẩm nói chung

2.2 Những nghiên cứu liên quan đến người kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (giai đoạn từ 2000 - 2015)

Thái Phan Vàng Anh trong bài nghiên cứu Nguyễn Nhật Ánh, người kể

chuyện của thiếu nhi đăng trên Tạp chí Non nước số 187 có viết: “Chúng tôi gọi

Nguyễn Nhật Ánh là người kể chuyện của thiếu nhi với hàm ý rằng Nguyễn Nhật Ánh là tác giả của những câu chuyện về thiếu nhi, dành cho thiếu nhi, khi anh đóng vai người kể chuyện toàn tri, hay thậm chí khi anh hóa thân thành những vai kể khác Bởi với thiếu nhi, việc ai thực sự là chủ thể trần thuật trong truyện kể không quan trọng bằng ai mới là người đem lại những chuyện kể ấy

Trang 11

Với thiếu nhi, Nguyễn Nhật Ánh như nàng Scheherazade trong Nghìn lẻ một

đêm cùng những câu chuyện bất tận” [2] Trong bài nghiên cứu này, tác giả còn

đưa ra một số quan điểm về điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật cùng những sức hút làm nên thành công của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập chi tiết và khai thác sâu vào từng tác phẩm cụ thể mà đơn thuần đưa ra những đánh giá chung về nghệ thuật trần thuật của nhà văn

Bên cạnh đó, những bài phê bình của Lê Minh Quốc, Thụy Anh… cũng nhắc nhiều đến thế giới trẻ thơ cũng như nghệ thuật kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Nhật Ánh Thụy Anh từng phát hiện: “Nguyễn Nhật Ánh có cái tài của người dẫn chuyện, thường chọn đứng ở ngôi thứ nhất để hóa thân vào một cậu chàng nào đó, anh có thể khôn ngoan hé lộ cho người – đọc – người – lớn thế giới tâm hồn của các cô cậu học trò tuổi teen – cái thế giới mà người lớn vẫn thì thầm nói với nhau rằng nó rất phức tạp, rối tung, đầy bế tắc hoặc phá phách, chỉ chực nhăm nhe bung ra khỏi vòng kiềm tỏa của gia đình, xã hội Hóa ra, nó giản

dị hơn thế rất nhiều và cũng phong phú, sinh động hơn thế rất nhiều Song, nhà văn vẫn kiềm được lòng mà không can thiệp vào tất cả những gì đang diễn ra nơi ấy, không né tránh điều gì, không “định hướng giáo dục”: những chuyện vớ vẩn tầm phào, những thú nhận thật thà về các trò nghịch dại, khoe mẽ, sĩ diện,

gàn dở , những suy nghĩ buồn cười ngồ ngộ về tình bạn khác giới, về tình yêu”

[1] Mai Sơn thì tinh tế nhận xét: “Các bạn nhỏ luôn tìm thấy trong truyện của Nguyễn Nhật Ánh thế giới tâm hồn của mình Các em say sưa với cách kể chuyện duyên dáng, giàu tưởng tượng, cách hành văn trong sáng, những hư cấu

kì ảo và đối thoại thông minh, dí dỏm của tác giả” [74] Nhìn từ tác phẩm, bài

viết Nhân vật người kể chuyện trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của Nguyễn

Nhật Ánh của Nguyễn Thị Thanh Hương đã đưa ra những nhận định có giá trị về

những cái “tôi” kể chuyện Bên cạnh đó, người nghiên cứu cũng đã đưa ra ý kiến: “Nguyễn Nhật Ánh sử dụng nhiều điểm nhìn để thể hiện nhân vật “tôi”

Trang 12

vừa là “bản ngã” vừa là “tha nhân” Lúc thì đích thị là một đứa trẻ khờ khạo, ngây ngô, khi lại là người lớn với nhiều trăn trở về cuộc sống Nhưng dù đứng dưới góc nhìn nào, Nguyễn Nhật Ánh vẫn giữ được giọng điệu hài hước, dí dỏm khi kể chuyện” [68, tr 236]

Tất cả những nghiên cứu, phê bình, nhận xét về nghệ thuật kể chuyện cũng như người kể chuyện trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh đều là những mảnh ghép quý giá trong “bức tranh” nghiên cứu phong cách của nhà văn Song, “bức tranh” ấy vẫn chưa được hoàn thiện toàn diện, vẫn còn khá nhiều vấn đề đang để ngỏ Để góp phần tạo nên cái nhìn toàn diện về nghệ thuật trần thuật nói chung

và phương diện người kể chuyện nói riêng, người viết mong muốn đi vào nghiên cứu một cách có hệ thống phương diện người kể chuyện trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015)

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghệ thuật trần thuật là một trong những vấn đề trung tâm của thi pháp văn xuôi hiện đại và người kể chuyện là một yếu tố quan trọng thể hiện ý thức và cách nhìn của nhà văn trong tác phẩm Nghiên cứu về người kể chuyện trong các tác phẩm truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh giai đoạn 2000 – 2015 nhằm tìm hiểu hình tượng người kể chuyện và những mối tương quan giữa tác giả và người kể chuyện cũng như những đặc trưng ngôn ngữ và giọng điệu trong cách trần thuật của nhà văn Việc nghiên cứu trên phương diện lí luận kết hợp phân tích tác phẩm sẽ góp phần làm rõ những yếu tố làm nên thành công và khẳng định tài năng của nhà văn trong mảng văn thiếu nhi thời kì đương đại

- Tìm hiểu khái niệm người kể chuyện và làm rõ khái niệm đó qua các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh

- Phân tích những phương diện chính yếu của hình tượng người kể chuyện trong các truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015) để từ đó

Trang 13

đánh giá, bình luận phong cách nghệ thuật của nhà văn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Từ những vận dụng lý thuyết tự sự học, chúng tôi đi sâu khảo sát, phân tích truyện viết cho thiếu nhi từ 2000 - 2015 của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh từ góc

độ nghệ thuật trần thuật, trên phương diện người kể chuyện

Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn có bút lực dồi dào khi mỗi năm đều cho ra mắt độc giả các tác phẩm mới xuất sắc Số lượng tác phẩm của nhà văn tính đến nay là một con số không nhỏ Do giới hạn của đề tài và thời gian nghiên cứu nên chúng tôi chỉ khảo sát, phân tích những truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh từ năm 2000 – 2015 – giai đoạn thành công rực rỡ, gây được tiếng vang lớn trong văn hóa đọc Các tác phẩm khảo sát bao gồm:

5 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng lí thuyết tự sự học, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 14

5.1 Phương pháp loại hình

Đây là phương pháp giúp người nghiên cứu bao quát mảng sáng tác từ giai đoạn mười lăm năm đầu thế kỉ XXI của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh ở các dạng biểu hiện cụ thể xét từ trục người kể chuyện, chỉ ra các kiểu, dạng người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu,…

Đây là phương pháp chủ yếu nhằm xác định những phương diện cơ bản của nghệ thuật trần thuật, trong đó tập trung vào người kể chuyện

5.3 Phương pháp thống kê – phân loại

Là một phương pháp được dùng để khảo sát, thống kê và tổng hợp lại các nguồn tư liệu đã thu thập được để từ đó khái quát lên từng vấn đề cụ thể Khi khảo sát các sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh (từ năm 2000 đến 2015), chúng tôi

sử dụng phương pháp thống kê để phân loại và tìm ra các hình thức người kể chuyện, điểm nhìn nghệ thuật nhằm đáp ứng cho quá trình phân tích, đưa ra những cứ liệu chính xác, thuyết phục cho vấn đề nghiên cứu

5.4 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để làm rõ những luận điểm, luận cứ và những dẫn chứng trích dẫn từ tác phẩm qua đó phát hiện những nét độc đáo của người kể chuyện trong các truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, giai đoạn 2000 – 2015

5.5 Phương pháp so sánh

Chúng tôi dùng phương pháp so sánh nhằm làm rõ những nét riêng, nét mới, sự độc đáo của người kể chuyện trong sáng tác cho thiếu nhi của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh những năm gần đây so với những nhà văn viết cho tuổi thơ khác cùng thời kì với tác giả

6 Đóng góp của luận văn

Người kể chuyện là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên thành công cho một tác phẩm tự sự Do đó, qua việc nghiên cứu, tìm

Trang 15

hiểu, luận văn cung cấp cái nhìn hệ thống về người kể chuyện – một phương diện tự sự học Đồng thời luận văn khẳng định cá tính sáng tạo trên phương diện nghệ thuật trong các sáng tác của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh – cái tên sáng giá trong mảng văn dành cho thiếu nhi hiện nay Từ đó, đề tài giúp người đọc hiểu thêm về cách nhìn, tâm lí, quan điểm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, phần nào làm rõ được những yếu tố thành công trong nghệ thuật sáng tác của tác giả trong văn học thiếu nhi nói riêng và nền văn học đương đại Việt Nam nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của đề tài được triển khai thành ba chương:

- Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015)

Chương 1 cung cấp những vấn đề lí thuyết về người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật từ góc nhìn tự sự, từ đó đi đến việc tìm hiểu về người kể chuyện

và cách tổ chức điểm nhìn trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015) Đồng thời ở chương này, chúng tôi cũng phân tích điểm nhìn lạ hóa và sự dịch chuyển, hòa kết tự nhiên của người kể chuyện

