1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu con người mất mát trong tiểu thuyết di sản của mất mát của kiran desai

110 106 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, các tác phẩm văn học Ấn Độ đương đại viết bằng Tiếng Anh đã được dịch và giới thiệu đến độc giả: Chúa trời những chuyện vụn vặt Arundhati Roy, Triệu phú khu ổ chuột Vikas S

Trang 1

Nguyễn Công Tỉnh

TÌM HIỂU “CON NGƯỜI MẤT MÁT”

TRONG TIỂU THUYẾT DI SẢN CỦA MẤT MÁT

CỦA KIRAN DESAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

Nguyễn Công Tỉnh

TÌM HIỂU “CON NGƯỜI MẤT MÁT”

TRONG TIỂU THUYẾT DI SẢN CỦA MẤT MÁT

CỦA KIRAN DESAI

Chuyên ngành : Văn học nước ngoài

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ BÍCH THÚY

Thành phố Hồ Chí Minh - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện Kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ở các công trình nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình

Người viết

Nguyễn Công Tỉnh

Trang 4

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Sở GD & ĐT Ninh Thuận, Ban Giám hiệu trường THPT Phan Chu Trinh (Ninh Thuận) cùng các đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua

Đồng thời, tôi xin gửi lời tri ân đến gia đình cùng bạn bè!

TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015

Học viên

Nguyễn Công Tỉnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 VĂN HÓA ẤN ĐỘ VÀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI MẤT MÁT 8

1.1 Văn hóa Ấn Độ - bản sắc và sự ảnh hưởng 8

1.1.1 Bản sắc 8

1.1.2 Sự ảnh hưởng 11

1.2 Vấn đề “Con người mất mát” 15

1.2.1 Cơ sở văn hóa, tôn giáo Ấn Độ 15

1.2.2 Những người chịu sự “mất mát” 17

1.3 Nhà văn Kiran Desai và Di sản của mất mát 21

1.3.1 Nhà văn Kiran Desai – người không kế thừa sự “mất mát” 21

1.3.2 Tóm tắt tác phẩm Di sản của mất mát 23

Chương 2 NHỮNG PHƯƠNG DIỆN “MẤT MÁT” CỦA “CON NGƯỜI MẤT MÁT” 27

2.1 Hành trình “mất mát” trong văn học Ấn Độ 28

2.1.1 Văn học cổ đại 28

2.1.2 Văn học trung đại 30

2.1.3 Văn học hiện đại 31

2.1.4 Văn học đương đại 33

2.2 “Con người mất mát” trong Di sản của mất mát 35

2.2.1 Nguyên nhân của sự “mất mát” 35

2.2.2 Biểu hiện của sự “mất mát” 43

Chương 3 CÁCH THỨC XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG “CON NGƯỜI MẤT MÁT” 61

3.1 Nhân vật “mất mát” 61

3.1.1 Con người đi tìm lý tưởng 62

Trang 6

3.1.2 Con người bi kịch 64

3.1.3 Con người cô đơn 66

3.1.4 Con người tự ý thức 68

3.2 Không gian “mất mát” 70

3.2.1 Không gian hiện hữu 71

3.2.2 Không gian tâm linh 79

3.3 Thời gian “mất mát” 86

3.3.1 Thời gian đa chiều 87

3.3.2 Thời gian hồi tưởng 91

3.3.3 Nhịp điệu, sự vận động của thời gian 94

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn học Ấn Độ đã được khẳng định từ lâu chính bởi sự độc đáo về đề tài, đa dạng và phong phú về thể loại Tuy nhiên, xét trên nhiều phương diện, văn học Ấn Độ đến với Việt Nam còn hạn chế, chưa thật sự phổ biến sâu rộng và vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bạn đọc Hiện nay, nền văn học Ấn Độ đương đại với những tên

tuổi của các nhà văn trẻ đã tạo một “dấu nhấn” trên văn đàn thế giới Ở Việt Nam,

các tác phẩm văn học Ấn Độ đương đại viết bằng Tiếng Anh đã được dịch và giới

thiệu đến độc giả: Chúa trời những chuyện vụn vặt (Arundhati Roy), Triệu phú khu ổ

chuột (Vikas Swarup), Cọp trắng (Aravind Adiga), Di sản của mất mát (Kiran

Desai),… Nhưng có thể thấy người đọc đang có xu hướng tìm đến dòng văn học Ấn

Độ và đang bị thu hút bởi chính dòng văn học Ấn viết bằng Tiếng Anh Trong số các tác phẩm thuộc dòng văn học Ấn Độ đương đại viết bằng Tiếng Anh được dịch ở Việt

Nam, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến cuốn tiểu thuyết Di sản của mất mát của Kiran

Desai và chọn nghiên cứu với những lý do sau:

1.1 Tác phẩm Di sản của mất mát của K Desai được giới phê bình ca ngợi khắp

Âu Á và Mỹ Câu chuyện về Ấn Độ những năm 80 này đã đem lại cho cô nhiều đề cử cũng như những giải thưởng danh giá: đề cử cho giải Orange, lọt vào vòng chung khảo giải Kiriyama, lọt vào danh sách mười cuốn tiểu thuyết hay nhất do tạp chí Observer bình chọn, giành giải thưởng cho tiểu tuyết của hiệp hội các nhà phê bình Mỹ,… và đặc biệt giành giải thưởng Man Booker năm 2006 Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, làm say mê hàng triệu đọc giả Vào năm 2008,

Inheritance of loss của Kiran Desai được dịch giả Nham Hoa giới thiệu với độc giả

Việt Nam với nhan đề Di sản của mất mát Tuy nhiên, việc tiếp nhận tác giả cũng

như tác phẩm này ở Việt Nam vẫn chưa thật sự sâu rộng

1.2 Trước nền văn hóa Ấn Độ, mỗi người đều trở nên nhỏ bé Vì trong nền văn hóa đó cái gì cũng đồ sộ, hùng vĩ Hơn nữa, thành phần quan trọng tạo nên khuôn mặt thống nhất và đa dạng của Ấn Độ là văn hóa Văn hóa Ấn Độ là cả một gia sản lớn Tuy vậy trong bản thân nó đã chứa đựng những sai lệch, mất mát Với Kiran Desai,

“Inheritance of loss” là “một sự mất mát có tính kế thừa”, “lại là cả một danh sách

Trang 8

kế thừa kéo dài” Đây là cuốn tiểu thuyết kể về niềm hân hoan đi đôi với nỗi thất vọng

của các nhân vật khi phải đối diện với biết bao lựa chọn trong cuộc sống Cho nên, có thể xem cuốn tiểu thuyết là tiếng nói đầy nhức nhối cho một sự kế thừa đầy rẫy sự mất mát ẩn chứa trong một gia sản lớn lao được truyền lại từ đời này sang đời khác

1.3 Văn học đương đại Ấn Độ với sự xuất hiện của nhiều cây bút trẻ tài năng đã tạo được dấu ấn và gây tiếng vang khi liên tục đạt được những giải thưởng văn học có giá trị Có thể nói, văn học đương đại Ấn Độ gây được sự chú ý lớn là nhờ đề tài mà các nhà văn phản ánh Đó là sự ảnh hưởng toàn diện, nặng nề mà chủ nghĩa thực dân

để lại trên đất nước Ấn Độ Văn học đương đại gắn với bối cảnh hậu thuộc địa vô tình trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà văn khai thác Hòa chung trong dòng chảy ấy, Kiran Disai đã khéo léo dệt nên tác phẩm giúp cô trở thành người phụ nữ trẻ tuổi nhất đoạt giải Man Booker (2006) Vấn đề đặt ra trong tác phẩm không mới nhưng thu hút

người đọc ở cách kể chuyện, dẫn chuyện Di sản của mất mát thể hiện rõ tài năng của

một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và đặc biệt là sự đồng cảm với những cảm giác mà chính cô đã từng trải qua trong cuộc đời Điều đặc biệt ở cuốn tiểu thuyết này là nó đã

“bắt được” những cảm xúc thật, những tình cảm của người dân di cư, soi vào nỗi đau

lưu đày và sự mơ hồ về thời kỳ hậu thuộc địa của thế giới nhân vật được thêu dệt với những gam màu tươi mới

Tìm hiểu việc tiếp nhận tác phẩm của Kiran Desai ở Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuốn tiểu thuyết đương đại

này Vì thế, với đề tài nghiên cứu: Tìm hiểu “Con người mất mát” trong tiểu thuyết

Di sản của mất mát của Kiran Desai, chúng tôi hy vọng sẽ phần nào tìm hiểu, giới

thiệu tác phẩm của nhà văn Kiran Desai đến độc giả Việt Nam Đồng thời góp thêm một góc nhìn mới về cuộc sống con người trong bối cảnh toàn cầu hóa và hệ lụy mà chủ nghĩa thực dân mang lại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

(1) Tiểu luận Di sản của mất mát – Nối dài danh sách thừa kế của nhà nghiên

cứu, phê bình văn học Hồ Anh Thái đã mang đến cho chúng tôi một góc nhìn thú vị để

có thể tiếp cận tác phẩm khi ông cho rằng: “Những cuộc đời mất mát có thể tiếp nối

Trang 9

như một lời nguyền muôn đời”

(2) Trong lời giới thiệu về cuốn sách Di sản của mất mát, dịch giả Nham Hoa

đã đưa ra một số nhận định khái quát về tác phẩm: “Đó là một bức tranh toàn cảnh

của Ấn Độ thời kỳ hậu thuộc địa với những sắc màu mang đậm tính thời đại: Toàn cầu hóa, đa văn hóa, bất bình đẳng kinh tế, xung đột sắc tộc,…” Đằng sau bức tranh

ấy là số phận của những con người, những sản phẩm mà chủ nghĩa thực dân để lại trên đất nước Ấn Độ

(3) Bài giới thiệu về cuốn sách của tờ Lao Động đã nhận xét về cách thức thể

hiện nhân vật trong Di sản của mất mát, giúp người nghiên cứu có thể đi sâu tìm hiểu

những đặc sắc nghệ thuật mà Kiran Desai thể hiện trong tác phẩm

(4) Tham luận “Di sản của mất mát” không gì khác chính là sự mất mát của

nhà văn Hoài Nam đã đưa ra những nhận định về tác phẩm Ông cho rằng “Di sản của

mất mát không gì khác chính là sự mất mát” Kiran Desai đã viết về đất nước, dân tộc,

đồng bào mình bằng một cái nhìn và một giọng điệu vừa xót xa vừa giễu cợt Xót xa trong sự chân thành, giễu cợt trong sự điềm tĩnh và chia sẻ nhận thức về hai truyền thống văn hóa Đông – Tây

(5) Trong tham luận Kiran Desai và tiểu thuyết Di sản của mất mát, nhà

nghiên cứu, phê bình văn học Đào Trung Đạo nhận định rằng: Di sản của mất mát

thuộc thể loại văn chương di dân và nhân vật trong tiểu thuyết thuộc thể loại văn chương di dân ấy - nhân vật tiểu thuyết xa xứ Đây là kiểu nhân vật quen thuộc trong dòng văn học Ấn Độ đương đại và đã được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau

(6) Tham luận Điều cuối cùng của Di sản của mất mát của nhà báo Sơn Phước

đã đánh giá về ngôn từ của tác phẩm Qua đó, cung cấp những tư liệu hữu ích cho bài

nghiên cứu về tác phẩm Di sản của mất mát và nhà văn Kiran Desai

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

(7) Tham luận The Inheritance of loss by Kiran Desai – Wounded by the

West (tạm dịch tiểu thuyết Di sản của mất mát của nhà văn Kiran Desai – sự tổn

thương từ phương Tây) của tiểu thuyết gia Pankaj Mishra Ông đã phân tích khá kỹ

lưỡng về sự ảnh hưởng của phương Tây đối với đất nước, con người Ấn Độ Đó là một sự tổn thương nghiêm trọng mà đặc biệt hơn là đối với con người Tất cả các

Trang 10

nhân vật của Desai đã còi cọc bởi chính cuộc gặp gỡ của họ với phương Tây Họ chịu đựng sự tổn thương mất mát đó như là một điều tất yếu trong cuộc sống

