Trong khi chờ đợi một công trình mang tính tổng kết như vậy, với sự nỗ lực của bản thân, người viết mạnh dạn chọn đề tài: “Thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn K
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Bảo Ngọc
TH ỜI - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI VÀ
NGUY ỄN KHẢI SAU 1975 – M ỘT CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Dương Thị Bảo Ngọc
TH ỜI - KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI VÀ
NGUY ỄN KHẢI SAU 1975 – M ỘT CÁI NHÌN ĐỐI SÁNH
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã s ố : 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Nguyễn Thành Thi
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Dương Thị Bảo Ngọc
Trang 4Luận văn này được hoàn thành nhờ có sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình, chu đáo
của PGS.TS Nguyễn Thành Thi Thầy đã cho tôi những ý kiến quý báu để hoàn thành luận văn này Nhân đây, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy Tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy khóa 24 chuyên ngành văn học Việt Nam, khoa Ngữ văn, trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh trong suốt thời gian qua với lòng biết ơn và sự kính trọng sâu sắc; chân thành
cảm ơn các thầy cô và cán bộ của Phòng Khoa học công nghệ và Sau Đại Học trường Đại học Sư phạm TPHCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học; cảm ơn các anh chị cán bộ của Thư viện trường Đại học Sư phạm TPHCM đã hỗ trợ tôi tận tình trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu để hoàn thành
tốt luận văn
Luận văn này giúp tôi có cơ hội bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, bởi thế chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các quý thầy cô giáo trong Hội đồng bảo vệ luận văn và toàn
thể các bạn để tôi có điều kiện học hỏi, mở mang kiến thức khoa học
Tp Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN C ỨU ĐỐI TƯỢNG 11
1.1 Nhìn chung về văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải 11
1.1.1 Tô Hoài và văn xuôi Tô Hoài 11
1.1.2 Nguyễn Khải và văn xuôi Nguyễn Khải 18
1.2 Giới thuyết chung về thời - không gian nghệ thuật trong sáng tác văn học nói chung, văn xuôi nghệ thuật nói riêng 25
1.3 Vấn đề thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải sau 1975 26
1.4 Một số khái niệm làm cơ sở lí luận cho quá trình nghiên cứu 31
1.4.1 Khái niệm “mô thức” 31
1.4.2 Khái niệm về thủ pháp nghệ thuật 32
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 MÔ THỨC VÀ CHỨC NĂNG THỜI - KHÔNG GIAN NGH Ệ THUẬT TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI, NGUYỄN KH ẢI SAU 1975 34
2.1 Đối sánh về Mô thức thời - không gian nghệ thuật 34
2.1.1 Thời - không gian lịch sử, sự kiện 34
2.1.2 Thời - không gian đời tư cá nhân 41
2.2 Đối sánh về chức năng thời - không gian nghệ thuật 68
2.2.1 Thời - không gian nghệ thuật gắn liền với việc thể hiện diễn biến tâm trạng của nhân vật 68
2.2.2 Thời - không gian nghệ thuật góp phần xây dựng hình tượng nhân vật 74
Trang 62.2.4 Thời - không gian nghệ thuật góp phần thể hiện khát vọng của nhà
văn trong việc xây dựng một thế giới văn chương “chân - thiện - mĩ”
hòa hợp với thế giới hiện thực đầy tính bản ngã 87
Tiểu kết chương 2 93
Chương 3 THỦ PHÁP KIẾN TẠO THỜI – KHÔNG GIAN NGHỆ THU ẬT TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI VÀ NGUYỄN KH ẢI SAU 1975 94
3.1 Đối lập thời - không gian nghệ thuật 94
3.2 Mở rộng, thu hẹp không gian nghệ thuật, tăng giảm nhịp điệu thời gian trần thuật 102
3.3 Đan cài, phân mảnh thời - không gian nghệ thuật 105
3.4 Hòa phối thời - không gian nghệ thuật 117
Tiểu kết chương 3 131
K ẾT LUẬN .132
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 135
PH Ụ LỤC
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài
1.1 Tô Hoài đến với nghề văn khá sớm và đã gặt hái thành công từ những năm trước Cách mạng tháng Tám Nhắc đến ông là nhắc đến “một nhà văn có nghề nghiệp vững vàng với một công phu rèn luyện dẻo dai, bền bỉ” Gần 70 năm cầm bút, tác phẩm của ông gắn bó chặt chẽ với những dấu mốc quan trọng trên những
chặng đường lịch sử đấu tranh, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc của dân tộc Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, Tô Hoài được vinh danh với nhiều giải
thưởng: Giải thưởng của Hội Nhà văn Á - Phi (năm 1970), Giải thưởng Hồ Chí Minh v ề Văn học - Nghệ thuật (đợt 1 - 1996)…
Nguyễn Khải là nhà văn có trí thông minh sắc sảo, năng lực quan sát tinh tế,
khả năng phân tích phê phán đáng ngưỡng mộ Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật
miệt mài, tận tuỵ Tác phẩm của ông thường phát hiện và đặt ra những vấn đề bức thiết của cuộc sống và cơ bản của thời đại, những con người giàu tình cảm và trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ông được trao tặng những
giải thưởng cao quý: Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (năm 1983) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt II (năm 2000)
1.2 Tô Hoài và Nguyễn Khải đều đã ghi được những dấu ấn riêng trong sáng
tạo nghệ thuật Tuy nhiên, trong quá trình học và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy giữa
họ có những điểm tương đồng lí thú Tô Hoài và Nguyễn Khải từ khi bước vào làng văn với những tác phẩm đầu tay cho đến nay đã được ghi nhận như một trong
những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Sự chuyển biến về quan niệm nghệ thuật hòa quyện với hiện thực đời sống là một xu thế chung đối với
một thế hệ nhà văn trưởng thành và bước ra từ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Tuy nhiên, nếu như ở ngòi bút của nhà văn khác, sự chuyển biến đó mang tính đột
xuất, đứt đoạn thì ở Tô Hoài và Nguyễn Khải trước sau vẫn giữ sự ổn định, nhất quán mà vẫn có nét riêng biệt Tô Hoài và Nguyễn Khải là những nhà văn có bút
lực sáng tác dồi dào, không ngừng nghỉ Tô Hoài được biết đến là nhà văn có sự nghiệp văn chương khá đồ sộ, Nguyễn Khải là nhà văn thuộc thế hệ sau, ông cũng
sở hữu một gia tài văn chương phong phú Hai ông đã thể nghiệm và gặt hái thành
Trang 8công trên nhiều thể loại, đề tài: Tiểu thuyết, truyện ngắn, tự truyện, ký, tạp văn, Đặc biệt là những sáng tác có yếu tố hồi ký, tự truyện, Tô Hoài và Nguyễn Khải là hai trong số ít nhà văn không chỉ nói về mình mà còn hướng ngòi bút đến thế giới văn chương, với nghề văn và những người bạn văn bằng sự trải nghiệm, chân thực
và chân thành
1.3 Việc nghiên cứu tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp là một trong những hướng tiếp cận hiện đại và có triển vọng Trong đó, thời - không gian nghệ thuật là
một trong những bình diện quan trọng của thi pháp học Trong quá trình tìm hiểu và
khảo sát các sáng tác của Tô Hoài và Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy cách thức tổ
chức, xây dựng thời - không gian nghệ thuật của hai nhà văn khá đặc sắc và đáng quan tâm Vì thế, việc nghiên cứu văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải từ góc độ thi pháp, cụ thể là thời - không gian nghệ thuật, tìm ra những điểm điểm tương đồng và
dị biệt, góp phần khám phá quan niệm và phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn là
một việc làm thiết thực
1.4 Nhìn chung, từ trước đến nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu về đặc điểm nghệ thuật tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Khải đã có bề dày Tuy nhiên, vẫn thiếu những nghiên cứu mang tính tổng
kết và chuyên biệt về bình diện thi pháp thời gian, không gian nghệ thuật của hai nhà văn, nhất là thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về thời - không gian nghệ thuật trong sáng tác của hai ông sau năm 1975 từ một cái nhìn đối sánh
Trong khi chờ đợi một công trình mang tính tổng kết như vậy, với sự nỗ lực
của bản thân, người viết mạnh dạn chọn đề tài: “Thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải sau 1975 – một cái nhìn đối sánh” để
thực hiện luận văn Cao học của mình Với đề tài này, người viết mong muốn sẽ có
một cái nhìn đối sánh bao quát, đa chiều về thời - không gian nghệ thuật trong tác
phẩm của hai ông đặt trong thế vận động, biến đổi không ngừng của tư duy nhà văn
cũng như lịch sử, của thời cuộc Thông qua đó mà hiểu hơn thế giới nghệ thuật của
hai nhà văn
Trang 92 L ịch sử vấn đề
Trong suốt cuộc đời cầm bút, Tô Hoài và Nguyễn Khải được biết đến với hình ảnh những nhà văn tài năng, thông minh sắc sảo, hiểu biết sâu rộng, nắm bắt và phân tích vấn đề gãy gọn, cách viết độc đáo Tác phẩm của hai ông như một khu vườn đầy màu sắc từ lâu đã cuốn hút mời gọi sự quan tâm chú ý của giới nghiên
cứu phê bình văn học và đông đảo bạn đọc, mỗi loài hoa, giống cây trong đó trở thành đề tài tranh luận của nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nhà nghiên cứu phê bình
có uy tín như Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Vũ Tú Nam, Hồ Phương, Đào Thủy Nguyên, Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử, Chu Nga, Vương Trí Nhàn, đồng thời là đề tài nghiên cứu của không ít Luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ ở các
Viện nghiên cứu, các Trường Đại học Nhìn chung, các công trình nghiên cứu thường đi theo những xu hướng sau: đó là những bài viết sắc sảo phân tích về các tác phẩm văn học cụ thể của các ông Với Tô Hoài, đó là: Vợ chồng A phủ, Dế mèn phưu lưu ký, Miền Tây, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Ba người khác, Còn với
Nguyễn Khải, các tác phẩm thường được giới nghiên cứu đề cập nhiều là: Xung đột, Mùa l ạc, Tầm nhìn xa, Trở về, Gặp gỡ cuối năm, Một người Hà Nội,… Ngoài ra,
nhiều người nghiên cứu tìm hiểu Nguyễn Khải dưới góc độ phong cách nhà văn, đặc điểm ngòi bút hiện thực hay với tư cách là tác gia một nền văn học hiện đại
Về phương diện phong cách văn xuôi, cả hai nhà văn đều tạo dựng cho mình
những dấu ấn sâu đậm trên văn đàn văn chương Việt Nam hiện đại
Tô Hoài được nhìn nhận như một trong những cây đại thụ của làng văn Việt Nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan là người đầu tiên nghiên cứu Tô Hoài và sáng tác của ông Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã đưa ra những phân
tích, đánh giá ban đầu rất xác đáng và có giá trị, ông nhấn mạnh Tô Hoài “là một nhà tiểu thuyết có con mắt quan sát sâu sắc”
Hà Minh Đức trong Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài khẳng định Tô Hoài là
“Một cây bút văn xuôi sắc sảo đa dạng”, tác phẩm của ông bao giờ cũng có “tiếng nói, cách nhìn, một phong cách riêng độc đáo” [60, tr.110]
Hiện thực đời sống trong sáng tác của Tô Hoài có những nét đặc sắc riêng không trộn lẫn Bởi thế các nhà nghiên cứu đã thống nhất phong vị làm nên cái
Trang 10riêng ấy, có thể lấy lời của Trần Hữu Tá làm lời nhận xét chung: “Tô Hoài có một nhãn quan phong tục đặc biệt nhạy bén và sắc sảo” [60, tr.143]
Nhân dịp giỗ đầu của Tô Hoài, vừa qua hội thảo Tô Hoài – Một đời văn được
tổ chức, đã có rất nhiều bài tham luận của văn nghệ sĩ, độc giả được gửi đến để cùng bàn bạc, suy ngẫm về tài năng, con người và văn nghiệp của ông, tiêu biểu như:
Phạm Xuân Nguyên đã phác họa hình ảnh của Tô Hoài: “Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại sống bằng văn, sống viết văn, với đủ các thể loại, trải nhiều đề tài Ông viết đều đặn, bền bỉ, viết như một lẽ sống, viết như là sống, không phải kiểu nhà văn tài tử, chỉ nương nhờ theo cảm hứng Văn Tô Hoài là văn về những cảnh đời lam lũ, những phận người vất vả, nhất là những người dân quê ven đô, nơi ông sinh ra và lớn lên” [107]
Nguyễn Thị Thanh Xuân nhận định: “Văn chương Tô Hoài sẽ còn mãi, xanh biếc theo thời gian Vì nó lưu giữ cho chúng ta đời sống Vì nó phả lại nhịp đập của lịch sử Vì nó nói lên câu chuyện muôn đời của kiếp nhân sinh Sẽ còn có ai sau Tô Hoài làm công việc ấy cho thời này của chúng ta hôm nay?” [108]
Từ góc độ của độc giả trẻ, Đặng Thị Thanh Hà nhìn nhận: “Lịch sử trong các trang viết của Tô Hoài, lịch sử đã được giải ảo, rất “khác”, và “mới” “Khác”, không phải là đi ngược với những gì ta đã được biết trong sử sách, mà là cụ thể, phong phú, sống động vượt xa những dòng chữ ngắn gọn, có khi sơ sài, trong sách
sử Người đọc có khi sẽ giật mình, kinh ngạc, lẫn phẫn nộ vì những khung cảnh thời xưa hiện ra từ tác phẩm Tô Hoài” [106]
Nguyễn Khải là nhà văn thuộc thế hệ kế tiếp của Tô Hoài, ông cũng được xem
là nhà văn lớn, là gương mặt tiêu biểu của nền văn chương hiện đại Việt Nam Hầu
hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất khi cho rằng Nguyễn Khải là “Ngòi bút hiện
thực tỉnh táo” và coi đó như một phong cách nghệ thuật riêng của ông Theo ý kiến
của Phan Cự Đệ trong Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm đã khẳng định: “Nguyễn
Khải là một cây bút trí tuệ”
Cuộc đối thoại giữa hai nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân và Trần Đình
Sử trong bài viết Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn đã đặt ra
Trang 11vấn đề vì sao tác phẩm Nguyễn Khải lại gây được sự chú ý? Và hai nhà nghiên cứu
đã luận bàn để đi đến kết luận: “Thành công của anh Khải là thành công trên một trong những hướng của văn xuôi bám sát cuộc sống đương thời, cuộc sống hôm nay, chăm chú tìm hiểu nó, khám phá nó, nhận thức nó với một thái độ nhìn nhận và
thể hiện khách quan Một thứ văn xuôi hướng về văn xuôi đích thực, khai thác hết
những lợi thế của văn xuôi Bởi vì tôi nghĩ về một mặt nào đó, chất văn xuôi và cái hôm nay, cái hằng ngày – đó là những cái rất tương đắc.”
