Lý do ch ọn đề tài Nguyễn Du không những là một tượng đài văn học lớn của dân tộc Việt Nam mà thiên tài văn học của ông còn nhận được sự khẳng định của thế giới, chính vì thế mà dù đã đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THU NGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2LÊ THU NGA
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS LÊ THU YẾN
Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Lê Thu Yến, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cảm ơn các tác giả những công trình sưu tầm, nghiên cứu mà người viết đã tham khảo để thực hiện luận văn
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy cô giáo khoa Ngữ văn, quý thầy cô là nhân viên thư viện Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
TP H ồ Chí Minh, tháng 9/2015
Học viên
Lê Thu Nga
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Lê Thu Yến Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác,
cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Học viên
Lê Thu Nga
Trang 5Trang ph ụ bìa
LỜI CẢM ƠN
L ỜI CAM ĐOAN
M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu luận văn 6
Chương 1 NGUYỄN DU VÀ VỊ TRÍ CỦA BẮC HÀNH TẠP LỤC TRONGS Ự NGHI ỆP SÁNG TÁC CỦA ÔNG 7
1.1 Nguyễn Du 7
1.1.1 Thời đại 7
1.1.2 Cuộc đời 15
1.1.3 Văn nghiệp 19
1.2 Bắc hành tạp lục 22
1.2.1 Xuất xứ của Bắc hành tạp lục 22
1.2.2 Nội dung khái quát của Bắc hành tạp lục 22
1.2.3 Vị trí của Bắc hành tạp lục trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du 27
1.2.4 Hoàn cảnh Nguyễn Du tiếp xúc với những người đã mất trong Bắc hành tạp l ục 27
Chương 2 CUỘC TRÒ CHUYỆN CỦA NGUYỄN DU VỚI NH ỮNG NGƯỜI ĐÃ MẤT 35
2.1 Thi nhân 35
2.2 Danh nhân chính trị 50
2.2.1 Bậc minh quân 51
2.2.2 Người hiền tài 54
2.3 Người phụ nữ 72
2.4 Kẻ gian ác 80
2.4.1 Vua chúa 81
2.4.2 Gian thần 86
Trang 6C ỦA NGUYỄN DU VỚI NHỮNG NGƯỜI ĐÃ MẤT 97
3.1 Thể thơ 97
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 102
3.2.1 Từ ngữ 102
3.2.2 Ngữ pháp 106
3.3 Giọng điệu 113
K ẾT LUẬN 117
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 120
Trang 7M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Nguyễn Du không những là một tượng đài văn học lớn của dân tộc Việt Nam
mà thiên tài văn học của ông còn nhận được sự khẳng định của thế giới, chính vì thế
mà dù đã được nhiều học giả trong nước và nước ngoài quan tâm, tìm hiểu nhưng thơ văn của ông vẫn là lời mời gọi đầy hấp dẫn
Nhắc đến Nguyễn Du người ta nghĩ ngay đến Truyện Kiều như một tinh hoa
văn hóa của dân tộc, một kết tinh tinh túy của chữ Nôm Nhiều người Việt Nam dù
một chữ bẻ đôi cũng không biết nhưng vẫn thuộc lòng nhiều câu Kiều thậm chí cả quyển Kiều bởi vần điệu và thể loại thân quen, gần gũi như những câu ca dao dân ca
đã gắn bó vào trong máu thịt con người Việt Nam, cũng vì bởi người ta tìm thấy ở
Truy ện Kiều “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, vì thế mà Truyện Kiều không
chỉ thấm nhuần trong mỗi người con dân tộc mình mà còn vươn ra khỏi bờ cõi này, được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới Thế nhưng, nếu như nhắc đến đại thi hào dân tộc Nguyễn Du mà chỉ nhớ đến Kiều thì sẽ là một thiếu sót nghiêm trọng để “phác
thảo” lại hoàn chỉnh chân dung một thiên tài Bởi lẽ ông còn một “gia tài” thơ chữ Hán
dù không đồ sộ nhưng đủ để trở thành một nữa khuôn mặt thiên tài trong ông
Nếu thơ Nôm Nguyễn Du sáng tác cho quảng đại quần chúng nhân dân thì thơ
chữ Hán là cái phần tinh hoa tinh túy mà ông giữ lại phần mình, không phải bất kì ai cũng đọc, cũng hiểu được Muốn thưởng thức được thơ chữ Hán đòi hỏi người đọc
phải có một trình độ thẩm mỹ nhất định, một khả năng cảm thụ nghệ thuật vượt lên trên những độc giả bình dân Trong khi đó chữ Nôm lại nôm na, dễ hiểu như lời ăn
tiếng nói hằng ngày của người dân Chính bởi thế mà trong một thời gian dài người ta
chỉ thấy cái hào quang rực rỡ của bậc thầy thơ Nôm Nhận thấy tầm quan trọng của thơ
chữ Hán Nguyễn Du, thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu tỉ mỉ công phu về những áng thơ độc đáo này Nhưng nói thế nào là cho hết, cho đủ những điều
mới mẻ, hấp dẫn luôn ẩn chứa, tiềm tàng trong một thế giới vô cùng phong phú như thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, Bắc hành tạp lục là tập thơ viết
trong thời gian ngắn nhất nhưng lại có số lượng bài nhiều nhất Chọn đề tài “Bắc hành
Trang 8t ạp lục và cuộc trò chuyện của Nguyễn Du với những người đã mất”, người viết hy
vọng có thể góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu, khám phá những trăn trở, ẩn ức trong con người thiên tài đa sầu đa cảm Nguyễn Du - một con người đã hiểu, thương
và đau cho cả đồng loại, nhân loại chứ không riêng phận mình Ở đề tài này, ta không bàn đến những hồng nhan tri kỉ, những kẻ thấp cổ bé họng, những mảnh đời cơ cực
lầm than mà là những người đã nằm dưới ba thước đất Họ không phải là những người
sống mà Nguyễn Du đã gặp, nói chuyện, tiếp xúc trực tiếp ngay trên đường đi sứ nhưng vì một lẽ chung nào đó, Nguyễn Du đã gặp trong những con người này - những người con của thiên triều - những chuyện, những vấn đề của thời đại, của chính ông trong cuộc đời họ Để rồi từ đó ông nói chuyện cùng những người đã chết đi mà cũng
là độc thoại với bản thân mình và còn là đối thoại với người đời - những người như họ
- “đồng bệnh tương liên”
2 L ịch sử vấn đề
Về văn bản thơ, đến đầu thế kỉ XX mới được chú ý tập hợp in ấn lưu giữ do các văn bản sáng tác bằng chữ Hán thường chỉ được lưu chuyển trong giới trí thức Đại bộ
phận quần chúng nhân dân không thể tiếp cận, do đó dù được trân trọng đề cao nhưng
nó vẫn khá xa lạ với phần đông quần chúng nhân dân Đến thế kỉ XX, với ý thức bảo
vệ, lưu truyền di sản văn hóa dân tộc, nhiều nhà nghiên cứu đã thu thập, tập hợp, in ấn thành các văn bản:
- “Thơ chữ Hán Nguyễn Du” của Bùi Kỷ, Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh, gồm
102 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, chia theo 3 thời kì: Thời kỳ nhà Lê gồm 28 bài,
thời kỳ làm quan triều Nguyễn gồm 24 bài, thời kỳ đi sứ Trung Quốc gồm 50 bài
- “Thơ chữ Hán Nguyễn Du” của Lê Thước, Trương Chính, nhà xuất bản Văn
học Hà Nội năm 1965, gồm 249 bài thơ chia theo tên của từng tập thơ: Thanh Hiên thi
tập 78 bài, Nam trung tạp ngâm 40 bài, Bắc hành tạp lục 131 bài
- “Tuyển tập thơ Hán Việt” của Đông Xuân, nhà xuất bản Cảo Thơm Sài Gòn năm 1972, chọn lọc trích dẫn 18 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du
- “Tố Như thi” của Quách Tấn dịch nghĩa và dịch thơ, nhà xuất bản An Tiêm Sài Gòn năm 1973, gồm 72 bài thơ được chia theo từng tập thơ: Thanh Hiên thi tập 22 bài, Nam trung tạp ngâm 20 bài, Bắc hành tạp lục 22 bài
Trang 9- “Thơ chữ Hán Nguyễn Du” do Đào Duy Anh dịch nghiã, chú thích, nhà xuất
bản Văn học Hà Nội năm 1988, được chia theo từng tập thơ, gồm: Thanh Hiên thi tập
79 bài, Nam trung tạp ngâm 40 bài, Bắc hành tạp lục 130 bài
- “Nguyễn Du toàn tập” gồm 2 tập, tập I Thơ chữ Hán do Mai Quốc Liên phiên âm, dịch nghĩa, chú thích, được chia theo từng tập thơ, gồm: Thanh Hiên thi tập
78 bài, Nam trung tạp ngâm 40 bài, Bắc hành tạp lục 132 bài Trong phần Bắc hành
tạp lục có thêm 1 bài thơ là Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ II do Mai Quốc Liên phát
những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước
Qua một số văn bản đã nêu, ta thấy số lượng thơ chênh lệch không nhiều, tương đối chính xác và không lẫn lộn với các nhà thơ khác Các văn bản có phần thơ chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ khá đầy đủ, thuận tiện cho việc thưởng thức, học
tập và nghiên cứu
Về công trình nghiên cứu, khi nhận thấy được giá trị và tầm quan trọng của thơ
chữ Hán Nguyễn Du, nhiều công trình nghiên cứu có giá trị đã ra đời:
- Trong “Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX”, Nguyễn Lộc đã có những nhận định xác đáng về tâm sự của Nguyễn Du trong thơ chữ
Hán “Bu ồn thương như một tiếng đàn réo rắt, não ruột vang lên trong hầu hết các thi
ph ẩm của ông”
- Tháng 3 năm 1960, Hoài Thanh có bài viết đăng trên tạp chí văn nghệ, “Tâm tình của Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán” Bài viết khẳng định tấm lòng thông
cảm, xót thương với những kiếp người nhỏ bé, lầm than, đó là hình ảnh ông già mù hát
rong trong bài Thái Bình m ại ca giả, là mấy mẹ con người ăn xin đói khổ, lưu lạc tha
hương trong Sở kiến hành Bài viết cũng đề cập đến thái độ của Nguyễn Du đối với
những kẻ gian ngoan như Tô Tần, Thượng Quan Ngân Thượng
Trang 10- Năm 1966, Xuân Diệu viết “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”, đã
đi sâu vào một số bài thơ như Thái Bình mại ca giả, Sở kiến hành, Phản Chiêu hồn,…
