L ỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài Motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á dướ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HỒ QUỐC HÙNG
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người thực hiện
Nguyễn Thị Bé
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Văn học Việt Nam với
đề tài Motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á dưới góc nhìn so sánh loại hình, tôi đã nhận được sự quan tâm
của Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng Sau đại học, trường Đại học Sư phạm Tp
Hồ Chí Minh, của quý thầy cô giảng dạy chuyên ngành Văn học Việt Nam (Cao học khóa 24 – Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh) Đặc biệt là sự giúp đỡ hết sức tận tình
và nhiệt thành của Tiến sĩ Hồ Quốc Hùng, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành
luận văn này
Con xin kính lời tri ân sâu sắc nhất đến thầy: Tiến sĩ Hồ Quốc Hùng – người đã
hết lòng dẫn dắt trong quá trình thực hiện đề tài Người viết trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, quý thầy cô đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu; các phòng ban của trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh (Phòng Sau đại học, Thư
viện trường) Cuối cùng, xin dành lời cảm ơn chân tình nhất đến gia đình, bạn bè đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
M ỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 13
1.1 M ột số vấn đề lí thuyết 13
1.1.1 Lí thuyết về type và motif 13
1.1.2 Lí thuyết về phương pháp so sánh loại hình trong văn học dân gian 16
1.2 Motif “b ắt chước không thành công” trong truyện cổ tích 21
1.2.1 Nguồn gốc và cấu tạo của motif 21
1.2.2 Tiêu chí xác định motif “bắt chước không thành công" 23
1.3 Ti ểu kết chương 1 25
Chương 2 PHÂN LOẠI MOTIF “BẮT CHƯỚC KHÔNG THÀNH CÔNG” TRONG TRUY ỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 27
2.1 Kh ảo sát tư liệu 27
2.2.1 Khảo sát tư liệu truyện Việt Nam 27
2.2.2 Khảo sát tư liệu truyện các nước Đông Nam Á khác 33
2.2 Phân lo ại motif “bắt chước không thành công” 40
2.2.1 Kiểu bắt chước 40
2.2.2 Kiểu nhân vật 48
2.2.3 Nguyên nhân bắt chước không thành công 62
2.2.4 Kết quả của việc bắt chước không thành công 65
2.2 Ti ểu kết chương 2 73
Chương 3 MOTIF “BẮT CHƯỚC KHÔNG THÀNH CÔNG”
Trang 6TRONG C ỐT TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 76
3.1 Motif “b ắt chước không thành công” với vai trò là motif chi tiết 783.1.1 Motif “bắt chước không thành công” trong các kiểu truyện 783.1.2 Vai trò của motif “bắt chước không thành công” trong cốt truyện 1073.2 Motif “b ắt chước không thành công” với vai trò là motif chủ đề 1143.2.1 Cấu tạo cốt truyện bắt chước không thành công 1143.2.2 Vai trò của motif “bắt chước không thành công” trong cốt truyện 1183.3 Ti ểu kết chương 3 120
K ẾT LUẬN 122 TÀI LI ỆU THAM KHẢO 125 Tiếng Anh 131
PH Ụ LỤC
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh mục tư liệu khảo sát truyện Việt Nam của luận văn 32
Bảng 2.2 Danh mục tư liệu khảo sát truyện các nước Đông Nam Á của luận văn 38
Bảng 2.3 Khảo sát cách thức bắt chước trong motif bắt chước không thành công 40
Bảng 2.4 Khái quát về kiểu nhân vật 61
Bảng 2.5 Thống kê kết quả của motif bắt chước không thành công 73
Bảng 3.1 Sự phân bố các kiểu truyện chứa motif bắt chước không thành công…… 77
Bảng 3.2 Sự phân bố các dạng thức của kiểu truyện cái ác bị trừng phạt 95
Bảng 3.3 Đối sánh cách kể cốt truyện luôn coi trọng cha mẹ cho dù họ là ai 103
Trang 8DANH M ỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Nguyên nhân bắt chước không thành công 62
Sơ đồ 2.2 Kết quả bắt chước không thành công 66
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa những lần bắt chước……… 94
Trang 9So với nhiều nơi trên thế giới, Đông Nam Á là mảnh đất chịu nhiều ảnh hưởng
của những nền văn hóa lớn do bản chất địa lí và lịch sử riêng Chính vì vậy, cư dân nơi đây đã tạo ra được một vùng văn hóa đặc sắc khó lẫn lộn với vùng đất nào trên thế
giới Việt Nam nằm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á cổ đại, tuy mang những nét riêng biệt do lịch sử xã hội quy định, nhưng những dấu vết của cơ tầng văn hóa xa xưa
đó, vẫn còn hiện hữu trong đời sống văn hóa, đặc biệt là văn học dân gian Tính chất khu vực vẫn còn được lưu giữ trong rất nhiều type và motif của truyện cổ tích Việc nghiên cứu những điểm gặp gỡ ấy là một sự quay về thời quá khứ, để tìm hiểu cuội nguồn của những vấn đề văn hóa dân gian khu vực trước khi phân lập như bây giờ Từ
đó, giúp ta hiểu rõ hơn những vấn đề văn hóa mang tính phổ quát chung cho toàn nhân
loại và những yếu tố hình thành nên dân tộc tính của các quốc gia Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
Nhận thấy motif bắt chước không thành công là một motif có tần số xuất hiện
không nhỏ trong truyện cổ tích Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung, chúng tôi vận dụng hướng so sánh loại hình thực hiện đề tài “Mootif bắt chước không thành công trong truy ện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á dưới góc nhìn so sánh lo ại hình” Trong một chừng mực nào đó, đề tài nhằm nhận diện những đặc
điểm nằm ở bề sâu của lịch sử, văn hoá hình thành nên quan niệm nhân sinh, những
biểu tượng mang tính khu vực của nhân dân Đông Nam Á Trong đó, việc lí giải từ đâu mà trên một mảnh đất rộng lớn như vậy nhân dân lại có chung quan niệm nhân sinh, cùng cách biểu đạt tư tưởng thông qua những tác phẩm văn học dân gian là việc
Trang 10làm cần thiết
Tham vọng khoa học của luận văn khá lớn, dĩ nhiên, nó không hoàn toàn mới
lạ, song chúng tôi nhận thấy, đề tài nếu được quan tâm đúng mức sẽ hứa hẹn mang đến
những giá trị thiết thực trong việc bổ sung tài liệu tham khảo bổ ích cho công việc nghiên cứu văn học nói chung và nghiên cứu, giảng dạy văn học dân gian khu vực nói riêng
2 M ục đích nghiên cứu
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nghiên cứu văn học dân gian ở Việt Nam và khu
vực hiện nay, từ cách đặt vấn đề và nhận thức trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên
cứu đề tài: “Motif “bắt chước không thành công” trong truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á dưới góc nhìn so sánh loại hình” với mong muốn đáp ứng
được một số mục đích khoa học sau:
- Hệ thống hóa đối tượng nghiên cứu từ những tài liệu về truyện cổ tích mà từ trước đến nay chưa có công trình nào quan tâm thực hiện Từ đó, tiến hành phân loại
và tìm hiểu về cấu tạo của motif, vai trò của motif bắt chước không thành công đối với
cốt truyện cổ tích chứa motif ấy ở các nước trong khu vực
- Khảo sát đối tượng nghiên cứu, rút ra đặc điểm mang tính loại hình, chỉ ra
những tương đồng và khác biệt về motif bắt chước không thành công ở Việt Nam và
các nước Đông Nam Á khác Bước đầu lí giải nguyên nhân đã chi phối những tương đồng và khác biệt ấy
- Bổ sung mảng nghiên cứu văn học dân gian Đông Nam Á còn khá trống trải
và bó hẹp trong từng quốc gia như hiện nay, để tìm một hệ thống mở rộng hơn của vấn
Trang 11cận dưới nhiều góc độ khác nhau, trong đó, hướng nghiên cứu bằng sự so sánh motif trong truyện cổ được nhiều học giả quan tâm từ hơn 50 năm nay
Trong số đó, có thể kể đến những công trình: Trương Sĩ Hùng “Từ truyện
Tr ạng Quỳnh đến việc xác định thể loại truyện Trạng ở một số nước Đông Nam Á”
(1987), Nguyễn Tấn Đắc “Từ truyện Kajong và Halek của người Chăm đến truyện
T ấm Cám ở đông Nam Á” (1994), Bích Hà “Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam và Đông Nam Á ” (1998) Đức Ninh “Văn học các nước Đông Nam Á” (1999), Lưu Đức Trung “Văn học Đông Nam Á” (1999), Nguyễn Tấn Đắc “Truyện
kể dân gian đọc bằng type và motif” (2001), Lại Phi Hùng “Những tương đồng và
khác bi ệt trong một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt Nam” (2004), Lê Hồng
Phong “Truy ện cổ Tây Nguyên và những motif chung Đông Nam Á” (2008)…
Nguyễn Tấn Đắc trong bài viết “Mối giao lưu và tương tác văn hóa giữa các dân t ộc ở Đông Nam Á qua truyện kể Tấm Cám” (1996) đã lấy những motif thuộc
type truyện “Tấm Cám” ở Đông Nam Á để chỉ ra nhiều điểm tương đồng về văn hóa
giữa các dân tộc Khi đi sâu vào nghiên cứu, tác giả cho rằng, mấu chốt của truyện là
việc có nhân vật người vợ cả và không có nhân vật người vợ cả tham gia vào câu chuyện Điều này đã tạo ra hai nhóm truyện nhỏ của type truyện mà ông gọi là
“subtype” Từ những phân tích đó, tác giả chỉ ra một cách khá cụ thể và thuyết phục
những nét tương đồng, sự giao lưu, tiếp biến của type truyện “Tấm Cám” ở khu vực
Đông Nam Á Cuối cùng, Nguyễn Tấn Đắc gợi mở hướng đi cho khoa nghiên cứu văn
học dân gian “Nếu tiếp tục nghiên cứu so sánh các motif khác của truyện, chắc có thể tìm th ấy nhiều mối giao lưu và tác động văn hóa lí thú giữa các dân tộc Đông Nam Á”
[22, tr.23] Những thành công mà bài viết đạt được, thực sự đã mở ra cho khoa nghiên
cứu văn học dân gian ở Việt Nam một hướng khai thác mới đầy tiềm năng và hứa hẹn
Ít năm sau đó, ở công trình “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif”
(2001), khi nghiên cứu mối quan hệ nguồn cội của type truyện “U Thền” của dân tộc
Thái (Việt Nam) với những truyện cùng type ở các quốc gia Đông Nam Á, Nguyễn