- Chương 2: Người kể chuyện và cách thức tổ chức thời gian, kết cấu trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015)

Ở chương này, chúng tôi tìm hiểu về người kể chuyện và cách thức tổ chức thời gian trần thuật và kết cấu trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015) Với cách tổ chức thời gian trần thuật, người viết triển khai tìm hiểu về thời gian tuyến tính, thời gian đảo tuyến, thời gian kì

ảo Với cách tổ chức kết cấu trần thuật, luận văn quan tâm đến kiểu kết cấu chương hồi, kết cấu lắp ghép và kết cấu truyện lồng truyện

- Chương 3: Người kể chuyện và nghệ thuật sử dụng ngôn từ, giọng điệu trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015)

Trang 16

Ở chương 3, chúng tôi triển khai phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ và giọng điệu của người kể chuyện để từ đó rút ra những kết luận về sự linh hoạt trong phát ngôn của người kể chuyện, tính đa thanh và sự gia tăng ngôn ngữ trẻ thơ trong đời sống đương đại vào diễn ngôn người kể chuyện trong việc sử dụng ngôn từ nghệ thuật Bên cạnh đó, chúng tôi phân tích giọng điệu trần thuật để làm rõ những cung bậc giọng điệu đa dạng: giọng điệu hồn nhiên trong sáng, giọng điệu trữ tình, giọng điệu triết lí của người kể chuyện

Trang 17

Chương 1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT

TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH (2000 – 2015) 1.1 Vấn đề người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật từ góc nhìn tự sự học

1.1.1 Người kể chuyện và các kiểu người kể chuyện trong văn xuôi

Văn học là thế giới sáng tạo của nhà văn đồng thời cũng tái hiện thế giới khách quan Mỗi một tác phẩm văn học mang theo cách nhìn, cảm nhận, đánh giá của nhà văn để dựng lên những khía cạnh khác nhau của cuộc sống “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh” [85]

Mỗi một tác phẩm tự sự do nhà văn sáng tạo song luôn được kể từ một người nào đó Trải qua rất nhiều giai đoạn văn học, người kể chuyện xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và luôn giữ vị trí quan trọng trong việc làm nên nội dung tác phẩm Người kể chuyện luôn thay mặt nhà văn dẫn dắt và đưa người đọc đến với những nội dung và thông điệp của tác phẩm

Để làm nên một tác phẩm tự sự không thể thiếu người kể chuyện Theo Từ

điển thuật ngữ văn học: “Người kể chuyện là hình tượng ước lệ về người trần

thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, dĩ nhiên không nên đồng nhất với tác giả ngoài đời, có thể là một nhân vật đặc biệt

do tác giả sáng tạo ra, có thể là một người biết câu chuyện nào đó Một tác

phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện” [43, tr.221] Còn theo từ điển

Oxford Advanced Learner’s Dictionary thì người kể chuyện “là một người kể

Trang 18

lại một điều gì đó (a person who narrates sth) Động từ kể (narrate) ở đây được

hiểu là kể lại một câu chuyện (to tell a story), đưa ra một bài tường thuật viết

hoặc nói về một điều gì đó (to give a written or spoken account of sth).”

Nhiều nhà lí luận văn học đã có nhiều nghiên cứu về lí thuyết người kể chuyện “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng được chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên (speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ quan ra mệnh lệnh, người kể chuyện trong tiểu thuyết,… Những kẻ mang thông điệp có thể có thật

hoặc hư cấu” [51, tr.178] Ở điểm này, quan niệm trên có tương đồng với Từ

điển văn học Còn theo Lê Ngọc Trà viết: “Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ

nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác

phẩm văn học” [90, tr.153]

Một số nhà lí luận phương Tây đều khẳng định sự khác biệt giữa người kể chuyện và tác giả R Barthes cho rằng: “Không ai có thể nhầm lẫn tác giả của câu chuyện với người tường thuật lại câu chuyện ấy” [48, tr.245] Đồng quan điểm đó, Lê Ngọc Trà cũng nhấn mạnh: “Người kể chuyện và tác giả không phải là một Không nên đồng nhất người kể chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả xưng “tôi” đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn toàn đứng ngoài sự vận

động của các sư kiện, các tình tiết” [90, tr.153] Qua các khái niệm của những

nhà nghiên cứu, chúng ta có thể thấy sự phân biệt giữa người kể chuyện và tác giả Hai đối tượng ấy không hoàn toàn đồng nhất

Bên cạnh đó, người kể chuyện còn được xem là “một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [19, tr.360] Định nghĩa này đã khẳng định vai trò cầu nối

và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự

Như thế, dưới góc nhìn của tự sự học, người kể chuyện với chức năng kể lại câu chuyện là một vai do nhà văn sáng tạo nên vì thế không nên đồng nhất người kể chuyện với tác giả Người kể chuyện là “một hình hài (figure) được

Trang 19

sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học”, là “cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [48, tr.245] Giữa người kể chuyện và nhà văn tuy không hoàn toàn đồng nhất nhưng vẫn có những tương đồng về quan điểm, tư tưởng bởi lẽ người kể chuyện vốn được dựng lên từ cách nhìn của nhà văn Todorov

khẳng định: “Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới

tưởng tượng ( ) không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật nhân danh cuốn

sách được kể có vị trí hoàn toàn đặc biệt” [62, tr.116] Qua đó, người kể chuyện

cũng chính là người đại diện phát ngôn, thể hiện quan điểm, tư tưởng của nhà văn trong tác phẩm, là sợi dây nối kết quan trọng giữa tác giả và thế giới nghệ

thuật với người đọc

Người kể chuyện là chủ thể của hành vi kể chuyện Trong tác phẩm, người

kể chuyện có thể xuất hiện trực tiếp mà cũng có thể xuất hiện gián tiếp Khi

người kể chuyện xuất hiện trực tiếp được gọi là người kể chuyện lộ diện xưng

tôi để kể chuyện mình hoặc chuyện của một người nào đó Khi không xuất hiện

trực tiếp, ta gọi đó là người kể chuyện ẩn tàng [49] Người kể chuyện ẩn tàng có

thể không thuộc thế giới được miêu tả trong tác phẩm, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động, sự kiện Người kể chuyện ẩn tàng đứng ở bên ngoài, quan sát và kể lại câu chuyện một cách khách quan hoặc đôi khi có tham gia trong việc miêu tả tường tận tâm lí nhân vật Người kể chuyện ẩn tàng có thể là tác

giả ẩn mình trong trường hợp người kể chuyện toàn tri - người kể chuyện biết

hết (omniscient) Người kể chuyện đứng ngoài, đứng trên thế giới được trình

bày để quan sát, kể và bình luận, lý giải sự kiện, am tường mọi chuyện Hay người kể chuyện ẩn tàng có thể tựa vào điểm nhìn một nhân vật trong truyện để

kể

Trang 20

Trước đó, năm 1966, R Scholes và R Kellogg cho xuất bản Bản chất của

tự sự lần đầu, đó là quyển tự sự học được áp dụng khá nhiều bởi các nhà lý luận

phê bình văn học Theo Scholes và Kellogg, dưới góc nhìn lịch sử văn học phân chia bốn kiểu người kể chuyện truyền thống (tradictional narrator), sử quan

là truyện được kể ở ngôi thứ nhất hay thứ ba mà là nhận thức về uy quyền và sự chi phối của người kể chuyện trong truyện kể Nhà phê bình theo chủ nghĩa cấu trúc G.Genette cho rằng: có người kể chuyện là nhân vật (nhân vật chính hoặc nhân vật phụ) và người kể chuyện không phải là nhân vật; có người kể chuyện

là đối tượng của truyện và có người kể chuyện không phải là đối tượng của

truyện kể

Tại Việt Nam, sự quan tâm đến vấn đề người kể chuyện không nhỏ, đặc biệt đáng chú ý là những nghiên cứu phê bình của những học giả như Lê Phong Tuyết, Trần Đình Sử,… Dựa trên những cơ sở tổng hợp các lí thuyết về người

kể chuyện, Lê Phong Tuyết đã phân chia người kể chuyện theo hai dạng thức:

Dạng thứ nhất, nếu người kể chuyện tham gia vào câu chuyện thì chuyện kể ở

ngôi thứ nhất (người kể có thể là nhân vật chính hoặc là nhân vật phụ kể lại)

Dạng thứ hai, nếu người kể không tham gia vào câu chuyện thì chuyện được kể

theo ngôi thứ ba (người kể chuyện đứng ngoài kể một cách khách quan hoặc người kể chuyện chứng tỏ sự hiện diện của mình qua những đánh giá, bình luận) Theo quan điểm của Trần Đình Sử, người kể chuyện “có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai (…)” Quan điểm này cũng có nét tương đồng với Manfred khi nhận định người kể chuyện ở ngôi thứ ba thực chất là người kể chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố ý giấu mình

“Người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi là một nhân vật trong truyện, chứng kiến các sự kiện đứng ra kể Nội dung kể không ra ngoài phạm vi hiểu biết của một người, thường gắn với quan điểm đánh giá riêng của nhân vật ấy” [80, tr.102-103]

