1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc chăm ở một số trường thpt tại huyện ninh phước, tỉnh ninh thuận

122 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bá Nữ Kim Liên NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIẾNG MẸ ĐẺ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC CHĂM Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH... Bá Nữ Kim Liên NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIẾNG M

Trang 1

Bá Nữ Kim Liên

NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIẾNG MẸ ĐẺ

CỦA HỌC SINH DÂN TỘC CHĂM Ở MỘT SỐ

TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH

Trang 2

Bá Nữ Kim Liên

NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIẾNG MẸ

ĐẺ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC CHĂM Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN NINH PHƯỚC,

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người thực hiện

Bá Nữ Kim Liên

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành của tôi đến:

- Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh;

- Các Phòng ban Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh;

- Thầy cô của Khoa Tâm lý Giáo dục đã giảng dạy trong khóa học;

- Thầy cô và học sinh các trường THPT An phước và trường THPT Phạm Văn Đồng tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận;

- Quý phụ huynh học sinh và giáo viên Chăm tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận;

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015

Bá Nữ Kim Liên

Trang 5

MỤC LỤC

M ỤC LỤC iii

DANH M ỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH M ỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIẾNG MẸ ĐẺ 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước 9

1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 11

1.2.1 Nhận thức 11

1.2.2 Thái độ 12

1.2.3 Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ 14

1.2.4 Tiếng mẹ đẻ 15

1.2.5 Nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ 16

1.2.5.1 Khái niệm nhận thức về tiếng mẹ đẻ 16

1.2.5.2 Khái niệm thái độ đối với tiếng mẹ đẻ 16

1.3 Lý lu ận về nhận thức và thái độ 16

1.3.1 Lý luận về nhận thức 16

1.3.1.1 Đặc điểm của nhận thức 16

1.3.1.2 Các giai đoạn của quá trình nhận thức 17

1.3.1.4 Các mức độ của quá trình nhận thức 19

Trang 6

1.3.1.5 Biểu hiện của nhận thức 21

1.3.2 Lý luận về thái độ 21

1.3.2.1 Đặc điểm của thái độ 21

1.3.2.2 Cấu trúc tâm lý của thái độ 22

1.3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thái độ 23

1.3.3 Vài nét về người Chăm 24

1.3.4 Vài nét về đặc điểm ngôn ngữ Chăm 26

1.3.4.1 Vài nét về đặc điểm ngôn ngữ nói của dân tộc Chăm 26

1.3.4.2 Vài nét về đặc điểm chữ viết của dân tộc Chăm 28

1.4 M ột số đặc điểm của học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT 32

1.4.1 Đặc điểm về tâm sinh lý của học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT 32

1.4.2 Đặc điểm về mặt học tập của học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT 35

1.4.3 Đặc điểm về mặt giao tiếp của học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT 36

1.5 M ột số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của h ọc sinhTHPT 38

1.5.1 Yếu tố chủ quan 38

1.5.2 Yếu tố khách quan 39

1.5.2.1 Yếu tố ảnh hưởng từ gia đình 39

1.5.2.2 Yếu tố ảnh hưởng từ nhà trường 40

1.5.2.3 Yếu tố ảnh hưởng từ bạn bè 40

TI ỂU KẾT CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIẾNG MẸ ĐẺ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC CHĂM Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN 43

2.1 M ột số đặc điểm giáo dục huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 43

2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 43

2.1.2 Một số đặc điểm giáo dục huyện Ninh Phước 44

2.2 Th ể thức và phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Mẫu nghiên cứu 45

2.2.2 Dụng cụ nghiên cứu 46

Trang 7

2.2.3 Mô tả công cụ nghiên cứu 46

2.2.4 Cách thức thu thập và xử lý số liệu 47

2.3 K ết quả nghiên cứu 47

2.3.1 Kết quả các thông số của thang thái độ 47

2.3.2 Kết quả các thông số của thang nhận thức: 48

2.4 Th ực trạng thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh THPT dân tộc Chăm tại huy ện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 49

2.4.1 Kết quả chung thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh THPT dân tộc Chăm tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 49

2.4.2 Kết quả so sánh thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh THPT dân tộc Chăm tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thận theo cấp lớp 56

2.5 Th ực trạng nhận thức đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh THPT dân tộc Chăm t ại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 68

2.6 K ết quả phỏng vấn giáo viên và phụ huynh 78

2.7 Một số biện pháp để giáo dục nhận thức và thái độ cho học sinh dân tộc chăm về tiếng mẹ đẻ ở một số trường THPT tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 82

2.7.1 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy tiếng Chăm 82

2.7.2 Tổ chức cuộc thi học sinh giỏi tiếng Chăm 84

2.7.3 Mở lớp phổ cập Tiếng Chăm dành cho đối tượng học sinh dân tộc Chăm ở bậc THPT 85

2.7.4 Dạy tiếng Chăm trên truyền hình 86

2.7.5 Gia đình- Nhà trường- Chính quyền địa phương cần phối hợp trong công tác giáo dục nhận thức và thái độ cho học sinh Chăm đối với tiếng mẹ đẻ 87

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PH Ụ LỤC 96

Trang 8

DANH M ỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH M ỤC CÁC BẢNG

B ảng 2.1 Độ phân cách của các câu trong thang thái độ 47

tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 49

Chăm tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận theo cấp lớp 56

Chăm tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận theo giới tính 62

Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 71

tiếng mẹ đẻ của học sinh THPT dân tộc Chăm tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận 78

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ, có tới 54 dân tộc cùng sống trong lãnh thổ và khoảng hơn 50 ngôn ngữ khác nhau Mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) đều có ngôn ngữ của riêng mình, trong đó sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giao tiếp chung Tuy nhiên, xu hướng hội nhập quốc tế đang làm nảy sinh nguy cơ suy giảm ngôn ngữ các DTTS Trong các DTTS ở Việt Nam thì dân tộc Chăm là một dân tộc có bản sắc văn hóa vô cùng phong phú độc đáo và đặc trưng cho một xã hội mẫu

hệ Văn hóa Chăm đặc sắc bởi những điệu múa của vũ nữ Apsara, sự độc đáo của lễ hội Rija Nưga, Ka-Tê hay sự huyền bí của Tháp Chăm cổ, ngoài ra ChămPa được biết đến là một nền văn minh có chữ viết từ rất sớm: “ChămPa là một quốc gia có chữ viết sớm nhất ở Đông Nam Á”[10], tiếng Chăm là một ngôn ngữ thu thút nhiều sự quan tâm của nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa và tộc người Tiếng Chăm đóng góp một vai trò to lớn trong quá trình hình thành một nền văn minh ChămPa rực rỡ, không những là công cụ giao tiếp mà còn là sự phản ánh thế giới quan của người Chăm, thông qua đó ta hiểu được triết lí của ông cha về cuộc đời, và còn là sợi dây gắn kết các thành viên trong cùng dân tộc, điều này cho thấy tầm quan trọng lớn lao của tiếng

mẹ đẻ trong giao tiếp hằng ngày, trong lao động và học tập, được người Chăm nâng niu truyền tụng từ thế hệ này sang thế hệ khác Tiếng mẹ đẻ có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi cá nhân không chỉ riêng người Chăm mà còn quan trọng đối với bất

cứ dân tộc nào Hiểu được tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) chọn ngày 21/2 là Ngày Tiếng mẹ đẻ Quốc Tế vào ngày 17 tháng 11 năm 1999, nhằm giúp các dân tộc nhận thức rõ rệt về tầm quan trọng của sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ

Ở nước ta nhờ có chính sách đúng đắn, những năm gần đây đã có một số ngôn ngữ DTTS được sử dụng như đối tượng hoặc phương tiện dạy-học trong một số trường phổ thông và các sơ sở giáo dục khác ở vùng DTTS Đồng thời, một số ngôn ngữ đang được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam như: Chăm, Thái, Mông, Ê-Đê……

Trang 11

Hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1960 có ghi: “ Các dân tộc

có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hóa dân tộc mình”

Quyết định của Chính Phủ số 53/CP ngày 22/02/1980 có đoạn viết:“ Tiếng nói và chữ viết hiện có của các dân tộc thiểu số được Nhà Nước tôn trọng, duy trì và giúp đỡ phát triển Các dân tộc thiểu số chưa có chữ viết đều được giúp đỡ xây dựng chữ viết theo chữ La Tinh” [6]

Trong Điều 5, chương I, Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 2013 có ghi: “ Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”

Trong Điều 7, Luật Giáo Dục ban hành năm 2005: Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giúp học sinh người DTTS dễ dàng tiếp thu kiến thức khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác

Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 viết: “ Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”

Tiếng mẹ đẻ cùng với sự đa dạng của ngôn ngữ có ý nghĩa quan trọng để xác định bản sắc của cá nhân như là nguồn sáng tạo và phương tiện biểu hiện văn hóa, đảm bảo sự phát triển lạnh mạnh của xã hội Một nền văn hóa hòa bình chỉ có thể được xây dựng trong một không gian, nơi tất cả mọi người đều có quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ một cách tự do và đầy đủ trong tất cả các hoàn cảnh sống khác nhau của cuộc sống

