1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức của sinh viên học viện hành chính cơ sở tp hồ chí minh về phẩm chất tâm lý của người cán bộ, công chức

109 21 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với yêu cầu này, tất cả các cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước phải kiện toàn lại đội ngũ CBCC, ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC hiện có, từ đây phải chú trọng đạo tạo đội ngũ CBCC

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRƯƠNG CÔNG THANH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010

THƯ

VIỆN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến:

Toàn thể Sinh viên học viện Hành chính đã tạo điều kiện, nhiệt tình hỗ trợ và tích cực tham gia cùng chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài, góp phần quan trọng để đề tài nghiên cứu triển khai có kết quả

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với Tiến sỹ Trương Công Thanh – người hướng dẫn khoa học, đã luôn tận tình hướng dẫn, gắn bó và động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn các anh, chị cùng khóa học, các đồng nghiệp, người thân, nhất là người chồng yêu quý đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2010

Nguyễn Thị Minh

Trang 3

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 quy định chế độ công chức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hơn ba mươi năm qua,

kể từ ngày cả đất nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng lãnh đạo trực tiếp công tác cán

bộ, đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhưng cần nhận thấy rằng, trong việc đào tạo và sử dụng CBCC còn có nhiều hạn chế, nhược điểm cũng như còn ảnh hưởng của quan niệm phong kiến, hẹp hòi theo kiểu “sống lâu lên lão làng” hay “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”…Cách nghĩ và cách làm cũ đã

dẫn đến hậu quả là hiện nay nước ta vừa có vấn đề thiếu hụt, vừa có hiện tượng lãng phí trong sử dụng CBCC, hoặc dùng không đúng chuyên môn, không đúng ngành nghề đào tạo, không đúng sở trường,

chỉ coi trọng một số PC năng lực hoặc một số PC đạo đức, không phát huy đầy đủ năng lực trí tuệ và môi trường công tác thuận lợi cho người CBCC Cũng cần nhận thấy rằng, trong hàng mấy thập kỷ, đối với việc đào tạo, tuyển dụng, sử dụng CBCC, nước ta chịu ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu, hành chính bao cấp khá nặng nề như “nhất thân, nhì quen”; “sống lâu lên lão làng”; “thi tuyển hình thức”, “4C”, “làm việc rồi đi học sau, bổ túc sau” , làm cho vấn đề đào tạo, lựa chọn và sử dụng CBCC chưa đáp ứng với yêu cầu của xã hội, của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Đảng ta đã chỉ rõ chiến lược CBCC cho công cuộc đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đối với nước ta hiện nay phải chủ động, có tầm nhìn xa trông rộng, dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị

để có quy hoạch, kế hoạch Xây dựng đội ngũ CBCC, không chỉ cho trước mắt mà cho cả một thời kỳ tương đối dài Công tác cán bộ phải luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị Xây dựng đội ngũ CBCC có đủ PC và năng lực, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn, có khả năng tổ chức thắng lợi đường lối đó Cùng với việc xây dựng đường lối chính trị và chiến lược phát triển kinh

tế - xã hội, việc tuyển dụng và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở cấp Trung ương và cơ sở là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết, mang tính nền tảng Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay việc xây dựng đội ngũ CBCC theo yêu cầu của Đảng ta còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại do nhiều nguyên nhân khác nhau Một trong những nguyên nhân cơ bản là chưa chú trọng nhiều đến việc đào tạo, chưa đặt ra yêu cầu đào tạo phải là hàng đầu, chỉ chú trọng đến công tác bồi dưỡng hay tuyển dụng CBCC cũng như chưa chú trọng kết hợp một cách đồng bộ, khoa học và có kế hoạch giữa công tác đào tạo, tuyển dụng, sử dụng và bồi dưỡng CBCC Công tác đào tạo và bồi dưỡng CBCC còn nghiêng về đào tạo năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp hay xu hướng chính trị,… chưa chú trọng đạo tạo và rèn luyện toàn diện các PC của người CBCC Một thực tế nữa do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hiện nay đang xảy ra tình trạng chảy máu chất xám bên trong, nhiều CBCC có năng lực có xu hướng chuyển sang làm cho các doanh nghiệp

Trang 5

trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài; SV tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở các trường đại học

ít còn tha thiết làm việc trong cơ quan nhà nước

Thực tiễn cải cách nền hành chính của nước ta cho thấy, yếu tố con người là quyết định, đặc biệt

là công tác đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng và công tác quản lý CBCC là nhân tố trọng tâm thách thức lớn cho cộng cuộc đổi mới đất nước Tại phần III Quyết định số 136/2001/QĐ – TTg ngày 17/09/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn

2001 – 2010 qui định việc đổi mới, nâng cao chất lượng CBCC là một vấn đề quan trọng trong cải cách hành chính Với yêu cầu này, tất cả các cơ quan, tổ chức trong bộ máy Nhà nước phải kiện toàn lại đội ngũ CBCC, ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC hiện có, từ đây phải chú trọng đạo tạo đội ngũ CBCC mới có đầy đủ các PCTL (xu hướng chính trị, tính cách, thể chất và tâm lý, năng lực, đạo đức…) đáp ứng được yêu cầu hiện nay, phải xây dựng được lực lượng CBCC thực sự mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua những khó khăn thách thức của nền kinh tế thị trường

Như vậy, có thể nhận thấy công tác đào tạo, bồi dưỡng SV hiện nay bổ sung vào lực lượng CBCC trong các cơ quan Nhà nước ta trong tương lai là công tác trọng tâm được đặt lên hàng đầu Trong công tác đào tạo cần nâng cao NT và rèn luyện một cách toàn diện cho SV về những PCTL của người CBCC để có thể thực hiện sứ mệnh của mình Đặc biệt đối với SV HVHC- người CBCC tương lai lại cần phải NT và rèn luyện tốt các PCTL để có thể đáp ứng yêu cầu của công việc sau khi ra trường Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, một bộ phận SV HVHC chưa NT đầy đủ, đúng đắn, và rèn luyện một cách toàn diện những PCTL của người CBCC SV hầu như chỉ chú trọng rèn luyện một số PC như: các kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ hay một số PC đạo đức…, còn những PCTL khác hầu như chưa được nhận thực, chú trọng rèn luyện Mặt khác, chúng tôi nhận thấy trong chương trình đạo tạo của HVHC hiện nay chưa thực sự chú trọng đào tạo toàn diện những PCTL cần thiết trước khi ra trường, có thể dẫn đến trong quá trình làm việc sau này của SV có thể nhiều SV chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc, phải bỏ việc giữa chừng, tâm lý chán chường, làm việc không hiệu quả vì gặp khó khăn trong các mối quan hệ công tác với người dân, đồng nghiệp và với cấp trên

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn NC đề tài “NT của SV HVHC Tp Hồ Chí Minh về những PCTL của người CBCC”

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá được NT của SV HVHC về những PCTL của người CBCC Từ đó đề xuất một số biện

pháp nhằm nâng cao NT của SV về những PCTL của người CBCC

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng NC

NT của SV HVHC TP Hồ Chí Minh về những PCTL của người CBCC

3.2 Khách thể NC

SV HVHC cơ sở TP Hồ Chí Minh

Trang 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận về NT và PCTL

4.2 NC thực trạng NT của SV HVHC TP Hồ Chí Minh về những PCTL của người CBCC

4.3 NC và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao NT của SV HVHC TP Hồ Chí Minh về những PCTL của CBCC

5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

5.1 Về đối tượng : Chỉ làm rõ NT của SV về những PCTL của người CBCC trong các cơ quan, tổ chức hành chính Nhà nước ta hiện nay

5.2 Về khách thể : SV ngành cử nhân hành chính năm thứ 1, năm thứ 2 và năm thứ 3

5.3 Về địa bàn : HVHC cơ sở TP Hồ Chí Minh

6 Giả thuyết nghiên cứu

Nhiều SV HVHC chưa NT đúng đắn và đầy đủ về những PCTL của người CBCC Nếu chỉ ra được nội dung cụ thể của các PC trên, đánh giá được thực trạng NT các PCTL và các yếu tố ảnh hưởng đến NT thì có thể đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao NT và tăng cường sự rèn luyện các PCTL cho

về các PCTL; các yếu tố ảnh hưởng đến PCTL của người CBCC

7.2 Phương pháp NC thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp NC chính của đề tài Chúng tôi xây dựng bảng hỏi dành cho các SV năm thứ nhất, năm thứ hai và năm thứ ba đang học tại HVHC cơ sở TP Hồ Chí Minh nhằm để tìm hiểu NT của

SV về PCTL của người CBCC

7.2.2 Phương pháp giải quyết TH

Đây là phương pháp chính của đề tài Các khách thể là SV được yêu cầu giải quyết 8 bài tập TH Việc giải các bài tập TH này sẽ thể hiện NT ở mức độ thông hiểu và mức độ vận dụng một số PCTL

7.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn đối với các thầy, cô giáo - những người trực tiếp giảng dạy, đào tạo các em

và các chuyên gia am hiểu về CBCC để có thể làm rõ thêm thực trạng NT của SV về PCTL của người CBCC (xem mẫu phụ lục số 4)

Trang 7

8 Đóng góp của luận văn

- Đưa ra được một thực trạng NT của SV HVHC cơ sở TP Hồ Chí Minh về những PCTL của người CBCC; đề xuất những biện pháp để nâng cao NT đó

- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc tiếp tục NC vấn đề PCTL của CBCC, hoàn thiện nội dung đào tạo SV của Học viện

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu

Có rất nhiều công trình NC của nhiều tác giả trong và ngoài nước từ trước đến nay đã và đang NC

về NT, về PC cũng PCTL, chúng tôi xin liệt kê một số công trình như sau:

Ph N Gô nô bô lin với công trình “Những PCTL của người giáo viên” đã nêu lên các PCTL phù hợp với công việc giảng dạy và giáo dục học sinh Đó là các PC như: Đạo đức, chí hướng, hứng thú, năng lực, hoạt động trí tuệ, tình cảm, PC ý chí [12]

Tác giả Nguyễn Hồi Loan – Đặng Thanh Nga trong tác phẩm “Tâm lý học tư pháp” trên cơ sở phân tích đặc điểm của hoạt động điều tra đã nêu ra các tiêu chuẩn về PCTL của điều tra viên, đó là:

tư tưởng vững vàng, đạo đứ tốt, khả năng tư duy tốt, tính kiên định, tính cương quyết, tính kiềm chế [36, tr.156-162]

Theo Ordray Tead, một chuyên gia lớn về hành chính thì người lãnh đạo phải có mười PC sau: Sức khỏe thể chất và tinh thần; Hiểu rõ mục tiêu của tổ chức; Nhiệt tình trong công việc; Thân mật với những người thừa hành;Liêm chính;Giỏi chuyên môn; Quyết đoán; Thông minh; Biết thuyết phục người khác; Tự tin [8, tr.137]

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lê - nin, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng Việt Nam và thấm nhuần tinh hoa văn hóa dân tôc, theo chủ tịch Hồ Chí Minh PC

nhân cách của người cán bộ cách mạng bao gồm nhân, nghĩa, trí, dũng liêm là những PC nhân cách cốt

lõi của người cán bộ quản lý

Tác giả Nguyễn Mai Lan trên cơ sở phân tích đặc trưng của nghề mã dịch đã xác định được 22 PCTL đặc trưng của mã dịch viên đó là: Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp bảo vệ bí mật quốc gia, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và sự phát triển của ngành Cơ yếu; tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, tính kỷ luật cao, bản lĩnh chính trị vững vàng theo chủ nghĩa Mác – Lê nin

tư tưởng Hồ Chí Minh; ý thức trau dồi PC đạo đức và trình độ chuyên môn mã dịch; tính cẩn thận chính xác; kỹ năng ghi nhớ các nhóm ký tự; kỹ năng theo tác trên máy mã, kỹ năng xử lý thông tin; kỹ năng tri giác vận động; tính độc lập trong công việc; gắn bó với nghề; tính kín đáo; năng động hoạt bát;

tư duy từ ngữ; điềm tĩnh; vốn từ chuyên môn phong phú; khả năng kiềm chế nhạy cảm; khả năng thích nghi TH nghề nghiệp [46]

Nguyễn Đình Hựu khi NC về nhân cách kiểm toán viên nhà nước đã đưa ra những 9 PC của người kiểm toán viên như sau: tính độc lập, tôn trọng pháp luật, chuẩn mực, quy trình và phương pháp kiểm toán; trung thực, khách quan; chính trực, không vụ lợi; tính cộng đồng, hợp tác vì lợi ích của công việc kiểm toán, vì lợi ích tập thể; chăm lo lợi ích nền tài chính quốc gia; cầu tiến –luôn học hỏi- luôn tự hoàn thiện mình; sống vui tươi, trong sạch; đàng hoàng, chững chạc, văn minh lịch sự trong giao tiếp [21, tr.78]

Trang 9

Trong giáo trình “tâm lý học quản lý” của tác giả Vũ Dũng, đã đưa ra mười ba PC và năng lực cần thiết của người lãnh đạo: Thể lực khỏe mạnh và tinh thần minh mẫn; Năng lực xác định mục tiêu

và định hướng hoạt động của tổ chức; Trí tuệ năng động; Lòng nhiệt tình; Năng lực quan sát; Tính quyết đoán; Thành tạo về chuyên môn; Lòng nhân ái đối với mọi người; Tính trung thực; Biết nắng nghe những người dưới quyền; Kiên nhẫn và biết thuyết phục; Đánh giá khách quan và công bằng những người dưới quyền; Nghệ thuật sử dụng lời khen đối với cấp dưới [8, tr138-173]

