Bởi các lẽ trên nên tôi ghi lại đây lời khen tặng chân thành của tôi với hai tác giả quyển sách Rừng Sát và Rừng Tràm Việt Nam với niềm tin vững chắc là tài liệu này sẽ giúp ích rất nhiề
Trang 1VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỘI CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGƯ MỤC
TỔNG NHA NÔNG NGHIỆP VIỆN KHẢO CỨU NÔNG NGHIỆP
Chánh sự vụ Sở Lâm học Cựu Giám đốc Nha Thủy lâm
1972
Trang 2TẬP TƯ LIỆU (LITERATURE COMPILATION)
RỪNG NGẬP NƯỚC VIỆT NAM (VIETNAM INUNDATED
FORESTS)
Do yêu cầu của TRUNG TÂM THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ thg 11,1993 (to the request of CESTI, center for scientific technological information Nov 1993)
Bộ môn Rừng Sác
U.B Khoa học và Kỹ thuật Tp HCM
Ngày 23-11-1993 Tác giả: Bùi Thị Lạng MỤC LỤC (content)
Summary and Conclusion 'Washington D.C 321
1974- DE SILVA D.P H.B.Michel: EFFECTS OF MANGROVE
DEFOLIATION ON THE ESTUARINE ECOLOGY AND FISHERIES (ẢNH
HƯỞNG CỦA KHAI HOANG RỪNG NGẬP MẶN ĐẾN HỆ SINH THÁI CỦA SÔNG VÀ NGHỀ CÁ) in The Effects of Herbilpides in South Vietnam, Fart B:
Working Papers, Nat Ac Sci.- Nat Res Council, Washington D.C.pp: 126 365
1980- SIPRI: WARFARE IN A FRAGILE WORLD MILITARY IMPACT
OK TEE HUMAN EEVIROKXEKT (CHIẾN TRANH Ở MỘT THẾ GIỚI MONG MANH TÁC ĐỘNG CỦA QUÂN SỰ VÀO MÔI TRƯỜNG CỦA NGƯỜI) Taylor Francis Ltd, London, pp: 79 – 103 493
1983- Ủy Ban Quốc Gia Điều Tra Hậu Quả Chiến Tranh Hóa Học Của Mỹ ở Việt Nam (Commite National d'Investigation des consequences de la guerre chimique americaine au Vietnam) Hội thảo quốc tế về TÁC ĐỘNG LÂU DÀI CỦA CHIẾN TRANH HÓA HỌC Ở VIỆT NAM (Symposium international sur LES EERBICIDES
ET DEFOLIANTS EMPLOYES DANS LA GUERRE: LES EFFECTS A LONG TERME SUS L 'HOME ET LA NATURE Hanoi, vol II 519
Trang 3Tập II 1984- Westing A.H.: HERBICIDES IN WAR THE LONG TERM ECOLOGICAL AND HUMAN CONSEQUENCES (CHẤT DIỆT CỎ TRONG CHIẾN TRANH HẬU QUẢ LÂU DÀI ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ NGƯỜI) SIPRI, Taylor & Francis, London & Philadelpha, tr 543
1991- UN Economic and Social Commission for Asia and the Pacific CONSERVATION AND MANAGEMENT OF INTERTIDAL FORESTS IN VIETNAM (BẢO TỒN VÀ QUẢN LÝ RỪNG NGẬP TRIỀU Ở VIỆT NAM) ST/ESCAP/1050, pp:75 tr 824
B Danh mục các tư liệu chưa xuất bản (List of unpublished articles)
B1 Đề tài nghiên cứu của Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh (Project Reports of the committee for science and technology of Hochiminh City)
1986 Bùi Thị Lạng, Nguyễn Triều Đồng et al Điều tra khôi phục khai thác Rừng Sác (Survey of Rung Sat for restoration and explcitation)
pp: 127, bản đồ 1/25.000, ảnh viễn thám 22, 24 sơ đồ
1988: Hội nghị khoa học kỹ thuật kỷ niệm 10 năm xây dựng huyện Duyên Hải (Symposium celebrating 10 years bullding Duyen Hai district) pp: 283
1991: Nguyên tắc An et al (Điều tra cửa Soài Rạp)
1992: Nguyễn Sinh Huy et al: Những luận cứ khoa học làm tiền đề cho việc xây dựng công trình vượt sông Hào Võ (Scientific basis as premise to a constrution crossing the Hao Vo river) pp: 57
B2 Đề tài nghiên cứu của COFIDEC (Coastal Fisheries Development Corp)
1989 Bùi Thị Lạng: Tài nguyên thủy hải sản của huyện Duyên Hải, TP HCM, khảo sát từ tháng 3-8, 1989 , pp: 25, 15 hình, 1 ảnh vệ tinh
Trang 4B3 Hội nghị khoa học của Trung tâm Sinh thái, phân viện Khoa học Việt Nam, TP HCM
1993 Synposium I Rational exploitation and employment of eccsystem CN estuarine and coactal zones in southern provinces)
B4 Quy hoạch huyện (Macter plan of the District)
1985: Quy hoạch tổng thể huyện Duyên Hải 1986 – 2000
1999: Định hướng quy hoạch ngành thủy sản huyện Duyên Hải, tp HCM 1990 – 1995 và quy hoạch các huyện duyên hải của 9 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
C Danh mục tư liệu của bộ môn Rừng Sác (Publication of the department of mangrove Department for Science Technology of Hochiminh City 1978)
1970: Những cánh chim báo xuân của Rừng Sác (Birds as Spring message in Rưng Sac) Khoa học phổ thông Xuân 79, pp 18-23
1979: Một cánh thư xuân (a spring letter) (Phạm Thị Lượng) Công Nhân Giải phóng, Xuân 79, pp 7
: Gia tăng sản xuất và phục hồi nhiên liệu (production increase and rescurce resctoration) (co.authors Võ Văn Quít – Ngô Kế Sương) Khoa học phổ thông 79, 15.5.79; pp 7
: Duyên Hải nắng mưa (Phạm Thị Lượng) (Dry and rain season in the Rưng Sat) Công nhân giải phóng 198 8/6 – 14/6/79, pp 5
: Nghiên cứu và khai thác Rừng Sác (Exploration and exploitation of Rưng Sat) Hội nghị chuyên đề Sinh thái học phục vụ Nông Lâm Ngư nghiệp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 11 – 13/10/79
: Bảo vệ nguồn tài nguyên Rừng Sác (Resources protection of Rưng Sat) Khoa học và đời sống 2 p 5
1981: Cách nuôi tự nhiên tôm thẻ (Management of natural peneid shrimp stock) Khoa học phổ thông số 130, 1/7/81, p.11
: Điều tra khai thác và khôi phục Rừng Sác (Survey and restoration of Rưng Sat) Hội nghị Sinh thái học Nông Lâm Ngư Đại học Tổng hợp Hà Nội 29-30/10/81