(8) Tham luận Mutt and the mathstutor của nhà văn, nhà hoạt động nhân

quyền Natasha Watter đã nhận định tác phẩm về vấn đề hạnh phúc, số phận của cô thiếu nữ Sai luôn gặp phải sự mất mát từ cuộc sống: Tình thương từ người thân, tình yêu với Gyan và cuộc sống hạnh phúc mà cô hằng mong muốn sống an toàn bên trong

nó Natasha cho rằng ngay cả chính người đọc cũng bị đánh đập một cách đau đớn bởi những sự chồng chéo của câu chuyện và sự thất bại của các nhân vật khi họ cố vươn tới những ước muốn trong cuộc sống của mình

(9) Trên BBC News, nhà văn Fiona Pryor cho rằng: “Desai đề cập đến nhiều

vấn đề khác nhau trong suốt cuốn sách: toàn cầu hóa, đa văn hóa, bất bình đẳng và các hình thức khác nhau của tình yêu”

“Phải mất bảy năm để hình thành và Desai đã sử dụng kinh nghiệm của cô là một người Ấn Độ sống ở Hoa Kỳ để viết tiểu thuyết” “Ta cảm thấy gần như Desai đang cố gắng truyền đạt một thông điệp tới người đọc về tầm quan trọng của những điều trong cuốc sống mà có lẽ cô thấy thường hay bị bỏ qua”

(10) Trên The Boston Globe, nhà văn Ann Harleman nhận xét: “Nếu cuốn sách

này được đánh giá bằng cách chia nhỏ ra thì công việc đơn giản chỉ là: đọc Đây là cuốn tiểu thuyết rất tuyệt vời! Hãy đọc nó”

(11) Tờ báo The New York Time đã đưa ra nhận định về tác phẩm: “Những gì

liên kết với những nhân vật này dường như khác nhau nhưng ở họ có một di sản lịch

sử chung và kinh nghiệm thông thường của sự bất lực và nhục nhã chính là sự mất mát”

(12) Tham luận Guardian book club: The Inheritance of loss by Kiran Desai

của giáo sư người Anh, tiểu thuyết gia John Mullan cho rằng: đây là cuốn tiểu thuyết toàn diện về mặt địa lí khi từng chương trong tác phẩm di chuyển giữa Mỹ và Ấn Độ; câu chuyện được chia thành nhiều mảng ghép như trò chơi ghép hình mà những mảng

ghép đó sẽ tạo nên một bức hình thống nhất, hoàn chỉnh

 Nhận xét chung

Từ những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy: việc tiếp cận tác

Trang 11

phẩm Di sản của mất mát của nhà văn Kiran Desai chỉ dừng lại ở việc giới thiệu, đánh

giá, nhận xét chung Hầu hết các bài nghiên cứu tập trung ở một số khía cạnh hoặc những đánh giá chung chung chứ chưa thật sự chuyên sâu Nhưng những kết quả nghiên cứu này đã cung cấp cho chúng tôi một cái nhìn khái quát hơn về tác phẩm Từ

đó, chúng tôi có thể đi sâu nghiên cứu vấn đề “Con người mất mát”của đề tài luận văn Đồng thời khẳng định: Di sản của mất mát của Kiran Desai đã lý giải về sự bất

thường trong những điều tưởng chừng là bình thường: sự mất dần đi bản sắc văn hóa dân tộc ở mỗi con người thời kỳ hậu thuộc địa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn: vấn đề“Con người mất mát” và nghệ thuật xây dựng hình tượng “Con người mất mát” trong tác phẩm của nhà văn Kiran

Desai

Phạm vi nghiên cứu: Tiểu thuyết Di sản của mất mát của Kiran Desai Ngoài ra,

phạm vi nghiên cứu còn được mở rộng trong sự so sánh, đối chiếu với một số tác phẩm tiêu biểu qua các thời kì văn học Ấn Độ từ văn học cổ đại đến văn học đương

đại để làm rõ hơn hành trình “mất mát” cũng như cách thức thể hiện “Con người mất

mát” của Kiran Desai trong tác phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp tiểu sử

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu về bối cảnh văn hóa – xã hội của tác phẩm cũng như tiểu sử của nhà văn Từ đó, có những cứ liệu xác thực chứng minh cho sự tác động của hoàn cảnh thực tại đến tác phẩm và ngược lại

4.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Phương pháp này được dùng để phân tích từng nhân vật cụ thể nhằm khái quát

được những nét đặc trưng của “Con người mất mát” trong tác phẩm

4.3 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Chúng tôi vận dụng trong quá trình khảo sát hình ảnh “Con người mất mát” trong các thời kì văn học Ấn Độ, đối chiếu với các kiểu con người khác trong văn học

4.4 Hướng tiếp cận văn hóa học

Phương pháp này được vận dụng để phát hiện những nét văn hóa đặc thù trong

Trang 12

tiểu thuyết của nhà văn Việc nghiên cứu một tác phẩm văn học không thể tách rời những yếu tố đặc điểm văn hóa dân tộc

4.5 Phương pháp thi pháp học

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để làm rõ cách thức thể hiện “Con người

mất mát” trong tác phẩm Di sản của mất mát của Kiran Desai

5 Đóng góp của luận văn

Ý nghĩa khoa học: với đề tài Tìm hiểu “Con người mất mát” trong Tiểu

thuyết Di sản của mất mát của Kiran Desai, chúng tôi mong muốn góp phần nghiên

cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Kiran Desai trong dòng văn học đương đại Ấn Độ viết bằng tiếng Anh, từ đó có thể cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn về dòng văn học

mà Kiran Desai là một trong những đại diện tiêu biểu

Ý nghĩa thực tiễn: hiện nay, tên tuổi của Kiran Desai còn khá xa lạ với độc giả Việt Nam Vì vậy, công trình nghiên cứu này sẽ góp phần đưa Kiran Desai đến gần hơn với người đọc và giới nghiên cứu tại Việt Nam

Đề tài cung cấp thêm một góc nhìn mới về con người trong văn chương, đặc biệt

là “Con người mất mát” mà Kiran Desai đã thể hiện đậm nét trong tác phẩm của

mình Qua đó, giúp chúng ta có cái nhìn chân thật hơn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thời kì hội nhập

6 Bố cục luận văn

Luận văn gồm ba phần: mở đầu, nội dung và kết luận

Phần mở đầu của luận văn gồm có sáu mục: Lý do chọn đề tài, Lịch sử nghiên cứu vấn đề, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Phương pháp nghiên cứu, Đóng góp của luận văn và Bố cục luận văn

Trong phần nội dung của luận văn gồm ba chương, trong đó chương một là cơ sở

lý luận chung để chương 2 và chương 3 triển khai vấn đề trọng tâm của đề tài

- Chương một: Văn hóa Ấn Độ và vấn đề “con người mất mát” Trong chương

này, chúng tôi giới thiệu khái quát về bản sắc và sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ;

tìm hiểu vấn đề “con người mất mát”; giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Kiran Desai và tiểu thuyết Di sản của mất mát

- Chương hai: Những phương diện “mất mát” của “Con người mất mát” Tìm

Trang 13

hiểu “Con người mất mát” trong tác phẩm là vấn đề trọng tâm của chương này cho nên chúng tôi đi khảo sát hành trình “Con người mất mát” trong các tác phẩm tiêu

biểu qua các thời kì văn học Ấn Độ để có cơ sở tìm hiểu đề tài một cách sâu sắc Sau

đó, chúng tôi tập trung tìm hiểu những phương diện mất mát của “Con người mất

mát” trong bối cảnh chính trị - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần và bản sắc văn hóa

dân tộc để làm rõ sự mất mát toàn diện, sự mất mát có tính bi kich, sự mất mát có tính

kế thừa, ý thức về sự mất mát, của các nhân vật trong tác phẩm

- Chương ba: Cách thức xây dựng hình tượng “Con người mất mát” Nghệ

thuật kể chuyện là một vấn đề lớn nên trong chương này, chúng tôi chỉ tập trung tìm

hiểu cách thức thể hiện “Con người mất mát” thông qua: nhân vật “mất mát”, không gian “mất mát” và Thời gian “mất mát”

Trong phần kết luận chúng tôi sẽ tổng hợp và đánh giá những vấn đề đã trình bày trong các chương và đề xuất hướng nghiên cứu mới

Trang 14

Chương 1 VĂN HÓA ẤN ĐỘ VÀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI

MẤT MÁT

1.1 Văn hóa Ấn Độ - bản sắc và sự ảnh hưởng

Bán đảo Ấn Độ thuộc Nam Á gần như hình tam giác, ba mặt giáp biển, phía Bắc giáp đất liền và bị chắn bởi dãy núi cao nhất thế giới – dãy Himalaya nên nó còn được gọi là tiểu lục địa Nam Á Ấn Độ cổ đại bao gồm cả sông ở Tây Bắc là sông

Ấn (Indus) và vùng đất ở các nước như: Pakistan, Nepan, Bangladesh ngày nay, tạo thành tiểu lục địa Hindustan Ấn Độ là một đất nước có nền văn hóa đa dạng, di sản văn hoá phong phú và giá trị truyền thống sâu sắc luôn gợi lên vẻ thần bí đối với cộng đồng quốc tế Với sự chia cắt tự nhiên của địa hình sông, núi khiến Ấn Độ trở thành một khu vực riêng biệt và còn giữ trong mình nhiều nét văn hóa truyền thống tốt đẹp cho đến tận ngày nay Tuy nhiên, trải qua quá trình giao lưu và hội nhập, văn hóa Ấn đứng trước những thử thách lớn trong việc bảo tồn và phát huy những truyền thống văn hóa dân tộc

Nền văn minh đô thị sông Ấn là cơ sở cho việc hình thành các tôn giáo như Bàlamôn giáo (thế kỷ VII đến thế kỷ VI TCN) hay Hinđu giáo sau này Sang thế kỷ VII – VI TCN, bên cạnh truyền thống Veđa giáo nay đã chuyển thành Bàlamôn giáo hay Ấn Độ giáo đã xuất hiện nhiều luồng triết học, tôn giáo mới mà tiêu biểu là Phật giáo Đạo Phật ra đời cùng với nhiều giáo lý tốt đẹp như đề cao đạo đức cá nhân, chối bỏ thần linh,… đã thực sự làm một cuộc thay đổi lớn trong nhận thức và đời sống của con người Ấn Độ lúc bấy giờ, khi mà Bàlamôn giáo với chế độ đẳng cấp khắc nghiệt đang thống trị

Trang 15

Ấn Độ được coi là “Thiên đường của tôn giáo”, là nguồn gốc của những tôn giáo lớn trên thế giới bởi tính cách “Mộ đạo” của người Ấn Cho nên, cuộc sống của

người Ấn gắn liền với tôn giáo, với thế giới tâm linh Tôn giáo trở thành điểm tựa tinh thần của dân tộc Ấn Ấn độ cũng là nơi ra đời của nhiều tôn giáo như: Bàlamôn giáo, Phật giáo, Sikh giáo,… Tuy nhiên, trải qua quá trình tồn tại, phát triển và ổn định, người Ấn Độ đã khẳng định tôn giáo chính thống của mình là Hinđu giáo (Ấn

Độ giáo) Thế giới thần linh của họ có đến hàng ngàn vị thần mà đại diện là nhóm tam vị nhất thần gồm: thần sáng tạo Brahama, thần bảo vệ Vishnu và thần hủy diệt Shiva Ngoài ra, còn nhiều vị thần nổi bật khác như: nữ thần Durga, thần khỉ Hanuman, nữ thần sông Hằng,… với nhiều vật thiêng như đá Salagrama, chim công,…

Đời sống tâm linh của người Ấn đa dạng, phức tạp và luôn được đề cao, coi trọng Họ dành nhiều tình cảm đặc biệt với những con sông, họ ngưỡng mộ tôn thờ chúng Dòng sông Ganga (sông Hằng), còn được người Ấn tha thiết gọi là sông mẹ Ganga, được tôn vinh như những vị thần Các hoạt động diễn ra ven con sông được tôn lên như một hành vi tôn giáo Hằng năm, người ta tắm nước sông Hằng, thả tro cốt người chết vào dòng sông với những ước nguyện tốt đẹp mà con sông sẽ mang lại Ở Ấn Độ, hàng năm người ta còn tổ chức nhiều lễ hội tôn giáo để chào mừng ngày sinh của các vị thần, thánh Có thể nói, không có một đất nước nào mà cuộc sống của con người lại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, với thần linh như ở Ấn Độ Hàng ngày ta có thể bắt gặp các hành vi tôn giáo ở bất kì đâu như dâng hoa, tắm sữa, cầu nguyện…