Chu Văn Thanh và Lê Thanh Bình còn đưa ra năm nội dung yêu cầu rèn luyện PC của người lãnh đạo như sau: Rèn luyện chính trị tư tưởng của người lãnh đạo; rèn luyện nghiệp vụ chuyên môn, văn hóa và các PC bổ trợ của người lãnh đạo; Tu dưỡng PC đạo đức của người lãnh đạo; Rèn luyện PC về

tổ chức và quản lý của người lãnh đạo; Rèn luyện về sức khỏe tâm lý [47, tr.494-508]

Trong cuốn “Tâm lý học quản lý đô thị” do Hồ Bá Thâm chủ biên Theo tác giả, để có thể có được nhận xét đúng và giải pháp đúng nâng cao tố chất và năng lực của người cán bộ lãnh đạo, quản lý trước hết, cần hiểu một cách hệ thống và tổng quát yêu cầu, những PCTL nhân cách của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay bao gồm những PC sau: Xu hướng chính trị; Tính cách và khí chất; Năng lực; Đạo đức [48]

Tác giả Nguyễn Văn Tập đã đưa ra 5 nhóm PCTL của người cán bộ quản giáo như sau: Chính trị

- tư tưởng, ý chí, tính cách, phong cách làm việc, năng lực [46]

Theo Stogdill cho rằng, người lãnh đạo cần có một số PC như sau: sự hiểu biết, sự uyên thâm, sáng kiến, tự tin, khả năng thấu hiểu công việc, sự thích nghi, khả năng phối hợp, khả năng tự lập, tính hành động, kỹ năng nói và trình bày vấn đề [8, tr.136]

Tác giả Đinh Hùng Tuấn đưa ra yêu cầu về PC nhân cách của các “chiến đấu viên” chuyên trách làm nhiệm vụ chống khủng bố gồm có các nhóm PC sau: Phẩm chất chính trị - đạo đức; phẩm chất tâm lý; phẩm chất nghề nghiệp; phẩm chất thể lực [54]

Tác giả Lê Thị Linh Trang cho rằng, người giảng viên cần có những PC nhân cách sau: phẩm chất chính trị đạo đức gồm quan điểm đúng đắn, thế giới quan duy vật biện chứng; niềm tin khoa học, niềm tin nghề nghiệp; Lý tưởng nghề nghiệp; Lòng yêu người, yêu nghề; Khiêm tốn; Tinh thần cầu tiến, học hỏi; Tính tổ chức, kỷ luật, tự chủ; Tính sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt và phẩm chất năng lực gồm có: năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, trình bày diễn đạt; Năng lực giao tiếp, ứng xử sư phạm; Năng lực tư duy độc lập; Năng lực nghiên cứu khoa học; năng lực tự học, tự đào tạo; Năng lực tổ chức hoạt động [53]

Như vậy, khi NC về các PCTL của người CBCC, hầu hết các tác giả mới chỉ bàn về những chất tâm lý riêng lẻ của người CBCC như: PC đạo đức, những PC năng lực, PC của nhân cách, và những

PC khác hoặc chỉ đề cập đến các nhóm PC chưa NC và đưa ra được một hệ thống những PCTL nói

chung của người CBCC dưới góc nhìn của ngành Tâm lý học

Trang 10

Nhìn chung, dưới những góc độ tiếp cận NC PCTL nói chung và PCTL gắn liền với các ngành nghề nói riêng, các tác giả đưa ra cách phân loại các PCTL cũng khác nhau, song các tác giả đều đồng quan điểm là đưa ra các PCTL nói chung bao gồm những PC sau: Nhóm PC xu hướng chính trị; Nhóm

PC tính cách và khí chất; Nhóm PC năng lực; Nhóm PC đạo đức Tuy nhiên, tại thời điểm này chưa có một NC nào NC một cách có hệ thống những PCTL của người CBCC

Theo quan điểm của tác giả, chúng ta cần thiết phải tiếp cận và NC một cách có hệ thống những PCTL của người CBCC, giúp định hướng cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng CBCC của nước ta hiện nay cung như SV đang được đào tạo trong các trường đại học của nước ta nói chung

và SV HVHC nói riêng, sau khi ra trường sẽ trở thành lực lượng CBCC trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước, gắn liền với các ngành nghề khác nhau có chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu của xã hội

NT của SV đối với một số vấn đề có liên quan đến nghề nghiệp cũng đã được khá nhiều tác giả

NC tìm hiểu, có thể sơ qua một số đề tài của tác giả như đề tài luận văn “NT nghề và lựa chọn nghề của học sinh THPT dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang” của tác giả Nguyễn Minh Ngọc Tác giả đã đưa ra kết luận như sau: “NT về khái niệm nghề của học sinh THPT Dân tộc nội trú khá đầy đủ tức là đang dừng lại ở những biểu hiện bên ngoài của nghề Nhưng khi đi sâu vào tìm hiểu những đặc trưng riêng của nghề và đối chiếu những yêu cầu đó với năng lực, thể chất, tâm lí của mình thì các em còn lúng túng và mơ hồ” [39] Theo K.K Platonov, để chọn nghề phù hợp, cá nhân cần phải NT đầy đủ 3 loại thông tin cơ bản sau: Một là những thông tin liên quan đến thì trường lao động nơi mình sẽ tham gia lao động với nghề sau này, hai là những thông tin liên quan đến nghề bản thân dự định lựa chọn và ba

là những thông tin về những đặc điểm tâm sinh lý của bản thân [13] Trong bài viết: “Đặc điểm NT trong hoạt động chọn nghề của học sinh lớp 12 hiện nay” tác giả Phạm Mạnh Hà cho rằng: “những học sinh có mức độ hiểu biết, chính xác và sâu sắc về nghề mà em lựa chọn là chưa nhiều, phần đông các

em lựa chọn nghề hoàn toàn dựa vào những quá trình NT cảm tính, bề ngoài, thiếu chính xác và sâu

sắc”[13] Tác giả Trần Minh Đức – ĐHQG Tp.HCM: khi chọn nghề nghiệp cần chú ý đến 3 khâu: “NT

về nghề, thái độ về nghề và xu hướng hành vi về nghề sẽ hòa vào nhau và giúp cá nhân chọn nghề

đúng đắn nhất, thích hợp nhất Nhất thiết phải đánh giá thật chính xác về PC nhân cách và năng lực

của mình Tìm hiểu những đặc điểm tính cách, khí chất… của cá nhân cũng là một việc làm không kém phần quan trọng Cá nhân phải biết mình là người có khí chất như: Biết kiềm chế, trung thực, bảo mật, gan dạ, dũng cảm, cẩn thận… để hướng đến những nghề phù hợp trong lược đồ”

Theo trung tâm hỗ trợ và tư vấn của Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn ĐHQGHN để đưa lựa

chọn đúng nghề nghiệp cần dựa vào nhóm ngành nghề tương ứng với những yêu cầu PC như sau:

Nhóm ngành nghề gồm: Bán hàng, tiếp viên thương mại, du lịch, nhà hàng, nhân viên ngân hàng, quảng cáo, dịch vụ công cộng yêu cầu PC: Lịch sự, niềm nở, giới thiệu hấp dẫn; sẵn sàng phục vụ; thận trọng, nhanh nhẹn; ứng xử kịp thời; hiểu biết về lịch sử văn hóa; làm việc ngăn nắp, điều độ, không nhầm lẫn Năng lực tương ứng là khả năng lĩnh hội ngôn từ: Hiểu biết và diễn tả ngôn từ tốt; diễn đạt

Trang 11

rõ ý nghĩ của mình; hiểu rõ và đầy đủ người đối thoại; Phản ứng cảm giác vận động nhanh; có trí nhớ

tốt; có sức bền dẻo dai Nhóm ngành nghề quản lý kinh tế, giáo viên, nhà giáo dục, cán bộ, nhân viên

các ngành văn hóa, pháp lý, quản lý kinh tế; các nghề tự do: nhà báo, luật sư, nhà văn… yêu cầu PC: Nhạy cảm, có óc quan sát; kiên trì nhẫn nại, làm việc có phương pháp, điều độ; có óc phán đoán, ứng

xử kịp thời; có tính quyết đoán, thất bại không nản Năng lực tương ứng của nhóm ngành nghề này là khả năng tư duy: Phân tích, tổng hợp, suy đoán; có óc quan sát, có năng lực tập trung chú ý; trí nhớ tốt; phản ứng cảm giác vận động ở mức độ trung bình

Tác giả Lê Thị Linh Trang trong đề tài nghiên cứu về “nhận thức về nghề nghiệp của nhóm giảng viên trẻ ở các trường cao đẳng – đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” đã đưa ra kết luận như sau: “ đối với yêu cầu về nhân cách của người làm công tác giảng dạy, các giảng viên trẻ đã có nhận thức tốt về một số mặt năng lực, nhưng nhận thức về yêu cầu đối với phẩm chất đạo đức vẫn còn hạn chế” [53, tr.59-63]

Như vậy, đã có nhiều công trình NC đã đề cập đến vấn đề PCTL, và NT của học sinh, SV, giảng viên, về nghề nghiệp, yêu cầu của nghề nghiệp, PC nghề nghiệp Mỗi công trình NC đều đi sâu tìm hiểu ở một số khía cạnh nhận thức về nghề nghiệp hay PCTL của nghề nghiệp Tuy vậy, chưa có tác giả nào NC cụ thể NT của SV về PCTL của nghề nghiệp Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cần thiết phải NC NT của học sinh, SV nói chung, của SV HVHC nói riêng về những PCTL của người CBCC Nhằm giúp cho các em có NT đúng đắn về nghề nghiệp nói chung và các PCTL nói riêng Việc các em

có NT đúng đắn về nghề nghiệp trong đó bao gồm các PCTL của nghề nghiệp sẽ giúp các em chuẩn bị tốt, học tập và rèn luyện tốt để có thể đáp ứng tốt cho công việc sau khi ra trường Vì vậy chúng tôi chọn đề tài “NT của SV HVHC về những PCTL của người CBCC” làm đề tài NC

1.2 Lý luận về nhận thức

1.2.1 Khái niệm NT

NT là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm và NC Mỗi tác giả đứng dưới một góc độ và đưa

ra các khái niệm khác nhau về NT Có thể nêu ra một số khái niệm như sau:

Theo từ điển Tiếng việt: NT là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó [57, tr.689]

Theo Từ điển Triết học: NT là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn [60]

Từ điển Bách khoa Việt Nam 3: NT là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể [62]

Trang 12

Roberts Feldman cho rằng: Sự NT là quá trình tinh thần bậc cao qua đó chúng ta hiểu thế giới, xử

lý thông tin, phán đoán và quyết định, và chia sẻ hiểu biết với người khác [43, tr.307] Định nghĩa này

đã nói một cách rất cụ thể về NT

Theo Le Ny: “NT bao hàm đồng thời toàn bộ những hoạt động góp phần vào sự hiểu hiết, dù cho hoạt động đó đúng đắn và toàn bộ sản phẩm của hoạt động đó, dù đó là bản thân kiến thức, lệch lạc về kiến thức, biểu hiện và tín ngưỡng gần đúng hoặc có một phần sai lệch” [5, tr.68]

Với định nghĩa mà Le Ny đưa ra, NT được xem xét một cách rất tổng quát, ở phạm vi rất rộng Một khái niệm xem xét NT ở phạm vi hẹp hơn đó là định nghĩa của Raynal và Rieunier: “NT là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc chuyển hóa, mã hóa, cấu trúc hóa, lưu trữ, hồi cố và sử dụng” [5, tr.68]

Phạm Hoàng Gia cho rằng: Lĩnh vực NT bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ [1, tr.227]

Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “NT là hoạt động đặc trưng của con người Trong quá trình sống và hoạt động con người NT – phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ

sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình”[55, tr.88] Định nghĩa này xem xét NT ở khía cạnh là một hoạt động của con người

Ở một khía cạnh khác, NT được xem là một quá trình, đó chính là quan điểm của tác giả Nguyễn Khắc Viện: “NT là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý, nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào, vì không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực, phải thải dần những cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực, đi hết bước này sang bước khác” [56]

Cũng xem xét NT ở khía cạnh quá trình, nhưng xem xét ở những quá trình cụ thể, chia nhỏ quá trình đó thành những quá trình riêng lẻ là quan điểm của tác giả Đặng Phương Kiệt lý giải: NT là một thuật ngữ khái quát hóa mọi dạng hiểu biết Các quá trình hiểu biết bao gồm: chú ý, ghi nhớ, suy nghĩ

và giải quyết vấn đề, tri giác và nhận biết hình mẫu [34, tr.284]

Stephen Worchel – Wayne Shebilsue: “NT là một quá trình diễn dịch thông tin do cảm giác thu thập được”[44, tr.107] Định nghĩa này cho chúng ta thấy NT ở một phạm vi rất hẹp NT được hiểu là một sự giải mã các thông tin

Như vậy, NT có thể được xem xét từ các khía cạnh khác nhau: phạm vi (rộng-hẹp); quá trình (các quá trình thành phần tham gia vào); kết quả (khách quan-không khách quan, đúng hay chưa đúng); mối quan hệ của NT đối với các dạng phản ánh khác; vai trò của NT trong họat động sống của con người

Từ các quan điểm và các góc độ tiếp cận của các nhà NC trên, chúng tôi xác định rằng: NT là quá

trình phản ánh hiện thực khách quan vào não con người, mang tính chủ thể, mang tính lịch sử xã hội

và nhờ NT con người tỏ thái dộ và hành động đối với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình

NT có mối quan hệ biện chứng với hoạt động của con người

Trong định nghĩa này chúng tôi xác định ba yếu tố sau:

Trang 13

- Thứ nhất, NT là quá trình phản ánh hiện thực khách quan Nếu con người có NT tốt tức là quá trình phản ảnh hiện thức khách quan đúng đắn, đầy đủ

- Thứ hai, NT có mối quan hệ với tình cảm, thái độ Tức là khi con người NT tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm, và giúp con người tỏ thái độ phù hợp

- Thứ ba, NT có mối quan hệ với hành động Nghĩa là NT tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt

Trong NC này chúng tôi xem xét NT ở khía cạnh hẹp đó là quá trình NT về các PCTL của người CBCC

1.2.2 Các cấp độ NT

Hiện nay, trong Tâm lý học, khi NC về các cấp độ NT có nhiều quan niệm:

Quan điểm thứ nhất: NT được chia làm 2 cấp độ gồm NT cảm tính và NT lý tính [55, tr.88] + NT cảm tính là mức độ NT mà chủ thể chỉ phản ánh được những thuộc tính bề ngoài của những

sự vật, hiện tượng cụ thể khi sự vật, hiện tượng đó trực tiếp tác động vào các giác quan của con người Trong mức độ NT này gồm 2 cấp độ là cảm giác và tri giác Cảm giác là mức độ thấp nhất của sự NT Tuy nó là mức độ NT đầu tiên, đơn giản chỉ phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ nhưng nếu không có nó thì không có được mức độ NT cao hơn Lê nin từng nói “Ngoài cảm giác thì con người không thể NT được hiện thực khách quan” Cao hơn cảm giác là tri giác - phản ảnh trọn vẹn sự vật hiện tượng nhưng chỉ phản ảnh được thuộc tính bề ngoài của sự vật hiện tượng mà thôi

Nếu SV NT các PCTL của người CBCC một cách hời hợt, chỉ NT được cái bên ngoài, không hiểu được thật sự ý nghĩa, vai trò, sự cần thiết của các PC thì các em cũng sẽ coi nhẹ và không hoặc ít rèn luyện để có được các PCTL đó Dẫn đến sau khi ra trường trở thành các CBCC các em sẽ làm việc không đạt hiệu quả coogn việc như mong muốn và yêu cầu đặt ra

+ NT lý tính là mức độ NT cao trong hoạt động NT của con người Ở mức độ này, con người có khả năng phản ánh được những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ quan hệ mang tính quy luật của

sự vật, hiện tượng mà con người trước đó chưa biết Đồng thời, nhờ phản ánh cái bản chất mà NT lý tính phản ánh khái quát hàng loạt sự vật, hiện tượng có chung bản chất xét về một phương diện nào đó Đây là mức độ phản ánh cao nhất và rất quan trọng của con người

SV phải hiểu rõ được bản chất, ý nghĩa thật sự của các PCTL từ đó các em mới rèn luyện, học tập

để có được các PCTL cần thiết cho công việc sau này của một người CBCC

Quan niệm thứ hai đó là theo Bloom chia lĩnh vực NT thành sáu mức độ hoạt động tri thức, theo một tiến trình liên tục từ dễ đến khó [5, tr.68]:

1 Sự biết

- Nhớ được thông tin

- Nhớ ngày tháng, sự kiện và nơi chốn

- Biết ý chính

Trang 14

- Sử dụng được thông tin

- Dùng được phương pháp, quan niệm, lý thuyết vào trong hoàn cảnh, TH mới

- Sử dụng kiến thức, kỹ năng vào việc giải quyết các vấn đề đặt ra

- Gợi ý câu hỏi, vận dụng, chứng minh, tính toán, minh họa, giải quyết, thay đổi,…

4 Sự phân tích

- Nhận biết các ý nghĩa bị che dấu

- Phân tách vấn đề thành các cấu phần và chỉ ra mối liên hệ giữa chúng

- Gợi ý câu hỏi kiểm tra: phân tích, phân rã, giải thích, kết nối, phân loại, sắp xếp, chia nhỏ, so sánh, lựa chọn,…

5 Sự tổng hợp

- Sử dụng ý tưởng cũ, tạo ra ý tưởng mới

- Khái quát hóa từ các sự kiện đã cho

- Liên kết các vùng kiến thức lại với nhau

- Suy ra các hệ quả

- Gợi ý câu hỏi kiểm tra: tích hợp, thay đổi, sắp xếp lại, tạo ra, thiết kế, tổng quát hóa,…

6 Sự đánh giá

- So sánh và phân biệt được các khái niệm

- Đánh giá được giá trị của lý thuyết

- Chọn lựa được dựa vào các suy luận có lý

- Xác nhận giá trị của các căn cứ

- Nhận biết các tính chất chủ quan

- Gợi ý câu hỏi kiểm tra: định giá, quyết định, xếp loại, kiểm tra, kết luận, tổng hợp,…

Cách phân chia này của Bloom rất phù hợp với quá trình giảng dạy, phù hợp với NT của người học với mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

Trang 15

Quan niệm thứ ba: chia các mức độ NT thành 3 mức độ như sau: nhận biết, thông hiểu, vận dụng [32, tr.178]

- Nhận biết: tức là có thể nhận lại, thậm chí nhắc lại các tài liệu, các tri thức theo trình tự nhất định đã được tiếp nhận Ở mức độ này con người hiểu được hình thức của tài liệu chứ chưa hiểu được nội dung tài liệu hoặc hiểu một cách hời hợt Mức nhận biết giúp con người phân biệt được sự vật, hiện tượng trên cơ sở những dấu hiệu bề ngoài

- Mức độ thông hiểu: Ở mức độ này tức là nắm được nội dung tài liệu, có thể trình bày được nội dung của tài liệu nhưng chưa vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể Ở đây nếu SV đạt được mức này tức là

có thể NT đúng đắn các PCTL của người CBCC

- Mức độ vận dụng: là khả năng vận dụng tài liệu đã tiếp thu vào hoàn cảnh điều kiện cụ thể Để đạt được mức độ này mỗi người cần phải: Say mê với công việc mình đang làm; có trình độ và kiến thức văn hóa nhất định; có lòng thương yêu đối với con người Ở mức độ này tức là SV có thể hiểu được các PCTL và vận dụng sự hiểu biết đó bằng cách giải được các bài tập TH

Trong ba quan điểm trên chúng tôi đánh giá mức độ NT của SV dựa theo quan niệm thứ ba Đây

là một quan niệm rất phù hợp với tiến trình NT của người học đi từ nhận biết đến thông hiểu và cuối cùng là vận dụng Mặt khác, đối với chúng tôi, việc lựa chọn quan điểm này còn thể hiện sự phù hợp với nội dung của đề tài, và đặc biệt là thích hợp với nội dung của phiếu điều tra cũng như sự thuận lợi trong quá trình phân tích các số liệu thu thập được

1.2.3 Vai trò của NT đối với việc hình thành và rèn luyện các PCTL

NT, thái độ và niềm tin là cơ sở và điều kiện để SV học tập và rèn luyện PCTL của người CBCC tương lai Trong đời sống tâm lý của con người, NT, thái độ, niềm tin là những hiện tượng tâm lý có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến hành vi hoạt động, định hướng và điều khiển hoạt động của con người phù hợp với yêu cầu, động cơ, và mục đích, phù hợp với điều kiện môi trường sống của họ

Muốn cải tạo và biến đổi thế giới khách quan, trước hết con người phải NT về nó, hiểu biết bản chất của sự vật, hiện tượng, hình thành thái độ, tình cảm với đối tượng, từ đó xuất hiện hành vi hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng

NT được xem là nguồn khởi đầu mọi hoạt động của con người Nếu con người NT được bản chất của sự vật, hiện tượng, hiểu được ý nghĩa, mục đích của nó sẽ nảy sinh, hình thành tình cảm đúng Thái

độ và tình cảm đúng đắn là cơ sở và là động lực thúc đẩy con người NT và hành vi đúng là cơ sở để hình thành và củng cố niềm tin vững chắc của con người đối với thế giới khách quan một cách khoa học Nếu không có NT đúng đắn và đầy đủ, không hiểu biết bản chất ý nghĩa của sự vật, hiện tượng thì không thể có tình cảm, thái độ đúng và hệ quả tất yếu sẽ hành động sai lầm, dẫn tới sự phá vỡ niềm tin của con người

Trang 16

Thực tế cuộc sống chứng minh rằng, nhiều vấn đề trong cuộc sống được thực hiện thắng lợi, được nhiều người hưởng ứng và tham gia tích cực, và đạt kết quả tốt là do họ NT được, có tình cảm đúng và lòng tin tưởng cao

Trong quá trình SV học tập tại trường, để SV có thể học tập rèn luyện tốt các PCTL thì sự hiểu biết (NT) của các em về PCTL, thái độ trong việc rèn luyện và niềm tin vào việc rèn luyện là nhân tố rất quan trọng, bảo đảm cho việc học tập, rèn luyện các PCTL của người CBCC tương lai có hiệu quả

 NT làm cơ sở định hướng cho hành động

Không có NT thì hành động chỉ là mò mẫm, không có mục tiêu, phương hướng và vì thế không thể đạt được kết quả cao Chỉ có trên cơ sở NT đúng đắn, sâu sắc về PCTL SV Hành chính- người CBCC tương lai mới có thể vạch ra mục tiêu, chương trình, kế hoạch rèn luyện PCTL phù hợp với yêu cầu của công việc sau này Ngược lại, nếu NT hời hợt, nông cạn hoặc sai lệch, không phản ánh đúng bản chất vấn đề, phản ảnh đúng về PCTL sẽ dẫn đến chủ quan duy ý chí, hành động không đúng quy luật khách quan và do đó sẽ sai lầm không biết, hoặc không biết cách để rèn luyện tốt PCTL

 NT là cơ sở của tình cảm

Đời sống tình cảm của con người được xây dựng dựa trên NT và các cảm xúc NT là cái lý của tình cảm Nếu tình cảm không được xây dựng trên cơ sở NT đúng đắn thì nó sẽ thiếu đi sự sáng suốt và tình cảm sẽ mất phương hướng dẫn đến việc bày tỏ thái độ không phù hợp Vì vậy, để có thái độ đúng đắn đối với công việc sau này của người CBCC SV phải hiểu sâu sắc về PCTL và việc rèn luyện nó

 NT là một thành phần quan trọng để hình thành niềm tin của con người

Niềm tin là sự hòa quyện giữa NT, tình cảm và ý chí Như vậy, không thể có niềm tin nếu như không có NT SV chỉ thực sự có niềm tin bền vững vào công việc, vào người CBCC khi họ đã hiểu sâu sắc, có thái độ đúng đắn về PCTL của người CBCC NT và thái độ trên sẽ được củng cố trở nên vững chắc hơn khi PCTL ấy mang lại lợi ích thiết thực cho họ hiện nay và sau này

1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng NT của SV HVHC

Khả năng NT là khả năng phản ánh hiện thực khách quan, khả năng tiếp nhận kiến thức, kỹ năng, thái độ Quá trình phản ánh đó đúng hay sai, nhiều hay ít, cao hay thấp, sâu sắc hay hời hợt, đầy đủ hay thiếu sót phụ thuộc vào nhiều yếu tố Chúng tôi có thể kể đến những yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến khả năng NT của SV [40, tr.223 -243]

Thứ nhất, yếu tố chủ quan: SV phải sự tự ý thức việc học tập và rèn luyện của mình Phải xem việc học tập, tiếp nhận kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ đúng đắn là một nhiệm vụ Bản thân SV cần có nhu cầu học tập, nhu cầu NT, có niềm say mê trong học tập, có hứng thú trong việc NT, có phương pháp học tập đúng đắn, có sự tự tin, lòng tin vào khả năng của bản thân thì kết quả sẽ tốt hơn Nếu như SV ý thức được việc học tập và rèn luyện là cần thiết, là quan trọng thì trong quá trình học tập

và rèn luyện các em sẽ chủ động, tích cực và đạt kết quả tốt hơn những SV không ý thức được điều đó Qua các số liệu như đầu vào, kết quả học tập kết hợp với quá trình quan sát trong hoạt động học tập

Trang 17

cũng như các hoạt động rèn luyện của SV đang học tại HVHC, chúng tôi nhận thấy nhiều SV chưa có

ý thức trong học tập và rèn luyện, chưa có hứng thú, chưa tìm được một phương pháp học tập thích hợp

Thứ hai, yếu tố khách quan: Trong các yếu tố khách quan gồm có các yếu tố sau:

+ Nội dung và chương trình học tập là một trong những yếu ảnh hưởng rất lớn đến khả năng NT của SV Các nhà tâm lý học đã tìm ra một quy luật trong trí nhớ đó là: nội dung, độ dài, độ khó của tài liệu ảnh hưởng đến việc ghi nhớ, gìn giữ và tái hiện thông tin Theo nội dung, chương trình hiện nay của Học viện, có những môn học với thời lượng khá dài ví dụ như môn kinh tế vĩ mô, tổ chức phi chính phủ, làm cho các em học tập khó tiếp thu, dẫn đến kết quả thấp; một số môn học rất khó với SV học viện như toán cao cấp, tài chính công, bởi vì các em thi đầu vào ở mức điểm thấp, hầu hết là khối

C, một số em SV là người dân tộc thiểu số, SV Lào…Bên cạnh đó, lại không có những môn học rèn luyện những kỹ năng mềm, thiết thực và phù hợp với SV Hành chính như giao tiếp, giao tiếp hành chính, đạo đức công vụ, đạo đức học…Ngoài ra trong chương trình học các em chỉ có một lần đi thực tập vì vậy các em rất ít có cơ hội tiếp xúc thực tế với CBCC, với công việc sau này Chính vì vậy, kiến thức thực tế, NT về thực tế của các em sẽ rất hạn chế