: Những đặc tính ven biển của Rừng Sat và hướng khai thác thủy sản (Coastal aspect of Rưng Sat and how to exploit her living marine resources) Hội nghị Khoa học biển lần 2 Nha Trang 21-25/9/81
Trang 5: Nguồn lợi thủy sản của vùng nhiễm mặn cửa sông Cửu Long (Living aquatic resources in the saline water of the Mekong estuary) Hội nghị KHKT đồng bằng sông Cửu Long Tp HCM 28-30/981 Hoạt động Khoa học 1, 1982, p.24-25
1982: Khôi phục môi trường và khai thác Rừng Sác (Evironment restoration and exploitation at Rưng Sat) Infoterra thông báo số 4, pp 5 – 7
1983 Chuyển động trên một vùng đất trẻ (Ecological successions on an young land) KH Phổ thông xuân 83, p.6
: Tận dụng nước của sông nhiễm mặn (Good use of brackish water from the estuary) Phụ nữ Xuân 83, p 8
1983 Rừng Sác: Physical damage and possible long term persistence of dioxin Inter Symp Hochiminh City 12-20/01/83
: Cách tiếp cận qua hệ thống sinh thái (Eclogical system as a survey approach) Hội thảo điều tra cơ bản Đồng bằng sông Cửu Long, Tp HCM (UB KHKT Nhà nước) 28-30/04/83
: Gạch nối ân tình giữa đất và biển (An intermediate zone between land and sea) Quân đội Nhân dân, số 7860, ngày 23/4/83
: Những vết loang lổ trên mặt đất quê hương (Bare spots on the vegetation cover
of our country) Infoterra 1983 số 8 pp 7-8
:Vấn đề quản lý môi trường cửa sông đã trụi mất rừng ngập mặn Rừng Sác TP HCM (Management of Rưng Sat of Hochiminh City, after her lost of mangrove cover) Hội thảo khoa học tài nguyên và môi trường thế giới TP.HCM từ 5 – 6/7/83
1984: Quà tặng của nước lũ (Natural gift from the annual flood) Tuổi trẻ
11-11-84
: Điều tra tài nguyên thủy sản ở Rừng Sác, đánh giá khả năng sản xuất (Survey
of living aquatic resources in Rưng Sat, exploitation feasibility) Hội nghị KH Duyên Hải, 1-2/6/84
1985: Aquatic habitats within the Mekong delta National project 60-02
Trang 61989: Physiognomu within estuarine ecosystem of the Camau penasula Feninsula National project 60B-Mekong Acta 1 1989, pp 13-21
: Co-author N.N Trân, T.K Thạch, B.T Ngân, T.P Tường, N.B Vệ Surl‘exploitation rationelles des ressources naturelles de la Peninsule de Camau National project 60B Mekong Acta 1 1989 p 3-6
: Stabilization of in land swamp habitats affected by marine intrusion (site selecton: 4ha within Thanh Niên farm, Thới Bình District)
1990: Aquatic Eccsytem within the Mekong Delta National project 60B, 28p 1 map
: Integrated orientation and environmental soune exploitation of the Mekong Delta: The plain of Reeds, the Long Xuyên quadrangle, the Cà Mau Peninsula and the area between the Mekong and Bassac tributaries by Nguyễn Ngọc Trân, Trần Kim Thạch, Bùi Thị Lạng, Tô Phước Tường, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Bảo Vệ, Phùng Trung Ngân, Thái Thị Ngọc Dư, Report of National Project 60-B Map of the Mekong Delta 1/250.000 maps of subregions 1/100.000
: Visual and Digital Interpretation for Wetlan Survey in Mangrove Areas: Asian Pacific Remote Sensing 7: 3, No 2 pp 33-38
: Collection of existing information on the environment of the delta Identification of environmentally sensitive ecosystem UNDP project VIE 87/031 Mekong Delta Master plan, Inception Ppt
: Shrimp culture in its natural nursery site (Mekong delta) Third Asian Fishery Forum, Singapore Oct 1992 Abstracts 212
1993: Hệ sinh thái nhạy cảm của Tp Hồ Chí Minh (The sensitive ecosystems of Hochiminh city) Thông tin chọn lọc Khoa học Kỹ thuật Kinh tế, No 51, p 1-2
Trang 8VIỆT NAM CỘNG HÒA ĐỘI CẢI CÁCH ĐIỀN ĐỊA VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGƯ MỤC
TỔNG NHA NÔNG NGHIỆP VIỆN KHẢO CỨU NÔNG NGHIỆP
Chánh sự vụ Sở Lâm học Cựu Giám đốc Nha Thủy lâm
1972
Trang 9MỤC LỤC
Trang LỜI TỰA
LỜI NÓI ĐẦU
II Rừng Sát miền Đông Nam phần
Trang 10CHƯƠNG III: THẢO MỘC RỪNG SÁT
Trang 11Trang CHƯƠNG IV: DƯỠNG LÂM
Trang 12Trang
CHƯƠNG VI: KHAI THÁC RỪNG SÁT
IV Sự sử dụng đất Rừng Sát bị thuốc khai quang 190
Trang 15The flooded forests in Vietnam consist of the mangrove and rear-mangrove
I.- The mangrove forest covers about 250,000 hectares, broken down as
follows:
A/- The mangrove in South Vietnam, composed of :
- The poor mangrove in the eastern part (Cần Giờ, Phước Hoa), with about
B/- The mangrove in Central and North Vietnam, with about 40,000 hectares,
unclassified and made of small, stunted trees
The mangrove in the western part is important because it has a large, continuous area covered by many tree species that group into forest stands and grow on the brackish mud f the Point of Camau, deposited by the periodie tides of the South China Sea and the Gulf of Thailand
The main species having the highest commercial value this forest is Đước
(Rhizophora apiculata B1.), established following the colonization of Mam (Avicennia), as a pionneer of the accreted silts on the sea face
Trang 16Sheltered by Mam, Đước and Vet-tach (Bruguiera parviflora Roxb.) set in,
followed by Da-voi (Ceriops tagal Per: C.B Rob., also called Ceriops candolleana Arn.)