để thấy rằng Nguyễn Du “yêu thương con người đến cháy ruột, cháy gan” Xuân Diệu
cũng đã nhận thấy, Nguyễn Du đi qua mỗi một vùng đất lại nhớ một người đã nằm
xuống tại nơi ấy “Qua sông Hoài, cảm nhớ Hàn Tín, cảm nhớ Văn Thiên Tường; viếng
m ộ Đỗ Phủ đời Đường; thăm mộ Âu Dương Tu, người trung thực, một trong tám nhà văn nổi tiếng đời Đường, Tống; thăm mộ Nhạc Phi; thăm mộ Chu Du; thăm mộ Tỷ Can; thăm mộ Phạm Tăng, mưu sĩ của Hạng Võ… Thấy tượng Tần Cồi “trái tim chết
c ủa nó một đời chứa đầy nọc độc!” Qua đình Tô Tần, rất khinh bỉ cái “khí cục con người ấy bé nhỏ lắm thay!”,… Xuân Diệu khẳng định Nguyễn Du “mang những vấn
đề của ngàn năm, của triệu người, nên cái đau khổ của ông là một đau khổ lớn có tính
ch ất đại diện cho nhân loại”
- Lê Trí Viễn trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập III), đi sâu vào thế giới nhân vật là những người trung nghĩa bị hãm hại, những người tài hoa bạc mệnh, những
kẻ yếu hèn, những người phụ nữ
- Tạp chí văn học, tháng 11 năm 1966, Nguyễn Huệ Chi có bài viết “Nguyễn
Du và thế giới nhân vật của ông trong thơ chữ Hán” đã nhận định: “Gắn bó với cuộc
s ống và nhìn sâu vào lịch sử, Nguyễn Du còn đặc biệt xót thương cho một loại người
có tài, có tình Ấy là những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trác tuyệt mà cuộc đời trải muôn vàn b ất hạnh, là những bậc anh hùng hào kiệt thất thế, là những người phụ nữ
có s ắc đẹp nghiêng thành phải chịu số phận buồn thảm…”
- Trong Nguyễn Du toàn tập (tập I), Mai Quốc Liên viết “Những áng văn
chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ ca của cha ông đã đành; mà còn mới mẻ và độc đáo so
v ới thơ chữ Hán Trung Quốc”
- Năm 1999, trong cuốn “Nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du”, nhà xuất bản Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh, Lê Thu Yến đã cho thấy một cái nhìn khá toàn
diện về nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du Công trình này đã phân tích, minh
họa các phạm trù: hình tượng nghệ thuật về con người, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ thơ chữ Hán Nguyễn Du
Trang 11Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã phần nào thể hiện được nhiều khía cạnh độc đáo của thơ chữ Hán Nguyễn Du nhưng do tính chất, phạm vi đề tài, các nhà nghiên cứu chưa đi sâu nghiên cứu “Bắc hành tạp lục và những cuộc trò chuyện
của Nguyễn Du với những người đã mất” Có nghĩa là trọng tâm đề tài không phải toàn bộ thơ chữ Hán của Nguyễn Du mà chỉ tập trung vào tập thơ Nguyễn Du sáng tác trong quá trình đi sứ phương Bắc và cuộc trò chuyện của ông với những người đã mất
- những người thuộc về đất nước Trung Hoa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng mà đề tài khảo sát các bài thơ trong tập thơ Bắc hành tạp lục của
Nguyễn Du được lấy trong quyển Nguyễn Du toàn tập do Mai Quốc Liên chủ biên, nhà xuất bản Văn học năm 1996 Trong tập sách này Bắc hành tạp lục ở dạng đầy đủ
nhất của nó gồm 132 bài Ngoài ra, người viết cũng tham khảo cuốn “Nguyễn Du – tác
phẩm và lịch sử văn bản” của Thạch Giang và Trương Chính, nhà xuất bản Thành phố
Hồ Chí Minh năm 2001 Cuốn sách này thừa hưởng những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước Bên cạnh đó, người viết cũng so sánh đối chiếu với một số tác
phẩm của các tác giả khác có liên quan đến đề tài
B ắc hành tạp lục là một tập thơ đề cập đến nhiều vấn đề, nhưng với yêu cầu đề
tài này thì bài viết sẽ khảo sát, so sánh, phân tích những người đã mất mà Nguyễn Du
đã tâm sự cùng trên con đường thiên lí đi sứ thiên triều, từ đó có những đóng góp mới
về cách tiếp cận hình tượng con người nghệ thuật thơ ca và dấu ấn cá nhân tác giả Đồng thời, khẳng định tấm lòng nhân văn, nhân đạo sâu sắc của ông đã xóa nhòa mọi ranh giới không gian, thời gian, lịch sử, địa lí, để ngòi bút tài hoa viết nên những tác
phẩm đậm tình người, tình đời xứng đáng lưu danh thiên cổ
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, người viết vận dụng phối hợp các phương pháp phân loại -
thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích tổng
hợp, phương pháp nghiên cứu liên ngành
B ắc hành tạp lục là một tập thơ sứ trình nên trong quá trình nghiên cứu, người
viết sẽ khảo sát các bài thơ, tiến hành thống kê, phân loại đưa ra nhận xét về những
loại người đã mất mà Nguyễn Du đã nói chuyện trong thời gian đó, hệ thống lại những
Trang 12nơi Nguyễn Du đi qua rồi nhớ mà tâm sự cùng người xưa Đồng thời tiến hành so
sánh, đối chiếu nội dung và đặc điểm nghệ thuật các bài thơ trong Bắc hành tạp lục
với nhau và với một số tác phẩm cùng thể loại của các nhà thơ khác để thấy sự khác
biệt và làm rõ tâm tư, tình cảm của Nguyễn Du đã bị tác động như thế nào khi gặp
cảnh cũ, người đã qua đời Sử dụng phương pháp liên ngành, nghiên cứu kết hợp giữa triết học, văn hóa và văn học Đây là vấn đề thuộc về quá khứ, nên cần nhìn nhận và nghiên cứu theo phương diện lịch sử Theo chân Nguyễn Du trong cuộc hành trình đi
sứ vạn dặm, tìm hiểu những điển tích, điển cố, sự thật lịch sử và đánh giá của nhân dân
về những con người đã mất mà Nguyễn Du cùng trò chuyện để thấy sự khác biệt, mới
mẻ và nhân đạo trong cách đánh giá con người của ông
5 K ết cấu luận văn
Do những đặc điểm về đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu,… như đã nêu ở trên, luận văn “Bắc hành tạp lục và cuộc trò chuyện của Nguyễn Du với người
đã mất” có kết cấu như sau:
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Kết cấu luận văn
Chương 1: Nguyễn Du và vị trí của Bắc hành tạp lục trong sự nghiệp sáng tác
của ông
Chương 2: Cuộc trò chuyện của Nguyễn Du với những người đã mất
Chương 3: Hình thức nghệ thuật thể hiện cuộc trò chuyện của Nguyễn Du với
những người đã mất
KẾT LUẬN
Trang 13Chương 1
NGUYỄN DU VÀ VỊ TRÍ CỦA BẮC HÀNH TẠP LỤC TRONG
S Ự NGHIỆP SÁNG TÁC CỦA ÔNG
1.1 Nguy ễn Du
1.1.1 Th ời đại
Thế kỉ XVIII - XIX là thời kì khủng hoảng sâu sắc nhất của chế độ phong kiến,
thời kì chứng kiến những “cuộc bể dâu” và những “phen thay đổi sơn hà” dữ dội: sự
sụp đổ của chế độ phong kiến, những cuộc nổi dậy đòi quyền sống của các phong trào nông dân và nền kinh tế hàng hóa phát triển cho thấy sức mạnh của đồng tiền cũng như tư tưởng phóng khoáng của tầng lớp thị dân
Chế độ phong kiến nước ta cực thịnh vào khoảng thế kỉ XV Sang thế kỉ XVI, XVII chế độ này đã bộc lộ dấu hiệu của sự suy yếu Chiến tranh, cát cứ và phân quyền
giữa các tập đoàn phong kiến không khác nào một nạn dịch Suốt hai thế kỉ (từ năm
1570 đến 1786) cuộc nội chiến giữa hai tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài
và họ Nguyễn ở Đàng Trong khiến đất nước rơi vào cảnh Nam Bắc chia hai Một đất nước vừa có vua lại có chúa, chia bè chia phái tranh quyền đoạt lợi, chém giết lẫn nhau
Đến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam thời
Lê mạt – Nguyễn sơ là một bức tranh đầy những biến động, chế độ phong kiến tập quyền đã lộ ra nhiều ung nhọt Có thể nói chế độ phong kiến Việt Nam giai đoạn này
đã bước vào thời kì khủng hoảng, suy vong trầm trọng, chuẩn bị cho sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ này vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX Sự khủng hoảng này bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất là tính chất thối nát, suy thoái trong toàn bộ
cơ cấu của chế độ phong kiến
Kinh tế thời kì này đình trệ nghiêm trọng Thành phần kinh tế chính của đất nước vẫn là kinh tế nông nghiệp Chiến tranh kéo dài giữa các phe phái làm cho nhân dân điêu đứng, mất mùa, đói kém lại còn gánh nặng tô thuế đè nặng trên vai, tiếng oán thán khắp nơi, hạn hán lũ lụt, dịch bệnh làm cho làng xóm tiêu điều, xơ xác, mẹ con vợ
Trang 14chồng phải dìu dắt nhau đi tha phương cầu thực, chết dần chết mòn trên những nẻo đường lưu vong
Như một quy luật, kinh tế trì trệ thì dẫn đến hỗn loạn về chính trị Những mâu thuẫn vốn có, chất chứa lâu ngày trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam đến đây đã được dịp bùng nổ dữ dội Trong khi nhân dân cơ khổ lầm than thì bộ máy thống trị lại
thối nát, mục rữa Việc nước các chúa thâu tóm hết, vua chỉ là bù nhìn nhu nhược Vua
Lê Chiêu Thống thậm chí vì ngai vàng mà không ngần ngại “rước voi về giày mả tổ”,
để mặc cho lũ giặc dữ tàn hại xâm chiếm đất nước Bọn nhà giàu bất tài thì lấy tiền của
để xoay xở một chức quan nhằm mưu cầu danh lợi Quan tước triều đình không còn là
những nhân sĩ hiền tài vì dân vì nước nữa mà trở thành một món hàng dùng để trao đổi mua bán Thưở ấy nhân dân có câu vè:
“Đô đốc tam thiên đô đốc
Ch ỉ huy bát vạn chỉ huy
Trung úy, v ệ úy kể làm chi
Cai đội, phó đội lấy tàu mà chở
Mười quan thì đặng tước hầu
Năm quan tước bá, ai nào kém ai.”