+ Môi trường là một trong những nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng NT của SV Nếu SV được sống trong một môi trường thuận lợi, lành mạnh, có sự thi đua học tập tốt chắc chắn SV sẽ tiếp nhận kiến thức, khả năng NT cao hơn

+ Giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến NT của SV Một giảng viên có kiến thức giỏi, phương pháp giảng dạy phù hợp với SV, có lòng yêu nghề, nhiệt tình, gương mẫu trong cuộc sống và công tác sẽ là một tác động tích cực đến khả năng nhận của SV

+ Phương tiện vật chất: Các em được hỗ trợ tốt về phương tiện sẽ là một tác nhân tích cực giúp các em tăng khả năng NT Chẳng hạn như phòng học mát mẻ, sạch sẽ, thư viện nhiều đầu sách hay… + Ngoài yếu tố môi trường, yếu tố giảng viên còn có các yếu tố như phần thưởng, áp lực xã hội,

áp lực gia đình, giảng viên nhắc nhở, tương lai nghề nghiệp…có sự ảnh hưởng nhất định đến khả năng

NT của SV

1.3 Một số vấn đề về CBCC và yêu cầu của nghề đối với CBCC

1.3.1 Khái niệm CBCC

 Khái niệm cán bộ

Theo Luật CBCC số 22/2008/QH12 ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008 và có hiệu lực ngày

01/01/2010 đã đưa ra khái niệm công chức như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Trang 18

 Khái niệm công chức

Theo Luật CBCC cũng đưa ra khái niệm rõ ràng về công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế

và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị

sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, qua khái niệm CBCC chúng ta thây có điểm chúng đều là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đều thực hiện hoạt động quản lý nhà nước và có những nghĩa vụ:

 Nghĩa vụ của CBCC đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân

1 Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia

2 Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân

3 Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân

4 Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

 Nghĩa vụ của CBCC trong thi hành công vụ

1 Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được

giao

2 Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước

3 Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

4 Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao

5 Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì

phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết

định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm

về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

Trang 19

1.3.2 Vị trí, vai trò của đội ngũ CBCC trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Đội ngũ CBCC đóng vai rò quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, trong hoạt động công vụ Hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước nói riêng và của toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng, được quyết định bởi PC, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC Có thể nói đây là vấn đề cực kỳ quan trọng được Đảng, Nhà nước ta quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân cho đến nay

Vai trò của đội ngũ CBCC thể hiện qua bốn mối quan hệ Một là, quan hệ với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hai là, với bộ máy (các cơ quan tổ chức lãnh đạo quản lý); ba

là, với công việc; bốn là, với quần chúng nhân dân

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đội ngũ CBCC với tư cách là người thực thi pháp luật càng có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật cũng như trong việc triển khai thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống CBCC là lực lượng nòng cốt có vai trò cực kỳ quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của Nhà nước Nói cách khác, CBCC có vai trò to lớn trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của Nhà nước pháp quyền xã hội của nghĩa của dân, do dân và vì dân Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ, thực thi pháp luật, thực thi quyền lực nhà nước Đồng thời chính họ đóng vai trò sáng tạo pháp luật, tham mưu

đề xuất, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và tiến bộ của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân

và vì dân

Đội ngũ CBCC là “công bộc” của dân, có vai trò quan trọng trong bảm đảm kỷ cương phép nước, bảo vệ pháp luật và công lý, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo trật xã hội, chống lại các hành vi xâm hại pháp luật, tùy tiện và vô chính phủ Họ cũng là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong cuộc đấu tranh bền bỉ và không khoan nhượng đối với các hiện tượng quan liêu, hành vi tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác làm cho bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả

1.3.3 Những đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước

Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực hiện trước hết

và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là một hoạt động chấp hành – điều hành của nhà nước Quản lý hành chính ở nước ta có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước Bằng việc

Trang 20

ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động,nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước Bên canh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục cưỡng chế … Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm thực hiện

Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động quản lý hành chính với những hoạt động quản

lý không mang tính quyền lực nhà nước, như quản lý trong nội bộ của các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp… Trong các hoạt động quản lý phi nhà nước, quyền lực cũng được sử dụng nhưng không phải là quyền lực nhà nước, chỉ tác động trong nội bộ tổ chức, nhằm đạt mục tiêu của tổ chức trong khuôn khổ pháp luật; các chủ thể quản lý cũng thể hiện ý chí và sử dụng sức mạnh của mình để bảo đảm thực hiện ý chí đó, tuy nhiên họ chỉ nhân danh cá nhân hay tổ chức mình mà không nhân danh nhà nước Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi các bộ…Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước Do dó, có thể kết luận chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các chủ thể mang quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bao gồm: cơ quan hành chính nhà nước và công chức của những cơ quan này; thủ trưởng của các cơ quan nhà nước; các công chức nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền quản lý hành chính đối với một số loại việc nhất định Và như vậy, quản lý hành chính nhà nước có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quan trọng tới ít quan trọng, từ phổ biến tới cá biệt, phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp luật và trong nội bộ của các cơ quan nhà nước Trong khi đó hoạt động lập pháp, tư pháp chỉ phát sinh trong phạm vi tương đối hẹp, có đối tượng tác động là những quan hệ xã hội quan trọng Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan

Trang 21

hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của

cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của

cả, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau Tuy nhiên do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương Để cùng lúc đạt được hai mục đích này, nguyên tắc “ hai chiều lệ thuộc” được sử dụng như một giải pháp hữu hiệu trong việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Theo đó, loại trừ Chính phủ là cơ quan đứng đầu bộ máy hành chính nhà thì mỗi cơ quan khác trong bộ máy này đều lệ thuộc vào hai cơ quan: một cơ quan theo chiều dọc để đảm bảo sự thống nhất của bộ máy; một cơ quan theo chiều ngang để đảm bảo sự chủ động của mỗi cấp quản lý Vấn đề căn bản được đặt ra trong việc

tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là xác định hợp lý thẩm quyền của mỗi cấp quản lý, vừa tránh được sự chồng chéo chức năng, vừa không bỏ lọt những lĩnh vực cần quản lý;vừa bảo đảm sự điều hành xuyên suốt, thống nhất trong bộ máy, vừa tạo ra được sự chủ động, sáng tạo của mỗi cấp quản lý,

có như vậy mới vừa bảo đảm thống nhất lợi ích chung của nhà nước, vừa đảm bảo lợi ích của từng địa phương Thứ tư, hoạt động quản lý hành chính nhà nước có tính chấp hành và điều hành Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn,… trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chi đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý Như vậy, trong mỗi hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tính chấp hành và tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhờ đó có thể phân biệt với hoạt động lập pháp và tư pháp: trong lập pháp, chấp hành

là để xây dựng pháp luật làm cho pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn; trong tư pháp, chấp hành là để bảo vệ pháp luật tránh khỏi sự xâm hại; còn trong quản lý hành chính, chấp hành là để tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội Thứ năm, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính liên tục Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý hành chính nhà nước luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế

Trang 22

công chức, công vụ của bộ máy hành chính nhà nước; tạo ra bộ máy hành chính gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình

1.3.4 Yêu cầu về chất lượng đối với đội ngũ CBCC trong điều kiện hiện nay

- Yêu cầu về PC chính trị, đạo đức công chức:

PC, bản lĩnh chính trị là yêu câu quan trọng, cơ bản nhất đối vwois đội ngũ CBCC trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, và vì dân Đó là sự trung thành và bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận tụy, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phụ vụ nhân dân

Đạo đức của người CBCC gồm hai mặt cơ bản: đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức cá nhân của người CBCC trước hết thể hiện ở ý thức, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa, quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Ngoài ra, PC đạo đức cá nhân còn biểu hiện ở tinh thần và ý thức, biết tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha, ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bạn bè và trong xã hội, có tinh thần hướng thiện, hiếu học

Xã hội càng dân chủ càng đòi hỏi đạo đức cá nhân của người CBCC phải được hoàn thiện, mẫu mực vì chính họ là người “cầm cân nảy mực”, những người giữ gìn và bảo vệ kỷ cương phép nước Địa vị pháp lý của họ cũng tôn vinh của xã hội đối với người CBCC buộc họ phải tự rèn luyện nâng cao PC đạo đức, tu dưỡng bản thân để không mắc phải các hiện tượng tiêu cực trong xã hội

Ngoài PC đạo đức cá nhân, người CBCC cần phải có đạo đức nghề nghiệp, đó là ý thức và trách nhiệm pháp lý đối với nghề nghiệp mà họ theo đuổi

Đạo đức nghề nghiệp của người CBCC thể hiện trước hết ở tinh thần trách nhiệm và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ Đó là ý thức luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, công vụ được giao, kể cả khi gặp khó khăn Nhờ đó mà người CBCC luôn cố gắng tìm ra những phương tiện, giải pháp và sáng kiến khác nhau để hoàn thành nhiệm vị, công vụ được giao

Đạo đức nghề nghiệp của người CBCC đòi hỏi phải tiết kiệm không chỉ cho bản thân mình mà cao hơn, quan trọng hơn là tiết kiệm thời gian, tiền của của nhân dân, tiết kiệm công sản, công quỹ, tiết kiệm tài nguyên của đất nước, nhờ đó chống được bệnh lãng phí thường xảy ra trong các cơ quan nhà nước

Đặc biệt trong thời kỳ chúng ta dang tập trung mọi nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và phát triển đất nước, đạo đức công vụ yêu cầu người CBCC phải trong sạch, không tham lam, tư lợi, tư túi cá nhân CBCC trước hết phải là người thật thà, trung thực, không

Trang 23

tham nhũng, sách nhiễu nhân dân, không lợi dụng chức quyền để mưu lợi riêng như nhận hối lộ, lấy cắp của công, biển thủ công quỹ

Đạo đức nghề nghiệp của người CBCC còn thể hiện ở sự ngay thẳng, công bằng, công tâm, thực thi công vụ theo luật pháp và kỷ cương phép nước Dù ở bất kỳ vị trí nào trong bộ máy nhà nước, người CBCC luôn đề cao đạo đức công chức, đạo đức nghề nghiệp

Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân do đó người CBCC với tư cách

là công bộc của dân, là người phục vụ công cộng của Nhà nước và xã hội không được phép chuyên quyền độc đoán dù ở bất kỳ cương vị, chức trách công tác nào trong bộ máy nhà nước

Trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta, dân chủ với tính cách là động lực và mục tiêu của sự phát triền, do đó người CBCC với tư cách là những người thực thi quyền lực nhà nước phải tôn trọng

và đề cao tính dân chủ Đó là phát huy trí tuệ, tài năng, và mọi nguồn lực, của cải của dân để tạo nên sức mạnh; biết tôn trọng lợi ích và quyền của người dân; biết làm chủ bản thân, điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội

- Yêu cầu về văn hóa

Văn hóa là hình thức ứng xử văn minh khoa học, nhân ái và dân chủ của mỗi người CBCC của đội ngũ CBCC trong mọi mối quan hệ văn hóa là cơ sở để hình thành tác phong, phong cách và lối sống của người công chưc, văn hóa là nền tảng tạo nên tư chất, cốt cách của người CBCC Nhờ có văn hóa, người công chức biết cư xử đúng mực, dân chủ và văn minh hơn trong thực thi công vụ: đấu tranh chống lại các hiện tượng chuyên quyền, độc đoán, máy móc trong giải quyết công việc và thực thi công

vụ

Trong đời sống xã hội, vai trò của văn hóa ngày càng được coi trọng Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, văn hóa được coi như một giá trị nội sinh, nó làm cho giá trị kinh tế tăng lên Người ta coi trọng chất lượng, kiểu dáng bao bì của sản phẩm, đồng thời cả chất lượng và hình thức dịch vụ cung cấp Ai thực hiện tối đa các yêu cầu trên, người đó sẽ dành thắng lợi trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và quyết liệt trên phạm vi toàn thế giới Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và

vì dân càng đòi hỏi cao về trình độ văn hóa đối với đội ngũ CBCC

Yêu cầu về văn hóa đòi hỏi người CBCC phải có kiến thức liên ngành cần thiết, có kiến thức, tri thức về văn hóa, văn minh về dân tộc, của nhân loại, có hiểu biết sâu sắc về lịch sử và truyền thống văn hiến của dân tộc để giữ gìn và phát huy văn hóa của dân tộc

- Yêu cầu về trí tuệ

Trong điều kiện mặt bằng về dân trí của xã hội ngày càng được cải thiện, tri thức khoa học – công nghệ của thế giới đang tăng lên nhanh chóng, ngày càng phong phú và đa dạng, đòi hỏi người CBCC phải có trình độ kiến thức và năng lực tư duy khoa học sáng tạo, nhạy bén, độc lập, trí tuệ cao Ở một

số ngành, lĩnh vực và đối với ngạch chuyên viên trở lên thì trình độ đại học là bắt buộc và tối thiểu; ở một số ngành và lĩnh vực khác phải là trên đại học Yêu cầu trí tuệ hóa đội ngũ CBCC buộc người

Trang 24

CBCC phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ kiến thức và năng lực trí tuệ của mình, đồng thời nhà nước cần phải có chính sách, chế độ và tạo điều kiện để CBCC được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng để bổ sung những tri thức mới của khoa học và công nghệ hiện đại để thực thi công vụ hiệu quả nhất