As a result of changes in the habitat the remaining vacancies are occupied by various species, such as : Vet- du (Bruguiera gymnorrhiza L (Lam), Da-quanh (Ceriops decandra (Griff), Dinh Hou, also called Ceriops Roxburghiana Arn), Ban (Sonneratia L.), Mam (Avicennia), Su (Carana or Xylocarpus), Coc (Lumnitzera Willd.), Cha-la (Phoenix paludosa Roxb), Nipa palm (Nipa fruticans Wurmb.), Gia (Excoecaria agallocha L.), Tru (Aegiceras majus Gaertn.), Holloy (Acanthus ilicifolius L.), Acrostichum fern (Acrostichum aureum L.)
Not until 50 years after the french colonization (1911) had the mangrove forests
of the east been established as forest reserves in the provinces of Gia-Dinh and Tuy, extending between Vung-Tau (Cap Saint-Jacques) and the Vam-Co river (Vaico)
Phươc-The interest was given only after it was realized that the mangrove forests were economically important in the Camau area, where the Chinese had come and built up a charcoal industry based on Đươc trees
After a reconnaissance survey over 200,000 hectares of mangrove forests with
120 Km of shore line, undertaken by sampan during a total journey of 800 Km, 7 forest reserves with a total area of l38,480 ha were established at the Point of Camau
Preliminary studies indicate that annual growth of Đươc is 7mm in diameter
To produce trees suitable for making charcoal, a rotation of 20 years should be applied
On the basis of the production objectives, the marngrove stands can be classifyied as follows:
Trang 171 Stands of Đươc, producing wood for charcoal on a 20-year rotation
2 Stands of nipa palms, cut annually
3.Stands managed for the production of tanbark:
a/ Đươc bark, harvested from trees over 0,25m (50-year rotation)
b/Da bark, harvested from trees over 0,06m (treated as high-forests on a selective cutting basis with a 10 year cutting cycle and 20-year rotation)
4 Stands regenerated by the coppice system to produce fuelwood for kilns, and props
brick-a/ Mam, on a 10-year rotation
b/ Giá, on a 5-year rotation for fuelwood and small props, and on a 10-year rotation for fuelwood and larger props
The reforestation of the mangrove forests is aimed at the economic objective supplying raid material for the charcoal industry Therefore, plantings should be oriented toward establishing industrial plantations
Đươc planting requires such preparatory work as :
a Site preparation, which consists of the elimination of cundoserable species, Chala and Acrostichum forest In Malaysia, Acrostichum fern is regarded as an obstacle the planting of Đươc In Vietnam, on the contrary, this farm facilitates the burning of the humus layer prior to planting
b Canal construction, which is needed to bring in marine water for the development of Đươc and to provide logging routes later These canals also give additional income from fishery products
Trang 18The main canals that connect two rivers and that usual mark the forest
boundaries are 5m wide and 1.50m deep
Those canals that delineate compartment boundaries are 2.50m wide and 1.00m
deep
The secondary canals are made wide enough for the passage of small sampans
c Species selection
Field experiments have indicated that :
* Rhizophora apiculata Bl produces the best wood for charcoal making and is
chosen for reforestation purposes survival is as high as 90 - 95%
* Rhizophora mucronata Lam grows faster than Đươc The leaves are wide and greenish Its fruits are rough, longer and bigger than Đươc fruits This specie is not found as much in Camau as in Binh-Đai (My-Tho Province)
* Bruguiera parviflora W and A gives a high production of woid, although the charcoal, made from it is lighter and has a lesser heat retention capacity, than Đươc charcoal Reforestation of Bruguiera parviflora is rather difficult as the seedlings are less enduring than Đươc and prefers accrstod land
To plant 1 ha of Đươc needs 20,000 seedlings, which is about 2- 3m3
of fruits These buoyant fruits may be collected with the use of nets and transported to the planting site by sampans
If not planted in time, the seedlings should be sterec on clean, high, sheltered ground and watered with sea water
Trang 19in the morning end in the afternoon The fruits can be stored from l5 to 20 days The
fruiting period is in the rainy season, from July to November
Before 1945 annual production of the mangrove forest in Camau averaged :
- 350,000 steres of wood used for charcoal making and for fuel
- 25,000 m3 of small sized trees for construction
- 8,000 steres of tanbark
- 5,000,000 palm leaves
The total number of workers needed for the logging operations, for the charcoal
industry, for digging 300 Km of canals and planting 1,500 ha of Đươc amounted to
3,780 men per day, without taking into account women, children and the labor employed in embankment work, in building various facilities, docks, in loading and transporting charcoal
The number of workdays in a year was taken to be 330 continuous days,
exclusive of the off days due to illness, feasts, etc It can thus be said without
exaggerating that about 6,000 workers were needed per day
Since 1945 all studies, exploitation, and planting of Đươc in the area have been
interrupted and the faciliti there have been destroyed
Up to 1959, the mangrove forest in Camau was still in a good shape, although
the security situation did not allo travel in these forested areas
In Februarv 1961 while flying over Camau at an altitude of 1000m with an American forestry scientist, the
Trang 20author still observed the same undamaged condition of the mangrove that had existed in
1945
Yet, according to the former regional forestry chief in Canthơ, as pointed out in
his book "The Forest Region IV (1971), the area damaged by defoliation was estimated
to be 3/5 of the total Camau mangrove area, which is about 90,000 ha of the total 150,000 hectares
The resulting problems that now need to be considered are :