Trang 21

Qua những nhận định, nghiên cứu trên, chúng ta có thể nhận ra rằng, với việc phân chia các kiểu người kể chuyện chưa có sự đồng nhất hoàn toàn các ý kiến song có rất nhiều những tương đồng để từ đó có thể rút ra được cái nhìn tổng thể về các kiểu người kể chuyện Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự do nhà văn sáng tạo có thể là người kể chuyện toàn tri (biết hết tất cả) Người kể chuyện còn có thể là người đứng bên ngoài nhưng mang tiếng nói, tư tưởng của nhà văn hoặc chỉ đơn thuần là người kể lại chuyện một cách khách quan, không tham dự bàn bạc, ý kiến Như vậy, trong tác phẩm tự sự, người kể chuyện tồn tại dưới nhiều vai trò, có thể kể chuyện ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba, thế nhưng dù là ở vị trí nào thì người kể chuyện vẫn là hình tượng đặc sắc được tạo

ra để dẫn lối người đọc đến với tác phẩm văn chương

Một trong những yếu tố quan trọng của nghệ thuật tự sự là điểm nhìn nghệ

thuật Truyện do ai kể, kể như thế nào luôn là điều quan tâm đối với nghiên cứu

lý luận tự sự học Điểm nhìn trở thành một cơ sở để có thể phân biệt người kể chuyện và tác giả Trong các chuyên luận bàn về kỹ thuật, thủ pháp kể chuyện, hầu hết các tác giả đều sử dụng điểm nhìn như một khái niệm công cụ cơ bản nhằm xác lập các mô hình truyện kể hoặc ít nhất dành riêng một chương “điểm nhìn” trong kết cấu của công trình

Thuật ngữ “điểm nhìn” được định danh bằng nhiều từ khác nhau như: viewpoint, view, point of view, Thực tế cho thấy, các nhà lý luận phê bình cũng sử dụng rất nhiều những thuật ngữ khác nhau để cùng nói về khái niệm này Ở Nga, Pháp có khái niệm “thể, diện” (aspect) của Todorov, khái niệm

đề xuất, v.v đã trở nên quen thuộc trong nghiên cứu văn học nói chung và nghiên cứu tự sự học nói riêng, tuy nhiên tầm quan trọng, vị trí và vai trò của nó trong việc tạo dựng, xác lập mô hình cấu trúc tác phẩm, sự chi phối của điểm

Trang 22

nhìn trong nghệ thuật kể chuyện đến mức độ nào thì vẫn là một vấn đề còn gây nhiều tranh luận khá gay gắt

Henry James trong Nghệ thuật văn xuôi (1884) xác lập điểm nhìn chính là

“mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự

kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc

sống hơn” [48, tr.255-256] Điều này đánh dấu một bước phát triển đáng kể trong nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện Kể từ đó điểm nhìn nghệ thuật được coi

là một nhân tố bộc lộ kỹ thuật tiểu thuyết của nhà văn, một mắt xích khách quan, nội tại, duy nhất mà theo đó chúng ta có thể đánh giá được “tay nghề” của tác giả W Booth chú ý đến khoảng cách và theo ông khoảng cách là một trong những yếu tố quan trọng nhằm xác lập điểm nhìn trong truyện kể Những

“khoảng cách thẩm mỹ” sẽ mang những đối thoại hàm ẩn giữa tác giả, người kể chuyện, nhân vật và độc giả[92]

Từ những nhận định mang tính khái quát, sơ lược về điểm nhìn trong các từ điển, chẳng hạn như điểm nhìn là “vị trí của người kể trong mối quan hệ với câu chuyện của anh ta”[16] và người ta phân biệt điểm nhìn với ba loại chính: người

kể chuyện toàn tri (người kể thông suốt mọi sự), người kể chuyện ngôi thứ ba;

hành trình kiếm tìm chân lý, trở nên có hệ thống, phức tạp và tinh vi hơn nhiều Đáng chú ý là các công trình của G Genette, W Booth, R Scholes và R Kellogg, I Lotman, S Lanser Một điểm dễ nhận thấy là hầu hết những nghiên cứu về điểm nhìn đều chú trọng vào người kể chuyện và phân loại thành nhiều kiểu người kể chuyện, chẳng hạn như đó là kiểu người kể chuyện “ngôi thứ nhất” hoặc “ngôi thứ ba”, người kể chuyện toàn tri hoặc toàn tri một phần (Partially omniscient) hoặc có giới hạn (limited), người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong hoặc bên ngoài, Các kiểu người kể chuyện tuy có giới hạn

Trang 23

nhưng đã được xác lập, trở thành những khái niệm công cụ cơ bản để từ đó mỗi nhà nghiên cứu tìm tòi và khai thác theo một cách thức riêng các vấn đề của điểm nhìn nghệ thuật cũng như nghệ thuật kể chuyện Với đề tài hướng đến việc nhận diện người kể chuyện, chúng tôi quan tâm đến khái niệm điểm nhìn và các dạng thức điểm nhìn của người kể để thấy được mối quan hệ giữa người kể và điểm nhìn của anh ta

Các nhà lý luận học thường phân chia điểm nhìn dựa vào ngôi kể, bao gồm:

điểm nhìn ở ngôi thứ ba và điểm nhìn ngôi thứ nhất Theo Từ điển thuật ngữ văn

học – A Glossary of Literature terms) điểm nhìn chỉ ra “những cách thức mà

một câu chuyện được kể đến - một hay nhiều phương thức được thiết lập bởi tác giả bằng ý nghĩa mà độc giả được giới thiệu với những cá tính, đối thoại, những hành động, sự sắp đặt và những sự kiện mà trần thuật cấu thành trong một tác phẩm hư cấu” [16] Theo đó, Abrams đồng tình phân chia điểm nhìn thành hai loại: điểm nhìn ngôi thứ ba và điểm nhìn ngôi thứ nhất Điểm nhìn ngôi thứ ba bao gồm điểm nhìn của người kể chuyện biết tất cả mọi điều và điểm nhìn bị giới hạn Điểm nhìn ngôi thứ nhất bao gồm người kể chuyện tự tri và người kể chuyện không đáng tin cậy

Còn J.Pouillon, theo quan điểm của ông có hai dạng “nhìn”: từ bên trong và

từ bên ngoài [48, tr.258] Theo đó, có ba kiểu nhìn trong tác phẩm: từ trong, từ ngoài và từ đằng sau

Nhà lý luận người Pháp, G.Genette gọi điểm nhìn nghệ thuật là tiêu điểm (focalization) Tiêu điểm theo quan niệm của G.Genette chính là vị trí của chủ thể trần thuật trong mối quan hệ với câu chuyện mà anh ta kể lại Thi pháp hiện đại dựa vào lí thuyết đó để chia điểm nhìn thành ba loại chính: Điểm nhìn zero (tiêu điểm zero): khi người kể chuyện đứng ngoài nhưng ở vai trò một “thượng đế” biết tuốt, nắm bắt toàn bộ, thông suốt tất cả Điểm nhìn này là điểm nhìn toàn tri Loại thứ hai là điểm nhìn nội quan (tiêu cự hóa nội tại): Khi người kể

Trang 24

chuyện đồng thời là một nhân vật trong tác phẩm, cái nhìn của người kể chuyện mang tính chủ quan theo tư tưởng, thái độ của nhân vật Loại điểm nhìn thứ ba

là điểm nhìn ngoại quan (tiêu cự hóa ngoại tại): Là điểm nhìn từ bên ngoài, người kể chuyện chỉ kể lại chuyện một cách khách quan, không tham gia vào thế giới nội tâm bên trong nhân vật, sự hiểu biết ít hơn, không đi sâu

Để có thể nhận dạng người kể chuyện thông qua việc xác định điểm nhìn trần thuật, chúng tôi ứng dụng lí thuyết của G Genette trong việc khảo sát truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh từ năm 2000 đến 2015 Chúng

tôi phân loại ba dạng thức điểm nhìn: điểm nhìn toàn tri (người kể chuyện biết

hết tất cả), điểm nhìn nội quan (người kể chuyện là nhân vật), điểm nhìn ngoại quan (người kể chuyện bên ngoài khách quan) Bên cạnh đó luận văn còn làm rõ

phương diện điểm nhìn ở góc độ lạ hóa, theo nghiên cứu phê bình của các nhà

lý luận Nga Giữa những loại điểm nhìn ấy còn có sự chuyển hóa linh hoạt, góp phần mang lại những hấp dẫn cho câu chuyện và phát huy được ý đồ nghệ thuật của nhà văn

1.2 Người kể chuyện và cách thức tổ chức điểm nhìn trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh (2000 – 2015)

1.2.1 Người kể chuyện với điểm nhìn toàn tri

Theo lí thuyết tự sự học, người kể chuyện với điểm nhìn toàn tri là người

kể chuyện biết hết tất cả, như “thượng đế” đứng bên ngoài hiểu toàn bộ những diễn biến bên trong Người kể chuyện thông suốt tất cả nhân vật từ hành động, suy nghĩ, cảm giác,… là người “tự do di chuyển trong thời gian, không gian, từ nhân vật này sang nhân vật khác và tường thuật lại” [16, tr.156] Người kể chuyện không tham gia vào câu chuyện, chỉ ở một bên, hoặc đứng ngoài nhưng lại nắm bắt tất cả, vượt lên trên mọi quyền hạn, làm chủ câu chuyện Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015, không nhiều truyện của Nguyễn Nhật Ánh mang hình thức tự sự này Chủ yếu thể hiện ở một số tác phẩm như Đảo mộng

mơ, Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ và Chúc một ngày tốt lành