Bởi vậy không có gì lạ khi quan lại đa phần đều vô dụng, hèn nhát Người tài đức mà xuất thân từ tầng lớp nghèo thì bị chặn mất con đường tiến thân Bọn quan lại
vì tiền tài danh lợi lại thẳng tay đàn áp, bóc lột, vơ vét của cải của nhân dân Chúng vô
pháp vô thiên “ch ỉ tối mắt ăn của đút gây thói gian tham, lại còn những thói dâm bôn
vô s ỉ” [19, tr.64], “con cháu họ hàng nhà chúa lại mạnh thế làm càng” [19, tr.120]
Chúa thì “phàm bao nhiêu nh ững loại trân cầm dị thú, cổ mộc, quái thạch và chậu hoa cây c ảnh ở chốn dân gian đều thu lấy không thiếu một thứ gì” [19, tr.12]
Người dân bị đẩy đến bước đường cùng, họ chỉ còn một lối thoát duy nhất là đứng lên đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi chính đáng của mình Vì vậy, nông dân
nổi lên khởi nghĩa khắp nơi Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu là: Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật,… Giai đoạn này được vinh danh là
Thế kỉ nông dân khởi nghĩa Thời kì này quần chúng nhân dân mà chủ yếu là nông dân đã đấu tranh liên tục, mạnh mẽ và rộng khắp Có những cuộc khởi nghĩa tập trung hàng vạn
Trang 15người, kéo dài hàng chục năm và nổ ra khắp mọi miền đất nước Đỉnh cao của phong trào
khởi nghĩa lúc này là cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ở Đàng Trong, bùng lên tại đất Tây Sơn làm rung chuyển cả đất nước
Năm 1780, xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh
Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông (còn có tên khác là Trịnh Khải) Nguyễn Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam Năm 1782, loạn quân giết đại
thần Hoàng Đình Bảo (người từng có ý theo Trịnh Tông nhưng không được bèn ngả theo Đặng Thị Huệ giúp Trịnh Cán còn nhỏ) Trịnh Tông lên ngôi, Nguyễn Khản được
cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng Kiêu binh không phục, kéo đến phá nhà Tham tụng Nguyễn Khản, phá cả nhà Quyền phủ sự Dương Khuông, giết Thủ hiệu Nguyễn Triêm ngay trước cửa phủ chúa
Trong sách Hoàng Lê nh ất thống chí ở hồi hai và ba, có nhiều đoạn kể khá tỉ mỉ
nạn kiêu binh Trong bài giới thiệu tác phẩm này, Kiều Thu Hoạch có đoạn nói đến
nạn kiêu binh như sau:
“Tr ịnh Sâm thì hoang dâm, xa xỉ Vua Lê Cảnh Hưng thì bù nhìn, bạc nhược
Tr ịnh Tông chỉ là con rối của đám kiêu binh Còn quan lại đa phần là một phường dung t ục, bất tài, chỉ rình rập cơ hội để tranh giành quyền lực, danh lợi Dưới những vua quan như vậy, thì binh lính đương nhiên cũng không thể có kỷ cương, phép tắc gì
Nh ững “ưu binh” đã biến thành “kiêu binh” ngang ngược, quay lại uy hiếp triều đình,
qu ấy nhiễu dân chúng, tùy ý phá nhà, giết người, khiến mọi người đã phải gọi chúng
là “quân b ất trị” Và ba chữ ấy đã trở thành nỗi khủng khiếp của một thời.” [39,
An ra đánh Trịnh Bồng, Nguyễn Huệ nghe tin Chỉnh chuyên quyền, sai Vũ Văn Nhậm đem quân đánh giết Chỉnh, Vua Chiêu Thống lại bỏ chạy Khi Nguyễn Huệ ra đánh
Trang 16giết Vũ Văn Nhậm thì vua Chiêu Thống vẫn trốn bèn đưa Lê Duy Cẩn lên làm Giám
quốc
Nhà Lê vì mưu lợi cá nhân đã làm ra hành động “cõng rắn cắn gà nhà”, chạy sang cầu cứu nhà Thanh, Trung Quốc Quân Tôn Sĩ Nghị mượn cớ phù Lê, sang chiếm thành Thăng Long Đến đây, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ bèn xưng vương rồi kéo quân thần tốc ra Bắc đại phá hai mươi vạn quân Thanh
Chiêu Thống cùng bề tôi chạy sang Trung Quốc Một bộ phận quan lại quy
phục triều Tây Sơn Một bộ phận khác về quê ở ẩn chờ thời
Sau nhiều năm, quân Tây Sơn hoàn thành đại nghiệp, lật đổ cả ba tập đoàn phong kiến thống trị Lê - Trịnh - Nguyễn, lên nắm chính quyền, lập nên một vương triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ, mở ra hy vọng cho đất nước Nhưng chính quyền Tây Sơn cũng nhanh chóng sụp đổ Quang Trung chỉ lên ngôi được mấy năm thì qua đời khi chưa đến 40 tuổi Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn lại trở nên lục đục Nhân nội bộ Tây Sơn suy yếu, hằng năm đến mùa gió đông – nam, Nguyễn Ánh đem thủy binh tiến ra lấn dần vùng đất của Tây Sơn Khoảng giữa năm 1802, Nguyễn Ánh huy động nhiều cánh quân thủy – bộ đồng thời tiến ra Bắc Quân của Nguyễn Ánh lần lượt đánh chiếm vùng đất từ Quảng Trị đến Nam Định rồi
tiến thẳng về Thăng Long Nguyễn Quang Toản vượt sông Nhị (sông Hồng) chạy lên
mạn Bắc Giang thì bị bắt, chấm dứt triều Tây Sơn
Năm 1802, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu Gia Long, chọn Phú Xuân làm kinh đô,
lập ra triều Nguyễn Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình nhà Nguyễn còn
thực hiện một số chính sách tiến bộ nhưng càng về sau nhà Nguyễn càng đi sâu vào con đường xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế đến mức cực đoan nhằm tập trung tuyệt đối quyền hành vào tay mình Nhà Nguyễn còn cấm dùng chữ Nôm, cấm đoán về
mặt tư tưởng rất nghiệt ngã Tổ chức chính quyền đến giáo dục, thi cử, pháp luật đều
rập khuôn theo triều đại Mãn Thanh Lấy chính sách của nhà Thanh làm mẫu mực trị nước Việc khai hoang đã tăng thêm diện tích canh tác nhưng ruộng đất bỏ hoang vẫn còn nhiều vì nông dân bị địa chủ, cường hào cướp mất ruộng đất, phải lưu vong Ở các
tỉnh phía Bắc, việc sửa đắp đê không được chú trọng Lụt lội, hạn hán xảy ra liên miên
Cá biệt có nơi như phủ Khoái Châu (Hưng Yên), đê vỡ 18 năm liền Dân phiêu tán
Trang 17khắp nơi, trong dân gian có câu “Oai oái như phủ Khoái xin cơm” Cả một vùng đồng
bằng phì nhiêu biến thành bãi sậy Các tầng lớp nhân dân sống khổ cực vì địa chủ, hào
lí chiếm đoạt ruộng đất, quan lại tham nhũng, tô thuế phu dịch nặng nề Nạn dịch
bệnh, nạn đói hoành hành khắp nơi Trong dân gian vang lên bao tiếng oán thán bi thương
“Mười lăm năm Đức Chính có ghi
Kho Kính Lu ật vẽ nên hùm có cánh
Ba mươi tỉnh nhân dân đều oán
Ti ếng oan gào kêu dậy đất không lung.”
“V ạn Niên là Vạn Niên nào
Thành xây xương lính hào đào máu dân”
Xã hội phong kiến Việt Nam lúc này thực sự đi vào con đường tự đào hố chôn mình không gì có thể cứu vãn được Giai cấp bị trị thì ngày càng bần cùng khốn khổ Mâu thuẫn giai cấp ngày càng trở nên gay gắt Vì thế, dưới triều Nguyễn các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra, ngày càng nhiều hơn và quy mô rộng lớn hơn
Họ nổi dậy chống chính quyền phong kiến để đòi quyền sống hay đơn giản chỉ là đòi cơm ăn áo mặc
Tuy nhiên, khởi nghĩa nông dân trong hoàn cảnh xã hội đương thời không thể đi đến thắng lợi hoàn toàn và triệt để Khởi nghĩa của nông dân tuy đã không chỉ làm cho giai cấp thống trị phong kiến run sợ, làm lung lay và sụp đổ cả hệ thống tư tưởng phong kiến vốn không còn phù hợp với thời đại mới nhưng nó mới chỉ là động lực thúc đẩy xã hội phát triển chứ chưa thể làm thay đổi chế độ xã hội
Trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến, xuất hiện tầng lớp thị dân Nền kinh tế hàng hóa vốn xuất hiện từ thế kỷ XVI, thế kỷ XVII đã có nhiều bước phát triển đáng kể, đến giai đoạn này lại bị nhiều chính sách kinh tế của chính quyền phong kiến kìm hãm cho nên nó chưa phát triển thành một cơ cấu kinh tế mới để rồi tạo ra một giai cấp tư sản, nhưng cùng với sự đi lên của thành phần kinh tế này thì tầng lớp thương nhân, thợ thủ công ngày càng đông đảo tập trung ở các thương cảng, đô thị
Tầng lớp này do sinh hoạt kinh tế của họ đã li khai phần nào với quan hệ sản xuất phong kiến, cuộc sống của họ là cuộc sống đi đây đi đó nhiều, giao tiếp rộng rãi kể cả
Trang 18giao tiếp với người nước ngoài cho nên về mặt tư tưởng, tình cảm, họ trở nên phóng khoáng hơn người nông dân vốn bị trói buộc vào làng quê, hơn cả Nho sĩ vốn bị rập khuôn theo trăm nghìn thể chế, giáo điều chính thống cứng nhắc Sự có mặt của tầng
lớp này cũng đã tạo ra những làn gió mới lan tỏa vào đời sống tư tưởng, tinh thần thời đại
Tóm lại, lịch sử dân tộc ta giai đoạn này là lịch sử đau thương nhưng quật khởi,
có bi kịch nhưng cũng có anh hùng ca Nhìn về phía giai cấp thống trị là cả một sự sụp
đổ, tan rã toàn diện của kỷ cương, của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội Song nhìn về phía quần chúng thì đây là thời kỳ
quật khởi, thế kỷ bão táp của các phong trào nông dân khởi nghĩa, thời đại đấu tranh tháo cũi sổ lồng
Trải qua nhiều biến động nhưng cuối cùng xã hội Việt Nam vẫn lâm vào tình
trạng bế tắc không lối thoát Tuy vậy phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên
tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ cũng đã làm bùng dậy nhiều khát vọng lành mạnh, làm
quật cường thêm tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, cổ vũ cho sự vươn dậy của tài năng, trí tuệ của con người
Tình hình kinh tế, chính trị không ổn định trong nước đã kéo theo sự phá sản nghiêm trọng của ý thức hệ phong kiến và sự trỗi dậy của tư tưởng nhân văn của thời đại Giai cấp phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, lấy Nho giáo làm quốc giáo, dựa vào Nho giáo để thống trị nhân dân Trong mấy thế kỷ trước, khi chế độ phong kiến đang đi lên thì Nho giáo có uy lực của nó Nhưng đến
thời kỳ này chế độ phong kiến đã bước vào thời kỳ suy vong, khủng hoảng thì Nho giáo cũng bị đả kích, bị lung lay dữ dội Nguyên nhân của sự phá sản này chủ yếu phát sinh từ sức công phá của trào lưu tư tưởng nhân văn của thời đại và từ hàng ngũ giai
cấp thống trị kẻ đã khẳng định, tôn sùng và nuôi dưỡng ý thức hệ này Biểu hiện là
những cái được gọi là “tam cương”, “ngũ thường” của Nho giáo đều bị sụp đổ một cách thảm hại Sự sụp đổ của ý thức hệ Nho giáo ảnh hưởng đến tầng lớp Nho sĩ - lực lượng sáng tác văn học của thời đại
Trang 19Sống trong thời đại Nho giáo bị sụp đổ thảm hại như vậy, một tầng lớp nhà Nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tưởng Họ không tìm ra con đường đi, họ hoang mang trước thời cuộc Một số nhà Nho bị bế tắc thực sự, Nguyễn Du đã từng thốt lên:
“Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh k ế lưỡng mang nhiên
Xuân lan thu cúc thành hư sự,
H ạ thử, đông hàn đoạt thiếu niên.”