Ở tỉnh Ninh Thuận việc giáo dục tiếng Chăm cho người Chăm được thực hiện trong nhà trường tiểu học, nơi có con em người Chăm học tập, tiếng Chăm cũng được dạy trên đài truyền hình Ninh Thuận Hằng năm tỉnh Ninh Thuận có tổ chức cuộc thi “ Học sinh giỏi tiếng Chăm” nhằm mục đích để cho con em đồng bào Chăm cố gắng nỗ lực học tiếng mẹ đẻ, có tinh thần yêu thích tiếng mẹ đẻ và học tiếng mẹ đẻ một cách nghiêm túc và tích cực Tuy nhiên do chỉ được giảng dạy trong trường tiểu học nên khi

Trang 12

lên đến cấp THCS và THPT thì khả năng đọc hiểu tiếng mẹ đẻ của học sinh người Chăm càng giảm Khi không được học tiếng Chăm trong trường thì phần nào ảnh hưởng đến thái độ của các em đối với tiếng mẹ đẻ, đa phần các em đều tập trung vào việc nắm vững tiếng Việt và học ngoại ngữ như tiếng Anh, tiếng Pháp mà thờ ơ với việc học tiếng Chăm, việc thờ ơ với tiếng mẹ đẻ sẽ dẫn đến một hệ quả đáng buồn là tiếng Chăm đang dần mai một trong giới trẻ và học sinh người Chăm chưa có nhận thức và thái độ đúng đắn với tiếng mẹ đẻ của mình Một bộ phận không nhỏ học sinh người Chăm mà đặc biệt là học sinh THPT không đọc được chữ Chăm, không đọc được một bài báo viết bằng tiếng Chăm, các em chưa hiểu được tầm quan trọng của việc nói tiếng mẹ đẻ và sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong học tập và lao động Nếu có biện pháp giáo dục nhận thức và thái độ phù hợp cho các

em học sinh Chăm thì tiếng mẹ đẻ sẽ tồn tại mãi với thời gian

Xuất phát từ thực tế trên thì việc nghiên cứu đề tài “Nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc Chăm ở một số trường THPT tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận” là điều cần thiết, đáp ứng được mong mỏi của đồng bào Chăm cũng như chính sách dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở khảo sát nhận thức và thái độ của học sinh dân tộc Chăm đối với tiếng

mẹ đẻ ở một số trường THPT từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục nhận thức và thái độ phù hợp đối với tiếng mẹ đẻ cho học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ

3.2 Khảo sát thực trạng nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc Chăm ở một số trường THPT tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận

3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục nhận thức và thái độ phù hợp đối với tiếng mẹ đẻ cho học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc Chăm ở một số trường THPT tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận

5 Giả thuyết nghiên cứu

Đa số học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT tại huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận còn chưa có nhận thức và thái độ đúng đắn đối với tiếng mẹ đẻ, nếu như

có biện pháp giáo dục phù hợp đối với tiếng mẹ đẻ thì học sinh dân tộc Chăm sẽ có nhận thức và thái độ tích cực đúng đắn hơn

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung tìm hiểu nhận thức và thái độ của học sinh dân tộc Chăm đối với tiếng mẹ đẻ ở một số trường THPT tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

6.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên phạm vi 471 học sinh của 2 trường THPT tại huyện Ninh

Phước, tỉnh Ninh Thuận Bao gồm trường : THPT An Phước, trường THPT Phạm Văn Đồng năm học 2014-2015

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

a.Mục đích

Tìm ra những cơ sở nghiên cứu nhằm tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận về nhận thức và thái độ, nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ, các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ của học sinh dân tộc Chăm ở các trường THPT tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

b Cách thức

Trang 14

Tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách, tạp chí chuyên ngành, các thông tin có liên quan đến đề tài

7.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

b Cách thức thực hiện

Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn giáo viên THPT nơi có học sinh dân tộc Chăm theo học và ý kiến của phụ huynh học sinh tại huyện Ninh Phước, tình Ninh Thuận theo bảng hỏi phỏng vấn đã soạn sẵn

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học

a Mục đích

Nhằm thống kê các số liệu thu được đối với các vấn đề: nhận thức, thái độ của học sinh dân tộc Chăm đối với tiếng mẹ đẻ

b Cách thức

Trang 15

Người nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 13.0 để nhập và xử lý thống kê như: tính tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm nghiệm T – Test, kiểm nghiệm Chi – quare, Factor Analyzis làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ

ĐỐI VỚI TIẾNG MẸ ĐẺ

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Vài nét lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài

Trong một bài viết của tác giả Sheldon Shaefer trên trang wed chính thức của UNESCO với tiêu đề :Ngày Ngôn ngữ mẹ đẻ:Ngôn ngữ địa phương tạo nên công dân toàn cầu tự tin, phản ánh những giá trị đang bị đe dọa khi đề cập đến việc gìn giữ những ngôn ngữ địa phương, nắm bắt được sức mạnh của ngôn ngữ bản địa để trao quyền, cùng với việc phát huy niềm tự hào của địa phương để bồi dưỡng những công dân toàn cầu hiểu biết, và qua đó gỡ bỏ mọi rào cản về ngôn ngữ trong việc trau dồi kiến thức, đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học

Sheldon Shaefer cũng đã khẳng định việc củng cố và thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ mẹ đẻ cũng như các văn hóa liên quan cũng giúp tinh thông ngôn ngữ quốc gia, và sau này là ngôn ngữ quốc tế Điều này giúp thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ giữa các quốc gia và cuối cùng xây dựng nên ý thức về công dân toàn cầu

Tổng giám đốc UNESCO Irina Bokova đã nhấn mạnh vai trò của ngôn ngữ như

là trụ cột của công dân toàn cầu: “ Việc bảo vệ và thúc đẩy ngôn ngữ mẹ đẻ là chìa khóa của công dân toàn cầu và của cả sự hiểu biết lẫn nhau một cách thực sự Hiểu và nói nhiều hơn một ngôn ngữ sẽ giúp hiểu hơn về sự phong phú trong tương tác văn hóa thế giới Việc công nhận ngôn ngữ địa phương cho phép nhiều người thể hiện tiếng nói của mình hơn và trở nên tích cực hơn trong sứ mệnh tập thể của họ”

Tổng thống Nam phi Nelson Mandela đã nhận ra tầm quan trọng của ngôn ngữ bản địa đối với người bản địa khi ông phát biểu “ Nếu bạn nói với một người bằng ngôn ngữ người đó hiểu, điều bạn nói sẽ tới được đầu anh ta Nếu bạn nói với người đó bằng ngôn ngữ của họ, điều bạn nói sẽ tới trái tim anh ta” [28]

Trên tinh thần đó UNESCO tôn vinh Ngày Quốc Tế Tiếng Mẹ Đẻ vào ngày 21 tháng 2 hàng năm Được kỷ niệm đầu tiên vào năm 2000, ngày này đã trở nên ngày

Trang 17

càng quan trọng khi toàn cầu hóa và các yếu tố khác ngày càng đe dọa đến sự tồn tại của 7000 tiếng mẹ đẻ trên thế giới [28]

Trong cuốn sách bàn về ngôn ngữ thì Lênin cũng đã đưa ra ý kiến về quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của các dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc, đa ngữ

Lênin cho rằng đối với tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia

có bối cảnh như nước Nga sau cách mạng tháng mười thì quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ trong các hoạt động xã hội là bất khả xâm phạm Người viết: “ Nhân dân có quyền học bằng tiếng mẹ đẻ, mỗi công dân có quyền phát biểu bằng tiếng mẹ đẻ trong các cuộc họp và ở các cơ quan xã hội cũng như các cơ quan nhà nước”[23;136] Quyền sử dụng tiếng mẹ đẻ theo Lênin là sự bình đẳng trong một xã hội dân chủ, tức

là một xã hội dân chủ thực sự Người viết: “ Không một người dân chủ nào, lại càng không có một người mácxít nào phủ nhận sự bình đẳng giữa các ngôn ngữ” [23;173-174]

Xuất phát từ quan điểm bình đẳng ngôn ngữ V.I.Lênin luôn luôn đặt vị trí của tiếng Nga trong sự bình đẳng của nó đối với các ngôn ngữ khác cho dù nó là ngôn ngữ của đa số cư dân gần như đông đảo nhất của nước Nga so với các ngôn ngữ khác thời

kì đầu cách mạng

Những tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại của của Lênin phù hợp với tư tưởng tiến

bộ của nhân loại

Ở nước Australia thì nhà cầm quyền rất ủng hộ việc giảng dạy các ngôn ngữ bản địa ở những vùng khác nhau cũng như các ngôn ngữ khác không phải tiếng Anh Theo Josph Lo Bianco, việc thực hiện giáo dục song ngữ ở đất nước này xuất phát từ bốn mục đích xã hội trực tiếp Đó là người ta cân nhắc làm sao để việc học ngôn ngữ

nhằm: a) Làm giàu về văn hóa và tri thức cho người học; b) Góp phần phát triển kinh

tế thông qua việc cung cấp tri thức về sản xuất và trao đổi sản phẩm; c) Tào ra sự bình đẳng và công bằng xã hội của những cá nhân trong cộng đồng quốc gia; d) Nâng cao vị trí quốc gia trong khu vực và trên thế giới Theo Bianco đối với một quốc gia đa

dân tộc, đa văn hóa này, bảo vệ và phát triển ngôn ngữ và văn hóa dân tộc thiểu số không đơn thuần chỉ là bảo vệ quyền lợi của người thiểu số mà là bảo vệ lợi ích thiết thực của quốc gia trong sự nghiệp xây dựng đất nước Bianco cũng cho rằng “ Sự