1 The length of time that defoliants would affect the mangrove soils, so that reforestation effort can be undertaken
2 If the effects of defoliants to the mangrove soils are not long, should the entire area be replanted ?
It is the author's viewpoint that the effects of chemicals on the soils would not last very long because they are washed and drained put to the rivers and the sea by marine tides every day On the other hand,, great emphasis should be given to
reforestation of the mangroves as available statistics show that in 1959 production of Đươc charcoal in Camau was about 1.5 million piculs (1 picul = 60 kg) which were sold at 155 piasters per picul, or a total of 155 million piasters Based on the 1970 market price, this production would be worth about 800 million piasters
Receipts from the mangrove forests in Camau alone were equal to 1/4 of the total receipts from timber sales in the entire country
Therefore, re-establishment of the mangrove forests is indeed essential However, a survey is to be made in order todistinguish the following 3 areas :
Trang 21a The muddy areas immediate to the sea face should be left for natural regeneration
b The areas adjacent to the sea-shores or those bordering muddy streams and rivers subject to marine tides should be replanted
c The higher areas formerly occupied by Đươc and other associated species which no longer exist should not be reforested but should otherwise be used more profitably as agricultural land for crop cultivation This proposal is based on long
experience from prior to 1945 and also on satisfactory results in actual implementation
II.- Tram forest (rear-mangrove)
The total area of Tram forest is 175,000 ha, inclucia 1,000 ha of the stunted type
of Tram in Central Vietnam -which 136,000 ha have teen classified as forest reserves Bac-Lieu, Rach-Gia and Ha-Tien, with the remaining 40,000 being in temporary
1 The Tram forest in Central Vietnam is not important :
- South of Thưa -Thien, there are about 500 ha Tram, associated with Chổi
(Beacka frutescens
Trang 22Mua (Melastoma), Danh Danh (Gardenia lucida), Co ong (Arundo saccharium), Tranh Lương (Lepto-carpus disionctis)
- North of Thua-Thien, there are about 5.000 ha of Tram growing on red and
yellow podzolic solls in association with Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Mua (Melastoma), Chổi (Beacka frutesoens), Dây chìu (Tetracera sarmentosa)
Tram can also be classified on the basis of tree height as :
- Swamp Tram growing as tall as 10 meters on low lands
- Hill Tram growing no talbler than 1,50m on high lands below 400m of elevation
2 The Tram forest in the Plains of Reeds
There are plantations and natural stands :
* Tram plantations are usually established along streams and canals
* Natural stand occur further inland
Traces of old-growth stands of Tram can be seen from large - sized stems from 0,30 to 1,00m in diameter buried deep ỉn the ground
3 The U Minh tram forest, growing mostly in the former provinces of Lieu, Rach-Giá and Ha-Tiên
Bac-Its total area is about 142.520 ha The ferest grovs on a thick, spongy, acid hunus layer Tram is the predominant species, having sparse lesves and a crooked bole with thick, whitish bark that can be peeled off in large slabs
Water in the tram ferest is clear or reedish and at
Trang 23certain spots, there are a feww palm trees (Livistona cochin chinensis) emerging from the tram stands
When the humus layer is too thick for its roots to penetrate, Tram becomes
scarcer and replaced by some typee of fern under the form of vines as Stenochloena
palustris, or under the form of trees Polybotria appendiculata
In addition, there is Mop (Alstonia spathulata) with large, light and spongy roots growing deep in the soils
In 1912, survey of the Tram forest was begun
In 1913, the first forest reserves of tram was creat the Tho Son Reserve No 243 with 1780 ha located northwest of the Gulf of Thailand
In 1914, 3 additional reserves were established in the province of Rach-Gia: Reserves No 283, 285 and 286
Not very long since then, other reserves with a total area of 9,000 ha have been created, namely, reserves No 318, 320, 321, 322 and 323