Một vùng đất mang đặc trưng của văn hóa tôn giáo cùng một địa hình tự nhiên

bị chia cắt một cách phức tạp khiến Ấn Độ trở thành một đất nước có nền văn hóa phong phú, độc đáo và bền vững một cách sâu sắc Sự chia cắt của tự nhiên cũng giúp cho Ấn Độ hình thành nên nhiều vùng văn hóa riêng biệt, đặc sắc Theo như Hồ

Anh Thái trong lời mở đầu Namaskar! Xin chào Ấn Độ đã khẳng định: đến với văn hóa Ấn Độ là đến một nơi mà “càng đi càng khó thấy bờ” bởi sự phong phú, nhiều

màu, nhiều vẻ Mỗi vùng văn hóa của đất Ấn lại mang một dáng vẻ riêng song lại thống nhất trong một nền văn hóa chung của đất nước Văn hóa Ấn Độ là cả một quá

Trang 16

trình pha trộn giữa nhiều vùng văn hóa với nhau và nổi bật hơn cả là vùng văn hóa Bắc Ấn và Nam Ấn

Bắc Ấn là một vùng đồng bằng rộng lớn, khu vực này được hình thành bởi hai dòng sông lớn là Ganga và Juma, đây được xem là cái nôi của nền văn minh Ấn Độ,

là mảnh đất của văn hóa nghệ thuật Ấn Nền văn hóa ở đây đã tỏa ảnh hưởng đi khắp các vùng khác của đất nước Bên cạnh đó, văn hóa Nam Ấn hình thành tương đối muộn và có tầm ảnh hưởng ít hơn nên còn mang dấu ấn địa phương Khu vực này dường như tách biệt với thế giới cho nên nó nghiễm nhiên trở thành cái rương cất giữ những giá trị văn hóa quý báu, tinh khiết trong khi nền văn hóa Bắc Ấn bị tàn phá do các cuộc viễn chinh của người nước ngoài Giữa Bắc Ấn và Nam Ấn có sự pha trộn về văn hóa một cách đặc sắc, tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất Đó là cả một quá trình hòa trộn giữa nền văn hóa Bắc Ấn vào nền văn hóa Nam

Ấn và sự góp mặt của nền văn hóa Nam Ấn vào văn hóa chung của Ấn Độ

Mặc khác, bản sắc văn hóa Ấn còn được nhìn nhận và đánh giá ở tinh thần hướng về cái tối thượng, phổ quát Chính vì vậy mà người Ấn có phần coi nhẹ cái cá biệt, cụ thể của đời sống Họ luôn xây dựng nên các hình tượng phổ biến, có sức ảnh

hưởng tới cuộc sống Họ thường hướng đến những cái vô biên của vũ trụ:“Những

đồng nhất giữa mọi vật trong vũ trụ, giữa con người và thần linh, giữa tiểu ngã

Atman và đại ngã Brahman” [19, tr.13] Chính điểm này đã giúp Ấn Độ luôn tìm

tòi và sáng tạo ra nhiều công trình độc đáo còn được bảo tồn đến hôm nay

Bên cạnh đó, tôn giáo và triết học đã tác động nhiều đến nhận thức của người

Ấn Họ luôn cố gắng đi tìm nguồn gốc của vũ trụ, sự tồn tại của cá thể với mong muốn giải thoát và hoàn thiện đời sống tâm linh, tìm sự hòa hợp trong bản ngã con người Đây chính là phương tiện để chuyển hóa nội tâm, sự khát khao của con người trong cuộc sống thực tại

Tuy nhiên, để đạt tới sự giải thoát thực sự là cả một vấn đề Tôn giáo, triết học

Ấn Độ cho chúng ta thấy chỉ khi nào con người không còn phụ thuộc vào vật chất, đồng nhất giữa bản ngã và tiểu ngã trong một cá thể, bấy giờ họ mới được hưởng hạnh phúc viên mãn Chính vì lẽ đó, tất cả mọi người Ấn phải đảm bảo thực hiện đúng darma của mình, tu luyện đạo đức (karma yoga), tri thức (jnàra yoga), rũ bỏ tất

Trang 17

cả mọi phiền muộn, ưu tư, dục vọng hư ảo, vô thường của thế giới trần tục Đó là cả một quá trình tu luyện để đạt đến sự hoàn thiện bản tính con người cũng như trong niềm tin vào thế giới thần linh Tôn giáo, triết học Ấn Độ với lý luận của mình đã biến giải thoát thành cứu cánh để đưa người Ấn đến với quá trình khổ luyện để hướng tới mục đích chân lí tối thượng – hòa nhập vào bản thể tuyệt đối

Hơn nữa, giữa triết học và tôn giáo còn có sự gắn bó chặt chẽ với nhau Với nhiều tư tưởng tiến bộ như sự đồng cảm, tình yêu thương, con người được xem là vật thể quý giá, là trung tâm của vũ trụ Cùng với sự tách biệt với thế giới bên ngoài làm cho Ấn Độ trở thành một đất nước yêu chuộng hòa bình, không thích chiến tranh Người Ấn đã truyền bá nền văn hóa của mình ra thế giới bằng con đường hòa bình, nhân ái

Có thể nói, trên thế giới hiếm có đất nước nào có một nền văn hóa còn giữ được những nét độc đáo khác biệt như văn hóa Ấn Độ Hầu như rất nhiều phong tục tập quán từ mấy nghìn năm trước còn được lưu giữ trọn vẹn cho tới ngày nay Tuy nhiên trong quá trình phát triển, với sự xâm lược của Hồi giáo (thế kỷ XIII) và văn hóa phương Tây - chủ yếu là thực dân Anh (thế kỷ XVIII), văn hóa Ấn Độ có nhiều biến động

1.1.2 Sự ảnh hưởng

Sự phong phú đa dạng nhưng thống nhất của văn hóa đồng thời gắn liền tôn giáo với đời sống tâm linh đã góp phần tạo nên một tinh thần, một tính cách kiên cường cùng một con người Ấn Độ an phận Theo như Hồ Anh Thái nhận xét:

“Người Ấn tốt nhịn Một tinh thần bao dung, nhẫn chịu chi phối trên toàn xã hội”

[56, tr.155] Song người Nam Ấn còn là những con người: “cởi mở, hồn hậu và

phóng khoáng” [56, tr.157] Tất cả những tính cách ấy hòa vào nhau tạo nên một

tính cách, một con người rất Ấn

Ta có thể nhận thấy, một đất nước được mệnh danh “cái nôi của mọi nền văn

minh” này cũng đã có sự ảnh hưởng khá lớn ra bên ngoài (chủ yếu ở các nước

phương Đông) ở nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, sự huy hoàng của một xã hội tốt đẹp với những giá trị văn minh dưới sự va chạm với thế giới hiện đại đã bắt đầu thay đổi, tuy chỉ trên bề mặt nhưng nó cũng có sự tác động tới tư tưởng của người Ấn Qua thời

Trang 18

gian, nhiều mặt về xã hội đã dần biến đổi trong một số bộ phận nhỏ người Ấn Sự tiếp xúc với thế giới mà đặc biệt là sự ảnh hưởng từ đời sống hiện đại (chủ yếu dựa vào công nghệ) của người Anh đã tác động không nhỏ đến những bản sắc văn hóa của người Ấn (dù người Anh vẫn tôn trọng nền văn hóa của họ) Sự ảnh hưởng và thay đổi ấy có thể nhìn nhận qua nhiều khía cạnh của bản sắc văn hóa như: lễ hội, tín ngưỡng, ẩm thực cũng như trang phục,…

Trải qua thời gian, các tôn giáo ở Ấn bắt đầu có nhiều thay đổi Sự thay đổi này chủ yếu được nhìn ở góc độ các hình thức lễ nghi và các lễ hội Các hình thức lễ nghi trở nên phổ biến và lớn hơn, các nghi lễ cũng bớt phức tạp hơn so với trước Trong

năm có rất nhiều lễ hội, nổi bật là tết Diwali, ngoài ra còn nhiều lễ hội khác của các

vị thần như: ngày lễ thần Durga (Durga Puja), lễ của Ganesha (Ganesha –

chaturthi),… Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, thời gian con người trở nên eo hẹp,

nhu cầu xã hội đổi khác dẫn đến mục đích tìm đến tôn giáo thuở sơ khai cũng bị kéo theo nên các nghi thức cùng lễ hội cũng bắt đầu có phát triển theo nhu cầu của các tín đồ Nhiều lễ hội không quan trọng được xóa bỏ như việc thờ cúng thần sáng tạo

Brahma, các nghi thức thờ cúng cũng ít phức tạp hơn và thời gian cũng được giảm

đi Như một lễ Pooja ở dạng công phu của nó phải được thực hiện hàng ngày Mặc

khác, vì nhiều mục đích (tạo thế độc tôn của các giáo sĩ, nhu cầu cuộc sống) số lượng các vị thần cũng dần tăng lên cho phù hợp với tâm tính của quảng đại quần chúng Tất cả tạo thành một dòng chảy trên cái nền sẵn có thuở sơ khai, tạo nên một tôn giáo hiện đại đậm đà, rất riêng, chỉ có ở Ấn Độ

Một điểm nữa ảnh hưởng rõ rệt từ những yếu tố bên ngoài, chúng ta có thể nhận thấy bởi sự thay đổi trong ẩm thực, trang phục của người Ấn Độ

Đối với người Ấn xưa, quan niệm về ẩm thực của họ rất cầu kì và nghiêm ngặt:

“Tinh khiết và nhơ bẩn là hai vấn đề vô cùng quan trọng đối với người Ấn Độ”

[18, tr.259] Việc ăn uống còn ảnh hưởng đến tính thần thánh của họ Nước chính là thức uống được tán thành nhất ở Ấn Độ Ở đây, việc ăn thịt và mời thịt người khác là một điều xỉ nhục mà đặc biệt là thịt bò (đối với người theo Hindu giáo), hay thịt heo (đối với người theo Hồi giáo) Và họ cũng rất cẩn trọng trong cách ăn uống, họ phải

dùng tay để bốc thức ăn đối với tất cả thực phẩm như cơm, bánh chapati, các loại rau

Trang 19

củ,… Tuy nhiên, việc ăn uống thời xa xưa và ngày nay đã có sự khác nhau vì thời cuộc thay đổi, khiến cho quan niệm của người Ấn cũng thay đổi theo

Thói quen ăn uống của người Ấn dần thay đổi do công cuộc hiện đại hóa Sự nhơ bẩn và tinh khiết không còn quan trọng như trước nữa và họ có thể dùng chung nước uống nơi công cộng trong các túi da, dùng các thức ăn sản xuất công nghiệp, Thói quen ăn thịt bắt đầu xuất hiện ở các đẳng cấp cao hơn và nó được xem như một dấu hiệu của sự văn minh Thức ăn nhanh dần được hình thành và được chấp nhận trong xã hội công nghiệp của người Ấn Giờ đây việc ăn bằng tay được thay bằng dao, nĩa,… Với cách ăn uống cầu kì của phương Tây và một bộ phận cho rằng việc

ăn bốc là không văn minh Trong bối cảnh thế giới mới, khoa học phát triển, người

Ấn bắt đầu tin rằng thực phẩm có thể chữa được một số bệnh và quan tâm nhiều hơn đến nó Như vậy, cuộc sống hiện đại đã mang đến những thay đổi trong quan niệm của người Ấn Độ