Trang 18

phong phú về văn hóa và ngôn ngữ Australia là một bằng chứng hùng hồn về đẩy mạnh giáo dục song ngữ thứ hai và song ngữ trong cả xã hội Ở mức độ xã hội, giảng dạy ngôn ngữ có thể có tiềm năng đóng góp vào việc nâng cao giao tiếp giữa các tập thể và giáo dục liên văn hóa, do đó đẩy mạnh chất lượng các quan hệ giữa các tập thể thành viên trong xã hội Australia Ở mức độ cá nhân, việc thu thập được các ngôn ngữ dùng ở Australia (cả thổ ngữ và ngôn ngữ không phải của dân bản xứ) qua người sử dụng các ngôn ngữ khác có thể đóng góp và mở rộng chân trời văn hóa và suy nghĩ của người dân Australia”[5;44]

1.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước

Từ cuối thế kỷ XIX, việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc ít người đã được chú

ý tại Việt Nam, giai đoạn từ năm 1960 đến 1975các nhà nghiên cứu, giảng viên, sinh viên các trường đại học tại Hà Nội, tiêu biểu là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đã tiến hành nhiều cuộc điền dã khảo sát các ngôn ngữ dân tộc ít người ở Tây Bắc, Việt Bắc để phân loại loại hình, ngữ hệ và xây dựng chữ viết cho các ngôn ngữ dân tộc ở đây Thời gian này, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản liên quan đến chính sách dân tộc và chính sách ngôn ngữ Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1960) đã khẳng định: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, phát triển văn hoá dân tộc mình” Năm 1965, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành Chỉ thị 84 nêu rõ: “Sử dụng chữ dân tộc là một nguyện vọng thiết tha của các dân tộc, cần tiếp tục nghiên cứu về mặt khoa học, đồng thời mạnh dạn sử dụng rộng rãi ba thứ chữ Tày – Nùng, Mèo, Thái trên sách báo, trong cơ quan hành chính và trong đời sống hàng ngày” Ở phía Nam, cụ thể là tại Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Nam Trường Sơn – Tây Nguyên được bắt đầu từ thập niên 80 của thế kỷ XX Khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã liên tục tổ chức các cuộc điền dã ngôn ngữ học trải dài từ Tây Nguyên (Đắc Lắc, Lâm Đồng, Đắc Nông, Kontum,…), đến Đông Nam Bộ (Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai), Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận), Tây Nam

Bộ (Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang,…) Khá nhiều công trình, nhất là từ điển đối

Trang 19

chiếu tiếng dân tộc thiểu số - tiếng Việt và các công trình tuyển tập văn học dân gian các dân tộc anh em như Mnông, Raglai, Churu, Khmer,… đã được xuất bản Nhiều khoá luận tốt nghiệp đại học về ngôn ngữ dân tộc thiểu số (Mnông, Stiêng, Kơho, Mạ, Chăm, Raglai, Chrau, Churu, Bru, Khmer,…) đã được bảo vệ thành công Từ cái nôi

và định hướng ấy, nhiều thế hệ giảng viên, sinh viên của Khoa Ngữ văn đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ về các vấn đề của ngôn ngữ dân tộc thiểu số khu vực phía Nam như luận án của Trần Thị Mỹ (tiếng Mnông), Lê Khắc Cường (tiếng Stiêng), Nguyễn Văn Huệ, Phú Văn Hẳn (tiếng Chăm), Lý Tùng Hiếu (tiếng Bru-Vân Kiều) [9]

Trần Trí Dõi, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nghiên cứu và cho ra đời cuốn giáo trình “ Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” nhằm giúp cho sinh viên trả lời một câu hỏi quan trọng

là “Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam để làm gì?” , không chỉ là giáo trình có ích cho các sinh viên chuyên ngành như: Ngôn ngữ học, Dân tộc học, Du

lịch học, Đông phương học mà giáo trình này còn có ích cho những ai quan tâm đến

những vấn đề văn hóa ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữ- văn hóa các dân tộc thiểu số

ở Việt Nam nói riêng

Bùi Khánh Thế đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng về tiếng Chăm và cho ra đời quyển sách “ Ngữ pháp tiếng Chăm”[29], là một nghiên cứu rất có ích cho đồng bào Chăm và làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ DTTS nước nhà

Trần Trí Dõi cũng đã nghiên cứu những vấn đề chính sách ngôn ngữ và giáo dục ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong đó Ông đã hệ thống những thuận lợi

và khó khăn trong vấn đề giáo dục tiếng mẹ đẻ các dân tộc thiểu số để từ đó tìm cách khắc phục những khó khăn và có biện pháp phát huy những điều kiện thuận lợi trong việc giáo dục tiếng mẹ đẻ.[11]

Nguyễn Văn Khang ở Viện khoa học xã hội đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu vai trò của tiếng nói và chữ viết Chăm trong đời sống xã hội của người Chăm hiện nay không chỉ làm rõ tầm quan trọng của tiếng nói và chữ viết Chăm mà còn đáp ứng được nguyện vọng của người Chăm, góp phần vào việc gìn giữ và bảo tồn tiếng mẹ đẻ của người Chăm cũng như các dân tộc khác

Trang 20

Trần Phương Uyên đã nghiên cứu và bảo vệ thành công đề tài “ Cảnh huống ngôn ngữ ở cộng đồng Chăm tại TP Hồ Chí Minh” Luận án được đánh giá có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào nghiên cứu lý luận về cảnh huống ngôn ngữ, góp phần nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ Việt Nam nói chung, cảnh huống tiếng Chăm ở Việt Nam nói riêng Kết quả nghiên cứu này cũng góp phần vào nghiên cứu tình hình ngôn ngữ - xã hội ở Thành phố Hồ Chí Minh, làm cơ sở hoạch định chính sách phát triển bền vững về mọi mặt của Thành phố Hồ Chí Minh Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ cho biết thực chất về mức độ sử dụng, cũng như thái độ ngôn ngữ của người Chăm đối với tiếng Chăm và tiếng Việt Qua đó, có thể nhận biết về mức độ thành công trong việc thực thi chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách giáo dục ngôn ngữ đối với đồng bào dân tộc thiểu số của nhà nước ở một địa bàn đô thị đặc thù Đóng góp cho việc hoàn thiện chính sách đoàn kết dân tộc, chính sách giáo dục ngôn ngữ đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Nhà nước trong giai đoạn lịch sử mới

Người Chăm cũng có một số tác giả đang có nghiên cứu ngôn ngữ Chăm như Phú Văn Hẳn, Thành Phần, nhà nghiên cứu văn hóa,nhà thơ Inrasara đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục và gìn giữ tiếng mẹ đẻ mà cụ thể là việc bảo tồn tiếng Chăm trong thời đại hội nhập

1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Nhận thức

Ở khía cạnh triết học Lênin cho rằng: Nhận thức là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người Tuy nhiên, sự phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên hoạt động tích cực của chủ thể trong mối quan hệ với khách thể Tính tích cực của chủ thể nhận thức thể hiện không chỉ ở sự tác động của chủ thể diễn ra trong quá trình thực tiễn xã hội mà còn ở sự phản ánh khách thể như là một quá trình sáng tạo trong đó chủ thể càng nắm bắt được quy luật, bản chất của khách thể [2, tr.198]

Theo từ điển Tiếng Việt: “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó” [35, tr.41]

Trang 21

Theo tác giả Vũ Dũng thì nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về hiện tượng, quá trình nào

đó …[13, tr.185]

Tác giả Stephen Worchel –Wayne Shebilsue cho rằng : Nhận thức là quá trình diễn dịch thông tin mà chúng ta thu nhận được từ môi trường thông qua quá trình cảm giác Quá trình cảm giác và nhận thức đan xen lẫn nhau [8, tr.4]

Tác giả Robert Feldman cho rằng nhận thức là tiến trình mà nhờ đó cảm giác được phân tích, diễn dịch và hợp nhất các thông tin cảm giác khác nhau [27, tr 35] Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình” [21, tr.79]

Nhận thức đóng vai trò quan trọng trong đời sống của con người, nếu không có nhận thức thì con người sẽ không biết mình là ai, không biết mình phải làm gì Các quan điểm vừa nêu ở trên thì các tác giả đã giải thích được nhận thức là một quá trình tâm lý,có mở đầu, diễn biến và kết thúc Mở đầu của quá trình nhận thức là sự tác động của thế giới khách quan vào các giác quan và bộ não của chủ thể, sau đó não bộ sẽ xử

lý và mã hoá thông tin tạo ra sản phẩm của quá trình nhận thức Tuy nhiên chúng ta cần xem xét nhận thức một cách toàn vẹn tất cả các mặt đời sống tâm lý người

Như vậy có thể hiểu: Nhận thức là một thuật ngữ đề cập đến các quá trình tinh thần liên quan đến việc đạt được tri thức và thông hiểu, bao gồm tư duy, hiểu biết, ghi nhớ, đánh giá và giải quyết vấn đề Đây là những chức năng nâng cấp cao hơn của não bộ bao gồm ngôn ngữ, tưởng tượng, tri giác và lập kế hoạch