(Tạp thi I)
(Tráng sĩ đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát,
Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mịt
Xuân lan thu cúc đã thành chuyện hão,
Đông rét hè nóng cướp cả tuổi xuân.)
Họ mất hết niềm tin vào chính quyền, vào minh chúa Số đông đã lui về ở ẩn,
hoặc đang làm quan lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, nhân cách của mình
Trong khi Nho giáo bị sụp đổ như vậy thì một khuynh hướng tư tưởng bảo vệ,
khẳng định quyền sống và giá trị, phẩm chất con người đã phát triển thành một khuynh hướng mạnh mẽ Cơ sở xã hội của khuynh hướng này đó là phong trào đấu tranh mạnh
mẽ của quần chúng bị áp bức mà chủ yếu là của nông dân chống phong kiến đã liên
tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ Cơ sở tư tưởng của khuynh hướng này đó là sự sụp đổ của
ý thức hệ Nho giáo Phật giáo, Ðạo giáo lại phát triển, tư tưởng thị dân hình thành, tất
cả đã có ảnh hưởng đến sự kết tinh truyền thống nhân văn của dân tộc
Những biểu hiện của khuynh hướng, tư tưởng nhân văn trong văn học sẽ là sự lên án, tố cáo hiện thực cuộc sống đương thời chà đạp lên quyền sống của con người; đấu tranh đòi cuộc sống cơm áo; phát triển cá tính; giải phóng tình cảm, bản năng; là thái độ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người; là thái độ đồng tình, xót thương, thông cảm của các tác giả đối với các nạn nhân của xã hội
Mặc dù, giai đoạn này là thời kì đen tối nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam nhưng văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX lại là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nền văn học dân tộc trong suốt thời kì phong kiến Vì sự phát triển rực rỡ của nó mà nhiều nhà nghiên cứu đã mệnh danh giai đoạn này là giai đoạn
Trang 20văn học cổ điển Việt Nam Nghĩa là một di sản văn học thuộc về quá khứ, có giá trị ưu
tú và đã được thử thách, được khẳng định qua thời gian Đến cuối thế kỉ XVIII, nền văn học dân gian ở Việt Nam càng phát triển rực rỡ dưới nhiều hình thức phong phú,
từ tục ngữ, ca dao đến truyện thơ dài, truyện tiếu lâm Trải qua nhiều thế kỉ, văn học
viết bằng chữ Nôm phát triển đến đỉnh cao, tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du
Truy ện Kiều là tác phẩm kiệt xuất của Nguyễn Du, làm rạng rỡ nền văn học dân tộc
Nội dung Truyện Kiều phản ánh những bất công và tội ác trong xã hội phong kiến
Bọn quan lại tham nhũng được tác giả vạch trần Cuộc đấu tranh chống áp bức của
nông dân được tác giả ngợi ca Có thể kể thêm các tác phẩm nổi tiếng như Chinh phụ
ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, thơ của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Nguy ễn Văn Siêu Ngoài ra, có nhiều truyện Nôm khuyết danh Hồ
Xuân Hương là một tài năng hiếm có, một nhà thơ Nôm châm biếm nổi tiếng Thơ của
bà đả kích sâu cay vua quan phong kiến, bênh vực quyền sống của người phụ nữ
Văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX phản ánh phong phú và sâu sắc cuộc sống xã hội đương thời cùng với những thay đổi trong tâm tư, tình cảm
và nguyện vọng của con người Việt Nam
Nguyễn Du đã sống qua ba triều đại: Lê - Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn, ông tận mắt
chứng kiến thực tại xã hội đầy biến động ấy Sự thay đổi chóng vánh của các triều đại ảnh hưởng không nhỏ đến Nguyễn Du Ông chưa hết xót xa cho tình cảnh tan tác của
tập đoàn Lê - Trịnh, lại một lần nữa chứng kiến sự sụp đổ trong nháy mắt của triều đại Tây Sơn Loay hoay trong thời đại đầy rẫy biến động, đầy rẫy đau thương để tìm một
chỗ đứng ổn định, vững vàng, để tìm một lẽ sống, một lý tưởng nhưng con đường mà ông nhận ra vẫn cứ mịt mù, bế tắc Ông luôn ở trong một trạng thái tinh thần bàng hoàng, hụt hững, hoài nghi về tư tưởng Không thể tìm ra lối thoát cho bản thân đó là
bi kịch đau đớn đeo bám dai dẳng suốt cuộc đời con người nhạy cảm này Điều đó lý
giải vì sao ta luôn đọc thấy trong thơ ông những mâu thuẫn về tư tưởng, những câu hỏi day dứt mọi người, mọi thời đại và những tình cảm sâu sắc đau đời, thương người, trăn
trở ám ảnh không dứt về số phận của mọi phận người trong xã hội Nguyễn Du cũng
đã sống trong một thời đại mà truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc được kết tinh một cách rực rỡ Những biến cố xã hội, truyền thống nhân văn và tinh thần dân tộc
Trang 21của thời đại đã để lại những âm hưởng, những màu sắc trong nhân cách cũng như sáng tác của nhà thơ
1.1.2 Cu ộc đời
Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ, quê ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh Xứ Nghệ Tĩnh là vùng đất địa linh nhân kiệt, đã sinh dưỡng nên nhiều người con ưu tú cho đất nước: Phan Chính Nghị, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du,… Tục truyền có câu: “Hồng Lĩnh
sơn cao, Song Ngư hải khoát; nhược trị minh thời, nhân tài tú phát” (Non Hồng cao,
biển Ngư rộng; gặp thời sáng sửa này nở nhân tài)
Nguyễn Du ra đời trong một gia đình đại quý tộc, có thế lực vào bậc nhất lúc đương thời Ông là con thứ bảy của Xuân quận công Nguyễn Nghiễm Nguyễn Nghiễm là một sử gia, một nhà thơ đồng thời là tể tướng triều Lê Nguyễn Nghiễm sinh ngày 14 tháng 3 nhuận năm Mậu Tý, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ tư, tức ngày 14 tháng 5 năm 1708 Ông học rộng tài cao, làm quan thường được thăng thưởng Ông
mất ngày 17 tháng 11 năm Ất Mùi, tức ngày 7 tháng 1 năm 1776, có cả thảy tám người
vợ và 21 người con, cả trai lẫn gái
Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, con gái một ông làm chức câu kê (kế toán), người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc Bà sinh ngày 3 tháng 7 năm Canh Thân, niên hiệu
Cảnh Hưng, tức ngày 24 tháng 8 năm 1740, trẻ hơn chồng ba mươi hai tuổi Mẹ Nguyễn Du sinh được tất cả năm người con, bốn trai, một gái Năm 1775, người con đầu của bà là Nguyễn Trụ mất, mới mười tám tuổi, năm sau chồng mất Hai cái tang
kế tiếp nhau trong hai năm liền làm bà đau buồn, lâm bệnh, và hai năm sau khi chồng
mất, bà cũng qua đời ngày 6 tháng 7 năm Mậu Tuất, tức ngày 27 tháng 8 năm 1778,
mới ba chín tuổi Bà sinh ra tại vùng đất quan họ, làng của bà lại có truyền thống hát
tuồng, từ nhỏ Nguyễn Du đã được nuôi dưỡng tâm hồn bằng những làn điệu dân ca
ngọt ngào say đắm và thừa hưởng nét tính cách nhã nhặn, dịu dàng, cái phong lưu, đa tình của người con gái xứ Kinh Bắc Có thể ảnh hưởng từ mẹ là một trong những yếu
tố quan trọng nhất làm nên cây bút thiên tài Nguyễn Du
Trang 22Dòng họ Nguyễn Du có rất nhiều người làm quan dưới triều Lê - Trịnh Người địa phương có câu ca dao:
“Bao gi ờ ngàn Hống hết cây
Sông Rum h ết nước, họ này hết quan.”