Dù xuất phát ở những thời điểm khác nhau và nhìn nhận từ những góc độ đa chiều nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều có những đánh giá chung khái quát: Tô Hoài, Nguyễn Khải là những nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học
hiện đại Tác phẩm của các ông phản ánh một cách sâu sắc hiện thực lịch sử cũng như đời sống tinh thần của con người, của thời đại Các tác phẩm của hai ông không
chỉ bám sát những bước đi của đời sống hiện thực mà còn cả những trăn trở suy tư
của nhà văn trên con đường sáng tạo Và điều đáng ngưỡng mộ là văn chương của
Tô Hoài và Nguyễn Khải luôn mới mẻ, độc đáo, hấp dẫn bạn đọc bao thế hệ
Về phương diện thời - không gian nghệ thuật trong sáng tác nói chung và trong sáng tác của Tô Hoài và Nguyễn Khải nói riêng, nhìn chung là còn ít được bàn bạc, chỉ có vài ý kiến, bài viết bàn về vấn đề này nhằm phục vụ cho những công trình nghiên cứu mang tính khái quát Chúng tôi xin điểm qua một số ý kiến, nhận xét có liên quan
Xét phương diện thời - không gian nghệ thuật trong sáng tác nói chung, có
những nghiên cứu tiêu biểu sau:
Khái niệm “thời - không gian” mà Nguyễn Thành Thi ứng dụng nghiên cứu
tiểu thuyết “Những ngã tư và những cột đèn” của Trần Dần đăng trong kỷ yếu
Nh ững lằn ranh văn học đã được khái lược một cách cụ thể và thấu đáo như sau:
“Khi nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết, Bakhtin đã đề xuất thuật ngữ thời - không gian (chronotope) nhằm gọi tên “mối liên quan cơ bản” giữa thời gian và không gian tiểu thuyết, được “thể hiện một cách nghệ thuật trong văn học” Đồng thời, ông
nhấn mạnh: “điều quan trọng đối với chúng ta là thuật ngữ đó biểu thị tính liên kết
của không gian và thời gian” [101, tr.243]
Trang 12Vấn đề “không - thời gian” cũng được Hoàng Cẩm Giang khai thác khi đề cập đến “sự xóa nhòa những đường biên trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI” Nhà nghiên cứu này nhận định: “Việc tìm hiểu những biến đổi của phạm trù không
- thời gian trong bản thân các tiểu thuyết tiểu thuyết – “vùng nhạy cảm” của đời
sống văn học nói chung và đời sống loại thể nói riêng – sẽ hé mở nhiều vấn đề thú
vị về diện mạo và sự phát triển lịch sử tâm hồn, lịch sử sáng tạo của thế giới đương đại” [23, tr.108]
Xét về phương diện sáng tác Tô Hoài và Nguyễn Khải:
Với Tô Hoài, khi nghiên cứu về Cát bụi chân ai, tác giả Đặng Thị Hạnh đi
sâu tìm hiểu cấu trúc thời gian trong bài viết Viết về một cuộc đời và những cuộc đời (Cấu trúc thời gian và ngôn ngữ trong Cát bụi chân ai) và chỉ ra:
“Dòng hoài niệm trong Cát bụi chân ai chạy lan man, rối rắm như ba mươi
sáu phố phường, những phố hẹp của Hà Nội cổ đan xen nhau dày đặc, với những
rẽ ngoặt quanh co…, vương quốc của Tô Hoài, Nguyễn Tuân (người sáng tạo ra từ
“Phố Phái”) và bạn bè Thời gian hồi tưởng như ngẫu hứng, cũng chạy lông bông theo dòng hoài niệm, móc vào đâu đấy, dừng lại một lát rồi lại đi, vấp phải một câu nói, có khi chỉ là một từ, tên con tàu Chantilly chẳng hạn, chứ không hẳn phải
là một bóng chiều trên sóng hồ lăn tăn nhà Thủy Tạ, là đã có thể đổi chiều, đi
ngược về trước hoặc lùi về sau, có khi hàng chục năm […] Việc không còn tuân
thủ trình tự biên niên như hồi ký cổ điển khiến cho không gian và thời gian truyện
kể được đặt cao hơn không gian và thời gian các sự cố được kể” [60, tr 398].
Đoàn Trọng Huy khi nghiên cứu về ký của Tô Hoài đã nhận ra rằng: “Sau tự truyện là Cát bụi chân ai (1992) Đây là tập hồi ký đan xen vào nhau từng mảng
hồi ức và kỷ niệm gắn với đời văn, bạn văn… trong một không gian và thời gian
rộng mở” “Cách viết nhiều biến hóa với những liên tưởng mạnh mẽ tung hoành theo không gian và thời gian nhiều chiều” [71, tr.495]
Với Nguyễn Khải, Trong Thế giới nhân vật Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên c ứu phân tích của Đào Thủy Nguyên, bàn về vấn đề “con người trong thời
gian và lịch sử” trong tác phẩm của Nguyễn Khải, cụ thể là “Thời gian của người”, tác giả cho rằng: “Nguyễn Khải đã tìm cách lý giải sự tồn tại của con người trên
Trang 13nhiều chiều thời gian: thời gian quá khứ, thời gian hiện tại, thời gian tương lai Ông không xem thời gian như cái hành lang một chiều duy nhất… một đi không trở lại” [96, tr.153]
Cũng bàn về vấn đề triết luận về thời gian, con người và lịch sử, Huỳnh Như
Phương lý giải: “Thời gian của con người chính là một phần trong chiều dọc của
lịch sử,… Thời gian của người không phải là những giây, phút, giờ, ngày đứt đoạn
được xếp cạnh nhau mà là một cái gì đó luôn sinh thành và mỗi một con người, với trách nhiệm làm người, phải góp phần cho sự sinh thành đó” [96, tr.360]
Như vậy, vấn đề thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải đã được các nhà nghiên cứu chú ý đến và đề cập trong một số bài viết Tuy nhiên, đó mới chỉ là những ý kiến, nhận xét ban đầu, tập trung vào một số khía
cạnh nào đó trong phạm vi của một hay một số tác phẩm mà chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt Thiết nghĩ, đó chính là những “khoảng trống” để chúng tôi
có thể thực hiện được đề tài đã chọn Chúng tôi hi vọng đây cũng là một cách tiếp
cận mới về tác phẩm của nhà văn Tô Hoài và Nguyễn Khải và mong muốn bước đầu nghiên cứu những điều cơ bản, cố gắng đi sâu vào những điểm đáng chú ý về
đề tài hấp dẫn nhưng rộng mở này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là “Thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải sau 1975”
Tìm hiểu Thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn
một luận văn Cao học, chúng tôi giới hạn phạm vi tìm hiểu qua sáng tác của hai nhà
văn sau 1975 Nhìn chung, chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu và khảo sát một số lượng
lớn văn xuôi sau 1975 của hai nhà văn, chú trọng những tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này cũng như những vấn đề liên quan đến việc phân tích, so sánh thế giới nghệ thuật trong sáng tác của hai nhà văn nói chung, bình diện thời - không gian nghệ thuật nói riêng
Trang 144 M ục đích nghiên cứu
Mục đích mà chúng tôi hướng tới là đi sâu tìm hiểu một bình diện thi pháp quan trọng trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải thời kì sau 1975 Tiếp cận từ góc độ thời - không gian nghệ thuật cũng là một trong những phương thức nhằm khám phá đặc điểm cơ bản phong cách nghệ thuật của nhà văn Sự tác động qua lại
giữa hiện thực cuộc sống và quan niệm nhà văn đã ảnh hưởng trực tiếp đến cách xây dựng, tổ chức thời - không gian nghệ thuật, tạc khắc nên một thế giới nghệ thuật đa sắc màu Từ đó, giúp việc nghiên cứu cũng như thưởng thức tác phẩm được đầy đủ, toàn diện hơn cũng như thấy được những đóng góp lớn lao của hai nhà văn tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở ứng dụng thành tựu lý luận thi pháp học và tự sự học, luận văn sử
dụng, phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống: Xem xét các sáng tác văn xuôi của hai nhà văn Tô Hoài và Nguyễn Khải trong cái nhìn hệ thống dựa trên cơ sở lý thuyết thể loại và thi pháp học nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan, đầy đủ về đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp loại hình: phân loại, khu biệt các tác phẩm trong phạm vi nghiên cứu của hệ thống sáng tác văn xuôi của Tô Hoài và Nguyễn Khải để tiến hành khảo sát theo loại hình/ nhóm loại hình
- Phương pháp so sánh: tiến hành so sánh hai nhà văn thông qua vấn đề nghiên
cứu “thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi sau 1975” để thấy được điểm tương đồng, dị biệt giữa họ nhằm tìm ra đặc trưng nổi bật thể hiện trong vấn đề nghiên cứu ở mỗi tác giả
- Phương pháp liên ngành: trong quá trình nghiên cứu, cần liên hệ, phối hợp
chặt chẽ với các ngành khoa học liên quan như sử học, văn hóa học, xã hội học, chính trị học, nhằm tìm hiểu, nắm bắt đối tượng nghiên cứu trên nhiều mặt, từ đó
có cái nhìn đa chiều, sâu sắc, toàn diện