- Yêu cầu chuyên môn hóa, hiện đại hóa đội ngũ CBCC

Mục tiêu xây dựng nền hành chính chính quy hiện đại đặt ra yêu cầu phải chuyên môn hóa, hiện đại hóa đội ngũ CBCC với tư cách là nòng cốt của nền hành chính

Ở cấp độ phổ biến, yêu cầu tất cả CBCC dù làm ở cơ quan, tổ chức nào, lĩnh vực nào, ngành nghề nào đều được đào tạo để có kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi; chuyên môn hóa phải đi đôi với trí tuệ hóa, làm cho mỗi CBCC trong từng lĩnh vực có trình độ cao, vừa có kiến thức, vừa có năng lực và trình độ chuyên môn sâu

Ở cấp độ khác yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ CBCC là phải tạo được một lực lượng (bộ phận) chuyên gia đầu ngành của từng lĩnh vực, những người có trình độ chuyên môn sâu sắc hơn, uyên thâm hơn về lý thuyết, tinh thông thành thạo hơn về nghề nghiệp và cao hơn về năng lực thực tiễn Để có được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, chuyên gia hoạch định chính sách, chiến lược, song song với việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng tuyển chọn chặt chẽ, nhà nước phải có chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng Đồng thời phải xây dựng được quy chế hoạt động đặc thù phù hợp với tính chất và tầm quan trọng của đội ngũ chuyên gia Chỉ với một quy chế, cơ chế khoa học và hợp lý thì mới xây dựng và phát huy hiệu quả nhất năng lực và trí tuệ của đội ngũ chuyên gia này

Tóm lại, xuất phát từ vị trí vai trò, đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước và yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC hiện nay Vì vậy, chúng ta cần tìm hiểu và đưa ra một hệ thống các PCTL

để đáp ứng được yêu cầu công tác của người CBCC, từ đó giúp SV có NT đúng đắn và biết cách rèn luyện phù hợp để hình thành các PCTL đáp ứng yêu cầu sau khi ra trường

1.4 Lý luận về PCTL

1.4.1 Khái niệm PCTL

PCTL là một khái niệm liên kết, vì thế để hiểu rõ khái niệm này chúng tôi phân tích khái niệm PC

và kết hợp với lý luận trong tâm lý học để đưa ra khái niệm về PCTL

Theo từ điển Tiếng Việt: “PC là cái làm nên giá trị ở người hay vật” Theo cách hiểu này, tất thảy những gì thuộc về con người hay đồ vật làm cho con người hay đồ vật đó có giá trị - đều được gọi là

PC Do đó, quan niệm về giá trị như thế nào sẽ có cách đánh giá về PC tương ứng [57, tr.744]

Theo cách hiểu của kinh tế học “lĩnh vực đầu tiên sử dụng khái niệm giá trị” Giá trị là mức độ

mà một thứ gì đáp ứng được nhu cầu hoặc thỏa mãn được dục vọng con người Do đó, giá trị là sự thể hiện có tính chất định lượng của mối quan hệ giữa chủ thể đánh giá và đối tượng của việc đánh giá Theo từ điển Bách khoa Việt Nam 2: “Giá trị là phạm trù triết học, xã hội học chỉ tính có ích, có ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng tự nhiên hay xã hội có ý nghĩa của khả năng thỏa mãn nhu cầu,

Trang 25

phục vụ lợi ích của con người Ở đây, các sự vật, hiện tượng được xem xét dưới góc độ đáng hay không đáng mong muốn, có ý nghĩa tích cực hay không đối với đời sống xã hội” [61, tr.97]

Theo Từ điển Tiếng việt: “Giá trị là cái làm cho một vât có ích lợi, có ý nghĩa, là đáng quý về một mặt nào đó; tác dụng, hiệu lực; lao động xã hội của những người sản suất hàng hóa kết tinh trong sản phẩm hàng hóa; số đo của một đại lượng, hay số được thay thế bằng một ký hiệu” [57, tr.371]

Mở rộng khái niệm này trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội có thể nhận thấy nếu chỉ riêng mối quan hệ giữa đối tượng của NT và các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan thì chưa

đủ để xác định giá trị Phải có mối quan hệ chủ thể - khách thể có xu thế củng cố hay làm suy yếu, kéo dài hay rút ngắn sự sống còn của chúng ta, ta mới có thể xem là có lợi hay có hại, tốt hay xấu Con người phải ý thức được sự tồn tại của những mối quan hệ sau đó mới đánh giá tầm quan trọng của nó đối với cuộc sống của mình Như vậy, hiểu một cách khái quát giá trị là thước đo mối quan hệ giữa con người và các khách thể của nó

Những phân tích về giá trị trên đây cho thấy tính chất phức tạp khi NC về khái niệm PC Trước hết PC phải là những gì thuộc về đối tượng của bản thân đối tượng Tuy nhiên, không phải tất cả những

gì của đối tượng đều được coi là PC của nó Cần phải xuất hiện mối quan hệ giữa đối tượng (con người hoặc đồ vật) với một chủ thể xác định (con người) thì một số thuộc tính nào đó của đối tượng mới được xác định để làm nên giá trị của đối tượng và nhờ đó mà trở thành PC của đối tượng

Như vậy, theo quan niệm của chúng tôi: PC là tổng hợp các thuộc tính của đối tượng quy định

giá trị của đối tượng đó

Trong tâm lý học khái niệm “PC” thường được sử dụng khi khảo sát các khách thể khác nhau và được xếp thứ hạng nhất định trong hàng loạt các biểu hiện tâm lý ổn định của khách thể do hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi và hình thành

Là một thực thể của thế giới khách quan, con người cũng như các đối tượng khác cũng có giá trị trong một quan hệ xác định Tuy nhiên, do có sự thống nhất giữa yếu tố xã hội và yếu tố tự nhiên nên giá trị của con người bao giờ cũng là giá trị xã hội Giá trị xã hội của con người được thể hiện ở hai phương diện:

- Với tư cách là chủ thể của hoạt động giao lưu mỗi cá nhân nhận được sự đánh giá (xác định về giá trị) từ đối tác của mình (cá nhân khác)

- Với tư cách là chủ thể của hoạt động có đối tượng, cá nhân được xác định có giá trị qua sự đánh giá của người khác (xã hội) về mức độ tham gia và vận hành quan hệ đó như thế nào

Trong hoạt động con người đồng thời làm phong phú đời sống tinh thần của chính mình và phải

sử dụng chính đời sống tinh thần đó để vận hành các quan hệ, thực hiện các hoạt động cũng nhờ hoạt động và giao tiếp mà con người có các thuộc tính người Những thuộc tính này bao hàm cả những thuộc tính sinh vật và thuộc tính xã hội Trong những hoạt động và giao tiếp cụ thể, những thuộc tính tạo những giá trị cá nhân và giá trị xã hội của con người được gọi là các PCTL Như vậy, những PCTL

Trang 26

không thể hoàn toàn quy về những PC xã hội hay PC sinh vật song không thể tách rời các PC với nhau; những PCTL dường như xâm nhập vào các PC xã hội và sinh vật của con người được thực hiện trong hành vi và hoạt động của con người [2]

Theo Phùng Đức Toàn: “PCTL của con người là hiện tượng tinh thần được nảy sinh ra do sự tác động của thế giới khách quan bên ngoài vào đầu óc con người, là sức mạnh tinh thần mà tất cả các loài động vật khác đều không thể có được Nó bao gồm PC về trí tuệ như khả năng tập trung chú ý, khả năng quan sát, khả năng ghi nhớ, khả năng tư duy, trí tưởng tượng, năng lực tự học tập, khả năng thao tác cùng khả năng sáng tạo…và PCTL phi trí tuệ như thói quen, niềm đam mê, tình cảm, ý chí, tính cách…”[50, tr.102]

Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm rằng: PCTL là những thuộc tính tâm lý quy định

hành vi và cách ứng xử có ý nghĩa xã hội của con người trong những TH khác nhau của quan hệ giao tiếp và hoạt động PC thường là những thuộc tính biểu hiện về mặt xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực

1.4.2 Những PCTL của người CBCC

1.4.2.1 PCTL của người CBCC

Mỗi một nghề đòi hỏi con người phải có những PCTL thích hợp với nghề đó CBCC cũng vậy, để

có thể thực hiện tốt hoạt động quản lý và những nghĩa vụ của mình thì người CBCC phải có những PCTL nhất định Khi NC về những PCTL của CBCC chúng tôi cho rằng những PC rất phong phú và

đa dạng chúng có thể được phân theo nhiều cách khác nhau Mặt khác, bản thân PCTL của CBCC tự

nó chưa quyết định mức độ thành công trong hoạt động nghề nghiệp của CBCC Mỗi một CBCC với những PCTL của mình phải được đặt trong những môi trường tổ chức xác định, những TH nghề nghiệp cụ thể mới thực sự thể hiện rõ sự thành công trong lao động nghề nghiệp của họ Khi tham gia vào một lĩnh vực hoạt động phải có một số PCTL cần thiết Vị trí, vai trò và nhiệm vụ của CBCC đòi hỏi họ phải có những PCTL nhất định Không phải ai cũng có thể làm được nghề quản lý hành chính Nhà nước và không phải bất cứ CBCC nào cũng là một CBCC giỏi Điều này phụ thuộc vào mức độ phát triển của những PCTL của người CBCC đáp ứng tốt nhất với yêu cầu của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước Căn cứ vào vị trí, chức năng và đặc điểm của hoạt động quản lý Nhà nước của CBCC

và dựa trên khái niệm về PCTL đã phân tích ở trên, theo chúng tôi PCTL của người CBCC được hiểu như sau:

PCTL của người CBCC là những thuộc tính tâm lý tiêu biểu phù hợp với yêu cầu hoạt động nghề nghiệp quản lý Hành chính Nhà nước và giúp phân biệt với các ngành nghề khác trong xã hội PCTL của người CBCC quy định hành vi và ứng xử có ý nghĩa nghề nghiệp của người CBCC trong những

TH khác nhau của quan hệ giao tiếp và hoạt động của họ với nhân dân

1.4.2.2 Phân loại PCTL của CBCC

Trang 27

Trong nhiều công trình NC của các tác giả về PCTL của cá nhân trong từng lĩnh vực lao động nghề nghiệp (ví dụ: giáo viên, tư pháp…) việc phân loại các PCTL thường dựa trên quan điểm của A.G Cô vali ôp về cấu trúc nhân cách Đây là cách phân loại PCTL theo cấu trúc nhân cách

Quan điểm khá phổ biến xưa nay coi nhân cách gồm 4 thuộc tính: xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực [55, tr.203] Từ quan điểm đó chúng tôi khi NC về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, đặc điểm của hoạt động quản lý Hành chính nhà nước chúng tôi phân loại các PCTL của CBCC như sau:

 Nhóm PC xu hướng chính trị

+ Khái niệm: Xu hướng là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống

động cơ quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân và quy định sự lựa chọn thái độ của nó [55, tr.204]

Xu hướng là sự thiên về những hoạt động nào đó nhằm một mục tiêu có nghĩa đối với bản thân trong một thời gian lâu dài Xu hướng chính trị mà cơ bản nhất là thế giới quan khoa học duy vật và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa giữ vị trí trung tâm trong mạng lưới các quan hệ giữa các PC trong nhân cách của người quản lý Nó làm nhiệm vụ định hướng, điều khiển và điều chỉnh sự hình thành và phát triển tất cả các PCTL cá nhân, làm cho chúng kết hợp với nhau thành một chỉnh thể trọn vẹn và biểu hiện ra thành động cơ, nhu cầu và giá trị của người quản lý

+ Chức năng và biểu hiện trong cuộc sống nói chung: Xu hướng có chức năng định hướng cho hoạt động của cá nhân Xu hướng biểu hiện ở một số mặt chủ yếu: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin

+ Biểu hiện trong hành vi của người CBCC:

- Động cơ vì nước vì dân Động cơ là cái thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu hoặc đạt tới một mục đích nào đó Động cơ là nội dung bản chất của hành vi, hành động và hoạt động tạo nên tính tích cực của chủ thể, quy định nhu cầu, hứng thú, ý hướng, cảm xúc, tâm thế và lý tưởng Đối với người CBCC, động cơ vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội là xu hướng cơ bản và quan trọng nhất Đó là sự NT đúng đắn và đầy đủ yêu cầu của công cuộc đổi mới đối với nhiệm vụ được giao; chuyển những NT đó thành niềm tin, niềm say mê hành động của cá nhân; đem hết nhiệt tình và sức lực của bản thân hiến dâng cho sự nghiệp cách mạng cao cả; chăm lo hạnh phúc cho nhân dân, phấn đấu vì quyền lợi của mình Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn các lợi ích của giai cấp, của dân tộc, của tập thể và lợi ích của cá nhân trong điều kiện mới

- Động cơ vì nước vì dân phát triển thành nhu cầu, hứng thú chỉ huy, điều khiển, tổ chức thực hiện sự quản lý nhà nước Nhu cầu là trạng thái tâm lý cần được thỏa mãn đối với con người, khiến người ta thấy cần thiết phải hành động để chiếm lĩnh nó Còn hứng thú là sự biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm NT những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh; đồng thời, biểu hiện chiều hướng tương đối ổn định của con người với các hoạt động nhất định Nội dung của nhu cầu và hứng thú phụ thuộc vào đối tượng mà chủ thể xem là có giá trị đối với mình; quy định phương thức