Ấn Độ ngày nay vẫn là một bảo tàng sống lưu giữ đầy đủ phong tục, tập quán, nếp sống văn hóa Ấn Độ xưa nếu như chúng ta được nhìn người phụ nữ Ấn trong

tấm áo truyền thống: “Tấm Sari ấy, dáng đi khoan thai duyên dáng ấy hẳn là sự kế

thừa nguyên vẹn từ người phụ nữ Ấn mấy nghìn năm trước.” [56, tr.190] Trang

phục của người Ấn xưa chủ yếu được tạo nên từ sợi bông, len, dạ,… Tuy nhiên, bông được dùng phổ biến tại đất nước này hơn các loại chất liệu khác do đặc điểm khí hậu nóng trên diện rộng của Ấn Độ Người Ấn Độ có câu tục ngữ về trang phục

nói lên quan điểm thời trang của mình rất rõ ràng: “Hãy ăn tùy theo sở thích nhưng

hãy mặc theo tập tục” [18, tr.253] Bởi thế trang phục ngày nay của họ vẫn giữ được

nhiều nét truyền thống xưa Bản thân câu chuyện Adam và Eva cũng phản ánh phần nào cách ăn mặc của người tiền sử Người Ấn xưa cũng vậy, trang phục tiền sử của

họ là các loại khố Đối với họ việc may vải thành đồ mặc không được chú trọng cho lắm Ngày nay nét truyền thống ấy vẫn còn được lưu giữ, như tại thánh địa Mecca:

“Những người theo đạo Hồi đến tế lễ cũng bỏ hết các loại quần áo may sẵn hoặc may bằng máy và ăn mặc theo kiểu những người Ảrập cổ đại” [18, tr.255] Hay nó

còn được phản ánh trong trang phục dhoti xưa của họ Đó là: một mảnh anh ta mặc

bằng cách quấn giữa hai chân, một mảnh khác anh ta đội lên đầu và mảnh cuối cùng,

Trang 20

anh ta dùng để chia cả người Ngoài ra tấm Sari của phụ nữ Ấn Độ dùng ngày nay

cũng bắt nguồn từ trang phục chia phần dưới của người Ấn cổ đại Nét truyền thống trong trang phục của họ vẫn được gìn giữ, mặc dù nó cũng bị thay đổi nhiều so với hình dạng ban đầu

Tuy nhiên, trong quá trình du nhập với văn hóa phương Tây, chủ yếu là của thực dân Anh, trang phục của người Ấn đã bắt đầu có sự thay đổi, mặc dù không phổ biến Hàng dệt rẻ tiền của Anh tràn vào làm mất đi giá trị của những tấm vải dệt quý giá bằng thủ công của người Ấn Quần dài hiện nay được sử dụng rộng rãi, họ bắt đầu chịu mặc những trang phục bó sát người, có thắt lưng Các mốt thời trang hiện

đại bắt đầu tràn vào thay thế dần những tấm Sari truyền thống và bản thân tấm Sari

ngày nay cũng có nhiều thay đổi về chiều dài, chiều rộng cho phù hợp với thời đại Dường như thời trang của thế giới đã bắt đầu xâm nhập vào Ấn Độ nhưng chưa sâu sắc như các quốc gia khác Ngày nay, trong các phim ảnh của Bollywood, các diễn viên xuất hiện trong tấm Sari truyền thống nhưng vẫn có những cảnh họ mặc thời trang của nước ngoài Tuy có sự du nhập thời trang của phương Tây và bị ảnh hưởng, nhưng người Ấn ngày nay vẫn đẹp trong tấm Sari truyền thống của họ, không

gì có thể thay thế được Nó giống như một cách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc hết sức tự nhiên

Tất cả những bản sắc văn hóa tốt đẹp của Ấn Độ không ngừng phát triển và được bảo lưu nhưng phần nào cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây (chủ yếu

là Anh) Nó được nhìn nhận ở hai phương diện Một là, một số bộ phận nhỏ những người trí thức Ấn góp phần truyền bá nó Hai là, đó là quá trình cộng đồng tiếp nhận những nét văn hóa của phương Tây như việc sử dụng công nghệ mới hay thức ăn, đồ uống trong đời sống

Có thể nhận thấy văn hóa Anh bắt đầu ảnh hưởng ở Ấn Độ qua các lĩnh vực như khoa học, văn học nghệ thuật Các nhà thơ Ấn Độ bắt đầu sáng tác bằng tiếng Anh cũng như nhiều tác phẩm tiểu thuyết được phóng tác theo khuôn mẫu của các tiểu thuyết Anh Ngoài ra, triết học phương Tây cũng tác động mạnh mẽ lên văn học

Ấn Có thể nói chính những tác phẩm này đã: “Trung chuyển rất nhiều các giá trị

phương Tây tới người đọc Ấn Độ” [18, tr.229] Sự hòa trộn giữa nền văn hóa bản địa

Trang 21

với văn hóa phương Tây đã góp phần tạo nên nhiều cái mới đầy giá trị cho nền văn hóa Ấn mà văn học là phương tiện truyền tải đầy đủ nhất

1.2 Vấn đề “Con người mất mát”

“Con người mất mát” là những người chịu thiệt thòi, bị đối xử bất công, không

địa vị, không quyền lợi trong xã hội được quy định bởi hệ thống đẳng cấp Số phận của họ có cơ sở từ văn hóa, tôn giáo nên họ chỉ biết cam chịu, nhẫn nhục

1.2.1 Cơ sở văn hóa, tôn giáo Ấn Độ

Trong suốt tiến trình lịch sử, đất nước Ấn Độ luôn có sự thay đổi, đó là cả một quá trình chuyển mình liên tục của văn hóa Ấn Giờ đây dòng văn hóa truyền thống

ấy không ngừng phát triển vẫn tiếp tục đóng vai trò là trào lưu văn hóa chủ đạo của người Ấn Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển liên tục của văn hóa đã kéo theo nhiều thay đổi trong xã hội Con người, đất nước trong hoàn cảnh đó bỗng nhiên phải đối mặt với nhiều thách thức Đó là sự mất dần trong địa vị của người phụ nữ, những định kiến khắc khe đối với những người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội,… thậm chí còn là cả sự mất mát to lớn của một đất nước, và điều này có thể nhận thấy

ở nhiều khía cạnh mà chế độ đẳng cấp mang lại

Chế độ đẳng cấp khắc nghiệt ở Ấn Độ đã khiến con người trở thành những cá

nhân cam chịu và mang trong mình một số phận đã được ấn định Đó là sự “mất

mát” toàn diện về thể xác lẫn tinh thần Đối với những đẳng cấp thấp trong xã hội,

thậm chí đến thể xác của mình họ cũng không có quyền làm chủ nói gì đến các quyền lợi khác

Tất cả xuất phát từ hệ thống cai trị được người Ấn – Aryan thực hiện đối với những bộ tộc họ xâm lược Đầu tiên, nó xuất hiện như một công cụ phục vụ cho giai cấp thống trị Tuy nhiên, giai đoạn sau này, để củng cố quyền lợi của mình các giáo

sĩ Bàlamôn đã góp phần truyền bá và khiến nó ngày càng sâu sắc, với 4 đẳng cấp

lớn: Brahamin (tăng lữ) các giáo sĩ; Kshatrya (vũ sĩ) tướng lĩnh cầm quyền và binh lính; Vaishya (bình dân tự do) thương nhân, chủ đất; Sudra (tiện dân) thợ thủ công,

đầy tớ Mọi bổn phận, quyền lợi của từng giai cấp được quy định trong luật Manu (là một bộ luật cổ nhất của Ấn Độ gồm 2685 câu thơ) Và mỗi người trong xã hội hoàn

toàn phụ thuộc và các giáo sĩ Bàlamôn: “Hết thảy cái gì ở trong vũ trụ đều là vật sỡ

Trang 22

hữu của các người Bàlamôn cả” [66, tr.180]

Với đẳng cấp đã được quy định, với dharma (bổn phận của từng giai cấp), với

karma hay nghiệp báo, luật nhân quả đã khiến cho con người chấp nhận định mệnh

và không đấu tranh chống lại sự bất hạnh Con người chấp nhận đẳng cấp thấp kém của mình, hoàn toàn không nhận thức được mình là một thực thể tồn tại có mọi quyền hành như những đẳng cấp khác Họ chỉ biết làm tròn bổn phận và phụ thuộc vào đẳng cấp của mình Họ tự đánh mất ý thức cá nhân Đó quả là một sự bất công quá lớn, bởi khi nào ý thức cá nhân và quyền lợi chưa được nhận thức đầy đủ thì họ

vẫn phải sống với việc chấp nhận số phận đã được sắp đặt

Có thể nói, không có một đất nước nào mà tôn giáo có thế lực và đóng một vai trò quan trọng như ở Ấn Độ Tuy nhiên, một mặt tôn giáo nâng đỡ tinh thần của người dân, mặt khác nó lại chi phối tới cuộc sống và khiến cho họ trở thành những con người lệ thuộc trong chính tôn giáo của mình Lòng mộ đạo mù quáng đã khiến cho con người mất đi nhận thức về cuộc sống thực tại Đối với họ, cuộc sống này là của thần linh Hầu như người Ấn nào cũng cần đến một vị thần bảo trợ và để phục vụ

như nữ thần Durga, thần Laksmi,… Con người trở nên thụ động trong hành động và

trông chờ vào chỉ dụ của thần linh thông qua các giáo sĩ Điều này làm tôn lên cái địa

vị tối cao của các giáo sĩ Bàlamôn đồng thời cũng làm cho các đấng thần linh bộc lộ những điểm xấu vì nhu cầu của các giáo sĩ, sự cầu xin của người dân,… Vô tình những con người thuộc đẳng cấp thấp trở thành những vật thế thân Họ chịu sự sắp đặt bởi các giáo sĩ mà không hề hay biết Ở đây, họ đánh mất đi chính cái hành động độc lập của mình và đau đớn hơn cả là dù mang trong mình một số phận đau thương nhưng họ không hề ý thức được điều đó

Hơn nữa, người Ấn cũng cho rằng cuộc sống này từ thần linh mà ra và phục vụ,

cống hiến cho tôn giáo, cho thần linh là cái dharma mà mỗi đẳng cấp phải thực hiện

Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua tính cách, hành động cũng như những suy nghĩ của họ Triết lý tôn giáo thâm nhập vào ý thức con người (các tín đồ, các giáo dân và quần chúng chịu ảnh hưởng của tôn giáo), nó làm cho con người lãng quên hiện thực, đặt tất cả tinh thần, tâm tưởng vào thần thánh hư ảo mà họ tin đó là giá trị đích thực Hạnh phúc trong tôn giáo thật mơ hồ nhưng các tín đồ cứ chìm đắm vào trong

Trang 23

ấy Mặt khác, nó khuyên con người nhẫn nhục trước tình cảnh nô lệ, biết sợ hãi trước sức mạnh siêu nhiên và nó đã biến các tín đồ thành công cụ phục vụ cho mình Tôn giáo trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho lợi ích của giai cấp thống trị (dù rằng, lúc đầu tôn giáo không phải là của giai cấp thống trị) Tôn giáo làm cho người dân mất

đi sức phản kháng, tê liệt ý chí đấu tranh giai cấp

Như vậy, từ lâu con người sống ngu muội trong cái bóng của tôn giáo và bị nó chi phối Tinh thần nhẫn nhục mà các tôn giáo đề ra thể hiện thái độ cực đoan, thủ tiêu đấu tranh Nó tạo cho các tín đồ thái độ bàng quan trước thế giới hiện thực, bằng lòng với số phận, không tích cực đấu tranh chống lại những cái xấu, cái ác, an ủi và

ru ngủ con người trong niềm tin rằng kẻ gây tội ác sẽ phải chịu “quả báo” hoặc bị trừng trị ở “kiếp sau” Chính tâm lý đó đã ngăn cản con người đi đến hạnh phúc thực

sự của mình nơi trần thế Họ hoàn toàn mất quyền làm chủ ngay cả những vấn đề thuộc về họ, về sự tự do, về tinh thần và cuộc sống

1.2.2 Những người chịu sự “mất mát”

Hệ thống đẳng cấp ở Ấn Độ vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều mặt đời sống của người dân Ấn, đặc biệt là những con người thuộc tầng lớp dưới đáy Những người thuộc tầng lớp thấp kém như Sudra, Dalit,… thường bị xem

thường, coi là thứ “tiện dân” và cả những người phụ nữ

1.2.2.1 Người thuộc đẳng cấp thấp

Hinđu giáo tồn tại dựa trên những nguyên tắc của sự bất công, và vì vậy mà những người thuộc đẳng cấp thấp luôn phải sống trong nỗi sợ hãi vì thân phận thấp

hèn Dường như sự “mất mát” là dấu hiệu muôn thuở để ta nhận biết được họ trong

muôn vàn những dấu hiệu khác Được sinh ra là người Ấn Độ theo đạo Hinđu là đồng nghĩa với việc chấp nhận sự phân chia đẳng cấp và gánh chịu tất cả những gì