Bên cạnh nghiên cứu định tính, luận văn cũng thực hiện một số nghiên cứu định lượng với các thao tác khảo sát, thống kê,
Trang 156 Đóng góp của Luận văn
Trong khuôn khổ của một luận văn Cao học, chúng tôi mong muốn được đóng góp những khía cạnh:
- Xác định các đặc điểm, mô thức thời - không gian nghệ thuật trong sáng tác văn xuôi sau 1975 của Tô Hoài và Nguyễn Khải
- Chỉ ra những điểm tương đồng và dị biệt trong cách xử lý, kiến tạo thời - không gian trong tác phẩm của hai ông, từ đó hiểu rõ hơn những sáng tạo độc đáo,
những nét mới trong nghệ thuật xây dựng, tổ chức thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi của mỗi người
7 C ấu trúc của Luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai trong
Chương 2: Mô thức và chức năng thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài, Nguy ễn Khải sau 1975
Từ cái nhìn đối sánh, chương 2 tập trung vào các vấn đề quan trọng của thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi của Tô Hoài, Nguyễn Khải: mô thức và chức năng, phân loại tác phẩm theo thể loại, loại hình và giai đoạn, tìm ra điểm tương đồng và dị biệt trong cách tổ chức, xây dựng thời - không gian nghệ thuật cũng như
ý nghĩa, giá trị biểu hiện mà đối tượng nghiên cứu mang lại ở mỗi tác giả
Chương 3: Thủ pháp kiến tạo thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi
Tô Hoài và Nguy ễn Khải sau 1975
Chương 3 tập trung tìm hiểu, đối sánh nghệ thuật kiến tạo thời - không gian nghệ thuật của Tô Hoài và Nguyễn Khải dựa trên những phương thức chủ đạo như:
Trang 16đối lập, mở rộng, thu hẹp; hòa phối,… nhằm tìm ra điểm tương đồng, dị biệt cũng như nét sáng tạo riêng ở mỗi tác giả
Trang 17Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG
1.1 Nhìn chung v ề văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn Khải
1.1.1 Tô Hoài và văn xuôi Tô Hoài
1.1.1.1 Nhà văn Tô Hoài
Xuất thân trong một gia đình thợ thủ công nghèo Tô Hoài chỉ được học hết
bậc tiểu học, cũng như mọi thanh niên trai làng khác, Tô Hoài sớm trở thành anh
thợ cửi, sau đó phải kiếm sống bằng nhiều nghề: bán hàng, kế toán, coi kho cho
hiệu buôn giầy, dạy học và nhiều lúc phải trải qua những ngày thất nghiệp tủi
nhục không một đồng xu dính túi
Tô Hoài đến với nghề văn hết sức tự nhiên và bắt đầu bằng một số bài thơ lãng mạn Sau đó ông sớm nhận ra đây không phải là sở trường của mình và nhanh chóng chuyển sang “cánh đồng” văn xuôi Ở đây ông đã thể hiện hết bút lực, tài hoa của mình và gặt hái được nhiều thành công
Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị Ông từng tâm sự: “Tôi lớn lên
giữa những buồn vui, những gian truân trong vòng mọi tập tục, thói quen của
lớp tuổi tôi trong làng Lúc đó, đương thời kỳ Mặt trận bình dân Lý tưởng cộng
sản như giấc mơ đẹp đến với những người thanh niên cùng lứa, cùng cảnh như tôi” [31, t r 271]
Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, Tô Hoài tham gia phong trào Ái hữu thợ dệt
ở Hà Đông và thanh niên dân chủ ở Hà Nội Năm 1943, ông tham gia Hội Văn hóa
cứu quốc, sau Cách mạng tháng Tám 1945, Tô Hoài làm báo Cứu quốc Kháng chiến toàn quốc, ông lên Việt Bắc tiếp tục làm báo, sau đó công tác tại Hội văn nghệ Việt Nam Nhưng ông vẫn thường có những chuyến đi như tham gia chiến
dịch Biên giới, theo bộ đội chủ lực giải phóng Tây Bắc Năm 1957, trong đại hội
Trang 18thành lập Hội nhà văn Việt Nam ông được bầu làm Tổng thư kí của Hội Năm 1958 – 1980, ông liên tục tham gia Ban chấp hành Hội Năm 1968 – 1996, ông giữ chức
Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội Tô Hoài còn tham gia nhiều công tác xã hội khác, đại biểu Quốc hội, Phó chủ tịch ủy ban đoàn kết Á - Phi, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Ấn, ủy viên Ban chấp hành Hội nghị Việt Xô Năm 1996, Tô Hoài được
tặng giải thưởng Hồ Chí Minh Phần thưởng cao quý này đã khẳng định một tài
năng, một sức sáng tạo dồi dào phong phú, mang bản sắc dân tộc đậm đà, phong cách riêng rõ nét của Tô Hoài
Có thể thấy rằng, Tô Hoài là một trong những nhà văn có thành tựu và đóng góp to lớn cho quá trình trưởng thành và phát triển của nền văn học Việt Nam hiện đại
- Quan ni ệm về nhà văn và nghề văn
Tô Hoài quan niệm người viết văn cần phải lao động nghệ thuật nghiêm túc
Vì thế, ông thường gây ấn tượng cho người khác về phong cách lao động nghệ thu ật: “rất nhanh và chính xác” (Đoàn Minh Tuấn) Từ khi mới cầm bút, Tô Hoài
đã nhận thấy: “Chưa bao giờ tôi bắt chước viết theo truyện của Khái Hưng,
Nhất Linh Mặc dù tôi cũng thích đọc những truyện ấy Bởi lẽ giản dị: Viết truyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viết giống cái thật thì đời và người trong truyện của mấy ông nhà giàu con quan và có đồn điền như thế, tôi không biết những kiểu người ấy, không bắt chước được” [31, tr.285] Mỗi người có một sở trường riêng, Tô Hoài đã sớm nhận ra cái “tạng” riêng
của mình, điều này được ông bộc bạch rất rõ: “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả trong những sáng tác của tôi Ý nghĩ
tự nhiên của tôi bấy giờ là viết những sự xảy ra trong nhà, trong làng quanh mình” [31, t r 236] Nó là cội nguồn, là hơi thở, nó thuộc về bản năng ăn sâu vào máu thịt, tâm hồn ông Chính cảm quan nghệ thuật tinh nhạy, rõ ràng đã tạo tiền đề cho ngòi bút Tô Hoài được thỏa sức sáng tạo và gặt hái nhiều thành quả
Ông cũng là người chịu khó học hỏi, trau dồi bản thân bằng phương pháp tự
học, thể hiện ở thói quen đọc nhiều, đọc đủ thứ với một suy nghĩ: “Ai viết thế nào,
mà mình đọc mình cũng có thể tìm và nó cho mình một ý, một nhận xét gì đó” [60,
Trang 19tr.565] Bên cạnh đó, ông cũng rất chú trọng việc học, tiếp thu kinh nghiệm, kiến
thức từ đời sống thực tiễn Chính nhờ những chuyến đi thực tế, những hoạt động tích cực trong công việc viết báo Không những thế, Tô Hoài còn tham gia rất nhiều công việc chính quyền, đoàn thể Nhờ thế, Tô Hoài đã phát huy tối đa khả năng quan sát tỉ mỉ, tinh tế, tỏ ra thông minh và thấu đáo vô cùng về đời sống của nhân dân, tạo dựng nên những nhân vật sống động, chân thực khi đi vào tác phẩm
Là một nhà văn, một người sống trong thế giới văn chương nên ông hiểu rất rõ
về đời sống, phẩm chất của những người viết văn, đặc biệt là những người bạn văn, đồng nghiệp của mình Ở họ trước hết cũng là người như bao nhiêu người bình
thường khác Họ cũng có đầy đủ mọi vẻ đẹp cao quý và không ít những điều bình thường, thậm chí cũng tầm thường nữa Không tô điểm, không cần cường điệu, mà ông cứ đem sự thật ra để kể: “Chúng tôi cũng có đủ thói hư tật xấu của
kiểu người như chúng tôi trong xã hội, những ích kỉ ganh ghét nhỏ nhen” (Những gương mặt) Tất nhiên, Tô Hoài không chỉ nhìn thấy ở họ một con người bình
thường mà ông còn thấy ở họ những tâm hồn nghệ sĩ, mỗi người một vẻ, có tài năng khác nhau Tô Hoài vốn rất coi trọng tài năng nghệ sĩ song ông không cho rằng đó
là siêu phàm bởi vì theo ông trong bất cứ nghề nào thì cũng có những người tài
giỏi, chứ không cứ gì nghề viết
Đối với Tô Hoài, ông đến với nghề văn cũng rất đơn giản, thực tế Trong Tự truy ện Tô Hoài từng kể: “Bây giờ khi tôi quyết định lấy nghề viết nuôi thân tôi
không nghĩ là tình cờ, nhưng thật tôi cũng không có mục đích gì, đặt ra trước để
rồi thành nghề văn và viết văn.” [31, tr.234 - 235] Chọn nghề viết văn để kiếm
sống, mục đích thật dễ hiểu và cũng rất chân chính Khi bước vào làm nghề, ông
sớm nhận ra rằng: Được nhận tiền nhuận bút từ những tác phẩm đầu tiên khiến Tô Hoài rất phấn khởi song ông cũng nhận ra nghề viết văn đòi hỏi phải có ý chí và công phu rèn luyện Thế nên ở thời kỳ nào Tô Hoài cũng viết nhiều, viết khỏe, viết hay Sức sáng tạo của Tô Hoài thực sự mạnh mẽ, dài hơi, kiên nhẫn, đều đặn Ông
từng chia sẻ kinh nghiệm viết văn của mình: “Tôi không đợi có hứng mới viết, bởi
viết là một công việc mệt nhọc đầu óc, và khi có hứng khác khi cầm bút, đó là hai quy trình khác nhau Ngồi làm việc, tôi làm việc có giờ giấc và đầu đuôi rõ ràng.”