Trang 28

thỏa mãn Đến lượt mình, phương thức thỏa mãn chi phối lại giá trị; và như thế, chi phối lại hứng thú

và nhu cầu con người có rất nhiều nhu cầu và hứng thú cần được thỏa mãn Nhưng nhu cầu và hứng thú cao nhất của người CBCC là thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đem lại hiệu quả xã hội cao Đó

là khát vọng phát huy khả năng tổ chức, điều hành, cai quản của mình vì lợi ích chung; là biểu hiện của trạng thái tâm lý không thỏa mãn với thực trạng xã hội, muốn đem cái mình nghĩ, mình cho là tốt cống hiến cho xã hội Đây là những PCTL bắt nguồn từ sự phát triển cao của những tư chất đặc thù theo yêu cầu của xã hội qua một quá trình phản ứng tích cực của cá nhân Có khát vọng quản lý, “ham làm, có gan làm và có gan chịu trách nhiệm”, người CBCC mới say sưa phấn đấu, tìm mọi cách thực hiện ngày càng tốt hơn sự quản lý nhà nước đối với các quá trình xã hội như một phương thức tồn tại của chính mình

- Có động cơ, nhu cầu và hứng thú tích cực tất yếu dẫn người CBCC đến một sự định hướng giá trị nhân văn “Giá trị là cái người ta thừa nhận, người ta cần đến như là một nhu cầu hoặc cấp cho nó một vị trí quan trọng trong đời sống của mình Còn định hướng giá trị là cơ sở bên trong của hành vi, quyết định lối sống của cá nhân”[46] Định hướng giá trị CBCC không chỉ hướng đến chân giá trị của nhân loại, truyền thống tốt đẹp và đạo lý sinh tồn của dân tộc mà còn phải phản ánh xu hướng phát triển của thời đại, của một đất nước đang tiến bước trên con đường xã hội chủ nghĩa Trực tiếp thực hiện sự quản lý của nhà nước đối với xã hội, người CBCC phải hiểu rõ những giá trị của pháp luật, kỷ cương, phép nước; cho nên, không chỉ gương mẫu thực hiện mà còn bằng mọi cách buộc những người khác phải nghiêm chỉnh chấp hành Đồng thời, còn phải biết vận dụng sáng tạo những nguyên tắc bất biến ấy một cách sinh động vừa đảm bảo kỷ cương phép nước vừa đảm bảo sự năng động và sự tự do của đời sống xã hội

 Nhóm PC tính cách

+ Khái niệm:

Tính cách một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống thái độ của nó dối với hiện thực và được biểu hiện thông qua hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng [55, tr.208]

+ Biểu hiện của tính cách:

Tính cách được biểu hiện thông qua hệ thống thái độ của cá nhân và hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng Trong đó hệ thống thái độ của cá nhân bao gồm thái độ đối với thế giới tự nhiên, xã hội, mọi người xung quanh và đối với bản thân Trong tính cách, hệ thống thái độ và hành vi có mối quan

hệ biện chứng: hệ thống thái độ quyết định hành vi và hệ thống hành vi có tác động trở lại hệ thống thái độ

Tính cách là một thuộc tính tâm lý cá nhân có các đặc điểm như: tính ổn định và tính bền vững, tính phức hợp và tính thống nhất, tính riêng biệt và tính độc đáo, tính điển hình và tính cá biệt

+ Biểu hiện của tính cách trong hành vi của người CBCC:

Trang 29

Tính các người CBCC là thuộc tính tâm lý thể hiện những nội dung đạo đức của người cán bộ cách mạng Tính cách người CBCC được thể hiện trong hệ thống thái độ và hành vi của người CBCC đối với Đảng, với nước, với nhân dân và với bản thân

Những PC tính cách của người CBCC thể hiện đầy đủ và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ Đạo đức là tình yêu thương đồng loại, quý trọng và bảo vệ những giá trị nhân văn của dân tộc và nhân loại, trân trọng môi trường sống và những chuẩn mực sinh hoạt của cộng đồng Có đạo đức, cá nhân sẽ sống có trật tự, kỷ cương, nề nếp và đối xử đúng mực trong các mối quan hệ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”[58] Vì vậy, đòi hỏi người CBCC phải:

- Thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; đấu tranh chống tham ô, quan liêu, lãng phí Luôn thể hiện ý chí kiên trì tu dưỡng mình về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao sự phát triển của đất nước Tuyệt đối không để công danh, lợi lộc cá nhân làm hoen ố phẩm giá của người chiến sĩ cộng sản, biết tự kiềm chế dục vọng, tự phản tỉnh đối với những hành vi của mình, không tự kiêu, không tự mãn với những thành tích và cũng không tự ti, không mặc cảm trước những sai lầm, thiếu sót;

mà vì quê hương, đất nước, vì lý tưởng cộng sản mà không ngừng phấn đấu vươn lên hoàn thiện bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời rơi xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”

- Luôn yêu thương sâu sắc con người, nhất là người nghèo khổ, bất hạnh Dù hoàn cảnh nào cũng giữ được tình cảm trong sáng, nồng thắm, son sắc, gắn bó thiết tha với gia đình, với người thân, với bạn bè, với đồng chí, đồng đội, với quê hương, đất nước với đồng bào Khi thừa hành công vụ, luôn thống lý đạt tình, phải trái phân minh, nghĩa tình trước sau trọn vẹn với tấm lòng chân thật, đúng mực, thẳng thắn và có thủy có chung, có tình có nghĩa Về điều này, Hồ Chủ Tịch đã dạy: “Hiểu Chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình,

có nghĩa thì sao gọi là hiểu Chủ nghĩa Mác – Lênin được”[58] Trong thực hiện sự quản lý đối với con người, luôn có lòng vị tha, khoan dung và độ lượng với mỗi người, hướng mọi người đến với cái hay, cái đẹp mà bản thân mình luôn là người đi đầu dẫn lối

- Có ý thức tổ chức kỷ luật ngày một cao Người CBCC phải luôn gương mẫu chấp hành Nghị quyết của Đảng và sự lãnh đạo của các cơ quan đảng cấp trên và tổ chức đảng mà mình đang sinh hoạt, tuân thủ pháp luật và sự điều hành, quản lý của các cơ quan quyền lực nhà nước, tôn trọng điều lệ của các tổ chức quần chúng, chuẩn mực văn hóa của địa phương Đồng thời, người CBCC phải luôn ý thức đầy đủ về chức trách, về quyền hạn và nghĩa vụ của mình, phải luôn có được hành động thật sự tỏ rõ là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân; tích cực góp phần vào việc xây dựng Đảng ta

Trang 30

thật sự trong sạch, vững mạnh; luôn lấy lợi ích của giai cấp, của quốc gia dân tộc, của nhân dân làm tiêu chí cho toàn bộ hoạt động quản lý Như Lênin khẳng định: “Đạo đức, đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp

vô sản sáng tạo ra xã hội của những người cộng sản”

- Gương mẫu về đạo đức, lối sống: Người CBCC phải luôn tổ chức tốt cuộc sống của cá nhân và gia đình theo những giá trị nhân văn của chủng loại, của thời đại, của dân tộc và những chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới của chế độ ta; phải “cần kiệm, liêm chính” mà nhất là thái độ đối với pháp luật hiện hành Thực sự gương mẫu trong việc xây dựng gia đình văn hóa mới Xây dựng được các mối quan hệ thân thiết trong các cộng đồng dân cư; sống trong sự tương trợ và san sẻ với bà con chòm xóm Điều

có ý nghĩa không kém phần quan trọng là phải làm cho chất lượng cuộc sống cả vật chất và tinh thần của cá nhân và gia đình ngày một cao như là tấm gương cho sự phấn đấu vươn lên của những người xung quanh

Mỗi người CBCC cần xây dựng cho mình một tính cách phù hợp với yêu cầu, đặc điểm công tác của mình, sao cho tập trung được phần lớn những nét tính cách tích cực và hạn chế những nét tính cách tiêu cực

 Nhóm PC khí chất

+ Khái niệm:

Khí chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý, thể hiện sắc thái hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân [55, tr.209]

+ Biểu hiện của khí chất:

Các kiểu hoạt động thần kinh là cơ sở sinh lý của khí chất Do tính đa dạng và khác nhau của các kiểu hoạt động của hệ thần kinh, nên khí chất của cá nhân cũng đa dạng và khác nhau thể hiện cụ thể hành vi, cử chỉ, cách nói năng của họ Dựa vào bốn kiểu hoạt động thần kinh có bốn loại khí chất tương ứng: hăng hái, điềm đạm, nóng nảy, ưu tư

+ Biểu hiện của khí chất trong hành vi của người CBCC:

Người CBCC cần xác định được khí chất hiện có của bản thân mình cũng như tự nhận thấy những

ưu, nhược điểm của từng loại khí chất, đồng thời có biện pháp rèn luyện, phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm, biết phối hợp, điều hòa khí chất cho phù hợp Do đặc trưng công việc quản lý Hành chính Nhà nước mà người CBCC cần luyện biểu hiện khí chất của mình theo những hướng chung sau:

Về hoạt động NT, người CBCC phải NT vấn đề nhanh chóng đồng thời sâu sắc, chín chắn; có

năng lực tưởng tượng dồi dào phong phú đồng thời có khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa

Trang 31

Về đời sống tình cảm, người CBCC cần tỏ ra lạc quan, vui tính, dí dỏm, tính tình cởi mở, dễ làm

quen với mọi người, dễ dàng hòa đồng vui vẻ với mọi người, đồng thời người CBCC phải có tình cảm sâu sắc, bền vững, dễ thông cảm với những người xung quanh

Về hành động, người CBCC luôn tỏ ra nhiệt tình hăng hái nhanh nhẹn, hoạt bát, xông xáo, hăng

hái sôi nổi trong các hoạt động Đồng thời, người CBCC cần phải bình tĩnh, kiên trì, chu đáo, thận trọng trong mọi công việc, nhất là những TH khó khăn

 Nhóm PC năng lực

+ Khái niệm

Năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt [55, tr.213]

+ Biểu hiện của năng lực:

Năng lực là PC bên trong tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân có được khả năng hoàn thành một hoặc một số hoạt động chung hay chuyên biệt nào đó với chất lượng và hiệu quả cao Mỗi đặc điểm tâm lý có những khả năng tương ứng, người ta thường xem xét ở ba khả năng cơ bản: khả năng trí tuệ, khả năng chuyên môn và khả năng thích ứng với môi trường

+ Biểu hiện của năng lực trong hành vi của người CBCC:

Đối với người CBCC, cần phải có những khả năng đặc thù cụ thể như sau:

- Khả năng am hiểu công việc: Am hiểu công việc là khả năng nắm vững nội dung của vấn đề với đầy đủ cơ sở khoa học của nó, xác định đúng thực chất những nhiệm vụ phải giải quyết, biết lựa chọn phương thức hành động với các phương pháp và hình thức cũng như biện pháp và phương tiện cụ thể

để giải quyết các nhiệm vụ đó một cách có hiêu quả Khả năng am hiểu công việc đòi hỏi người CBCC phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm thực tế phong phú, có kỹ xảo làm việc đạt đến mức thành thạo và kỹ năng xác lập phương thức hành động mới khi tình hình có chiều hướng biến đổi Người CBCC như vậy được gọi là người tinh thông chuyên môn nghiệp vụ

- Khả năng làm việc độc lập: làm việc độc lập là khả năng có được tinh thần chủ động trong công việc, có thể tự hoạch định chương trình và chù tính kế hoạch hành động cho mình để thực hiện mục tiêu đã định mà không trông chờ hay nhờ vào sự “chỉ bảo” hay sự “viện trợ” của người khác Biết tìm cho mình con đường riêng với những phương thức hành động đặc thù trong tính phổ biến; tránh sáo mòn, dẫm lại những lối mòn của người khác một cách không cần thiết Để có khả năng làm việc độc lập, con người không chỉ phải lao động bền bỉ, cần mẫn tìm tòi học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao,

có kỷ luật tự giác mà còn là lòng say mê, ham thích công việc với một sự năng nổ và tháo vát đối với công việc

- Khả năng quan sát thực tế: Quan sát thực tế là khả năng phát hiện ra những nhu cầu và tiềm năng của đời sống hiện thực, những vấn đề đang đặt ra đối với chủ thể; thấy được phương thức giải quyết vấn đề của hiện thực bằng những phương tiện được lựa chọn từ hiện thực đó Người CBCC có

Trang 32

khả năng quan sát còn phải có khả năng cảm giác tốt – “nghe” được những diễn biến nhỏ nhất, những biểu hiện tinh tế nhất của sự biến động, “thấy” được những dấu hiệu mờ nhạt nhất của sự kiện Đồng thời, còn có khả năng tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhưng không rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm; biết lấy sự biến đổi trong đời sống hiện thực làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của mình nhưng không rơi vào chủ nghĩa thực dụng

- Khả năng nhận biết TH : Nhận biết TH là khả năng đánh giá đúng thực trạng của những vấn đề gay cấn không bình thường, những việc ập đến bất ngờ đặt người CBCC trước sự thách thức; phát hiện được nguyên nhân của TH đó, kịp thời đề ra được các phương án cùng những giải pháp xử lý một cách thỏa đáng Khả năng này phụ thuộc vào tầm nhìn, vào sức khái quát, vào độ chính xác của sự dự báo xu hướng diễn biến của các sự kiện khác nhau trong đời sống hiện thực Nói một cách khái quát hơn, đó là năng lực phát hiện các mâu thuẫn sâu xa nội tại của những diễn biến phong phú và phức tạp

ở bên ngoài đưa đến TH ấy Để làm được điều đó, đòi hỏi người CBCC phải có khả năng phân tích và tổng hợp các sự kiện khác nhau, biết sàng lọc thông tin và loại trừ các giả lượng