đã được quy định Bởi thế, một con người bị xem là “tiện dân” dù bị phân biệt,

không được tự do lựa chọn nghề nghiệp vẫn không hề có ý định thay đổi số phận đẳng cấp của mình

Theo Bàlamôn giáo, con người mang những đặc tính khác nhau, theo đó có những công việc và vị trí xã hội khác nhau Chẳng hạn như một người thuộc đẳng cấp Dalit phải làm các công việc dơ bẩn như: Dọn rác, lột da heo,… Điều này dường

Trang 24

như nhằm khuyên bảo con người hãy sống an phận với nó, đừng cố thay đổi, hãy

thực hiện đúng bổn phận (dharma) của mình, chỉ có như thế họ mới có một đời sống

tốt đẹp ở kiếp sau Chính những hứa hẹn ấy của Bàlamôn giáo đã khiến con người

tin tưởng tuyệt đối để làm tròn bổn phận trong khi bị xem là “tiện dân”, một đẳng

cấp mang trong mình nhiều đặt tính xấu như: ngu muội, dơ bẩn, hôi hám,… Cái ý thức về quyền con người đã bị lòng tin mù quáng vào tôn giáo che mất Họ phải chấp nhận một số phận ô uế mà từ khi lọt lòng mẹ đã gánh chịu một cách an phận Hầu

như chưa bao giờ những con người ấy có ý thức là phải vùng lên bởi cái karma, luật

nhân quả cùng một kiếp sau tốt đẹp đã nhấn chìm họ và sự bất công kia như là một điều hiển nhiên Những con người bị xem là thấp hèn này đã bị kẹt dưới đáy của một

hệ thống đẳng cấp được vận hành thông qua việc phân biệt đối xử đã được quy định

Cái đẳng cấp gắn liền với “tiện dân” như một bản án chung cho cuộc sống của họ

Như vậy, hệ thống đẳng cấp cùng nhiều triết lý tôn giáo đầy rẫy những bất

công đã can thiệp sâu vào hành vi, đời sống của những con người bị xem là “tiện

dân” Một con người sinh ra thuộc đẳng cấp Dalit, anh phải trả giá cho những tội lỗi

của mình ở kiếp trước và sống là để trả nợ Họ không được hưởng bất kì quyền lợi

gì Chính những định kiến bảo thủ của xã hội được quy định trong bộ luật Manu đã định hình cuộc sống của họ Cũng là con người, cũng là dân Ấn theo đạo Hinđu nhưng tuyệt nhiên họ không được đến đền chùa hay vào nhà các đẳng cấp cao hơn, thậm chí phải sống cô lập, tách biệt với cộng đồng Họ đã quá an phận và cam chịu bởi chính những quy định khắt khe đến mức nghiệt ngã của chế độ đẳng cấp Chính cái bổn phận quái ác của từng đẳng cấp đã nhấn chìm họ, làm cho họ không thể vùng lên Cũng như một con voi lớn bị trói bởi một sợi dây bé, nó hoàn toàn có thể phá bỏ sợi dây nhưng với ý nghĩ là không thể nên nó đành chấp nhận Họ không sao thoát ra được và ngày càng bị lún sâu hơn trong vũng bùn của sự ô uế mà xã hội đã tạo ra sẵn Giờ đây, họ không còn làm chủ được bản thân, hành vi của mình Họ trở nên thụ động và không còn ý thức đấu tranh để thay đổi và mặc nhiên họ trở thành những con người vô danh, lu mờ, sống như một cái bóng trong xã hội

1.2.2.2 Người phụ nữ

Bên cạnh người thuộc tầng lớp “tiện dân”, phụ nữ Ấn cũng là một trong những

Trang 25

đối tượng chịu nhiều thiệt thòi, bị đối xử bất công Phụ nữ Ấn Độ ngày trước được đi

học và được tôn trọng: “Phụ nữ có thể đạt đến trình độ học vấn cao nhất và trong

lịch sử có nhiều phụ nữ là nhà tiên tri hoặc triết gia” [56, tr.274] Qua quá trình xâm

lược của ngoại bang, sự thay đổi của xã hội đã khiến người phụ nữ mất dần địa vị xã

hội vốn có của mình và trở nên lu mờ chỉ núp sau bóng của người đàn ông: “Phụ nữ

Hinđu đã mất quyền độc lập của mình và trở thành những khách thể cần sự bảo vệ của đàn ông, trong quá trình ấy họ cũng mất luôn những cơ hội mà họ có trước đây

để có được tri thức và học vấn” [18, tr.314] Nỗi đau khổ của người phụ nữ được thể

hiện trong những hủ tục, lề thói ràng buộc như những quy định trong hôn nhân hay trong đời sống như tục hỏa thiêu, tục che mặt, nạn tảo hôn…

Giống như xã hội Việt Nam xưa, trai gái không có quyền lựa chọn hôn nhân, xã

hội Ấn Độ xưa cũng vậy, nó được quy định chặt chẽ Luật Manu chỉ: “Chấp nhận

tám hình thức hôn nhân, mà hai hình thức thấp kém, xấu xa nhất là cách cướp vợ và lối cưới nhau vì tình” [66, tr.190] Trong hôn nhân Ấn, không gì bằng việc định đoạt

của cha mẹ Con trai phải lấy vợ trong đẳng cấp của mình và trong gia đình người cha có đủ mọi quyền hành Trong hoàn cảnh ấy, những người phụ nữ không còn giá trị và quyền hạn Không có tự do trong tình yêu, hôn nhân, họ tồn tại dưới bóng của người chồng và phải cam chịu cái bổn phận thấp kém của mình

Bên cạnh đó, nạn tảo hôn cũng khiến cho người phụ nữ gặp nhiều đau khổ Trẻ

em đã phát triển đầy đủ về sinh lý thì cho lập gia đình Dẫu chỉ là một hủ tục song đối với người Ấn thì đó là thiêng liêng lại là biện pháp giúp họ ngăn cản các cuộc hôn nhân giữa các tập cấp, giáo phái, thị tộc khác nhau Những hệ lụy do tảo hôn ở

Ấn đã khiến con người, đất nước Ấn chịu nhiều hậu quả nặng nề Có thể thấy rõ qua chất lượng cuộc sống của chính họ Hầu hết cuộc sống của những gia đình trẻ này lâm vào cảnh khó khăn do chưa có kiến thức và hiểu biết để lo cho cuộc sống gia đình Nhiều trường hợp mâu thuẫn, cãi vã, thậm chí đánh đập nhau rồi ai đi đường nấy Đau lòng hơn còn có những cặp vợ chồng lấy nhau quá sớm nên sự hiểu biết, suy nghĩ chưa chín chắn, chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, hiểu lầm nhau mà dẫn đến

tự kết liễu cuộc đời Có thể thấy những con người này đã mất đi quyền làm chủ cuộc đời mình

Trang 26

Ngoài ra, ở một số phụ nữ Ấn - Hồi giáo xuất hiện những hủ tục: tục cấm cung, tục trùm mặt đã gây ra nhiều đau khổ cho họ Lúc đầu, bản chất tục lệ này là một điều tốt đẹp nhằm bảo vệ người phụ nữ nhưng qua thời gian chính nó là điều ràng buộc, ảnh hưởng đến cuộc sống tự do của họ Phụ nữ và sắc đẹp chính là món quà quý giá mà thượng đế ban tặng nhưng giờ đây vẻ đẹp ấy bị che đậy bằng tấm khăn voan dày, ai còn được nhìn ngắm để mà trân trọng vẻ đẹp ấy Suốt cuộc đời họ phải sống trong câm lặng sau tấm màn và cam chịu số phận đã an bài Họ hoàn toàn mất

đi nhận thức mình cũng là một thực thể tồn tại, có quyền sống và quyền được hưởng hạnh phúc Sống an bài, cam chịu, quên đi cái ý thức cá nhân là một bi kịch vô cùng lớn lao mà những người phụ nữ Ấn phải gánh chịu Họ phụ thuộc gần như tuyệt đối vào người chồng, hôn nhân với họ chính là tiến đến sự nô lệ Phải chăng đất nước Ấn

Độ là thiên đường cho đàn ông nhưng lại là địa ngục cho phụ nữ? Thế nên, người phụ nữ bị xem là một thứ thừa thải, là mối nguy hiểm đe dọa sự phát triển của xã hội Họ không được đi học, không được biết chữ và càng có trình độ, sự hiểu biết thì lại càng bị khinh bỉ Đối với người Hồi giáo, phụ nữ chỉ là những con người thấp kém về tinh thần, đạo đức, thể chất và trí tuệ

Hơn nữa, tục hỏa thiêu cũng khiến những người phụ nữ phải chịu cảnh thiêu sống cùng người chồng của mình Điều đau lòng hơn cả là họ cam tâm tình nguyện, thậm chí tranh giành để được thiêu chết cùng người chồng quá cố Họ xem thường cuộc sống của bản thân, phụ thuộc vào người chồng, và hoàn toàn mất đi sự tự chủ Người phụ nữ không còn làm chủ đời mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác Tự do trong hôn nhân đối với họ là điều không tưởng Họ phải che dấu cảm xúc và sống cam chịu với sự sắp xếp của gia đình gắn với đẳng cấp mà mình thuộc

về Luật Manu cũng lên án khá gây gắt những những cuộc hôn nhân xuất phát từ tình cảm và cho rằng việc bỏ tiền mua vợ là tiện nhất Đây là một tư tưởng vô nhân đạo nhất mà người phụ nữ phải chấp nhận Còn với những người phụ nữ mà gia đình không có của hồi môn thì không thể lấy được chồng Người phụ nữ cũng thường xuyên trở thành nạn nhân của những mâu thuẫn xung quanh chuyện của hồi môn, họ

bị giết, hãm hiếp hay bị đem bán,… và nó trở thành một vấn nạn nguy hiểm, khó giải quyết ở Ấn Độ Thế nhưng, họ lại không có quyền lên tiếng, không được ly hôn Họ

Trang 27

phải sống theo đúng bổn phận đã được quy định và không thể thoát khỏi cuộc sống khốn khổ ấy

Có thể nhận thấy, trải qua thời gian, địa vị xưa của người phụ nữ đã hoàn toàn biến mất và họ trở thành một vật đáng khinh, một công cụ phục vụ cho gia đình, cho thần linh một cách tuyệt đối Cuộc sống với niềm tin vào thế giới tốt đẹp ở kiếp sau

đã khiến người phụ nữ tự nguyện nhảy vào giàn hỏa thiêu Và thậm chí, sau khi chồng chết vì sợ phạm lỗi, không dám tái hôn để rồi chôn vùi tuổi xuân của mình mà không hề thương tiếc

Trong gia đình, sự hiện diện của con gái là điều sỉ nhục, xấu hổ Do đó, con gái

có thể bị gả bán hay chôn sống ngay từ khi mới chào đời Người phụ nữ trở thành một tài sản thuộc sở hữu của cha hay chồng Họ sống phụ thuộc và phải thực hiện đúng bổn phận của mình là sinh con, hầu hạ chồng,… Thêm vào đó, họ còn phải giữ nét đoan trang, thùy mị và sự thận trọng Mọi hành động được cho là thiếu đứng đắn

dù nhỏ nhất, họ cũng phải chịu những hình phạt khắc nghiệt Vì vây, họ phải sống cuộc sống khép kín và chịu đựng những nỗi đau, sự mất mát mà cuộc sống gia đình mang lại

Như vậy, chế độ đẳng cấp cùng với những hủ tục đã cướp mất quyền con

người, làm cho họ bị tổn thương, “mất mát” về tinh thần và niềm tin

Thông qua việc tìm hiểu cơ sở văn hóa và tôn giáo Ấn Độ, có thể khẳng định rằng: Ấn Độ là đất nước có nét văn hóa vô cùng đặc sắc và tôn giáo rất phong phú,