1.2.2 Thái độ

Thái độ là cách để lộ ý nghĩ và tình cảm trước một sự việc, một hoàn cảnh bằng

cử chỉ, lời nói, hành động, là mức cảm nghĩ tích cực hay tiêu cực( thuận hay không thuận) liên hệ đến một đối tượng tâm lý Đối tượng tâm lý ấy có thể là bất cứ cái gì mà

ta muốn tìm hiểu, nó có thể là một nghề nghiệp, một tập thể cá nhân, một quốc gia,

một cuốn sách, một khẩu hiệu, một ý tưởng, một lý tưởng, hay bất cứ điều gì mà mọi người có thể có những cảm nghĩ khác nhau hoặc tiêu cực hoặc tích cực

Trang 22

Theo tác giả Dương Thiệu Tống: Thái độ là khuynh hướng suy tư, cảm nghĩ, tri giác và hành xử đối với một đối tượng tâm lý Thái độ ấy có thể là cảm nghĩ tích cực hay tiêu cực, thuận hay không thuận.[31, tr.181]

Theo từ điển tiếng việt, thái độ được hiểu là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình [24, tr.909]

Zimbardo và Leippe (1991) định nghĩa thái độ là một khuynh hướng mang tính đánh giá về một đối tượng dựa trên phương thức phản ứng, tình cảm, ý định hành vi và hành vi trong quá khứ… có thể ảnh hưởng đến nhận thức, phản ứng tình cảm và ý định trong tương lai Thái độ có liên quan đến cách con người cảm nhận được tình huống trong đó họ tìm thấy chính mình Ngoài ra thái độ thay đổi theo hướng (Tích cực hay tiêu cực), ở mức độ (số lượng tích cực hay tiêu cực), và cường độ.[14]

Theo Gordon Allpert (1991), Thái độ là sẵn sàng trong phản ứng, là trạng thái tinh thần hay thần kinh sẵn sàng để đáp ứng Nó được cấu tạo thông qua kinh nghiệm

cá nhân, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến phản ứng cá nhân đối với tất cả các đối tượng hay hoàn cảnh mà nó liên quan

Theo Fishbein và Ajzen (1975): Thái độ là những khuynh hướng được học tập thiên về việc đáp ứng một cách ủng hộ hoặc không ủng hộ đối với một sự vật, một con người hoặc một sự kiện nhất định

Krech, Crutchfield và Ballachey (1962): Thái độ là một hệ thống bền vững của

những đánh giá tích cực hoặc phủ định, những cảm xúc, những kỹ thuật ủng hộ và

chống đối dựa vào các mục tiêu mang tính xã hội

Các tác giả tâm lý học Mác xít đề cập đến khái niệm thái độ như sau:

Miaxisew: Thái độ là hạt nhân tâm lý của nhân cách, hình thành một cách có ý

thức theo cơ chế chuyển dịch thông qua hoạt động và giao tiếp mà con người tham gia vào, là một hệ thống trọn vẹn mang tính chủ quan đối với hiện thực khách quan Nó quyết định sự phản ứng trong hành vi đối với những tác động bên ngoài Tất cả các tổ

chức cấu thành tâm lý từ đơn giản đến phức tạp đều có liên quan đến con người và

những chức năng tâm lý khác đều có thể xem như một dạng của thái độ [17, 287]

Trang 23

tr.254-Theo Platonov: Thái độ là một yếu tố cấu thành tích cực của ý thức cá nhân, là

mối quan hệ ngược giữa chủ thể - thế giới, nghĩa là con người và thế giới bên ngoài tác động qua lại lẫn nhau và nó được thể hiện trong hành vi của cá nhân [17]

Theo các tác giả của tâm lý học Mác xít thì mối quan hệ xã hội có con người tham gia vào bằng hoạt động và giao lưu của mình đã quyết định thái độ của cá nhân

đó trước những tác động của hiện thực khách quan

Theo từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 2001, thái độ, tiếng Pháp

là attitude, được giải thích như sau: trước một đối tượng hoặc một ý tưởng, con người

bộc lộ những phản ứng tức thì, chẳng hạn như tiếp nhận rõ ràng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, như đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ những thái độ có sẵn, tri giác về đối tượng cũng như tri thức bị chi phối [ 38] Qua tìm hiểu các khái niệm của thái độ thì ta thấy rằng thái độ có các điểm chung

cơ bản như: thái độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm, cảm nghĩ) và bên ngoài (hành động, hành vi, sự thích ứng,…) của cơ thể; thứ hai, thái độ … khi có

mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng,một con người, một nhóm người) với sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể; thứ ba, thái độ có tính xã hội, phản ánh

mối quan hệ giữa chủ thể của thái độ và các thành phần khác trong xã hội (trong hoàn

cảnh, tình huống xã hội, trong sự trao đổi các giá trị, chuẩn mực xã hội,…) Do đó, thái độ là đối tượng nghiên cứu của cả tâm lý học cá nhân và tâm lý học xã hội

Hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm thái độ, thông qua việc tìm

hiểu và phân tích những quan điểm về thái độ của nhiều tác giả thì chúng tôi rút ra kết

luận rằng:“Thái độ là một cấu tạo tâm lý có ý thức và có bản chất xã hội, là hệ

th ống những suy nghĩ, tình cảm, cách đánh giá của chủ thể đối với các tác động

c ủa thế giới khách quan Đó là sự đồng tình hay không đồng tình, ủng hộ hay phản đối, thích hay không thích phản ứng nào đó của cá nhân hay nhóm xã hội.”

1.2.3 M ối tương quan giữa nhận thức và thái độ

Nhận thức và thái độ đều phản ánh hiện thực khách quan cơ bản nhất của xã hội

và mang tính chủ thể sâu sắc Mặc dù vậy nhưng hai quá trình này vẫn có những nét riêng của nó: nhận thức thì phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của bản thân thế giới còn thái độ thì thể hiện mối quan hệ giữa sự vật hiện tượng với nhu cầu,

Trang 24

tình cảm của con người Nhận thức và thái độ có mối quan hệ rất gắn bó với nhau, hai quá trình tâm lý cơ bản này tạo nên cấu trúc của hiện tượng nhận thức

Thái độ là một phần trong biểu hiện tình cảm mà nhận thức và tình cảm lại có

mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nhận thức là cơ sở của tình cảm, tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi chân lí Tình cảm là thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật hiện tượng có liên quan đến nhu cầu của họ, vì

vậy nhận thức có liên hệ với thái độ

Nhận thức chi phối thái độ, nhận thức là cơ sở, là nền tảng để nảy sinh thái độ Con người phải có thông tin về đối tượng để có thái độ đúng mức với đối tượng đó Trước một sự vật hiện tượng nào đó chúng ta luôn luôn phải suy nghĩ để biết, hiểu nó

là cái gì, nó như thế nào và có ý nghĩa gì trong cuộc sống mà nó tồn tại Biết đối tượng

là gì, nó có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân mình hay không để từ đó có thái độ tích cực hay tiêu cực với đối tượng để tránh xảy ra những thái độ không như mong

muốn

Thái độ chịu sự chi phối của nhận thức nhưng thái độ cũng tác động ngược trở lại

nhận thức Khi chúng ta có thái độ tích cực với một vấn đề cụ thể thì nhu cầu và hứng thú nhận thức của chủ thể sẽ được nâng lên Nhưng có nhiều khi nhận thức đúng nhưng lại có thái độ không tích cực và ngược lại có thái độ đúng nhưng lại bị hạn chế

và tư duy được bằng tiếng mẹ đẻ thì các em cũng có thể học tập một cách dễ dàng

Một ngôn ngữ không được xem là tiếng mẹ đẻ thông thường được gọi là ngôn

ngữ thứ hai Trong thời thơ ấu nếu có sự tiếp xúc đầy đủ thì con người có thể nói được

phần lớn tiếng mẹ đẻ

Theo từ điển bách khoa toàn thư: Tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ đầu tiên là một ngôn

ngữ mà người ta được thừa hưởng trong thời thơ ấu và có thể không được giảng dạy

Trang 25

chính thức trong trường học Đặc trưng của người nói tiếng mẹ đẻ của một ngôn ngữ là

trực giác về những gì họ có trong ngôn ngữ của họ mà người khác không thể nói được.[41]

Việc thành thạo tiếng mẹ đẻ giúp cho sự giao tiếp giữa con người cùng dân tộc

trở nên dễ dàng hơn, đối với các em học sinh thì việc duy trì học tiếng mẹ đẻ sẽ giúp các em coi trọng nguồn gốc của mình và nhờ vào đó sẽ cảm thấy tự tin hơn về bản thân mình Nếu duy trì việc học tiếng mẹ đẻ thì công việc trong tương lai cũng sẽ mở

rộng hơn, giúp cho mỗi cá nhân thêm yêu dân tộc từ đó góp công giữ gìn và phát huy

bản sắc dân tộc giàu đẹp

1.2.5 Nh ận thức và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ

1.2.5.1 Khái niệm nhận thức về tiếng mẹ đẻ

Nhận thức về tiếng mẹ đẻ là thể hiện sự hiểu biết của con người về tiếng mẹ đẻ,

là quá trình con người tìm tòi, nghiên cứu những tri thức, thông tin liên quan đến tiếng

mẹ đẻ, từ những hiểu biết về tiếng mẹ đẻ thì con người có thái độ và hành động phù

hợp đối với những gì diễn ra xung quanh

Chúng tôi sử dụng khái niệm này xuyên suốt bài nghiên cứu

1.2.5.2 Khái niệm thái độ đối với tiếng mẹ đẻ

Thái độ đối với tiếng mẹ đẻ thể hiện tình cảm tích cực hay tiêu cực của con người đối với tiếng mẹ đẻ, là sự đồng tình hay không đồng tình trước một thông tin

nào đó liên quan đến tiếng mẹ đẻ, là thích hay không thích của cá nhân đối với tiếng

mẹ đẻ, tất cả những điều đó được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm và hành vi của con người trong tình huống cụ thể