Anh đầu của Nguyễn Du là Nguyễn Khản, đậu đồng Tiến sĩ được bổ chức Thập
nhị bồi tụng, rồi từng giữ chức Tả thị lang bộ Hình kiêm Hiệp trấn sứ Tây Sơn, làm quan cùng triều với thân phụ
Anh thứ hai là Nguyễn Điều, trúng Tam trường thi Hội, làm quan đến chức thủ Hưng Hóa, được phong Điền Nhạc Hầu
Anh thứ ba là Nguyễn Dao, trúng Tứ trường thi Hương, chịu chức Hồng lo tự
thức
Anh thứ tư là Nguyễn Luyện, trúng Tam trường thi Hương
Anh thứ năm là Nguyễn Trước và anh thứ sáu là Nguyễn Đề đều trúng Tứ trường thi Hương
Bác là Nguyễn Huệ (anh của Nguyễn Nghiễm) đỗ tiến sĩ, làm quan đồng triều
với Nguyễn Nghiễm
…
Theo Phạm Ðình Hổ thì dòng họ này có 12 tiến sĩ và 5 quận công
Dòng họ không chỉ nhiều người làm quan, mà còn có nhiều người viết sách, làm văn, nghĩa là một gia đình có truyền thống về văn học Nguyễn Quỳnh, ông nội Nguyễn Du là một nhà triết học chuyên nghiên cứu Kinh Dịch Nguyễn Nghiễm, một
sử gia, đồng thời là một nhà thơ Nguyễn Khản, anh cả Nguyễn Du, giỏi thơ Nôm, hay làm thơ đối đáp với Trịnh Sâm Tương truyền ông là một trong những người có dịch
Chinh ph ụ ngâm của Đặng Trần Côn ra tiếng Việt Nguyễn Nễ, anh cùng mẹ với
Nguyễn Du, Nguyễn Thiện, cháu gọi Nguyễn Du bằng chú ruột, Nguyễn Hành, em
ruột Nguyễn Thiện đều là nhà thơ, nhà văn nổi tiếng cả
Và như một điều hiển nhiên, với một truyền thống gia đình như thế, năng khiếu văn học của Nguyễn Du có điều kiện nảy nở và phát triển từ sớm
Nguyễn Du từ nhỏ thiên tư thông mình lại ham đọc sách, không chỉ sách Nho
mà cả Lão, Phật, Binh đều đọc cả Tuổi thơ sống hạnh phúc không lâu thì mười tuổi
Trang 23mồ côi cha, mười hai tuổi mồ côi mẹ Bốn anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chưa một người đến tuổi trưởng thành, gia đình bên ngoại không phải nơi quyền quý, nên anh
em Nguyễn Du phải đến ở với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản, đang làm Tả thị lang Bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây Nhưng chỉ vài năm sau địa vị của Nguyễn
Khản cũng lao đao, nghiêng ngửa do bị cuốn vào vòng tranh quyền đoạt thế của nhà Chúa Nguyễn Khản phải chạy trốn về Hà Tĩnh Trong thời gian đầy biến động này Nguyễn Du vẫn còn ít tuổi Năm 1783, Nguyễn Du mười tám tuổi, ông đi thi Hương ở Sơn Nam, đậu Tam trường Tuy đỗ đạt văn chương nhưng ông lại khởi nghiệp quan trường bằng chức quan võ Trước kia, một ông quan họ Hà, làm việc dưới quyền Nguyễn Nghiễm, giữ chức Chánh thủ hiệu đội quân hùng hậu ở Thái Nguyên, không
có con trai, xin Nguyễn Du làm con nuôi Sau người họ Hà mất, Nguyễn Du được kế chân chức ấy
Những năm tuổi nhỏ, nhà thơ sống trong vàng son, nhung lụa của cuộc sống quý tộc, giàu sang Nhưng cuộc sống ấy kéo dài không bao lâu, những biến cố dữ dội
của thời đại và của gia đình đã nhanh chóng đẩy nhà thơ ra giữa bão táp của cuộc đời
Năm 1789, Tây Sơn kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi vạn quân Thanh, Lê Chiêu Thống cùng đám quan lại tùy tùng bỏ nước chạy theo tàn quân của bọn xâm lược Ba anh em cùng mẹ với Nguyễn Du chạy theo Lê Chiêu Thống không kịp, Nguyễn Du từ giã Nguyễn Nễ, Nguyễn Úc trở về quê vợ ở xã Hải An, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình), sống nhờ người anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn, lúc này
đã ra cộng tác với Tây Sơn và đang giữ chức Thị lang Bộ Lại Sau đó mấy năm ông bỏ
về Hà Tĩnh
Năm 1796, thấy mình sức đơn lực mỏng không thể làm chuyện phục quốc, ông lên đường vào Gia Định theo phò Nguyễn Ánh nhưng bị viên trấn tướng của Tây Sơn
là quận công Nguyễn Thận bắt giữ Ông bị giam ba tháng, sau vì quận công Nguyễn
Thận là bạn của Nguyễn Nễ, lại mến tài Nguyễn Du nên tha cho Từ đấy Nguyễn Du
về ở hẳn Tiên Điền trong một thời gian dài Nguyễn Du chán nản, con người nhà Nho thuộc lòng “tam cương” trong ông buồn vì không thể làm được như các bậc tiền nhân Nho giáo Điều này, một phần lý giải vì sao trong Bắc hành tạp lục, ông dành tình cảm
đặc biệt hâm mộ quý trọng những bậc trung thần tiết liệt vì chúa quên thân
Trang 24Trong những năm tháng “mười năm gió bụi” và những năm về quê sống “dưới
chân H ồng Lĩnh”, nhà thơ theo đuổi lý tưởng chính trị chống Tây Sơn nhưng cũng
chính những năm tháng vui buồn lẫn lộn này, thiên tài lỗi lạc của Nguyễn Du đã được
ấp ủ và nảy nở, hồn thơ bất diệt ấy đã cùng sống, cùng buồn, cùng vui với những niềm vui, nỗi buồn của dân tộc, ông hiểu biết hơn về tầng lớp nhân dân lam lũ bần hàn, sống
gần gũi với nhiều tầng lớp người trong xã hội Nếu xuất thân và gia tộc ươm mầm nơi ông sự bác học uyên thâm thì quần chúng nhân dân đã làm nảy nở nơi ông cái hồn chân chất bình dị mà muôn vàn cao quý của dân tộc
Nguyễn Du sống ở Hồng Lĩnh cho mãi đến đầu mùa thu năm 1802 Bấy giờ Gia Long đã lật đổ triều đại Nguyễn Quang Toản lên làm vua Tháng 8 năm ấy, Nguyễn
Du được bổ làm tri huyện Phù Dung Tháng 11, đổi làm tri phủ Thường Tín Sang năm sau ông được cử lên cửa Nam Quan tiếp sứ thần Trung Quốc Năm 1805, Nguyễn Du được thăng Đông các điện học sĩ, phong tước Du Đức hầu Năm 1807, được cử làm giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương Năm 1809, được bổ làm Cai bạ dinh
Quảng Bình Năm 1813, Nguyễn Du thăng Cần chánh điện học sĩ và được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc Sau khi về nước, năm 1815 ông được thăng Hữu Tham tri Bộ
Lễ Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, định cử ông làm chánh sứ sang Trung Quốc lần
nữa, để cầu phong nhưng chưa kịp thì ngày 16 tháng 9 năm 1820, ông mất đột ngột trong một nạn dịch kinh hoàng làm chết hàng vạn người
Như vậy, cuộc đời làm quan nhà Nguyễn của Nguyễn Du rất thuận lơi Ông thăng quan tiến chức rất nhanh và giữ nhiều chức vị quan trọng trong bộ máy chính quyền
Nguyễn Du mất ở kinh, lúc đầu chôn ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh
Thừa Thiên, bốn năm sau mới dời về an táng ở Tiên Điền Lúc nhà thơ qua đời, quan
lại ở kinh nhiều người làm câu đối phúng viếng, hết lời ca ngợi tài hoa của nhà thơ:
“Nh ất viện cầm tôn nhân ký khứ,
Đại gia văn tự thế tranh truyền.”
(Rượu đàn đầy viện người đi xa vắng,
Văn tự hơn đời tiếng dội vang.)
Hay:
Trang 25“Nh ất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh, sinh bất thiểm,
Bách niên s ự nghiệp, tại gia, tại quốc, tử do vinh.”
(Một kiếp tài hoa, làm sứ, làm khanh, sinh chẳng thẹn,
Trăm năm sự nghiệp, ở nhà, ở nước, chết còn vinh.)
Cuộc đời Nguyễn Du tràn ngập sóng gió, tận mắt chứng kiến cảnh thay đổi sơn
hà, chiến tranh loạn lạc, gia đình li tán, anh em phiêu bạt mỗi người mỗi ngã Xuất thân trong một gia đình đại quý tộc nhưng lại sớm bị ném vào cơn bão táp thời đại, trôi
giạt từ đầu sông đến cuối bể, cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, bệnh không có thuốc,
vợ con nheo nhóc, đau khổ đến tuyệt vọng Nhưng cũng chính trong những năm tháng chìm nổi cùng cực đau thương ấy đã giúp ông hiểu đời, hiểu người nhiều hơn, sống
gần gũi chan hòa với người dân cùng khổ nhiều hơn, giúp ông có một con mắt nhìn đời thấu triệt và ngòi bút thoát ra khỏi lầu son gác tía để gần gũi với nhân dân hơn
Tóm lại ở Nguyễn Du đã có những yếu tố cơ bản để trở thành một nghệ sĩ thiên tài: tài năng, tri thức, vốn sống, tâm hồn, tư tưởng tình cảm
1.1.3 Văn nghiệp
Xét về nội dung, qua các sáng tác của Nguyễn Du, nét nổi bật chính là sự đề cao xúc cảm, tức đề cao “tình” Điều quan trọng hàng đầu, là sự cảm thông sâu sắc của tác
giả đối với cuộc sống và con người, đặc biệt là những con người nhỏ bé, bất hạnh: Văn
t ế thập loại chúng sinh, Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả Cái nhìn nhân đạo này
khiến ông được đánh giá là tác giả tiêu biểu của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn
học cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Riêng với Truyện Kiều, kiệt tác này còn thấm
đẫm tinh thần ngợi ca, trân trọng vẻ đẹp của tình yêu và lên tiếng đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân con người
Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Du là nhà thơ có học vấn uyên bác, nắm vững nhiều
thể thơ của Trung Quốc như: ngũ ngôn cổ thi, ngũ ngôn luật, thất ngôn luật, ca, hành… nên ở thể thơ nào, ông cũng có bài xuất sắc Đặc biệt hơn cả là tài làm thơ
bằng chữ Nôm của ông, mà bằng chứng là ở Truyện Kiều, đã cho thấy thể thơ lục bát
“có kh ả năng chuyển tải nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể loại truyện thơ.” [5]
Chính trên cơ sở này mà trong thơ Nguyễn Du luôn luôn vang lên âm thanh,
bừng lên màu sắc của sự sống, hằn lên những đường nét sắc cạnh của một bức tranh
Trang 26hiện thực đa dạng Và giữa những âm thanh, màu sắc, đường nét vô cùng phong phú
đó, Nguyễn Du hiện ra: vừa dạt dào yêu thương, vừa bừng bừng căm giận Đây là chỗ đặc sắc và cũng là chỗ tích cực nhất trong nghệ thuật của Nguyễn Du Từ thơ chữ Hán
đến Truyện Kiều, nó tạo nên cái sức sống kỳ lạ ở hầu hết tác phẩm của ông
Thơ chữ Hán Nguyễn Du gồm ba tập:
Thanh Hiên thi t ập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, còn gọi là Thanh
Hi ền tiền hậu tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài thơ trong giai đoạn
1786-1804, gồm 10 năm gió bụi, ông sống ở Thái Bình quê vợ, 6 năm trở lại nhà dưới chân núi Hồng Lĩnh và 2 năm làm tri huyện ở huyện Bắc Hà Tập thơ là các bài viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn
Nam trung t ạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi
làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh
B ắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm
132 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc
Nhận xét về mảng thơ này, Ngữ văn 10 tập 2 viết:
“Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, nhân cách của ông Các bài thơ trong Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm tuy biểu hiện một tâm trạng
bu ồn đau, day dứt nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời, về xã hội của tác giả Trong Bắc hành tạp lục, những điểm đặc sắc tư tưởng, tình
c ảm của Nguyễn Du được thể hiện rõ ràng hơn Có ba nhóm đáng chú ý: Một là ca
ng ợi, đồng cảm với các nhân cách cao thượng và phê phán những nhân vật phản diện Hai là phê phán xã h ội phong kiến chà đạp quyền sống con người Ba là cảm thông
v ới những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi…” [36, tr.94]
Tác phẩm bằng chữ Nôm gồm có:
Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột, tên phổ biến là Truy ện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát Nội dung
của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung
Quốc Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái tài sắc vẹn toàn
Trang 27Về thời điểm sáng tác, Từ điển văn học ghi: “Có thuyết cho rằng Nguyễn Du
vi ết ra sau khi ông đi sứ Trung Quốc (1814-1820), có thuyết cho nói ông viết trước khi
đi sứ, có thể vào khoảng thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-1809) Thuyết sau được nhiều người chấp nhận hơn” [35, tr.1844]
Ngữ văn 10 tập 2 đánh giá: “Trên nền tảng nhân đạo chủ nghĩa vững chãi, với
tài năng điêu luyện, với sự lựa chọn thể loại truyện thơ kết hợp nhuần nhuyễn cả chất
t ự sự và chất trữ tình, với sự am hiểu đồng thời cả ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn
ng ữ văn học bác học, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một kiệt tác độc nhất vô nhị của văn
h ọc trung đại Việt Nam.” [36, tr.94]
Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại
chúng sinh), hiện chưa rõ thời điểm sáng tác Trong văn bản do Đàm Quang Thiện
hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người
chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có
lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả khi ông còn làm Cai bạ ở Quảng Bình
(1802-1812) Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm
Ngữ văn 10 tập 2 nhận xét: “Nguyễn Du viết bài thơ chiêu hồn cho nhiều hạng
người khác nhau, kể cả những người thuộc tầng lớp phong kiến quý tộc Song tấm lòng nhân ái c ủa nhà thơ vẫn hướng về những thân phận nhỏ bé, dưới đáy xã hội…Do giá tr ị nhân đạo sâu sắc mà Văn Chiêu hồn đã được phổ biến rộng rãi, kể cả trong
ph ạm vi nhà chùa.” [36, tr.95]
Thác l ời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát Nội dung là thay
lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải
Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất
hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác
Hai bài này được sáng tác khoảng thời gian Nguyễn Du về sống ở Nghệ An, sau khi bị quân Tây Sơn bắt giữ rồi thả Cả hai bài thơ đều mang âm hưởng dân gian đậm
nét Bài Thác l ời trai phường nón thì tình tứ với ca dao và vè Bài Văn tế sống hai cô
Trang 28gái Trường Lưu lại xuất hiện hình bóng của ca dao, thành ngữ, tục ngữ Dù vậy, việc
vận dụng này lại chưa được nhuần nhuyễn, quá chú tâm vào âm hưởng dân gian khiến tác giả bị lệ thuộc, khó bộc lộ cá tính sáng tạo độc đáo của mình
Tài năng văn chương thiên tài của Nguyễn Du được nhân dân kính trọng tôn xưng là “Đại thi hào dân tộc” Rất nhiều nhà thơ sau này làm thơ để ca ngợi và bày tỏ tình cảm sâu đậm của mình dành cho ông:
“Khi Nguy ễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguy ễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn
Khi Nguy ễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng”
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng - Chế Lan Viên)
“Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Ti ếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.”
(Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu)
“Đời nay đẹp gấp trăm lần thuở trước
Gi ở trang Kiều còn rung động ý thơ
Thơ Người mãi sống cùng đất nước
Dù mai sau dù có bao gi ờ.”
(Thăm mộ cụ Nguyễn Du - Hoàng Trung Thông)
1.2 B ắc hành tạp lục
1.2.1 Xuất xứ của Bắc hành tạp lục
B ắc hành tạp lục (Ghi chép tản mạn trên đường đi sứ phương Bắc) là tập thơ
bao gồm 132 bài thơ chữ Hán do Nguyễn Du sáng tác trong khoảng thời gian ông dẫn đầu đoàn sứ bộ nhà Nguyễn sang Trung Quốc từ đầu năm Quý Dậu 1813 đến đầu năm Giáp Tuất 1814
1.2.2 Nội dung khái quát của Bắc hành tạp lục
Mở đầu tập thơ là bài cảm tác khi trở ra Thăng Long để lên đường sang Trung
Quốc cầm đầu sứ đoàn tuế cống và bài cuối là Chu phát (Thuyền ra đi) được làm khi
đoàn sứ bộ về đến Vũ Xương (Hồ Bắc, Trung Quốc) Kể từ đó không thấy Nguyễn Du sáng tác hay ghi chép gì thêm Chỉ một năm sáng tác mà đã trội hơn toàn bộ sáng tác
Trang 29thơ chữ Hán của ông trong suốt mười mấy năm trước cộng lại vì như ông nói: “thì giờ
trên đường gió bụi, một nửa là đọc sách và ngâm thơ” (Khách lộ trần ai bán độc thư -
Đông lộ) Giải thích điều này, Từ điển văn học (bộ mới) có đoạn: “Sáng tác được
nhi ều, một phần vì những vấn đề xã hội trước đây Nguyễn Du mới cảm biết một cách
l ờ mờ, thỉ bây giờ cuộc sống giúp nhà thơ nhận thấy rõ nét Phần nữa, nhờ đi ra nước ngoài, nhà thơ có thể mượn nhiều đề tài lấy từ lịch sử và hiện tại của nước người để nói nh ững điều Nguyễn Du muốn nói về nước mình, tránh được sự công kích của các
th ế lực phong kiến lúc ấy.” [35, tr.1122] Văn học 11 tập I có nhận xét tương tự: “Bắc hành t ạp lục được viết ở nước ngoài, mượn đề ở nước ngoài, nên việc ăn nói của Nguy ễn Du có phần thoải mái hơn” [32, tr.24]
Phần đầu tập thơ là 9 bài mô tả cảnh vật từ Thăng Long đến ải Nam Quan Số còn lại (123 bài) sáng tác trên đất Trung Quốc và lấy đề tài trên đất nước này
Tập thơ ghi lại những điều trông thấy, những cảm nghĩ dọc đường, dẫn dụ, khơi
gợi người đọc chú ý đến những vấn đề liên quan đến hiện thực và con người, lịch sử
và văn hóa, cá nhân và nhân loại,… ẩn trong đó là những triết lý, tư tưởng sâu sắc của nhà thơ
Danh lam thắng cảnh, hoa thơm cỏ lạ trên con đường đi sứ Trung Hoa làm thức
dậy lòng yêu thiên nhiên của vị sứ giả
“Giang Nam, H ồ Bắc địa tương lân
Nh ật nhật phồn hoa bất kí xuân
Ng ọc địch lâu đầu thiên thượng khúc,
Thùy dương trung ngoại họa trung nhân.”
(Quảng Tế kí thắng)
(Giang Nam và Hồ Bắc giáp với nhau,
Ngày nào cũng là cảnh phồn hoa nên chẳng nhớ tới màu xuân nữa
Sáo ngọc trên lầu thổi khúc nhạc trên trời,
Cây thùy dường ngoài cửa như người đẹp trong tranh.)
Trong B ắc hành tạp lục, rất ít thấy xuất hiện những cảnh sắc thiên nhiên thơ
mộng, hữu tình Tác giả chủ yếu ghi lại cảnh đường đi hiểm trở: núi non trùng điệp, sông nước, ghềnh thác, mưa, lụt, nắng dữ; những tây phong, thu phong buốt giá; tiếng
Trang 30vượn hú, quạ kêu bi ai, tiếng ve như “điệu thanh thương” sầu thảm; cảnh chiều hiu hắt, đêm quạnh vắng, đến cả những buổi bình minh cũng mờ mịt, lạnh lẽo… Nhiều bức tranh thiên nhiên đã thoát dần khỏi bút pháp ước lệ
“L ộ xuất lương phong ngoại,
Nhân hành li ệt nhật trung.”
(Hà Nam đạo trung khốc thử)
(Trên đường vẫn chưa có gió mát
Người đi trong ánh nắng gay gắt)
“Băng nhai quái thạch nộ tương hướng”
(Chu hành tức sự)
(Vách núi lở, tảng đá kỳ quái như giận dữ nhìn nhau)
“B ạch ba tương nhật tẩu xà long,
Thanh sơn lưỡng ngạn giai sài hổ.”
(Bất tiến hành)
(Suốt ngày sóng bạc cuộc lên như rồng rắn
Núi xanh hai bên bờ như hùm beo, lang sói)
“Bách lý t ản lưu vô định phái,
Nh ất ba sực khởi tiện thành châu.”
“Công đạo Trung Hoa lộ thản bình,
Trung Hoa đạo trung phù như thị!”
(Ninh Minh giang chu hành)
(Ai cũng bảo đường trên đất Trung Hoa bằng phẳng
Hoá ra đường Trung Hoa lại thế này!)
Trang 31Nhà thơ đã quan sát, cảm nhận thế giới thiên nhiên ấy bằng cái nhìn hiện thực, đời thường:
“Nh ất hành tam nhật tâm huyền huyền
Tâm huy ền huyền đa sở úy,”
(Ninh Minh giang chu hành)
(Suốt ba ngày đi thuyền lòng thấp thỏm
xám vì đói, tiếng thều thào xin ăn… của những con người nhỏ bé bất lực trong xã hội
xuất hiện đầy ám ảnh trong Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả
Một đề tài hết sức quan trọng trong Bắc hành tạp lục là viết về những danh
nhân, những nhân vật và địa danh lịch sử Nguyễn Du cũng như hầu hết trí thức nước
ta thời phong kiến thông thuộc lịch sử Trung Hoa, mến mộ tài năng của nhiều thi nhân, thuộc lòng tiếng tăm của các danh tướng… nhưng mấy ai đã được đặt chân lên quê hương họ, những nơi họ từng lập chiến tích, hoặc được chứng kiến lăng mộ, đền miếu
của họ Nguyễn Du có được cái may mắn đi qua nhiều nơi mà tên đất, tên người đã
thức dậy những tri thức từ sách vở, để ông bày tỏ lòng khâm phục, tiếc thương và có khi là trách móc, phê phán một nhân vật nào đó trong lịch sử Trung Hoa Trong Bắc
hành t ạp lục, Nguyễn Du đã trực tiếp làm thơ hoặc đề cập đến hơn 50 nhân vật, từ các
nhà thơ kiệt xuất như Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lý Bạch… các ông vua, danh tướng như Sở Bá Vương, Tào Tháo, Hàn Tín, Mã Viện… đến các thuyết khách như Tô Tần, Kinh Kha… Phần lớn di tích nằm bên đường sứ đoàn đi ngang qua, nhưng có đền
miếu không ở gần, buộc nhà thơ phải “vọng kiến”
Nguyễn Du đã đứt ruột đứt gan vì thương tiếc cho những người phụ nữ mang cái án “hồng nhan họa thủy”, “tài hoa bạc mệnh” Những phận má hồng trong Bắc
hành t ạp lục không nhiều, họ mang thân phận cao quý là phu nhân, phi tần nhưng nỗi
đau “hồng nhan bạc phận” cũng không tha cho họ
Trang 32Những tấm gương trung nghĩa tiết mang mối sầu “cô trung vạn cổ truyền”,
những người anh hùng kiệt ngạo có sức mạnh cãi biến giang sơn, những văn sĩ thi nhân trí tuệ phi phàm lại cũng không thoát được “mệnh trời” - “tài hoa bạc mệnh”
Bên cạnh đó, Nguyễn Du cũng tỏ thái độ căm ghét, mỉa mai, khinh bỉ cái xấu cái ác Nguyễn Du dùng ngòi bút mà vạch trần bộ mặt gian ác xấu xa của Mã Viện,
Tần Cối, Vương Thị,…
Đối với từng loại người, Nguyễn Du lại có cách đánh giá và bình phẩm khác nhau Đặc biệt, ông quan tâm nhiều đến các nhân vật lịch sử Trung Quốc, đặt họ trong
bối cảnh không gian và thời gian khác nhau Sự đối lập giữa quá khứ cảnh xưa người
cũ và hiện tại giúp ông chiêm nghiệm, suy tư và nói lên nỗi lòng thầm kín đầy ẩn ức
của mình
Điều đặc biệt khác, Bắc hành tạp lục là một tập thơ sứ trình, vậy mà thơ “thù
phụng” (thơ đối đáp, ca ngợi) tuyệt đối không có Chỉ có, theo GS Nguyễn Huệ Chi,
“con người chủ thể đối thoại với lịch sử Và lịch sử cũng chỉ được mượn tên để ký thác
nh ững hình ảnh, tâm sự, vấn đề thời đại của Nguyễn Du Tính chất vịnh sử vì thế rất
m ờ nhạt, trái lại, cá tính sáng tạo của tác giả biểu hiện rất rõ và sâu Có thể nói Nguy ễn Du đã sử dụng vốn sống nhiều mặt, tích lũy được trong thời đại bão táp của mình, để tái hiện lại diện mạo của lịch sử và văn hóa Á Đông truyền thống, thông qua
c ảm hứng của cái “tôi” trí tuệ và trữ tình” [35, tr.104]
Cũng như nhiều nhà thơ chữ Hán khác, phần lớn thơ chữ Hán của Nguyễn Du dùng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật và thơ tứ tuyệt Nhưng so với Thanh Hiên thi
t ập và Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục có nhiều bài thơ trường thiên (dài trên 8
câu) hơn Trong Thanh Hiên thi tập chỉ có ba bài trường thiên là Ký mộng, Hành lạc từ
và Lam giang Nam trung t ạp ngâm không có bài trường thiên nào, còn Bắc hành tạp
l ục có đến 18 bài trường thiên, trong đó có ba bài dài nhất là Trở binh hành (63 câu), Long Thành c ầm giả ca (50 câu không kể lời Tiểu dẫn) và Sở kiến hành (42 câu) Phải
chăng trong nhiều trường hợp do nội dung cần ôm chứa không thể gói gọn trong thể thơ thất ngôn bát cú quen thuộc, buộc đại thi hào phải sử dụng thơ trường thiên?