Trang 25

Nguyễn Nhật Ánh có tình yêu đặc biệt dành cho trẻ con nên truyện của tác giả thường viết về trẻ con rất thật, rất sâu Nhà văn có cái nhìn bao quát, toàn tri

cả một thế giới muôn màu của trẻ nhỏ mặc dù bản thân đã trưởng thành Bởi lẽ

đó, nhiều nhà lý luận phê bình hiện nay vẫn luôn cho Nguyễn Nhật Ánh là người

“sống mãi tuổi mười lăm” Đọc Đảo mộng mơ, chúng ta không khỏi thích thú

với một thế giới tưởng tượng đẹp đẽ Có lẽ trong mắt người lớn, chuyện xem một đống cát để trước sân là một hòn đảo hết sức điên rồ nhưng trong cái nhìn

của cu Tin – cậu bé mới mười tuổi – thì hoàn toàn hợp lí Chọn ngôi kể thứ ba, với điểm nhìn toàn tri, tác giả có thể nhẹ nhàng tái hiện lại những mơ mộng của cậu nhóc Tin: “Nếu định nghĩa đảo hoang là hòn đảo ngoài mình ra không còn người nào ở trên đó nữa thì đúng là thằng Tin đang ở trên đảo hoang”; “Nó là con nít mà, mới mười tuổi”; “Nó đọc và nghĩ “May thật!” Là vì nó tin rằng sống một mình ngoài đảo hoang, không tính đồ ăn thức uống thì sách là người bạn thân thiết và quan trọng nhất” [9, tr.5-8] Không chỉ có Tin tưởng tượng mà nó còn khéo léo khi kéo cả bạn bè vào cuộc Trên “hòn đảo nhỏ” mà bọn trẻ tự tạo

ra ấy có chúa đảo (Tin), phu nhân chúa đảo (Thắm) và phó chúa đảo (thằng Bảy) Người kể chuyện không chỉ thấy mà còn biết rõ những hành động, suy nghĩ của bọn trẻ trên “đảo hoang” Hãy xem người kể chuyện kể về chúng: “Bọn chúng thấy như thế này: Phó chúa đảo Thứ Bảy là một chàng trai tráng kiện, da rám nắng, bắp thịt cuồn cuộn Chúa đảo Tin còn vạm vỡ hơn nữa, bắp tay như dây chão, gương mặt dứt khoát là chữ điền và trên người thế nào cũng chằng chịt hàng trăm vết sẹo vì thành tích đánh nhau với hải tặc Chúa đảo phu nhân ngoài nhan sắc mặn mà còn là một phụ nữ quả cảm, can trường hiếm có” [9, tr.97] Sự tưởng tượng của bọn trẻ “vĩ đại” theo cách của riêng chúng Đảo Robinson lúc đầu chỉ có ba kẻ đi lạc, nhưng ba kẻ đó lại không hề cô đơn Bởi vì tụi nó là bạn bè Đó là sự tưởng tượng bay bổng của trẻ thơ, nơi con cún có thể

là sư tử, con mèo có thể là con báo, nơi mà vị “chúa đảo” và “chúa đảo phu nhân” cùng gật gù “tụi mình cưới nhau được ba năm rồi” [9, tr.239] Người

Trang 26

ngoài nhìn vào sẽ thấy chúng thật dở hơi nhưng sự tưởng tượng của bọn trẻ không hề ngu ngốc, ngược lại nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn Hòn đảo mang đến cho Tin rất nhiều: là sự dũng cảm, tự tin ở bản thân để Tin và Bảy vật nhau với thằng Phàn – vốn hay bắt nạt đôi bạn trên hòn đảo – và chiến thắng trong lần duy nhất; là giúp Tin khám phá ra việc thằng cu Mít – con dì Sáu bị kẻ xấu dắt mũi đi vào con đường nghiện ngập và giúp các chú công an bắt bọn xấu Tất cả làm nên một giấc mơ thật đẹp – một giấc mơ có thật Người kể chuyện không xen vào giữa những nhân vật nhưng với điểm nhìn toàn tri đã tái hiện lên hết tất cả những cái đẹp bên trong tâm hồn trẻ thơ Những đứa trẻ còn truyền được sự mộng mơ đẹp đẽ đó sang số đông khi chúng thuyết phục được cô giáo tin về hòn đảo thiên đường, thuyết phục được ba, mẹ, chị… rằng chúng là

“những người hùng” trên hoang đảo Chúng nhận được sự cảm thông, tin tưởng của người lớn, gia đình Câu chuyện đã gửi gắm một thông điệp đầy ý nghĩa: Hãy để trẻ con được thỏa sức sống trong thế giới hồn nhiên, sáng tạo của mình Đừng gò bó chúng, đừng ép chúng vào một khuôn khổ cũng như dập tắt đi những mộng mơ đáng yêu Hãy giúp chúng nuôi dưỡng tâm hồn, đối chọi với khó khăn để trí tưởng tượng ấy được bay cao, bay xa, mang những sắc màu tô đẹp cho tuổi thơ đầy mơ mộng Với điểm nhìn toàn tri, người kể chuyện đã hoàn thành “sứ mệnh” của mình khi truyền tải được thông điệp ấy đến với độc giả

Đọc Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ, người đọc sẽ mỉm cười nhẹ nhàng

bởi cách kể chuyện đầy tự nhiên, cuốn hút của điểm nhìn toàn tri – “biết tuốt” Cũng chọn ngôi thứ ba kể chuyện, người kể đã mang đến những câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng của Mèo Gấu với Áo Hoa, chuột Tí Hon với cô chuột Út Hoa đáng yêu Mèo và chuột vốn là những con vật xung khắc nhau trong tự nhiên

Chúng ta từng biết đến những câu chuyện như Đeo nhạc cho mèo, Đám cưới

chuột, Cái tết của mèo con, Cũng là những nhân vật mèo và chuột song đúng

với tự nhiên: chuột luôn sợ mèo và chúng vốn là kẻ thù của nhau Người kể chuyện dưới ngòi bút của Nguyễn Nhật Ánh không chỉ chạm vào những sự kiện

Trang 27

tình yêu của hai loài vật mà tác giả còn nhẹ nhàng, khéo léo cởi nút thắt “thù hận

tự nhiên” của hai giống loài ấy Mèo Gấu là chú mèo thi sĩ, mà thi sĩ thì luôn mơ mộng, tâm hồn luôn bay bổng, có lẽ vậy mà chú có sự vị tha, cũng như cảm thông sâu sắc với thân phận những con chuột đáng thương như Tí Hon “Nếu tinh ý như tác giả thì có thể thấy ngoài cái nhún vai, hoàng hậu Năm Ngoái dường như còn kèm theo một cái chau mày, ít ra là vì cho đến sáng nay chú mèo Gấu mà công chúa Dây Leo đem về cách đây hai tuần lễ đã chứng tỏ mình là một gã vô tích sự bậc nhất Mèo Gấu không những không tóm được con chuột nào trong ba trăm ba mươi sáu tiếng đồng hồ đằng đẵng (mặc chuột kêu rúc rích hết đêm này qua đêm khác), cái cách chú uể oải phơi mình trong nắng như muốn tuyên bố thẳng thừng là đừng ai trông mong gì ở tôi nữa càng khiến hoàng hậu não lòng” [12, tr.9] Để giải thích cho cái nguyên do không bắt chuột, người kể chuyện trần tình: “Có lẽ bọn mèo hoang thích thú với chuyện bắt chuột hơn! Mèo Gấu ngẫm nghĩ khi giơ tay đuổi một con ruồi đang vo ve trước mặt Không được nuôi nấng tử tế, bọn mèo lang thang phải tự mình bươn chải kiếm miếng

ăn ở các bãi rác và các khu chợ Bọn đó mà đánh cắp thì tài phải biết! [12, 12] Suy nghĩ về bọn mèo hoang kia thật khó xác định là suy nghĩ của mèo Gấu hay suy nghĩ của tác giả Dẫu là lời của ai, thì ở đây, cái chúng ta đang xét là điểm nhìn toàn tri của người kể chuyện và điều này là minh chứng cho việc người kể chuyện đi vào bên trong, đọc được những suy nghĩ, quan điểm của nhân vật một cách tường tận

tr.11-Một đặc điểm không thể bỏ qua trong những sáng tác của nhà văn, dù đứng

ở ngôi thứ ba với điểm nhìn toàn tri, nhà văn ít khi giấu mình mà luôn tìm cách

xuất hiện như thông báo sự hiện diện “tác giả là người kể chuyện” Mặc dù điều

này khác với những lí thuyết nghiên cứu của tự sự học rằng tác giả và người kể

chuyện là hai đối tượng khác nhau nhưng đó chính là điểm đặc biệt trong cái hạn

chế của sáng tác Nguyễn Nhật Ánh “Hiển nhiên là tác giả cần phải dịch bài thơ này để bạn đọc có thể thưởng thức được tài thơ của mèo Gấu” [12, tr.17] Trở lại