Trang 20[60, tr.564] Hơn bao giờ hết, Tô Hoài hiểu được để cho ra đời những sản
phẩm có giá trị, người cầm bút phải: “Rèn luyện đem đến kết quả, đó là công lao của kiên trì, cố gắng, chịu mày mò, nghe ngóng, tìm kiếm, thu thập, tích
trữ mọi mặt vốn liếng, tư tưởng, văn hoá, nhiệm vụ” [29, tr.23]
Xuất phát từ quan niệm đúng đắn, nghiêm túc về nhà văn và nghề viết văn, Tô Hoài đã gặt hái được nhiều thành công trong suốt hành trình hoạt động văn học nghệ thuật Bằng kinh nghiệm cũng như sự trân trọng tài năng ở người cầm bút, Tô Hoài đã chân thành gửi đến thế hệ viết văn trẻ những lời khuyên chân thành: “Một người viết cần một kế hoạch cả đời, vừa chiến lược vừa cụ thể đến từng việc Nếu không chúng ta dễ trễ tràng lắm Bởi phút mơ màng thì chỉ có trong suy nghĩ, còn cái vượt được hay không thì ở lại ngòi bút.” [60, tr.566]
1.1.1.2 Văn xuôi Tô Hoài
- S ự nghiệp văn chương
Ngay từ chặng đường sáng tác đầu tiên, Tô Hoài đã thể hiện mình là một cây bút sung sức, cho ra đời một khối lượng lớn tác phẩm, tạo được giọng điệu riêng,
chất văn riêng Đến với văn chương một cách tự nhiên như là duyên phận Ông được Trần Đình Nam nhận xét là “một nhà văn xuôi bẩm sinh” Có thể nói, Tô Hoài có một cảm quan nghệ thuật tinh nhạy và đặc biệt vô cùng Những đề tài
mà ông lựa chọn, thế giới nghệ thuật ông tạo dựng nên vì thế cũng có phần đặc
sắc hơn nhiều nhà văn khác Cụ thể là thế giới loài vật, ông đã cho ra đời một
loạt tác phẩm về loài vật: chuột, chim, dế, cá,…đóng góp không nhỏ vào mảng
văn học dành cho thiếu nhi Có thể nói, chú dế mèn trong Dế mèn phiêu lưu kí
(1941) đã đi vào kí ức tuổi thơ của không biết bao độc giả, trở thành một trong
những tác phẩm Việt Nam phổ biến nhất không chỉ ở trong nước mà cả thế giới
Sau D ế mèn phiêu lưu kí, Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng truyện ngắn khi miêu
tả thế giới loài vật, trong tập truyện O chuột (gồm 8 truyện) (1942) Mỗi con vật trong
thế giới loài vật của Tô Hoài đều có những “số phận” khác nhau: chúng đều trải qua những vất vả, mệt nhọc, gặp những khổ đau, bất hạnh, trải qua sinh li tử biệt,
hỉ nộ ái ố của cuộc đời, hé mở thế giới loại vật phong phú chủng loại và sâu sắc trong tình cảm, khơi gợi những ấn tượng trong trẻo, những đồng cảm, sẽ chia đầy
Trang 21tính nhân văn nơi độc giả
Bên cạnh đó, ông cũng dành sự quan tâm đến cuộc sống của những con người ở vùng quê nghèo ven thành, làng Nghĩa Đô và các khu vực lân cận là
ngọn nguồn cảm hứng giúp ông viết nên các tác phẩm trong giai đoạn này: Nhà nghèo (1942); Giăng thề (1941); Quê người (1942), Xóm Giếng ngày xưa (1944),
C ỏ dại (1944)… Người đọc làm sao quên được hình ảnh những anh thợ cửi,
những chị thợ tơ suốt một đời gắn bó với từng bước thăng trầm của làng nghề truyền thống
Sau Cách mạng tháng Tám, mảng tác phẩm viết về miền núi được Tô Hoài chú trọng và gặt hái nhiều thành công đáng kể Sáng tác về đề tài miền núi của
Tô Hoài có thể chia làm hai loại: loại thứ nhất viết về hai cuộc cách mạng là cách
mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa như tập Truyện Tây Bắc (Truy ện Tây Bắc gồm 3 tác phẩm: truyện Mường Giơn và hai truyện ngắn
C ứu đất cứu mường, Vợ chồng A phủ.) tiểu thuyết Miền Tây…loại thứ hai viết về người thật, việc thật Từ Vừ A Dính, Kim Đồng đến Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Lên Sùng Đô…Sở dĩ Tô Hoài đạt được nhiều thành công khi viết về đề tài này bởi
ông có điều kiện thâm nhập vào cuộc sống thực tế của đồng bào các dân tộc miền Núi, với một cảm quan nghệ thuật tinh nhạy và đầy sự cảm thông, chia sẻ Ông quan sát và am hiểu một cách nhanh chóng, sâu sắc phong tục, phong cách sinh
hoạt của các dân tộc nơi đây
Tô Hoài là người Hà Nội Từ những ngày đầu cầm bút cho đến khi bóng cả,
Hà Nội vẫn là nguồn đề tài chủ yếu trong sáng tác của ông Bộ ba tiểu thuyết
Quê người (1941), Mười năm (1958) và Quê nhà (1980) tạo sự nhất quán về tiến
trình lịch sử Hà Nội qua hơn 50 năm từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1945 Hay
những tác phẩm hồi ký, tự truyện như Cát bụi chân ai (1992) Chiều chiều
(1999)… đã phác họa nên một Hà Nội sống động mà chân thực qua tâm thức của
một người Hà Nội như Tô Hoài
Tóm lại, sự nghiệp sáng tác cùng khối văn chương đồ sộ của Tô Hoài đã đóng góp không nhỏ vào quá trình phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam Tác
phẩm của ông tạo dựng những thế giới nghệ thuật đa màu sắc, sống động nhưng
Trang 22cũng rất gần gũi Hiện thực dù phũ phàng nhưng vẫn ánh lên sự ấm áp của tình thương, của chất nhân văn nơi con người, cuộc đời
- Quan ni ệm nghệ thuật về thế giới hiện thực và con người trong sáng tác văn xuôi
Nói về Tô Hoài, Vương Trí Nhàn đã định nghĩa về con người ông một cách
đơn giản như sau: Người sùng bái sự không thiêng liêng của cuộc đời Thế nên thế
giới hiện thực trong sáng tác của Tô Hoài lúc nào cũng mang màu sắc tự nhiên, chân thật Vì sự thật, ông viết về bất kì vùng đất nào, con người nào cũng đều được soi chiếu bằng cái nhìn hiện thực, hiện thực xảy ra xung quanh ông, hiện thực của ngày hôm qua được thức tỉnh bằng nhận thức và quan niệm tươi rói của ngày hôm nay
Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của mình, ông đã đi nhiều và viết nhiều, nhưng như ông tự nhận thì ông chỉ tập trung vào vấn đề và con người ở vùng ngoại
ô ven thành và ở miền núi Vì lí do rất thực tế, vùng ngoại thành là sinh quán của ông, còn Việt Bắc, Tây Bắc là nơi ông gắn bó ngót mười năm trong kháng chiến chống Pháp Nhưng nét riêng nơi ông là ông viết về những vùng đất, những “quê hương đề tài” của mình dưới cảm quan hiện thực đời thường, đó là những cảnh sinh hoạt, những tập tục của từng vùng quê, gia đình, con người Dù cuộc sống muôn vàn khó khăn, bức tranh xã hội đương thời chứa đựng đầy rẫy những bất
công, nghịch lí, ông vẫn ít tập trung vào những mâu thuẫn xã hội mang tính đối kháng quyết liệt Sau Cách mạng, thế giới hiện thực trong tác phẩm của ông có sự
biến chuyển, dần hình thành nên những mảng sáng tối của đời sống con người, tiếng nói của lí tưởng cách mạng, của Đảng, của giai cấp được cất lên Tuy viết về cách mạng, kháng chiến song giọng điệu, ngôn ngữ của Tô Hoài cũng không tạo cảm giác gay cấn, khốc liệt Dường như “chất đời thường” đã ngấm vào máu thịt, ở giai đoạn sau, thế giới hiện thực trong sáng tác của ông được nhìn nhận ở nhiều góc
độ, mang hơi thở của cuộc sống hiện tại nhưng vẫn hiện diện qua lăng kính cảm quan đời thường với những kỉ niệm buồn vui
Tô Hoài quan niệm về con người rất giản dị, đó là con người như nó vốn có trong đời thường, con người với ý nghĩa đích thực, chứa đựng cái tốt lẫn cái xấu,
Trang 23cái cao cả và cái tầm thường, cho nên nhân vật của ông nói chung là những con người bình thường như ta vẫn gặp trong đời sống Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng
Mạnh nhận định: “Tô Hoài là nhà văn của người thường, của chuyện thường, của đời thường” [70, tr.252]
Thiết nghĩ, con người trong sáng tác của Tô Hoài được khám phá và miêu tả
chủ yếu nghiêng về phía tự nhiên Trước Cách mạng, con người trong sáng tác của ông in đậm một nguyên bản của người nông dân Việt Nam từ thuở xa xưa, rất đỗi
mộc mạc, thuần phác Họ đón nhận niềm vui nỗi buồn thuận theo đời sống, không
có những lo âu, trăn trở sâu sắc, lớn lao Ở đó, những con người bình dị, nhỏ bé,
chất phác lúc khổ đau, khi vui sướng họ ít nghĩ đến bản thân mà muốn dành tất
cả cho những người thân yêu ruột thịt Sau Cách mạng, trong những năm kháng chiến chống Pháp, nhân vật ông tập trung hướng tới là nhân dân các dân tộc miền núi Nhân vật của ông ở mảng đề tài này cũng không mạnh về cá tính Từ lối sống đến suy nghĩ, tình cảm và hành động đều mang tính đời thường, giản dị, hồn nhiên
Sống trong không khí cách mạng, được ánh sáng cách mạng soi chiếu, những con người nơi bản làng mộc mạc đã đổi thay, họ sống có niềm tin, biết thoát ra khỏi vòng kiểm tỏa của xiềng xích nô lệ để hướng đến cuộc đời tự do, hạnh phúc Sau
1975, Tô Hoài đã tạo được bước đột phá trong mảng tác phẩm hồi kí, tự truyện Chính bản thân ông và những nhà văn, đồng nghiệp của ông hiện diện sinh động trong nhiều tác phẩm
Tuy nhiên, đây cũng không phải là kiểu nhân vật gai góc, phức tạp, cái hay là
lại gây ấn tượng mạnh với người đọc Có lẽ là những nhân vật này quá đỗi chân
thực, và không ai có thể biết nhiều, hiểu nhiều và viết nhiều như Tô Hoài về những gương mặt tiêu biểu của giới văn chương nghệ thuật như ông Và cũng chẳng ai thoải mái để họ từ cuộc đời bước vào trang văn rồi từ đó bước ra cuộc đời bằng hai cánh cửa không thể phân biệt đâu là cửa chính, đâu là cửa phụ, vì cửa nào cũng
rộng rãi, thênh thang, hòa lẫn cùng cuộc đời muôn màu muôn vẻ như chính bản thân nó Có lẽ, điều Tô Hoài muốn gửi gắm chính là con người cần sống là chính mình, hạnh phúc khi được là mình, sống giản dị, tự nhiên dù trong bất kì hoàn cảnh nào, dù chảy trôi hay lên thác xuống ghềnh trong dòng đời vô tận
Trang 241.1.2 Nguy ễn Khải và văn xuôi Nguyễn Khải
1.1.2.1 Nhà văn Nguyễn Khải
- Ti ểu sử tác giả
Nguyễn Khải tên khai sinh là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 – 12 – 1930 tại