Trang 331.2.3 Vị trí của Bắc hành tạp lục trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du
Nếu nói Thanh Hiên thi tập và Nam trung tạp ngâm là những tập thơ viết cho riêng mình thì B ắc hành tạp lục mặc dù cũng là những lời tâm sự nhưng nỗi lòng của
nhà thơ đã mở rộng ra hơn để tiếp nhận những âm thanh của cuộc sống với nhiều khía
chữ Hán Nguyễn Du nói riêng và trong sự nghiệp thơ Nguyễn Du nói chung Đặt trong
hệ thống dòng thơ sứ trình, nó còn được đánh giá là một đỉnh Thái Sơn Nó là bằng
chứng về nỗi ưu thời mẫn thế trong một tâm hồn nhạy cảm
1.2.4 Hoàn cảnh Nguyễn Du tiếp xúc với những người đã mất trong Bắc hành tạp
l ục
1.2.4.1 Không gian
Đối với người Việt Nam sống phải có nhà mà chết phải có mồ Khi còn sống dù người đó có quyền quý cao sang hay bần hàn cơ cực thì lúc từ giã cõi đời vẫn mong được mồ yên mả đẹp Như vậy, “nhà” hay “mồ” đều là không gian có “mái che” quan
trọng nhất của đời người mà không có nó thì không được
Nói về khía cạnh này, PGS TS Lê Thu Yến cho rằng đây là “loại không gian
có mái che nhưng khác với nhà cửa, nó vừa rộng hơn vừa hẹp hơn Rộng hơn là vì thông qua m ồ mả còn có sự thăng hoa tới một đỉnh trời nào đó Còn hẹp hơn là do kích thước đã thấy rõ ràng Một điểm khác nữa, tuy cả hai cùng là mái che nhưng nhà
là mái che c ủa người sống, còn mồ mả là mái che của người chết” [54, tr.151]
Con người khi chết chỉ mất đi phần xác, còn lại phần hồn Tục thờ cúng ông bà
của ta ngày xưa, thậm chí cho đến bây giờ vẫn thế Đối với người ở dương thế thì âm
phần là nơi linh thiêng bởi thế mới có câu “giữ như giữ mả tổ” hay khi gia đình có chuyện gì không như ý sẽ nghĩ ngay đến việc “động mồ động mả” Bởi mồ mả có ý nghĩa tâm linh to lớn với mỗi người như vậy nên cùng với việc thờ cúng thì mồ mả luôn được tôn trọng, chăm sóc chu đáo kĩ lưỡng Cùng với việc thể hiện ý thức tâm
Trang 34linh về việc linh hồn người chết vẫn còn tồn tại, che chở, phù hộ cho con cháu thì việc chăm lo cho ngôi nhà của người chết còn thể hiện nét văn hóa dân tộc giàu chất nhân văn “uống nước nhớ nguồn”, dù con người ấy đã không còn tồn tại trên cõi đời này thì
những người còn sống vẫn không quên ghi nhớ công ơn dưỡng dục sinh thành, ghi nhớ
những tình cảm gia đình ngọt bùi cay đắng bên nhau, ghi nhớ về những hình ảnh thưở sinh thời của người đã chết
Mộ là nơi yên nghỉ cuối cùng của người sống, là biểu tượng mạnh mẽ nhất cho cái chết Việc chăm sóc chu đáo mồ mả là sự thể hiện ý thức trách nhiệm và kính ý đối
với người đã chết Thế nhưng, trong Bắc hành tạp lục xuất hiện vô số những nấm mộ,
gò, đống hoang tàn, giá lạnh
Viết về mồ mả tha ma Nguyễn Du đã thể hiện niềm tin thiêng liêng của mình về
thế giới cõi âm, bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc trước cái chết bi thiết của người đời Như một quy luật bất biến của thế giới tự nhiên, con người sinh ra lớn lên, trải qua bao thăng trầm sóng gió, dù giàu sang hay bần hàn, dù quyền cao chức trọng hay kẻ tiểu
tốt vô danh thì cuối cùng cũng phải về với ba tấc đất, trở về cõi hư vô mà thôi Chẳng
ai mang theo được gì cho mình khi trở về lòng đất mẹ
Trong thơ Nguyễn Du dù là thơ Nôm hay thơ chữ Hán đều nhan nhản những
nấm mồ cứ như ông bị ám ảnh bởi thế giới hoang tàn giá lạnh của cõi âm Đặc biệt
những nấm mồ mà ông quan tâm lại không phải lăng tẩm uy quyền của vương triều, không phải mồ mả khang trang bề thế mà là những gò hoang hơi lạnh, những nấm mồ
chỉ còn trơ nắm đất, không nhìn kĩ cũng chẳng nhận ra
“Thu th ảo nhất khâu tàng thử hạc”
(Âu Dương Văn Trung mộ)
(Một gò cỏ thu trở thành nơi chứa chuột chồn)
“Ngõa l ịch Ngô cung hoang đế nghiệp,
Kinh trăn cổ mộ thượng hùng danh.”
(Chu Lang mộ)
(Cung Ngô thành ngói gạch vụn, nghiệp đế tan hoang,
Ngôi mộ cổ gai góc mọc đầy, nức tiếng anh hùng.)
“Bi tàn m ột tự mai hoang thảo”
Trang 35(Liễu Hạ Huệ mộ)
(Bia tàn, chữ mất, chôn vùi trong đám cỏ hoang)
Hệ thống hình ảnh nghệ thuật mồ mả xuất hiện tràn lan trong tập thơ như thổi
một làn khí lạnh lẽo, u ám, xám xịt, đau thương lên hầu hết các bài thơ
“Thiên niên c ổ mộ trường kinh cức,
V ạn lý quan đạo đa phong ai.”
(Lưu Linh mộ)
(Mộ cổ nghìn năm gai góc mọc đầy,
Đường quan muôn dặm nhiều gió bụi.)
“Đãng đãng thu nguyên khâu lũng bình,
M ộ bi do chí Tấn Công danh.”
(Bùi Tấn Công mộ)
(Cánh đồng mùa thu rộng bát ngát, gò đống vắng vẻ,
Bia mộ còn ghi tên Tấn Công.)