đa dạng Tuy vậy qua dòng chảy của thời gian và những biến động của xã hội đã dần biến đổi những điều tốt đẹp nhất dành cho người Ấn Phân chia đẳng cấp, chất lượng cuộc sống giảm sút, khoảng cách giàu nghèo, vấn nạn toàn cầu hóa, bất ổn tôn giáo, chính trị,… đang dần tàn phá một đất nước với nền văn minh rực rỡ

1.3 Nhà văn Kiran Desai và Di sản của mất mát

1.3.1 Nhà văn Kiran Desai – người không kế thừa sự “mất mát”

Kiran Desai sinh tại Ấn Độ năm 1972, cô sống tại Dehil cho đến khi cô 14 tuổi, sau đó sống ở Anh được 1 năm trước khi gia đình cô chuyển đến sống tại Mỹ Cô hoàn thành bậc Trung hoc tại Massachusets trước khi theo học tại Đại học Bennington; Đại học Hollins và Đại học Columbia Tại đây cô đã được học tập và

Trang 28

nghiên cứu văn chương, 2 năm sau đó, Kiran Desai cho ra đời tác phẩm Hullabaloo

in the Guava Orchard

Kiran Desai là con gái của Anita Desai, tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng,

và đã 3 lần nằm trong danh sách đề cử cho giải thưởng Man Booker (Clear Light of

Day (1980), In Custody (1984) và Fasting Feasting (1999)) Bà cùng với cha mẹ của

mình có những chuyến di cư, những cuộc hành trình xa xôi đến và sinh sống tại nơi đất khách quê người Nhưng với Kiran Desai, cô không thừa hưởng những cuộc di

cư ấy như gia đình cô, nhưng cuộc đời cô cũng đã là một cuộc hành trình

Bà ngoại của cô là người Đức nhưng đã bỏ đi trước Chiến tranh Thế giới thứ II

và không bao giờ trở lại Ông nội cô là dân tị nạn từ Bangledesh Gia đình ông nội cô đến từ Gujarat, một nhà nước ở miền tây Ấn Độ, bên bờ biển Ả Rập, có thủ đô là Gandhinagar, và ông ấy được giáo dục và học tập tại Anh

Mặc dù Kiran không sống tại Ấn Độ kể từ năm cô 14 tuổi nhưng cô luôn trở về thăm nhà tại Dehil hằng năm

Lần đầu tiên cô được chú ý đến trong văn chương vào năm 1997 khi cô được xuất bản trên tờ New York và tờ Mirrorwork một tuyển tập về 50 năm nền văn học

Ấn Độ được chỉnh sửa bởi Salman Rushdie – và phần Strange Happenings in the Guava Orchard đã được đóng tập Vào năm 1998, Hullaboloo in the Guava Orchard, Kiran Desai dùng 4 năm để viết, đã được xuất bản và được đánh giá cao từ những nhân vật nổi tiếng như Salman Rushdie

Cô tâm sự: “Tôi nghĩ cuốn sách đầu tiên của tôi chứa đựng đầy đủ tình yêu tha

thiết mà tôi đã dành cho đất nước tôi, Ấn Độ, và tôi biết nó không thể tránh khỏi sự sai sót Mặc dù vậy, cuốn sách này là minh chứng cho niềm hạnh phúc của tôi khi tôi đến với văn chương”

Tám năm sau đó, The Inheritance of Loss được xuất bản vào đầu năm 2006, và

đã giành được giải thưởng Man Booker Giải thưởng mà mẹ cô chưa một lần đạt

được mặc dù đã 3 lần gần kề tới đỉnh vinh quang

Khi nói về các nhân vật trong The Inheritance of loss, và cuộc sống của chính mình, cô cho rằng: “Các nhân vật trong câu chuyện của tôi là hoàn toàn hư cấu,

nhưng những chuyến hành trình (của ông bà cô ấy) cung cấp cho tôi những cái nhìn

Trang 29

sâu sắc trong những chuyến du hành từ Đông sang Tây và đó chính là điều mà tôi muốn nắm bắt được Thực tế là tôi sống cuộc sống đặc biệt này là không có sự mất mát nào cả Đó là di sản thừa kế của tôi”

The Inheritance of Loss được tạo nên bởi một phần tại Ấn Độ và một phần tại

Mỹ Desai đã mô tả nó như một cuốn sách mà cô đã: “Cố gắng nắm bắt những gì nó

có nghĩa là sống giữa Đông và Tây, những gì nó có nghĩa như là một người nhập cư thật sự” Không những thế, The Inheritance of loss còn khám phá ở mức độ sâu hơn

khi: “Điều gì sẽ xảy ra khi một yếu tố của phương Tây được đưa vào một quốc gia

không phải là Tây phương” – điều đó đã xảy ra trong thời kỳ hậu thuộc địa Anh ở

Ấn Độ và một lần nữa đang xảy ra: “Với mối quan hệ mới của Mỹ với Ấn Độ” Mục tiêu thứ ba của Desai là viết về: “Điều gì sẽ xảy ra khi đưa một người ở một đất

nước nghèo khó đến một nơi mà họ trở nên giàu có? Sự mất cân bằng giữa hai thế giới giàu – nghèo đã làm thay đổi suy nghĩ và cảm nhận của mỗi người như thế nào? Làm thế nào để thay đổi những biểu hiện trong mỗi cá nhân, mỗi nền chính trị theo thời gian?”

Kiran Desai từng nói: “Đây là những chủ đề cũ mà tiếp tục liên quan đến thế

giới hôm nay, quá khứ thông báo hiện tại, hiện tại tiết lộ quá khứ” Có thể thấy rõ

rằng, cuộc đời của nhà văn Kiran Desai là cả một đoạn đường hành trình, cuộc hành trình của cả gia đình cô, điều này ở một khía cạnh nào đó mang lại cho tác giả một tư tưởng chủ đạo cho toàn bộ tác phẩm của mình Cuộc đời cô không mang âm hưởng

“di cư” của cả gia đình (từ ông bà ngoại, ông bà nội, và ngay cả mẹ của cô, Anita Desai), vì thế cô không thừa hưởng gia sản “hành trình” ấy từ gia đình

1.3.2 Tóm tắt tác phẩm Di sản của mất mát

Tác phẩm được lấy từ bối cảnh những năm 80 với hai không gian khác biệt: Vùng Kalimpong thơ mộng dưới chân núi Himalaya và khu tầng hầm ẩm thấp tăm tối đầy chuột bọ của dân nhập cư bất hợp pháp tại thành phố New York

Ông tòa Jemubhai sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở Gujarat Cha

ông có một công việc làm ăn “khiêm tốn” là tuyển mộ những người làm nhân chứng

gian trước tòa Năm 14 tuổi, Jemubhai đỗ đầu lớp Ông hiệu trưởng khuyên cha cậu cho con trai dự kì thi tuyển sinh của luật đoàn địa phương để có thể kiếm được một

Trang 30

chỗ làm ở tòa án sở tại Hai cha con Jemubhai ôm một ước mơ “Cha dưới, con trên,

họ sẽ đại diện cho công lý, toàn quyền thao túng” Để có đủ tiền cho con đi học, cha

của Jemubhai tìm mọi cách từ vay nặng lãi cho đến quyết định cưới vợ cho con Jemubhai cưới một cô vợ xinh đẹp rồi lên đường sang Anh du học

Ở Anh, ông chỉ biết vùi đầu vào việc học, không nói chuyện hay tiếp xúc với bất kì ai, giữ khoảng cách với mọi người ngay cả với chính bản thân Sau khi may mắn đỗ trong kỳ thi Tuyển dụng, ông tiếp tục hai năm tập sự và tìm được một người bạn duy nhất là Bose

Hai năm tập sự kết thúc, ông trở về Ấn Độ, được mọi người chào đón, trong đó

có Nimi, người vợ mà ông đã dường như quên mất Nimi đã lục lọi đồ đạc của ông

và lấy đi cái bông nhồi phấn mà ông đã mang từ bên Anh về Khi phát hiện ra, ông

đã dành cho vợ sự căm ghét và phẫn nộ Ông không ưa vợ mình và xem đó là:“một

cản trở thô bạo đối với tham vọng của mình” Vì vô tình tham gia vào cuộc biểu tình

tại nhà ga nơi có sự xuất hiện của Nerhu:“một trong những con người vĩ đại nhất Ấn

Độ”, bà đã bị ông đánh đập và đuổi về nhà cha mẹ đẻ Sáu tháng sau đó, tin về một

đứa trẻ ra đời tại tòa lâu đài haveli Ông không thừa nhận đứa con gái này Vợ ông

đã phải sống với người chị gái và rồi chết một cách bất thường Đứa trẻ được gửi đến

tu viện Thánh Augustine

Sai, trở thành đứa bé mồ côi khi cha mẹ cô, ông bà Mistry chết trên đường khi ông Mistry chuẩn bị bay vào không gian vũ trụ ở Nga (bà Mistry là con gái của ông tòa Jemubhai) Cô không được ở trong tu viện Thánh Augustine nữa vì không còn sự viện trợ từ cha mẹ Cô bị trả về với người thân duy nhất còn lại đó là ông ngoại, vị chánh án đã nghỉ hưu đang sống tại Cho Oyu cùng một người đầu bếp có đứa con trai di cư sang Mỹ và một con chó tên Mutt Cô sống cùng ông ngoại trong một căn biệt thự đổ nát được mua lại của một học giả người Scotland Cô được Noni, một góa phụ nhận dạy học Bà dạy cho Sai từ khoa học cho đến Shakespeare (văn học) Khi Noni không thể dạy toán và khoa học được nữa, ông tòa buộc phải thuê một gia

sư khác Đó là Gyan, người tình đầu tiên của Sai và lúc này cô đã mười sáu tuổi Gyan là người Nepal Hàng ngày, anh phải lội bộ một quãng đường xa để đến nhà ông tòa dạy Sai học Vào một đêm trời mưa bão, Gyan không thể về nhà, phải ở

Trang 31

lại Cho Oyu Tình yêu của anh với Sai bắt đầu từ đêm đó Tình yêu lớn dần theo năm tháng, họ đã tìm được sự đồng cảm trong những cái vuốt ve, âu yếm, những chuyến tham quan của hai người Nhưng rồi mâu thuẫn xảy đến từ những bất ổn chính trị đã làm mối tình của họ tan vỡ Gyan tham gia vào nhóm diễu hành đòi tự do cho người Nepal sống ở Ấn Độ Sai đã gặp anh trong đoàn người diễu hành Gyan cố tình phớt

lờ, không nhận Sai Từ đó, cô dần hiểu ra mọi chuyện từ trận cãi vả cho đến vụ cướp súng tại nhà cô Sai tìm đến nhà của Gyan và chứng kiến hoàn cảnh gia đình anh Ông tòa có một đầu bếp riêng Ông và cha của người đầu bếp này đều là người làm thuê, họ có cả giấy tờ chứng minh là một dòng dõi trung thực, tận tụy Bác đầu bếp có con trai tên là Biju Vợ mất sớm nên Biju là niềm hy vọng duy nhất của bác

Vì thế, bác tìm mọi cách để đưa con trai sang Mỹ Sau khi bị lừa mất một món tiền lớn, cuối cùng Biju cũng được cấp visa sang Mỹ với lý do đi du lịch Bác liên lạc thư

từ thường xuyên với con trai, cất giữ thư rất cẩn thận, lâu lâu lại lấy ra đọc Bác luôn

tự hào và khoe với mọi người về công việc của Biju Bác thấy mình trở nên quan trọng khi được mọi người nhờ giúp đưa con của họ sang Mỹ Bác cố gắng làm việc thật tốt và kiếm thêm thu nhập bằng cách lén lút nấu rượu đem bán, tham gia đường dây buôn lậu khẩu phần rượu và xăng dầu trong quân đội Tất cả những việc làm ấy của bác đều vì Biju, vì cuộc sống của hai cha con trong tương lai mà hằng đêm bác vẫn mơ tưởng Bác sống trong những giấc mơ và lấy đó làm động lực cho cuộc sống hiện tại khó khăn, cực nhọc Bác thường kể cho Sai nghe chuyện về bác, nhưng nhiều nhất là những mẩu chuyện mà bác huyễn hoặc về ông tòa Có lẽ bác đã không

vỡ mộng nếu như Biju không bị cướp sạch khi từ Mĩ trở về

Biju sang Mỹ làm thuê ở các nhà hàng Cậu làm bất cứ việc gì từ bán hàng cho đến phụ bếp, từ phục vụ bàn cho đến nướng bít tết, từ quét dọn nhà hàng cho đến giao thức ăn nhanh,… Cả ngày làm việc, tối đến cậu ở trong tầng hầm hôi thối của khu chung cư, một nơi ở bất hợp pháp dành cho những người như cậu Cậu bị khinh miệt và luôn sống trong sự mặc cảm, mâu thuẫn của bản thân cho đến khi gặp được Saeed Saeed, người Zanzibar Biju không chỉ hâm mộ mà còn rất muốn làm bạn với anh Vào một ngày “đẹp trời”, khi đang làm việc trong quán Gandhi Café, Biju bị trượt chân ngã Với vết thương khá nặng nhưng không ai chịu trách nhiệm, Biju dần

