Theo dòng chảy của thời gian, họ đã dần chứng tỏ mình là một lực lượng quan trọng trong quá trình dựng nước của dân tộc, và cũng không phải ngẫu nhiên mà những vẻ đẹp toát lên từ diện mạ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Minh Dung
THƠ CỦA CÁC NHÀ THƠ NỮ VIỆT NAM
TIÊU BI ỂU NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2003
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Minh Dung
THƠ CỦA CÁC NHÀ THƠ NỮ VIỆT NAM
TIÊU BI ỂU NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3M ỤC LỤC
PH ẦN DẪN LUẬN 4
1 Lý do ch ọn đề tài 4
2 M ục đích nghiên cứu 5
3 L ịch sử vấn đề 6
4 Ph ạm vi nghiên cứu 25
5 Phương pháp nghiên cứu 26
6 Đóng góp mới của luận văn 26
7 C ấu trúc luận văn 26
CHƯƠNG 1: ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, VĂN HỌC VÀ SỰ XUẤT HIỆN CÁC NHÀ THƠ NỮ VIỆT NAM TIÊU BIỂU NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 28
1.1 Đời sống xã hội 28
1.2 Đời sống văn học 35
1.2.1 Đây là một nền văn học vận động theo hướng hiện đại hóa 35
1.2.2 N ền văn học mới đề cao tinh thần tiếp thu cái mới 36
1.2.3 Đây còn là một nền văn học tôn trọng sự thực, tư do của con người 39
1.2.4 Nh ững tiền đề 40
1.3 S ự xuất hiện các nhà thơ nữ tiêu biểu nửa đầu thế kỉ XX 43
1.3.1 Sương Nguyệt Anh (8.3.1864 - 20.1.1921) 45
1.3.2 Đàm Phương nữ sử (1881 - 1948) 48
1.3.3 Tương Phố (1896 - 1978) 51
1.3.4 Vân Đài (1903 - 1964) 53
1.3.5 H ằng Phương (9.10.1908 - 2.2.1983) 54
Trang 41.3.6 Manh Manh n ữ sĩ (1914 - ? ) 56
1.3.7 Ngân Giang (1916 - 2002) 58
1.3.8 M ộng Tuyết: (1918 -) 59
1.3.9 Anh Thơ (1921 - ) 60
1.3.10 Thu H ồng (1922 - 1948) 61
CHƯƠNG 2: CÁC NGUỒN THI CẢM 63
2.1 C ảm hứng về thiên nhiên 63
2.1.1 C ảm hứng về mùa 63
2.1.2 C ảm hứng về trăng 76
2.2 C ảm hứng về xã hôi (những vấn đề cộng đồng) 80
2.2.1 C ảm hứng về đất nước, quê hương 80
2.2.2 C ảm hứng về những mảnh đòi bất hạnh 89
2.3 C ảm hửng về con người (những vấn đề cá nhân) 93
2.3.1 C ảm hứng về tình yêu 93
2.3.2 C ảm hửng về cái tôi: 99
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT 121
3.1 Th ể loại và những cách tân về cấu trúc 122
3.1.1 Th ể thớ lục bát 123
3.1.2 Th ể thất ngôn bát cú Đường luật 126
3.1.3 Th ể thơ 7 tiếng 128
3.1.4 Th ể thơ 8 tiếng 134
3.1.5 Th ể tư do 138
3.2 Ngôn ng ữ thơ 142
Trang 53.2.1 Ngôn ng ữ thơ đa dạng độc đáo 142
3.2.2 Ngôn ng ữ thơ giàu tính nhạc giàu hình ảnh 147
3.3 Các bi ện pháp tu từ 152
K ẾT LUẬN 161
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 165
PH ẦN PHỤ LỤC 171
Trang 6PH ẦN DẪN LUẬN
1 Lý do ch ọn đề tài
Vấn đề phụ nữ từ lâu đã được nhiều người quan tâm với những khả năng, những
phẩm chất bẩm sinh đáng quý, người phụ nữ đã góp phần làm thay đổi gương mặt của đời sống trên nhiều phương diện Phụ nữ Việt Nam nói riêng cũng vậy Theo dòng chảy
của thời gian, họ đã dần chứng tỏ mình là một lực lượng quan trọng trong quá trình dựng nước của dân tộc, và cũng không phải ngẫu nhiên mà những vẻ đẹp toát lên từ diện mạo, tâm hồn cùng bao số phận thăng trầm của người phụ nữ đã mang lại nguồn cảm hứng sáng tạo và trở thành đối tượng phản ánh cho nhiều tác phẩm nghệ thuật, trong đó có thơ
ca Người phụ nữ không chỉ khẳng định mình trong cuộc sống lao động, chiến đấu, mà hơn thế nữa họ còn dần khắng định mình trong sáng tạo nghệ thuật (một lĩnh vực hoạt động tưởng chỉ là độc tôn của phái mày râu suốt bao triều đại phong kiến đã qua), vượt lên những sự ràng buộc, không cho con người phát huy được cái tôi, cái khả năng của mình, người phụ nữ đã dần tìm lại chính mình qua sáng tạo nghệ thuật mà không cần ai tìm hộ, nói lên tiếng nói của chính mình mà không cần ai nói hộ Giở lại những trang viết
của họ trong quá khứ, chúng ta tự hào không chỉ có một Hồ Xuân Hương ngổn ngang bao
nỗi dở dang, một bà Huyện Thanh Quan trang nghiêm đau đáu trong nỗi u hoài thế sự,
mà còn có những sương Nguyệt Anh, Sầm Phố, Cao Thị Ngọc Anh, Đạm Phương đậm
đà nghĩa nước tình nhà, rồi Tương Phố với trái tim não nùng mang nỗi đau trần thế làm xao động cả một thời Đặc biệt là sự xuất hiện những gương mặt thơ mới như Anh Thơ, Thu Hồng, vân Đài, Ngân Giang, Hằng Phương, Mộng Tuyết Nếu trước đây trong thời
kỳ trung đại, văn học của phụ nữ xuất hiện còn tẻ loi, chưa thành một hiện tượng xã hội
rộng rãi thì bước vào đầu thế kỷ XX cây bút nữ dần xuất hiện, đông đảo và trở thành một
hiện tượng xã hội phổ biến của một đời sống văn học mang tính hiện đại Trên diễn đàn văn học, tiếng nói của người phụ nữ dần có trọng lượng hơn (đặc biệt trên các báo Nữ
giới chung, Đàn bà, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân văn, Việt nữ ) Từ diễn đàn báo chí, sau
đó là sách in, sáng tác của các tác giả nữ đã tạo thành một mảng riêng hài hòa trong bức tranh văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Nội dung thơ văn của họ, dù luận bàn về
Trang 7những vấn đề xã hội, nữ giới, về giáo dục gia đình, hoặc thể hiện quyết tâm chiến đấu vì
lý tưởng cao cả hay bộc bạch những niềm vui nỗi buồn, khát vọng riêng tư, nỗi đau nhân
thế, tâm sự ưu ái với nước với nhà thì đều thấm đẫm chất nhân văn; từ thương mình đến thương người, thương cho mỗi cuộc đời, cho mỗi số phận trong số phận chung của cả dân
tộc, cộng đồng Nên phụ nữ đến với thơ phụ nữ như tìm đến sự chia sẻ đồng cảm, khát khao để rồi được vơi đi cái gánh nặng nhọc nhằn hay những nỗi niềm thầm kín khó nói thành lời ở giữa đời thường
Tìm hiểu thơ ca nửa đầu thế kỉ XX, chúng tôi nhận ra rằng các nhà thơ nữ là một minh chứng thể hiện sự kế thừa tiếp nối, với những đóng góp không nhỏ của các thế hệ nhà thơ nữ vào quá trình hiện đại hóa văn học
Thế nhưng, việc tìm hiểu sự sáng tạo nghệ thuật của những cây bút nữ đầu thế kỉ
XX mới dừng lại ở mức giới thiệu một vài hiện tượng đơn lẻ mà chưa được nghiên cứu
một cách hệ thống toàn diện Chọn đề tài nghiên cứu thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam tiêu biểu nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi hi vọng sẽ góp một cái nhìn đầy đủ và hệ thống hơn về quá trình hiện đại hóa thơ ca ở Việt Nam Đó cũng là thái độ cần thiết của hiện tại đối với di sản văn học quá khứ
Xuất phát từ góc độ cá nhân, trong quá trình tiếp nhận, giảng dạy văn học, chúng tôi nghĩ rằng, thơ nữ với hình tượng người mẹ, người vợ, người phụ nữ đang yêu, hay bất
hạnh, và đặc biệt những cảm xúc lãng mạn nhẹ nhàng tinh tế dung dị rất có sức lay động,
cảm hóa những tâm hồn trong sáng của các em học sinh Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều tác phẩm của các nữ sĩ trong giai đoạn này được tuyển chọn vào chương trình
giảng dạy, bên cạnh tác phẩm của các nhà thơ nữ trung đại - hiện đại Như vậy, thế hệ trẻ
Việt Nam mới có dịp cảm nhận đầy đủ hơn nét đẹp nhân văn, thẩm mỹ và tài năng của các nhà thơ nữ Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử
2 M ục đích nghiên cứu
Chọn đề tài nghiên cứu Thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam tiêu biểu nửa đầu thế kỉ
XX, luận án hướng đến các mục đích sau:
Trang 82.1 Tìm hiểu nguyên nhân khách quan, chủ quan dẫn đến sự ra đời của các nhà thơ
nữ nửa đầu thế kỉ XX
2.2 Tìm hiểu đặc điểm và phát hiện cái hay, cái mới trong thi phẩm của một số nhà thơ nữ tiêu biểu trên phương diện nội dung (đề tài, thi cảm, tư tưởng), hình thức (thể thơ, ngôn ngữ, các biện pháp tu từ) Bước đều thấy được sự vận động và phát triển của thơ nữ
nửa đầu thế kỉ XX trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam
2.3 Xác định vị trí và những đóng góp của họ trong lịch sử thơ ca Việt Nam
3 L ịch sử vấn đề
Thơ nữ đầu thế kỉ XX là một hiện tượng văn học khá đa dạng, nó chịu chung số
phận thăng trầm với dòng văn học thời kì này Việc đánh giá các hiện tượng văn học luôn
gắn liền với yêu cầu tìmg giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam Trước 1945, sau 1945 cũng như 1975 đến nay, đã có một số nhận định đánh giá chung hoặc riêng từng tác giả
của các nhà phê bình văn học, nhà thơ, và chính của các nữ sĩ
Dưới đây, trên cơ sở những tài liệu thu thập được, chúng tôi lược thuật những ý
kiến phê bình về từng tác giả về đề tài này như sau:
Trước 1945, Nguyễn Liên Phong, tác giả tập Điếu cổ hạ kim Thi tập (1915) có viết
về Sương Nguyệt Anh: “Cô Nguyễn Thị Khuê, tự Nguyệt Anh, học chữ nho nhiều, năng
làm thi nôm, thi ch ữ, hơi vãn chương tao nhã, cả đàn bà trong Nam duy cô ấy học chữ nho nhi ều hơn hết, là bởi vì nhờ có ông thân là ông Đồ Chiểu dạy bảo” Còn tác giả Việt
Sĩ phê: “Cuộc đời bà sương Nguyệt Anh đã trải qua nhiều cơn đau khổ nhưng bao nhiều
n ỗi khổ hình như để thử thách người thiếu phụ kiên binh Bà không vì cảnh hiu quạnh gia đình mà buông ra lời thơ thống thiết như Ngọc Hãn công chúa Bà cố trấn tính cõi lòng
để chống trả với bao lời trêu cợt của khách văn chương” (1, tr.73) Cả hai ông đều thống
nhất trong việc nhận xét đặc điểm phong cách thơ cũng như nguyên nhân dẫn đến đặc điểm đó của thơ nữ sĩ Tuy chưa đầy đủ nhưng nhìn chung đó là những lời phê xác đáng
Từ 1945 đến nay, thơ của bà vẫn được tiếp tục tìm hiểu song còn ở mức độ nhất định
Trang 9Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền đã đánh giá rất cao cuộc đời cũng như văn phong của
Sương Nguyệt Anh bằng những lời lẽ trang trọng: Sương Nguyệt Anh là “một nữ văn thi
sĩ tài hoa, có tâm hồn cách mạng, giàu lòng yêu nước Bà chính là một phụ nữ đầu tiên đứng chủ trương tờ báo tiếng Việt ở Sài Gòn năm 1918” Lời văn, ý thơ của một cây bút
vừa “rắn rỏi” lại vừa “giản dị” nên “gây sóng gió” không ít trên tờ báo Nữ Giới Chung,
“gieo rắc ảnh hưởng ít nhiều đến giới nữ lưu thời đó” Cho nên “bà rất xứng đáng được nêu danh là một nữ văn thi sĩ tiền phong kháng Pháp tại miền Nam đất Việt” (31, tr 374) Mai Hương có giới thiệu nội dung chính của thơ sương Nguyệt Anh là “tâm sự yêu nước thương dân”, là những vấn đề đạo đức của phụ nữ Qua đó thơ bà thể hiện “sự kiên trinh của một người phụ nữ” (30, tr 26)
Cái nhìn về nữ sĩ của nhóm tác giả Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỉ XX (2002), có phần
khái quát, toàn diện hơn: “Bà là con người của buổi giao thời giữa mới và cũ, giữa cổ và
kim, gi ữa trung đại và hiện đại”, “một người phụ nữ như bước ra từ những trang sách thánh hi ền lại bắt tay vào làm báo, và hơn thế nữa, làm chủ báo” [82, tr.24) Họ cho rằng
mục đích chiến đấu cho đạo đức, cho lòng yêu nước của bà thật rõ ràng Từ góc độ thi pháp học, các tác giả đã nhận xét văn phong của bà “thường trang nhã, uy nghiêm, nói ít