Trang 28

với nội dung câu chuyện, mèo Gấu không chỉ không bắt chuột mà còn kết bạn với Tí Hon, vì nó tìm thấy sự đồng điệu với Tí Hon Tí Hon có tài vẽ tranh, mèo

Gấu có tài làm thơ Một bên là họa sĩ, một bên là thi sĩ Hai tâm hồn nghệ sĩ đã

chạm vào nhau ở ngưỡng cửa nghệ thuật nên trở thành bạn của nhau Tác giả nhìn thấy được sự đau đớn, dằn vặt của mèo Gấu khi nó bị những con mèo khác tấn công do nó phải bảo vệ cho lũ chuột Tí Hon: “Mèo Gấu nghe thấy hết và nhìn thấy hết, nhưng nó không thể nói được ngôn ngữ của loài người Giá như

có nói được thì nó cũng không biết nói gì Chẳng lẽ bảo với công chúa rằng nó

bị những con mèo khác tấn công và sở dĩ như vậy là vì nó ra sức bảo vệ cho lũ chuột Nói vậy có thánh mới tin nổi! Công chúa thì không phải là thánh” [12, tr.121]

Nếu Đảo mộng mơ là thế giới trẻ thơ hồn nhiên, vô tư, sinh động của bọn trẻ, Có hai con mèo ngồi bên cửa sổ là câu chuyện của tình bạn, tình yêu giữa loài vật với nhau thì Chúc một ngày tốt lành là cuốn sách viết nên câu chuyện

hòa hợp, sống động trong thế giới nhỏ của cả người và vật Người kể chuyện mượn điểm nhìn toàn tri để tạo nên một câu chuyện tuyệt vời về những loài vật đáng yêu trong khu vườn nhà bà Đỏ Trong tác phẩm, ranh giới giữa con người

và loài vật bị xóa bỏ bởi một thứ ngôn ngữ kì lạ do chú heo Lọ Nồi sáng tạo ra, được phụ họa, thêm bớt bởi thằng Cu – con bà Đỏ Chính điều đó làm cho thế giới bị đảo lộn nhưng bọn trẻ con lại vô cùng thích thú trong sự tức giận của người lớn Các bà mẹ heo, gà nổi cơn tam bành khi thấy con mình lại kêu tiếng kêu của loài khác làm mình không thể tìm ra Những người lớn như bà Hai Nhành, bà Đỏ, ông Sáu Thơm thì vừa lo lắng, vừa phát hoảng trước những con vật bất thường như thế Rõ ràng, người lớn không thể nào chấp nhận nổi sự thay đổi đó Người lớn thường là vậy, họ thích điều gì đó mang tính ổn định, lười thay đổi và không muốn bị rắc rối Nhưng bọn trẻ thì lại không như thế Xuyên suốt câu chuyện, chúng ta có thể thấy chú heo con thông minh Lọ Nồi với cái bớt trên mặt không ngừng vận dụng trí não của loài heo để tìm kiếm những trò

Trang 29

mới lạ nhằm thoát khỏi sự buồn chán Trong khu vườn nhỏ bé ấy, có một con người là đồng cảm và thấy thú vị trước những tinh nghịch của lũ vật nuôi Đó là thằng Cu Nó thích vì nó cũng là trẻ con Và bên cạnh thằng Cu, là tác giả - người kể chuyện, cũng thích thú vô cùng chính câu chuyện mà mình đang kể Người kể chuyện toàn tri như một người ghi hình, đang dùng máy quay ghi nhận lại mọi góc độ, biến đổi của thế giới nhỏ của người và vật “Nguyễn Nhật Ánh như sắp xếp lại trật tự thế giới bằng việc tưởng tượng ra loài vật có thể sáng tạo

ra ngôn ngữ và có thể nói chuyện như con người Đảo lộn hơn nữa là con người

có thể giao tiếp với con vật Và hơn thế, đến lượt chính con người cảm thấy điều

đó là thú vị Khoảng cách giữa con người và con vật xích lại gần nhau hơn Họ cảm thấy thế giới thật mới mẻ, thật đáng yêu” [68, tr.273] Người kể chuyện đã dẫn dắt người đọc bước vào câu chuyện đầy lí thú, mới mẻ Ở đó, những tiếng

cười nhẹ nhàng được cất lên cùng với lời chúc một ngày tốt lành thật ấm áp

1.2.2 Người kể chuyện với điểm nhìn nội quan, ngoại quan

1.2.2.1 Người kể chuyện với điểm nhìn nội quan

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh luôn giữ cho mình một tâm hồn trong trẻo của tuổi thiếu niên, cái tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, đầy niềm vui và những ngây ngô Nhà văn tâm sự: “Mỗi lần tôi viết một tác phẩm tuổi mới lớn cũng giống như một cậu học trò ngồi viết nhật kí đời mình vậy, rất tự nhiên, không có gì phải lên gân hay gượng gạo cả… Có lẽ do tâm hồn của tôi gần gũi với tâm hồn của các em nên những gì tôi viết ra, các em cảm thấy như chuyện của chính mình” [58] Có lẽ vì vậy mà người kể chuyện mang điểm nhìn nội quan trong các tác phẩm của nhà văn, đại đa số là những cậu học sinh độ tuổi thiếu niên như

Lá nằm trong lá, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Ngồi khóc trên cây, Những cô

tuổi, mang cái nhìn của những đứa trẻ vừa chớm lớn, kể lên những câu chuyện

nhẹ nhàng, thi vị

Trang 30

Nổi bật nhất trong hình tượng người kể chuyện niên thiếu có lẽ vẫn là Tôi

thấy hoa vàng trên cỏ xanh, một tác phẩm ấn tượng đã bước ra khỏi những ngôn

từ, chuyển thể thành phim điện ảnh ra mắt với công chúng gần đây Trong tác phẩm, dưới góc nhìn trẻ thơ, người kể chuyện đã hóa thân vào nhân vật Thiều – cậu bé mười ba tuổi, xưng tôi để kể lại những sự kiện đã xảy ra trong tuổi thơ của mình Ở Thiều có rất nhiều cung bậc cảm xúc Đó là một đứa trẻ nhạy cảm trước ý nghĩa của những hoa tay: “Khi săm soi hai cái hoa tay trên ngón cái và ngón áp út ở bàn tay phải, tôi yêu hai ngón tay này quá, thậm chí có một chút gì

đó tự hào Giống như bạn có mười đứa con, nhưng chỉ hai đứa học giỏi mới có

thể khiến bạn nở mặt với hàng xóm “hai thằng cu nhà tôi mới vừa đỗ đại học

đó, chị!”, có khi bạn còn hãnh diện khoe thêm: “chẳng thấy tụi nó ôn bài gì cả

mà vẫn thi đỗ như chơi chị à” để được nghe láng giềng của bạn xuýt xoa “ờ, hai thằng bé thông minh ghê” [10, tr.18] Trước cái đói kém, Tường là một người

anh thương em, đồng thời là một đứa trẻ có phần ích kỉ, sống nội tâm Có lúc, ở Thiều có những cảm nhận rất chững chạc như những cảm nhận sau một mùa lũ

đi qua: “Tôi có thể nhìn thấy sự đói kém hiển hiện từng ngày trong mâm cơm Nồi cơm lưng hơn Thức ăn ít đi Cá thịt thưa thớt dần, có hôm mất tích hẳn” [10, tr.127] Nhưng cũng có lúc, ở cậu là sự khờ dại đến hồ đồ khi thường hay

có những đố kị, hiểu lầm với người em trai Thiều từng vô cùng ân hận khi làm

em mình bị thương trong trò chơi chọi đá, thậm chí vì hiểu lầm, đã lỡ tay đánh

em trai của mình đến bị thương phải nằm liệt một chỗ “Giận dữ, thèm thuồng, đau đớn, những cảm giác tồi tệ đan thành một tấm lưới thít chặt lấy tôi khiến tôi gần như không thở nổi Người tôi run bần bật đến mức tôi phải nhích ra khỏi bức vách để tránh gây nên tiếng động” [10, tr.275] Và sau hành động đó là sự ray rứt, ân hận, dày vò Người kể chuyện đã sắm trọn vai, khi đã cùng vui, cùng buồn, cùng giận, cùng ăn năn, cùng thổn thức với những dại khờ của trẻ nhỏ Những cảm xúc ấy, phải tinh tế lắm thì mới có thể diễn tả một cách trọn vẹn Có

thể nói, với việc lựa chọn điểm nhìn nội quan, ngôi thứ nhất xưng tôi, đã tạo nên

Trang 31

sự gần gũi giữa người kể và người đọc Khi nhân vật tự kể về mình, bao giờ cũng có sự thuyết phục, chân thật Và một khi nhà văn đã hóa mình vào nhân vật cũng chính là lúc trở về lại với tuổi thơ ngày nào