In 1921, following world war I, a number of forest reserves were set up in the 2 provinces of Rach-Gia and Ha-Tien, raising the total area to l34,000 hectares, of which Reserve No 390 alone covers 20,700 hectares
At present many of these reserves have only their na… remaining with no Tram trees left as they have been exploted to extinction
The rotation set for managed tram forests was 20 years Besides provisions wero made that trees below 0,08m in diameter were not to be cut and that 50 large, vigorous trees
Trang 24of at least 0,20m in diameter should be left as seed trees for natural regeneration
Later, the former 20 year - rotation was extended to 60 years in the most recent management plans
Tram forests are regenerated artificially or natural Artificial regeneration can be achieved either with nurse, grown seedlings or by direct seeding
Besides timber, tram forests also yield other production such as fishery products and honey
Trang 25Ngoài ra, những tài liệu và một số hồ sơ văn khố lưu trữ tại cơ quan quản trị lâm phần bằng tiếng Pháp để lại bị thất lạc rất nhiều nên không thể tìm đâu ra để tham khảo Do đó, tôi rất vui mừng khi đọc tài liệu- Rừng Sát và Rừng Tràm Việt Nam do 2
Kỹ Sư Nguyễn Văn Thôn và Lầm Bỉnh Lợi vừa soạn xong
Niềm tin về phần chuyên môn về hai ông Nguyễn Văn Thôn và Lâm Bỉnh Lợi thêm vững chắc khi tôi biết rằng Ông Thôn đã phục vụ tại Năm Căn từ năm 1944 - 46, lặn lội trong rừng Đước, rừng Tràm và đã từng bị muỗi Cà Mau từng đàn đốt khi mặt trời ngả bóng Còn ông Lợi thì đã sinh trưởng tại Sóc Trăng ( Ba Xuyên) một tỉnh liền với Bạc Liêu nên đã thấm nhuần nếp sống của Lâm dân vùng Cà Mau
Trang 26Bởi các lẽ trên nên tôi ghi lại đây lời khen tặng chân thành của tôi với hai tác giả quyển sách Rừng Sát và Rừng Tràm Việt Nam với niềm tin vững chắc là tài liệu này sẽ giúp ích rất nhiều cho các nhà quản trị lâm phần, sinh vật học, cũng như cho giáo sư và sinh viên các trường nông lâm và nói chung cho mọi người muốn tìm hiểu một nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước nhà
Sài Gòn, ngày 21 tháng 10 1972
Thái Công Tụng Tiến Sĩ Kỹ Sư
Trang 27LỜI NÓI ĐẦU
Sau bao năm làm việc, chúng tôi nhận thấy những tài liệu về rừng ngập nước tại Việt Nam còn nhiều thiếu sót và các tài liệu, nếu có, cũng chỉ ở rải rác các nơi, chưa được hệ thống hóa Đến nay, chúng tôi mạo muội cho xuất bản quyển sách này không ngoài mục đích tập trung lại những tài liệu và ghi thêm những kinh nghiệm riêng đã có được sau những năm làm việc tại Cà Mau và những cuộc quan sát tại Vũng Tàu, Cam Ranh, v.v
Phần tổng quát được dựa trên quyển ― Les Forêts de Palétuviers de la Pointe de
Cà Mau‖ của ông Maquillon và luận án tiến sĩ của Ông Vũ Văn Cương Phần mô tả thực vật được dựa theo quyển ― Les Flores du Cambodge, du Loas et du Viet Nam‖ của ông Vũ Văn Cương và theo Ông Moquillon Các hình vẽ thực vật được vẽ lại từ quyển
― Cây cỏ Miền Nam‖ của Gs Phạm Hoàng Hộ Chúng tôi kinh xin quý tác giả nhận nơi đây sự biết ơn sâu xa của chúng tôi
Vì đây là quyển tài liệu đầu tiên về loại rừng này, chắc chắn rằng có rất nhiều khuyết điểm, chúng tôi mong sẽ được bổ khuyết sau khi thực hiện những cuộc nghiên cứu sâu rộng chẳng hạn như cuộc thí nghiệm ảnh hưởng thuốc khai quang tại Rừng Sát của GS Phạm Hoàng Hộ
Trang 28Ước mong rằng quyển sách này sẽ đáp ứng được phần nào những đòi hỏi của các sinh viên nghành Thủy Lâm và quý vị đã gia công tìm hiểu một khung cảnh nhiều
kỳ thú và đầy nét đẹp quyến rũ của đất nước mến yêu
Sài Gòn, Ngày 19 tháng 10 năm 1972 Nguyễn Văn Thôn, Lâm Bỉnh Lợi
Trang 29TỔNG QUÁT
RỪNG NGẬP NƯỚC
Danh từ rừng ngập nước có thể gieo trong trí người ta ý tưởng đây là một loại
rừng bị nước luôn luôn ngập khỏi gốc cây hay một phần của thân cây và nước ấy cứ ứ đọng mãi như thế
Danh từ do tiếng Pháp ― Forêt inondée‖ mà ra
Nếu hiểu như trên thì sai hẳn và có khi trái ngược là khác, vì có loại cây của
rừng này không chịu được sự ứ đọng của nước: đó là cây Đước Khi bị nước ứ đọng, dù
không ngập khỏi ngọn, cây này cũng sẽ chết
Vậy rừng ngập nước là loại rừng bị nước ngập cố định kỳ trong thời gian, chớ
không phải là nước ngập mặn thường xuyên
Rừng ngập nước chia ra làm hai loại:
- Rừng Sát ( Mangrove)
- Rừng Tràm ( Rear Mangrove)
Rừng Sát mọc gần biển và Rừng Tràm mọc kế sát Rừng Sát, nhưng xa biển hơn