Tấn Đắc nhìn nhận đối tượng từ góc độ loại hình lịch sử và vận dụng lý thuyết nghiên
cứu cấu trúc luận để chỉ ra những điểm dị biệt trong thế đối sánh truyện Việt Nam với
Trang 12truyện các nước khác cùng khu vực Tác giả nhận thấy, trong khi các nước bạn cùng khu vực tiếp nhận nguyên vẹn những yếu tố đặc trưng từ truyện Ấn Độ thì “Người Thái ở Việt Nam đã tìm cách biến đổi hoặc tước bỏ chúng đi” [23, tr.153], và “Thay đổi một số tiết và motif để cho phù hợp với vũ trụ quan và quan niệm đạo đức của
mình” [23, tr.160-161] Một lần nữa, hướng tiếp cận trước đó của ông lại khẳng định được sự thành công ở chuyên luận này và những công trình khác về sau Thực sự,
những công trình, bài viết của Nguyễn Tấn Đắc, dù liên quan hay không liên quan đến
đề tài luận văn, đều có vai trò chỉ dẫn quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu vấn
đề mà luận văn chúng tôi đặt ra
Sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ (1996), Nguyễn Thị Bích Hà tiếp tục
có một chuyên luận nghiên cứu sâu về truyện Thạch Sanh qua sự đối sánh giữa Việt Nam với các nước Đông Nam Á được in thành sách với nhan đề: “Thạch sanh và kiểu truy ện dũng sĩ trong truyện cổ tích Việt Nam và Đông Nam Á” (1998) Tuy mục đích
chính của tác giả là so sánh kiểu truyện, nhưng trong chuyên khảo, tác giả cũng đề cập đến việc so sánh các motif tạo nên type truyện ấy Trên cơ sở khảo sát nguồn gốc và
diễn hoá của một số motif nổi bật của truyện Thạch Sanh, tác giả tiến hành tìm hiểu
mô hình kết cấu của truyện, mối quan hệ giữa các nhân vật của kiểu truyện và sự xâu chuỗi các motif vào cốt truyện, đồng thời phân tích, so sánh để lí giải những nét tương đồng và khác biệt của kiểu truyện Thạch Sanh ở Việt Nam và Đông Nam Á
Cũng theo hướng này, Lại Phi Hùng tập hợp các bài nghiên cứu của mình đăng
rải rác trên các tạp chí trước đó thành công trình “Những tương đồng và khác biệt trong m ột số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt Nam” (2004) Công trình này, tác
giả đã tìm hiểu những tương đồng và khác biệt về đặc điểm loại hình kiểu truyện
Chàng trai kho ẻ, kiểu truyện Người bất hạnh và kiểu truyện Người đội lốt vật của Việt
Nam và Lào trên các cấp độ kết cấu, cốt truyện, chủ đề,… Điều đáng ghi nhận là, tác
giả chỉ ra nhiều motif chung giữa truyện cổ Lào và Việt Nam đồng thời làm rõ cấu trúc
của nó để chỉ rõ điểm giống và khác giữa truyện cổ hai nước Đây thực sự là một trong
số ít công trình ở Việt Nam, truyện cổ dân gian được khảo sát dựa trên một khối tư
liệu phong phú và tiến hành công phu như vậy
Trang 13Cùng hướng nghiên cứu ấy, Lê Hồng Phong trong bài viết “Truyện cổ Tây Nguyên và nh ững motif chung Đông Nam Á” (2008) đã khảo sát những motif giống
nhau giữa truyện cổ Tây Nguyên và các nước Đông Nam Á lần lượt trên ba thể loại:
huy ền thoại, cổ tích và truyện hài Sau khi đưa ra những motif chung giữa truyện cổ
Tây Nguyên và các nước Đông Nam Á, tác giả tiến hành lí giải những nguyên nhân
dẫn đến sự tương đồng đó để đi đến những kết luận “Sự tương đồng trong khu vực văn hoá Đông Nam Á là có thật, cơ tầng văn hoá chung dẫu có chịu tác động bởi các nền văn minh lớn, nhưng vẫn có cái nền gốc chắp thêm cành lá mới” [107]
Do một số nguyên nhân nhất định, chúng tôi chưa thể bao quát hết những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đã nêu Từ những công trình trên, người viết nhận thấy, dù giới hạn phạm vi bao quát rộng hẹp khác nhau, nhưng cách thức chính của các nhà nghiên cứu đều theo hướng so sánh những type và motif trong truyện cổ Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác, từ đó, tìm ra những vấn đề khoa học ẩn lấp trong văn hóa dân gian khu vực Đấy là những cơ sở lí luận và thực tiễn khá quan trọng để luận văn đi sâu vào đề tài nghiên cứu mà mình hướng tới
3.2 Nhóm nghiên c ứu motif “bắt chước không thành công” trong truyện
c ổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác
Vấn đề này, nhìn chung, những ý kiến đánh giá còn khá khái lược và có số lượng khiêm tốn Tuy nhiên, đây cũng không phải là một vấn đề hoàn toàn mới lạ
Đáng chú ý hơn cả là chuyên luận của GS Chu Xuân Diên “Về cái chết của mẹ con
dì gh ẻ trong truyện “Tấm Cám”” (1999) Chuyên luận này đã tập hợp những bài
nghiên cứu khác nhau viết về kết thúc truyện “Tấm Cám” trước đó một cách khá đầy
đủ Thông qua công trình này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu một số motif trong truyện
và lý giải nguồn gốc của những motif ấy Điều đáng ghi nhận là tác giả rất thận trọng trong cách đánh giá vấn đề, bám sát các nguyên tắc nghiên cứu phônclo, giải quyết vấn
đề một cách khoa học Cụ thể: để lí giải cái chết của mẹ con dì ghẻ là sự trả thù hay
trừng phạt, tác giả đã nghiên cứu motif bắt chước không thành công và motif mẹ ăn
nh ầm thịt con Từ đó rút ra những kết luận có giá trị rằng: “Các tình tiết làm thành
Trang 14đoạn kết của truyện “Tấm Cám” không phải là do “quyền tự do sáng tạo của dân gian”, mà là nh ững mô típ, hay nói đúng hơn, những biến thể của những mô típ có ngu ồn gốc từ thực tại và quan niệm thực tại của những con người thời xưa” [6,
tr.313] Và khẳng định: “Những mô típ ấy đã trải qua quá trình được nhào nặn lại không ph ải là tùy tiện mà có qui luật, theo một lôgic không phải lôgic của lối cảm, lối nghĩ, lối sống hiện đại, mà lôgic của tư duy cổ tích” [6, tr.313] Vậy nên, việc phê
phán về kết thúc truyện này của một số luồng ý kiến là không hợp lí Bên cạnh đó, tác
giả còn lí giải nguồn gốc của motif bắt chước không thành công: “nó vốn đã từng là một motif của thần thoại” [6, tr.328]; chỉ ra các chủ đề tiêu biểu có chứa motif này
“xung đột anh em, chị em Trong loại truyện phân chia tài sản không công bằng, xung
đột mẹ ghẻ con chồng” [6, tr.328]; giải thích nguyên nhân “sợ dĩ như vậy là do lòng
tham của người anh, hoặc do không làm đúng lời chỉ bảo “thiêng liêng” (lời dặn của thần chẳng hạn)” [6, tr.329], đồng thời có sự so sánh với truyện cổ tích một số nước trên thế giới có chứa motif bắt chước không thành công Dù công trình chỉ nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến một truyện cổ tích cụ thể chứ không coi motif bắt chước không thành công như một đối tượng khảo sát chuyên biệt, nhưng những kiến thức mà tác giải đưa ra trong chuyên luận thực sự đã gợi ra cho chúng tôi nhiều định hướng quan trọng về mặt lí luận Chính chuyên luận này đã khơi nguồn, tạo cơ sở cho chúng tôi thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Thu Vân trong “Khảo sát truyện cổ dân tộc Chăm” (2005), khi
nghiên cứu các kiểu truyện cổ tích của dân tộc Chăm trên phương diện cốt truyện
N gười anh cả - em út đã đưa ra hai motif tiêu biểu trong đó có motif bắt chước không thành công Tác gi ải đánh giá vị trí của motif bắt chước không thành công trong kho
tàng truyện cổ Chăm “Motif này cũng có mặt trong nhiều truyện cổ Chăm” [93, tr.178] và đi sâu làm rõ luận điểm trên qua một số truyện tiêu biểu và chỉ rõ yếu tố bắt chước không thành công trong truyện đó Tuy chưa đưa ra một tiêu chí cụ thể để nhận
diện motif bắt chước không thành công nhưng những dẫn chứng mà tác giả đưa ra khá
thuyết phục Nguyễn Thị Thu Vân còn lí giải nguyên nhân “người bắt chước sợ dĩ không thành công là do nh ững tính xấu như: tham lam, độc ác” [93, tr.178]
Trang 15Cũng bàn về motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích, Nguyễn
Thị Ngân Sương trong luận văn “Những hình thức thưởng phạt trong truyện cổ tích
Vi ệt Nam” (2007), lại xếp motif này như là một motif trừng phạt trong truyện cổ tích
người Việt Tác giả luận văn đã đưa ra một số lượng truyện đáng kể của nhiều dân tộc như dân tộc Kinh, dân tộc Mèo, dân tộc Kmer, dân tộc Vân Kiều, dân tộc Giáy, dân
tộc Nùng, dân tộc Dao… để đi đến những kết luận: “Rõ ràng với mô típ này của truy ện cổ tích, người xưa muốn nhấn mạnh vào yếu tố đạo đức “Ở hiền gặp lành”, “Ở
ác g ặp ác”” [74, tr.88] Tác giả cho rằng, nguyên nhân bắt chước không thành công là
“do lòng tham c ủa người anh, người chị, người bạn hoặc do không làm đúng theo lời
ch ỉ bảo “thiêng liêng” (lời dặn của thần, lời chỉ bảo của người em, của rùa biển, của chim th ần ) hoặc đối xử thô lỗ và quá độc ác với kẻ đã trợ sức có phép thần (con chim th ần, con cày hương biết múa…)” [74, tr.88] Điều đáng công nhận của luận văn
là tác giả luận văn sau khi phân tích biểu hiện của motif bắt chước không thành công
trong truyện cổ tích người Việt đã mô hình hóa motif thành sơ đồ khá chi tiết và đầy
đủ Mô hình này đã gợi mở cho chúng tôi nhiều luận điểm quan trọng trong việc tìm
hiểu vai trò của motif đối với cốt truyện và việc mô hình hóa cấu tạo của motif bắt chước không thành công
Trong bài viết “Nét khác biệt ở một số motif trong type truyện người con riêng c ủa các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc” (2011), tác giả Nguyễn Thị Minh
Thu đã chỉ ra những nét khác biệt của một số motif trong truyện cổ tích các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc so với motif trong truyện cổ tích nói chung Trong số
những motif mà tác giải đưa ra có motif bắt chước không thành công Nguyễn Thị Minh Thu đã khẳng định rằng: “Đây cũng là một motif tiêu biểu của truyện cổ tích