Trong tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh, người kể chuyện có khi mang dáng dấp của tác giả Dẫu không thể đồng nhất nhân vật người kể chuyện xưng tôi với tác giả - người sáng tạo nên tác phẩm, nhưng ở vài sáng tác của nhà văn, yếu tố

tự thuật khá đậm nét Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là một ví dụ điển hình Câu chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng tôi Tuy nhiên, có hai tôi cùng song song kể chuyện Tôi thứ nhất là tôi của hiện tại – một nhà văn hơn bốn mươi tuổi, một người lớn đã trưởng thành Còn tôi thứ hai cũng chính là nhà văn ấy nhưng ở “phiên bản” lúc tám tuổi – cu Mùi Với ngôi kể xưng tôi thứ nhất là nhà văn, người kể chuyện này có vai trò tổ chức toàn bộ câu chuyện theo

một cấu trúc truyện kể riêng, theo những góc nhìn nhất định (xuất phát từ điểm nhìn của người sáng tác) Với cách kể chuyện như thế, người đọc dễ dàng nhận

ra quan niệm của nhà văn trước các vấn đề về cuộc sống, nhân sinh Qua nhân

vật tôi – người kể chuyện, nhà văn có thể bình luận, đánh giá mà vẫn không gây

cho độc giả cảm giác bị áp đặt, định hướng Người đọc sẽ tự mình khám phá chân dung của tác giả và “điểm nhìn bên trong chính là dấu hiệu chuẩn để khám phá con người khác của chính người cầm bút trong thế giới nghệ thuật ngôn từ” [3, tr.42] Thông thường, lối kể chuyện ở điểm nhìn nội quan dễ tạo nên sự đơn điệu khi chỉ có một vai kể chuyện Để tránh một điểm nhìn như thế, truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh đã tìm cách làm mới hơn phương thức trần thuật từ ngôi thứ nhất Trong nhiều tác phẩm, câu chuyện không chỉ được kể bởi một nhân vật tôi, mà có nhiều vai ở ngôi thứ nhất kể những chuyện khác nhau từ

những điểm nhìn khác nhau Đó có thể là tôi ở hiện tại hoặc là tôi trong quá khứ hoặc cũng có thể là tôi của tương lai Sự xuất hiện nhiều cái tôi cùng kể chuyện

từ nhiều điểm nhìn khác nhau khiến tiểu thuyết trở thành một văn bản đa thanh Nhà văn ở tuổi ngoài bốn mươi nhìn cuộc đời với nhiều sâu sắc còn cu Mùi ở

Trang 32

tuổi lên tám lại nhìn đời hết sức giản đơn Bởi cuộc đời giản đơn là thế nên trong

mắt của người kể chuyện tám tuổi, nó thật là chán

Đọc Lá nằm trong lá, người đọc sẽ thích thú với những câu chuyện xoay

quanh các nhân vật trong bút nhóm Mặt Trời Khuya Những cậu học trò với niềm say mê văn chương đã để lại cho chính mình những kỉ niệm khó quên thời

lớp chín Mượn điểm nhìn nội quan, ngôi thứ nhất xưng tôi, người kể chuyện

vào vai thi sĩ Cỏ Phong Sương Một lần nữa ta thấy dáng dấp người kể chuyện

có nét giống với tác giả - người viết truyện Nhưng như ngay từ đầu đã từng trình bày, người nghệ sĩ có thể ghi nhận thực tại nhưng phải luôn thêm vào đó điều gì mới mẻ và điểm mới mẻ ở đây là Cỏ Phong Sương không chỉ là cậu học sinh lớp chín bình thường mà là người nắm rõ từng câu chuyện của tất cả mọi người chung quanh Để từ lăng kính đó của Cỏ Phong Sương, người đọc được thấy những câu chuyện của những thành viên khác trong bút nhóm như thi sĩ Lãnh Nguyệt Hàn, Trầm Mặc Tử và Hận Thế Nhân “Văn thơ (thực ra cả bốn đứa tôi đều làm thơ) của bút nhóm Mặt Trời Khuya không chỉ có đề tài tình yêu Bọn tôi còn viết về tình bạn, tình thầy trò, tình quê hương nhưng đã là nhà văn nhà thơ thì dứt khoát phải có… người yêu, nếu không chỉ làm được những bài thơ, bài văn vứt đi, Thọ quả quyết thế” [11, tr.19] Trong đoạn văn trên, ta thấy xuất hiện kiểu người kể chuyện theo điểm nhìn nội quan dưới hình thức bất định Cùng là cái nhìn bên trong nhân vật, nhưng có sự chuyển đổi từ nhân vật

này sang nhân vật khác, cụ thể từ điểm nhìn của tôi thứ nhất sang điểm nhìn của

Thọ Như vậy, người kể chuyện ở điểm nhìn nội quan không bắt buộc là nhân

vật xưng tôi kể chuyện từ đầu đến cuối mà nhân vật này có thể có sự chuyển hóa nhịp nhàng cho các nhân vật khác nhưng vẫn trong tầm quan sát của tôi

Bên cạnh lối kể chuyện xưng tôi, tường thuật trực tiếp, sinh động, chân thực về những gì được kể thì trong tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, vẫn tồn tại

kiểu người kể chuyện xưng tôi chưa có cái nhìn toàn tri Người kể chuyện tôi ở

ngôi thứ nhất ấy có thể biết hết tất cả về mình, nhưng về người khác hay những

Trang 33

chuyện đã từng xảy ra trong quá khứ lại không hề biết Lúc bấy giờ, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất buộc lòng phải rời vị trí người kể chuyện, chuyển vị trí

ấy đến với nhân vật khác Đó là sự luân chuyển điểm nhìn tránh làm câu chuyện

bị một màu Đến với Ngồi khóc trên cây, người đọc sẽ có những cung bậc cảm

xúc rất khác nhau với những sự kiện, diễn biến của nhân vật Người kể chuyện xưng tôi trong tác phẩm này không dừng lại ở tuổi mười lăm Đó là Đông, một chàng thanh niên mười tám tuổi đa sầu đa cảm Đông là người sống ở thành phố, quê của cậu ở làng Đo Đo Mỗi năm, khi ve sầu ngân lên những khúc nhạc đầu tiên báo hiệu hè về là lúc Đông tạm rời thành phố về quê chơi Kì nghỉ hè năm

đó, Đông được làm quen với Rùa, một cô bé mồ côi cha, mẹ bỏ đi nhưng vô cùng thông minh, hồn nhiên và có tấm lòng lương thiện Chúng kết bạn với nhau

và dần dần thân thiết, quý mến nhau bằng tình cảm đặc biệt Nhân vật Đông là người kể chuyện, dẫn lối mạch kể thế nhưng trong những mối quan hệ, những sự kiện xảy ra nơi làng Đo Đo, cậu hoàn toàn không nắm rõ hết “Tôi vểnh tai nghe con Rùa kể lại câu chuyện về làng Đo Đo không bình yên, về các nhân vật Bụng

Bự, Ria Vàng, Bông Gòn, cố để cho đầu óc làm quen với ý nghĩ rằng Asterix, Obelix, Panaromix chính là hóa thân của những chàng dũng sĩ can trường trong ngôi làng nhỏ luôn phảng phất mùi dạ lý hương khi chiều xuống” [13, tr.15] Hay như chuyện con Rùa kể cho Đông nghe về nguyên nhân cái chết của ba nó

và sự ăn năn của những người thợ săn như ông Bốn Lai: “Ông thú nhận với con Rùa như vậy “Hôm đó, ông Bốn Lai vừa nói vừa rơm rớm nước mắt”, con Rùa

kể với tôi bằng thứ giọng pha trộn nhiều cảm xúc Nó bảo lúc đó sau khi thổ lộ hết sự thật với nó, ông Bốn Lai đã dang tay ném khẩu súng kíp xuống sông Ông bảo ông đã quyết định từ bỏ nghề thợ săn Tuy ông không nói gì thêm với con Rùa nhưng tôi hiểu đó là cách ông tạ lỗi với hai cha con nó, cũng là để cho ông được nhẹ lòng” [13, tr.228] Điểm nhìn có khi được luân chuyển sang cho bé Loan: “Theo lời bé Loan kể thì vào mùa thả diều năm ngoái, ông Hai Sắn bẫy được một con nai con Con nai bị bẫy kẹp què giò Con nai còn bé, lại rất đẹp,

Trang 34

ông Hai Sắn không muốn xẻ thịt Có người xúi ông đem vào phương Nam bán cho các sở thú Nhưng con nai đang bị què, ông Hai Sắn chưa đem bán vội Con Rùa bảo ông Hai Sắn nó có thể chữa lành cho con nai con; “Nó kể chuyện tình

của nó mà tôi tưởng như đang nghe nó kể chuyện phim Bích Lan quen anh chàng kỹ sư Triều vào giữa năm lớp mười hai, sáu tháng trước khi tôi biết nó Quen nhau được bốn tháng thì nó khăng khăng đòi chia tay Nó bảo với tôi lúc

đó nó ngờ rằng Triều không yêu nó thật lòng Lý do rất buồn cười: Triều không chịu hôn nó”; “Bích Loan khoe với tôi nó đã khóc đến ướt đẫm chiếc áo khi biết rằng Triều không thể hôn bất cứ ai vì đôi môi anh luôn bỏng rộp, đau nhức sau những tiết mục rùng rợn biểu diễn hằng đêm” [13, tr.74-192-196]