g ợi nhiều tả ít, liên tưởng nhiều, kĩ thuật trau chuốt Nội dung thâm thúy hàm súc với
nh ững ẩn dụ, hình ảnh được sự dụng một cách tinh tẽ, kín đáo, hình tượng thơ do đó thường giàu tính hình tượng” và thơ bà “chủ yếu viết bằng chữ Hán chữ Nôm theo lối bát
cú Đường luật, lời lẽ trang trọng, cố kính, nho nhã nhưng cũng dung dị, thanh thoát” (82,
tr 49) Như vậy, theo nhận định trên, trong sáng tác của nữ sĩ, thi pháp truyền thống vẫn
là chủ đạo
Đóng góp một cách nhìn mới về phong cách nữ sĩ, tác giả Từ điển tác giả văn học
Việt Nam cũng đã nhận xét “Thơ Sương Nguyệt Anh không có gì thật đặc sắc, nhưng lời
l ẽ thanh thoát ý vị Thể vè do bà sáng tác vừa tiếp thu được cái chất mộc mạc của thể truy ện vè miền Nam, vừa giữ được phong cách riêng của một ngòi bút cứng cáp có truy ền thống trong gia đình, những bài này có giá trị như những nét bút ghi nhanh về
nh ững người, nhũng việc vừa xuất hiện nóng nối xung quanh nơi mình sống”
Trang 10Tuy thời gian có khác nhau nhưng những ý kiến nhận xét về thơ Sương Nguyệt Anh
nói chung đều thống nhất ở những đặc điếm: “Thơ bà thiên về lý trí, lời cứng vị khô”,
“l ời thơ rắn rỏi” (77, Tr 110) và “thơ bà thế hiện một nhân cách thanh cao, một quan
ni ệm sống gương mẫu, một tầm hồn trong sáng, đồng thời hàm chứa một tấm lòng thiết tha sâu l ắng đôi với quê hương đất nước” (81, Tr.62)
Đối với Đạm Phương, người đời sau đã cố gắng tìm tòi, sưu tầm nghiên cứu và đánh giá về bà:
“V ăn tài nữ sử, sư phạm nữ công, e khi nữ giới yêu cầu, đi phó hội theo chân bà Trưng
N ữ; Khí phách nam nhi, tinh hoa Nam Việt, nhớ thuở Nam Giao truy điệu, lên diễn đàn thay m ặt cụ Sào Nam”
(Thảo am Nguyễn Khoa Vy câu đối đọc trong lễ truy điệu Bà tại Huế)
“H ọc vấn uyên thâm như Phục nữ Văn đi chương tuyệt diệu tựa Tào Nga”
(Sư Viên Thành – Huế)
“ Đạm Phương nữ sử - Nữ văn hào ái quốc Việt Nam”
(Lời ghi trên bia mộ tại Lạc Lâm - Thanh Hóa)
Đó là những lời khái quát bức chân dung cao quý của một phụ nữ quý tộc có tài năng, nghị lực, tư tưởng tiến bộ, của một nữ văn sĩ có tấm lòng yêu nước thương dân sâu
sắc Cuộc đời, sự nghiệp văn học, sự nghiệp giáo dục của bà có ảnh hưởng lớn tới phong trào phụ nữ đương thời
Từ góc độ phong cách nghệ thuật, tác giả Đạm Phương nữ sử (1995) có nhận xét về tính dân tộc đậm đà trong cách sử dụng đa dạng các thế loại, đề tài và từ ngữ và đó cũng
là dấu hiệu bước đầu sự hiện đại hoá trong thơ bà: “Đặc điểm chung nổi bật của những
bài thơ này là: từ ngữ thuần Việt, lời thơ trong sáng, giản dị mà thấm thìa, hàm súc, thể thơ đa dạng, bên cạnh nhũng thể tứ tuyệt, song thất bát cú, cố phong truyền thống đương
th ời, là lục bất, song thất lục bát thắm đượm màu sắc dân tộc”, “Đa dạng trong đề tài và
Trang 11th ể loại Nội dung tiến bộ, tình cảm cao thượng, cách dùng từ thuần Việt nhuần nhị, trong sang” (2, tr 50) Tác giả còn nêu hạn chế về hình thức biểu đạt của thơ bà - của
một thi sĩ trong buổi giao thời là điều tất yếu Những ý kiến trên quả cũng thỏa đáng với người phụ nữ quý tộc tài hoa
Nhận xét về Tương Phố, ông Phạm Quỳnh cho Giọt lệ thu là một tiếng khóc dài của
người mệnh bạc Theo lời ông Rebufat thì một người đàn bà tầm thường không bao giờ
có được khối tình thâm thiết như vậy, mà cái khối tình thâm thiết đó không được nằm ở lòng khách văn chương thì cũng không sao diễn dịch được một cách tài tình mà cảm động đến thế Ông đánh giá Tương Phố là một người đàn bà về hạng cao đẳng và chịu ảnh
hưởng nhiều văn chương lãng mạn của nước Pháp Trong bài diễn thuyết “Cô Nguyễn Thị
Kiêm nói v ề vấn đề nữ lưu và văn học”, Manh Manh nữ sĩ đã dành đôi lời nhận xét về tài
năng văn chương của Tương Phố để làm minh chứng cho sự khẳng định khả năng sáng
tạo của nữ giới trong lĩnh vực văn học nghệ thuật: “Lại thử đọc một đoạn văn sau này
trong bài Gi ọt lệ thu của nữ sĩ Tương Phố thì ta sẽ thấy thiệt là tình thâm, giọng thiết, phi ng ọn bút đàn bà không lấy đâu được lời văn thống thiết như thế, và nếu không phải là đàn bà về hạng cao đẳng thì cũng không lấy đâu được cái tình cảm nặng nề như kia”,
ông Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận (Văn học Tùng thư) cũng đồng ý với những
nhận xét trên và còn đưa ra những ý kiến cụ thể hơn Đứng ở góc độ chủ thể sáng tác, Thiếu sơn viết: “Tương Phố những là tiêu biểu cho hạng phụ nữ đó Cái vết thương tâm
c ủa nữ sĩ đối với người thường thì chỉ đau đớn nhất thời rồi cũng theo ngày tháng mà lành l ại Song đối với nữ sĩ thì nó đã thành nên một vết thương bất trị, vì cái khối tình
c ủa nữ sĩ nó nặng hơn người thường, lại vì cái trí tưởng tượng mộng ảo đã phóng đại nó
ra cho n ữ sĩ phải vì nó mà đau khổ trong cả không gian lẫn thời gian” Theo ông, tiếng
khóc chồng vượt qua cả không gian, thời gian của Tương Phố là do có chất liệu thực của
cảm xúc và khả năng tưởng tượng, sáng tạo của người nghệ sĩ dệt thành Đồng thời ông còn đánh giá cao vị trí, vai trò, ảnh hưởng của tác phẩm, của Tương Phố đối với lịch sử
văn học dần tộc và SƯ phát triển nhận thức của phụ nữ nước ta trong thời kì này “Tôi
Trang 12phê bình Tương Phố phu nhân chẳng phải chỉ có ý phê bình một nhà nữ sĩ có tài, mà lại còn mu ốn khảo sát tới một người tiêu biểu cho một dạng nữ lưu đã từng có ảnh hưởng đến lịch sử văn học và lịch sử tiến hóa của phụ nữ xứ ta”
Phê bình về Tương Phố cũng phải kể đến Vũ Ngọc Phan với Nhà văn hiện đại
(1942) Tác giả đã dành 16 trang (từ tr.156 172) để nhận định đánh giá về nội dung - nghệ thuật cũng như vị trí thơ văn của Tương Phố trong quá trình hiện đại hóa văn học
Trong đó có 11 trang phê bình bài Giọt lệ thu ông đã viết: “Bài Giọt lê thu mà Tương
Ph ố viết mùa thu năm Quý Hợi (1923) và đăng ừong tạp chí Nam Phong cách đầy mười năm có thể coi là bài mở đầu cho một lối thơ thê lương, ảo não gần đây Cái buồn của Tương Phố là cái buồn có cớ, cái buồn thật sự, cái buồn ghi sâu tận đáy lòng, nhưng nó
đã lây sang ít nhiều tâm hồn đa cảm, làm cho họ có những cái buồn vô cổ, những mối
s ầu không đâu”, ông còn so sánh Đông Hồ với Tương Phố “Hai người cùng là bỉnh bút
c ủa tạp chí Nam Phong - Người ta thấy Đông Hồ là thợ thơ, còn Tương Phố mới thật có tâm h ồn đặc Việt Nam, không chịu ảnh hưởng một cái học ngoại lai nào cả” Như vậy,
ông đánh giá rất cao cái tôi, tràn đầy cảm xúc mang đậm bản sắc Việt Nam đã tạo nên nội dung trữ tình đặc sắc của thi phẩm Bên cạnh đó là nét riêng về giọng điệu “Tôi đã nói
m ỗi bài thơ trong tập Giọt lệ thu là một tiếng khóc thiết tha ảo não, vì mỗi đoạn văn xuôi
là m ột đoạn kể lể, rồi hết đoạn kể lể là đến lúc khóc than”, cụ thể hơn “Thơ của bà nhẹ nhàng, d ễ dãi như những câu ca dao cẩm tú, nên có sức cảm người ta về âm điệu trước,
r ồi về ý sau”, “mỗi đoạn văn vần là một tiếng khóc thiết tha, ai oán” còn “văn xuôi của Tương Phố ương bài này ngày nay chắc nhiều người cho là cố, nhưng thật là một lối văn đặc biệt, vì nó gần như thơ” Tiếp đến là sự kế thừa truyền thống nhưng đạt mức điêu
luyện trong Khúc thu hận, Tái tiếu sầu ngâm “Bài Khúc thu hán làm thế song thất lục bát
là m ột bài rất điêu luyện và ý cực hay, nhiều câu không khác gì những câu trong Chinh phu ngâm” Tác giả chỉ ra điểm mạnh của Tương Phố khi dùng thể thơ lục bát hay song
thất lục bát “Dùng hai thể thơ đặc biệt Việt Nam để diễn tả những tính tình đặc Việt Nam
th ật là rất hợp; vì lẽ ấy mà hai thể thơ đó, bà đã có những bài tuyệt tác” Như vậy, ở
Tương Phố đã bắt đầu có cái mới trong thi hứng và có sự kết hợp giữa yếu tố hiện đại và truyền thống Hình thức thể hiện cũ, nhưng cảm xúc rất thực, rất gần gũi trong thế giới
Trang 13tâm linh của con người cá nhân Những ý kiến của vũ Ngọc Phan đã giúp ta hiểu rõ hơn tác phẩm của Tương Phố
Nội dung cách tân trong thơ Tương Phố được Bùi Xuân Uyên bàn tiếp trong lời tựa
Mưa gió sông Tương (1958): “Giọt lệ thu năm nào đã thấm trong văn học sử Cái tên của Tương Phố đã đánh dấu một nỗi buồr” Từ giá trị của hai tác phẩm, tác giả đã khéo đánh
giá vị trí kế thừa tinh hoa văn học quá khứ của Tương Phố Tiếp theo là Quách Tấn: “Thơ
trong hai t ập này đều giai tác, có nhiều câu tuyệt tác, đổi với Chinh phụ ngâm của Đoàn
Th ị Điểm và Ai tư vãn của Ngọc Hân Công Chúa thật đời nay không thẹn với đời xưa” và
“N ữ sĩ Tương Phố là một cây gió có trầm Giọt lệ thu và Mưa gió sông Tương là trầm và
k ỳ nam, còn bao thơ khác đều là dát có mùi thơm ” (77, tr 156) Cách nói so sánh càng
tôn thêm giá trị thi phẩm của nữ sĩ
Nguyễn Tấn Long lại chú ý tới nghệ thuật biểu hiện cảm xúc của nữ sĩ mà ông cho
là nét độc đáo: “Từ lối dùng chữ đến cách gieo vần là cả nghệ thuật Không sáo, không
ki ểu cách, trái lại bà thường dùng những chữ thông thường nhưng không phải vì thế mà làm cho bài thơ kém hắn ý tứ hay bị lạt lẽo, vô vị ”, tiếng thơ được “cấu tạo bằng tim máu và nước mắt”, “không gò bó, gượng ép hay giả tạo” (54, tr.112)
Năm 1997, Mai Hương không chỉ đưa ra những nhận xét đồng nhất với những người đi trước mà còn đánh giá khá cao đặc điểm nghệ thuật thơ Tương Phố “ Chính điều đó đã tạo nên nét riêng độc đáo có một không hai của nữ sĩ, góp phần khẳng định vị
úi của Bà trong thi đàn Việt Nam nửa đầu thế kỉ” (39, tr 139)
Về phong cách độc đáo của Tương Phố, Hương Nguyên cũng đã khẳng định thơ bà
có “s ự tương đồng về âm điệu giữa chúng với những bài dân ca Việt Nam”, nhưng ý
nghĩa sâu sắc được thể hiện dưới “những câu chữ được chọn lọc hết sức công phu”, nên
thơ bà vẫn có điểm khác với dân ca và thơ của Đông Hồ khóc vợ Tác giả còn đánh giá cao sự đóng góp của thơ bà vào tiến trình hiện đại hóa văn học nước nhà, “Mặc dù đề tài
c ủa bà phần lớn giới hạn ở những tâm tư riêng Tương Phố đã thành công ương việc đẩy nhanh trào lưu lãng mạn của văn học Việt Nam ở thời kì chữ quốc ngữ mới phát triển”
(61, tr 65)
Trang 143.4 VÂN ĐÀI:
Trong phần hai của Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh - Hoài Chân đã giành cho mỗi nhà thơ nữ trong phong trào thơ mới những ý kiến phê bình riêng tinh tế ngắn gọn về mỗi phong cách Với Vân Đài, tác giả viết: “Bài nào cũng được Không có gì sâu sắc Vân
Đài chỉ là một người chơi thơ Nhưng lời ửìơ bao giờ cũng nhẹ nhàng, êm ái Ít khi tiếng Nam có v ị ngọt ngào như thề Ấy cũng vì vân Đài ưa nói những gì rất mong manh rất bình yên Nh ững câu xôn xao nhất như:
“ Gió xuân đâu biết cho lòng thiếp
Ôm ấp bên mình thiếp mãi chi?”