th ần kì xuất hiện trong một số kiểu truyện, đặc biệt phổ biến trong kiểu truyện người con riêng […] Tuy nhiên, trong quá trình kh ảo sát các truyện về người con riêng của các dân t ộc miền núi phía Bắc, chúng tôi nhận thấy motif này không chỉ được sử dụng
ở chi tiết kết thúc mà cả ở những phiến đoạn khác nhau với các dạng thức độc đáo”
[80, tr.120-121] Sau đó, người viết chỉ ra ba dạng thức đặc biệt của đối tượng để đi
đến kết luận cuối cùng: “motif bắt chước không thành công không phải là motif riêng
Trang 16trong truy ện kể của các dân tộc miền núi phía Bắc nhưng mức độ xuất hiện phổ biến, các d ạng thức xuất hiện phong phú, độc đáo đã tạo ra dấu ấn riêng biệt cho truyện kể các dân t ộc khu vực này” [80, tr.124] Đây có thể nói là bài viết đi tiếp những bước sâu hơn, mới mẻ hơn trong việc tiếp cận motif bắt chước không thành công so với
những bài nghiên cứu trước Tiếc rằng, Nguyễn Thị Minh Thu chỉ mới khảo sát trong
phạm vi hẹp, nhưng nhìn chung, công trình này gợi mở nhiều khía cạnh quan trọng
cho hướng khai thác vấn đề của luận văn
Nguyễn Thị Bích Thủy trong luận văn “So sánh một số truyện cổ tích của các
t ộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia” (2011), đã nhận thấy
motif b ắt chước không thành công xuất hiện trong kiểu truyện Người bất hạnh và kiểu
truyện Người hóa thân trong truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia Nguyễn Thị Bích Thủy nhận ra ý nghĩa của motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích và cho rằng: “Sự thất bại của cái ác vốn
là m ột trong những điểm đến của truyện cổ tích Motif bắt chước không thành công cũng là một cách để dân gian chứng minh rằng cũng là cách làm như nhau nhưng tâm thi ện, lòng hướng thiện tất gặp may mắn; ngược lại, lòng tà tâm thì quả báo nhãn
ti ền” [82, tr.108] Đối với kiểu truyện Người hóa thân, tác giả xác định rằng, tuy “Sự
xu ất hiện của motif bắt chước không thành công trong kiểu truyện người hóa thân với
t ần số không nhiều” [82, tr.144] nhưng hành động bắt chước ở đây có nét riêng độc đáo “Sự bắt chước ở đây không phải là bắt chước hóa thân mà là bắt chước tìm người đội lốt để lấy làm chồng” [82, tr.144] Tác giả còn lí giải nguyên nhân bắt chước không thành công “là h ệ quả tất yếu cho những hành động độc ác trước đó của nhân
v ật” [82, tr.144]
Tuy không trực tiếp đề cập đến vấn đề mà luận văn nghiên cứu nhưng những công trình: Phạm Tuấn Anh “Nhân vật “gây trở ngại và thử thách” của kiểu tryện người mang lốt vật” (2008), Lê Trung Vũ “Khảo sát nhân vật mồ côi trong truyện cổ H’mông” (2010), Nguy ễn Thị Ngọc Lan “Motif “phần thưởng” trong kiểu truyện người em qua khảo sát truyện cổ tích thần kì người Việt” (2011)… đã ít nhiều nhắc
đến vấn đề theo những hướng và tên gọi khác nhau Những công trình này thực sự đã
Trang 17cung cấp cho chúng tôi nhiều kiến thức bổ ích, bổ trợ cho việc định hướng tiếp cận vấn
đề luận văn đặt ra
Khảo sát một số công trình trên, chúng tôi nhận thấy, tuy có đề cập đến motif
b ắt chước không thành công trong truyện cổ tích và các yếu tố có liên quan đến motif
này, nhưng các công trình ấy không xem nó như đối tượng khỏa sát chuyên biệt mà chỉ
là một motif nhỏ trong hệ thống cốt truyện cổ tích Tuy nhiên, những nhận định trên giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát và định hướng sơ bộ về những khía cạnh mà đề tài
luận văn nghiên cứu Từ thành quả ấy, luận văn sẽ cố gắng đưa vấn đề thành một hệ
thống cụ thể ở cấp độ khu vực
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là motif bắt chước không thành công trong
truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Xét trong phạm vi đối tượng, chúng tôi nhận thấy trong thực tế của văn học dân gian, không phải motif nào trong quá trình lưu truyền và phát triển vẫn giữ được dạng nguyên sơ của nó (hoặc nó bị tiêu giảm hoặc được làm phong phú thêm V.Ia.Prop (1895-1970) – nhà folklore người Nga, đã dẫn ra 20 hình thức biến đổi của motif ngôi
l ều của Yaga) Motif bắt chước không thành công cũng như vậy Trong truyện cổ tích, motif b ắt chước không thành công xuất hiện với những dạng thức khác nhau Để nắm
bắt đối tượng được toàn diện hơn, trong luận văn, chúng tôi lựa chọn những truyện thuộc mô hình đầy đủ và những truyện thuộc mô hình không đầy đủ để khảo sát (Chúng tôi sẽ nói rõ hơn trong chương 1)
Ở phạm vi quốc gia: về phía Việt Nam, do tình hình tư liệu phong phú, chúng tôi chọn những truyện có motif bắt chước không thành công trên phạm vi toàn đất
nước (cả dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số) làm nguồn tư liệu nghiên cứu chính Về phía các nước cùng khu vực Đông Nam Á, do tình hình thực tế của nguồn tư liệu, chúng tôi khảo sát chủ yếu truyện của các nước Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma, Indonesia, Brunay, Philippin Một số nước khác như Malaixia, Singapo, Đông Timo
Trang 18hiện tư liệu khá khan hiếm nên truyện của những quốc gia này được sử dụng với số lượng hết sức hạn chế phục vụ cho thao tác đối chiếu, bổ sung
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, để phục vụ cho những mục đích khoa học
mà đề tài hướng đến, chúng tôi cố gắng vận dụng một số phương pháp nghiên cứu phù
hợp với khoa nghiên cứu văn học dân gian sau:
- Phương pháp so sánh loại hình: Vì mục tiêu khoa học của luận văn phải chỉ
ra và lí giải những nét tương đồng, khác biệt của đối tượng, do đó, phương pháp so sánh loại hình là phương pháp được chúng tôi chú trọng vận dụng nhất Kết quả so sánh không những giúp người viết hiểu biết sâu sắc về motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích của từng quốc gia nhất định, mà còn giúp chúng tôi phần nào
nhận ra nguồn gốc sâu xa của những tương đồng, khác biệt ấy
- Phương pháp thống kê: người viết vận dụng phương pháp này để tiến hành
tổng hợp càng nhiều càng tốt số lượng truyện khảo sát với mong muốn đưa ra được những kết luận khoa học thỏa đáng nhất
- Phương pháp hệ thống: được chúng tôi vận dụng như là một trong những
phương pháp chủ yếu của quá trình nghiên cứu Trên một khối lượng truyện tương đối
lớn và phạm vi khảo sát mang tính khu vực, phương pháp hệ thống có vai trò quan
trọng cho việc phân nhóm đối tượng, khảo sát đối tượng để tìm ra những kết luận khoa
học từ hệ thống truyện ấy
- Phương pháp phân tích cấu trúc: Phương pháp này được sử dụng trong quá
trình phân giải tác phẩm để định hình cấu trúc cốt truyện Nhờ phương pháp này, chúng tôi chỉ ra được cấu tạo và vai trò của motif trong cốt truyện của truyện cổ tích
chứa motif bắt chước không thành công
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trong quá trình nghiên cứu, ở những
chỗ cần thiết, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để lí giải
những kết luận thu nhận được Phương pháp này sẽ giúp cho những kết luận mà luận văn thu nhận được mang tính thuyết phục và khoa học hơn
- Phương pháp mô hình hóa: được chúng tôi tiến hành xuyên suốt trong quá
Trang 19trình nghiên cứu Cùng với quá trình khảo sát, người viết sẽ hệ thống, sắp xếp các truyện theo trình tự các khía cạnh của vấn đề, lọc ra những truyện có chung một mô hình xếp vào một nhóm theo kiểu xâu chuỗi chứ không đi vào từng dân tộc cụ thể tránh sự trùng lặp không cần thiết Sau đó, có thể mô hình hóa lại kết quả nghiên cứu,
mô hình ấy sẽ đóng vai trò như những tiểu kết
Chúng tôi cũng hy vọng và mong muốn rằng, với những phương pháp và thao tác nghiên cứu đã được vận dụng, luận văn sẽ nghiên cứu đúng bản chất của đối tượng
và giải quyết hiệu quả các mục đích khoa học mà luận văn đặt ra
6 Đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài “Mootif “bắt chước không thành công” trong truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á dưới góc nhìn so sánh loại hình” chúng
tôi mong muốn góp phần hoàn thiện được một số vấn đề về nội dung và phương pháp sau:
- Hệ thống được số lượng truyện có chứa motif bắt chước không thành công
trong truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á Từ đó, tiến hành phân loại
và khảo sát đối tượng để làm rõ các dạng thức của motif ấy trong cốt truyện; so sánh đối tượng nhằm tìm ra điểm tương đồng và dị biệt giữa truyện Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác Nói đúng hơn, với đề tài này, luận văn chỉ có thể làm được việc hệ
thống motif bắt chước không thành công của các dân tộc Việt Nam có sự đối sánh với
một số nước trong khu vực chứ chưa vươn lên đến việc hòa vào hệ thống chung của toàn khu vực, vì để làm được việc ấy đòi hỏi một quá trình nghiên cứu công phu, dày công hơn nữa
- Tìm ra nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo và chức năng của motif ấy đối với cốt
truyện cổ tích chứa motif bắt chước không thành công
- Mang đến cái nhìn chuyên biệt và sâu sắc hơn về motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích các nước Đông Nam Á, bằng phương pháp so sánh loại hình
trong nghiên cứu văn học dân gian khu vực còn khá trống trải như hiện nay
7 K ết cấu của luận văn
Trang 20Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung của luận văn được triển khai theo
ba chương với những nhiệm vụ cụ thể sau:
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