Chúng tôi sử dụng khái niệm này xuyên suốt bài nghiên cứu

Trang 26

ánh hiện thực xung quanh ta mà còn phản ánh cả hiện thực của bản thân ta, nó không

chỉ phản ánh hiện thực bên ngoài mà còn phản ánh cái bên trong, không chỉ phản ánh

hiện tại mà còn phản ánh cái đã qua và cái sẽ tới của hiện thực khách quan Bản chất

của quá trình nhận thức bao gồm một số đặc điểm cơ bản sau:

Nhận thức là một quá trình hoạt động: Ở con người, quá trình nhận thức thường

gắn với mục đích và động cơ nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là tri thức về hiện thực khách quan Nó không chỉ là tri thức về các thuộc tính bên ngoài mà còn là tri thức về các thuộc tính bên trong

Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người Nhận thức là

hoạt động khám phá thế giới xung quanh của chủ thể, nhằm tìm ra chân lý hay sự thật

về những thuộc tính và quy luật khách quan của sự vật, hiện tượng Nhận thức đúng làm cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng

Hoạt động nhận thức thể hiện ở những mức độ nhận thức khác nhau và mang lại sản

phẩm khác nhau về hiện thực khách quan

Nhận thức mang bản chất xã hội lịch sử: Hoạt động nhận thức bao giờ cũng phải

dựa vào những tri thức đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại đã tích luỹ được, tức

là dựa vào kết quả nhận thức xã hội mà loài người đã đạt được ở trình độ phát triển

lịch sử lúc đó Nhận thức phải sử dụng các ngôn ngữ khác nhau do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt, khái quát và giữ gìn kết quả hoạt động

nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là ý nghĩa của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã hội đặt ra

Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử, bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất của sự vật hiện tượng được quy định không

chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quả nhận thức mà loài người đã đạt được

1.3.1.2 Các giai đoạn của quá trình nhận thức

Khi nhận thức về thế giới xung quanh, con người có thể nhận thức cái bên ngoài

và cả cái bên trong của sự vật, hiện tượng, có thể nhận thức cái đã có, cái đang có, và

cả cái sẽ có, có thể nhận thức cái cụ thể, cái khái quát, cái quy luật của sự vật,… Từ đó

Trang 27

có thể nhận thấy, nhận thức là một hoạt động tâm lý rất phức tạp, đa dạng, và ở nhiều

mức độ khác nhau Tuy nhiên, có thể chia hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn:

nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính [20;tr.84]

- Nh ận thức cảm tính

Quá trình nhận thức cảm tính là mức độ thấp của hoạt động nhận thức Giai đoạn này bao gồm hai quá trình: cảm giác và tri giác Đặc điểm dễ nhận thấy của quá trình

nhận thức cảm tính là quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự

vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan khi chúng trực tiếp tác động và các giác quan của chúng ta [20, tr.84]

Nhận thức cảm tính bao gồm 2 mức độ sau:

+ Cảm giác là hình thức đầu tiên thiết lập quan hệ tâm lý cơ thể với môi trường,

mức độ phản ánh tâm lý thấp nhất, là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức của con người [20, tr.84]

Theo A.V.Petrovski thì: “Cảm giác là một quá trình tâm lý đơn giản nhất phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong cơ thể dưới sự tác động trực tiếp của những kích vật chất lên các giác quan”

Một định nghĩa khác về cảm giác: “Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh

từng thuộc tính riêng lẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong của cơ

thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta” [21, tr.62]

Cảm giác là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài nhận thức Cảm giác

là hình thức đầu tiên của hoạt động nhận thức, nhờ các cơ quan cảm giác con người

nhận được nguồn thông tin, tài liệu phong phú từ thế giới bên ngoài, cũng như thông tin về trạng thái cơ thể mình Cảm giác là nguồn cung cấp nguyên liệu để con người

tiến hành những hoạt động tâm lý cao hơn [20, tr.87]

+ Tri giác là qúa trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự

vật, hiện tượng, khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan Tri giác có một vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính

Tri giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng là

vật điều chỉnh các hành động

Trang 28

Hình thức tri giác cao nhất, tích cực, chủ động và có mục đích là sự quan sát Trong lịch sử loài người, quan sát được phát triển như là một bộ phận cấu thành của

những thao tác lao động, giữ vai trò xác lập phù hợp của các sản phẩm lao động với hình ảnh lý tưởng đã được hoạch định của nó Ở những giai đoạn đầu trong sự phát triển của bất cứ một khoa học nào, quan sát biểu hiện như là một phương pháp nghiên

cứu chính Với sự phát triển của khoa học, quan sát ngày càng trở nên phức tạp và gián

tiếp hơn [20, tr.96]

- Nh ận thức lý tính:

Nếu như nhận thức cảm tính chỉ dừng ở mức nhận thức được các đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng cũng như hình ảnh tìm được không thực sự chính xác và hướng đến bản chất thì nhận thức lý tính sẽ là mức độ nhận thức phản ánh những yếu

tố thuộc về bản chất, hướng đến cái chưa biết và cái mới [20, tr113]

+ Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối

liện hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan

+ Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những

1.3.1.4 Các m ức độ của quá trình nhận thức

Theo quan điểm của B.S.Bloom thì nhận thức được phân thành 6 cấp độ từ thấp đến cao bao gồm: Biết (Knowledge), hiểu (Comprehension), vận dụng (Application), phân tích (Analysis), tổng hợp (Synthesis), đánh giá (Evaluation)

Trang 29

- Bi ết: bao gồm việc có thể nhớ lại các điều đặc biết hoặc tổng quát, nhớ lại

các phương pháp và quá trình, hoặc nhớ lại một dạng thức, một cấu trúc, một mô hình

mà học viên đã có lần gặp trong quá khứ ở lớp học, trong sách vở, hoặc ngoài thực tế Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết [36, tr.51]

Biết là mức độ nhận thức ở mức chỉ cần con người vận dụng trí nhớ mà chưa cần giải thích điều gì

- Hi ểu: bao gồm cả biết nhưng ở mức độ cao hơn là khả năng hiểu, diễn dịch,

diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả và ảnh hưởng) Mức độ hiểu đòi hỏi chủ thể phải biết được ý nghĩa của tri thức, biết liên hệ với những điều đã có trong kinh nghiệm của họ Hiểu là mức độ chủ thể nhận được thông tin nào đó thì có

thể biến đổi thông tin đó sang một hình thức khác tương đương, có ý nghĩa nhiều hơn

với chính mình Có 3 cách để thể hiện mức độ hiểu là: chuyển dịch, nội suy, ngoại suy

- V ận dụng: là mức độ phải dựa trên sự thông hiểu nhưng ở mức cao hơn, đó là

khả năng chủ thể căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để lựa chọn, sử dụng tri thức

đã biết để giải quyết một vấn đề nào đó Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và

kiến thức từ một việc này sang việc khác

Vận dụng bao gồm việc ứng dụng các điều trừu tượng, những nguyên lý, định

luật đã học vào các trường hợp đặc biệt, cụ thể Các khái niệm trừu tượng có thể ở

dạng: các tư tưởng tổng quát, các phương pháp được khái quát hoá, các nguyên tắc,

các ý tưởng và lý thuyết kỹ thuật phải nhớ và áp dụng [36, tr.55]

- Phân tích: Phân tích được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần sao cho có thể hiểu được các yếu tố, các mối quan hệ, các nguyên tắc

cấu trúc của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộphận và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm [36, tr.56]

- T ổng hợp: Tổng hợp được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với

nhau để hình thành một tổng thể mới Điều có thể bao gồm việc tạo ra một thông tin

thống nhất, một kế hoạch hoặc một tập hợp các thao tác dự kiến, rút ra một tập hợp các

mối quan hệ trừu tượng [36, tr.57]

Trang 30

- Đánh giá: Đánh giá được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài liệu

(tuyên bố, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó có

thể bằng các dấu hiệu bên trong (cách tổ chức), bằng các tiêu chuẩn bên ngoài (phù

hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí [36, tr.57]