thì l ại là những câu phỏng ứieo thơ Đường Ai ngờ thơ Đường còn có thể gửi về cho thơ
Vi ệt thời nay chút hương sắc dục” (79, Tr.288)
Nhận xét nội dung nghệ thuật thơ vân Đài, Thiếu Mai có những ý kiến khá tinh tế,
trên cách nhìn đa diện Thơ Vân Đài “bao giờ cũng chứa chất nỗi u hoài”, “niềm đau
đớn” “nỗi thất vọng thầm lặng” của một tâm hồn “khao khát tự do mà không tìm thấy đâu
là l ối thoát” Thơ viết về thiên nhiên thì “thanh tao, duyên dáng nhưng u buồn như tâm sự
thầm kín của chị, còn tỉnh yêu “chỉ là một thứ tỉnh tuyệt vọng” có ước mơ nhưng vẫn chí
là ước mơ của kẻ bơ vơ”, hoài bão của “một tâm hồn lẻ chiếc” Vê nghệ thuật thì vân Đài
chịu ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường, hình thức diễn đạt “rất đơn điệu”, chủ yếu là thể
thất ngôn bát cú, “thỉnh thoảng mới dùng thơ tám chữ”, “không làm thơ tự do bao giờ” Nhưng nhìn chung thơ đã mang “nội dung tư tưởng tình cảm mới, chắn thực của thời đại” (58, tr 35)
Mã Giang Lân, và tác giả Từ điển văn học Việt Nam cùng Mai Hương cùng có
những ý kiến nhận xét tương tự về nội dung, hình thức thơ vân Đài Chủ đề “con người
cô đơn, lẻ chiếc” xuyên suốt nhiều bài thơ của Vân Đài Và so với Anh Thơ, Hằng
Phương, vân Đài “suy nghĩ về cuộc đời sâu sắc hơn, có phần cô đơn hơn” (50, tr.45)
Hình thức thường là “lối thơ 7 chữ, vần điệu câu chữ theo niêm luật gò bó thơ Đường”
(50, tr.59) Đồng thời Thiếu Mai, Mã Giang Lân đã chỉ rõ hạn chế trong thơ Vân Đài:
“còn nhiều hình ảnh mòn sáo, từ ngữ xưa cũ” khiến ý thơ bị nhạt đi, và hạn chế xúc cảm
Trang 15của người đọc Nhưng điều đó không làm mất đi giá trị của thơ vân Đài vì đó là “một
ngh ệ thuật gắn liền với đời sống riêng tư và đời sống xã hội rộng lớn” (50, tr.59)
Theo Hương Nguyên đặc điểm phong cách thơ vân Đài là đem lại cho độc giả
“nh ững cảm xúc êm dịu, thanh thoát” (61,tr 15), còn Anh Thơ thì “Vân Đài có được
nh ững câu thơ như chạm khắc trước vẻ đẹp thần tiên” (87, tr 15)
Với Hằng Phương, tác giả Hoài Thanh viết: “Thơ Hằng Phương cùng một giọng êm
d ịu, ngọt ngào như thơ vân Đài Nhưng ít dấu tích thơ Đường và thành thực hơn” '“Tình quê còn đưa thi hứng cho Hằng Phương nhiều lần nữa Có khi nó lẫn với lòng thương người mẹ đã khuất có khi nó chỉ là tình lưu luyến cảnh quê hương Những bức tranh nho nh ỏ thấy đơn sơ mà xinh tươi làm sao! Hồn thi nhân âu cũng thế” (79, Tr 305) Như
vậy, thơ bà mang đậm tính chất Việt hơn bởi nó mang đậm tình quê hương hơn
Tuy cách viết khác nhau, nhưng Nguyễn Tấn Long có những ý phê tương đồng với
Hoài Thanh khi đánh giá nội dung, giọng điệu thơ Hằng Phương là “Hồn thơ của Hằng
Phương là hồn quê, luôn hướng về nơi sơ sinh và ừưởng thành của mình”, “nói chung,
ti ếng thơ của Hằng Phương là một điệu nhạc dìu dịu, êm êm, không thiết tha, không sôi
n ổi, nhưng không tẻ nhạc” (54, tr 1143)
Theo Anh Thơ: “cái mạch làm thơ Hằng Phương được thân mến là ''chữ tâm” “là
t ấm lòng yêu thương con người” Chính tình yêu sâu nặng với con người, cuộc đời là
nguồn xúc cảm dồi dào để Hằng Phương “thấy được những vẻ đẹp nên thơ của cuộc
sống” (87, tr.15) Đặc biệt Hương Nguyên đã chỉ ra nét riêng của thơ Hằng Phương trong
sự so sánh với Anh Thơ “Cũng như Anh Thơ, Hằng Phương phải được coi là nữ thi sĩ
c ủa đồng quê ” “Hằng Phương là nhà thơ của cảm xúc, thường nhắm đến việc miêu tả
nh ững tình cảm gây xúc động và cảnh sắc tươi vui” (6l, tr 68)
3.6 MANH MANH
Tác giả Thi Nhân Việt Nam đã nhắc đến tên một số nhà thơ nữ trong phong trào thơ mới, trong đó có Manh Manh Tuy không có bài giới thiệu riêng như các nhà thơ nữ khác nhưng nữ sĩ đa được tác giả giới thiệu như một người lính xung kích dũng cảm đấu
Trang 16tranh cho phong trào thơ mới: “Từ hai tháng trước, hôm 26-7-1933 một nữ sĩ có tài và có
gan, cô Nguy ễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn hội khuyến học Sài Gòn hết sức tán dương Thơ
m ới Hội khuyến học Sài Gòn thành lập đến bây giờ đã 25 năm Lần thứ nhất bạn gái lên
di ễn đàn và cũng là lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như
th ế” Qua lời bà chủ báo Phụ nữ tân văn, ta hiểu thêm ý nghĩa của hành động dũng cảm
này “M ột người thiếu nữ chống lại bao nhiêu nhà thủ cựu trong thi giới mà nói rằng cần
ph ải tả sự thật đời nay trong khuôn khổ rộng hơn khuôn khổ đường thi” (81, Tr.45) Lời
nhận xét này làm rõ quan niệm về thơ mới của Manh Manh Thơ phải có sự thay đổi trong thi hứng, thi pháp Nội dung phản ánh phải bám rễ vào thực tế cuộc sống đang diễn
ra Từ nội dung ấy cần phải có một hình thức thể hiện tự do hơn khuôn mẫu xưa Quan
niệm đó đã trở thành khuynh hướng mới trong sáng tác của chính nữ sĩ, như Lưu Trọng
Lư trong bài Một cái khuynh hướng mới về thi ca có viết “Gần đây trên trường văn học,
th ấy xảy ra một cái khuynh hướng rõ rệt, mới lạ, mang danh là lối thơ mới Đại biểu cho
c ải khuynh hướng ấy, đáng kể nhất thì ngoài Bắc có ông Thế Lữ, mà trong Nam có cô Nguy ễn Thị Kiêm Cả hai người đêu coi bộ sốt sắng lắm ” (PNTV số 216 ngày 14 - 9 -
1933) Không chỉ dùng lý lẽ mà nữ sĩ còn sáng tác để đấu tranh cho thơ mới thắng lợi
Thực tế Manh Manh đã làm những bài thơ có câu dài đến 14 chữ, 27 chữ mà sau này đã
bị Hoài Thanh phê bình Thơ nữ sĩ bước đầu mang phong cách riêng như Thanh Việt Thanh đi nêu: “độc giả thấy ở thơ nữ sĩ những rung động rất chân thành khi làm thơ, mà làm với phong cách phóng túng nhưng không mất đi vẻ thùy mị của thơ, nghĩa là vẫn giữ
được người thưởng thức” (81, tr.29) Tiếp theo là ý kiến của Hương Nguyên “bài thơ của
bà vi ết theo một phong cách không chỉ phớt lờ quy tắc cũ mà còn đem vào thơ ca một tư tưởng lãng mạn mới thường cởi mở với những khát vọng tình yêu” (61, tr 66) Nhìn
chung các ý kiến đều ngợi khen Manh Manh là “một nữ sĩ có tài và có gan” (79, tr.37)
Anh Thơ cũng như Hoài Thanh và những nhà phê bình khác còn dành cho Manh Manh một vị trí thật xứng đáng “Manh Manh là một trong số những người đi tiên phong
cho s ự lên ngôi và thắng thế của Thơ Mới” (87, tr 13)
3.7 NGÂN GIANG:
Trang 17Ngân Giang không có tên trong Thi Nhân Việt Nam, nói như thi sĩ Thẩm Thệ Hà
“Th ời tiền chiến Hoài Thanh, Hoài Chân đã không dành cho nữ sĩ một địa vị xứng đáng trong Thi Nhân Vi ệt Nam Ta có thể cho đó là một sự sơ sót đáng tiếc” (54, tr 667)
Nhưng nữ sĩ vân được coi là một gương mặt nữ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới nửa đầu thế kỉ
Theo ý kiến của Nguyễn Tấn Long “Đường luật thất ngôn bát cú là thể thơ thích
h ợp với nữ sĩ nhưng không vì đó mà ta liệt nữ sĩ vào phái cổ điển” Qua việc khảo sát
những chủ đề những hình thức thể hiện trong thơ nữ sĩ, ông đã rút ra những nhận xét khá tinh tế, dung dị về đặc điểm phong cách thơ Ngân Giang: “Ngân Giang là người đàn bà,
hơn nữa, một nữ thi sĩ, nên đọc thơ ta thấy tâm tình nữ sĩ chân chất, tình thương đậm đà, trung th ực như những hình ảnh phản chiếu từ chiếc gương trong sáng” và thơ “đậm đà tình ý, l ời thơ thanh thoát dễ dàng rung cảm người đọc” (54, tr.673) Theo ông, thơ Ngân
Giang không chỉ thành công trong việc vượt qua những quy định khắt khe của thể Đường
luật cũ kĩ mà còn mang đến những cảm giác về sự mới mẻ cho độc giả
Mai Hương cũng đồng quan điểm khi nhận xét những nét mới trong cảm xúc thơ
Ngân Giang, nhưng lại khẳng định: “Thơ Ngân Giang mang bản sắc riêng độc đáo”, “Đó
là m ột dòng thơ có nhận Thơ mới làm một nguồn mạch không nhỏ của mình, nhưng dòng
c ổ điển trong thi sĩ vạm vổ hơn đã đồng hóa, đã hòa tan hết thảy cái tôi - cá thể - cá nhân vào cái tôi - Trượng phu của Con Người - Trời - Đất đứng giữa nước non xưa” và “thơ
N gân Giang khi là độc tấu, khi là hòa tấu của niềm say mê sự nghiệp khách anh hùng và
n ỗi buồn nhân thế” (38, tr 48) Theo đó, tính chất giao thời giữa cũ - mới đã xuất hiện,
nhưng trong đó cái cũ ngày càng thuần thục hơn đã chiếm ưu thế đế tạo nên nét riêng
trong thơ Ngân Giang Đánh giá nội dung yêu nước, nhân đạo trong thơ nữ sĩ, Hương
Nguyên đã nhấn mạnh: “Nhìn chung, Xuân mong đợi, Mười bài tâm sự là những bài
miêu t ả chân thật nhất tâm tư của chính bà”, “Không giông phần lớn các nữ sĩ ở thời kì này ch ủ yếu viết về đề tài tình yêu, Ngân Giang thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của bà đối
v ới các chiến sĩ chiến đấu vì nền độc lập tự do của xứ sở”, “Thơ Ngân Giang cũng thể
hi ện lòng thương cẩm đối với những người yếu đuối ”, “Qua tác phẩm, Ngân Giang
Trang 18hi ện ra như một nhà thơ của niềm thương cảm”, và “Quả thực những bài thơ yêu nước
c ủa Ngân Giang là một minh chứng rằng các nữ sĩ Việt Nam không thua kém bao lăm đồng nghiệp nam giới trong việc bộc lộ lòng yêu nước” (61, tr 69)
Trên báo Phụ nữ chủ nhật, số 8, ngày 11-3-2001 có đăng lời giới thiệu thơ Ngân Giang của Phạm Hồ Thu Theo tác giả, “nữ sĩ Ngân Giang là một hiện tượng đặc biệt của
n ền thơ Việt thế kỉ 20” Thơ bà đặc biệt phải chăng như lời tác giả viết: “Trưng nữ vương
c ủa Ngân Giang nữ sĩ là bài thơ hay nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam viết về vị nữ anh hùng dân t ộc Trung Trắc”, “Dù với dòng thơ cổ điển, luật Đường niêm luật chặt chẽ, câu ch ữ uyên bác, thâm trầm, mang chở sáng tạo lâm hồn, tình cảm dân tộc hay với
nh ững dòng thơ lục bát đa tình u uẩn cùng hồn dân tộc, thơ Ngân Giang là cuộc hạnh
ng ộ của một thế hệ đất Việt vừa biết “chau khóe hạnh” đi cùng thế hệ nuôi mộng hải hà,