Trang 30CHƯƠNG I : SỰ TẠO LẬP RỪNG SÁT
I Rừng Sát nói chung:
Người Pháp gọi Rừng Sát là : Forêt de Palétuviers
Người Anh, Mỹ gọi là : Mangrove
Ngày nay chữ Mangrove được thông dụng trong cả tiếng Pháp lẫn tiếng Anh
Danh từ này có lẽ do gốc Mã Lai
Rừng Sát là một tổ hợp thảo mộc đặc biệt ở vùng nhiệt đới, cấu tạo trên đất đồi
của phù sa ở miền duyên hải hay theo định kỳ do nước mặn hay lợ, ít nhất trong 1 phần
thế giới : Rừng Sát Đông Phương và Rừng Sát Tây Phương
Rừng Sát Đông Phương nằm dài theo bờ biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và Rừng Sát Tây Phương nằm theo bờ biển Tây Đại Tây Dương của Phi Châu
và bờ biển Thái Bình Dương của Mỹ Châu
Rừng Sát Đông Phương có khoảng 80 sắc mộc trong khi Rưng Sát Tây Phương
chỉ có khoảng 15 Các giống thảo mộc của
Trang 31Rừng Sát Tây Phương đều có ở Rừng Sát Đông Phương Tuy nhiên, các loại đều khác
nhau hoàn toàn, ngoại trừ loại Rhizophora mangle
Rừng Sát Cam Bốt và Việt Nam nằm trong vùng Rừng Sát Đông Dương
II Điều kiện sinh thái
Không phải tất cả duyên hải nào bị ngập nước mặn đều có mọc Rừng Sát
Điều kiện thuận tiện và có ảnh hưởng cho sự cấu tạo Rừng Sát là điều kiện khí
hậu và đất đai
1) Khí hậu:
Từ khi tạo lập đến lúc tăng trưởng của cây trong Rừng Sát, yếu tố đất đai đã giữ
vững vai trò quan trọng, trong khi yếu tố khí hậu chỉ phụ thuộc Tuy thế người ta nhận
thấy nơi thích hợp nhất cho sự hiện diện của Rừng Sát là vùng đất ở giữa hai giải chí
tuyến
Ngoài ra còn có sự bổ tương giữa Rừng Sát và Rừng của vùng nhiệt đới có mưa
nhiều
Nếu thực vật chúng bên trong đất liền thuộc các loại khô thì bờ biển tiếp theo đó
không có Rừng Sát Trái lại nếu những rừng bên trong đất liền thuộc vùng mưa nhiều
với những cơn mưa to, với các sông rạch nhiều nước ngọt mang phù sa ra biển và bầu
trời thường có nhiều mây, thì bờ biển tiếp theo đó được xem như thích hợp cho sự phát
triển của Rừng Sát
Trang 32Đây là ý kiến khô hạn sinh lý học của SCHIMPER Ý kiến này cần được bổ túc như sau để đầy đủ hơn: trong các vùng khô hạn sự thiếu sông rạch nhiều và lơn để nước mang bùn đến cho Rừng Sát được tăng trưởng là nguyên do của sự vắng mặt của Rừng
Sát tại đó
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng phần nào đến sự chiếm ngự của Rừng Sát Theo Ông MNCHÉ (1963) trong những vùng mà nhiệt độ trung bình hàng năm dưới 190 C và nhiệt độ tối đa dưới 130 C thì không thể có Rừng Sát được; Rừng Sát có thể phong phú nếu chiếm ngự ở những vùng mà nhiệt độ trung bình hàng năm lên đến 220 C và có mưa nhiều ( vũ - lượng trên 1200 m/m) Hơn nữa, tính khắc nghiệt của mùa đông cũng
có thể ảnh hưởng đến sự phong phú của Rừng Sát, đó là hình ảnh của một Rừng Sát cằn cỗi ở miền Bắc Việt Nam và một Rừng Sát phong phú ở vùng Cà Mau
2) Đất đai:
Ngoài điều kiện về khí hậu, Rừng Sát còn chịu nhiều ảnh hưởng khác như sự
tạo phù sa, thành phần lý hóa của đất và thời gian của những sự ngập nước có định kỳ
a Đất phù sa: là do sự ứ đọng đất và tích lũy những chất vụn hữu cơ của rừng
do dòng nước mang theo Khi đất mới bồi, nước thủy triều lên sẽ mang theo phù sa và
để lại nơi đó, khi rút đi.Dần dần lớp phù sa càng ngày dày và tạo nên lớp đất bồi Khi
lớp đất bồi dẻ và cứng dần thì loại Mấm ( Avicennia) bắt đầu chiếm ngụ do những rễ có lông bao phủ
Hơn nữa , thành phần lý hóa của đất cũng quan trong đối với thành phần thực
vật chúng Rừng Sát Trong những chỗ
Trang 33đá nứt của một vài Vịnh hay dọc theo những bãi cát, người ta chỉ gặp những cây cằn cỗi
c Nước thủy triều : ảnh hưởng trên sự tạo lập và sinh trưởng của Rưng Sát do
sự định kỳ và thời gian của sự ngập nước, hoặc những biến thiên về dung lượng muối trong nước sông Sự giảm thiểu về độ mặn của nước từ hạ lưu đến thượng lưu đã ấn định những vùng Rừng Sát nước mặ miền duyên hải hay Rừng Sát nước lợ trên những đất bồi dọc theo bờ sông, bên trong nội địa
III Sự tạo lập Rừng Sát:
A Sự thành lập :
Khi đất bồi bắt đầu dẻ và cứng, loại Mấm ( Avicennia) bám rễ trên lớp bùn mặn Đây là một loại cây tiên lập của Rừng Sát Đồng thời lại có một loại khác cũng bắt đầu chen lẫn với loại Avicennia đó là loại Bần ( Sonneratia) Có thể loại cây này mọc lên nhờ hột nhỏ pha lẫn trong bùn và gặp cơn nước lớn, hột sẽ nẩy mầm, đâm rễ, mọc chồi và dần dần vượt khỏi mực nước trong Loại cây Avicennia rất quan trọng trong việc tạo lập Rừng Sát, vì nó giữ được bùn mặn và nhờ nó mà các lọa Đước ( Rhizophora) có thể sinh trưởng dễ dàng được