Trang 32

thấm thía cảnh làm thuê, cảnh vô gia cư này Cậu khát khao đến nỗi ám ảnh để có được tấm thẻ xanh Nhưng đến khi biết tin về cuộc bạo loạn đang xảy ra tại quê nhà, cậu quyết định trở về Ấn Độ để có thể gặp mặt người cha yêu quý Từ sân bay Calcutta, Biju phải đi nhờ xe của GNLF (phiến quân gây bạo loạn) về Kalimpong Cậu bị bọn chúng cướp sạch, không còn mảnh vải che thân Cậu chạy bộ về Kalimpong trong chiếc váy ngủ của một bà lão giữa trời đêm lạnh giá

Câu chuyện kết thúc với những “mất mát”: Ông tòa mất con chó Mutt, Sai mất

tình yêu với Gyan, bác bếp vỡ mộng, Biju trắng tay, chị em nhà Noni mất đất, cha Pooty phải rời khỏi Ấn Độ,… Tình hình bạo loạn ngày càng khốc liệt Bệnh tật, đói

khát, chết chóc tăng vọt với tốc độ chóng mặt Cuối cùng, tất cả chỉ còn là sự “mất

mát”

Trang 33

Chương 2 NHỮNG PHƯƠNG DIỆN “MẤT MÁT” CỦA

“CON NGƯỜI MẤT MÁT”

Con người trong văn học thế giới và văn học đương đại Ấn Độ tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau để rồi tạo ra những kiểu người khác nhau Tuy vậy, ở những kiểu con người ấy, qua khảo sát, ta có thể nhận thấy những điểm chung nhất

định: dù là“Con người nhỏ bé”, “Con người lưu manh”, “Con người dưới đáy”, hay “Con người xa xứ”,… tất cả đều bất hạnh và phải gánh chịu những đau khổ

trong cuộc sống Để bổ sung và phát triển, K.Desai đã thể hiện rõ nét những số phận

bi thương của con người trong xã hội Ấn Độ thời kì hậu thuộc địa qua hình ảnh

“Con người mất mát” Đây là điều mà những nhà văn đương thời vẫn chưa thể diễn

tả được hay họ chỉ điểm sơ qua rồi lấy đó làm cơ sở phát triển cho quan điểm nghệ thuật của mình

Cho nên, việc chọn nghiên cứu “Con người mất mát” trong Di sản của mất mát

của Kiran Desai là mục đích chính để chúng tôi có thể tiếp cận nhà văn cũng như

phát hiện một “kiểu con người mới” trong văn học Ấn Độ đương đại

Văn học thế giới đã từng xuất hiện những kiểu “Con người” chứa đựng sự mất

mát Trong văn học Nga, Gogol đã lên tiếng cho những nhân vật nhỏ bé, những thân

phận thấp kém của một viên chức trong Chiếc áo khoác hay Solokhov với những

nhân vật bi thảm và vô nghĩa, phải sống trong kiếp nhân sinh bị nghiền nát trong

những cuồng phong của lịch sử trong Sông Đông êm đềm Còn trong văn học Ấn Độ, các nhà văn mang đến cho người đọc kiểu nhân vật “mất mát” như: Rama trong sử thi Ramayana, Karuthama trong Mùa tôm của T.S Pilai, Ram Mohamad Thomas trong Triệu phú khu ổ chuột của Vikas Swarup hay Ammu trong Chúa trời của

những chuyện vụn vặt của Arundhati Roy

Đến với Kiran Desai, Di sản của mất mát đề cập đến sự “mất mát” của con

người phải tuân theo số phận và được thể hiện một cách trọn vẹn Họ phải kế thừa

những “mất mát” của quá khứ Họ chạy trốn, chối bỏ truyền thống dân tộc để rồi bị

đồng hóa bởi những ảo tưởng mà văn hóa phương Tây mang lại Đây là những điều

không dễ phản ánh Cho nên, ở những tác giả, tác phẩm khác chỉ đạt ở mức độ “khởi

đầu”

Trang 34

“Mất mát” có thể hiểu đó là một quá trình mất đi điều cần thiết trong cuộc sống

dưới tác động của yếu tố chủ quan và khách quan Như vậy chúng ta cũng có thể

hiểu “Con người mất mát” mà tác giả đưa vào tác phẩm đó là những con người đã

từng có thể có khả năng được hưởng cuộc sống tốt đẹp Tuy nhiên, những biến động chính trị, xã hội làm đảo lộn tất cả, mà cụ thể là những hệ lụy mà chủ nghĩa thực dân

để lại trên đất Ấn: những ảo tưởng về cuộc sống văn minh; những cuộc bạo loạn; tư tưởng sùng bái phương Tây; vấn nạn toàn cầu hóa, làm cho cuộc sống con người

phải đứng trước nhiều lựa chọn không mong muốn Những“mất mát” ấy được Kiran

Desai khắc họa một cách đậm nét qua sự đánh mất bản sắc dân tộc, chối bỏ truyền thống và mang tinh thần nhược tiểu,

2.1 Hành trình “mất mát” trong văn học Ấn Độ

Trong các thời kì văn học, vấn đề “mất mát” được khái thác ở những khía cạnh

và mức độ khác nhau Cho nên, khi tìm hiểu hành trình “mất mát” trong văn học Ấn

Độ, chúng tôi khảo sát các thời kì văn học từ cổ đại đến trung đại, hiện đại và văn

học đương đại để chứng minh “mất mát” có sự khởi đầu và tiếp nối như một hành

trình xuyên suốt qua các thời kì văn học

Trang 35

ác xuất phát từ lòng tham về danh vọng, địa vị và quyền lợi Số phận của con người

bị xô đẩy vào những cuộc tranh giành quyền lực Vì vậy, vấn đề “mất mát” được đề cập trong Ramayana là sự mất mát về tinh thần, quan hệ huyết thống khi tranh giành

ngôi báu Đặc biệt là sự mất mát lòng tin trong tình yêu được khắc họa đậm nét qua hình tượng nhân vật Rama và Sita

Rama là khuôn mẫu lí tưởng của người anh hùng thuộc đẳng cấp Kshatrya, của đức vua anh minh Chàng chấp nhận mọi thử thách để làm tròn bổn phận và danh dự Chàng tìm mọi cách để cứu Sita khi nàng bị quỷ vương Ravana bắt đi Nhưng cũng chính vì bổn phận, danh dự và cơn ghen tuông mù quáng của một vị quốc vương tương lai đã khiến chàng nghi ngờ sự trinh tiết của vợ mình Chính cái đẳng cấp cao quý cùng với cái dharma lớn lao ấy đã khiến Rama không thể làm theo trái tim mình Chàng đã kết tội Sita, biến cuộc gặp gỡ trở thành buổi phán xét tội lỗi của người vợ đáng thương Rama mất đi quyền làm chủ, ý thức bản thân và rơi vào bi kịch do chính mình tạo ra

Sita là hình mẫu lí tưởng của người phụ nữ Ấn Độ cổ đại Nàng có thể minh chứng tấm lòng chung thủy, sự trinh tiết cho tất cả thần dân trong ngày hội ngộ với Rama bằng cách bước lên giàn hỏa thiêu Thế nhưng, sống trong một xã hội mà luân

lý của tôn giáo áp đặt lên con người với cái bổn phận và trách nhiệm buộc họ phải tuân theo để rồi cuối cùng phải chấp nhận, chịu đựng tất cả Nàng không sao xóa bỏ những nghi ngờ từ Rama Và khi lòng tin của một tình yêu tận hiến bị xem thường, nàng quyết định rời xa Rama mãi mãi Có thể thấy rằng, con người dù ở địa vị nào,

có quyền hành ra sao cũng không thể sống cho cá nhân hay làm theo bản năng Tất

cả đều được quy định trong bổn phận của mỗi đẳng cấp Điều này đã dẫn đến những lựa chọn không như mong muốn Sự mất mát lòng tin trong tình yêu của Rama và

Sita đã mở đầu cho những “mất mát” tiếp theo của biết bao nhiêu số phận con người

sống trong những ràng buộc mà chế độ đẳng cấp hà khắc mang lại

 Shakuntala

Văn học thời kì cổ điển phát triển phong phú ở nhiều thể loại Trong đó, nổi bật

hơn cả là tác phẩm kịch thơ Shakuntala của nhà thơ, nhà soạn kịch thiên tài

Kaliđasa Ông đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật sân khấu cung đình và sân

Trang 36

khấu dân gian để tạo nên tác phẩm làm say mê hàng triệu độc giả cả phương Đông lẫn phương Tây Câu chuyện kể về mối tình của nàng Shakuntala, con của đạo sĩ Kanwa và nhà vua Dushyanta

Trải quả những thách thức, khổ đau từ sự lãng quên, chối bỏ, nghi ngờ,… dù

cuối cùng họ cũng được hưởng hạnh phúc nhưng âm hưởng của sự “mất mát” vẫn được tiếp nối một cách trọn vẹn Sự “mất mát” được ẩn chứa dưới câu chuyện tình

yêu lãng mạn giữa nhà vua Dushyanta và Shakuntala

Luật Manu quy định, phân chia đẳng cấp cụ thể và mỗi đẳng cấp có quyền hạn, nghĩa vụ riêng Trong đó, luật quy định không kết hôn ngoài đẳng cấp và việc không thực hiện đúng bổn phận, nghĩa vụ sẽ phải chịu những hình phạt nhất định Vì vậy,

mỗi cá nhân đều phải thừa nhận và tuân thủ dharma – tức công việc và bổn phận thuộc về đẳng cấp của mình Những quy này được xem là “bất di bất dịch”, là pháp

luật chính nhằm duy trì trật tự xã hội

Shakuntala là con của đạo sĩ Kanwa, thuộc đẳng cấp thứ nhất – Brahman, vua Dushyanta thuộc đẳng cấp thứ hai – Ksatrya Họ vẫn được kết hôn vì theo phong tục Gandharra: hai người yêu nhau tự ý kết hôn, không cần nghi lễ, bổn phận, không có người làm chứng Nhưng khi chia tay, vì thẫn thờ buồn nhớ Dushyanta mà Shakuntala đã vô tình không tiếp đón đạo sĩ Durvasa chu đáo, nên nàng sẽ phải chịu lời nguyền bị chồng quên lãng Và bi kịch tình yêu của họ cũng bắt đầu từ đó

Kaliđasa đã thể hiện bi kịch ấy bằng chất liệu thơ ca đầy lãng mạn để làm vơi

đi nỗi đau đớn, xót xa cho Shakutala “Mất mát” như một sự thử thách trong tình

yêu mà ai cũng phải vượt qua nếu muốn có được tình yêu đích thực

2.1.2 Văn học Trung đại

Văn học Ấn Độ thời trung đại gắn với nhiều biến động do những bất ổn về chính trị xã hội gây ra Nền văn học bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nền văn hóa của những thế lực ngoại xâm Vì vậy văn chương thời kì này xuất hiện nhiều trường phái, nhiều khuynh hướng Trong đó, nổi bật là dòng văn chương sùng tín Trong

phạm vi khảo sát hành trình “mất mát” trong văn học, chúng tôi nhận thấy những ca

khúc của Kabia đã thể hiện khá đầy đủ sự mất mát niềm tin của con người vào tôn

giáo

Trang 37

Do hoàn cảnh xuất thân đặc biệt mà Kabia thông thạo cả kinh Veda lẫn kinh Coran Lúc đầu, ông sùng tín thần sáng tạo Brahma và thánh Ala Vì vậy, thơ ca của ông thể hiện sự ngợi ca và mong muốn dung hòa Hidu giáo và Hồi giáo Sau đó, ông theo tư tưởng phiếm thần luận, tham gia phong trào Brakti và thấy được sự giả dối

của hai tôn giáo: “Ông kêu gọi đoàn kết hoà hợp giữa nguời Hồi giáo và Ấn Độ

giáo Ông đề cao lòng tin yêu giữa con người và quả quyết rằng lòng tin chân chính không phải tuân theo lễ nghi tôn giáo, mà ở trái tim trong sạch và hành vi cao cả

của con người Người Ấn Độ giáo hay Hồi giáo đều có lòng tin ấy” [63, tr.277]