v ừa muốn giữ gìn và xây dựng đến cùng những giá trị đích thực phụ nữ Thơ bà vừa giàu hào kh ỉ vừa buồn xa vắng, thơ bà là tiếng gọi vừa dịu dàng vừa mãnh liệt của một khát
v ọng sống đến tận cùng cho cái Thiện và cái Đẹp ”
Đó là những lời có ý nghĩa tổng kết, khát quát và đánh giá rất cao của đời sau đối
với một phong cách thơ độc đáo bởi có sự kết hợp giữa những phong cách tưởng như đối
lập nhưng lại rất thống nhất trong một hồn thơ “tài hoa cổ kính” (Anh Thơ)
Hoài Thanh đã nhận xét thơ Mộng Tuyết “hoặc nhẹ nhàng hí hởn, hoặc hàm súc
lâm ly, ho ặc nhớ nhung bát ngát, hoặc xôn xao rạo rực, tổng chi là lời một thiếu nữ, khi
t ự tình, khi đùa giỡn, khi tạ lòng người yêu Người xem thơ bỗng thấy lòng run run như khi được đọc thư tình gùi cho một người bạn: người thấy mình đã phạm vào chỗ riêng tư
c ủa một tâm hồn, trong tay dường như đương nắm cả mộ niềm ân ái hay như bài đề
t ặng bộ Việt Pháp tự điển, những lời tuy bình dị mà có một vẻ yêu kiêu riêng tưởng ngòi bút đàn ông khó có thể viết ra được” (79, tr.299) Tác giả đã khám phá được chất nữ
trong hồn thơ nữ sĩ thuở mộng mơ, khuê các, nhưng bên cạnh đó còn là một hồn thơ gắn
bó với cuộc đời thực của nhân dân, đất nước mà người phê bình chưa đề cập tới
Trang 19Điều mà Hoài Thanh chưa nói tới đã được Nguyễn Tấn Long bổ sung và làm rõ
hơn Theo ông, Mộng Tuyết “mang một sắc thái nho phon”, “con người đa cảm đa tình”
nhưng “đa tình mà không để cho tình làm hoen ố nhũng ý tưởng thanh cao, đa cảm nhưng không để giấc quan tràn ra ngoài thể chất”, hay “bầu trời thơ đã sống trong
nh ững trang sách huy hoàng - rực rỡ, cối mộng của người thơ Cái đẹp ấy, tâm hồn ấy đã đúc thành tiếng thơ thầm trong tông Mộng Tuyết” (54, tr.1137) Trên cơ sở đó và bằng
cách nói so sánh, có hình ảnh, tác giả khái quát nét tiêu biểu thơ của nữ sĩ là “lãng mạn
kín đáo”, là “chững chạc” và “được điểm nhẹ đường nét xưa cũ thấm nhuần tinh thần Đông Phương như nét cọ phóng họa trong bức tranh thủy mặc của Trung Hoa” (54,
tr.1143) Bên cạnh cái tôi với những cảm xúc mới lạ, chân thật, “nữ sĩ còn đế tâm hồn rung động trước nguy vong của dân tộc” (54, tr 1142)
Vẻ đẹp riêng của thơ Mộng Tuyết được khẳng định tiếp qua lời nhận xét của tác giả
Từ điển nhà văn Việt Nam: “Những bài tíiơ nhỏ nhẹ của Mộng Tuyết nổi lên với tình cảm
h ồn nhiên, nhí nhảnh, đượm vẻ ngọt ngào hạnh phúc của một cô gái khuê các đang được yêu ” đã vượt lên trước “cái buồn cô đơn, da diết của thơ ca đương thời” và “tình cảm
c ủa nhà thơ không chỉ khép lại quẩn quanh cái tôi riêng tư mà còn nhạy cảm, rộng mở trước nỗi khổ của đồng bào mình” Từ sự nhận xét riêng về thi hứng, tác giả hướng tới
phong cách của nữ sĩ “Thơ Mộng Tuyết ít đi vào ngõ ngách tâm hồn con người, không có
bài đột xuất về nghệ thuật Nhưng phong cách khá thõng nhất”, giọng thơ “nhẹ nhàng thanh thoát” đáng yêu
Bàng Bá Lân cũng chú ý tới “cái mơ mộng dịu hiền của những cô gái hay chữ thời xưa ” trong tâm hồn đa cảm của Mộng Tuyết, với ông, thơ nữ sĩ thường êm đềm lưu loát
chứng tỏ một tài nghệ vững vàng, và nữ sĩ là người của thời đại này nên thơ “thấy vẻ nhí
nh ảnh, tự nhiên cùng những xao xuyến, rạo rực, ước mơ như những cô gái mới” (45,
tr.l07) Ông phát hiện thơ nữ sĩ thường là “ý xưa tứ cũ” chữ còn “dễ nhàm dễ sáo” Đó
cũng là đặc điểm tất yếu của thơ nữ trong buổi giao thời Những đặc điểm về phong cách
nói trên trong thơ Mộng Tuyết còn được Hoài Việt nhắc lại: “Thơ Mộng Tuyết có màu
s ắc cổ phong Hình ảnh, từ ngữ có chọn lọc, đẹp theo kiểu thẩm mĩ cũ, đôi khi còn có một
Trang 20s ố từ Hán - Việt chen vào, tất nhiên khó tránh khỏi sáo mòn” song “do có hồn thơ, có xúc
c ảm thực nên cũng dễ được chấp nhận, dễ đi vào tâm hồn người đọc” (103, tr 14), và
theo Hương Nguyên, thơ Mộng Tuyết “mang nặng ảnh hưởng thơ Đường luật”, “Kết
qu ả là thơ bà mang giọng điệu và có nhiều điển cố tiêu biểu rất phổ biến trong thơ chữ Hán” n ến bà là nhà thơ “ít chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây nhất” (61, tr 69)
Theo tác giả Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỉ XX thì giá trị sâu sắc của thơ cô học trò
nhỏ của Trí Đức học xá ngày nào chính là: “Tiếng thơ Mộng Tuyết dù được tạo thành bởi
“ ý xưa tứ cũ” hay “thắm nhuần tinh thần Đông Dương” thì xuyên suốt vần thấm đẫm
m ột chữ “tình”: Tình của bà đối với Người, với Đời, với Non nước, Quê hương Chữ tình
ấy cung bậc lúc nào cũng trong vắt dáng nét hồn nhiên, rạo rực” (l, tr 124) Và Mộng
Tuyết - cây bút nữ Nam Bộ duy nhất được nhắc đến trong Thi Nhân Việt Nam tuy
“không th ật sắc sảo tài hoa” nhưng “dịu dàng, giàu tình cảm và không thiếu tinh thần yêu nước” và “đã duy trì một ngòi bút dài lâu” (1, tr 25) Nữ sĩ quả thật xứng đáng với
những lời nhận xét, đánh giá trên
3.9 ANH THƠ:
Đặc biệt với Anh Thơ, Hoài Thanh đã có nhiều ý kiến khá cụ thể Tác giả gọi đó là
“m ột thi sĩ có danh” và nhận xét văn phong Anh Thơ có “cái lối viết rõ ràng và chắc
ch ắn”, lối viết của người có học Những bài thành công không chỉ là do có sự lựa chọn từ
ngữ cảnh đẹp, hay phương pháp hiện thực mà còn bởi khéo làm thức dậy cảm xúc tư
tưởng của độc giả Còn đặc điểm nghệ thuật tả chân của Anh Thơ, tác giả viết: “Anh Thơ
t ừ lâu chỉ chuyên lối tíiơ tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thường Tranh quê có
b ức chỉ là bức ảnh; cái thản nhiên hàm xúc của nghệ sĩ đã nhường chỗ cho cái thản nhiên tr ống rỗng của nhà nghề Theo gót thi nhân đến đó, ta thấy uất ức khó thở: người
d ẫn ta vào một thế giới tù túng rồi không cho ta mơ tưởng đến một trời đất nào khác
n ữa” Theo tác giả, hạn chế của Anh Thơ là thơ tả quá thực, tỉ mỉ hiện thực giống như thơ
chụp ảnh cận cảnh mà thiếu sức gợi cảnh, gợi tình, trong khi “thơ phải là một tia sáng nối
cõi th ực và cõi mộng, mặt đất với các vì sao Thơ không cốt tả mà gợi ” Khi so sánh
với Bàng Bá Lân, tác giả đã cho “Anh Thơ là một người thành thị đi du ngoạn nên chỉ
Trang 21th ấy cảnh quê”, “Bàng Bá Lân hiểu cảnh quê hơn Anh Thơ; hiểu hơn vì mến hơn”, nhưng
“Bàng Bá L ần không có cái tì mỉ của Anh Thơ, không nhìn đủ hình dáng đời quê như Anh Thơ”
Tiếp sau ý kiến phê bình của Hoài Thanh - Hoài Chân là ý kiến của nhiều tác giả khác như Bàng Bá Lân, Nguyễn Tấn Long, Hoàng Trung Thông, Vũ Quần Phương, Văn Tâm, Hương Nguyên, Mai Hương, Trần Đình sử, Nguyễn Quang Hưng và chính cả Anh Thơ Nhìn chung, các ý kiến đều tập ừung vào việc phê bình những đóng góp về nội dung nghệ thuật cũng như khuynh hướng, phong cách sáng tác của Anh Thơ Phần lớn các ý kiến đều thống nhất khi đánh giá ưu điểm trong thơ nữ sĩ, còn về hạn chế cũng có người không đồng nhất với ý kiến của Hoài Thanh với nhiều mức độ khác nhau
Từ góc độ khuynh hướng, Nguyễn Tấn Long nhận xét Anh Thơ không giống như
hầu hết các nhà thơ đương thời mà đã tạo cho thơ mình “một sắc thái riêng biệt, độc
đáo” Đó là khuynh hướng thi ca đồng quê “lấy thiên nhiên làm bối cảnh, lấy nếp sống nông thôn làm đề tài chính và lấy phong tục miền nông thôn là nguồn sáng tác” Vì vậy
sự có mặt Anh Thơ íàm cho “thi ca dân tộc thêm phần phong phú” Những vần thơ là
những bức tranh tả chân trong sáng, rõ rệt và linh động Nó không phải là những “bức
ảnh chụp mà là một chuỗi hình linh động như một cuốn phim về hoạt cảnh được quay liên t ục trước mắt ta” Ý kiến này có khác với Hoài Thanh Về thể thơ, nữ sĩ “thường làm theo l ối 8 chữ, 3 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, hầu hết có 12 câu trong bài” Tác giả cũng khéo
léo nêu hạn chế “vì quá tôn trọng tinh thần cảnh vật cũng như hoạt cảnh mà không kết
h ợp sự rung động phải có của thi nhân” nên đọc thơ “thấy” nhiều hơn là “cảm” Anh
Thơ “còn ít dùng đến nội tâm”, “cái cảm xúc vào tiếng thơ”còn ít (54, tr 1301)
Văn Tâm vừa phân tìch những ưu điểm của Bức tranh quê “tập thơ này cũng thuộc
v ề lối thơ của người có học” (từ ý của Hoài Thanh), “thiên nhiên thân thuộc của quê hương đất nước”, “nhẫn tố chủ yếu tạo nên cái duyên của Bức tranh quê chính là dáng quê”, lại vừa phân tích những hạn chế trong thơ nữ sĩ như tác giả Thi Nhân Việt Nam đã
nhận xét Theo ông cái cảm giác “khó thở” của Hoài Thanh là do Bức tranh quê “chứa
nhi ều thành tố cảnh mà tình chưa tương ứng, nhiều thực quá mà còn thiếu hư, hiển ngôn
Trang 22t ả lấn át vô ngôn gợi Hầu hết thơ trong bức tranh quê chỉ mới như hoàn thành gợi một
n ửa - đó là những bài thơ dang dở” Cảnh dần dần cũng đơn điệu do trùng lặp, các yếu tố
“t hơ phong tục” ở cuối tập không còn sức hấp dẫn với người đọc, và một lý do làm cho
thơ có tính đơn nghĩa là thói quen sáng tác “mang dáng dấp công nghiệp” (76,tr.179)
Vũ Quần Phương cũng cho ưu điểm nổi bật của Anh Thơ ở tập đầu tay này là “bút pháp tả cảnh” chỉ vài chi tiết, chị đã gợi được thần thái của cảnh vật Mỗi bài thơ “đều
như được viết ngay tại chỗ” và tác giả “như bưng được cả cái hữu hình, lẫn cái vô hình
c ủa khung cảnh mà đặt lên trang giấy” (76, tr 165) Nói như Hoàng Trung Thông
“không được học đến nơi đến chốn, thế mà lại có tài Học lỏm người ta mà viết, viết vụng
vi ết trộm mà hay Quan sát cuộc đời mà có bản sắc riêng của mình Các tác phẩm nằm ngay trong t ấm lòng mình Vẫn tiiơ năm ngay trong trang nỗi niềm đối với quê hương, đối với sự vất vả của bà con trong xóm, trong làng, trong chợ búa” (85, tr 219)
Đặt trong sự so sánh, Hương Nguyên đã nhận xét “nếu Hằng Phương là nhà thơ