Vào năm thứ năm và thứ sáu, những cây Đước con ( Rhizophora apiculata) và Vẹt tách ( Bruguiera parviflora) do dòng nước mang đến, bị giữ lại trong quàn thụ cây Avicennia.Loại Bruguiera parviflora ưa đất chắc trong khi đó loại Rhizophora apiculata lại ưa đất bùn mịn
Trang 34Vào năm thứ hai mươi, những sắc mộc trên lớp dần, mọc xen lẫn Avicennia và tiêu diệt dần những cây tiên lập Mực đất nâng lên dần Những chất vụn hữu cơ đọng lại rất thích hợp cho sự sinh trưởng của cấy Cóc ( Lumnitzera coccinoa) với rất nhiều cây con trôi theo dòng nước Và lúc đó hột giống Mấm trắng (Avicennia intormodia), Giá ( Excoecaria agallocha), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), Su (Xylocarpus granatum), Bần chua ( Sonneratia acida), Chà là ( Phoenix paludosa), Dừa nước ( Nipa fruticans) do dòng nước mang tới cũng chiếm ngụ dần và nhiều khi thành những quần
tụ thuần nhất trên đất sét
Liền sau quần tụ này và trên đất sét không ngập nước thủy triều, nhưng ngập nước vào mùa mưa, lại có cây Tràm (Melaleuca leucadendron), Bí bái ( Acronychia laurifolia) và Xương cá ( Canthium didymun) Vào mùa năng quần tụ này hay bị lửa rừng phá hại Càng vô sâu nội địa, cây Tràm càng ít đi và thấy xuất hiện loại Ráng đặc biệt là loại Stoenochlaona palugtris rải rác có loại Alstonia spathulata và Polypotrya appen diculata Đây là lớp cuối cùng của Rừng Sát
Sự thành lập Rừng Sát dọc theo biển Đại Tây Dương của Mỹ Châu cũng như của Phi Châu khác hơn sự thành lập của Rừng Sát Việt Nam và Mã Lai Nới đó loại Đước chiếm đất bùn trước và mọc sát mực nước biển Sau Đước, Mấm mới mọc Tuy nhiên bờ biển của xứ Guyane thuộc Pháp lại giống bờ biển Việt Nam và Mã Lai trong
sự thành lập Rừng Sát Nghĩa là Mấm chiếm trước bãi bùn, rồi tiếp sau đó là Đước Như vậy Mấm là loại cây tiên chiếm để lấy đất cho cây Đước đến sau
Trang 35FOXWORTHY gọi giống Mấm là bệnh dịch hạch của Rừng Sát vì lý do đó nó hung bạo, ít giá trị và chiếm đông đảo khi Rừng Sát bị đốn Tuy nhiên, giống này không đến đỗi tệ hại như thế Có lẽ người ta quên vai trò tiên chiến của nó nên mới nói như thế Đối với Rừng Sát, Mấm không bao giờ hung bạo Không bao giờ xô lấn một mộc loại khác, khi mộc loại ấy đã mọc vững chắc rồi Nếu có Mấm nhiều trong một khu Rừng Sát bị đốn, thì đó là bởi người ta đốn quá sớm Rừng Sát còn trẻ trung, nên gây xáo trộn cho sự phát triển của rừng và bắt buộc giống Mấm bị ghét bỏ này phải tiếp tục làm việc để củng cố vị trí lại Như vậy, sự can thiệp của người ở đây chứng tỏ người là kẻ xâm lăng, còn Mấm thật ra đã đóng vai trò bảo vệ cho các loại ở bậc trên của nó, nhất là cây Đước Đước xâm nhập dần dần vào đất của Mấm cho đến khi lớn lên rồi Đước loại ra luôn các người bạn đã giúp đỡ nó lúc đầu
B Sự phân phối:
1) Rừng Sát nước mặn
Trong Rừng Sát nước mặn, người ta có thể phân biệt:
- 1 nhóm tiên lập với cây Bần ( Sonneratia alba) trên cát bồi ở bờ sông, với cây Mấm ( Avicennia alba) trên đất bồi ở bờ biển
- 1 nhóm với cây Đước ( Rhizophora apiculata) hay Đưng (Rhizophora mucronata) và Bần ( Sonneratia alba) trên bùn đã rắn chắc và thường ngập nước
- 1 nhóm với Vẹt ( Bruguiera gymnorhiza) và Dà (Ceriops tagal) trên đất ngậm nước ít ngập hơn loại trên
Trang 36- 1 nhóm với Cóc (Lumnitzera littorea) và (Scyphiphora hydrophyllacea) trên đất thường ẩm ướt
- 1 nhóm với Excocaria agallocha và Phoenix paludosa trên đất ít khi ngập nước, theo ven Rừng Sát và về phía đất rắn chắc
2) Rừng Sát nước lợ
Trong Rừng Sát nước lợ, người ta nhận thấy có những nhóm liên tiếp như sau:
- nhóm tiên lập với Sonneratia caseolaris
- nhóm với Cryptocoryno ciliata và Acnthus ilicifolius
- nhóm với Sonneratia caseolaris và Nipa fruticans
- nhóm với Annona reticulata, Dalbergia candenalensis
- nhóm với Melastoma polysanthura và Clerodendron inermo
C Tổ hợp thảo mộc:
Khi nghiên cứu sự thành lập và thảo mộc trong Rừng Sát người ta thấy có sự liên quan giữa thực vật chúng của các Rừng Sát trong những vùng lân cận Do đó, có thể biết được loại cây này hoặc có xuất xứ một nơi hoặc loại cây kia có xuất xứ ở một nơi khác và cùng phân tán ra bởi nhiều yếu tố Tựu trung chúng có thể xếp vào 3 nhóm với tính cách phân phối khác nhau