Hà Nội Quê cha ở phố Hàng Nâu (Nam Định), quê mẹ ở xã Hiến Lê (Hưng Yên) Nguyễn Khải là con vợ lẽ, tuổi thơ chịu nhiều đắng cay, tủi hổ vì thân phận bị
“khinh miệt, rẻ rúng”
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, năm 1950 ông vào quân ngũ Chỉ sau một thời gian làm y tá, cuộc đời quân ngũ của ông gắn bó với công việc viết báo, viết văn Năm 1951, bước ngoặt quan trọng đối với nhà văn là khi ông được cử
đi học một lớp nghiên cứu văn nghệ ngắn hạn do hai chi hội Văn nghệ Liên khu 3
và 4 tổ chức Năm 1955, Ông về Tạp chí Văn nghệ quân đội Nhiều năm ông tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, từng được bầu là đại biểu Quốc hội khóa VIII Nguyễn Khải thuộc thế hệ những nhà văn trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ
Cách mạng tháng Tám thành công mang đến cho nhân dân Việt Nam một
cuộc đời mới và Nguyễn Khải cũng không phải ngoại lệ, ông tìm được niềm
hạnh phúc lớn lao khi chọn con đường tham gia cách mạng, chọn con đường viết văn để khẳng định bản thân, thoát khỏi thân phận hèn mọn trong quá khứ Ông đến với cách mạng bằng tất cả sự hồ hởi, tin tưởng và lạc quan Trở thành một người lính, rồi một người cầm bút gắn bó cuộc đời mình với sự nghiệp của dân tộc,
của Đảng, ngay trong chặng đường sáng tác đầu tiên, Nguyễn Khải đã không ngừng bám sát cuộc sống, bám sát dòng chảy của cách mạng Tác phẩm của ông sớm được độc giả đón nhận, còn giới phê bình văn học đánh giá khá cao, điều này đã giúp ông nhanh chóng khẳng định được vị trí trên văn đàn
Năm 1975, đất nước thống nhất, ông cùng gia đình chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống Hiện thực miền Nam sau giải phóng mang trong mình diện
mạo cùng sự thay đổi lớn lao của một xã hội từ tư bản sang xã hội chủ nghĩa Đây là
cơ hội quý báu để ông có điều kiện quan sát, suy ngẫm nhiều hơn về vận mệnh của con người và đất nước trước sự vận động biến đổi không ngừng của đời sống
Trang 25- Quan ni ệm về nhà văn và nghề văn
Với tư cách là một nhà văn – chiến sĩ, ông rất có ý thức dùng ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc và góp phần xây dựng cuộc sống mới Điều đó trước hết thể hiện ở việc ông luôn chịu khó đi
sắc của xã hội, những biểu hiện thầm kín, tinh vi trong nhận thức, trong tư tưởng con người thời đại và trở thành một trong những ngòi bút giàu tính chiến đấu của
Văn xuôi của Nguyễn Khải trước thời kỳ đổi mới thường đi sâu khai thác hai
mảng đề tài chính là cuộc sống của người nông dân vùng công giáo sau cải cách
ruộng đất và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp cũng như công cuộc xây dựng
Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ở nông trường Điện Biên Những sáng tác tiêu biểu
thời kỳ này thường khai thác chủ đề ở hai phía trái ngược nhau của cuộc sống: phía tiêu cực, lạc hậu và phía tích cực, tiến bộ để từ đó khẳng định xu thế vận động từ bóng tối ra ánh sáng của cuộc sống cũng như của con người mới
Sau 1975, đặc biệt là sang thời kỳ đổi mới, sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường cùng với những ưu việt và mặt trái đã kéo theo nhiều sự thay đổi sâu sắc và
Trang 26toàn diện không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà cả lĩnh vực quan hệ xã hội và ngay chính trong quan niệm về cuộc sống của con người Trong bối cảnh phức tạp và đa
diện này, Nguyễn Khải đã tiếp tục phát huy không ngừng khả năng phát hiện những
vấn đề nhức nhối, góc cạnh của con người, của đời sống làm thay đổi những quan
niệm đạo đức truyền thống, đó là lợi ích kinh tế, giá trị đồng tiền Nguyễn Khải nhiều lần tâm sự về cách viết của mình Khi khám phá một vấn đề nào đó trong
cuộc sống, ông thường suy nghĩ thật thấu đáo, công đoạn tiếp theo là lên đường
thực tế để xác minh lại và tìm kiếm chân dung lý tưởng cho ý tưởng của mình Có
thể nói rằng khả năng phát hiện vấn đề, cách tổ chức tác phẩm, xây dựng nhân vật mang tính vấn đề và tầm khái quát, ý nghĩa xã hội, ý nghĩa triết học của những vấn
đề mà Nguyễn Khải đặt ra trong các sáng tác của mình đã làm cho văn xuôi của ông mang những đặc điểm khác biệt so với những cây bút khác Vì thế nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã từng coi ông là “một tài năng phát hiện vấn đề”
Đối với quan niệm về nghề văn, trước tiên Nguyễn Khải là người luôn coi viết
văn là một thứ “Nghề” chứ không phải là một thú vui, một cuộc dạo chơi hay một
niềm đam mê đơn thuần Với ông tôn chỉ của nghiệp văn chương là phải học hỏi,
phải không ngừng tôi rèn và luôn tuân thủ các nguyên tắc, cuối cùng là nhắm đến
một mục đích cụ thể, sáng rõ và giá trị Muốn tồn tại lâu bền với cái nghề đặc biệt này thì phải luôn ý thức rõ tính chất nghề nghiệp và sống trách nhiệm, sống hết mình với nó Tuy đặc biệt nhưng sáng tạo văn chương không mang tính thần bí hay cao siêu Nó chỉ đòi hỏi cái tài, cái tâm và cách thức hành nghề dựa trên sự am hiểu đặc thù của nghề mà thôi Thực ra ý thức về nghề nghiệp của Nguyễn Khải không
chỉ dừng lại ở đó Sâu sắc hơn nó thể hiện thái độ yêu nghề kính nghiệp và một tinh
thần bền bỉ với văn chương bắt nguồn từ bản tính vốn có và hoàn cảnh xuất thân của người cầm bút Nguyễn Khải với những đứa con tinh thần của mình
Trải qua những giai đoạn thăng trầm, những cuộc chuyển giao giữa các phong trào văn chương đặt trong bối cảnh đầy biến động của đất nước và các luồng tư tưởng nghệ thuật trên thế giới đã giúp cho nhiều nhà văn tiến bộ, trong đó có Nguyễn Khải hình thành vững chắc quan niệm coi sáng tác văn chương là một nghề nghiệp mà nó không nằm ngoài cuộc đấu tranh chung của dân tộc, luôn đặt tính mục
Trang 27đích là tôn chỉ, hướng đạo công việc của nhà văn Khi viết cần phải xác định được
những điều có ích, có giá trị đối với độc giả, với xã hội và trở thành vũ khí thiết
thực góp phần đấu tranh cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, tuyệt nhiên không cao siêu, thần thánh và xa rời thực tế Nguyễn Khải là một trong những nhà văn đã
thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà thời đại giao phó
Để đến gần với bạn đọc với tư cách là người bạn đồng hành như quan niệm
của chính mình, Nguyễn Khải đã biến các tác phẩm của mình thành cuộc trò chuyện, đối thoại, tranh luận một cách cởi mở, dân chủ giữa những con người đại
diện cho sự phức tạp và muôn màu của cuộc sống Vì thế mà tác phẩm của ông rất chân thực mà gần gũi, thân mật
Càng về sau, trong sáng tác của ông, khoảng cách giữa nhà văn và bạn đọc càng được rút ngắn Ta có cảm giác như ông viết văn là để được tâm sự, chia sẻ
những cảm nhận của bản thân về chuyện đời, chuyện người với bạn đọc Thế nên không ngạc nhiên gì khi những chi tiết, vấn đề rất đỗi bình thường của cuộc sống cũng được đưa vào trang văn của ông như một chất liệu đặc sắc, bởi nó mang hơi
thở nồng nàn của cuộc sống, không thể thiếu được giống như oxi và nước Điều đó chi phối đến cách lựa chọn đề tài, giọng điệu mục đích sao cho trở nên gần gũi hơn
với độc giả
1.1.2.2 Văn xuôi Nguyễn Khải
- S ự nghiệp văn chương
Nguyễn Khải là nhà văn có trí thông minh sắc sảo, năng lực quan sát tinh tế,
khả năng phân tích phê phán đáng ngưỡng mộ Tác phẩm của ông thường phát hiện
và đặt ra những vấn đề bức thiết của cuộc sống và cơ bản của thời đại, những hình tượng nhân vật phong phú, đa dạng, hấp dẫn, những con người giàu tình cảm và trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hơn nửa thế kỷ lao động nghệ thuật miệt mài, tận tuỵ, không ngừng nghỉ, Nguyễn Khải đem ngòi bút của mình thử sức ở hầu hết thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, kí, kịch mà ở thể loại nào ông cũng gây được tiếng vang
Mỗi trang văn của ông đều gắn bó với từng bước thay da đổi thịt của đất nước,
Trang 28mang hơi thở cuộc sống nồng nàn, tính thời sự bức thiết, vấn đề chứa đựng triết lí nhân sinh sâu sắc
Nguyễn Khải bước vào con đường sáng tác văn chương từ thời kì kháng chiến
chống Pháp nhưng thực sự khẳng định được vị trí của mình từ sau hoà bình lập lại trên miền Bắc Vào giữa những năm khi Đảng tiến hành sửa sai trong cuộc cải cách
ruộng đất, đấu tranh chống bọn phản cách mạng, đội lốt tôn giáo, bắt tay vào công
cuộc xây dựng nền kinh tế mới, Nguyễn Khải đã viết Xung đột, Mùa lạc, Tầm nhìn xa… phản ánh những thành tựu cũng như khó khăn trên con đường xây dựng xã hội
mới
Bước vào thập niên 70, khi đế quốc Mĩ leo thang đánh phá miền Bắc, Nguyễn
Khải đã đến những nơi khói lửa chiến tranh để kịp thời ghi lại cuộc sống của người chiến sĩ Những tác phẩm như Họ sống và chiến đấu, Ra đảo, Đường trong mây, Chi ến sĩ … Thời kì này, các tác phẩm của Nguyễn Khải tràn ngập tinh thần, nhiệt
huyết chiến đấu chống quân xâm lược hòa quyện cùng cảm hứng ngợi ca những con người sống có lí tưởng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Sau 1975, đất nước thống nhất, ông chuyển vào Nam sinh sống Tại đây, Nguyễn Khải đến với hiện thực hoàn toàn mới mẻ, hiện thực cuộc sống ở miền Nam sau giải phóng Ông có ngay các tác phẩm Cách mạng, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian
c ủa người và Vòng sóng đến vô cùng tiếp tục viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ ở
tầm khái quát và toàn diện hơn và chuyển hướng đề tài về hiện thực tái thiết đất nước sau chiến tranh