c ủa cảm xúc thường nhắm đến việc miêu tả những tình cảm gây xúc động và cảnh sắc tươi vui thì Anh Thơ lại là nhà thơ nghiêng về lí trí luôn hướng vào việc miêu tả bức tranh hi ện thực đời sống”, và thơ có giá trị hiện thực cao “với tác phẩm của mình, Anh Thơ xứng đáng được xem là một ừvng số những nhà thơ nữ hiện thực hay nhất ở giai đoạn Thơ mới có được vai trò quan trọng má thơ Đường đã có trong lịch sử văn chương”
Phần lớn các ý kiến trên tập trung đánh giá cao bút pháp hiện thực trong sáng tạo nghệ thuật của Anh Thơ Còn xét về mặt hạn chế trong thơ nữ sĩ, Bàng Bá Lân đã có ý bác bỏ khéo léo: “Vâng, thì chụp ảnh, nhưng chụp ảnh mà được những tác phẩm như
trên đây thì tưởng tượng trong văn chương Việt Nam cũng nên - hơn nữa - cũng cần có
nh ững nhà thơ chụp ảnh như vậy” Bởi vì, cũng theo ông chụp ảnh không phải chỉ làm
việc có tính máy móc mà “phải là một nghệ sĩ thực tại mới khám phá được giữa cái hỗn
độn tầm thường của sự vật những dáng hình khêu gợi và truyền cảm” để “rung cảm được người xem” (54, tr 1300)
Trang 23Bản thân Anh Thơ đã tâm sự để bênh vực cho mình: “Trướckhi làm Bức tranh quê
tôi cũng đã sáng tác nhiều bài thơ có đủ cả hai vế cảnh và tình, chứ không đến nỗi chỉ
bi ết làm một lối tả cảnh mà không biết tả tình Và khi làm Bức tranh quê tôi đã học được
l ối gợi tình cảm tíiật hàm súc của thơ Đường và phát triển bằng cách để khách quan nói lên s ự vui, buồn, yêu, ghét của mình ” (90, tr.15) Và nữ sĩ còn gắn mình vào thế giới
cảm xúc chung của các nữ sĩ trước cách mạng để rút ra nhận xét “Đọc thơ ca nữ trước
cách m ạng, có thể nói: không phải không có những tình cảm ủy mị, yếu đuối, những cảm xúc qu ấn quanh, vụn vặt Nhưng tình cảm lớn bao trùm trên hết vẫn là tình yêu sâu nặng
v ới con người và cuộc đời”, và khẳng định: “Tình yêu ấy là động lực để tôi viết Bức tranh quê v ới 45 bài trong vòng có một tháng” (88, tr l5) để hi vọng “tấm lòng chân tình trải
ra tron g thơ sẽ được bạn đọc đón nhận” (88, tr.13) Đồng thời nữ sĩ cũng tự nhận thấy
“L ời thơ trong Bức tranh quê có những vần còn thô sơ, nhưng có những câu hay mà đến
b ầy giờ trình độ có vượt hơn trước rất nhiều tôi cũng không làm được”, “Điểm lại tôi
th ấy Thơ mới đã cho tôi tập thơ Bức tranh quê với màu sắc hiện đại, dân tộc” (88, 15)
Nói như thế cũng có nghĩa là nếu không có những cảm xúc bắt nguồn từ tình cảm yêu thương con người và cuộc đời buồn nặng lúc đó thì khó có được sự thành công trong thi
phẩm của nữ sĩ Và thực sự nếu không có cảm xúc thì làm sao có thể gọi là thơ hay được
Về điểm này, người viết thấy nhận xét của Lê Quang Hưng và tác giả Từ điển văn
học Việt Nam có phần khách quanh hơn cả Theo Lê Quang Hưng, cảm giác đọc cả tập thơ thì có thể chia sẻ với cảm giác uất ức khó thở của Hoài Thanh, nhưng khi phân tích
từng bài thì thấy “Mỗi người làm thơ có một tạng cảm xúc, tâm tình” và “lắm kiểu ngụ
tình trong thơ” “Đã đành có khi Anh Thơ muốn hàm súc quá, muốn đế khách quan tự nói lên tình c ảm của mình quá đến mức người ta chẳng còn thấy xao động, bồng bột của
m ột cá nhân Nhưng mà nhiều bài trong Bức tranh quê vẫn chứa đựng một cái tình nhè
nh ẹ, kín đáo đối với cảnh sắc, con người chốn làng quê Đằng sau những bức ừanh cảnh
và người ấy chúng ta vẫn tìm thấy tíiẽgiới bên trong của hồn quê đất Việt” (26, tr 184)
và chính đặc điểm này mà “Anh Thơ đã đem đến một tiếng thơ điềm nhiên, có phần dửng
dưng, bình tĩnh”, “làm dịu tâm hồn” ngườị đọc bằng những bức tranh quê yên bình
Trang 24Đánh giá toàn bộ sự nghiệp thơ văn của Anh Thơ, Từ điển văn học đưa ra những
nhận xét khá toàn diện, hợp lý: “Tập thơ đầu- Bức tranh quê (1941) gồm 41 bài, là những
c ảnh nông thôn được sắp theo trình tự bốn mùa và được miêu tả bằng sự quan sát khá tỉ
m ỉ, sắc nét, độc đáo và nhạy cảm Trong lúc Thơ mới xoay quanh thi đề độc tôn về “cái tôi” thì cùng v ới thơ Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Bức tranh quê thế hiện khuynh hướng tìm v ề đồng quê, có phần trong sáng lành mạnh Cảnh nông thôn trong tập thơ phần nhi ều bẵng lặng, nhưng không phải không chứa đựng ít nhiều sự khao khát sống và yêu đương của một tâm hồn ừìiếu nữ tiểu tư sản và tâm sự bâng khuâng, u buồn của thế hệ
“ Thơ mới”“ Từ điển văn học còn chỉ ra nguyên nhân sự thành công cũng như hạn chế
trong thơ nữ sĩ “Những bức tranh thiên nhiên thường mới mẻ, đậm màu sắc và phong vị
dân t ộc” là do có năng lực quan sát tinh tường và cuộc sống gần gũi nông thôn; còn “đôi khi s ự kể lể”, “cảm xúc đơn sơ trong cấu tứ và ngôn ngữ” đò hạn chế một phần sức
truyền cảm của thơ bà
3.10 THU H ỒNG: (1922 - 1948)
Với Thu Hồng, Hoài Thanh chú ý tới giọng thơ của một thi sĩ trong hoàng tộc
“Người có cái ý muốn rất đáng quý là diễn đúng hình dáng riêng của hồn mình Có phải
vì th ế mà giọng nói của người có vẻ ngọng nghịu rất ít có trong thơ ca Nhưng tinh ý người lớn trong giọng nói trẻ con ấy thực dễ thương Thực ra Thu Hồng chỉ trẻ con ở cái
gi ọng”, “ngòi bút của nữ sĩ đã vẽ nên đôi bức tranh nho nhỏ, có lẽ chưa được nối nhưng
có m ột vẻ linh hoạt riêng” (79, tr.149)
Ông chỉ ra đặc điếm cái tôi mới mẻ cũng như bức tranh hiện thực về cái tôi tràn đầy
cảm xúc của nữ sĩ Tuy chưa nhiều, chưa đặc sắc lắm, nhưng cái tôi đó đã ghi được dấu
ấn riêng
Những ý kiến của Nguyễn Tấn Long góp phần làm rõ hơn đặc điểm đáng yêu trên
của hồn thơ nữ sĩ: “Trải qua hơn sáu mươi thi nhân, chúng tôi chưa thấy có nhà thơ nào
cho m ấy vần thơ của mình mang tính trẻ con, ngây thơ, trong trắng đậm nét trong thơ ca như Thu Hồng”, nghe tưởng “tiếng thỏ thẻ hồn nhiên của một bé gái năm, sáu tuổi”
Trang 25“Cái s ống trẻ” trong thơ Thu Hồng được ánh lên từ những kỉ niệm êm đềm tuổi ấu thơ và
tình yêu luôn sôi réo dâng trào trong hồn thơ
Hương Nguyên cũng có những ý phê bình khá tinh tế Về nội dung, thơ Thu Hồng
khắc sâu vẻ đẹp dịu dàng của xứ Huế, của những kỉ niệm thời ấu thơ, của tình yêu, cảnh đẹp và xúc cảm nội tâm lãng mạn về phong cách, tác giả đã so sánh với Tương Phố để làm rõ tính chất mới trong thơ Thu Hồng “Từ ngữ trong thơ Thu Hồng sáng sủa và giản
d ị hơn còn Tương Phố tíiường dùng những từ gốc Hán”, nữ sĩ có “xu hướng dùng phong cách hi ện thực và sinh hoạt hàng ngày hơn thơ những người viết theo nguyên tắc thơ Đường” (61, tr.67)
* Phê bình chung v ề thờ nữ Việt Nam nửa đầu thế kí XX:
Trên cơ sở những ý kiến phê bình riêng từng nữ sĩ nói trên, những ý kiến có tính
chất đánh giá chung về các nhà thơ nữ thời kì này cũng đã xuất hiện Đặc biệt nhiều vấn
đề của thơ nữ được đặt ra cùng với phần nhận định chung về Thơ Mới Tiêu biểu như ý
kiến của Hoài Thanh trong Một thời đại thi ca Theo ông: chung quanh Thế Lữ (người
đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm) là “những vì sao vốn ở một trời khác: Vân Đài,
M ộng Tuyết”, “chung quanh đôi bạn Xuân Diệu - Huy Cận có vô số thi sĩ bàn nhì bàn ba: Thu H ồng ” và “Cùng ra đời một lần với thơ Xuân Huy nhưng kém thanh thế hơn nhi ều là lối thơ tả chân Thơ mới vốn ưa tả chân hơn thơ cũ, nhưng làm những bài thơ tả chân bi ệt hẳn ra một lối chỉ có Nam Trân, Đoàn Văn Cừ và Anh Thơ Cũng có thể kể cả Bàng Bá Lân và Thu H ồng Anh Thơ, Thu Hồng có lẽ chi đi theo cái xu hướng gần sự
th ực, dẫu sự thực tầm thường là một đặc tính của văn học Phương Tây” Đồng thời, căn
cứ vào mức độ chịu ảnh hưởng thờ Đường, tác giả nhận xét tiếp “Hồn thơ Đường vắng
đã lâu, nay lại trở về trong thơ việt với Đỗ Huy Nhiệm, Vân Đài hoặc nó kín đáo tinh
vi hơn, hoặc nó rắn rỏi chắc chắn hơn, nhưng cũng nghèo hơn” còn Mộng Tuyết là một
trong số ít người “quyết giữ trọn nghĩa thủy chung với nàng thơ cũ Nhưng họ đã bị
ru ồng rẫy mà không hay”, và tác giả đã xếp Hằng Phương vào dòng “những nhà thơ tuy
có ch ịu ảnh hưởng phương Tây nhưng rất ít và cũng không chịu ảnh hưởng thơ Đường Thơ của họ có tính cách Việt Nam rõ rệt”
Trang 26Phê bình tập thơ Hương Xuân của bốn nữ sĩ Vân Đài, Hằng Phương, Mộng Tuyết, Anh Thơ, tác giả Lê Huy cận đã viết: “Các nhà thơ đàn bà ở xứ này còn hiếm, mà đã vào
th ế bất lợi do sự cạnh tranh ráo riết của các nhà thơ đàn ông gây ra Cho nên khi đọc Hương Xuân là cuốn sách nhỏ góp nhặt thơ của mấy nữ sĩ vân Đài, Hằng Phương, Anh Thơ, Mộng Tuyết, thì tôi thấy như đi vào chỗ đất quen Vân Đài vẫn là người vợ khuôn
m ẫu, rất mực yêu chồng Hằng Phương vẫn có những cảm động dễ dàng và nhẹ nhàng Anh Thơ đã đổi giọng, lối thơ văn xuôi đã làm cho nàng được giải thưởng, nay không còn n ữa, giọng vằn đã có vẻ bác học hơn nhiều Chỉ có Mộng Tuyết làm tôi ngạc nhiên, vì đột ngột và cử chỉ tự nhiên của cô gái phương Nam ” (91, tr.273) Bài điểm
báo nhận xét nhẹ nhàng mấy nét nổi bật của từng nữ sĩ, trong đó có nêu hạn chế của họ
Đó là trong cách diễn đạt vẫn thiên về lối mòn cũ, chứ chưa thật sáng tạo kể cả khi đã có
những cảm nghĩ mới chân thực
Những đặc điểm chung của thơ nữ nói trên đã được-Thiếu Mai, Hương Nguyên
khẳng định lại trong những nhận định có tính chất khái quát tiếp sau Theo họ, trong khi
hầu hết tác phẩm của các nhà văn nam nổi tiếng cùng thời hết sức thành công vì đã đem
vào văn học Việt Nam không khí tươi mát của thơ lãng mạn Pháp thì “phần lớn các nhà
văn nữ như Mộng Tuyết, Vân Đài, Hằng Phương, Ngân Giang và những người khác vẫn
ch ịu ảnh hưởng của thơ Đường luật Trung Hoa” Cụ thể là trong thơ các nữ sĩ tuy “tập trung vào nh ững chủ đề như tình yêu, tình cảm lãng mạn và cảnh thiên nhiên song không bao gi ờ đi quá hàng rào của ngôi vườn cũ trong đó chỉ những hình ảnh truyền thống như