Sau những câu chuyện, sau những tình huống éo le mà Đông và Rùa phải trải qua, từ chuyện hiểu lầm hai đứa có mối quan hệ ruột thịt, đến chuyện Đông

bị chẩn đoán sai là bệnh ung thư đã đẩy câu chuyện của người kể lên kịch tính của sự éo le Điểm nhìn nghệ thuật chuyển lại cho Đông Những dằn vặt, đau khổ của Đông ở cuối truyện khi hay tin Rùa gặp nạn không khỏi làm lòng người rung động: “Một cô bé có tấm lòng như thế, can trường như thế mà rốt cuộc bỏ mình trong sóng nước chỉ vì xả thân cứu người quả là một bất công Chẳng lẽ người tốt ở đời luôn gặp phải kết cục nghiệt ngã, như con Rùa bây giờ và ba nó trước đây? Đôi lúc tôi bần thần nghĩ, có cảm tưởng số phận luôn dành cho con Rùa những chiếc bánh khét, dù được đúc ra từ chiếc khuôn nào và làm bằng thứ nguyên liệu gì” [13, tr.321-322] Câu chuyện của Nguyễn Nhật Ánh không kết thúc với bất hạnh, có lẽ vì vậy mà ông đã mở ra một cái kết mở cho nhân vật Hình ảnh Đông ngồi khóc trên cây khi nhìn thấy Rùa vẫn sống gây xúc động mạnh mẽ: “Trong nhiều phút liền, trái tim tôi chạy đua với đủ thứ cảm xúc Kinh ngạc, hân hoan, nghi ngờ, hạnh phúc, mừng mừng tủi tủi, tất cả cùng một lúc ùa vào tôi khiến tôi giống như người say sóng” [13, tr.340] Đoạn cuối câu chuyện gửi đến một thông điệp ý nghĩa về niềm tin, hy vọng, về ý chí, sự kiên cường và

Trang 35

ý nghĩa của đợi chờ: “Như vậy là con Rùa đã giữ lời hứa Nó cố lớn, và cố sống,

để đợi tôi về” [13, tr.341]

Người kể chuyện với điểm nhìn nội quan không chỉ kể chuyện theo góc nhìn của người trong cuộc, chân thật, tạo được độ tin tưởng mà còn là người rung lên những giai điệu cảm xúc tinh tế, đầy thuyết phục

1.2.2.2 Người kể chuyện với điểm nhìn ngoại quan

Với điểm nhìn ngoại quan, người trần thuật đứng ở bên ngoài quan sát và miêu tả, tách mình ra khỏi mọi biến cố và các nhân vật Người trần thuật đứng từ góc độ khách quan, ít biểu thị thái độ, tình cảm hay cách đánh giá đối với những

gì đang diễn ra trong tác phẩm Ở trường hợp này, người trần thuật xem như

mình chứng kiến tất cả những gì mình thuật lại

Người kể chuyện cũng đóng vai một người trần thuật khách quan đã chứng kiến và thuật lại đúng như tiến trình vốn có của câu chuyện Cách kể như vậy, tất nhiên, đem lại hiệu quả là gây dựng một lòng tin cần thiết cho bạn đọc với những gì đã diễn ra Người đọc không nhìn thấy sự xuất hiện của người trần thuật trong câu chuyện, không nhìn thấy bàn tay can dự của người ấy vào những

thay đổi của mạch truyện Trong truyện Bảy bước tới mùa hè, người trần thuật

đứng bên ngoài quan sát mọi hành vi cử chỉ, và suy nghĩ của Khoa trong suốt kì nghỉ hè chuẩn bị vào lớp chín Các hành động của Khoa không được phân tích

mà chỉ được gọi tên ra một cách khách quan

Có thể nói, cách chêm vào hình tượng người kể chuyện hiển ngôn với kiểu đối thoại cùng người đọc trong truyện viết cho thiếu nhi của Nguyễn Nhật Ánh là một điểm khá đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật của ông Vì với điểm nhìn trần thuật bên ngoài, người trần thuật hiện lên khá lạnh lùng, mà điều đó rất

khó “dỗ” trẻ con, bởi đứa trẻ nào cũng thích ngọt ngào, thích sự chân thật

Chúng muốn được là hóa thân vào chính nhân vật trong câu chuyện kể Nguyễn Nhật Ánh vừa đảm bảo cái nhìn khách quan, vừa không khiến trẻ cảm thấy xa lạ

với người mà chúng đang chú tâm nghe Hãy cùng đọc câu chuyện Cóc Tía

Trang 36

(trích Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh): “Chuyện kể về chàng thư sinh nhà nghèo

nhưng chăm học Ban ngày chàng thư sinh vào rừng hái củi đem bán để lấy tiền mua gạo và mua dầu đèn Ban đêm chàng cặm cụi đọc sách cho đến lúc gà hàng xóm gáy lần thứ hai mới đi ngủ (Chắc chắn chàng thư sinh này đọc sách giáo khoa để đi thi chứ chẳng phải đọc truyện như thằng Tường) Nhà chàng chỉ là một túp lều con, tài sản vỏn vẹn một con dao quắm và một chồng sách Làm bạn với chàng chỉ có một con cóc tía, những buổi chàng học khuya con cóc nhảy ra quanh quẩn ở dưới chân chàng, đớp gọn những con muỗi bay vo ve (Thằng Tường đặc biệt thích đoạn này, nó có thể đọc thuộc lòng đoạn văn bằng giọng ngân nga thích thú) [10, tr.55-56] Người kể chuyện trong đoạn văn trên là người

kể chuyện ngoại quan – ngôi thứ ba theo kiểu kể chuyện cổ tích truyền thống

nhưng ta vẫn thấy được sự cách tân của nhà văn khi ông chêm xen vào những

bình luận giữa lời người kể chuyện, tạo sự duyên dáng, hóm hỉnh

Với điểm nhìn trần thuật bên ngoài, người trần thuật luôn cố tình tạo ra một khoảng cách đối với câu chuyện nhưng vì thế dễ dẫn đến khoảng cách giữa người trần thuật và người đọc Nguyễn Nhật Ánh vượt ra khỏi khoảng cách giữa người trần thuật và thiếu nhi bằng cách xen vào những lời bình luận - thuật ngữ

văn học hiện đại gọi là trữ tình ngoại đề Trữ tình ngoại đề vốn là một trong

những yếu tố ngoài cốt truyện, nó thuộc ngôn ngữ người kể chuyện và cũng là phương tiện quan trọng giúp tác giả soi sáng thêm nội dung tư tưởng của tác phẩm, ví như đoạn văn sau: “Bạn cũng biết rồi đó, ký ức là ngôi nhà kho quý báu, nơi cất giữ những gì đã xảy ra trong cuộc đời của mỗi người Nói cách khác, ký ức cất giữ những kỷ niệm Nhưng không phải những gì xảy ra trong cuộc đời đều hóa thành kỷ niệm Chẳng hạn cách đây mười lăm năm, bạn từng khóc vì bị bụi bay vào mắt Ký ức của bạn sẽ không lưu giữ trận khóc tầm thường đó Nhưng nếu cách đây mười lăm năm bạn khóc vì chia tay mối tình đầu vụng dại, cơn mưa nước mắt ấy sẽ hóa thành cơn mưa kỷ niệm” [15, tr.278]

Sự xuất hiện của tác giả hiển thị đã khơi dậy những nghĩ suy về ký ức và những

Trang 37

kỷ niệm Nhà văn đối thoại với người đọc, đó là một trong những nét mới của

văn chương đương đại, song trong sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, truyện viết cho thiếu nhi nhưng những triết lí như trên không chỉ dành riêng cho thiếu nhi

mà là cho bất kì ai đang đọc Đó chính là quyền năng của người kể chuyện ngoại quan

1.2.3 Người kể chuyện với điểm nhìn lạ hóa

Đầu thế kỷ XX, V Skhlovsky – thành viên quan trọng của trường phái

hình thức Nga – đã đề xuất khuynh hướng lạ hóa (tiếng Nga: octpanenue, tiếng

Anh: defamiliarization) Theo quan điểm của ông và những người cùng nhóm đương thời đã cho rằng tác phẩm nghệ thuật cần phải được làm mới, lạ những gì người đọc quá quen thuộc Tinh thần và tư tưởng lạ hoá thể hiện một ý thức đổi mới nghệ thuật, và là nỗ lực xoá bỏ sự sáo mòn từ phương thức thể hiện, mà trước hết là thế giới ngôn từ trong tác phẩm văn chương Cũng cần nói rằng, tư tưởng lạ hoá văn chương là kết quả của việc phát triển những phát hiện của F.de Saussure về ngôn ngữ học, trong đó, trực tiếp là sự xác lập của ông về cái biểu đạt và cái được biểu đạt Theo đó, những nhà hình thức Nga cho rằng, trong văn chương, cái biểu đạt (hình thức của tác phẩm) quan trọng hơn cái được biểu đạt