Năm 1986, đất nước tiến hành đổi mới, sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường
đã đem lại vô vàn sự thay đổi trên mọi phương diện của đời sống, bao hàm cả những giá trị tốt đẹp và mặt trái tiêu cực của nó Nguyễn Khải vẫn tiếp tục cuộc hành trình
của mình, thâm nhập thực tế, khám phá, chiêm nghiệm và viết Thời kì này ông cho
ra đời những tác phẩm: Một cõi nhân gian bé tí, Cái thời lãng mạn, Hai ông già ở Đồng Tháp Mười, Anh hùng bĩ vận, Một người Hà Nội, Hà Nội trong mắt tôi, Thượng đế thì cười… Giờ đây, ngòi bút của ông chú trọng đến số phận con người
xoay quanh mối quan hệ với cộng đồng và các giá trị sống hơn là vận mệnh chung
của dân tộc, cách mạng như thời kì trước
Trang 29Nhìn lại chặng đường hơn nửa thế kỉ cầm bút của Nguyễn Khải, ta có thể thấy
rõ chất nhà văn tài năng và chân chính làm nền tảng tạo nên bút lực dồi dào cho
những trang văn thấm đẫm tinh thần nhân đạo, giàu tính triết lí nhân sinh gửi gắm vào những số phận con người trên phông nền hiện thực đời sống luôn biến chuyển không ngừng
- Quan ni ệm nghệ thuật về thế giới hiện thực và con người trong sáng tác văn xuôi
Nhìn lại quá trình sáng tác văn xuôi của Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy có
sự vận động và biến đổi trong quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của nhà văn
Nhà văn lớn là người có được một quan niệm nghệ thuật độc đáo, đem lại cho độc giả một cái nhìn mới về đời sống Nguyễn Khải là một minh chứng rất rõ về điều này Hiện thực cuộc sống là một “mảnh đất phì nhiêu” để nhà văn tha hồ khai
vỡ, Nguyễn Khải cũng không ngoại lệ, bằng sự nhiệt thành, cần mẫn, ông đã xây
dựng một thế giới nghệ thuật độc đáo, sinh động và mang đậm dấu ấn cá nhân Là
một nhà văn luôn trăn trở với cuộc sống của ngày hôm nay, ông dành sự quan tâm đến những vấn đề thời sự nóng bỏng Ông luôn kịp thời có mặt ở những nơi thực
tiễn đời sống diễn ra sôi động nhất để phản ánh những vấn đề bức thiết của hiện
thực Thế giới hiện thực trong tác phẩm vì vậy luôn là những mảnh đất sục sôi sự
kiện với sự phức tạp, tinh vi, đặc biệt là cuộc đấu tranh trong con người
Trước 1975, ông từng lên Điện Biên, mảnh đất trước kia đã bị giày xéo bởi chiến tranh nay trở thành vùng kinh tế tiêu biểu trong công cuộc xây dựng Xã hội
chủ nghĩa của miền Bắc Ông cũng tìm đến vùng Bùi Chu – Phát Diệm để phản ánh không khí đấu tranh quyết liệt của nhân dân vùng công giáo toàn tòng,… Sau 1975, đất nước thống nhất, Nguyễn Khải vào Nam, chính hiện thực cuộc sống ngổn ngang
bề bộn nơi đây đã mở ra trước mắt Nguyễn Khải biết bao điều mới lạ và hấp dẫn
Có lẽ xuất phát từ nhu cầu muốn đóng góp công sức vào công cuộc đấu tranh xã hội
và kiến thiết đất nước cộng với năng lực phát hiện vấn đề đã dẫn đường chỉ lối cho ông đến với hiện thực ngày hôm nay Với Nguyễn Khải, cuộc sống được nhìn từ
“cái ngày hôm nay”, hiện thực của “cái ngày hôm nay” mà Nguyễn Khải miêu tả
Trang 30trong sáng tác của mình giờ đây không phải là những biến cố của lịch sử, của đời
sống cộng đồng mà là những biến cố của đời người, của lòng người Ngày hôm nay,
vẫn là những con người ấy, dãi đất hình chữ S ấy nhưng bỗng thấy đầy mới lạ, nhìn đâu cũng thấy lạ, thấy mới Giờ đây, với Nguyễn Khải những chuyến đi thực tế mới
thực sự là đi kiếm tìm con người, hiểu thấu lòng người và cố gắng phản ảnh chân
thực số phận con người, tiếng nói của lòng người, tiếng nói của những quy luật không thể lấn át hay lãng quên của cuộc đời
Nguyễn Khải là nhà văn rất trân trọng giá trị con người, ông chú ý lựa chọn cách tiếp cận và hình thức thể hiện con người trong các tác phẩm của mình Ông cho
rằng: bản chất của con người là phức tạp, đời sống bên trong con người là phong
phú và cuộc đời con người là chuỗi mắt xích vô tận của những nghịch lí, những
ngẫu nhiên, bất ngờ
Thời kì trước 1975, Nguyễn Khải luôn nhìn con người trong mối quan hệ với
tập thể, cộng đồng, lợi ích riêng gắn bó với lợi ích chung, tất cả vì sự nghiệp cách
mạng của dân tộc Thế giới hiện thực đời sống trong đó số phận cộng đồng chi phối triệt để số phận cá nhân, thái độ và sự cống hiến đối với lợi ích tập thể, cộng đồng được lấy làm thước đo các giá trị Nhìn chung nhân vật thời gian đầu hiện lên tuy khá phong phú, đa dạng, sinh động nhưng nó chưa đặc sắc, đa diện, góc cạnh như
bản chất vốn có Hình tượng trung tâm trong các sáng tác thời kì đầu của ông là hình tượng tập thể; tập thể những người lao động mới Ở đó, nhân vật hiện lên còn
giản đơn, xuôi chiều, chủ quan, thậm chí có phần thiếu chân thực so với hiện thực
cuộc sống Nghĩa là bằng cái nhìn nghệ thuật một chiều giản đơn của nhà văn đã phân loại một cách triệt để thế giới nhân vật chủ yếu trên cơ sở các phẩm chất của ý
thức, các dạng lập trường, thái độ trong nhận thức và phân thành hai loại đối lập nhau: tiến bộ và lạc hậu, tốt và xấu, cũ và mới, ta và địch …Và thể hiện họ trên
những trang văn của mình, ông cũng không quên bày tỏ quan điểm, thái độ của mình, với những con người mới, tiến bộ thì nhà văn hết sức ca ngợi, còn những kẻ
lạc hậu, chậm tiến mang nặng lối sống cũ, cách làm cách nghĩ cũ thì nhà văn ra sức phê phán, phê phán một cách quyết liệt gay gắt, thậm chí còn cường điệu, truy đến
tận cùng
Trang 31Sau 1975, theo dòng chảy chung của nền văn học dân tộc, ngòi bút của Nguyễn Khải mới thực sự trở nên linh hoạt, đa dạng, chín muồi, lắng đọng hơn
Cuộc sống không đơn giản, rõ ràng như trước Con người muốn tồn tại đã trở nên
xù xì, góc cạnh, biến hoá, bí ẩn Ngòi bút của nhà văn vì thế càng khát khao hướng đến số phận cá nhân con người, xoáy sâu vào những ngõ ngách sâu kín bên trong tâm hồn con người để khám phá, chiêm nghiệm Quả thật, nhân vật của ông ở giai đoạn sau thực sự trưởng thành, đầy đặn, nó mang đậm hơi thở của cuộc sống hôm nay chứ không khuôn mẫu đơn điệu, xa rời thực tế Sáng tác của Nguyễn Khải sau
1975 đã quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề triết lí nhân sinh, những vấn đề liên quan đến sự sống, sự tồn tại, đặc biệt là đạo lí và tình người
Có thể nói rằng, từ sau 1975, Nguyễn Khải đã không còn đặt mình cao hơn nhân vật, mách nước, chỉ đường, ban phát cho họ những tư tưởng, hành động và lời nói như trước đây Với cách nhìn và quan niệm của nhà văn, các nhân vật được trao quyền bình đẳng trong việc bộc lộ những quan niệm của bản thân Vì thế, nhân vật
của Nguyễn Khải mới thực sự là bản thân chúng, chứ không phải là cái bóng của nhà văn
1.2 Gi ới thuyết chung về thời - không gian nghệ thuật trong sáng tác văn học nói chung, văn xuôi nghệ thuật nói riêng
“Không gian” và “thời gian” là cặp phạm trù triết học Triết học Mác – Lênin cũng xác định “không gian”, “thời gian” là hình thức tồn tại của vật chất Không có
vật chất nào tồn tại ngoài không gian và thời gian, ngược lại cũng không có không gian và thời gian thuần túy tồn tại bên ngoài vật chất Trong tác phẩm văn học,
“thời gian” và “ không gian” gắn liền với hai chữ “nghệ thuật”, bởi nó không còn là khái niệm của triết học hay vật lý Nó không đơn thuần phản chiếu thời gian, không gian hiện thực cuộc sống vào tác phẩm văn học Hơn hết, thời gian và không gian nghệ thuật là hai khái niệm của thi pháp học hiện đại, cụ thể, không gian nghệ thuật được xem là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, được xây dựng và tổ chức dựa trên sự sáng tạo và dụng ý của người nghệ sĩ về một mô hình thế giới mang đậm
dấu ấn cá nhân dựa trên nền hiện thực khách quan, không gian vì thế cũng muôn màu muôn vẻ, có thể rộng, hẹp hay tượng trưng, ước lệ,…Thời gian nghệ thuật
Trang 32cũng là hình tượng nghệ thuật, được người nghệ sĩ sáng tạo nên nhằm giúp cho độc
giả cảm nhận được với nhiều sắc độ tình cảm, cảm xúc dựa trên độ dài, nhịp độ nhanh chóng, dồn dập hay chậm rãi, khoan thai…với trục thời gian phân rã hay kết
hợp giữa quá khứ, hiện tại, tương lai Nhìn chung, không gian, thời gian nghệ thuật
là phương thức thể hiện thực tại đời sống cũng như xây dựng nhân vật, là sản phẩm
của sáng tạo nghệ thuật, qua đó bộc lộ quan niệm, tư tưởng, chủ đích của nhà văn, nhà thơ
Ngày nay, thời gian, không gian nghệ thuật không còn được nhìn nhận đơn
giản như những khái niệm tách rời mà thay vào đó, người ta dùng khái niệm mới hơn, phù hợp hơn, đó là “thời - không gian nghệ thuật” hay “không - thời gian nghệ thuật” Khái niệm thời - không gian (chronotope) được Bakhtin đề xuất nhằm khẳng định “mối liên hệ cơ bản giữa các quan hệ thời gian và không gian được chiếm lĩnh
một cách nghệ thuật trong văn học” Thuật ngữ này được xác lập dựa trên thuyết tương đối của Einstein, tuy nhiên điều Bakhtin muốn hướng đến không phải là “ý nghĩa chuyên môn” trong một lý thuyết vật lý mà ông nhấn mạnh đến cái gọi là
“gần như một ẩn dụ”, bởi nó “thể hiện tính gắn kết bền vững của không gian và thời gian” Khái niệm mang tính tổng hợp này thể hiện sự hòa quyện, phối hợp giữa không gian và thời gian, giúp hoàn thiện thế giới nghệ thuật, “mở rộng ý tưởng nghệ thuật, nâng cao sự khái quát của hình tượng nghệ thuật.” [105, tr.97]
1.3 V ấn đề thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi Tô Hoài và Nguyễn
Kh ải sau 1975