“tuy ết trắng”, “trăng tròn” lại tràn đầy những nguyên tắc Khổng giáo” và “Chủ đề
tr ực tiếp phản ánh lòng yêu nước hiếm thấy trong tác phẩm của các nhà văn nữ giai đoạn này” Nguyên nhân dẫn đến số lượng, chất lượng của thơ nữ, trong nhiều trường hợp, không thế sánh được với đồng nghiệp nam, theo họ là do “hạn chế về giới tính và vai trò
c ủa phụ nữ trong gia đình, phần lớn phụ nữ bận bịu hơn nam giới và không dịch chuyển thường xuyên như nam giới” Nhưng hai tác giả cũng có sự phân định mức độ ảnh hưởng
văn chương Pháp của các nữ sĩ Trong đó Anh Thơ, Thu Hồng và Hằng Phương đã “giới
thi ệu phong cách tả thực Hơi hướng của họ vượt lên giới hạn của các bài giáo huấn do
nh ững người canh giữ già đặt ra Tác phẩm của họ là những xúc cảm cá nhân và đôi khi
Trang 27ph ản ánh nỗi buồn của sự cô độc” (61, Tr.70) và “Dù trong thời Pháp thuộc phải đương đầu với nhiều khó khăn, các nhà văn nữ vẫn đạt được những thành tựu có ý nghĩa và đáng khâm phục” (61, tr.32)
Chính Anh Thơ cũng có những nhận định chung về đội ngũ sáng tác của mình Nữ
sĩ nhận xét bạn đọc ngày nay đọc lại thơ các nữ sĩ trước cách mạng đều thấy có “chút gì
đó cổ kính mang dấu tích của thơ Đường - một số câu thơ, bài ửìơ còn dễ dãi trong hình ảnh, cảm xúc” (88, tr.16), nhưng không thể phủ nhận được giá trị nhân bản, nhân văn sâu
sắc toát lên từ thi phẩm của họ Bởi vì theo Anh Thơ, các cây bút nữ không chỉ có nhu
cầu trải nỗi lòng riêng tư mà còn “coi con người và quê hương đất Việt là cội nguồn của
c ảm xúc”, vượt lên “những tình cảm ủy mị, yếu đuối, những cảm xúc quẩn quanh vụn
v ặt”, tâm hồn họ hướng tôi, “tình yêu sầu nặng với con người và cuộc đời” từ “tự cảm thương mình” để “hướng đến côi nhân gian cảm thông, chia xẻ” (88, tr 15)
Trên đây chúng tôi lược thuật tình hình nghiên cứu thơ nữ nhũrig năm đầu thế kỉ
XX trong hơn nửa thế kỉ qua và nhận thấy rằng theo dòng thời gian, sự nhận thức, nhận xét, đánh giá hiện tượng văn học này đã có sự vận động, phát triển ngày càng đây đủ, tinh
tế và cụ thể khách quan hơn về cả giá trị nội dung - nghệ thuật Nhưng do góc đứng điểm nhìn của mỗi nhà nghiên cứu và thời điểm lịch sử khác nhau nên những đánh giá còn lẻ
tẻ, rời rạc chưa hệ thống, thống nhất Góc độ nghiên cứu còn hạn chế, mang màu sắc chủ quan Thực tế chưa có một công trình nghiên cứu tầm cỡ tương xứng với một hiện tượng văn học có giá trị này nên luận văn cố gắng đóng góp một cái nhìn khách quan, đầy đủ,
hệ thống, hợp lý hơn
4 Ph ạm vi nghiên cứu
Giai đoạn văn học nửa đầu thế kỉ XX đã chứng kiến sự ra đời của nhiều nhà thơ nữ Nhưng do điều kiện: thời gian đã quá lâu, tư liệu bị thất lạc, một số nữ sĩ sáng tác không nhiều hoặc chưa in thành tập, nên luận văn chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu mười nhà thơ nữ Việt Nam tiêu biểu nửa đều thế kỉ XX với phần thơ ca được sáng tác trước 1945
của họ Đó là: Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương, Tương Phố, Vân Đài, Hằng Phương, Manh Manh, Ngân Giang, Mộng Tuyết, Anh Thơ, Thu Hồng
Trang 285 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, luận văn vận dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lịch sử - lịch đại, đồng đại:
Xem thơ nữ đầu thế kỉ XX là hiện tượng văn học gắn liền với đời sống lịch sử, xã
hội và cá nhân nhà thơ, nên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi luôn đặt tác giả, tác
phẩm vào trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của một xã hội trong buổi giao thời để tìm hiểu Phân tích những biểu hiện cũng như sự đổi mới về thi hứng, thi pháp trong mối quan hệ
với thơ truyền thống, thơ hiện đại và sự thay thế dần có tính tất yếu giữa thơ Đường và thơ lãng mạn Pháp
5.2 Phương pháp so sánh
Xét thơ nữ đầu thế kỉ XX như hiện tượng lịch sử xã hội đồng thời là hiện tượng văn
học nghệ thuật, nên chúng tôi nghiên cứu trên cả hai bình diện thi hứng và thi pháp Trong đó đổi mới thi hứng dẫn đến đổi mới thi pháp còn đổi mới thi pháp là biểu hiện cho sự hoàn chỉnh quá trình đổi mới thơ Cả hai đặt trong bối cảnh lịch sử xã hội nửa đầu
thế kỉ và có sự so sánh đối chiếu với thơ ca giai đoạn trước, với thơ nam cùng thời và
giữa thơ của các nhà thơ nữ với nhau Trong khi so sánh, luận văn vận dụng kết hợp phương pháp thống kê, phân tích và hệ thống
6 Đóng góp mới của luận văn
Cố gắng tái hiện diện mạo thơ ca cũng như phát hiện sự cách tân về nội dung và nghệ thuật làm nên đặc trưng trong sáng tác của các nữ sĩ Từ đó, làm rõ sự kế thừa, tiếp
nối và phát triển của một dòng thơ nữ giữa con sông thơ Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa
Cố gắng phát hiện giá trị nhân văn trong tác phẩm cũng như xác định vị trí và ảnh hưởng của các nhà thơ nữ đối với đương thời và sau này
7 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn luận và kết luận, luận văn chia làm 3 chương:
Trang 29Chương 1: Đời sống xã hội, văn học và sự xuất hiện các nhà thơ nữ Việt Nam tiêu
biểu nửa đầu thế kỉ XX
Chương 2: Các nguồn thi cảm
Chương 3: Những đặc điểm nghệ thuật
Cuối cùng là phần thư mục với trên 100 tài liệu tham khảo, và phần mục lục
Trang 30CHƯƠNG 1: ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, VĂN HỌC VÀ SỰ XUẤT HIỆN CÁC NHÀ THƠ NỮ VIỆT NAM TIÊU BIỂU NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1 Đời sống xã hội
Sau tiếng súng xâm lược đầu tiên của thực dân Pháp ở Đà Nằng (1858), lịch sử dân
tộc Việt Nam chuyển sang một thời kì mới Những phong trào cứu nước do các sĩ phu lãnh đạo bùng lên mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại Những năm đầu thế kỷ XX là thời kì Pháp hoàn thành cuộc xâm lược về quân sự, tiến hành hai cuộc khai thác thuộc địa trên đất nước ta, chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành thay thế cho chế độ phong kiến
Nền kinh tế nông nghiệp mang nặng tính chất tự cấp tự túc ngự trị ngàn đời xã hội Việt Nam nay phải nhường dần vị trí cho nền kinh tế hàng hóa thuộc địa Bộ máy cai trị thực dân được tổ chức theo lối hiện đại, chặt chẽ, có quyền lực chi phối sâu, toàn diện mọi
hoạt động cũng như phá dần thế tự trị của làng xã ngày trước Thực dân Pháp thực hiện
âm mưu chia rẽ bằng chính sách chia để trị ở ba miền khác nhau, đồng thời thi hành chính sách kìm hãm công nghiệp để kinh tế nước ta không phát triển theo hướng tư sản hóa Chính sách kinh tế thực dân thế hiện ở ba phương diện: bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu và cho vay lãi Một mặt chúng mua rẻ nông phẩm, một mặt bán đắt công nghiệp phẩm và độc quyền ngoại thương Chúng còn độc quyền các ngành quan trọng như khai mỏ, giao thông, ngân hàng để đầu tư vào các ngành có lợi cho việc vơ vét xuất
khẩu Bên cạnh đó, chính quyền thực dân lợi dụng quyền thống trị về chính trị, duy trì bộ máy quan liêu cường hào và những luật lệ sưu thuế phong kiến để tăng cường bóc lột, chiếm đoạt ruộng đất của nông dân, tạo ra các vùng sản xuất hàng xuất khẩu Những việc làm trên của chúng đã gây ra bao cảnh phá sản, bần cùng, tha hóa đau lòng trong nhân dân ta Mục đích của kẻ xâm lược là kìm hãm sự phát triển đế biến nước ta thành một thị trường tiêu thụ cung cấp nguyên liệu, hàng xuất khẩu cho thương nghiệp Pháp và vĩnh
viễn phụ thuộc vào chúng
Mặc dù bị chính sách phản động của thực dân Pháp kìm hãm, nhưng những nhân tố
mới vẫn xuất hiện và góp phần thức tỉnh một xã hội vốn trì trệ từ lâu Việc mở mang giao thông, buôn bán đã tạo ra một thị trường thống nhất từ Bắc chí Nam và tạo điều kiện cho
Trang 31Việt Nam tiếp xúc với thế giới bên ngoài Những thị trấn mới đã thu hút nhiều người từ nông thôn ra và cả những thành tựu khác của tư bản chủ nghĩa Như vậy là cùng với chính sách kinh tế thực dân, với sự xuất hiện thị trường thống nhất, các thảnh thị đông đúc đã đóng vai trò trung tâm kinh tế, tiếp xúc với phương tây Xã hội Việt Nam đã có
những biến đổi sâu sắc, toàn diện từ chính trị kinh tế đến đời sống văn hóa Sau 1930,
tầng lớp xã hội cũ bị phân hóa, tầng lớp mới xuất hiện kéo theo bao mối quan hệ, mâu thuẫn, nhu cầu mới, tạo nên bộ mặt mới cho xã hội Việt Nam
Biến đổi trước hết là ở tầng lớp nho sĩ - tầng lớp đứng đầu trong “tứ dân”: sĩ, nông, công, thương Họ vốn được coi như một tầng lớp đặc biệt, tiến thân bằng con đường thi
cử, hưởng đặc quyền của chế độ phong kiến và có lý tưởng trung quân ái quốc sâu sắc Nhiệm vụ lưu truyền, bảo vệ văn hóa dân tộc đưa họ lên vị trí rất quan trọng trong đời
sống tinh thần của nhân dân Nhưng đến thời kỳ này, lớp nhà nho đã bị phân hóa mạnh Bên cạnh một số lui về ở ấn để giữ khí tiết, một số lo cuộc sống an thân chạy theo lối
sống kiểu công chức hưởng lương Pháp, là lớp nhà nho trẻ thức thời Thông qua sách báo
từ Trung Quốc, từ Pháp gửi về và những tác phẩm viết bằng chữ Nôm nêu gương duy tân, kêu gọi người Việt xây dựng nền tân học, những nhà nho này kiên quyết đoạn tuyệt
với những hủ tục cũ để đến với những tư tưởng mới mà tiêu biểu trong đó là Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu Các ông đã mạnh
dạn đề xướng, truyền bá tư tưởng mới, nhằm đưa đất nước đến văn minh thông qua con đường hoạt động chính trị và văn học Những năm 1900-1930 là thời kỳ cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc được chuyển sang giai đoạn tiến hành dưới ngọn cờ của cách mạng tư
sản Tổ chức duy tán đã tác động đến sự phát triển xã hội, văn học trong những điều kiện