- Khả năng tổ chức triển khai: khả năng này thể hiện ở chỗ: từ một ý đồ, một kết luận khoa học, một quyết định…nào đó, người CBCC có thể tổ chức khai triển thành chương trình hành động, thành

kế hoạch thực thi trong đời sống xã hội bằng những hành động chuyên môn cụ thể Tùy theo vị trí, nghề nghiệp, chức trách, thẩm quyền và thời điểm lịch sử cụ thể mà khả năng triển khai của mỗi người CBCC có sự đòi hỏi cao thấp về những khả năng xác định khác nhau Nhưng, nhìn chung, khả năng triển khai của một người CBCC phải bao gồm các khả năng: NT vấn đề, truyền đạt đến những đồng sự,

tổ chức thành một thiết chế tổ chức, phối hợp nhiều loại hành động của nhiều người để giải quyết vấn

đề đó; đồng thời, còn điều chỉnh và xử lý được các vấn đề phát sinh

- Khả năng kiểm tra: Kiểm tra là việc giám sát, theo dõi, kiểm soát hoạt động của người khác trong quá trình thực thi một chương trình hay một kế hoạch hoặc nhiệm vụ đã được xác định Khả năng kiểm tra cho phép chủ thể phát hiện những ách tắc, những biểu hiện lệch lạc, những sai lầm và hạn chế của người thừa hành nhiệm vụ Đồng thời, truy tìm được nguyên nhân của chúng, truy cứu được trách nhiệm của từng cá nhân, đề ra được những giải pháp xử lý các vấn đề đó một cách nhanh chóng và chính xác nhằm đảm bảo mục tiêu đã định Năng lực này đòi hỏi người CBCC phải có óc quan sát tinh

tế, có năng lực chuyên môn, có nghiệp vụ làm công tác kiểm tra, có tinh thần trách nhiệm cao và có nhân cách tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ

- Khả năng phê phán: Phê phán là khả năng tự phê phán mình, biết tiếp nhận sự phê phán của người khác đối với mình và phê phán người khác Tự phê phán là khả năng tự phản tỉnh của người CBCC để nhận ra những khuyết điểm và yếu kém, những sai lầm và thiếu sót của bản thân trong quá trình thừa hành nhiệm vụ; dám chịu trách nhiệm cá nhân về toàn bộ hậu quả do hành vi của mình gây

ra Biết lắng nghe, chân thành và dũng cảm tiếp nhận sự đóng góp của đồng nghiệp, của bạn bè, của tổ chức và của xã hội một cách tự nhiên Không những thế mà người CBCC còn biết tìm ra con đường và

Trang 33

những giải pháp tự hoàn thiện mình để không ngừng vươn lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Phê phán người khác là khả năng mà người CBCC có thể nhìn nhận đúng đắn về người khác, khẳng định được những điểm mạnh và chỉ ra được những hạn chế của họ đối với yêu cầu của xã hội một cách vô tư, thẳng thắn nhưng vừa thấu lý vừa đạt tình với những biện pháp thật khéo léo, tế nhị để người được góp ý tiếp thu một cách thoải mái, nhẹ nhàng Theo chủ tịch Hồ Chí Minh: “ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn, thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm” [54, tr.95]

- Khả năng kiềm chế: Kiềm chế là khả năng có thể tránh được những phản ứng bồng bột, vội vã nhất thời mà phải hết sức bình tĩnh đè nén những xúc động, sự tức tối, sự giận dữ trước sự kích thích tâm lý bất thường bởi những hành vi khiêu khích, chọc tức, thậm chí là “lăng mạ” của đối phương Người CBCC phải dũng cảm chiến thắng những dục vọng và những “sợ hãi” của bản thân, vượt qua sự

đe dọa hay mua chuộc, dụ dỗ, sự phỉnh nịnh, vuốt ve, tâng bốc… của người khác; không thỏa mãn với những thành công và cũng không chán nản bởi những thất bại mà luôn biết “thắng không kiêu, bại không nản”, gian khổ không sờn, cường quyền không khiếp sợ Theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “uy vũ bất năng khuất, bần tiện bất năng dâm, phú quý bất năng di”[46]

- Khả năng giao tiếp xã hội: Giao tiếp xã hội là khả năng hiểu biết con người, nhận biết được khả năng của người khác và có thể khai thác được lợi thế của họ cho yêu cầu nhiệm vụ của mình Người CBCC phải biết cách làm việc với từng loại người, ứng xử đúng mực với từng mối quan hệ; biết “đối nhân xử thế” không những biết đối xử chân thành và động viên, cổ vũ, khuyến khích, giúp đỡ những đồng nghiệp, các cộng sự mà còn phải biết bao dung, nhân ái, độ lượng đối với người khác Đồng thời, chẳng những biết học tập, tiếp thu, vận dụng những cái hay, cái tốt của người khác cho sự hoàn thiện của chính mình mà người CBCC còn phải hết sức khiêm tốn khi thể hiện mình nhất là trong những mối quan hệ phức tạp, tế nhị

- Khả năng quyết đoán: Người CBCC có thể phán đoán chính xác tình hình, đưa ra được quyết định chỉ đạo ngay lập tức khi có những TH bất ngờ, không cho phép chờ đợi để phân tích dữ kiện cũng như không đủ dữ kiện cần thiết để phân tích nhằm kịp thời xử lý TH cấp bách Khả năng ra được quyết định dứt khoát trong trường hợp tập thể và các cá nhân còn nhiêu bất đồng về con đường, biện pháp và hình thức tổ chức thực hiện Có khả năng ra được quyết định tối ưu mang tính đột phá để chuyển đổi tình thế, biến nguy cơ thành thời cơ, chuyển từ thế bị động sang thế chủ động, chuyển từ sự phát triển tiệm tiến bình thường sang bước phát triển nhảy vọt Cùng với việc giám ra quyết định trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng, người cán bộ chủ chốt các cấp phải có trách nhiệm

cá nhân đẩy đủ với từng quyết định của mình

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến PCTL của người CBCC

Trang 34

Khi tìm hiểu về người CBCC làm việc trong các cơ quan, tổ chức cua Nhà nước người ta nhận thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến PCTL của họ Tác giả xin liệt kê những nhân tố ảnh đó bao gồm:

Thứ nhất, Vị thế của công chức trong xã hội: Do vị trí, vai trò của Nhà nước trong hệ thống chính trị, ở bất kỳ nền hành chính nào, CBCC cũng có một vị thể nhất định trong xã hội, được xã hội thừa nhận và kính trọng Vị thế nói lên mối tương quan, địa vị xã hội của công chức so với các nghề nghiệp khác trong các mối quan hệ xã hội

Bản thân phạm vi công chức, nghĩa vụ và quyền lợi của công chức được quy định bởi pháp luật

đã khẳng định vị trí, vai trò của người công chức và tạo ta cho họ một uy tín xã hội rõ rệt Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý của CBCC Đặc biệt trong những nước có nền kinh tế phát triển ở trình độ thấp thì công chức bảo đảm được những nhu cầu quan trọng nhất – nhu cầu về vật chất và an toàn – đó

là mục đích đầu tiên đối với cuộc sống của mỗi con người

Vị thế của công chức được xác lập rất rõ nét trong các mối quan hệ xã hội Do vậy, công chức nào cũng có xu hướng rèn luyện, phấn đấu để củng cố và phát huy vị trí của mình

Thứ hai, Giá trị của tổ chức: Hành động của CBCC không được phép đi ngược lại giá trị của tổ chức, những nguyên tắc hoạt động của tổ chức Giá trị của tổ chức thể hiện ở quyền năng, địa vị pháp

lý, nhiệm vụ của tổ chức đó Nó là khuôn khổ hành cộng của công chức

Thứ ba, Tương quan nhân sự trong tổ chức: Công việc của CBCC thường bị chi phối bởi hành vi của người khác trong tổ chức, và đến lượt nó, lại có tác động chi phối hoạt động của người khác Tính cộng đồng và tập thể là một đặc trưng của hoạt động công chức (thi hành công vụ)

Tương quan nhân sự trong tổ chức tức là mối quan hệ cơ bản và phổ biến giữa CBCC trong một công sở cũng có ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý của họ Con người trong một tổ chức cần được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: giới tính, lứa tuổi, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, đồng thời còn phải xem xét ở góc độ tâm lý: hứng thú, nguyện vọng, nhu cầu, khí chất, tính cách, năng lực, thế giới quan…

Trong một tổ chức cần tính đến sự dung hợp giữa con người với con người Có một số mặt dễ dung hợp với nhau nhưng cũng không ít các mặt khó dung hợp, trường hợp này nếu không điều chỉnh

có thể dẫn tới xung đột Để tồn tại và phát triển thì vấn đề quan trọng về mặt tâm lý là tạo ra sự dung hợp tâm lý giữa cá nhân với tập thể, với công việc, với người lãnh đạo và CBCC khác

Tương quan nhân sự trong tổ chức là thành tố thuộc cơ cấu tổ chức, nó quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của các thành viên trong tổ chức Trên cơ sở cơ cấu của tổ chức mà quy định về hành vi, cách ứng xử, lợi ích của từng thành viên và của chính tổ chức đó

Thứ tư, Chức vụ công chức: Trong hệ thống công vụ mỗi người có một vị trí, một chức vụ trong một thời gian thậm chí trong suốt cuộc đời công vụ Chức vụ công chức liên quan đến nhiệm vụ và quyền lợi và chúng có ảnh hưởng to lớn đến tâm lý CBCC

Trang 35

Chức vụ công chức là vị trí, trách nhiệm được quy định phải đảm nhiệm và có quyền lợi tương ứng đối với chức vụ đó trong hệ thống công vụ Chức vụ trong hệ thống công vụ được quy định thành

hệ thống thứ bậc cao thấp khác nhau; mức độ cao thấp tùy thuộc chủ yếu vào nhân cách, đạo đức, năng lực và thành tích thực tế của người nắm giữ nó Mỗi chức vụ giao cho một CBCC cụ thể, nó đòi hỏi người đó phải hội đủ đức, tài tương xứng, ngược lại, chính chức vụ đó có thể phát huy ưu thế, tăng cường PCTL của người đó

Ngoài bốn yếu tố trên còn phải kể đến yếu tố tâm lý tiểu nông của CBCC Việt Nam và đây cũng

là đặc điểm khá khác biệt với công chức các nước khác Những đặc điểm tâm lý được phản ánh trước hết ở nhân cách và hoạt động chuyên môn của nhân cách CBCC Công chức với tính cách là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một chức vụ theo một công vụ nhất định trong một tổ chức nhà nước, được phản ánh trên hai phương diện : “chức nghiệp” - tổ chức theo ngạch, bậc công chức và “làm việc” – theo vị trí công việc đã qua thi tuyển Nhân cách công chức được phản ánh trên hai phương diện đó

Tính chất hoạt động và kết qủa hoạt động của công chức nhà nước là hình thức biểu hiện đặc trưng và tiêu chuẩn trong tâm lý và nhân cách công chức trong hành động

Nếu so sánh với những giai đoạn lịch sử trước đó thì tính chất, vai trò hoạt động của công chức được khẳng định rất rõ trong sự lớn mạnh của đội ngũ công chức nhà nước Năm 1954 tổng số công chức trong cả nước mới có khoảng 44.620 người, đến năm 2004 có khoảng 1.561 Tuy chỉ chiếm một

tỷ lệ nhất định trong tổng số lao động cả nước, song đội ngũ công chức nhà nước thực sự là một lực lượng quan trọng Tính chất hoạt động phản ánh ở vai trò quản lý, điều hành hoặc phục vụ công tác quản lý trong hệ thống bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương Kết quả hoạt động của công chức có ảnh hưởng trực tiếp đến triển khai, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Và cũng phải thấy rằng, trong bối cảnh thực hiện công cuộc đổi mới, khi chúng ta đang tiến hành cải cách một bước nền hành chính quốc gia đáp ứng yêu cầu công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đội ngũ công chức nhà nước đã bộc lộ một số mặt bất cập, chưa ngang tầm nhiệm vụ Một số không ít công chức không thích nghi kịp với đòi hỏi của công việc quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động công

vụ thấp Một trong những nguyên nhân dẫn đến mặt hạn chế đó là đa số CBCC nhà nước còn chịu ảnh hưởng nhiều của của tâm lý và lối tư duy cũ trong đó biểu hiện tâm lý tiểu nông còn khá phổ biến Tâm

lý tiểu nông ảnh hưởng hạn chế đến tính chất công tác và kết quả hoạt động công chức biểu hiện ở một

số mặt sau:

- Tư duy manh mún – thể hiện trong định hướng hoạt động cũng như cách thức giải quyết vấn đề thiếu tính tổng quát, thiếu tầm nhìn xa, trông rộng, còn chắp vá, phiến diện, cục bộ, rời rạc Tính manh mún còn thể hiện trong việc lập kế hoạch và xây dựng chương trình hoạt động, trong giải quyết vấn đề

và các TH nảy sinh, thậm chí trong cả cách nhìn nhận đánh giá con người một cách hạn chế trong mối quan hệ liên nhân cách bất luận ở môi trường xã hội nào (cơ quan, gia đình và xã hội)