Trong chương này, chúng tôi tập trung chủ yếu trình bày một số vấn đề lí thuyết làm cơ sở lí luận cho đề tài, tạo tiền đề để các chương sau được triển khai một cách khoa học Luận văn đặt ra nhiệm vụ của chương là làm rõ ba vấn đề: Thứ nhất, làm rõ được một số vấn đề lí thuyết type, motif và phương pháp so sánh loại hình trong
nghiên cứu văn học dân gian Thứ hai, xác định được cấu tạo của motif bắt chước không thành công và bước đầu tìm hiểu nguồn gốc của motif ấy Thứ ba, xây dựng
được tiêu chí xác định motif bắt chước không thành công phục vụ cho quá trình khảo
sát, chọn lọc và phân loại đối tượng
Chương 2 PHÂN LOẠI MOTIF “BẮT CHƯỚC KHÔNG THÀNH CÔNG” TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Trong chương này, chúng tôi dự kiến sẽ khảo sát và tổng hợp tư liệu để tiến hành phân loại motif theo những tiêu chí chung Từ những nhóm phân loại ấy, người viết vận dụng phương pháp so sánh để tìm và bước đầu lí giải những điểm chung,
riêng của truyện cổ tích chứa motif bắt chước không thành công trong khu vực Đông
Nam Á
Chương 3 VAI TRÒ MOTIF “BẮT CHƯỚC KHÔNG THÀNH CÔNG” TRONG CỐT TRUYỆN CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Nhiệm vụ của chương này là khảo sát các dạng thức cấu tạo cốt truyện chứa motif bắt chước không thành công và chỉ ra vai trò của motif đối với cốt truyện trên hai phương diện: motif bắt chước không thành công với vai trò là motif chi tiết và
motif bắt chước không thành công với vai trò là motif chủ đề Việc khảo sát này đã đặt
ra nhiệm vụ so sánh vai trò, chức năng, cấu tạo giữa truyện cổ tích chứa motif bắt chước không thành công của Việt Nam và các nước trong khu vực
Trang 21Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Một số vấn đề lí thuyết
1.1.1 Lí thuyết về type và motif
Trong khoa văn học dân gian, việc nghiên cứu truyện kể dân gian bằng type và motif đã và đang được vận dụng rộng rãi như một phương pháp đặc thù Type và motif
là hai khái niệm hết sức cơ bản trong việc tìm hiểu về truyện cổ tích đã được các nhà folklore sử dụng như những khái niệm thông dụng trong nghiên cứu Người có công đầu tiên đưa ra hai khái niệm như là một phạm trù trong nghiên cứu văn học là A.N.Vexelopxki (1838-1906) và V.Ia.Prop (1895-1970) Sau đó, người nâng hai thuật
ngữ này trở thành thuật ngữ quốc tế là A.Aarne và S.Thompson – hai nhà khoa học người Phần Lan Ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn học dân gian bằng type và motif
cũng rất được quan tâm, vận dụng với hàng loạt bài nghiên cứu như: “Truyện kể dân gian đọc bằng type và motif” (Nguyễn Tấn Đắc), “Nghiên cứu truyện cổ dân gian Việt Nam theo b ảng mục lục tra cứu type và motif truyện cổ dân gian của antti và Stith Thompson” (Nguy ễn Thị Hiền), “Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ type và motif – nh ững khả thủ và bất cập” (Trần Thị An),…
Chính vì sự phổ biến đó nên định nghĩa về type và motif của các nhà nghiên
cứu văn học dân gian có nhiều điểm thống nhất
1.1.1.1 Về khái niệm motif, theo “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa:
“[…] t ừ tiếng Hán là mẫu đề có thể chuyển thành các từ khuôn, dạng hoặc kiểu trong
ti ếng Việt, nhằm chỉ những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành
b ền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian” [30, tr.192]
Không chỉ được định nghĩa trong những công trình có ý nghĩa bao quát, tổng
hợp như từ điển trên, khái niệm motif còn được định nghĩa trong những công trình nghiên cứu cụ thể về văn học dân gian Khái niệm motif được S.Thompson phát biểu
như sau: “Motif là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là những thành tố để tạo nên cốt truyện [ ] Khi nói đến motif thì phải hiểu nó là một yếu tố khác thường, một yếu tố tạo
nghĩa, một yếu tố gây ấn tượng” [23, tr.26] Dựa trên chức năng của các motif
V.Ia.Propp lại đề xuất quan niệm về motif là “những đơn vị còn có thể phân chia được
Trang 22và là những thành phần được tạo nên từ các chức năng của nhân vật hành động” [24,
tr.26]
Ở Việt Nam, trong bài “Nghiên cứu truyện dân gian Đông Nam Á (bằng motif và type)”, tác gi ả Nguyễn Tấn Đắc có đưa ra định nghĩa về motif: “Chỉ những nét khác bi ệt, hoặc những nét nổi bật […] Thông thường, người ta xem motif là phần
nh ỏ nào, những thành tố nào có thể tách rời được, có thể lắp ghép được, hay lặp đi
l ặp lại và phải ít nhiều khác lạ, bất thường, đặc biệt” [60, tr.51]
Điểm qua một số định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy các nhà nghiên cứu văn
học dân gian, trong các công trình của mình, đều thống nhất việc sử dụng thuật ngữ motif dùng để chỉ những yếu tố đơn giản nhất nhưng có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài,
cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật Để trở thành một phần thực sự của cốt truyện thì
yếu tố đó nhất định phải có cái riêng, cái khác thường làm cho người ta nhớ và lặp đi
lặp lại nó
Kế thừa quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, trong luận văn, chúng tôi cũng thống nhất motif phải hội tụ đủ ba yếu tố sau:
Th ứ nhất, đó là những chi tiết nhỏ nhất tạo nên cốt truyện
Th ứ hai, chi tiết đó phải có sự lặp đi lặp lại nhiều lần trong truyện hoặc trong hệ
thống truyện cùng chủ đề
Th ứ ba, nó mang tính chất khác lạ, bất thường, đặc biệt
Việc xác định khái niệm motif như vậy, sẽ giúp chúng tôi nhận diện đúng đối
tượng khảo sát với mong muốn tìm ra được những lớp cấu trúc của motif bắt chước không thành công Đồng thời, nhận ra sự giống nhau bởi tính logic trong quá trình tư duy của cư dân Đông Nam Á qua các thời kì lịch sử, khu vực địa lí để từ đó tìm được con đường dẫn dắt giá trị của motif từ truyện này đến truyện khác, từ chủ đề này đến
chủ đề khác trong truyện cổ tích khu vực
Về khái niệm type, theo “Từ điển văn học” (bộ mới) là: “Tập hợp những
truy ện có cùng chủ đề và cốt truyện tương tự nhau, được gọi là kiểu truyện” [31,
tr.1841]
Trang 23Theo S.Thompson, type có nghĩa là: “Những cốt kể có thể tồn tại độc lập trong kho truy ện truyền miệng, cốt truyện như là một sơ đồ phức tạp, được cấu tạo từ một
dãy motif” [23, tr.26]
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu dùng khá nhiều thuật ngữ để chỉ nội hàm khái
niệm type: dạng thức, típ truyện, dạng truyện Những thuật ngữ này, xét cho cùng, được dùng để chỉ những truyện có các yếu tố tương tự nhau trong nòng cốt của cốt truyện Nguyễn Tấn Đắc trong “Nghiên cứu truyên dân gian Đông Nam Á (bằng motif và type)” cũng đưa ra định nghĩa: “khoa văn học dân gian sử dụng khái niệm type để chỉ một tập hợp những mẫu truyện kể dân gian có chung một cốt truyện” [60,
tr.51]
Nghiên cứu type truyện văn học dân gian là nghiên cứu những truyện có chung
một chủ đề, cốt truyện Các truyện có chung các motif, tất nhiên các motif này không hoàn toàn trùng khít với nhau trong tất cả các truyện, làm thành một type truyện có
một hệ thống motif đặc trưng với quan niệm nghệ thuật và ý nghĩa phản ánh riêng Như vậy nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất type truyện là một kiểu truyện có chung chủ đề, cốt truyện Chúng tôi đồng ý với những quan niệm đó
1.1.1.2 Type và motif là những phần tử - đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của truyện kể dân gian Giữa chúng có mối quan hệ rất mật thiết Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa motif và cốt tuyện, A.N.Veselovski phát hiện ra rằng, giữa type và motif có mối quan hệ biện chứng với nhau Chúng có thể chuyển hóa cho nhau Trong trường hợp cốt truyện chỉ bao gồm một motif thì motif này đã chuyển hóa thành type; ngược lại, một cốt truyện đang thuộc về một type, có thể di chuyển vào một cốt truyện phức tạp hơn và chỉ là thành phần của cốt truyện phức tạp này Nó đã trở thành motif chứ không phải là type nữa A.N.Veselovski còn cho rằng,
vì motif là một thành phần của cốt truyện, một thành phần của hệ thống cốt truyện nên motif vận hành như là một thành phần của hệ thống, nó có một vị trí xác định, một nội dung cụ thể trong hệ thống đó Cùng với các motif khác, nó tạo ra hệ thống Mọi motif đều liên quan đến cốt truyện và liên quan đến các motif khác trong cốt truyện,
Trang 24nghĩa là liên quan đến các thành phần trong cái toàn thể Điều này có điểm gặp gỡ với
đề xuất phân loại motif của Nguyễn Ngọc Thường trong bài viết “Mối quan hệ giữa motif và cốt truyện” thành motif khởi đầu, motif tình tiết, motif dẫn dắt Như vậy, các
nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng trong mối quan hệ với cốt truyện, motif có một vị trí và vai trò xác định riêng của nó khi tham gia vào cốt truyện
1.1.2 Lí thuyết về phương pháp so sánh loại hình trong văn học dân gian
1.1.2.1 Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ loại hình học là một phương pháp khá phổ biến hiện nay trong ngành folklore học ở Việt Nam nói riêng và trên thế
giới nói chung Hướng nghiên cứu này xuất hiện như là một nhu cầu tất yếu của khoa nghiên cứu văn học dân gian Phương pháp này được coi là phương pháp khả dụng đã
và đang đưa lại hiệu quả lớn cho ngành folklore học Chính vì lẽ đó, các nhà nghiên
cứu đã có ý thức vận dụng và đạt được nhiều phát hiện mới mẻ và có giá trị Vậy loại hình học trong khoa văn học dân gian là như thế nào?