(nội dung của tác phẩm) Lạ hoá cũng có thể là một cách phản ứng với những

quy phạm trong các giai đoạn, các trào lưu văn học mà tính định vị quá lớn, khiến giới sáng tác rơi vào công thức, dẫn đến hậu quả là người đọc vô cảm trong tiếp nhận nghệ thuật V Skhlovsky biện giải: “Mục đích của nghệ thuật là truyền đạt cảm giác của bạn về sự vật như bạn nhận thức được, chứ không phải

như bạn đã biết” [73, tr.213] Đây là một ý tưởng có tính đột phá, bởi vì thông

thường con người nhận thức sự vật theo thói quen, do đó, hình ảnh về sự vật trong sự nhận thức của chúng ta yếu dần tính hấp dẫn, ngược lại, sự tri nhận của con người về thế giới cũng mất dần tính năng động Đối với văn chương, đó là

một trở ngại, hơn nữa là một điều tối kỵ

Trang 38

Nhìn chung thủ pháp “lạ hoá” là để chỉ toàn bộ thủ pháp trong nghệ thuật

có khả năng tạo ra hiệu quả thẩm mĩ mới mẻ về sự vật hiện tượng được miêu tả,

đó là cái chưa quen, khác lạ gây một sự “ngạc nhiên”

Lạ hoá cũng trở thành mục đích và cũng là phương thức thể hiện của nhà

văn hậu hiện đại Đặc điểm này thể hiện phổ biến trong văn học thế giới cuối thế

kỷ XX và cũng thể hiện khá rõ ở nhiều tác giả văn học Việt Nam từ thập kỷ 90

trở lại đây, tạo thành một khuynh hướng lạ hoá trong văn học Việt Nam đương

đại Với tư cách là một thủ pháp, lạ hoá, thực ra, đã xuất hiện trong sáng tác của một số nhà văn 1932 – 1945, trong Thơ mới, trong tiểu thuyết, truyện ngắn của

Tự lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ), của các nhà văn hiện thực phê phán (Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao) Và Hoài Thanh đã linh cảm nhận ra điều này từ Thơ mới, khi ông viết: “Đoàn thể bao giờ cũng đàn

áp cá nhân bằng tất cả sức nặng của những ý sáo, chữ sáo Làm thơ là phản động lại, là lật cái lớp ý sáo, chữ sáo để tìm ở dưới những gì linh động và sâu sắc hơn

Tả tình hay tả cảnh không quan hệ” [82, tr.49]

Với tư cách là một khuynh hướng, lạ hoá thực sự có biểu hiện rõ rệt và có

thành tựu lớn trong sáng tác của các nhà văn thời kỳ đổi mới Phạm Thị Hoài là

một trong những người đầu tiên có ý thức lạ hóa trong văn chương Tiếp theo

sau nữ nhà văn là các tên tuổi lớn như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Tạ Duy

Anh, Hồ Anh Thái,… Lạ hoá thể hiện trong khá nhiều bình diện, ở đây, chúng tôi chỉ nêu và phân tích một số bình diện tiêu biểu: Điểm nhìn lạ hóa

Mượn điểm nhìn loài vật để kể lên câu chuyện đã không còn mấy xa lạ trong văn chương Trong văn học nước ngoài, chúng ta từng biết đến hai tác

phẩm nổi tiếng Tiếng gọi nơi hoang dã, Nanh trắng của Jack London Gần đây nhất, một trong những tác giả đang giữ vị trí best seller với những tác phẩm

ngắn gọn, khúc chiết nhưng đầy ý nghĩa sâu sắc: Luis Sepúlveda với Chuyện

con mèo dạy hải âu bay và Chuyện con ốc sên muốn biết tại sao nó chậm chạp

Trong văn học Việt Nam, Tô Hoài từng thành công với Dế Mèn phiêu lưu kí khi

Trang 39

đã mang được hình ảnh chú Dế Mèn đến với muôn vạn bạn nhỏ, còn Nguyễn

Đình Thi xuất sắc với Cái Tết của mèo con Và trong thời gian gần đây, Nguyễn

Nhật Ánh đã vô cùng thành công với kiểu nhân vật loài vật Trong một số truyện dài của Nguyễn Nhật Ánh, điểm nhìn lạ hóa đã trở thành kỹ thuật và cũng là

nghệ thuật Chẳng hạn, trong Tôi là Bêtô, Nguyễn Nhật Ánh chọn điểm nhìn từ

ngôi thứ nhất đóng vai người kể chuyện là một chú chó nhỏ nhưng có một “khối óc” của một con người trưởng thành “Tên tôi là Bêtô Đó là cái tên chị Ni đặt cho tôi Đúng ra cái tên ban đầu là Bêbêtô Bạn có biết Bêbêtô là gì không? Chắc bạn nghĩ đó là một loại củ cải? Trật lất rồi, bạn ơi Đó là tên của một cầu thủ Brazil” [7, tr.5] Chú chó với những suy nghĩ chín chắn, những thấu hiểu cuộc đời đầy triết lí sâu sắc Người kể chuyện ở điểm nhìn lạ hóa này có lợi thế

ở chỗ giúp nhà văn vừa có khả năng quan sát thế giới hiện hữu, vừa có thể cho phép tác giả đem cả những chuyện rất đỗi đời thường cả của người lẫn vật vào

trang văn Nhờ vậy, Tôi là Bêtô hiện lên với một thế giới đầy hồn nhiên, vô tư

nhưng cũng không kém phần sâu sắc “Bọn cún chúng tôi cũng hay chơi cái trò nhí nhố này Nhưng thay vì quả bóng, tụi tôi giành nhau khúc xương, có khi chỉ

là cái đuôi cá nhỏ xíu… Mà vô số phe Có năm thằng cún là năm phe Và mười phe, nếu từ đâu đó chạy tới năm thằng nữa… Xưa nay chiến tranh nổ ra cũng chỉ

vì miếng ăn Mặc dù người ta luôn tìm cách che lấp đi bằng những điều cao cả” [7, tr.10] Bêtô tự biện minh: “Một con cún không nghịch ngợm là một con cún

bỏ đi” [7, tr.18] Và trong mối quan hệ với con người: “Bọn cún chúng tôi căn bản là thân thiện với loài người Loài người yêu thương chúng tôi và chúng tôi đáp lại bằng một tình cảm còn sâu sắc hơn Tình cảm đó không cần phải học Nó như một thứ bản năng có sẵn trong máu Thậm chí, tình yêu và lòng tin vô điều kiện đó có thể được coi như một phẩm giá” [7, tr.49] Bằng cách sử dụng điểm nhìn lạ hóa, người kể chuyện đã gửi đến những thông điệp sâu sắc về: tình bạn, tình thương, cái thiện – ác, cùng những ước mơ… Điều đó đã mở ra sự thú vị lạ

kì, bức thông điệp được truyền tải một cách tự nhiên và hết sức khách quan Lựa

Trang 40

chọn người kể đặc biệt như thế, tác phẩm Tôi là Bêtô như một nhịp cầu quen

thuộc bắc lối cho người đọc bước vào câu chuyện như những truyện cổ xa xưa

Một chú cún nhưng lối suy nghĩ lại của một con người trưởng thành, Nguyễn Nhật Ánh đã cho người đọc hiểu được: “Khám phá những điều thú vị đó, hay tìm thấy những món quà đó, chính là làm giàu thêm ý nghĩa của cuộc sống và bổ sung thêm lý do để cuộc sống trở nên đáng sống” [7, tr.229] Nhà phê bình văn học Phong Lê nhận xét: “Một cách kể tự nhiên về những chuyện của đời thường không tẻ nhạt, có sức chứa những ý tưởng mới mẻ và những triết lý hồn nhiên, nhằm mở rộng sự sống của thế giới trẻ thơ, và gieo trồng những tình cảm đặc trưng cho bước chuyển từ trẻ con sang người lớn, từ gia đình ra xã hội – đó là cái hay, cái hấp dẫn của Tôi là Bêtô” [7]

Với Ngôi trường mọi khi, tác giả đã sáng tạo độc đáo điểm nhìn người kể

chuyện Câu chuyện được kể dưới điểm nhìn ngôi thứ hai “bạn” Nhà văn buộc người đọc phải tưởng tượng mình chính là nhân vật chính trong câu chuyện Thế giới nhà văn mở ra là thế giới tưởng tượng của người đọc Nhà văn không phải

là người kể chuyện mà là người dẫn dắt để người đọc kể câu chuyện của mình theo cách nhà văn muốn thế “Để đọc câu chuyện này, bạn bắt buộc phải tưởng tượng Nếu là con gái, bạn tưởng tượng ít thôi Nếu là con trai, bạn phải tưởng tượng khủng khiếp hơn nhiều Khủng khiếp bởi vì bạn phải tưởng tượng mình

là…con gái Là một nữ sinh năm nay bắt đầu vô lớp mười” [5, tr.1] Với cách kể

chuyện này, vô hình chung người đọc sẽ trở thành Tóc Bím – cô bé nữ sinh lớp

10 Tất cả mọi sự kiện xoay quanh câu chuyện tình bạn của Tóc Bím với nhóm bạn thân của mình: Ria Mép, Bắp Rang, Tóc Ngắn, Kiếng Cận,… Hay nói một cách khác, mọi sự kiện xoay quanh “bạn” vì bạn – độc giả chính là đối tượng chính của câu chuyện Nếu bạn “không chịu tưởng tượng”, câu chuyện không thể bắt đầu Và “điều khủng khiếp” như nhà văn nói không sai khi chính ông –

là nam cũng phải tưởng tượng mình là… con gái để có thể nắm vững mạch truyện và đưa người đọc vào thế giới tưởng tượng lạ kì này Đương nhiên, người

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w