mới Nhưng do hạn chế trong tư tưởng, đường lối, họ không giành được thắng lợi mà
phải nhường vai trò lịch sử cho những nhà nho hoạt động theo đường lối cách mạng vô
sản (Trần Mai Ninh, Hồ Chí Minh ) Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, cách
mạng Việt Nam như được tiếp thêm một luồng sinh khí mới để đi đến thành công
Nông dân là lực lượng đông đảo, vốn bị giai cấp phong kiến thống trị giờ đây cũng
bị biến đổi mạnh Sống trong khuôn khổ làng xã, tuy ít thay đổi, nhưng khi luồng gió tư
Trang 32bản đến, họ cũng bị phá sản, bần cùng hóa theo chính sách kinh tế của thực dân Pháp Làng quê xơ xác tiêu điều, một số phải bỏ ra thành thị kiếm sống, trở thành những lớp người khác trong xã hội: một số trở thành công nhân nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, còn
phần lớn phải đi ở, buôn bán nhỏ, hoặc trở thành lưu manh Tầng lớp tiểu tư sản thành
thị ra đời từ đó và phát triển không ngừng Tầng lớp tư sản dân tộc đầu tiên cũng được hình thành để đáp ứng chính sách kinh tế thị trường của thực dân Pháp
Như vậy là xã hội Việt Nam lúc này có thêm hai tầng lớp mới: tư sản và tiểu tư sản Quan hệ của họ với chính quyền bảo hộ và giữa họ với nhau cũng khác trước Họ có điều
kiện tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với tư tưởng văn hóa phương Tây qua báo chí, qua các tác phẩm văn học của các nhà văn, nhà triết học lớn như J.J Rousseau, V.Hugo, Honoré De Balzac… nên lối sống, nếp nghĩ của cuộc sống Âu hóa nhanh chóng thâm
nhập vào đời sống cá nhân của họ Không phải ngẫu nhiên mà Hoài Thanh - Hoài Chân
đã viết: “Trước mắt chúng ta bỗng bày những cảnh lạ lùng chưa bao giờ từng thấy Lúc
đầu ai nấy đều ngơ ngác không hiểu ra sao Nhưng rồi chúng ta cũng quen dần Chúng
ta dùng đèn điện, đông hồ, ổ tô, xe lửa, xe đạp còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết những điều thay đối về vật chất phương Tây đã đưa đến cho chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ h ẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình ngày trước Nào dầu tây, diêm tây, nào v ải tây, chỉ tây, kim tây, đinh tầy ”, “những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới” (79, tr 15)
Sự chuyển động của hình thái kinh tế xã hội, sự phân hóa của tầng lớp xã hội nói trên đã dẫn đến sự thay đổi trong sinh hoạt, trong tư tưởng, tinh cảm, tâm lý của con người Cuộc sống mới đặt ra nhiều vấn đề mới cần được giải quyết theo cách nhìn mới Bên cạnh đó phong trào duy tân đang diễn ra rất sôi nổi Những cuộc vận động phá bỏ hủ
tục phong kiến, đòi quyền lợi cho phụ nữ, cải cách y phục, cắt tóc ngắn, học chữ quốc
ngữ, chữ Pháp và tham gia các hiệp hội đã có tác dụng nâng cao dân trí, khơi dậy tinh
thần dân tộc và ý thức phản kháng cho nhân dân Tất cả như thổi một luồng sinh khí mới cho xã hội Nhiều cô gái không còn thích vẻ đẹp kiểu “Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng” (Hoàng Cầm) mà thay vào đó là vẻ đẹp của cô gái tân thời:
Trang 33răng trắng, tóc rẽ lệch, tô son điểm phấn Ngay cả tầng lớp nho sĩ vốn khó tính nhất cũng
có nhiều biến đổi Họ đổ ra thành phố, nhập vào tầng lớp tiểu tư sản với quan niệm mới
về nghề nghiệp: buôn bán làm giàu là để cạnh tranh sinh tồn chứ không hề xấu xa, đáng khinh như quan niệm trước đây Cuộc sống đang vượt ra ngoài khuôn khổ luân thường đạo lý phong kiến nặng nề để tìm đến một cuộc sống đa dạng phức tạp hơn Những giềng
mối trong quan hệ phong kiến bị đảo lộn, lỏng lẻo Đồng tiền đã chi phối tất cả các quan
hệ đạo lý truyền thống từ gia đình, ra thôn xóm đến ngoài xã hội Mối quan hệ lạnh lùng
“ti ền trao cháo múc” thay cho mối quan hệ tình làng nghĩa xóm trước kia Đồng thời,
người ta nhận ra lối sống của xã hội cũ là hà khắc, vô nhân đạo Quan hệ phong kiến chỉ đảm bảo quyền lợi cho một phía giữa tôi với vua, con với cha, vợ với chồng đã gây bao
thảm cảnh bất công vô lý Những khuôn mẫu đạo lý như “trung, hiếu, lễ, tiết, nghĩa”,
“phụ tử tòng tử” “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “tiết hạnh khả phong”, chế độ đa thê, nam quyền đã cướp đi bao hạnh phúc của con người, nhất là đối với phụ nữ
Dần dần, con người cũng nhận ra giá trị đích thực của mình và nhìn nhận mình như
một thực thể riêng của cái “tôi” chứ không phải là cái “ta” dựa dẫm hay hòa tan vào cộng
đồng Những câu hỏi “Con người là gì” “Con người như thế nào trong vũ trụ, cuộc đời
này?”, “ Con người sẽ ra sao?” luôn thôi thúc con người tìm lời giải đáp Con người
dần ý thức rõ rệt về những quyền lợi cá nhân mình được hưởng Đó là quyền được sống bình đẳng, được khẳng định tài năng, được tự do trong hôn nhân và được khát khao mơ ước riêng tư càng hiểu sâu ý nghĩa cuộc sống cá nhân bao nhiêu con người càng thấm thìa nỗi khổ của cảnh đói nghèo nô lệ Đến lúc này con người công dân kiểu tư sản có đặc điểm là con người cá nhân đã xuất hiện
* Như vậy, xã hội Việt Nam nửa đâu thế kỉ XX có hai nhiệm vụ lớn: chống thực dân Pháp giải phóng đất nước và đấu tranh cho công cuộc hiện đại hóa xã hội Nếu nhiệm
vụ thứ nhất có ý nghĩa cấp thiết thì nhiệm vụ sau lại có tính chất lâu dài, căn bản Việc thiết lập sự hiện diện con người cá nhân bình đằng trước xã hội lúc này rất quan trọng, trong đó vấn đề xác lập vai trò, đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ là nổi bật nhất Vì vậy chưa bao giờ vấn đề phụ nữ được đề cập nhiều qua báo chí như lúc này Thông qua một
Trang 34loạt bài đăng trên Phụ nữ tân văn năm 1929: về văn học của phụ nữ Việt Nam, xét về sự sinh hoạt của phụ nữ nước ta (Phan Khôi), văn học với nữ tính (Thê Phụng và Phan Khôi), Các vấn đề nữ lưu giáo dục, Nữ giới cần phải được khai hóa (Trịnh Đình Rư), Vãn thơ và nữ giới (Trịnh Đỉnh RƯ), Câu chuyện nữ quyền (Băng Tâm nữ sĩ) và đặc biệt là qua các bài báo của phụ nữ viết về phụ nữ với những khuôn mặt: Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương, Manh Manh, Vân Đài, Hằng Phương…, ta hình dung được một phong trào
nữ quyền được bắt đâu và phát triển khá rầm rộ vào nửa đầu thế kỉ XX
Sương Nguyệt Anh là người nữ chủ bút đầu tiên của Việt Nam với tờ báo phụ nữ đầu tiên có tên Nữ giới chung (Sài Gòn, 1918) Tuy trung thành với quan niệm đạo đức
và tinh thần yêu nước của người cha kính yêu là Nguyễn Đình Chiểu, nhưng ở bà đã có
sự thức thời với hoàn cảnh xã hội mới Vượt lên những định kiến xã hội, bà sẵn sàng tiếp
nhận cái mới như học chữ quốc ngữ, chữ Pháp để nâng cao nhận thức và tích cực hoạt động xã hội khẳng định rõ tài năng, bản lĩnh, trách nhiệm công dân của mình Bởi vì bà ý
thức được nếu không có sự vận động, thay đổi trong nhận thức, tư tưởng, hành động thì
sẽ bị vô hiệu hóa, không phát huy được khả năng của mình Sương Nguyệt Anh đa viết các bài báo khuyến khích nữ giới tham gia vào các hoạt động xã hội đồng thời qua đó bênh vực cho quyền bình đẳng nam nữ Tuy luôn nhắc nhở bổn phận của người phụ nữ theo nguyên tắc đạo đức cổ truyền, nhưng bà vẫn đưa ra kiểu mẫu phi truyền thống cho
những phụ nữ khác Bà xứng đáng là nữ sĩ tiền phong trong buổi giao thời phụ nữ Việt Nam mới vừa bước ra khỏi khuê môn để tiếp xúc với văn hóa âu Tây
Đạm Phương xuất thân từ gia đình hoàng gia thế tộc, nhưng bà cũng rất dấn thân khi tham gia công tác xã hội trên nhiều lĩnh vực như viết báo, sáng tác văn học, giáo dục,
nhằm mục đích đấu tranh cho quyền sống của người phụ nữ và cho cái Mới thắng lợi Từ
1919, Đạm Phương viết cho tạp chí Nam Phong, giữ chuyên mục Lời đàn bà cho báo Trung Bắc tân văn và văn đàn bà trên tạp chí Hữu Thanh Bà từng đề cao phụ nữ cũng là
“do khí thiêng sông núi un đúc nên”, đấu tranh cho phụ nữ cũng phải được học hành như nam giới Có học thức, người phụ nữ sẽ làm tốt hơn thiên chức và trách nhiệm của mình
Trang 35cũng như có khả năng tự lập “đảm đương sự đời” Bà còn dũng cảm đòi vứt bỏ cái thuyết
“tam tòng tứ đức” phong kiến
Hằng Phương vốn sinh ra trong một gia đỉnh nho học chịu ảnh hưởng giáo lý Khổng
Mạnh Nhưng Hằng Phương cũng như Anh Thơ sau này đều nhận thức được xu thế thời đại Bà đã tích cực tham gia việc truyền bá cho cái mới qua việc diễn thuyết, viết báo, sáng tác thơ ca Nữ sĩ Anh Thơ tuy không xuất thân từ nông dân nhưng tư tưởng của bà
có sự vận động rõ rệt Bà hướng ngòi bút vào việc phản ánh một xã hội nông thôn Việt Nam nhiều màu sắc, gắn với phong tục tập quá cổ truyền Bà cùng với Bàng Bá Lân, Đoàn văn cừ góp một nét mới vào cuộc vận động cho cái mới thắng lợi
Vân Đài cho ra đời cuốn Thanh lịch (1940 tại LuangPabăng) với mục đích như tác
giả tự giới thiệu: “ khuyên các bạn nên ăn ở sử- dụng với đời thế nào, để khỏi mang
ti ếng là con người thô kệch, vụng về, và tự luyện cho mình trở nên khôn ngoan, lịch thiệp ừước tất cả lễ - độ, nghi - tiết của đời” và “ để tự chủ được mình và sai khiến được tất
c ả con cái, người ở của mình về đường giáo dục nữa”
Những năm 30, trên tờ Phụ nữ tân văn, nữ sĩ Manh Manh hăng hái đấu tranh cho quyền lợi phụ nữ, đặc biệt đề cao khả năng sáng tạo văn chương của giới mình “Nhà nữ
khoa h ọc sẽ làm cho khoa học nên thơ Nhà nữ văn học sẽ làm cho tư tưởng thêm ngộ Nhà n ữ tác giả sẽ làm cho nghĩa lý thêm duyên” (số 131, 1932) Nữ sĩ còn kêu gọi chị em
thành lập hội “Nữ lưu học hội” để cùng nhau trao đối học hỏi về văn chương Ngoài ra nữ
sĩ còn tham gia diễn thuyết khắp Bắc Trung Nam với những đề tài khá ấn tượng: “Một
ngày c ủa một người đàn bà tân tiến”, “Có nên tự do kết hôn không?”, “Có nên bỏ chế
độ đa thê không?”