Thuật ngữ loại hình học không phải chỉ dành riêng cho khoa văn học dân gian
Đó là một thuật ngữ phổ biến trong các khoa học tự nhiên và xã hội từ thế kỉ trước Nó
xuất phát từ gốc tiếng Hy Lạp là Týpos (Typologie) Theo “Từ điển bách khoa Xô
vi ết” (1985), khái niệm “loại hình” có 3 nét nghĩa cơ bản:
Th ứ nhất: là hình thái, dạng, loại của một cái gì đó có những đặc điểm chung thu ộc về bản chất, là kiểu mẫu, là mô hình của một cái gì đó
Th ứ hai: là đơn vị phân chia từ hiện thực được nghiên cứu theo phương pháp
lo ại hình học
Th ứ ba: là con người có những đặc điểm tính cách nào đó, là đại diện tiêu biểu
c ủa một nhóm người, ví như một tầng lớp, một giai cấp, một dân tộc hay một thời đại
Trong khoa văn học dân gian, thuật ngữ này được hiểu dưới những góc độ rộng
hẹp khác nhau
Ở Nga, các nhà khoa học theo học thuyết Mác về lịch sử - văn hóa, trên cơ sở
tiếp thu có phê phán những phương pháp nghiên cứu so sánh khác nhau trong dân tộc
học và folklore học phương Tây, đã xây dựng nguyên tắc cho phương pháp so sánh
loại hình lịch sử trong văn học dân gian Trước những bất cập của những hướng
Trang 25nghiên cứu trước đó, năm 1946, V.Ia.Prop – một nhà Folklore lỗi lạc, một chuyên gia
về truyện cổ tích người Nga, đã phác họa một số nét chính những nguyên tắc nghiên
cứu lịch sử theo hướng mới (khác với nghiên cứu lịch sử theo lịch đại của các trường
phái trước đó) trong bài báo với nhan đề “Đặc trưng của Folklore” Những nguyên
tắc nghiên cứu lịch sử được ông trình bày ở đây và những công trình ứng dụng mà ông
vận dụng những nguyên tắc ấy được coi như những đóng góp quyết định cho sự hình thành phương pháp nghiên cứu loại hình lịch sử
Từ những mầm mống đầu tiên về phương pháp loại hình học mà V.Ia.Prop đưa
ra, ở Nga đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện và phát triển phương pháp đầy triển vọng này Trong số những người đặt nền móng cho những tư tưởng và những nguyên tắc của phương pháp nghiên cứu so sánh loại hình học, có thể kể ra đây tên
tuổi của viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô V.M.Girmunxki Năm 1958 V.M.Girmunxki đã đọc tại hội nghị những người nghiên cứu về các dân tộc Xlavơ ở Matxcova một bản báo cáo nhan đề “Sáng tác sử thi các dân tộc Xlavơ và những vấn
đề nghiên cứu sử thi theo phương pháp so sánh”.1 Trong báo cáo đó, tác giả một mặt phê phán phương pháp so sánh của các học giả tư sản Mặt khác, ông xác lập những cơ
sở và nguyên tắc cho phương pháp so sánh loại hình – lịch sử của khoa văn học dân gian Mácxít Ông đã phân biệt các kiểu so sánh, vạch ranh giới giữa chúng với những nhiệm vụ cơ bản của việc nghiên cứu theo phương pháp so sánh loại hình – lịch sử và nêu ra ba nhiệm vụ sau đây của phương pháp:
1 So sánh l ịch sử cội nguồn nhằm khám phá sự giống nhau giữa các hiện tượng như là kết quả phát sinh từ một chủng hệ sau đó được phân ra do sự chế định có tính l ịch sử
2 So sánh lo ại hình – lịch sử nhằm giải thích sự giống nhau về mặt cội nguồn
gi ữa chúng với nhau mà không gắn với những hiện tượng phát triển xã hội bởi những điều kiện giống nhau
3 So sánh để xác lập những mối tác động ảnh hưởng hoặc di chuyển văn hóa trên th ế giới được quy định và những tiền đề phát triển xã hội của chúng
1 D ẫn theo Lê Chí Quế “Phương pháp loại hình trong khoa văn học dân gian và mối liên hệ với các trường phái
th ế kỉ XX” trong sách “Văn học dân gian, khảo sát và nghiên cứu”
Trang 26Sau những nền móng đầu tiên về phương pháp luận ấy, các nhà nghiên cứu văn
học dân gian tiếp tục đưa ra những quan niệm riêng về phương pháp so sánh loại hình trong những chuyên luận nghiên cứu của mình
Trong một chuyên luận được công bố vào năm 1976, B.N.Buchilốp đã đưa ra
một khái niệm rất rộng của thuật ngữ này Theo ông, loại hình học nên được hiểu “là
s ự trùng lặp có quy luật, bị chế ước bởi hàng loạt nhân tố khách quan Sự trùng lặp này di ễn ra trong tự nhiên và trong xã hội, trong các sự vật và hiện tượng, trong các thu ộc tính và những mối quan hệ, trong các yếu tố và cấu trúc, trong các quá trình và các m ối quan hệ” [71, tr.156] Đây là một định nghĩa có nội hàm rất rộng có thể áp
dụng cho mọi nghành khoa học khác nhau chứ không chỉ với khoa nghiên cứu về văn
học dân gian
Ba năm sau khi khái niệm B.N.Buchilốp được công bố, một nhà văn học dân gian Xô Viết khác là Ia.Iudin trong bài viết “Loại hình học các nhân vật của truyện
c ổ tích sinh hoạt” được in trong sách “Văn học dân gian Nga” đã đưa ra khái niệm
loại hình học là “Sự tương đồng, tương tự, sự thống nhất của các hình tượng trong các tác ph ẩm khác nhau về đề tài, cốt truyện, sắc thái tu từ, về nội dung và thể loại” [71,
tr.156] Quan niệm này khá phổ biến không chỉ trong giới văn học dân gian mà cả trong các nhà nghiên cứu văn học nữa Tuy nhiên, nhà lí luận văn học Khraptrencô lại phê phán quan niệm như vậy là sự giản đơn hóa phương pháp loại hình học
Ở Việt Nam, Nguyễn Khác Phi lần đầu đưa ra định nghĩa về phương pháp loại hình học như sau: “Loại hình học là một phương pháp nhận thức khoa học dựa vào khái ni ệm “kiểu” hoặc “mẫu” để phân chia các đối tượng cũng như để nhóm họp chúng l ại” [71, tr.157] Định nghĩa này dựa vào gốc của từ loại hình học là type để
phát triển lên Phần nào đó nó gần gũi với định nghĩa trong đại bách khoa toàn thư Liên Xô do A.P Ogu-rơ xốp và E.G.Iuđin viết
Lê Chí Quế trong “Phương pháp loại hình học trong khoa văn học dân gian
và m ối liên hệ với các trường phái thế kỷ XIX”, sau khi điểm qua các quan niệm về
phương pháp loại hình học của các học giả đi trước, ông đã đưa ra định nghĩa phương
Trang 27pháp loại hình học trong khoa văn học dân gian là: “Phương pháp nhận thức các hiện tượng và tác phẩm văn học dân gian thông qua việc khám phá các yếu tố cấu thành cũng như những quá trình, những mối liên hệ biện chứng giữa chúng trong sự vận động của thời gian và không gian” [71, tr.157] Ngoài ra, ông còn giới thuyết rất rõ về
những cơ sở khoa học khi xây dựng quan niệm của bản thân về loại hình học Nhìn chung, quan niệm của ông được mọi người ghi nhận và vận dụng rộng rãi
Từ những quan niệm trên, chúng tôi nhận thấy, các định nghĩa tuy nội hàm rộng
hẹp khác nhau nhưng cơ bản đều thống nhất về bản chất của phương pháp Trong luận văn, chúng tôi đồng ý với ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, đặc biệt là quan
niệm của Lê Chí Quế và những nguyên tắc về phương pháp so sánh loại hình học mà V.M.Girmunxki đưa ra Từ đó, người viết cố gắng vận dụng phương pháp so sánh loại hình như là một phương tiện thiết yếu để giải thích nguồn gốc về sự giống nhau của các hiện tượng có cội nguồn từ những điều kiện tương đồng nhau hoặc gần gũi nhau
về lịch sử và những tiền đề phát triển xã hội Cụ thể trong luận văn là motif chung bắt chước không thành công trên khu vực có những điều kiện giống nhau về lịch sử, địa lí
và những tiền đề phát triển xã hội – Đông Nam Á
1.1.2.2 Phương pháp so sánh loại hình học như đã nói ở trên, là một phương pháp đã và đang được sử dụng rộng rãi trong khoa nghiên cứu văn học dân gian Vấn
đề đặt ra là: nghiên cứu motif trong văn học dân gian theo loại hình học khác với nghiên cứu motif theo so sánh thuần túy như thế nào?