Đồng ý với quan điểm của B.S.Bloom, quá trình nhận thức thành sáu mức độ Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người nghiên cứu chỉ chọn 3 mức độ

bi ết, hiểu, vận dụng để nghiên cứu

1.3.1.5 Bi ểu hiện của nhận thức

Nhận thức biểu hiện rõ ở hai mặt: mặt tự phát và mặt tự giác Mặt tự phát là

những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt, sôi

nổi trong hành vi mà ở mỗi người có những mức độ khác nhau

Riêng mặt tự giác là trạng thái tâm lý có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có

hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng Biểu hiện ở nhận thức thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học Biểu hiện được thể hiện không chỉ từ nhu

cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu Hạt nhân cơ bản của nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do

sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng Biểu hiện này không chỉ thể hiện bên trong

mà còn thể hiện ra bên ngoài như là việc chú ý một vấn đề một hiện tượng nào đó

1.3.2 Lý lu ận về thái độ

1.3.2.1 Đặc điểm của thái độ

Thái độ là những rung cảm, xúc cảm đối với những đối tượng mới hay là tình

cảm đối với những đối tượng quen thuộc, đó chính là mặt bên trong của thái độ Thái

độ còn được biểu hiện ra những ý định và hành vi, cử chỉ đó chính là mặt bên ngoài

của thái độ Mặt bên trong của thái độ không phải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn

vẹn thẳng thắn và nguyên xi mà có thể giấu kín như cảm thấy cần che giấu, khi đó chủ

thể sẽ kiềm chế, đè nén và không biểu lộ thái độ của mình

Thái độ con người có thể biểu hiện một cách minh bạch, cũng có thể được che

giấu Ngay khi thái độ được biểu hiện thì thái độ cũng có thể biểu hiện một cách chân

thực rõ ràng nhưng cũng có thể biểu hiện một cách giả dối không chân thực

Trang 31

Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng khá rõ rệt Đối với con người thì thái độ bao giờ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể nhất định, thế nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi người lại có thái độ khác nhau, thậm chí ngay khi con người có thái độ tương đối khá

giống nhau thì cách thức và mức độ biểu hiện cũng khác nhau

Thái độ mang tính cá nhân nhưng cũng bị chi phối bởi yếu tố xã hội, dư luận xã

hội, phong tục tập quán…trước khi tỏ thái độ con người thường xem xét những yếu tố

xã hội xung quanh mình có cho phép hay không Mặt khác thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Thái độ có thể là giai đoạn nảy sinh trước động cơ, song chính thái độ cũng góp phần nhỏ trong việc hình thành động cơ và chính nó là giai đoạn định hướng cho động cơ đi đến hành động

Thái độ thường được phân chia thành hai hướng khác nhau là thái độ tích cực và thái độ tiêu cực, thái độ đúng đắn và thái độ không đúng đắn Khi đề cập đến thái độ người ta thường đề cập đến những thuật ngữ: Thích hay không thích, tán thành hay không tán thành, e ngại hay tự tin…tất cả được hiểu là thái độ của một chủ thể đối với

một đối tượng nhất định, đó là một sự vật hiện tượng hoặc một vấn đề hoặc một con

người cụ thể nào đó

1.3.2.2 C ấu trúc tâm lý của thái độ

Nhà tâm lý học Mỹ M.Smith đã đưa ra cấu trúc ba thành phần của thái độ năm

1942, M.Smith cho rằng thái độ được cấu thành từ thành phần nhận thức, thành phần xúc cảm- tình cảm, thành phần hành động của cá nhân với đối tượng

+ Thành phần nhận thức: Nhận thức là những quan điểm, niềm tin hay những ý

kiến cụ thể về một đối tượng nào đó của thái độ

+ Thành phần xúc cảm – Tình cảm: là kết quả của nhận thức, không phản ảnh

bản thân sự vật hiện tượng mà là những biểu cảm, sự rung động, hứng thú của cá nhân đối với đối tượng của thái độ Trong cấu trúc của thái độ thì tình cảm thể hiện ở mặt xúc cảm của con người đối với đối tượng của thái độ Tình cảm là thành phần vô cùng quan trọng trong cấu trúc của thái độ, với tình cảm tích cực có thể kích thích chủ thể hành động tích cực, từ đó hình thành nên thái độ tích cực và ngược lại tình cảm tiêu

cực có thể kiềm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể

Trang 32

+ Thành phần hành vi: là sự thể hiện thái độ của cá nhân đối với đối tượng thông qua xu hướng hành động và hành động thực tế Thái độ và hành vi luôn có sự quy định

lẫn nhau, hành vi là một thành phần cấu thành nên thái độ, thái độ muốn biểu hiện ra bên ngoài phải thông qua hành vi Vì vậy hành vi là hình thức biểu hiện cụ thể nhất

của thái độ

Trong cấu trúc của thái độ nhận thức là điều kiện cần cho việc hình thành thái độ Xúc cảm tình cảm là thành phần quan trọng, là động lực có thể kích thích hoặc kiềm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối

với đối tượng, mặc dù giữa hành vi và thái độ đôi khi cũng có những mâu thuẫn nhưng nhìn chung hành vi vẫn là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ

Thái độ phải là sự kết hợp biện chứng giữa nhận thức, tình cảm, và hành vi, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng, sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động của bản thân với đối tượng Muốn có thái độ đối với đối tượng thì trước tiên phải nhận thức về đối tượng đó, tức là phải hiểu biết về đối tượng, nhận

thức đó là cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúc cảm tình cảm với đối tượng (yêu – ghét, thích- không thích), với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng thì con người sẽ có những hành động cụ thể với đối tượng Ba thành phần trên có mối quan hệ

chặt chẽ với nhau và chi phối thái độ của cá nhân

1.3.2.3 Các y ếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thái độ

- Thái độ được hình thành bởi các thông tin:

Thông tin trên các phương tiện: Tất cả thông tin trên báo, tạp chí, tivi, radio, trong đời sống hằng ngày…đều có thể ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của con người Bất cứ thông tin nào tác động vào chúng ta thì chúng ta cũng có thái độ với thông tin đó Hệ thống thông tin được các chủ thể tiếp nhận ở nhiều góc độ khác nhau,

có thông tin làm cho chủ thể nhận rõ thêm bản chất của vấn đề và sau đó chủ thể dễ dàng bày tỏ thái độ…

- Thái độ được hình thành trong quá trình thỏa mãn nhu cầu:

Con người thường hình thành thái độ tích cực với những gì có lợi và hình thành thái độ tiêu cực đối với những gì có hại trong tiến trình thỏa mãn nhu cầu của mình Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình chủ thể nỗ lực bản thân, tìm kiếm các phương

Trang 33

pháp phù hợp để thỏa mãn các nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ thể bày tỏ thái độ một cách cụ thể

- Thái độ được hình thành qua giao tiếp nhóm:

Mỗi cá nhân là thành viên của nhiều nhóm khác nhau, thái độ của một người thường phản ánh giá trị, chuẩn mực, niềm tin của nhóm mà họ là thành viên Thái độ

của các nhóm khác nhau là do mục đích, tiêu chuẩn của các nhóm khác nhau

Giá trị mà cả nhóm theo đuổi sẽ có ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của các thành viên trong nhóm đó Chuẩn mực đó không xác định hành vi nào là đúng hay sai, hành vi nào là tốt hay xấu mà còn xác định xem thái độ nào là đúng, thái độ nào là sai Thông qua việc thưởng phạt và áp lực nhóm, ép cá nhân phải tuân theo

Các nhóm thường đưa ra quy chế thưởng phạt làm động cơ cho các thành viên

Ai có thái độ, hành vi tốt, đúng thì sẽ được khen thưởng và ngược lại sẽ bị lên án, trách phạt Trong tâm lý học xã hội đề cao vai trò của nhóm, nhất là nhóm gia đình,

bạn bè, đồng nghiệp…vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức cá nhân Tuy nhiên cá nhân tiếp nhận các thái độ trong nhóm một cách có lựa chọn, không tiếp nhận một cách bị động, mức độ và cách thức tiếp nhận của mỗi thành viên trong nhóm là khác nhau

- Thái độ được hình thành qua kinh nghiệm sống:

Kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ hình thành nên thái độ Người có nhiều kinh nghiệm sẽ có thái độ khác so với người có ít kinh nghiệm mặc dù họ cũng gặp vấn đề

giống nhau

- Nhân cách cá nhân và s ự hình thành thái độ:

Cá nhân có xu hướng tiếp nhận các thái độ phù hợp với nhân cách của mình, nhưng nhân cách của con người thì chưa hẳn là một hệ thống hoàn toàn thống nhất Chính vì thế mà chúng ta có thể tiếp nhận các thái độ mâu thuẫn nhau bởi sự giáo dục khác nhau

1.3.3 Vài nét v ề người Chăm

Dân tộc Chăm vốn sinh sống ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã

kiến tạo nên một nền văn hóa rực rỡ với sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ Ngay từ những thế kỷ XVII người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc ChămPa

Trang 34

Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Isalam truyền thống gọi là Chăm Bà ni) Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các

tỉnh Châu Đốc, Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Isalam (Hồi giáo) mới

Người Chăm có truyền thống nông nghiệp lúa nước, giỏi làm thủy lợi và làm vườn trồng cây ăn trái Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm ở làng dệt Mỹ Nghiệp và nghề gốm nặn tay ở làng nghề gốm Bầu Trúc Việc buôn bán với các dân

tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa, vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử

Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, con gái Chăm sẽ đi hỏi chồng

và người con trai sẽ đi ở rể, đây là một nét phong tục rất độc đáo của người Chăm và được lưu giữ đến thời điểm hiện tại, tuy theo chế độ mẫu hệ nhưng người Chăm hiện nay không có tục thách cưới như người Êđê, Giarai…