Những ca khúc của Kabia toát lên một tinh thần chống đối tôn giáo vì tôn giáo không mang lại cho con người hạnh phúc mà chỉ là những nỗi đau Ông muốn hoà hợp hai tôn giáo lớn ở Ấn Độ Theo ông, Đấng Ala của Hồi giáo, Brahma, thần Tối cao của đạo Hinđu chỉ là cách xưng tụng khác nhau của một Đấng Tối cao duy nhất

mà thôi, cũng như: "Dòng sông và những cơn sóng của nó chỉ là một, không có sự

khác nhau giữa chúng" (Ca khúc 14)

Kabia chỉ trích sự giả tạo trong các nghi thức của tôn giáo Ông chế giễu các hình thức gian trá như: rửa miệng, tụng kinh, ngâm mình trong dòng sông, quỳ lạy

trong đền thờ,… Ông khuyên:“Hãy nhìn vào trái tìm mình anh sẽ gặp cả Karim và

Rama ở đó”(Ca khúc 69)

Ông còn phê phán, đả kích các tu sĩ Họ chính là những kẻ mượn thần thánh để

lừa phỉnh bóc lột nhân dân Ông cho rằng: “Nếu như thờ đá mà tìm ra Thượng đế thì

tốt hơn hết là thờ chiếc cối xay, xay bột cho ta ăn”

Thơ ca của ông còn là tiếng gọi đấu tranh cho tự do, bình đẳng, chống lại chế

độ phân biệt đẳng cấp đã tồn tại lâu đời Lời thơ của ông thật chân thành, thắm thiết:

“Những cô gái Hinđu hay những cô gái Hồi giáo đều có thể đến chốn Vĩnh hằng nơi không có chỗ phân chia đẳng cấp” (Ca khúc 2)

Như vậy, vấn đề“mất mát” được tiếp nối trong thơ Kabir gắn với sự bất công

của con người trong xã hội mà tôn giáo đem lại Với ông, con người có thể tìm được giá trị của cuộc sống mà không cần sự cứu rỗi của tôn giáo

2.1.3 Văn học Hiện đại

Tiếp nối hành trình “mất mát” của văn học trung đại mà Kabia là một đại diện

Trang 38

tiêu biểu Văn học hiện đại tiếp tục thể hiện hình ảnh “Con người mất mát” rõ nét

hơn trong bối cảnh văn hóa, xã hội thuộc địa Trong thời kì này, Ấn Độ đã hình

thành một tầng lớp trí thức mới: “Họ tha thiết muốn xây dựng và đổi mới nền văn

hoá của dân tộc mình Muốn từ bỏ cái lạc hậu, cổ hủ đã đeo bám trong nền văn hoá dân tộc mấy nghìn năm qua Họ muốn chặt đứt những xiềng xích của chế độ tôn giáo, đẳng cấp đã từng giam hãm người Ấn Độ trong tăm tối, kéo lùi nền văn minh đại thịnh của Ấn Độ lại Họ muốn hoà hợp nền văn hoá tiến bộ phương Tây vớỉ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc để phục hưng đất nước” [61, tr.192] Văn

học giai đoạn này xuất hiện nhiều tên tuổi lớn Trong phạm vi khảo sát của đề tài,

chúng tôi chú ý đến nhà văn Thakagi Sivasankara Pillai với tiểu thuyết Mùa tôm Tác

phẩm mang đến cho người đọc một góc nhìn thú vị về vấn đề tự do trong tình yêu,

hôn nhân thời hiện đại Mùa tôm là vụ mùa được trông đợi nhất của cư dân làng chài

Cái mùa tưởng sẽ mang lại sự thịnh vượng, niềm vui và hạnh phúc cho con người ngờ đâu lại mang đến những khổ đau, sự mất mát không gì bù đắp được

Trong Mùa tôm, ta lại tiếp tục tìm thấy hình bóng của những “Con người mất

mát” được tiếp nối từ hành trình mất mát trong văn học Ấn Độ Con người không có

tự do trong tình yêu và hôn nhân, mà mối tình giữa Karuthama và Parikuti là một minh chứng cho một tình yêu ngoài tôn giáo, ngoài đẳng cấp

Tình yêu bị ngăn cấm vì hai người khác tôn giáo Parikuti là người Hồi giáo còn Karuthama là người Hinđu giáo Tình yêu của họ lớn dần lên và cả hai đều cảm nhận được tình cảm mà họ dành cho nhau Parikuti đã làm mọi cách có thể để có được người con gái anh yêu Thế nên anh mới bị cha của Karuthama lợi dụng Nhưng ông lại không hề hay biết tình yêu mà chàng trai dành cho con của mình sâu đậm như thế nào Cho nên khi không đến được với người mình yêu, anh trở thành kẻ lang thang trên biển để hát mãi bài hát về mối tình tuyệt vọng Chỉ có vợ ông biết được điều đó nên bà tìm mọi cách ngăn cản Cuối cùng, bà đành chấp nhận gả con gái mình cho một chàng trai không gia đình, người thân ở một làng chài bên cạnh Hơn nữa, hai người còn thuộc về hai đẳng cấp khác nhau Karuthama phải sống theo những tập tục, định kiến có tính chất ràng buộc mà cô không thể thoát ra được

Đó là tập tục gả con gái khi đến tuổi với của hồi môn và phải cùng đẳng cấp ở làng

Trang 39

chài hay quan niệm về sự an nguy của người chồng ngoài biển khơi có liên quan chặt chẽ với việc làm của người vợ khi ở nhà Họ tôn thờ nữ thần biển cả, tin vào những câu chuyện hoang đường Điều này khiến cho con người trở nên an phận, cam chịu

dù ý thức được những mất mát mà nó gây ra Tinh thần con người lu mờ, con người thiếu đi những khát vọng, ước mơ trong cuộc sống

Cuối cùng, Karuthama phải từ bỏ mối tình lãng mạn của mình cho những niềm tin mù quáng mà người phụ nữ làng chài phải chấp nhận Niềm tin được cô kế thừa

từ mẹ và những người phụ nữ làng chài: “Cộng đồng được rào chắn bằng những

điều nghiêm cấm và những nề nếp nghiêm khắc Nếp sống của họ như thế đó,…”

[58, tr.47] Nàng không hiểu những điều cấm kị của làng chài nhưng nàng luôn ý thức rõ bổn phận của mình với gia đình nên không khi nào nàng vượt quá giới hạn trong tình yêu với một chàng trai ngoài đẳng cấp Nàng chấp nhận hy sinh tình yêu

để gia đình nàng được yên ổn, để giữ lại niềm tin của người dân làng chài: “Cô chỉ

muốn sống như một trong hàng vạn người phụ nữ dân chài khác, sống đau khổ rồi chết” [58, tr.134]

Đề cập đến nỗi bất hạnh mà người phụ nữ phải gánh chịu trong cuộc sống hiện đại ở một vùng quê tưởng như yên bình, tác giả cho ta thấy sự bất lực trước số phận của những con người nơi đây Họ cố vùng vẫy để thoát khỏi những định kiến, những thói quen được kế thừa từ trong quá khứ Nhưng cuối cùng, họ cũng phải chấp nhận, cam chịu dù đã ý thức được những đau khổ, bất hạnh mà cuộc sống mang lại Họ là thành phần thuộc lớp người chịu thiệt thòi và không có lối thoát nào khi những định kiến của quá khứ vẫn còn tồn tại trong cuộc sống hiện đại Thông qua bi kịch tình yêu, tác giả cho ta thấy sức tàn phá của chế độ đẳng cấp, vai trò của người phụ nữ trong xã hội gắn với những hủ tục khắt khe, ràng buộc làm họ mất dần vị trí cũng như quyền hạn trong gia đình và ngoài xã hội

2.1.4 Văn học đương đại

Hành trình “mất mát” đến với văn học đương đại Ấn Độ qua những điều không

dễ phản ánh như: những thay đổi tâm lí của con người trước biến cố cuộc sống; quá khứ được hồi tưởng với những kí ức đau buồn đã bị gãy vụn chỉ còn là những mảnh ghép; sự trỗi dậy của miền vô thức không thể kiểm soát, Thời kỳ này, xuất hiện

Trang 40

dòng văn học Ấn Độ viết bằng tiếng Anh Các tác giả thuộc dòng văn học này đã khẳng định mình qua nhiều giải thưởng lớn: Arundhati Roy với giải Man Booker, 1997; Jhumpa Lahiri, phó chủ tịch hội Văn bút Mĩ, với giải Pulitzer năm 2002; Kiran Desai với Giải Man Booker năm 2006 và Giải National Book Critics Circle; Vikas Swasrup với giải Prix Grand Public năm 2007; Aravind Adiga với Giải Man Booker

năm 2008,… Trong phạm vi khảo sát, chúng tôi chú ý đến tiểu thuyết Triệu phú khu

ổ chuột (tựa gốc: Q & A) của Vikas Swasrup Tác phẩm phản ánh đậm nét sự “mất mát” qua cuộc đời của hai cậu bé mồ côi Salim và Ram Mohamad Thomas Đó là

cuộc xung đột sắc tộc giữa Hồi giáo và Hindu giáo khiến cho Salim bị mất gia đình trở thành trẻ mồ côi; là phong tục làm gái mại dâm cho cộng đồng của bộ lạc Bedia đến từ huyện Bhind ở Madhya Pradesh của Nita quy định: mỗi gia đình đều có một người con gái bán dâm cho cộng đồng được gọi là Bedni Cô gái này kiếm tiền cho gia đình trong khi người đàn ông tiêu tốn thời gian vào việc uống rượu và chơi bài Nhưng đặc biệt hơn cả là con người mất niềm tin vào thực tại khiến họ lạc lõng nơi họ sống, trong gia đình và bản thân mỗi người Đồng xu may mắn của Ram là yếu tố cụ thể nhất, nó có hai mặt giống nhau Dù Ram tung lên và nhận lại mặt nào

đi nữa thì chúng đều chẳng có điểm nào khác Tất cả như bế tắc, không lối thoát, phó

mặc cho tất cả, “mặc kệ đời”, không còn niềm tin nào có thể chấp nhận được trong

cuộc sống nữa Vì thế những con người này muốn tồn tại trong xã hội đều dựa vào sức của mình và sự may mắn một cách ngẫu nhiên Họ cố gắng, bươn chải để vượt ra khỏi khó khăn, bế tắc Để từ đó, họ dần có một thói quen là chấp nhận thực tại, không phản kháng hay chạy trốn mà họ đối mặt với tất cả những thứ đó Mặc dù rằng, có những điều mà họ không thể nào vượt qua hay chấp nhận được

Con người mất niềm tin vào cuộc sống, vào thực tại và để từ đó họ đã mất niềm tin vào chính bản thân mình Đây là một bi kịch dễ khiến con người suy sụp và rơi vào bế tắc Ram gần như đã bỏ cuộc vào chính những bước ngoặc trong cuộc đời

mình, nhưng “sự may mắn ngẫu nhiên” đã kéo cậu trở lại tranh đấu với cuộc đời

Điều đó đủ có thể chứng minh cho ta thấy được rằng niềm tin mang lại cho ta cuộc sống ý nghĩa

Như vậy, bối cảnh xã hội hậu thuộc địa và sự thức tỉnh sâu sắc ý thức cá nhân

Ngày đăng: 01/01/2021, 13:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w