Căn cứ vào định nghĩa về lí thuyết và thực tiễn lịch sử nghiên cứu hai phương pháp này của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi nhận thấy, cả hai phương pháp: so sánh motif theo loại hình và so sánh motif thuần túy đều giống nhau ở mục đích nhằm tìm ra những điểm giống và khác của đối tượng theo những tiêu chí so sánh nhất định Tuy nhiên, hai phương pháp này cũng mang nhiều điểm khác biệt Nếu nghiên cứu motif theo so sánh thuần túy chỉ nhằm tìm ra những tương đồng và khác biệt của đối tượng thì so sánh loại hình lại không chỉ dừng lại ở đó, mà mục đích chính là lí giải nguồn gốc của những tương đồng và khác biệt ấy So sánh loại hình học vì vậy, chỉ
Trang 28được thực hiện trên những đối tượng “phát sinh từ một chủng hệ”2 như cùng cơ tầng văn hóa, cùng khu vực, cùng ngữ hệ, cùng tín ngưỡng,… nhưng trải qua một quá trình phát triển lâu dài đã mang nhiều nét khác nhau Chính yêu cầu lí giải nguồn gốc của
những tương đồng và khác biệt nên so sánh theo loại hình học làm cho việc nghiên
cứu đối tượng trở nên sâu sắc hơn, thấu đáo và thuyết phục hơn so với so sánh thông thường
Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ để cụ thể hóa phương pháp so sánh loại hình học trong nghiên cứu văn học dân gian bằng công trình “Dũng sĩ diệt đại bàng cứu người đẹp” trong một số truyện cổ Đông Nam Á” (1963) [26] của Cao Huy Đỉnh Trong
công trình này, tác gải đã miêu tả, hệ thống hóa những nét giống và khác của những
cốt truyện có chung đề tài “Dũng sĩ giệt đại bàng cứu người đẹp” ở các dân tộc Thái,
Cor, Cơtu, Giơrai, Êđê, Bana, Lào, Campuchia, Ấn Độ,… Sau khi tìm ra điểm giống
và khác nhau của những đề tài này, tác giả tiến hành lí giải nguyên nhân của sự giống nhau đó, thứ nhất là do có sự giống nhau của những điều kiện sinh hoạt nguyên thủy
về vật chất và tinh thần của dân tộc cùng thuộc chủng tộc Indonediêng và văn hóa Nam Á; thứ hai là do sự giao lưu văn hóa ở Đông Nam Á từ đầu công nguyên cho tới
thời Trung cổ Còn sự khác nhau thì do có những cơ sở lịch sử xã hội thuộc những thời đại khác nhau Cụ thể, sự khác nhau của kiểu truyện ở Tây Nguyên, Tây Bắc và kiểu truyện ở Ấn Độ, Campuchia, Lào theo ông là do sự khác nhau giữa một bên là “hình thái xã h ội còn đang là thị tộc mẫu hệ” và một bên là hình thái xã hội đã có “sự tập trung vào s ự tranh chấp ngôi báu và quyền thừa kế trong cung đình, vào sự xung đột
c ủa các quốc gia phong kiến” Còn kiểu truyện Thạch Sanh của người Việt thì tương
ứng với “xã hội phong kiến” Ông lưu ý đến một điều là kiểu truyện Thạch Sanh của người Việt gần gũi với kiểu truyện của các dân tộc miền núi, đặc biệt là Tây Nguyên,
hơn là với kiểu truyện của các nước Đông Nam Á khác Do đó, theo ông “có nên tính ngu ồn gốc Thạch Sanh ở một thời kì xa xưa hơn và ở ngay trên quê hương Việt Nam không?”; Và phải chăng, các chàng Rok ở Tây Nguyên hay là một tập thể hàng trăm
2
Dùng theo V.M.Girmunxki
Trang 29trai bản Thái nhất tề giương cung ngước lên trời nhắm bắn đại bàng để cứu cô gái Tóc Thơm là hình dáng nguyên thủy của Thạch Sanh
Như vậy, so sánh theo loại hình học là một bước cao hơn so với so sánh thuần túy Xác định được điều đó, người viết tự nhắc nhở mình phải luôn bám vào những nguyên tắc ấy nhằm thực hiện đúng tinh thần của phương pháp so sánh loại hình đối
với đề tài luận văn, để không bị sa vào so sánh thuần túy
1.2 Motif “bắt chước không thành công” trong truyện cổ tích
1.2.1 N guồn gốc và cấu tạo của motif
Motif b ắt chước không thành công không chỉ xuất hiện nhiều trong truyện cổ
tích các nước Đông Nam Á mà còn phổ biến trong truyện dân gian nhiều nước khác trên thế giới Xét về nguồn gốc, các nhà nghiên cứu folklore đã khẳng định đây là motif có từ lâu đời Nó vốn đã từng là một motif của thần thoại Trong thần thoại, motif này nhấn mạnh vào sự đối lập giữa hai loại nhân vật (thường là thần): thông minh, khéo léo và ngu dốt, vụng về Trong thần thoại Hy Lạp, nổi bật là sự đối lập giữa hai nhân vật Prométhée và Epiméthé Đối lập với việc miêu tả Prométhée như một vị thần tiên tri, sáng tạo (Pro = trước, méthée = nghĩ, Prométhée = nghĩ trước, người tiên đoán), một nhân vật sáng tạo văn hóa, ân nhân của loài người, là việc miêu
tả Epiméthée (Epi = sau, Epiméthée = nghĩ sau, người lơ đễnh, đãng trí, đần độn) như một vị thần vụng về, làm việc gì cũng hỏng, một vị thần chuyên mang lại tai họa cho loài người Nếu Prométhée luôn thông minh sáng suốt tạo ra loài người và trao cho loài người ngọn lửa thiêng liêng, thì vì vụng về nên thay vì muốn làm theo những việc
mà Prométhée đã làm thành công, Epiméthée lại làm hỏng những gì anh mình xây dựng nên Cũng giống như trong thần thoại Hy Lạp, tiêu biểu trong thần thoại của các nền văn hóa nguyên thủy ở Châu Đại Dương, Châu Phi, Châu Mỹ là các truyền thuyết về hai nhân vật To Kabinana và To Kacvuvu của người Mêlanêdiêng Hai nhân vật này được miêu tả là hai anh em sinh đôi, song với tư cách là thủy tổ của hai "phần nửa" bộ lạc, họ tham gia sự sáng tạo không giống nhau To Kabinana đóng vai trò chủ yếu, làm tất cả những điều tốt lành cho loài người, còn To Kacvuvu thì ngược lại, làm
Trang 30những điều nguy hiểm, tồi tệ, ngu ngốc Điều đáng chú ý ở đây là hành động của To
Kacvuvu phần lớn do bắt chước không khéo léo hoặc do vụng về hơn là do bản tính
của y
Motif này không chỉ phổ biến trong truyện cổ tích các nước Đông Nam Á, mà còn là motif có tần số xuất hiện không nhỏ trong truyện cổ các dân tộc trên thế giới như các truyện của Đức, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy Tuy cách kể có những điểm khác nhau, nhưng nhìn chung, giá trị và những thông điệp nhân sinh mà motif hướng đến quả thật có nhiều điểm gặp gỡ
Xét về cấu tạo, motif bắt chước không thành công thường được cấu tạo từ năm
yếu tố:
(1) Nhân vật được bắt chước đã làm (hoặc được trợ giúp) một việc thành công (2) Nhân vật được bắt chước được ban thưởng
(3) Nhân vật bắt chước đi tìm hiểu cách thức
(4) Nhân vật bắt chước tiến hành bắt chước
(5) Nhân vật bắt chước bắt chước không thành công (và bị trừng phạt)
Những yếu tố ấy kết nối với nhau để tạo thành motif bắt chước không thành công theo mô hình:
Nhân v ật được bắt chước làm một việc thành công → được ban thưởng → nhân
v ật bắt chước tìm hiểu cách thức → tiến hành bắt chước → thất bại
Motif bắt chước không thành công là một motif thể hiện kết quả trái ngược của những cách thức làm như nhau Tuy nội hàm như vậy, nhưng biểu hiện của
motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích lại khá phong phú Trong truyện cổ tích các nước Đông Nam Á, motif bắt chước không thành công là một motif
tiêu biểu nói về sự đối lập giữa cái thiện và cái ác Mặc dù cùng một cách thức làm như nhau, nhưng cái ác sẽ không bao giờ làm ra được kết quả như cái thiện mà nó mong muốn Motif này thường được tác giả dân gian lựa chọn sử dụng phổ biến trong các kiểu truyện cổ tích có chủ đề nói về xung đột trong gia đình: anh - em, chị - em, bố
vợ - con rể, dì ghẻ - con chồng; xung đột ngoài xã hội: người bị trị và kẻ thống trị, bạn
Trang 31bè, người tham lam độc ác và người lương thiện hiền lành Trong đó, kiểu truyện nói
về sự phân chia tài sản không công bằng và xung đột tranh chồng khá phổ biến ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác
Trong kiểu truyện phân chia tài sản không công bằng, nhân vật người anh vì
ghen ghét muốn trở nên giàu có như người em, đã bắt chước không thành công những điều người em đã từng làm một cách thành công Kiểu truyện xung đột giữa các chị
em phần lớn là xung đột giữa các cô chị và cô em út – thường là người con hiếu thảo
vì cha mẹ mà chấp nhận lấy những quái thú nhưng cuối cùng đã lấy được những người
chồng tài giỏi Các cô chị thấy vậy, vừa tiếc vừa muốn bắt chước em tìm những quái thú để lấy làm chồng nhưng không thành công Ngoài ra, motif bắt chước không thành công cũng thường có mặt trong dạng truyện nói về người thông minh và người ngốc nghếch Ở dạng truyện này, người bắt chước sở dĩ không thành công phần lớn là do
bản tính ngờ nghệch và thích làm theo người khác mà không suy tính kĩ càng chứ không hẳn là do tham lam, độc ác như các kiểu truyện trên
Motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích Đông Nam Á là một
motif quan trọng trong nền văn học dân gian khu vực, nó thực sự mang những đặc điểm riêng đáng được quan tâm, nghiên cứu Những ý nghĩa mà motif mang lại phù
hợp với tâm thức của nhân dân về một xã hội công bằng, tốt đẹp, phù hợp với những thưởng phạt công bình mà nhân dân ước ao có thể hiện hữu trong đời thực Chính vì
vậy, đây là motif được nhân dân lưu truyền và sử dụng phổ biến trong truyện cổ tích các nước Đông Nam Á
1.2.2 Tiêu chí xác định motif “bắt chước không thành công"
Xuất phát từ hiện tượng biến đổi của motif như đã nói ở trên nên nhiều khi để nhận diện sự tồn tại của một motif trong truyện cổ tích thật không dễ dàng Trải qua một quá trình lưu truyền lâu dài như vậy, motif có thể sẽ biến đổi một cách phức tạp
mà nếu không thực sự tỉnh táo thì khó có thể nhận ra Trong luận văn, để đảm bảo sự nhất quán và chính xác ở việc khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy cần phải đặt ra
những tiêu chí cụ thể để xác định motif bắt chước không thành công trong truyện cổ
tích
Trang 32Qua quá trình khảo sát, và ứng dụng lí thuyết về motif, tìm hiểu về cấu tạo của motif bắt chước không thành công, chúng tôi nhận thấy:
Ở dạng đầy đủ, motif bắt chước không thành công thường được cấu tạo từ 5
yếu tố như đã xác định ở trên
Ở dạng đơn giản nhất, motif bắt chước không thành công có ít nhất hai yếu tố:
(1) Nhân vật bắt chước tiến hành bắt chước
(2) Nhân vật bắt chước bắt chước không thành công
Căn cứ vào cấu tạo ấy của motif bắt chước không thành công và những lí thuyết
về motif, chúng tôi xác định được hai tiêu chí quan trọng dùng để xác định một truyện
cổ tích nào đó có chứa motif bắt chước không thành công trong truyện hay không, bao
gồm:
Tiêu chí thứ nhất: Có hành động "làm theo", "bắt chước"
Tiêu chí thứ hai: Sự “làm theo”, “bắt chước” đó không thành công
Để đưa ra hai tiêu chí này, chúng tôi đã có quá trình khảo sát và cân nhắc kĩ lưỡng Hai tiêu chí trên xuất hiện ở tất cả các truyện và giữ vai trò quan trọng trong
cấu tạo motif bắt chước không thành công, nên chúng tôi đã lựa chọn đưa vào tiêu chí
xác định motif Ngoài hai tiêu chí ấy, người viết thực sự phân vân việc nên hay không nên đưa tiêu chí nhân vật được bắt chước đã từng làm (hoặc được trợ giúp) một việc thành công vào tiêu chí xác định motif Sở dĩ có sự cân nhắc ấy là bởi vì, từ motif gốc
như đã nêu ở trên, thoạt nghĩ, chúng ta có thể hiểu trong motif bắt chước không thành công, điều kiện tiên quyết để nhân vật bắt chước tiến hành bắt chước phải dựa trên việc nhân vật được bắt chước đã từng làm một việc thành công Từ đó nhân vật bắt chước mới muốn làm theo để được kết quả tương tự (hoặc hơn thế) Tuy nhiên, thực tế
không hoàn toàn như vậy Bên cạnh những truyện nhân vật được bắt chước đã từng làm một việc thành công thì cũng có những nhân vật chưa từng làm việc đó (hoặc làm theo một cách thức khác) nhưng đánh lừa nhân vật bắt chước làm họ tin và muốn học cách thức để làm theo Nhận thấy số lượng truyện thuộc dạng thức này khá phổ biến trong truyện cổ tích Việt Nam và các nước Đông Nam Á, hơn nữa, dạng thức truyện này chứa đựng nhiều điều thú vị về nhân vật được bắt chước, nguyên nhân bắt chước không thành công Vậy nên, nếu đưa tiêu chí chỉ những truyện mà nhân vật được bắt
Trang 33chước đã từng làm thành công mới được lựa chọn để khảo sát thì sẽ bỏ qua mảng truyện thú vị này Không đặt nặng tiêu chí người được bắt chước đã từng làm hoặc
được trợ giúp làm một việc thành công vào tiêu chí xác định motif bắt chước không thành công sẽ mở rộng đối tượng khảo sát và mở ra nhiều điều thú vị Chính vì vậy,
chúng tôi quyết định không đưa tiêu chí “Nhân vật được bắt chước đã làm (hoặc được
tr ợ giúp) một việc thành công” vào tiêu chí xác đinh motif bắt chước không thành công trong truyện cổ tích
Những tiêu chí còn lại xuất hiện không thường xuyên trong truyện cổ tích chứa motif bắt chước không thành công, vai trò của nó trong cấu tạo motif cũng không quá
lớn, nên chúng tôi không đưa vào tiêu chí xác định motif Xuất phát từ những điều đó, chúng tôi quyết định chỉ chọn hai tiêu chí trên để làm tiêu chí xác định đối tượng khảo sát Hi vọng với hai tiêu chí này, luận văn sẽ tìm ra và chọn lọc được chính xác những
truyện cổ tích chứa motif bắt chước không thành công ở Việt Nam và các nước Đông
Nam Á khác nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, đồng thời tạo dựng nền tảng chuẩn xác để phát hiện ra những vấn đề khoa học ẩn lấp trong những câu chuyện cổ tích ấy, phù hợp với mục đích, nhiệm vụ mà luận văn đặt ra
1.3 Tiểu kết chương 1
Điểm qua những vấn đề lí luận và công trình ứng dụng lí thuyết về type, motif, phương pháp so sánh loại hình trong nghiên cứu văn học dân gian, người viết nhận
thấy đây là một xu hướng nghiên cứu văn học dân gian đầy hứa hẹn Cũng nhờ những
kiến thức nền ấy, chúng tôi xác định cho mình một cách thức nghiên cứu phù hợp với
mục đích nghiên cứu mà luận văn đặt ra Hi vọng rằng, những lí luận và phương pháp thu nhận được sẽ là công cụ đắc lực để luận văn đạt được những kết quả khoa học thỏa đáng nhất
Là một motif có nguồn gốc từ lâu đời, trong quá trình lưu truyền và phát triển, ý
nghĩa của motif bắt chước không thành công cũng có những thay đổi so với ý nghĩa
buổi ban sơ của nó3 Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ước vọng của nhân dân toàn
3 Lúc đầu, nguyên nhân bắt chước không thành công phần lớn do sự vụng về, ngu dốt của nhân vật bắt chước
ch ứ không phải vì tham lam, độc ác như những truyện về sau (xin xem mục 1.2.1.2.)
Trang 34khu vực về một cuộc sống công bình, về chiến thắng chung cục giữa cái thiện và cái ác
vẫn luôn được đề cao Chính vì vậy, motif bắt chước không thành công - như là một
biểu hiện của sự công bình trong cuộc sống, vẫn luôn được nhân dân yêu thích và có ý
thức lưu truyền, giữ gìn từ đời này sang đời khác
Với việc xác định được cấu tạo và tiêu chí nhận diện đối tượng nghiên cứu, chúng tôi hy vọng sẽ chọn lọc được số lượng truyện chính xác và hợp lí để phác thảo tương đối trung thực diện mạo của đối tượng mà luận văn hướng đến
Trang 35Chương 2 PHÂN LOẠI MOTIF “BẮT CHƯỚC KHÔNG THÀNH CÔNG” TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC
ĐÔNG NAM Á 2.1 K hảo sát tư liệu
Có thể thấy khảo sát và phân loại là những công việc đầu tiên và quan trọng trong nghiên cứu khoa học Để có được tư liệu đúng và giá trị thì việc đầu tiên của người nghiên cứu là phải xác định đúng tiêu chí chọn lọc tư liệu Chúng tôi căn cứ vào tiêu chí của motif bắt chước không thành công và đối tượng nghiên cứu mà luận văn
đã xác định ở trên, để cố gắng chọn lọc tư liệu một cách nghiêm túc và khoa học nhất
Những tác phẩm nào đáp ứng được những tiêu chí đã đưa ra (mục 1.2.2.) đồng thời thuộc đối tượng và phạm vi nghiên cứu (thuộc Đông Nam Á) sẽ được chúng tôi lựa
chọn, tổng hợp làm nguồn tư liệu nghiên cứu của đề tài
Cần phải nói thêm rằng, do phạm vi của đề tài khá rộng (trên phạm vi một khu
vực bao gồm 11 quốc gia lục địa và hải đảo) nên chúng tôi không thể trực tiếp thực
hiện phương pháp điền dã trong nghiên cứu Do đó, việc khảo sát tư liệu chủ yếu dựa vào văn bản Đối tượng khảo sát sẽ chỉ bó hẹp trong phạm vi các công trình đã được công bố, xuất bản thành sách hoặc phổ biến rộng rãi trên internet (đối với truyện các nước Đông Nam Á)
Dưới đây, là tình hình tư liệu của đề tài nghiên cứu, chúng tôi phân tách tư liệu thành hai nhóm: nhóm tư tiệu khảo sát truyện Việt Nam và nhóm tư liệu khảo sát truyện các nước khu vực Đông Nam Á
2.2.1 Khảo sát tư liệu truyện Việt Nam
Đối với nguồn truyện trong nước, xuất phát từ những thuận lợi thực tế, chúng tôi có một danh sách tư liệu tác phẩm khá dồi dào để tham khảo và tuyển lựa Đó là
những công trình được sưu tầm, những tuyển tập truyện cổ của các học giả, các tập thể tác giả đã dày công thu thập, chỉnh lí, biên soạn và xuất bản từ trước đến nay Những công trình này đã được đánh giá cao và đáng tin cậy Tuy nhiên, thuận lợi ấy cũng hàm
chứa những khó khăn riêng Chúng tôi gặp phải một vấn đề lớn khi tuyển chọn nguồn
Trang 36truyện trong nước là sự trùng lặp giữa các truyện tương đối nhiều Vậy nên, người viết
buộc mình phải lựa chọn kĩ lưỡng hơn nữa để có những truyện phù hợp nhất cho quá trình nghiên cứu Chúng tôi xin điểm qua một số công trình:
1 T ổng tập văn học dân gian Việt Nam, Tập II, quyển 1, 2: Truyện cổ tích (1999)
Tác gi ả: Nhiều tác giả
Nhà xu ất bản: Giáo dục
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu được phân thành 5 tập, 7 quyển bao gồm các thể
loại: Thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện trạng cười, truyện
ng ụ ngôn, tục ngữ, ca dao, dân ca Trong mỗi tập, ngoài việc cố gắng tuyển những tác
phẩm tiêu biểu nhất của văn học dân gian từng dân tộc, từng địa phương, người biên
soạn còn có ý thức hướng tới một cách sắp xếp, cách phân loại theo những tiêu chí
nhất quán của từng thể loại Riêng với tài liệu mà chúng tôi khảo sát (Tập II, quyển 1, 2), người biên soạn tổng tập 340 truyện của 41 dân tộc Việt Nam được sắp xếp theo
vần chữ cái A, B, C… của tên truyện và có chú thích dân tộc ở mỗi truyện Căn cứ vào
những tiêu chí xác định motif, chúng tôi tìm thấy được 30 truyện (chiếm 8.8 %) chứa
motif b ắt chước không thành công Cụ thể: quyển 1 có 16 truyện, quyển 2 có 14
truyện
2 Kho tàng truy ện cổ tích Việt Nam, tập I, tập II (2000)
Tác gi ả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà xu ất bản: Giáo dục
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, biên soạn, khảo dị,
nghiên cứu về 200 cốt truyện của người Kinh Công trình này do nhà xuất bản Văn, Sử Địa, Nhà xuất bản Sử học, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản từ năm 1958 đến năm 1985 Năm 1993 lần đầu tiên sách được in trọn 5 tập trong một năm do Viện Văn
học chịu trách nhiệm xuất bản Năm 2000, nhà xuất bản Giáo dục cho tái bản với số lượng lớn Chúng tôi cũng chọn bản này để khảo sát4 Tài liệu bao gồm 201 truyện cổ tích và phần nghiên cứu về truyện cổ tích của tác giả Sau mỗi truyện, tác giả lại dẫn ra
những dị bản cả trong nước và ngoài nước, vậy nên số lượng truyện rất phong phú và
4 Vì nó đầy đủ và thuận lợi nhất cho chúng tôi trong quá trình tìm kiếm, chọn lọc tư liệu
Trang 37phần nào có cái nhìn đối sánh giữa các truyện cùng type trong nước và quốc tế Đây là
một công trình có giá trị to lớn đối với nền văn học dân gian Việt Nam Căn cứ vào các tiêu chí xác định đối tượng khảo sát, chúng tôi lựa chọn được 28 truyện chứa motif
b ắt chước không thành công, trong đó, tập I chứa 9 truyện, tập II chứa 19 truyện,
chiếm 13.9% số lượng truyện
3 T ổng tập văn học dân gian người Việt, tập 6: Truyện cổ tích thần kì (2004)
Tác gi ả: Chủ biên của tập: Nguyễn Thị Huế Biên soạn: Nguyễn Thị Huế, Trần
Thị An
Nhà xu ất bản: Khoa học xã hội
Đặc điểm tư liệu: Đây là bộ sách gồm 19 tập do viện Khoa học xã hội Việt
Nam giữ bản quyền, nhà xuất bản Khoa học xã hội chủ trì phối hợp với viện nghiên
cứu văn học dân gian tổ chức biên soạn trong vòng 2 năm (2001 – 2002) Tuyển tập được tổng hợp từ 73 tài liệu biên soạn có chú thích cụ thể nguồn tài liệu và giới thuyết
cụ thể tiêu chí và phương pháp tuyển chọn Các truyện trong tuyển tập được sắp xếp theo thứ tự chữ cái của tên truyện Sau mỗi truyện lại có bổ sung một số bản kể khác cùng kiểu với truyện được kể, ngoài ra còn có chú thích xuất xứ của truyện ấy được trích ra từ tác phẩm nào Trong số 124 truyện của tập, chúng tôi tìm được 16 truyện và
38 khảo dị khác của truyện, chiếm 12.9% số lượng truyện (không kể khảo dị)
Cần phải nói thêm rằng, với tài liệu này, do sau mỗi truyện có chú thích rõ nguồn dẫn truyện nên người khảo sát có thể xác định được xuất xứ của truyện, nhờ
vậy, dễ dàng nhận ra sự trùng lặp, giao thoa giữa các công trình Vì vậy, việc khảo sát
và tuyển lựa truyện có phần thuận lợi hơn so với tài liệu khác
4 T ổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 15: Truy ện cổ tích thần kì (2008), tập 16: Truyện cổ tích thần kì, Truyền thuyết (2009)
Tác gi ả: chủ biên: Nguyễn Thị Yên Biên soạn: Nguyễn Thị Yên, Trần Thị An Nhà xu ất bản: Khoa học xã hội, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Đây là bộ sách do viện nghiên cứu văn hóa phối hợp với nhà
xuất bản khoa học xã hội biên soạn và xuất bản trong vòng 4 năm (2007 – 2010) bao
Trang 38gồm 23 tập Tài liệu được biên soạn theo hình thức song ngữ vừa tiếng Việt vừa tiếng các dân tộc theo xuất xứ của truyện được xếp theo từng dân tộc và theo A,B,C… tên dân tộc Dưới mỗi truyện có chú thích xuất xứ truyện và người kể chuyện Tập 15, 16 bao gồm 80 truyện có 6 truyện chứa motif bắt chước không thành công, trong đó tập
15 chứa 4 truyện, tập 16 chứa 2 truyện, chiếm 7.5% số lượng truyện
5 Truy ện cổ, truyện dân gian Phú Yên (2011)
Tác gi ả: Ngô Sao Kim
Nhà xu ất bản: Lao động
Đặc điểm tư liệu: Là một công trình văn hóa vùng được thực hiện theo phương
pháp điền dã Đây là một công trình được đánh giá cao, mang đậm tính chất văn học
dân gian địa phương Tác giả đã sưu tầm, phân loại, biên soạn, chọn lọc, giới thiệu 75 truyện cổ, truyện dân gian Phú Yên Sau mỗi truyện đều có chú thích người ghi và người kể lại câu chuyện, mỗi truyện đều có cách dẫn dắt và lí giải mang đậm tính chất vùng Chúng tôi tìm thấy 4 truyện chứa motif bắt chước không thành công chiếm 5.3
% số lượng truyện
6 Truy ện cổ các dân tộc Tây Nguyên (2011)
Tác gi ả: Nhiều tác giả
Nhà xu ất bản: Văn hóa dân tộc
Đặc điểm tư liệu: đây là một trong những công trình thuộc dự án “Công bố và
ph ổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam” của Hội văn học
dân gian Việt Nam Tư liệu được phân ra theo từng dân tộc và mỗi dân tộc có một
người sưu tầm riêng, bao gồm các dân tộc: Gia rai, Ê- Đê, M’Nông, BaNa - Kriêm
Tuyển tập bao gồm 71 truyện chúng tôi tìm được 5 truyện chứa motif bắt chước không thành công, chiếm 7.1% số lượng truyện của tuyển tập
7 Truy ện cổ các dân tộc phía Bắc Việt Nam (2012)
Tác gi ả: Nhiều tác giả
Nhà xu ất bản: Văn hóa dân tộc
Đặc điểm tư liệu: tư liệu là một trong những tác phẩm thuộc dự án “Công bố
và ph ổ biến tài sản văn hóa, văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam” của Hội văn
học dân gian Việt Nam như tài liệu số 6 Tư liệu được phân ra theo từng dân tộc và
Trang 39mỗi dân tộc có một người sưu tầm riêng, cụ thể: Truyện cổ Mông (Mùa A Túa – sưu
tầm, biên dịch), truyện cổ Pu Péo (Lê Trung Vũ - sưu tầm), truyện cổ Khơ Mú (Phan
Kiến Giang – sưu tầm), truyện cổ Mường, Thái, Tày, Mảng, cao Lan, Nùng, Hà Nhì (Tăng Kim Ngân – sưu tầm) Trong số 125 truyện của tư liệu chúng tôi tìm được 8 truyện chứa motif bắt chước không thành công, chiếm 6.4% số lượng truyện của tài
liệu
Cần phải nói rõ rằng, việc lựa chọn những tài liệu trên để làm tư liệu khảo sát trước hết là bởi đó là những tài liệu có giá trị và đáng tin cậy Riêng tài liệu số 5
(Truy ện cổ truyện dân gian Phú Yên (2011) của tác giả Ngô Sao Kim) chúng tôi lựa
chọn tài liệu này trong rất nhiều tài liệu văn học dân gian vùng miền hiện có ở nước ta
là một cách lựa chọn vừa ngẫu nhiên vừa hữu ý Sự hữu ý thể hiện ở: ngoài việc tài
liệu chứa đối tượng mà luận văn nghiên cứu và mang những giá trị khoa học như các nhà nghiên cứu đánh giá thì chúng tôi nhận thấy nó chưa xuất hiện trong danh mục tư
liệu dùng để tổng hợp của các tuyển tập lớn trên Những tuyển tập lớn thường có chú thích rõ nguồn dẫn truyện (như tài liệu số 3) nên người khảo sát có thể lựa chọn tài
liệu một cách hữu ý để tránh trừng lặp truyện giữa các tài liệu Tính ngẫu nhiên trong
việc lựa chọn tài liệu trên thể hiện ở việc, bên cạnh tài liệu này cũng có nhiều tài liệu
đáp ứng được những điều hữu ý trên như “Đặc khảo văn học dân gian vùng Thuận
Hóa”, “V ăn học dân gian tỉnh Thái Bình”… nhưng chúng tôi đã lựa chọn tài liệu này
một cách ngẫu nhiên chứ không vì một mục đích gì khác Nói rõ điều đó để thấy được
nếu thu thập kĩ lưỡng trong văn học dân gian từng tỉnh cụ thể sẽ còn có nhiều truyện
chứa motif bắt chước không thành công đặc sắc mang tính chất vùng văn hóa hơn nữa
chứ không chỉ dừng lại ở con số 100 truyện như luận văn khảo sát
Có thể bảng hóa danh mục những tư liệu khảo sát vừa nêu trên của luận văn trong bảng 2.1 sau:
Trang 40Bảng 2.1 Danh mục tư liệu khảo sát truyện Việt Nam của luận văn
Stt Tên tài li ệu T truy ổng số ện Truy ch ứa ện
motif
Truy ện được
ch ọn
1 Tổng tập văn học dân gian Việt Nam, Tập
II, quyển 1, 2: Truyện cổ tích (1999) 340 30 28
2 Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập I, tập
Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu
số Việt Nam, tập 15: truyện cổ tích thần kì
(2008), tập 16: truyện cổ tích thần kì, truyền
thuyết (2009)
5 Truyện cổ, truyện dân gian Phú Yên (2011) 75 4 4
6 Truyện cổ các dân tộc Tây Nguyên (2011) 71 5 3
7 Truyện cổ các dân tộc phía Bắc Việt Nam
Bảng thống kê trên, cho thấy:
Nguồn truyện ở Việt Nam mang tính tập trung dưới dạng tổng tập là chủ yếu;
motif b ắt chước không thành công chiếm một số lượng không nhỏ (100/ 1016) kể cả dị
bản, không kể trùng lặp) trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Không chỉ có số lượng lớn mà motif này còn được phân bố rộng khắp trên đất nước từ dân tộc kinh đến các dân tộc thiểu số khác, từ Bắc chí Nam Motif này không chỉ xuất hiện trong một truyện hay một kiểu truyện mà xuất hiện ở nhiều dị bản của cùng một kiểu truyện (tài
liệu số 3) Bên cạnh đó, motif bắt chước không thành công không chỉ phổ biến trong
5 Trong s ố 135 truyện chúng tôi loại bỏ những truyện trùng nhau và tuyển lựa được 100 truyện trong danh mục
kh ảo sát