Đối với người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung, đều rất coi trọng vấn đề tâm linh Con người sinh ra rồi chết đi nhưng chết không có nghĩa là
chấm dứt mà chỉ là mất đi phần xác thịt phàm trần, còn lại cái phần linh hồn vẫn sẽ tồn
tại ở nơi âm tào địa phủ Với niềm tin tín ngưỡng mạnh mẽ người chết chỉ là rời bỏ thế
giới này để bước chân đến một thế giới khác mà thôi, nên khi một người qua đời người đời gọi là “quy tiên”, nghĩa là về với tổ tiên, người sống sẽ làm ma chay để tiễn đưa người chết về nơi chín suối, mùng một ngày rằm đều làm lễ cầu cúng, ngày tết cũng
khấn mời người chết về ăn tết cùng vậy nên nơi thờ cúng nhà nào cũng có, bàn thờ bao
giờ cũng được đặt ở vị thế cao và ở nơi trang nghiêm nhất trong ngôi nhà Đối với
những bậc hiền nhân, kì tài được người đời tin yêu, tôn kính, nhân dân và triều đình đều xây dựng đền, đài, đình, miếu để thờ cúng tri ân, ghi nhớ công ơn tài đức và tỏ lòng thành kính quý trọng Nhưng hàng loạt nơi thờ cúng tôn nghiêm này cũng giống như những nấm mộ hoang đã trở nên xiêu ngã, hoang lạnh cùng những biến thiên của nhân tình thế thái ở đời
“Nh ất đình thu mộ thảo thê thê”
(Một ngôi đình trong cảnh thu muộn, cỏ um tùm)
Trang 36(Tô Tần đình I)
“Nhân t ử cầm vong đài diệc hoang”
(Kê Khang cầm đài)
(Người chết, đàn mất, đài cũng đổ nát)
“C ựu đài nhân một, thảo ly ly”
(Quản Trọng Tam Qui đài)
(Đài cũ đổ nát, cỏ mọc tràn lan)
Rất nhiều những con người nổi tiếng tài hoa dù cuộc đời nơi trần thế có hanh thông hoạn lộ hay chìm nổi truân chuyên thì đến lúc vị sứ nhà Nam tìm đến cũng chỉ còn có thể tâm sự cùng nấm mồ hoang, thắp nén nhang lòng trong đình đài đổ nát Nhà thơ đã tâm sự gì với những thân xác nằm dưới lòng đất lạnh, với những linh hồn phía sau làn khói mỏng chiếc bình hương, tất cả đều được ông gửi lại vào thơ Nói chuyện
với người ở nơi âm tào địa phủ mà nghĩ về cuộc đời mình ở trần thế dương gian, mà
ngẫm về bao điều thiên biến của thế thái nhân tình
Ngoài nơi mà người chết yên nghĩ và nơi thờ cúng của họ, Nguyễn Du còn thấy
thấp thoáng dáng hình của họ ở những nơi gắn liền với họ khi còn tồn tại ở chốn dương gian Đó có thể thể là quê hương của một người, là địa danh lịch sử làm nên tên
tuổi của một người, là nơi mà một người ngã xuống,…
Ở những vùng đất, di tích mà ông có dịp đi qua hay nhớ về thì ông thường có thái độ ngưỡng vọng thực sự và đào sâu vào lớp trầm tích được chôn sâu phía dưới để
thể hiện những triết lí, chiêm nghiệm của ông Nó có sức tái tạo lại những sự kiện, gợi
nhớ con người như là một chứng nhân và cũng là nạn nhân của lịch sử
Không gian mồ mả, không gian thờ cúng, không gian chết chóc lập đi lập lại như một sự ám ảnh trong tâm thức của nhà thơ
Không gian hiu hắt gây ám ảnh về sự tàn tạ của đời người Không gian hoang tàn ở những nơi từng ghi bao chiến công oanh liệt của những con người từng lừng lẫy
một thời, không gian lạnh lùng ở những nơi thờ cúng những người tài hoa, lỗi lạc tạo
sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại, giữa cái còn và mất của cuộc đời
1.2.4.2 Th ời gian
Trang 37Mùa thu báo hiệu thời gian gần kết thúc của một năm và gắn liền với sự tàn phai, héo úa của đời người Trong Bắc hành tạp lục có 25 bài thơ có hình ảnh mùa thu thê lương, tê tái: Đồng Tước đài, Thất thập nhị nghi trủng, Tô Tần đình, Dự Nhượng
ki ều, Bùi Tấn Công mộ, Á Phụ mộ,…
Người phương Đông là những người mang một nỗi sợ hãi vô hình đối với
những sự đổi thay trong cuộc sống, mà nỗi sợ vô hình lại hay ám ảnh trong vô thức con người, khoảnh khắc chuyển giao giữa mùa hè oi ả nóng cháy và mùa đông lạnh lẽo
giá băng là mùa thu tàn úa héo mòn, bởi thế tâm hồn nhạy cảm của các thi nhân luôn
hứng thú với mùa thu Mùa thu không chỉ là chuyển giao giữa nóng cháy và giá băng
mà nó còn báo hiệu thời gian gần kết thúc của một năm và gắn liền với sự tàn phai héo
úa của đời người Các thi nhân Việt Nam thường gửi vào mùa thu những nỗi niềm sầu
thảm, từ Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu của Nguyễn Khuyến đến Cảm thu, tiễn thu của
Tản Đà và Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, Thơ tình cuối mùa thu của Xuân Quỳnh
sau này
Như một cái duyên định sẵn, Nguyễn Du và mùa thu tìm đến với nhau một cách
hiển nhiên Nguyễn Du luôn đau nỗi đau của nhiều người, của cộng đồng, của nhân
loại, nên không ngạc nhiên khi ông nhạy bén với những tín hiệu mang dáng hình của
sự đau thương, chia ly, mất mát Mùa thu đi vào thơ ông và cùng với những tình cảm
vĩ đại của một con người vĩ đại tạo nên những vần thơ tê tái, xót xa
Trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du, mùa thu xuất hiện với những hình ảnh khá quen thuộc đã trở thành ước lệ trong thơ cổ: lá vàng rụng rơi lả tả (Thu chí, Thu dạ 1), hoa cúc nở vàng (Tạp ngâm 1, 3, Ngẫu hứng 2), rừng phong (Tạp ngâm 3, Nhiếp khẩu đạo trung), hơi lạnh giục người giặt vải may áo (Đại tác cửu thú tư quy), mái tóc bạc
và sự già nua hay được hình dung như làn sương thu (Thu dạ, Bát muộn, Thu chí, Thu
nhật ký hứng…),…
Trong B ắc hành tạp lục, cỏ thu tiêu điều, xơ xác lại là hình ảnh thơ được nhắc
đi nhắc lại nhiều nhất Khi đứng trước những nấm mồ hoang, những đình đài hoang
lạnh, thứ được nhìn thấy nhiều nhất, đập vào mắt đầu tiên chẳng phải là những ngọn
cỏ dại hay sao? Mà cỏ mùa thu thì làm sao còn lại vẻ đẹp mơn mởn, xanh tươi của mùa hè, mùa xuân nữa: cỏ thu tàn úa nơi đài Đồng Tước (Đồng Tước đài), cỏ thu tiêu
Trang 38điều bên ngoài thành Nghiệp gió đồng thổi (Thất thập nhị nghi trủng), ngôi đình Tô
Tần trong cảnh thu muộn cỏ rậm rạp (Tô Tần đình), cỏ thu xơ xác bên cầu Dự Nhượng (Dự Nhượng kiều), cỏ thu lan tràn trên đài đua ngựa thời Tần (Từ châu đê thượng
vọng)…
“Âm phong n ộ hào thu thảo mĩ.”
(Gió lạnh thét gào, cỏ thu tàn úa)
(Đồng Tước đài)
“Nghi ệp Thành thành ngoại dã phong xuy,
Thu th ảo tiêu tiêu cực sự phi.”
(Thất thập nhị nghi trủng)
(Phía ngoài thành Nghiệp, gió thổi lồng lộng
Cỏ thu tiêu điều, mọi việc đều đã khác trước.)
Mùa thu xuất hiện tràn lan trong Bắc hành tạp lục Thơ chữ Hán của Nguyễn
Du có 57 bài thơ xuất hiện mùa thu thì 25 bài thơ trong số đó án ngự trong Bắc hành
t ạp lục Trong tập thơ này Nguyễn Du nhiều lần trò chuyện cùng những linh hồn mông
lung cùng ngọn gió thu phiêu du vô định trên những ngọn cỏ úa tàn Bước chân của mùa thu đã đến bên đài Đồng Tước, bên đền Tô Tần, bên cầu Dự Nhượng,… Mùa thu
chỉ buồn, chỉ lạnh nhưng sự điêu tàn, xơ xác lại vì cảnh gây nên Cảnh vật nơi ghi dấu son của bao nhiêu người từng vang danh một thưở Tơi tả Hoang tàn Mùa thu và cảnh
vật nhuộm lên nhau những sắc buồn, thương
Bóng chiều cũng rợn ngợp trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Trong số 250 bài thơ
chữ Hán thì có đến 31 lần hình ảnh chiều tà xuất hiện Bức tranh chiều tà mang màu
sắc u ám và buồn bã Mùa thu vốn đã khiến cỏ cây héo úa, xác xơ lại thêm cái không khí lành lạnh, buồn buồn của buổi chiều càng khiến cảnh sắc thêm quạnh quẽ, lòng người thêm thê lương Không còn đơn thuần là thời gian của trời đất nữa mà đã ẩn
hiện thời gian của đời người, khi mà bóng chiều tà đổ xuống cũng là lúc bắt đầu khoảnh khắc của bóng tối, đem tới hơi thở giá buốt của cõi âm Thời gian nhuộm lên
bức tranh không gian vẻ mờ mịt, ảm đạm, tĩnh lặng cũng làm ẩn hiện tâm trạng cô đơn, sầu tủi, bế tắc của con người
“Trường tùng chi thảo sinh hà xứ?
Trang 39Ti ều mục ca ngâm quá dịch dương.”
(Âu Dương Văn Trung công mộ)
(Thông tốt, cỏ chi mọc ở đâu?
Chỉ nghe tiếng hát của tiều phu, mục tử lúc chiều hôm.)
“Trướng vọng Lâm An cựu lăng miếu,
Thê Hà sơn tại mộ yên trung.”
(Nhạc Vũ Mục mộ)
(Ta buồn trông về phía lăng miếu ở Lâm An,
Thấy núi Thể Hà chìm trong khói chiều.)
Trong B ắc hành tạp lục xuất hiện rất nhiều từ chỉ thời gian quá khứ Đa phần
các nhân vật trong tác phẩm này đều bước ra từ trong lịch sử hàng ngàn năm Quá khứ
xa xôi, những con người ấy dù danh vang ngàn đời thì cũng chỉ còn là bạch cốt Thời gian quá khứ làm sống dậy một thời huy hoàng, một thời vẻ vang, vạn người kính
phục, uy quyền, danh vọng,… nhưng tất cả đã trở thành cát bụi vùi sâu trong lớp cát
bụi thời gian Đối lập với quá khứ vàng son là thời gian hiện tại với mộ bia hoang tàn, nơi thờ cúng lạnh lẽo Sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại làm trỗi dậy tâm trạng hụt
hẫng, buồn thương Không chỉ thương cho những con người lừng lẫy mà còn thương cho những sự còn mất của cuộc đời, sự đối lập giữa quá khứ và hiện tại khiến ta phải nghĩ suy Có những thời vàng son đã qua sẽ không bao giờ trở lại Đời người rồi cũng
vậy, không thể thoát khỏi quy luật của tự nhiên, tranh đoạt để làm gì, công danh để làm gì, khi mà theo quy luật tất yếu của tự nhiên, rồi thời gian sẽ đưa đến bước chân
của sự lụi tàn
“B ạch cốt thiên niên cách tử sinh”
(Chỉ có nắm xương trắng nghìn thu chia cách kẻ sống người chết mà thôi.) (Bùi Tấn Công mộ)
“Thiên c ổ văn phong nhất xá xa”
(Nghìn năm sau, nghe tiếng ông, ta xuống xe để tỏ lòng thành kính.)
(Liễu Hạ Huệ mộ)
“Du du s ự hậu nhị thiên tải,
Đãng đãng thành biên nhất phiến sa.”
Trang 40(Chuyện đã qua hai nghìn năm dằng dặc,
Nay chỉ thấy bên bức thành một bãi cát mênh mông.)
(Hàn Tín giảng binh xứ)
Thời gian trong Bắc hành tạp lục không chỉ hoài cổ mà còn mang ý nghĩa của
số phận, của cuộc đời con người trong những thăng trầm của thời đại, của lịch sử Quá
khứ lẩn khuất trong kí ức về những con người không còn nữa Trong những buổi chiều thu chạng vạng của quá khứ không thấy bắt đầu và cũng chẳng biết kết thúc ấy ẩn hiện
thời gian thực tại Lật giở từng trang số phận lại thấy lẩn khuất cuộc đời mình
Không gian và thời gian ma mị cùng hàng loạt tên tuổi đã không còn tồn tại thân xác trên cõi trần tục này là một bối cảnh vô cùng thuận lợi để Nguyễn Du bắt đầu
cuộc trò chuyện bàn luận về cõi nhân sinh Không phải ngẫu nhiên mà trên đường đi
sứ xa vạn dặm của mình, cứ có thời gian là ông lại dừng lại để nhớ về người đã mất, để
thủ thỉ cùng những nấm mồ hoang lạnh Nó khơi nguồn từ trái tim luôn thường trực
những ưu tư, trăn trở về cuộc đời, về con người trong ông