Về ma chay thì người Chăm có hai hình thức đưa người Chết về thế giới bên kia

là thổ táng và hỏa táng Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hỏa táng theo giáo

luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng, những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ

Người Chăm Bà la môn có lễ hội rất lớn là lễ hội Ka-Tê được tổ chức mỗi năm

một lần để tưởng nhớ các vị thần như Pô Kloong Garai, Pô Rô Mê, dâng lễ cúng tổ tiên với lòng thành kính cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi, gia đình bình an Nghi lễ tôn nghiêm gắn liền với hoạt động dân gian sôi nổi tạo thành nét văn hóa độc đáo của lễ hội Nhạc cụ được người Chăm sử

dụng trong ngày lễ là trống GiNăng, kèn Saranai, trống Paranưng Lễ hội thường diễn

ra hằng năm vào tháng 7 Chăm lịch

Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm, hiện tồn tại trên nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm cổ Chữ Chăm được sáng tạo dựa trên hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử

Trang 35

dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ, việc học hành, truyền nghề vẫn

chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước làm theo

Dân tộc Chăm có nhiều nét văn hóa độc đáo, cần được gìn giữ bảo tồn để góp

phần phát triển văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng

1.3.4 Vài nét v ề đặc điểm ngôn ngữ Chăm

1.3.4.1 Vài nét v ề đặc điểm ngôn ngữ nói của dân tộc Chăm

Tiếng Chăm là thành viên của nhóm ngôn ngữ Chàm (the chamic languages)

gồm các tiếng Chăm, Raglai, Chu Ru ở về phía nam và Gia Rai, Êđê ở về phía Bắc Đây là nhóm ngôn ngữ Nam Đảo lục địa được ghi nhận từ nhiều công trình nghiên cứu

về các ngôn ngữ của nhóm [12, tr.160] Tiếng Chăm là một trong số ít các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam có chữ viết cổ và được lưu giữ lại cho đến hiện nay

Trong số các dân tộc ở miền nam, dân tộc Chăm tuy có số dân không đông như Gia Rai, ÊĐê và Ba Na nhưng có một vai trò văn hóa xã hội quan trọng Theo số liệu

thống kê năm 1989 có 98.471 người, cư trú tập trung ở Ninh Thuận (41.786 người), Bình Thuận (21.237 người), ít hơn ở Phú Yên (12.490 người), An Giang (11.585 người) và rải rác ở các tỉnh Đồng Nai (1622 người), thành phố Hồ Chí Minh (3636 người), Tây Ninh (1816 người), Bình Định (khoảng 2000 người) Ngoài lãnh thổ Việt Nam, người Chăm còn sinh sống ở Campuchia, nhóm Chăm này được biết xưa có gốc

từ các vương quốc Chămpa ở Việt Nam, chuyển tới Campuchia vào những thế kỷ XV- XVII, đặc biệt là vào thế kỷ XIX [12, tr.71]

Chăm là tên tự gọi và trở thành tên chính thức của dân tộc Ngoài ra có tài liệu

gọi họ là Chàm, Chiêm, Hời hay Lồi Ở Bình Định có nhóm tên là Hroi được gọi là Bahna Chăm Nhìn chung người Chăm ở Việt Nam được chia thành hai nhóm địa phương chính là: a) nhóm Chăm Ninh Thuận- Bình Thuận (có người gọi là nhóm Chăm miền Đông) Những người Chăm này phần lớn là theo đạo Bàlamôn, một số ít theo đạo Isalam (Hồi giáo); b) Nhóm Chăm An Giang (được gọi là nhóm Chăm miền tây) Người Chăm An Giang là những người theo đạo Isalam Do mỗi vùng người Chăm cư trú tập trung, vừa có sự phân tán nên nội bộ mỗi địa phương lại có một số thổ

ngữ ít nhiều khác nhau Do đó người ta nói đến vùng trung tâm và vùng ngoại vi của

Trang 36

hai phương ngữ Trung tâm của vùng Chăm Đông là vùng Phan Rang, còn trung tâm

của Chăm An Giang là khu vực Châu Đốc [12, tr.72]

Tiếng Chăm là một ngôn ngữ đã có chữ viết từ lâu đời, có thể là từ thế kỷ II sau công nguyên Chữ viết này bắt nguồn từ chữ viết Ấn Độ và đã đạt đến trình độ cao nhờ

những lần cải tiến Điều này cho biết nền văn hóa của ngôn ngữ có chữ viết này đã

từng phát triển đến một trình độ khá cao Hiện nay người ta đã biết đến hơn 200 văn

bản viết bằng chữ Chăm còn được bảo tồn và đang chờ các nhà nghiên cứu khai thác

Tiếng nói của người Chăm có quan hệ rất gần gũi với các ngôn ngữ của các dân

tộc RagLai, Churu, Jarai, Êđê, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã lai–Đa đảo

(Malayo-Ponynesian) được xếp chung trong một gia đình ngôn ngữ Nam Đảo

Trước đây người Chăm chủ yếu tập trung cư trú trên địa bàn miền trung Việt Nam ngày nay nên tiếng nói của ho đã từng có sự thống nhất toàn vùng Ngày nay do

dự xáo trộn của các giai đoạn lịch sử đã làm cho địa bàn cư trú của cộng đồng người Chăm phân bố cách biệt nhau về điều kiện địa lý và môi trường xã hội cho nên đặc điểm lịch sử văn hóa các nhóm cộng đồng tộc người Chăm ngày nay không được

thống nhất mà mang tính đặc thù cho từng khu vực địa phương khác nhau Đặc biệt ngôn ngữ đang có khuynh hướng biến đổi theo xu thế địa phương hóa Điều này đã

dẫn đến sự phân hóa thành hai phương ngữ khác nhau: phương ngữ cộng đồng Chăm Ninh Thuận- Bình Thuận và phương ngữ người Chăm An Giang Sự khác biệt chủ yếu

của hai phương ngữ này là do cơ cấu ngữ âm như cách phát âm, giọng nói theo vùng

miền và du nhập một số từ vựng của các dân tộc xung quanh qua quá trình giao lưu văn hóa

Theo tác giả Bùi Khánh Thế thì ngữ âm tiếng Chăm có đặc điểm nổi bật là những

biến thể ngữ âm của một bộ phận từ vựng ở ngay cùng một địa phương, ở cùng một

Trang 37

Tiếng Chăm có 22 phụ âm theo tiêu chí khu biệt: a) phương thức cấu âm (vang- không vang hoặc ồn), b) vị trí cấu âm( môi- lưỡi-họng) và các tiêu chí phụ khác là tắc-

xá, hữu thanh- vô thanh, bật hơi- không bật hơi,mũi, miệng, quặt lưỡi- không quặt lưỡi

Hiện nay đa phần người Chăm bỏ qua tiền trọng âm (langlikuk) khi nói (ví dụ: hajam-hjam-jam “bước”), đặc biệt là học sinh Chăm hầu như không còn sử dụng tiền

trọng âm khi giao tiếp, họ thường nói xen lẫn tiếng Chăm và tiếng kinh, người Chăm cũng thường vay mượn từ của tiếng Việt để giao tiếp

1.3.4.2 Vài nét về đặc điểm chữ viết của dân tộc Chăm

Tiếng Chăm là ngôn ngữ có chữ viết, chính vì thế khi nói đến ngôn ngữ Chăm thì

phải nói đến chữ viết của nó, tức là hệ thống ký hiệu dùng để truyền đạt mọi di sản văn hóa và đời sống tâm linh của một dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác Dân tộc có

chữ viết lúc nào cũng chiếm ưu thế hơn về mọi mặt so với dân tộc không có chữ viết Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Inrasara khẳng định “Sự ra đời sớm của chữ

viết đã tạo điều kiện cho văn học viết của người Chăm phát triển Chính chữ viết đã cho người Chăm có một nền văn minh rực rỡ và độc đáo một thời”

- Trước tiên chúng tôi liệt kê một số đặc điểm về chữ viết Chăm cổ điển:

Chữ viết Chăm cổ điển là loại chữ viết dùng trên bia kí Đây là hệ thống ký hiệu

xuất phát từ chữ cái của phạn ngữ ở miền nam Ấn Độ, nhưng đã bị chế biến hoàn toàn

để phù hớp với vương quốc Chămpa Dù phát xuất cùng nguồn gốc mẫu Phạn ngữ nhưng chữ viết Chăm cổ điển có một nét dáng hoàn toàn riêng biệt Chính vì thế người

Ấn Độ chuyên về văn bản phạn ngữ ở xứ này không thể đọc chữ viết Chăm cổ điển

viết trên bia kí ở Chămpa [25, tr.3]

Trong ngôn ngữ Chăm thì akhar có nghĩa là “ chữ”, chữ Chăm cổ được gọi là

Akhar Mangkhal, còn ch ữ chăm truyền thống hay phổ thông được gọi là Akhar Thrah

Sau thế kỷ XV chữ Chăm cổ đã rơi vào trạng thái suy thoái mà bia Biên Hòa là bia

cuối cùng chấm dứt bia Phạn ngữ trên lãnh thổ Chăm Pa [40, tr.162]

So với akhar thrah đang lưu hành hiện nay thì chữ viết Chăm cổ điển có một số

đặc điểm khác biệt:

Trang 38

+ Chữ Chăm cổ điển chỉ dùng để viết trên bia kí, trong khi đó akhar thrah dùng

để viết trên giấy và trên bia kí như bia ký Po Romé [25, tr.2]

+ Chữ Chăm cổ điển có hai hệ thống của ký tự: ta; tha; da; tha; na, đó là: ta,

tha, da, dha, na và t ạ, thạ, dạ,dạ, nạ Trong khi đó akhar thrah chỉ có một mà thôi: ta, tha, da, dha, na [25, tr.2]

+ Chữ Chăm cổ điển có 3 phụ âm sa, tức là sa, sá, sạ, trong khi đó akhar thrah

chỉ có hai mà thôi, tức là sa praong và sa asit [25, tr.2]

+ Chữ Chăm cổ điển chỉ có một phụ âm pa, trong khi đó akhar thrah có hai pa

mà người ta thường gọi là pa praong và pa asit [25, tr.2]

+ Chữ Chăm cổ điển không có nga + takai ndak, nya + takai ndak, na + tai

ndak, và ma+ takai ndak c ủa akhar thrah [25, tr.2]

+ Chữ Chăm cổ điển thường dùng hệ akhar atuel trong cách viết, có nghĩa là một

phụ âm nằm ở trên và một phụ âm nằm ở phía dưới

Còn akhar thrah (hay còn gọi là chữ viết Chăm phổ thông) xuất hiện lần đầu trên bia ký po Romé (1627-1651) Là hậu duệ của chữ Chăm cổ điển, akhar tharh tự phát triển trong không gian rất nhanh chóng, chuyển mình từ một quy luật rất phôi thai (Chính tả và cú pháp không nhất thiết) đến một hệ thống chữ viết chính xác, nghiêm túc và ổn định để rồi trở thành một chữ viết chính thức của vương quốc Champa kể từ

thế kỷ thứ 17 được dùng trong mọi lãnh vực: hành chính, văn học, tôn giáo, văn bản giao tế hằng ngày So với chữ Chăm cổ điển thì chữ viết akhar tharh có nét đơn giản hơn và dễ nhận diện hơn [25, tr.11] Tuy nhiên akhar thrah có chứa một số đặc điểm

riêng sau đây:

+ Sự tương đồng giữa một số phụ âm:

Trước năm 1906, người Chăm không phân biệt được sự khác biệt giữa phụ âm

ga, ta, la, gi ữa phụ âm kha, nya, giữa phụ âm pa praong, da, giữa phụ âm ya, ja Sau

nhiều năm nghiên cứu, E.Aymonier và A Cabaton đã phân biệt được sự khác biệt này

và đem áp dụng vào từ điển Chăm- Pháp xuất bản vào năm 1906 Năm 1964, hội đồng biên soạn giáo trình dạy tiếng Chăm đặt dưới quyền điều hành của ông Thiên Sanh

Cảnh, Lưu Qúy Tân, Thành Phú Bá dựa vào quy luật của E.Aymonier và A Cabaton

đã phổ biến rộng rãi sự khác biệt giữa một số phụ âm.[25, tr.11]

Trang 39

+ Akhar thrah giữ nguyên vẹn ba phụ âm mới của chữ Chăm cổ điển:

Là hậu duệ của chữ Chăm cổ điển akhar thrah vẫn giữ nguyên vẹn 3 phụ âm mà

chữ Chăm cổ điển để lại, đó là phụ âm nya, như njap( phải), phụ âm nda như

ndih(ng ủ) và phụ âm mba như mbeng (ăn) [25, tr.12]

+ Akhar thrah chế thêm bốn phụ âm và một nguyên âm mới:

So với mẫu tự Chăm cổ điển akhar thrah còn có thêm bốn phụ âm mới: nga, nja,

na, ma nhưng nó không có giá trị gì trên phương diện ngữ âm và lỗi chính tả Trong tư

liệu hoàng gia viết vào năm 1702-1850, người ta nhận thấy chỉ có hai phụ âm mới là

nga, và ma được dùng trong văn bản: nga, trong từ ngap (làm), và ma trong từ mak (bulan mak, tháng 12 Chăm lịch) Ngược lại trong văn bản khác viết sau năm 1850,

phụ âm mới nga, nja, na, ma thì không có quy luật nhất định Cũng trong hệ thống

akhar thrah người ta còn chế thêm một nguyên âm nữa đó là takai kâk, nhưng trong tài

liệu hoàng gia, tức văn bản chính thức của vương quốc panduranga- Champa, takai

kâk đã xuất hiện nhưng chỉ dùng cho một vài chữ rất đặc biệt như : jiâ (thuế) Còn

những chữ thông thường mà người Chăm hiện nay hay dùng là takai kâk như anâk,

amâ, tài li ệu hoàng gia chỉ viết là anak, ama mà thôi Ngược lại trong akhar thrah hôm

nay thì takai kâk đã trở thành một ký hiệu thông dụng nhưng cách dùng của nó đôi lúc không nhất thiết [25, tr.12]

+ Thiết kế quy luật mới cho baluw:

Ký hiệu baluw (âm dài) rất quan trọng trong hệ thống phạn ngữ, vì baluw là yếu

tố quyết định nghĩa của một từ Trong phạn ngữ, bỏ baluw trên một nguyên âm có thể

biến từ này thành nghĩa khác Chữ viết Chăm cổ điển cũng có baluw, nhưng vị trí và giá trị của nó không cố định Trong akhar thrah Chăm baluw chỉ có một giá trị biến âm

trắc thành âm trầm Tóm lại baluw là ký hiệu chỉ có giá trị khi dùng nó để biến âm trắc

thành âm trầm

+ Akhar thrah duy trì dar tha phát âm là “é” trong tiếng Chăm cổ điển

Trong tiếng Chăm cổ điển, dar tha là ký hiệu tương ứng với “e”của tiếng Pháp

hay “ơ” của tiếng Việt Muốn dar tha biến thành “ô”thì Chăm cổ điển thêm baluw vào

phụ âm Sau thế kỷ XVII akhar thrah dùng trong tài liệu hoàng gia hay một số văn bản

khác, vẫn duy trì giá trị của ký hiệu này vào một số từ vựng

Trang 40

+ Akhar thrah cấm hẳn nói sao viết vậy

Akhar thrah Chăm dựa trên quy luật chính tả của chữ viết chứ không dựa trên quy luật nói sao viết vậy Cấm hẳn quy luật nói sao viết vậy là quy luật chung của tất

cả ngôn ngữ trên toàn thế giới Tiếng Chăm cũng như tiếng Mã Lai cùng một gia đình Autronesian chia làm hai hệ thống: chữ nói và chữ viết hoàn toàn khác nhau Tại Mã Lai người Mã Lai thường dùng chữ nói để giao tiếp hàng ngày, nhưng trong trường

học hay viết trên văn bản thì họ dùng chữ viết, có nghĩa là phải tôn trọng quy luật chính tả truyền thống của họ Trước năm 1975, người Chăm vẫn áp dụng phương pháp này, có nghĩa là không thể áp dụng quy luật nói sao viết vậy trong ngôn ngữ chữ viết Chăm được

+ Akhar thrah là ngôn ngữ chữ viết phổ thông:

Đứng trên khía cạnh văn bản học mà phân tích, akhar thrah dùng trên bia kí Po

Romé vào thế kỷ XVII, akhar thrah viết trên hàng ngàn trang tài liệu hoàng gia

Champa từ 1702 đến 1850, akhar thrah viết trên văn bản hành chính dưới thời Pháp

thuộc cho đến năm 1975, akhar thrah dùng để sáng tác các tác phẩm văn học, akhar

thrah còn lưu hành trong các tầng lớp tu sĩ, bô lão, trí thức Chăm hôm nay Akhar

thrah Chăm xuất phát từ thời Po Romé vào thế kỷ XVII còn lưu hành cho đến hôm nay là ngôn ngữ chữ viết phổ thông chứ không phải là chữ Chăm cổ điển [25, tr.15]

+ Trường hợp bất quy tắc trong akhar thrah

Dù là chữ viết phổ thông có quy luật ổn định và chính xác, nhưng akhar thrah

Chăm vẫn có một số trường hợp bất quy tắc Nhưng quy luật bất quy tắc này không chỉ riêng ngôn ngữ Chăm mà là quy luật của tất cả ngôn ngữ trên thế giới mà trong đó có

tiếng Việt Cấu trúc chữ viết akhar thrah Chăm ít khi thay đổi hay bị chi phối bởi bối

cảnh bên ngoài Chỉ cần đọc lại tư liệu hoàng gia Champa từ năm 1702 đến 1850 còn lưu trữ ở cộng hòa Pháp, các tác phẩm văn chương và các kinh kệ Chăm còn lưu lại, các nhà khoa học đã khẳng định rằng akhar thrah Chăm có quy luật khá ổn định trong

phần cấu trúc chữ viết[25, tr.17]

Theo tác giả Phú Văn Hẳn, Akhar Thrah Chăm là loại chữ viết được đánh giá là

rất ổn định từ nhiều thế kỷ, việc dạy học chữ Chăm có mục tiêu duy trì vốn chữ viết truyền thống của dân tộc nhằm giúp người Chăm thời nay đọc được văn bản và hiểu

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w