Sau 1975, cùng với việc đổi mới quan niệm nghệ thuật, các nhà văn đã thổi
một luồng gió mới, thậm chí làm thay da đổi thịt những đề tài, thể loại văn học, cùng với đó là những sáng tạo, biến đổi đối với các bình diện thi pháp Trong đó, tiêu biểu phải kể đến thời - không gian nghệ thuật
Đất nước thống nhất, bước vào công cuộc xây dựng quê hương tổ quốc giàu đẹp, sánh vai với các cường quốc năm châu, chiến tranh lùi vào quá khứ, những nếp nghĩ cách làm của một thời đã qua không còn phù hợp, cần được thay đổi Hiện
thực cuộc sống cùng với giá trị con người được nhìn nhận lại bằng cái nhìn đa chiều
và chân thực nhất Tô Hoài và Nguyễn Khải là những nhà văn tiêu biểu đã nhìn
Trang 33thẳng vào vấn đề và nhanh chóng đưa ngòi bút của mình đến với những thể nghiệm
mới Những chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật, những đổi thay trong nhãn quan hiện thực không chỉ giải quyết vấn đề của hiện tại ngày hôm nay Trở về với
những miền đất thân thuộc, những câu chuyện xảy ra trong quá khứ, những điều thuộc về lịch sử Nhà văn cũng cần dũng cảm tái hiện một cách chân thực bức tranh
lịch sử Tôn trọng và không né tránh Bởi lịch sử chính là hiện thực cuộc sống, lịch
sử dù đẹp nhưng bao giờ cũng có những hạn chế, qua rồi một chặng đường vẫn khiến người ta băn khoăn trăn trở
Bên cạnh đó, thời - không gian nghệ thuật cũng có những biến đổi cơ bản dễ
nhận thấy, nếu giai đoạn trước, đa số các tác phẩm của Tô Hoài hay Nguyễn Khải đều được kết cấu thời gian tuyến tính, không gian rộng lớn thì sang giai đoạn sau, các tác giả đếu muốn phá vỡ trình tự thời - không gian nghệ thuật, thời gian từ tuyến tính chuyển sang đa tuyến, không gian rộng được thu hẹp, xoáy sâu, cùng với đó, các thủ pháp tổ chức thời - không gian nghệ thuật được vận dụng linh hoạt, khiến cho cấu trúc thời - không gian nằm trong thế chuyển hóa, vận động liên tục, tuân
thủ theo quy luật của tư duy nghệ thuật và cảm xúc của chủ thể sáng tạo
Như ta đã biết, mảng hồi kí, tự truyện rất phát triển trong giai đoạn sau 1975
và được xem là nét đặc sắc, sáng tạo, tạo điểm nhấn cho gia tài sáng tác của Tô Hoài và Nguyễn Khải ở giai đoạn sau Như vậy, trong dòng văn xuôi được đánh giá
là giàu giá trị của Tô Hoài và Nguyễn Khải, ta có thể phân ra nhóm tác phẩm có yếu
tố hồi ký, tự truyện và nhóm tác phẩm phi yếu tố hồi ký, tự truyện Yếu tố này được xem là một trong những nguyên nhân chủ đạo chi phối cách thức tổ chức thời - không gian nghệ thuật trong tác phẩm của hai nhà văn Nhưng hồi ký, tự truyện…
với sự co giãn biên độ, nói cách khác, trong xu hướng hiện nay, sự giao thoa, pha
trộn giữa các thể loại diễn ra mạnh mẽ khiến giới phê bình lẫn bạn đọc rơi vào tình
huống phân vân, khó xử khi phân biệt các thể loại này, ngay với những tác phẩm tiêu biểu như Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài vốn được xem là hồi ký,
nhưng có tác giả lại chứng minh nó là tự truyện, thậm chí có tác giả lại coi nó là tiểu thuyết Tương tự, Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải được đề là tiểu thuyết,
nhưng các nhà nghiên cứu lại nhận định chất hồi ký trong đó rất rõ, được Đặng Anh
Trang 34Đào gọi là “hồi ký dán nhãn hiệu tiểu thuyết” Hơn nữa, trong một khối lượng đồ sộ các tác phẩm, còn rất nhiều tác phẩm sử dụng những sự kiện, sự việc, chi tiết liên quan đến tác giả, nhân vật mang hình bóng tác giả trong các tiểu thuyết, truyện
ngắn Vì vậy, để thuận lợi trong việc thống kê, phân tích và so sánh, Chúng tôi sử
dụng tiêu chí tác phẩm có “yếu tố hồi ký, tự truyện” và tác phẩm “phi yếu tố hồi ký,
tự truyện” làm cơ sở so sánh văn xuôi của hai tác giả, và tập trung chủ yếu vào
những tác phẩm có yếu tố hồi ký, tự truyện Bởi yếu tố hồi ký, tự truyện được cả hai tác giả đặc biệt yêu thích và vận dụng vào tác phẩm rất thường xuyên, cho thấy sự sáng tạo của tác giả hay nói cách khác là đem lại thành công cho ngòi bút Tô Hoài
và Nguyễn Khải
Đối với Tô Hoài, ông là nhà văn thường xuyên trở lại với những miền đất quen thuộc, cày xới, chăm bón những thửa đất tưởng đã cằn cỗi, bạc màu trở nên tươi tốt, tràn đầy sức sống Có thể nói, khó ai có những chuyến trở về, quay ngược
thời gian mà thu gặt được nhiều thành quả có ích cho hiện tại như Tô Hoài Hồi ức,
kỷ niệm là tài sản dồi dào và vô giá của ngòi bút Tô Hoài, được ông tái sử dụng cho
mọi thể loại tác phẩm, đặc biệt đắc dụng nhất phải nói đến địa hạt tác phẩm có yếu
tố hồi ký, tự truyện Vẫn với một trí nhớ tuyệt vời, một cảm hứng không thay đổi,
một tinh thần bền bỉ cộng hưởng sinh khí tươi nguyên bao trùm kho hồi ức, kỉ niệm ngày một lùi xa trong quá khứ Tô Hoài đã dựng lại cả một thế giới nghệ thuật sống động, chân thực, tưởng quen thuộc mà mới lạ đến ngỡ ngàng Nó cho phép cấu trúc
thời - không gian nghệ thuật được thoát thai, biến đổi, có lúc ở một chừng mực nhất định, nhưng có lúc vượt thoát, biến đổi khôn lường Bởi giờ đây, “hồi ức mang theo
một giá trị kép: Vừa chịu sự ràng buộc của một sự thật cá biệt, vừa cho phép nới thêm các khoảng rộng của không gian và thời gian sống” [60, tr.40]
Trong các tác phẩm phi yếu tố hồi ký, tự truyện Miền đất quen thuộc trong các chuyến trở về thường là miền núi hay Hà Nội, rất thú vị nữa là thế giới của trẻ thơ Tuy với các tác phẩm thuộc tiêu chí này, ở giai đoạn sau 1975 Tô Hoài không
có nhiều bước chuyển đột phá Đối với các tác phẩm viết về Hà Nội, ví như tiểu thuyết Quê nhà tuy không được viết ra theo một trình tự gần gũi nhưng lại kết nối
với tiểu thuyết Quê người, Mười năm thành một đường dây nhất quán về không
Trang 35gian, thời gian và tiến trình lịch sữ Điểm nổi bật trong các tác phẩm thuộc địa hạt này chính là nhãn quan phong tục đặc biệt, thời - không gian nghệ thuật trong các tác phẩm này hiện lên đầy màu sắc, sinh động, tinh tế, đậm tính dân tộc Người đọc được trở về, lên vùng Tây Bắc với những phiên chợ Phiềng Sa đầy quán bán món
thắng cố, cùng những chàng trai cô gái H’mông tham gia hội xuân, thả hồn trong
những điệu khèn, tha hồ ngắm nhìn những bộ trang phục sặc sỡ sắc màu như đàn bướm bay chấp chới Đến những làng thủ công ngoại thành Hà Nội với những phiên
chợ lụa, xem những cuộc thi đấu vật, thổi cơm, tìm hiểu tập quán của nghề trồng rau và đánh chim, nghề làm giấy gió ở các làng Nghĩa Đô, Cổ Nhuế nhưng bên
cạnh đó, Tô Hoài còn cho ta thấy một khía cạnh khác, thời - không gian của những phong tục tập quán bị vây hãm, bóp nghẹt, chìm khuất trong những hủ tục, thói tục
của tệ nạn, hậu quả bởi thế lực thống trị, cướp nước Nó được biểu hiện rõ qua khung thời - không gian của những phiên chợ: “Bói không thấy một hàng gạo
Chỉ có vài mẹt cám là thức ăn sống người nhất chợ Người mua tranh nhau húc vào Mẹt cám hết ngay Còn lại toàn là hàng củ chuối.” [32, t r 240] Những chiếc khung cửi, cột nhà, khán thờ bài vị, hòm sơn then, ống quyển đựng bằng sắc gia
phả,…đều được đem ra bán nhưng cùng chẳng có người mua Còn đâu những làng nghề, vật phẩm truyền thống nơi làng quê thôn dã nay bị phủ trùm bóng đen của
nạn đói, của chết chóc Đời sống con người những năm diễn ra nạn đói dưới ách đô
hộ của Nhật, Pháp đã khiến cho khung cảnh những phiên chợ trở nên thê lương Chưa hết, thời - không gian đen tối của miền núi cũng được đặc tả qua khung thời - không gian của cảnh chợ, ám ảnh là chợ Phiềng Sa, cảnh người người tấp nập thồ hàng, sắm hàng, phơi phới không khí tụ họp, vui chơi Giờ đây nhường chỗ cho sự
xô bồ, ngổn ngang của những người khách nằm chất đống trong lều, bên bàn đèn thuốc phiện Người mua muối “cứ nghìn nghịt xô vào, leo lên nhau, chồng đống như đá đè” Văn hóa ẩm thực cũng đã đổi khác, đồng bào miền núi không còn
muốn ăn thắng cố với ngô, họ thích trộn với miến Tàu hơn Thời - không gian của
những sinh hoạt nơi chợ quê, chợ núi phần nào phản ảnh được sự đổi thay trong đời sống của người dân, nó đẩy xa con người ra khỏi khung thời - không gian của
những phong tục, tập quán, gạ gẫm, dồn ép con người đến vực thời - không gian
Trang 36đen tối của hủ tục, thói tục xấu Một hiện thực trần trụi là hệ quả của sự biến đổi
những khung thời - không gian, phục dựng đời sống xã hội trong tình trạng của
xiềng xích, gông cùm Đó là cách phản ảnh sự thật của lịch sử, sự kiện, những thăng trầm trong lòng dân tộc mà Tô Hoài cẩn thận đưa vào trang văn
Đối với các tác phẩm đậm đặc chất hồi ký, tự truyện của Tô Hoài, cùng những
thể nghiệm mới dành cho thế giới hồi ức, kỷ niệm đầy giá trị của tác giả, cấu trúc
thời - không gian nghệ thuật được tổ chức một cách hợp lý, nhuần nhuyễn, mang tính dẫn dắt, hòa lẫn chứ không phải gượng ép, gồng mình chạy theo nội dung, tình
tiết câu chuyện Điều đáng quý ở Tô Hoài, ông là người trân trọng quá khứ, nhưng không chết chìm trong nó, quá khứ của ông là một quá khứ luôn hướng về hiện tại,
dồn về hiện tại, chỉ là nó được khoác lên mình trang phục của quá khứ mà thôi Một quá khứ không bao giờ đóng khép, nó luôn trong tư thế sẵn sàng, những mảng hồi
ức, kỷ niệm của nhà văn về nghề văn, đồng nghiệp, về vô số sự kiện trong cuộc đời
của Tô Hoài nối tiếp, đan cài nhau, gắn với các bối cảnh không gian và thời gian được mở ra khá rộng theo hoạt động và công việc của Tô Hoài