Nhìn chung các cuộc đấu tranh trên báo chí đều nhằm mục đích giải phóng phụ nữ
ra khỏi khuôn khổ xã hội truyền thống Nữ giới chung (Sài Gòn 1918) đề cập vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội Phụ nữ tùng san (1929) của bà Trần Thị Như Mai lên án mạnh mẽ chế độ trọng nam khinh nữ, và đòi cho phụ nữ được học hành, có nghề nghiệp Phụ nữ tân văn (Sài Gòn, 1929) của bà Nguyễn Đức Nhuận đã mang lại những tư tưởng mới như đòi giải phóng phụ nữ thông qua giáo dục, việc làm hoặc tổ chức kinh tế,
Trang 36và chống chế độ đa thê Qua sự phát triển báo chí do phụ nữ làm chủ bút hoặc tổ chức, ta
thấy báo chí cũng như hoạt động của phụ nữ lúc này có ảnh hưởng lớn tới việc góp phần làm thay đổi xã hội cũng như vị trí người phụ nữ trong xã hội
* Những hoạt động khởi đầu qua báo, những hoạt động cách tân xã hội và phong trào nữ quyền đã tác động đến nếp nghĩ, nếp cảm, lối sống của nhiều tầng lớp phụ nữ,
nhất là phụ nữ trí thức Họ bỏ dần khuôn phép đạo đức phong kiến để trở thành người
phụ nữ hiện đại: năng động, tích cực tham gia vào những hoạt động như mở Hội dục anh,
Nữ lưu học hội, Bóng dáng những phụ nữ dũng cảm dám đấu tranh chống lễ giáo phong kiến nhằm giải phóng cá nhân đã được phản ánh trong văn học Việt Nam từ thế kỉ
18, 19 nay càng đậm nét hơn qua những trang viết của nhóm Tự lực văn đoàn Tố Tâm - nhân vật trong tác phẩm cùng tên của Hoàng Ngọc Phách, nhờ có học mà nàng được sống
với những rung động, khát khao, những tâm trạng của một mối tình tuyệt vọng Nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh (1934) thể hiện tập trung và quyết liệt nhất vấn đề
cá nhận chống lại đại gia đình phong kiến Thông qua nhân vật Mai (Nửa chừng xuân), Khái Hưng lại đặt ra vấn đề tự do hôn nhân trong cảnh ràng buộc của gia đình phong
kiến
Vì sao lúc này vấn đề phụ nữ được đề cập sôi nối ở nhiều lĩnh vực như trong cuộc
sống, sinh hoạt, văn chương và trên báo chí như vậy? Trước hết là do các trí thức tiến bộ
lợi dụng những chính sách có tính chất khuyến khích cái mới phát triển của thực dân Pháp để tố chức nhiều hoạt động xã hội nhằm mục đích “chấn hưng dân khí, nâng cao dân trí”.Cụ thể như việc mở trường Trí Đức học xá của Đông Hồ ở Hà Tiên, trường Gia Long Áo Tím dạy cho nữ học, những bài diễn thuyết công khai về những vấn đề nữ quyền Những việc làm đó đã có tác dụng nâng cao nhận thức cho phụ nữ và làm thay đối cách nhìn của xã hội về họ Trước kia do bản chất yếu đuối, mong manh, cam chịu, người phụ nữ ừở thành nạn nhân của cuộc đời dâu bể và bị khinh rẻ xã hội coi họ chỉ là con người chức năng với trách nhiệm làm vợ, làm mẹ, lao động kiếm sống quanh quẩn trong khuê phòng, còn tâm tư tình cảm, mơ ước khát vọng như thế nào xã hội không cần quan tâm tới Nhưng bây giờ xã hội nhìn họ với tư cách là con người cá thể, có thể tự lập,
Trang 37sống bằng nghề nghiệp, tri thức cùa mình Họ có trách nhiệm với gia đình và cả với xã
hội Phụ nữ không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là chủ thể tiếp nhận, sáng tạo của văn học nghệ thuật - một lĩnh vực đòi hỏi cao khả năng tư duy, trí tưởng tượng và sự phong phú của cảm xúc tâm hồn
1 2 Đời sống văn học
Từ những đổi thay căn bản về xã hội và con người nói trên đã dẫn đến những vận động trong đời sống văn học ở nửa đầu thế kỉ XX với những đặc điểm cơ bản sau:
* Một nền văn học, một xu hướng văn học ra đời phát triển, biến đổi hay tàn lụi là
do công chúng quyết định Lúc này ở thành thị ngày càng đông đảo những người có nhu
cầu về văn hoa, văn học khác trước Người công chức, nhà kinh doanh có nhu cầu cập
nhật thông tin, giải trí qua văn học, những cậu ấm cô chiêu muốn đắm mình mộng mơ trong tiểu thuyết ái tình bi ai, ngay cả tầng lớp nghèo thành thị cũng muốn thưởng thức
những câu chuyện gần với tâm lý họ Loại văn chương nặng tính chất giáo huấn, khuôn
mẫu, hình ảnh tượng trưng khó hiểu không còn thích ứng nữa mà thay vào đó là sức hấp
dẫn của hình ảnh những con người cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể của một xã hội
sống động Rõ ràng lớp công chúng mới ra đời đang đòi hỏi phải có một nền văn học mới thoả mãn nhu câu thị hiếu mới Đó là một nền văn học thị dân với sự đổi thay của tác giả,
đề tài, nội dung cũng như hình thức sáng tác Văn học phải được hiện đại hoá cho phù
hợp với thời đại đã trở thành một nhu cầu tự nhiên, tất yếu
* Nhân vật trung tâm trong đời sống văn học kì này là tầng lớp trí thức Tây học
Chủ yếu thông qua tầng lớp này ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng, văn hoá, văn học
của thế giới phương Tây hiện đại ngày càng thấm sâu vào ý thức người làm văn, đọc sách Trước hết là sự xác lập ý thức về văn học Viết văn trở thành một nghề kiếm sống tuy rất chật vật Văn chương cũng là một thứ hàng hoa, nó được coi là một hoạt động độc
lập, có tính chuyên môn nghề nghiệp Giữa nhà văn và công chúng có quan hệ gắn bó hơn thông qua phê bình văn học trên báo chí Từ sự chuyển biến về xã hội và do ảnh hưởng văn hoa phương Tây, tầng lớp trí thức Tây học là những người sớm có ý thức cá
Trang 38nhân Vì thế họ tìm đến văn chương với khao khát xây dựng một sự nghiệp để khẳng định
sự tồn tại có ý nghĩa của cá nhân mình trong đời sống, đồng thời đóng góp vào việc xây
dựng nền văn học dân tộc xuất phát từ lòng yêu nước và bằng tài trí cua mình Nhiều người đã lao vào nghề văn như tìm thấy ở đấy lẽ sống và cơ hội để bày tỏ tấm lòng thủy
chung đối với đất nước, tổ tiên Bao nhiêu tâm huyết họ gửi vào tiếng Việt “Họ yêu vô
cùng th ứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với cha ông” Không chỉ yêu
mà họ còn muốn “dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt”, vì họ nghĩ tiếng
Việt “là tấm lụa đã hứng vong hồn những thế hệ qua” và họ cũng muốn gửi hồn mình
vào đấy (82, tr.47) Sự tâm huyết đối với văn chương, với công cuộc xây dựng nền văn hoá mới của tầng lớp trí thức Việt Nam đã góp phần làm nên sức sống văn hoá mãnh liệt cho dân tộc khi được giải phóng khỏi sự kìm toả cùa ngoại bang Lòng yêu nước, tinh
thần dân tộc là hạt nhân, còn tiếng Việt và văn chương Việt là một phương diện biểu hiện
của sức sống đó Cho nên, có thể nói, với nhiệt tình nói trên, họ đã góp phần quan trọng đẩy mạnh tốc độ phát triển của văn học thời kì này
* Đây là một nền văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học cổ thời phong
kiến, tức là thoát ra khỏi kiểu phản ánh sáng tạo thông qua một hệ thống ước lệ phức tạp, nghiêm ngặt với ba tính chất: uyên bác và cách điệu hoa, sùng cổ, phi ngã và mục đích
viết văn để truyền bá đạo lí Tính chất “văn sử bất phân” thay bằng sự phân hoa rõ ràng
giữa các thể loại Nhiều thể loại mới đã được xác lập, phong phú đa dạng hơn như kịch nói, phóng sự, phê bình Có thể nói toàn bộ hệ thống các thể loại và ngôn ngữ văn học đều được đổi mới trên cơ sở kế thừa và cải tạo truyền thống cũ của dân tộc vì vậy hiện đại hoa văn học là cả một quá trình, diễn ra qua ba bước (từ đầu thế kỉ đến khoảng 1920,
từ khoảng 1920 đến 1930, và từ khoảng 1930 đến 1945)
Đó là một nền văn học mở, chấp nhận nhiều xu hướng khác nhau Chính sự khác nhau về quan điểm nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm mĩ và thái độ chính trị của mỗi nhà văn đối với kẻ thù đã dẫn đến sự phân hoa thành nhiều xu hướng văn học Cụ thể là
xu hướng văn học mang nội dung đấu tranh cách mạng Các tác giả ở xu hướng này có
Trang 39chung một quan điểm nghệ thuật rõ ràng: sáng tác là để phục vụ chính trị, đấu tranh giải phóng dân tộc, tác phẩm là công cụ tuyên truyền cố động cho đường lối cứu nước còn nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận đó Dòng văn học yêu nưóc những năm đầu thế kỉ XX là
mạch chảy nối tiếp của văn thơ chính trị yêu nước những thế kỉ trước Dù còn ít nhiều
hạn chế do đang đi những bước đổi mới ban đầu trong buổi giao thời nhưng văn học yêu nước cách mạng, cùng với văn học bình dân và văn học mối đã có tác dụng to lớn chống
lại âm mưu muốn biến văn học dân tộc trở thành nền văn học nô dịch, mất gốc của thực dân Pháp, đồng thời góp phần không nhỏ trong hành trình hiện đại hóa văn học nước nhà
cảm hứng yêu nưốc cùng cái tâm cái chí của các trí thức yêu nước lúc này đã có ảnh hưởng sâu sắc tôi nhiều thế hệ cầm bút, trong đó có cả các nhà thơ nhà văn nữ đầu thế kỉ
XX (sương Nguyệt Anh, Đạm Phương, vân Đài, Ngân Giang, Mộng Tuyết ) Bên cạnh
là xu hướng hiện thực chủ nghĩa chú trọng diễn tả, phân tích, lí giải một cách chân thực chính xác quá trình khách quan hiện thực xã hội thông qua những hình tượng điển hình trong các tác phẩm văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự
Đặc biệt là xu hướng lãng mạn chủ nghĩa thể hiện trực tiếp và sâu sắc cái tôi ừữ tinh tràn đầy cảm xúc, đồng thời phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng ước mơ Nhìn chung các tác giả đề cập đến những quan hệ riêng tư, đến số phận cá nhân
với thái độ bất hoa, bất lực trước chế độ thực dân và môi trường xã hội tầm thường giả
dối, tù túng (văn của Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng, Thạch Lam ; thơ Tản Đà, Trần
Tuấn Khải, Thơ mới) Điều đáng chú ý ở đây là sự ra đời của phong trào Thơ Mới với nội dung đấu tranh cho cái Tôi mới mẻ, sâu sắc Thơ Mới xuất hiện trên thi đàn văn học
những năm 1930 - 1945 là một sự kiện quan trọng trong đời sống văn học dân tộc đồng
thời là biểu hiện đáp ứng kịp thời nhu cầu của tầng lớp thị dân ít nhiều có trình độ học
thức, có lý tưởng thẩm mĩ mới chi phối quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học Tác giả
chủ yếu là đội ngũ trí thức Tây học được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau Lưu Trọng
Lư, một nhà thơ mới, đại diện cho lớp người mới ở thời đại bấy giờ đã khẳng định: “Có
m ột điều chắc chẩn là những điều kiện bên ngoài đã biến thiên thì tâm hồn con người cũng đổi thay” và “Các cụ ta chỉ thích các bóng ừăng vàng rọi ở trên mặt nước, ta lại thích cái ánh m ặt trời buổi sáng lấp lánh, vui vẻ ở đầu ngọn tre xanh Các cụ ta ưa màu
Trang 40đỏ choét, tạ lại ưa nhũng màu xanh nhạt Các cụ bắng khuâng vì một tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì m ột tiếng gà gáy đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các
c ụ coi như đã làm một điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh ng ắt Cái ái tình của các cụ là hôn nhãn, nhưng đối với ta thì trăm hình, muôn
tr ạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình chân tíi ật, cái tình ảo mộng, cái tình ngây tíìơ, cái tình già dặn, cái tình trong giãy phút cái tình ngàn thu” (79, tr.17)
Sau mười năm, Hoài Thanh khẳng định tiếp tính tất yếu của việc thơ mới ra đời:
“Tì nh chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đối mới Cái khát vọng cởi trói cho thi
ca ch ỉ là khát vọng được thành thực Mỗi nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn” (79,
tr.17) Như vậy là cái mới mang màu sắc thời đại, cá nhân, đô thị, chịu ảnh hưởng của phương Tây nổi lên trong cuộc sống bấy giờ đã tạo nên cái màu sắc mới mẻ cho thi hứng
và thi pháp trong Thơ Mới Cho nên Thơ Mới ra đời trước hết là một cuộc thí nghiệm táo
bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa Nó vừa phá vỡ quy phạm nghiêm ngặt của
lối thơ xưa, vừa tăng thêm sức bền vững cho nhiều quy ước khác Tinh thần Thơ Mới không chỉ mới ở hình thức mà cả ở nội dung Nói theo Hoài Thanh, tinh thần Thơ Mới
nằm ở cả chữ Tôi, với cái ý nghĩa tuyệt đối của nó Ý nghĩa cách mạng của Thơ Mới chính là ở việc đã tạo ra một cái tôi tràn đầy cảm xúc mới trước cuộc đời và trước thiên nhiên, vũ trụ Thơ Mới có cái nhìn, cái cảm thông qua những rung động mới, tinh nhạy
mới của trái tim khi con người ý thức rõ sự sống của cá nhân mình có nhiều mối liên hệ tinh vi, chặt chẽ với không gian muôn trùng, với thời gian vô tận Dù lấy cảm hứng từ thiên nhiên, tình yêu hay nỗi buồn cô đơn thì thơ mới vẫn luôn là tiếng nói riêng tư của
một cái tôi chân thực Cái tôi tự khám phá, tự nhận thức bản thân Thế giới bên trong trở
thành đối tượng của nhận thức “ai muốn là thi sĩ trước hết phải tự nghiên cứu để biết đầy
đủ về bản thân” (Rimbaud) Đó là một cái tôi với tư cách là đối tượng nhận thức và phản ánh của thi ca cái tôi đó đã được các nhà thơ mới bộc lộ hết sức phong phú, phức tạp,
hấp dẫn Nó không chỉ muốn được thành thực mà còn muốn được sống trọn vẹn, sống tận cùng với cảm xúc, với thế giới tâm linh của mình, khao khát đòi giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã và tự do cá nhân bấy lâu bị dồn nén chính là tiếng nói sâu sắc của cái