1) Nhóm có sự phân phối rộng:
Nhóm này đi từ bờ biển đông Phi Châu (290 E) đến đảo Fiji, Tonga, Samoa (1800 E) và từ đảo Kyushu (320 N) đến đảo
Trang 383) Nhóm có sự phân phối thu hẹp:
Nhóm này gồm có:
- Phoenix paludosa
- Sonnoratia ovata
- Acanthua obracteatus, v.v
Theo CROIZAT (1952) thì trung tâm phân tán của Rừng Sát đông phương nằm
ở Nam Dương và trong vùng mà nhà địa học gọi là Vallacea phần giữa của Gondwana,
đã bị phủ nước sau thời Gétncé và đầu đệ tam nguyên đại Theo đà tiến triển của những
sự phân chia này và vùng phân phối các mộc loại trên được mở rộng:
Ngoài ra, người ta biết rằng những yếu tố chánh trong sự phân tán đó bao gồm những dòng nước, những cơn gió chánh và khả năng lưu giữ ít hay nhiều năng lực nẩy mầm của hạt Cây con của các mộc loại Rừng Sát đều có thể trôi nổi trên mặt nước trong một thời gian mà không bị mất năng lực nẩy mầm Đó cũng là một yếu tố giúp cho sự phân tán các mộc loại Rừng Sát
Những dòng nước nóng từ Ấn Độ Dương, đặc biệt là những dòng từ Mozanbique và Anguilles đã giúp cho Rừng Sát chiếm ngụ dọc theo bờ biển Phi Châu
và Madagascar Dòng Kuroshivo có thể luân chuyển các cây con mộc loại Rừng Sát Nam Trung Hoa, Đài Loan và đảo Kyushu Những dòng nước lạnh cản ngăn sự lắng đọng của nước mưa dọc theo bờ biển phía Nam của vùng Tây Phi Châu và Nam Mỹ và
đã cản ngăn sự chiếm ngụ của Rừng Sát
Trang 39Hơn nữa, chiều hướng những dòng nước và gió biển Thái Bình Dương có thể giải thích sự thiếu vắng của những Rừng Sát dọc theo bờ biển Hạ Uy Di và đảo Polynésie
Xuyên qua những nhận định trên người ta có thể nghĩ rằng những mộc loại hiện nay ở Rừng Sát Việt Nam không phải ở địa phương trừ loại Phoenix paludosa Từ trung tâm Wallacea các mộc loại được mang đến Việt Nam từ Nam Dương hoặc Phi Luật Tân Gió mùa Đông Bắc Tây Nam vào tháng 10-4 và gió mùa Tây Nam Đông Bắc vào tháng 5-10 đã giữ một vai trò quan trọng trong việc phân tán Do đó cây Acgiceras floridum, Osbornia octodonta không có ở Rừng Sát Cà Mau, lại có ở Rừng Sát Mỹ Ca ( Trung Viêt) do những dòng nước hướng từ Đông sang Tây mang theo những hột của các loại trên vào bở biển Trung Việt
Từ đó, người ta nghĩ rằng giới hạn hiện nay của cây Dừa nước ( Nipa fruticans)
là do gió mùa Tây Nam Đông Bắc Vào tháng 6-7 trái Nipa fruticans chín và những trái cây Nipa ở Tích Lan lại không mang đến bờ biển Tây Ấn hay Đông Phi mà đến bờ Miến Điện và Andama vì cây con Nipa đã mất sinh lực trong khi vượt qua Ấn Độ Dương Ngoài ra, những dòng nước đi từ Sumatra, Java, Phi Luật Tân mang theo những cây con Nipa Loại này không đến được Đài Loan, đảo Ryukyu là vì ở đây nhiệt
độ hạ thấp vào mùa đông Tại Việt Nam, cây Nipa không có trong vùng châu thổ Sông Hồng vì nhiệt độ ở đây có thể hạ đến 7-8o C vào tháng giêng, tháng hai
Ta có thể đặt câu hỏi sau đây: những cây mọc ở Rừng Sát có thể là những cây
đã có từ xưa hay đó là những mộc loại mới
Trang 40phát triển? Có giả thuyết cho rằng : do những sự thích nghi riêng người ta có thể nghĩ rằng những mộc loại miền duyên hải hiện nay là những di tích của một thực vật chúng rất xưa và còn tiếp tục phát triển Những mộc loại ưa nước mặn là những mộc loại đã tiến chậm trong việc phát triển, trong khi đó những loại mọc ở bìa Rừng Sát lại có liên lạc với mộc loại mọc trong nội địa Theo HABERLANDT, sự thai sinh của những mộc loại ưa nước mặn là đặc tính của những cây lúc xưa ít phát triển và đó là thông lệ của những cây sống trong môi trường nóng và ẩm Có nhiều tác giả khác nghĩ rằng những mộc loại Rừng Sát hiện nay thuộc vào những họ được coi như gần đây Sự thai sinh chính là một sự thủ đắc mới, một sự thích nghi vào môi trường ngập nước
IV Sự cấu tạo đặc biệt của thực vật Rừng Sát
1 Nẩy mầm và thai sinh:
Thai sinh là một hiện tương chung của nhiều loại thảo mộc, thành phần của Rừng Sát
Có vài ý kiến cho rằng đây là một sự thích nghi, nhưng cũng có nhiều người như GUPPY lại cho rằng noãn sinh là một sự thích nghi với môi trường tiếp cận của thực vật chớ không phải thai sinh
Người ta có đặt giả thuyết cho rằng sự thai sinh là quy luật trong điều kiện khí hậu đồng nhất của các giai đoạn đầu của các nguyên đại Sau đó với sự khác biệt của khí hậu và sự nổi lên rồi bành trướng rộng ra của các lục địa, hình thức