Nếu với Tô Hoài, hồi ức, kỷ niệm là kho lương thực nuôi dưỡng ngòi bút của mình, nghĩa là quá khứ, thời đã qua luôn hiện diện trong tư tưởng, tâm hồn của Tô Hoài Tất nhiên, ông dùng nhãn quan hiện thực của ngày hôm nay, một cái nhìn
hiện tại để viết Đó là tài năng và niềm yêu thích của Tô Hoài Còn với Nguyễn
Khải, ông đặc biệt yêu thích chuyện của hôm nay, “cái hôm nay ngổn ngang bề
bộn” (Gặp gỡ cuối năm) Ông luôn bắt kịp với những vấn đề thời sự, những biến cố
của thời cuộc, sự kiện nóng hổi đưa vào trang viết của mình Ông ít có những chuyến trở về, ít chứ không phải là không Ví như tiểu thuyết Cha và con, ông trở
về với vấn đề tôn giáo, nhưng vấn đề tôn giáo của ngày hôm nay, trong một bối
cảnh thời - không gian của hiện tại, sử dụng cách nhìn đầy tính thời cuộc: cuộc đối thoại giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội, sự tồn tại của lý tưởng tôn giáo Hay như tác phẩm đậm yếu tố hồi ký, tự truyện như Thượng đế thì cười Ông đã có một hành
trình trở về điểm lại các sự kiện trong đời mình như một cuốn nhật ký, nhưng cái cớ cho sự trở về đó lại xuất phát từ hiện tại, đó là mâu thuẫn vợ chồng ông lúc về già Nói tóm lại, cấu trúc thời - không gian nghệ thuật trong các tác phẩm của Nguyễn
Trang 37Khải, dù là các tác phẩm có yếu tố hồi ký, tự truyện hay phi yếu tố hồi ký, tự truyện đều được ông dành cho những thể nghiệm mang tính sáng tạo, có nét đặc sắc đáng ghi nhận Thời - không gian nghệ thuật trong những tác phẩm ở giai đoạn sau là một
thời - không gian có xu hướng mở, “cái hiện tại được đặt trong sự tiếp nối với cái quá khứ, cuộc sống hiện lên ở nhiều mặt, có quá trình vận động, biến đổi, chuyển hóa.” [1, tr.216]
Tóm lại, thời - không gian nghệ thuật trong văn xuôi của Tô Hoài và Nguyễn
Khải có những nét đặc sắc và sáng tạo, góp phần xây dựng nhân vật, khám phá hiện
thực đời sống Đồng thời, giúp hoàn thiện sự đổi mới nhãn quan hiện thực, thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn, mặt khác, khiến hình thức thể loại không rơi vào sự rập khuôn, đơn giản, nhàm chán
1.4 M ột số khái niệm làm cơ sở lí luận cho quá trình nghiên cứu
1.4.1 Khái ni ệm “mô thức”
Mô thức là mô hình được lấy làm chuẩn để từ đó nhân rộng ra, bắt chước theo
Theo Stephen R.Covey: “Thuật ngữ mô thức có xuất xứ là từ paradigm trong
tiếng Hy Lạp, vốn là một thuật ngữ khoa học nhưng ngày nay được dùng khá phổ biến với nghĩa là một nhận thức, giả thuyết, lý luận, khung tham chiếu, hay lăng kính qua đó bạn nhìn nhận thế giới.” [8, tr.38]
Trong cuốn “Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học” của Thomas Kuhn, ông
đã định nghĩa lại thuật ngữ này và hầu như nó được gắn liền với tên ông Kuhn cho
rằng có hai vấn đề về mô thức Thứ nhất, mô thức là các lý thuyết tri thức mang tính
nền tảng và nhận được sự chấp thuận rộng rãi của các nhà khoa học hàng đầu, mang tính phổ biến ở một lĩnh vực khoa học nào đó, và các lý thuyết tri thức ấy được truyền đạt, ghi nhận trong các sách giáo khoa thuộc lĩnh vực đó Với trường hợp này, mô thức được hiểu như “hệ hình” Thứ hai, mô thức là các tình huống chuẩn
(standard examples) và những cách giải quyết vấn đề (ways of solving problems) Các tình huống chuẩn này hướng dẫn những phương thức và kỹ năng giải quyết vấn
đề tương tự Không có mô thức nào là tuyệt đối, có thể giải quyết hết các vấn đề
trong một lĩnh vực Khi cần thiết, nó sẽ được thay đổi, người ta sẽ tìm ra những mô
th ức mới
Trang 38Ở một góc độ khác, mô thức còn được hiểu như là “mô hình”, “khuôn mẫu”,
“phương thức”, “khuôn thức”,… (từ trong Tiếng Anh: mode, pattern; từ gốc Hán:
模式) Theo đó, nội hàm của mô thức (paradigm) mà Thomas Kuhn xác lập rất gần
với “khuôn thức” nghĩa từ tiếng Anh và từ gốc Hán này
Mô th ức thời - không gian nghệ thuật: trong luận văn này được hiểu theo
trường hợp thứ hai mà Kuhn nêu ra – kiểu dạng, mô hình, khuôn thức, kỹ năng giải quyết vấn đề trước các tình huống, vấn đề tương tự – cụ thể, được hiểu như là khuôn thức tổ chức, kiến tạo thời - không gian trong thế giới nghệ thuật của tác
phẩm văn học, nhằm đạt được những hiệu quả mong muốn
dụ việc đưa các yếu tố kì ảo và nghịch dị vào cốt truyện “giống như thực” của tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, toàn bộ các biện pháp nghệ thuật đặc thù của văn học
“dòng ý thức”, ngôn từ khó hiểu của chủ nghĩa vị lai; việc sử dụng khác thường các
kết cấu cú pháp và nhịp điệu của ngôn từ nghệ thuật trong thơ ca và văn xuôi v.v
Bên cạnh những biện pháp nghệ thuật được khám phá bởi một tác giả hoặc
một thời đại văn học nào đó, còn những biện pháp nghệ thuật đã trở nên máy móc sáo mòn, gò nhà văn vào truyền thống, do vậy họ thường muốn vượt qua Những
biện pháp nghệ thuật như vậy thường kìm hãm sự tiếp nhận của độc giả, do vậy cũng tạo xung lực cho sự thay đổi các biện pháp nghệ thuật ấy
Tuy vậy trong văn học, vừa có việc chủ động đổi mới các biện pháp nghệ thuật truyền thống, vừa có việc chủ ý, kế thừa chúng, hoặc ở cấp độ phong cách cá nhân, hoặc ở cấp độ “phong cách lớn” của một thời đại Ví dụ ở chủ nghĩa cổ điển,
việc bắt chước các mẫu mực cổ Hy-La dẫn tới việc đề xuất những biện pháp nghệ
Trang 39thuật rập khuôn mà nếu không tuân thủ sẽ bị coi là sai trái Sự ổn định của những
biện pháp nghệ thuật nhất định – nét đặc trưng cho một thời đại văn học – đưa đến
việc tạo ra những khuôn mẫu văn học, việc sử dụng thiếu phê phán các khuôn mẫu
ấy tất đưa đến thói học đòi Các biện pháp nghệ thật rập khuôn – mang chức năng
thẩm mĩ đặc biệt đáng kể trong sáng tác dân gian
Việc chú ý sử dụng hay coi thường những biện pháp nghệ thuật nhất định bao
giờ cũng có ý nghĩa về nội dung.” [2, tr.95]
Ti ểu kết chương 1
Qua việc tìm hiểu những vấn đề chung về tác giả cũng như bình diện thi pháp
thời - không gian nghệ thuật Ta nhận thấy sự vận động và phát triển trong quan
niệm nghệ thuật, nhãn quan hiện thực của các nhà văn, cùng với đó là sự thay đổi,
thể nghiệm mới trong cách viết Một trong những biểu hiện rõ nét chính là cấu trúc
thời - không gian nghệ thuật, những đặc điểm thời - không gian như tuyến tính, biên niên, rộng, đơn giản, một chiều,… được thay thế, được nhìn nhận trong nhiều chiều kích, nhiều tuyến, thu hẹp, xoáy sâu, trật tự sẽ bị phá vỡ đến mức khó có thể nắm
bắt nhưng lại nằm trong một logic hợp lý của tư duy và cảm quan nghệ thuật của
chủ thể sáng tạo Điều quan trọng nữa, thời - không gian nghệ thuật không còn là
nền cảnh, nó được đặt trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với thế giới hiện thực và con người Sự chuyển biến trong quan niệm và ngòi bút của tác giả Tô Hoài và Nguyễn Khải cũng nằm trong xu thế chung ấy Tuy nhiên, với hai nhà văn, họ không phải phân vân quá lâu, quá trình ấy khá nhất quán, được nối liền và tạo được
dấu ấn Bởi ở Tô Hoài và Nguyễn Khải, các ông đều là những nhà văn chân chính,
sở hữu bút lực dồi dào, lý trí tỉnh táo, cảm quan tinh nhạy và một trái tim ấm nóng,
dạt dào tình yêu thương đối với cuộc đời và con người
Trang 40Chương 2 MÔ THỨC VÀ CHỨC NĂNG THỜI - KHÔNG GIAN NGH Ệ THUẬT TRONG VĂN XUÔI TÔ HOÀI, NGUYỄN KHẢI SAU 1975 2.1 Đối sánh về Mô thức thời - không gian nghệ thuật
2.1.1 Th ời - không gian lịch sử, sự kiện
Thời - không gian lịch sử, sự kiện là thời - không gian mang tính kết hợp, hòa quyện của thế giới nghệ thuật, là chỉnh thể của hình tượng nghệ thuật, đánh dấu bởi các sự kiện hay chuỗi sự kiện của đời sống xã hội, mang dấu ấn lịch sử, được tính
bằng mốc sự kiện hay mốc thời gian kể, làm nên mạch của truyện, vừa là môi trường hoạt động của nhân vật, vừa làm đổi thay cuộc sống và số phận của con người, dân tộc với tính tất yếu, đầy đủ và sâu sắc của nó
2.1.1.1 Th ời - không gian lịch sử, sự kiện trong văn xuôi Tô Hoài thể hiện điểm nhấn mang tính cộng đồng, dân tộc
Thời - không gian lịch sử, sự kiện trong sáng tác cuả Tô Hoài được ông tổ
chức chủ yếu theo dòng hồi ức, lịch sử lùi lại, các mốc thời gian không chính xác
từng ngày từng tháng, cũng không có trật tự trước sau Tuy nhiên, là người chứng
kiến những bước chuyển mình, những thăng trầm trong lịch sử dân tộc thì hiện
thực đất nước, các cuộc chiến đấu oanh liệt, những dấu mốc sự kiện được Tô Hoài tái hiện theo một cách riêng Ông không trần thuật đơn thuần, không tạo cho nó
một chỗ đứng như chủ thể nghệ thuật trong các tác phẩm mang tính sử thi, ông là nhà văn của đời thường, vì vậy cảm hứng nghệ thuật của ông luôn hướng về những câu chuyện đời thường, nhưng trong những câu chuyện trong sinh hoạt đời thường
đó, thì lịch sử, sự kiện hiện lên, tươi rói, sinh động, đánh dấu sự đổi thay của vận
mệnh dân tộc và số phận con người Đọc Cát bụi chân ai, Chiều chiều,… ai có thể
quên không gian của những năm sau Cách mạng tháng Tám, rồi những năm tháng bom đạn ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ,…
Đối với Tô Hoài, thời - không gian nổi bật, sâu đậm trong thế giới hồi ức của ông chính là Hà Nội, từ “cái dốc ngã sáu Hàng Kèn” trong Cát bụi chân ai, thời - không gian đã được mở rộng ra khắp mọi ngõ ngách của Hà Nội trong Chiều chiều:
“vào mùa đông 1972, máy bay B52 ném bom giải thảm vùng Khâm Thiên”…
“Máy bay quần ám suốt ngày Bảnh mắt đã còi rú Rồi liên miên, chốc lại alô,