Trang 36

- Tâm lý trọng tình cảm theo huyết thống, làng xóm được biểu hiện rất rõ ở đội ngũ công chức phản ánh trong tính chất và quan hệ công tác Mặt tốt của tâm lý trọng tình cảm trong công chức là sự hòa thuận, dễ đồng cảm, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, xem nhau như “anh em cùng nhà” Song, cũng với tâm lý trọng tình cảm theo huyết thống, làng xóm mà không ít cơ quan, công sở được thiết lập theo trật tự kiểu gia đình Tâm lý “sống lâu lên lão làng”; “kính trên nhường dưới”; “trên nói, dưới phải nghe”; “vị nể người lớn tuổi”…với biểu hiện này, đội ngũ công chức nhà nước nhiều khi thụ đông, thiếu tính sáng tạo trong công tác và giải quyết công việc, hình thành lối sống đại khái, xuê xoa, cả nể, ngại va chạm Tâm lý trọng trình cảm theo huyết thống, làng xóm cũng dễ nảy sinh tính cục bộ bè phái trong quan hệ công tác của đội ngũ CBCC nhà nước, làm giảm tính cố kết và tinh thần đoàn kết thống nhất của tập thể, thậm chí làm tăng thêm xung đột và giảm hiệu lực của luật pháp

- Tâm lý tư hữu, cầu an, thụ động, bình quân, chủ nghĩa Trong một bộ phận công chức- tâm lý tư hữu trong thái độ và tính chất quan hệ công tác biểu hiện ở sự bo bo, ích kỷ, phòng thủ, bon chen, không muốn người khác hơn mình Từ đó trong công tác thường thiếu cởi mở, ít hồn nhiên không muốn làm phiền mọi người, ngược lại cũng không muốn người khác làm phiền mình Tâm lý tư hữu còn thể hiện ở sự thiển cận, ăn sổi, tủn mủn, chặt chẽ, “ngại đầu tư”, sinh lòng nghi ngờ, đố kỵ, tham lam, chỉ muốn nhận mà không muốn cho Bên cạnh đó, tâm lý cầu an, thụ động ảnh hưởng trong tính chất hoạt động của công chức là sự ngưng trệ phó thác cho số phận, trông chờ may rủi, thiếu chủ động, linh hoạt, sáng tạo, được chăng hay chớ, được đến đâu hay đến đó – dẫn đến giảm khả năng phấn đấu

và ý chí vươn lên vượt khó khăn để đạt mục đích Mặt khác, thiếu tinh thần trách nhiệm, an phận thủ thường cũng là biểu hiện của tâm lý cầu an, thụ động làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ CBCC nhà nước Bình quân chủ nghĩa cũng là biểu hiện của tâm lý tiểu nông Tâm lý đó làm giảm sự đấu tranh, thi đua, động viên cổ vũ phấn đấu của mỗi người Với quan niệm “xấu đều hơn tốt lõi”; “tất cả dàn hàng ngang mà tiến” –tâm lý bình quân chủ nghĩa đã không kích thích được năng suất và chất lượng hiệu quả công tác, không tạo được nhân tố tích cực, sáng tạo, không phát huy được sáng kiến trong chuyên môn Đó cũng là một thực tế trong chất lượng công tác của công chức hiện nay trước ảnh hưởng của tâm lý bình quân chủ nghĩa Mặt khác trong bình xét khen thưởng, kỷ luật cũng như phân phối lợi ích, phúc lợi…tâm lý bình quân chủ nghĩa không phản ánh đúng tính chất, trình độ lao động của công chức, đi đến chia đều quyền lợi, thay nhau nhận thưởng…

Trên đây là một số mặt hạn chế trong tính chất hoạt động và kết quả công tác của công chức do ảnh hưởng của tâm lý tiểu nông Song không thể không thấy rằng, cùng với sự lớn mạnh về số lượng đội ngũ công chức đồng thời lớn mạnh cả về chất lượng Đóng góp vào những thành tựu kinh tế - xã hội những năm qua của nước ta có phần đáng kể của đội ngũ CBCC nhà nước từ Trung ương đến địa phương

Đời sống CBCC cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất mạnh mẽ các PCTL của CBCC Nếu đời sống CBCC được đảm bảo họ sẽ dốc toàn, toàn lực cho công việc và ngược lại nếu

Trang 37

yếu tố này chưa được đảm bảo thì họ sẽ phải phân tâm và từ đó khó có thể toàn tâm toàn ý cho công việc Theo tháp nhu cầu của Maslau thì nhu cầu về sinh lý cơ bản gồm có ăn, mặc, ở, ngủ,…có đòi hỏi rất lớn bắt buộc con người phải thỏa mãn và nó cũng là điều kiện để thực hiện được các nhu cầu cấp cao khác Tuy nhiên, hiện nay đồng lương của CBCC chưa cao, chưa đủ để trang trải các chi phí mà một người CBCC cần có Vì thế, vẫn còn có tình trạng bớt xén của công, chân trong chân ngoài, Mặc

dù Nhà nước đã có chính sách tăng tiền lương, nhưng lương chưa tăng thì giá các mặt hàng lại tăng trước, lương luôn đi sau giá Trong tương lai cần có chính sách thỏa đáng hơn đối với đội ngũ CBCC

để họ yên tâm công tác và cống hiến

Một yếu tố không thể không nói đến đó là cơ hội thăng tiến: Một người CBCC là những người được hưởng lương theo ngạch, bậc Và vì thế họ luôn muốn có nhiều cơ hội thăng tiến trong con đường chức nghiệp Một khi có nhiều cơ hội thăng tiến, cơ hội phát triển thì chắc chắn họ sẽ gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ được giao và hoàn thiện chính bản thân mình

Các yếu tố vừa nêu có thể ảnh hưởng tích cực nếu được NT đúng đắn, và sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của CBCC nếu NT sai

Tiểu kết chương 1:

1 NT là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào não con người, mang tính chủ thể, mang tính lịch sử xã hội và nhờ NT con người tỏ thái dộ và hành động đối với thế giới xung quanh và với chính bản thân mình NT có mối quan hệ biện chứng với hoạt động của con người NT có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động, đối với tình cảm và niềm tin của con người Nó là cơ sở định hướng cho hoạt động, là cơ sở cho tình cảm, và là một yếu tố để hình thành niềm tin của con người Chính vì vậy, việc NC NT là cần thiết và đóng vai trò quan trọng Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến NT của SV, trong

đó các yếu tố như sự tự ý thức của SV, nhu cầu NT, có hứng thú trong việc NT, có phương pháp NT,

có sự tự tin, lòng tin là những yếu tố chủ quan từ phía bản thân SV như niềm tin, thái độ, động cơ học tập ; những yếu tố như môi trường học tập, điều kiện học tập, nội dung, chương trình học tập, giảng viên giảng dạy là những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến NT của SV

2 Các NC đã chỉ ra rằng: đặc điểm, tính chất của hoạt động đòi hỏi ở chủ thể của hoạt động phải

có những PCTL thích hợp để đáp ứng Đồng thời trong chính hoạt động ấy lại làm nảy sinh và phát triển những PCTL mà hoạt động đó đòi hỏi PCTL là những thuộc tính tâm lý quy định hành vi và cách ứng xử có ý nghĩa xã hội của con người trong những TH khác nhau của quan hệ giao tiếp và hoạt động PC thường là những thuộc tính biểu hiện về mặt xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực

3 PCTL của người CBCC là những thuộc tính tâm lý tiêu biểu phù hợp với yêu cầu hoạt động nghề nghiệp quản lý Hành chính Nhà nước và giúp phân biệt với các ngành nghề khác trong xã hội PCTL của người CBCC quy định hành vi và ứng xử có ý nghĩa nghề nghiệp của người CBCC trong những TH khác nhau của quan hệ giao tiếp và hoạt động của họ với nhân dân Căn cứ vào vị trí, ý nghĩa, nhiệm vụ, vai trò của người CBCC và đặc điểm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Trang 38

chúng tôi phân loại các PCTL của CBCC thành các nhóm chính sau đây: PC về mặt xu hướng; PC về mặt tích cách; PC về mặt khí chất; PC về mặt năng lực Các yếu tố ảnh hưởng đến PCTL của người CBCC gồm có: Chức vụ công chức, cơ hội thăng tiến, vị thế của công chức trong xã hội, đời sống CBCC, giá trị của tổ chức, tương quan nhân sự trong tổ chức, tâm lý tiểu nông

4 Có nhiều quan điểm về việc phân chia các mức độ NT Để phù hợp với đặc điểm NT của đối tượng NC cũng như sự phù hợp với nội dung NC và sự thuận lợi, khách quan trong việc phân tích kết quả NC chúng tôi lựa chọn quan điểm đánh giá NT theo ba cấp độ bao gồm: Nhận biết, thông hiểu và vận dụng Xuất phát từ đặc điểm quá trình đào tạo và học tập của SV HVHC với yêu cầu về chất lượng của người CBCC Chúng tôi tiến hành NC NT của SV về PCTL Chúng tôi đánh giá NT của SV qua ba mức độ này

Trang 39

Chương 2 : TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

Nhằm hoàn thành các nhiệm vụ đã đặt ra của đề tài, chúng tôi tiến hành các bước NC sau :

2.1 Các giai đoạn tổ chức NC

+ Giai đọan 1:

- NC lý luận:

Đây là bước đầu tiên của quá trình NC nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài Tài liệu được đọc

và phân tích theo các loại sau :

- Các tài liệu lý luận về NT, NT của SV…

- Các tài liệu lý luận về nhân cách, nhân cách người CBCC…

- Các tài liệu về tình hình kinh tế, chính trị xã hội, triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

về công tác cán bộ, …

- Các văn bản, luật CBCC, chỉ thị, nghị quyết, các quy định đối với CBCC,…

- Các đề tài NC khác có liên quan

Từ việc NC cơ sở lý luận, chúng tôi có được cơ sở chỉ định hướng cho việc NC thực trạng

- Xây dựng bộ công cụ khảo sát

Để NC NT của SV HVHC cơ sở TP Hồ Chí Minh về PCTL của người CBCC chúng tôi sử dụng phiếu điều tra và hệ thống các bài tập TH làm công cụ chính để khảo sát:

* Xây dựng phiếu điều tra

Các giai đoạn xây dựng phiếu điều tra

+ Giai đoạn 1 : Xây dựng phiếu điều tra mở

Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến từ phiếu điều tra mở nói, kết hợp với các kết luận rút ra về PCTL người CBCC trong phần cơ sở lý luận, chúng tôi đưa ra một mô hình PCTL của người CBCC trong các

cơ quan, tổ chức Nhà nước ta hiện nay và xem đây là tiêu chuẩn về PCTL của người CBCC để NC thực trạng

+ Giai đoạn 2 : Từ kết quả thu được sau khi phát bảng hỏi mở, cộng với những lý luận của đề tài, chúng tôi tiến hành xây dựng bảng hỏi chính thức gồm 12 câu hỏi

+ Giai đoạn 3 : Sau khi điều tra thử, chúng tôi có được mẫu phiếu điều tra chính thức bao gồm 12 câu hỏi (xem phụ lục số 2)

* Xây dựng bài tập TH

Dựa vào kinh nghiệm thực tế và các tài liệu sách báo, tạp chí và đặc điểm cũng như đặc điểm của khách thể điều tra, chúng tôi xây đựng 8 bài tập TH tương ứng với 8 PC và 8 cách vận dụng phù hợp nhất cho mỗi PC vào TH cụ thể

+ Xác định khách thể NC

Khách thể NC gồm:

Trang 40

- 30 giảng viên và cán bộ quản lý đang công tác tại HVHC cơ sở TP Hồ Chí Minh

- 100 SV năm thứ nhất, 100 SV năm thứ hai; 100 SV năm thứ ba

+ Tham khảo ý kiến chuyên gia

Chúng tôi xây dựng phiếu điều tra mở dành cho các chuyên gia – những người am hiểu về CBCC,

am hiểu về SV nhằm thu thập thông tin để xây dựng phiếu điều tra chính thức cho đề tài

+ Giai đọan 2

- Khảo sát thực trạng:

* Chọn mẫu khảo sát

Mẫu NC được chọn ngẫu nhiên Cụ thể như sau:

+ Giai đoạn 1 của quá trình điều tra : Phiếu điều tra mở được phát cho 30 khách thể am hiểu về CBCC và SV bao gồm 21 cán bộ giảng viên giảng dạy tại HVHC và 9 cán bộ đang làm công tác quản

lý tại HVHC có kinh nghiệm ít nhất trên 7 năm

+ Giai đoạn 2 của quá trình điều tra : sau khi tổng hợp ý kiến của phiếu điều tra mở kết hợp với

cơ sở lý luận chúng tôi đưa ra phiếu điều tra chính thức và điều tra ngẫu nhiên 50 khách thể từ chính số khách thể sẽ điều tra ở giai đoạn ba

+ Giai đoạn 3 của quá trình điều tra: Trong năm học 2009 – 2010 Học viện có khoảng 1400 SV của bốn khối năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba, năm thứ tư Chúng tôi đã lựa chọn ngẫu nhiên mỗi khối 100 SV (trừ năm thứ tư không điều tra do SV đi thực tập)

+ Giai đoạn 3 của quá trình điều tra : Phát phiếu số 1 đã hoàn thiện (phụ lục 2) và hệ thống bài tập

TH cho 350 khách thể là SV năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba của Học viên Hành chính cơ sở TP Hồ Chí Minh thu phiếu ngay sau khi làm xong Bỏ đi 50 phiếu không hợp lệ, còn lại 300 phiếu

* Xử lý số liệu khảo sát thực trạng

Sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để xử lý số liệu thu thập được từ các bảng khảo sát Thực hiện các kiểm nghiệm T – Test, ANOVA với mức ý nghĩa 95% để làm rõ sự khác biệt về NT và một số biểu hiện về mức độ thông hiểu và vận dụng các PCTL giữa các biến số khác nhau

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm