1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập tại một số trường đại học trên địa bàn thành phố hồ chí minh

167 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Mỹ Hạnh KỸ NĂNG THÍCH ỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM 1 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA B

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

KỸ NĂNG THÍCH ỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN NĂM 1 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

Mã số: 603 180

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS Nguyễn Thị Tứ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG SỐ LIỆU

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Giới hạn nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của đề tài 5

9 Cấu trúc đề tài 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 10

1.2 Lý luận về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong hoạt động học tập 12

1.2.1 Kỹ năng 12

Trang 3

1.2.2 Kỹ năng sống 16

1.2.3 Thích ứng 22

1.2.4 Kỹ năng thích ứng 33

1.2.5 Hoạt động học tập của sinh viên 38

1.2.6 Kỹ năng thích ứng trong hoạt động học tập 47

1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thích ứng của sinh viên trong hoạt động học tập 53

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 58

2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 58

2.1.1 Mẫu khảo sát 58

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 60

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập tại một số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM 65

2.2.1 Nhận thức của sinh viên về kỹ năng thích ứng và vai trò của kỹ năng thích ứng trong hoạt động học tập 65

2.2.2 Thực trạng về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong mục đích học tập 69

2.2.3 Thực trạng về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong nội dung học tập 72

2.2.4 Thực trạng về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong phương pháp học tập 76

2.2.5 Thực trạng về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong các điều kiện học tập khác 79

Trang 4

2.2.6 Ứng xử của sinh viên trong những tình huống giả định 84

2.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng KNTƯ của SV năm 1 trong HĐHT 86

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM CẢI THIỆN KỸ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP 94 3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 94

3.1.1 Cơ sở lí luận 94

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 97

3.2 Đánh giá tính khả thi và cấp thiết của một số biện pháp cụ thể 100

3.2.1 Các biện pháp tác động vào sinh viên 100

3.2.2 Các biện pháp tác động vào giáo viên 104

3.2.3 Các biện pháp tác động vào nhà trường 107

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 115

I KẾT LUẬN 115

II KIẾN NGHỊ 118

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC

Trang 5

Tác giả xin gửi lời biết ơn chân thành đến quý Thầy, Cô khoa Tâm lý – giáo dục trường Đại học Sư Phạm TP.HCM đã giảng dạy, giúp đỡ lớp cao học tâm lý khóa… trong suốt thời gian qua Xin chân thành cảm ơn phòng sau đại học đã tổ chức, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho học viên cao học lớp… Đặc biệt, xin gửi lời biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Nguyễn Thị Tứ – người hướng dẫn khoa học đã luôn động viên, khích lệ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Đại học Công nghiệp Thực phẩm ĐHCNTP

Trang 7

DANH SÁCH CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Phân bố sinh viên theo trường, khối, ngành học 58 Bảng 2.2: Phân bố sinh viên về giới tính, hoàn cảnh đang sống, khối 59 Bảng 2.3: Khảo sát nhận thức của sinh viên về kỹ năng thích ứng 65 Bảng 2.4: Đánh giá sự cần thiết của kỹ năng thích ứng đối với hoạt động học tập của sinh viên và giáo viên 66 Bảng 2.5: So sánh kết quả đánh giá sự cần thiết của kỹ năng thích ứng đối với hoạt động học tập của các nhóm đối tượng 67 Bảng 2.6: Đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên về mục đích học tập 69 Bảng 2.7: Đánh giá thái độ của sinh viên đối với mục đích học tập 70 Bảng 2.8: Đánh giá kỹ năng thực hiện của sinh viên trong mục đích học tập 71 Bảng 2.9: Đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên về nội dung học tập 73 Bảng 2.10: Đánh giá thái độ của sinh viên về nội dung học tập 74 Bảng 2.11: Đánh giá kỹ năng thực hiện của sinh viên trong nội dung học tập 75 Bảng 2.12: Đánh giá mức độ hiểu biết của sinh viên về phương pháp học tập 77 Bảng 2.13: Đánh giá thái độ của sinh viên về phương pháp học tập 77 Bảng 2.14: Đánh giá kỹ năng thực hiện của sinh viên trong phương pháp học tập 78 Bảng 2.15: Đánh giá mức độ biểu hiện kỹ năng thích ứng của sinh viên về các điều kiện học tập khác nhau 80 Bảng 2.16: Bảng Trị số trung bình về mức độ thể hiện kỹ năng thích ứng trong học tập của học sinh 83 Bảng 2.17: Ứng xử của SV trong những tình huống giả định 86

Trang 8

Bảng 2.18: Đánh giá của SV và GV về các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến KNTƯ xuất phát từ phía sinh viên 87 Bảng 2.19: Đánh giá của SV và GV về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến KNTƯ xuất phát từ phía giáo viên 89 Bảng 2.20: So sánh đánh giá của SV và GV về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến KNTƯ xuất phát từ phía nhà trường 90 Bảng 3.1: Bảng đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp xuất phát từ yếu

tố bên trong – phía sinh viên 100 Bảng 3.2: Bảng đánh giá mức độ tính khả thi của các biện pháp xuất phát từ sinh viên 102 Bảng 3.3: Bảng đánh giá mức độ cấp thiết các biện pháp tác động vào giáo viên 104 Bảng 3.4: Bảng đánh giá mức độ khả thi các biện pháp tác động vào giáo viên 106 Bảng 3.5: Bảng đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp xuất phát từ nhà trường 108 Bảng 3.6: Bảng đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp xuất phát từ nhà trường 110 Bảng 3.7: Lựa chọn thời điểm phù hợp nhất để hướng dẫn kỹ năng thích ứng 113

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.1: So sánh đánh giá của SV và GV về các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến KNTƯ xuất phát từ phía sinh viên 88 Biểu đồ 2.2: So sánh đánh giá của SV và GV về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến KNTƯ xuất phát từ phía giáo viên 90 Biểu đồ 2.3: So sánh đánh giá của SV và GV về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến KNTƯ xuất phát từ phía nhà trường 91 Biểu đồ 3.1: So sánh đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp từ phía sinh viên giữa các nhóm khảo sát 102 Biểu đồ 3.2: So sánh đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp từ phía sinh viên giữa các nhóm khảo sát 103 Biểu đồ 3.3: So sánh đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp xuất phát từ giáo viên giữa SV và GV 105 Biểu đồ 3.4: So sánh đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp xuất phát từ giáo viên giữa SV và GV 107 Biểu đồ 3.5: So sánh đánh giá mức độ cấp thiết của các biện pháp xuất phát từ nhà trường giữa SV và GV 109 Biểu đồ 3.6: So sánh đánh giá mức độ khả thi của các biện pháp xuất phát từ nhà trường giữa SV và GV 111 Biểu đồ 3.7: Tỉ lệ lựa chọn kỹ năng học tập cần được cung cấp để thích ứng với hoạt động học tập 112

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tốc độ phát triển của kinh tế xã hội ngày càng cao, đòi hỏi mỗi cá nhân phải có nhiều năng lực mới để thích ứng với cuộc sống đang đổi thay Đặc biệt, đối với sinh viên thì vấn đề này lại vô cùng bức thiết vì đây là nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất nước

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng

sản Việt Nam đã khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”,“tập trung nâng cao chất lượng đào tạo”, “xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh” Năm 1996, Ủy ban quốc tế về giáo dục UNICEF đã khẳng định vai trò của giáo dục là “Học để biết; Học để làm; Học để tự khẳng định mình; Học để cùng chung sống, trong đó Học để cùng chung sống được coi là một trụ cột quan trọng, then chốt của giáo dục hiện đại” Điều này cho thấy,

một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục không chỉ nhằm trang bị cho người học những tri thức chuyên môn mà còn phải hình thành kỹ năng sống, giá trị và thái độ nghề nghiệp cần thiếtđể con người bước vào đời

Khác với cách học ở phổ thông, học tập ở Đại học đòi hỏi sinh viên phải có những kỹ năng, phương pháp học tập mới để có thể tự ý thức, chủ động tìm kiếm kiến thức, tích cực và sáng tạo trong việc lĩnh hội thông tin

Do vậy, nếu sinh viên không có kỹ năng thích ứng tốt sẽ không đáp ứng được các nhu cầu mà xã hội đặt ra Bên cạnh đó, sinh viên năm 1 là những người đang chuyển từ môi trường phổ thông sang môi trường Đại học với hàng loạt

sự thay đổi từ nội dung học tập, phương pháp học, mối quan hệ bạn bè, thầy

cô khác biệt khiến các em bỡ ngỡ, hụt hẫng Ngoài ra, do hoàn cảnh sống,

Trang 12

xuất thân từ nhiều vùng miền, điều kiện kinh tế khác nhau lại phải xa nhà lên thành phố, thị trấn học – nơi tập trung các trường Đại học lớn Đa số các em không chuẩn bị tâm lý và các điều kiện để thích nghi mà ngược lại trong vài năm đầu của lứa tuổi sinh viên các em tự mày mò, cảm tính và trải nghiệm những khó khăn và thất bại Nhiều em không theo kịp, chán nản, mất hứng thú, không định hình được mục tiêu và phương hướng nên bỏ học Do vậy, việc cung cấp các kỹ năng để các em biết cách thích ứng là cực kì quan trọng nhằm hạn chế sự mất mát, tổn thương về tinh thần, hiệu quả học tập và sớm đưa các em hòa nhập vào môi trường học đường đầu tiên của Đại học

Trong khi đó, không nhiều các công trình nghiên cứu về đề tài này, vài năm trở lại đây có một số nhà tâm lý đã rất quan tâm nghiên cứu về sự thích ứng học tập, các khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập mà chưa đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm xây dựng những kỹ năng cơ bản để các em chuẩn bị tâm lý và đối đầu (ứng biến) để hòa nhập

Từ những lí do trên, đề tài “Kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1

trong hoạt động học tập tại một số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM”

được xác lập

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng này cho sinh viên

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan đến đề tài như: kỹ năng;

kỹ năng sống; kỹ năng thích ứng; hoạt động học tập; kỹ năng thích ứng trong hoạt động học tập

Trang 13

3.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập tại một số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM Làm rõ nguyên nhân của thực trạng.

3.3 Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập tại một

số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM

4.2 Khách thể nghiên cứu:

- Sinh viên năm 1 tại các trường Đại học và các giảng viên đang trực tiếp giảng dạy

5 Giả thuyết khoa học

Đa số sinh viên năm 1 tại một số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM

có kỹ năng thích ứng trong hoạt động học tập ở mức độ trung bình Có thể cải thiện kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 thông qua việc tổ chức các biện pháp hoạt động học tập phù hợp

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Giới hạn đối tượng:

Đề tài tập trung nghiên cứu kỹ năng thích ứng như là một kỹ năng sống của sinh viên trên phương diện: sự hình thành kỹ năng thích ứng – đã có hay chưa? Mức độ biểu hiện kỹ năng ở mức độ: thấp - trung bình - cao và chỉ xem xét kỹ năng này trong hoạt động học tập

Trang 14

6.2 Giới hạn về khách thể:

Trong phạm vi đề tài này, khách thể nghiên cứu chính là 476 sinh viên năm 1 tại các trường Đại học sư phạm Tp.HCM và Đại học Công nghiệp Thực Phẩm Tp.HCM, khách thể bỗ trợ là 28 GV đang giảng dạy tại 2 trường trên

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

Tiến hành phân tích các đề tài nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước về sự thích ứng, mức độ thích ứng; thích ứng trong hoạt động học tập Sau đó, hệ thống hóa các lý thuyết nói trên để xây dựng

khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu

Khi nghiên cứu lý luận, chúng tôi chủ yếu tập trung vào phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan để xác định các khái niệm công cụ; tổng hợp và phân tích nguồn gốc, các yếu tố ảnh hưởng đến tính

thích ứng; các thao tác trong kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Chúng tôi xây dựng hai bảng hỏi khác nhau dành cho sinh viên năm 1 và các thầy, cô trực tiếp giảng dạy các em để tìm hiểu về kỹ năng thích ứng và mức độ kỹ năng thích

ứng của sinh viên

Trang 15

7.3 Phương pháp toán thống kê

Sử dụng phần mềm SPSS 15 for window để xử lý số liệu khảo sát được nhằm định lượng cho nghiên cứu

8 Đóng góp của đề tài

8.1 Về mặt lý luận

Đề tài có những đóng góp về mặt lý luận sau đây:

- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến việc thích ứng trong hoạt động học tập của sinh viên

- Bước đầu nghiên cứu về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong hoạt động học tập, đặc biệt là sinh viên năm 1 và xây dựng một số khái niệm công

Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập tại một số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM

Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 1 trong hoạt động học tập tại một số trường Đại học trên địa bàn Tp.HCM

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THÍCH ỨNG

CỦA SINH VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thích ứng

“Thích ứng” hay “thích nghi” – Những thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt trong các công trình nghiên cứu về sinh vật học, chúng mang ý nghĩa chỉ những sự thay đổi của cơ thể sinh vật cho phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện và môi trường sống xung quanh Đến đầu thế kỷ 20, thuật ngữ “thích ứng” được sử dụng trong tâm lý học và một số ngành khoa học xã hội khác như khoa học giáo dục, kinh tế học, xã hội học

Người đầu tiên được coi như người khởi xướng của tâm lý học thích ứng, đó là nhà tâm lý học người Anh Herpert Spencer (1820 – 1903) với tác phẩm nổi tiếng “Những nguyên lý Tâm lý học” (1895) Với tác phẩm này, dựa trên học thuyết tiến hóa, ông đã phân tích quá trình thích ứng tâm lý ở con người để đưa ra luận điểm “Cuộc sống là sự thích ứng liên tục của các mối quan hệ bên trong và mối quan hệ bên ngoài”

Tác giả Spencer đã mở ra con đường nghiên cứu quan trọng về thích ứng tâm lý, nhưng việc xây dựng cơ chế thích ứng mới chỉ mang tính chất sinh học và các quá trình tâm lý, ý thức được coi như là một công cụ của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường Do đó, đã đánh đồng sự phát triển tâm lý

ý thức theo qui luật sinh học, mang tính chất di truyền mà không thấy được bản chất xã hội của các mối quan hệ giữa “quá trình bên trong” và “quá trình bên ngoài” của sự thích ứng

Trang 17

Năm 1980, James William với tác phẩm “The Principles of Psychology” đã tiến hành phân tích những nguyên lý của sự hình thành và phát triển tâm lý con người đã dựa trên cơ sở của thích ứng, trong đó cơ chế thích ứng là cơ chế cơ bản của sự hình thành tâm lý người Từ đó, ông cho

rằng đối tượng nghiên cứu của tâm lý học chính là: “nghiên cứu mối quan hệ giữa các quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài” và ông khẳng định đó

chính là: “Bản chất của quá trình thích ứng của cá thể”

Năm 1972, D.A Andreeva đã phân tích khá sâu sắc khái niệm thích ứng Tác giả đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng và thích nghi sinh học, đặc biệt bà đã sử dụng nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lý học hiện

đại để nghiên cứu vấn đề thích ứng Theo bà, “thích ứng là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện,hoàn cảnh mới, là sự thâm nhập vào những điều kiện mới một cách không gượng ép” Từ đó tác giả đưa ra định nghĩa về thích ứng: "là một quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu có mục đích

của nhân cách, tức là con người vừa thích nghi với điều kiện mới, vừa phải chủ động thâm nhập vào những điều kiện đó để xây dựng một chế độ hoạt động mới, phù hợp và đáp ứng những yêu cầu của điều kiện mới"

Năm 1971, V.I Alaudie và A.L Meseracov, trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các sinh viên thuộc khoa Tâm lý học - Đại học tổng hợp Maxcơva đã đi đến kết luận: Việc thích ứng của sinh viên đại học với hoạt động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình phát triển của người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm lịch

sử xã hội Như vậy, thích ứng ở đây được hiểu là khả năng tự tổ chức học tập của người học

Năm 1986, A.V Petrovxki và các đồng nghiệp nghiên cứu về vấn đề thích ứng học tập của sinh viên Ông cho rằng thích ứng học tập của sinh viên

là một quá trình phức tạp, diễn ra ở nhiều mặt như: 1/ Thích nghi với hệ thống

Trang 18

học tập mới; 2/ Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/ Thích nghi với các mối quan hệ mới

Năm 1990, B.P Allen (Mỹ) đã tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của sinh viên thông qua hệ thống các tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường đại học Theo tác giả này, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của sinh viên là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng: 1/Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian

cá nhân; 2/ Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập); 3/ Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực; 4/ Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp Theo cách hiểu này, sự thích ứng (hay không thích ứng) của sinh viên được giải thích chủ yếu do sinh viên có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức trong hệ thống giáo dục của nhà trường đại học

Tác giả B.D Vunphop đã khẳng định quá trình thích ứng như là sự hòa hợp các mối quan hệ của con người với xung quanh, là sự giảm căng thẳng các mâu thuẫn giữa con người với xung quanh, là việc con người đạt được sự cân bằng xã hội, là sự khẳng định bản thân trong cuộc sống – tất cả những điều đó đã đặt ra mục đích và nội dung của nền giáo dục thực hành Định nghĩa này không nhằm khám phá khái niệm mà chỉ đề cập đến sự cân bằng mang tính xã hội và yếu tố này đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình thích ứng mà thôi

Theo tác giả Duranop, sự thích ứng trong giáo dục phải được xem xét như là sự tham gia của các nhân vào môi trường văn hóa xã hội, như là một

“quá trình” mà ở đó các thông số chủ yếu của tính cách xã hội của cá nhân phải diễn ra phù hợp với các điều kiện mới của giáo dục

Tác giả A.G Covaliep đã chỉ rõ: Trong xã hội hiện đại, khi mức độ tích cực xã hội của sinh viên bị sụt giảm, trong điều kiện đó, nhất thiết phải xác

Trang 19

định được các cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình thích ứng của sinh viên đưa ra được các phương tiện phát triển quá trình này, và do đó cần biên soạn tài liệu phương pháp khoa học cho các nhà giáo dục bậc đại học để giáo dục sự thích ứng cho sinh viên

Về vấn đề này, E.P Llin và V.A Nhikitin cũng khẳng định rằng: Tính hiệu quả của quá trình giáo dục và việc xây dựng “sức khỏe” đạo đức và tâm

lý trong quá trình giáo dục sẽ phụ thuộc vào vấn đề sinh viên thích nghi với tốc độ đó như thế nào với các điều kiện, hoàn cảnh mới

Theo E.V.Tadevoxian, sự thích ứng với hoạt động học tập – nghề nghiệp

là năng lực của con người cải biến (cải tổ, cải tạo, biến đổi) có hiệu quả và chiếm lĩnh đối tượng của hoạt động nhận thức ở mức độ đã định của tính tích cực nhận thức mà không có sự rối loạn đáng kể nào …

Trong tâm lý học không thể bỏ qua những công trình nổi tiếng của Jean Piaget Khi bàn về sự phát triển trí tuệ của trẻ ông cũng đề cập đến vấn đề

thích ứng Ông cho rằng: “Trí thông minh là một sự thích nghi”, ông khẳng định: “Sự thích nghi là một sự cân bằng giữa đồng hóa và điều ứng” Từ đó, Piaget kết luận: “Giáo dục chính là quá trình giúp đứa trẻ thích ứng với môi trường xã hội của người lớn”

Khái quát các công trình nghiên cứu trên thế giới, ta thấy rằng các nghiên cứu tập trung và chủ yếu dừng lại ở việc nghiên cứu về lí luận chung của vấn đề thích ứng, thích ứng học tập Qua đó một số công trình cũng nhấn mạnh đến việc để nâng cao quá trình thích ứng cần phải có phương pháp khoa học, tài liệu để giáo dục

Trang 20

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung có đề tài “Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp của giáo viên Tâm lý – giáo dục” Trong đó, tác giả đã

đưa ra một số chỉ số khách quan và chủ quan để đánh gia khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo viên Tâm lý – giáo dục

Năm 1982, tác giả Nguyễn Ngọc Bích với đề tài: “Thích ứng học đường của sinh viên sư phạm” Tác giả đã phân tích hiện trạng về sự thích

ứng của sinh viên sư phạm, những yếu tố chủ quan và khách quan hướng đến

sự thích ứng đó Luận điểm mà tác giả đưa ra là: Sự thích ứng với trường học

và nghề nghiệp của sinh viên là quá trình thích nghi, hài lòng với các hoạt động học tập, nghề nghiệp trong hoàn cảnh nhất định

Tác giả Vũ Thị Nho cùng nhóm nghiên cứu trong đề tài cấp bộ: “Sự thích nghi với hoạt động học tập của học sinh tiểu học” Trong đó, tác giả đã phân tích nội dung: Sự thích nghi với hoạt động học tập ở học sinh bậc tiểu học Phân tích đặc điểm hiện trạng sự thích nghi với hoạt động học tập của học sinh đầu bậc tiểu học, những yếu tố ảnh hưởng chi phối nó, đề xuất một

số biện pháp nhằm giúp trẻ tiểu học nhanh chóng thích nghi với hoạt động học tập

Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã có nhiều công trình nghiên cứu giáo dục

hướng nghiệp và thích ứng nghề, đặc biệt với tác phẩm “Thích ứng Sư phạm”, tác giả đã đưa ra các khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân

tích các nội dung về hình thành khả năng thích ứng về lối sống của sinh viên

Sư phạm, hình thành khả năng thích ứng về tay nghề trong quá trình đào tạo cho SV sư phạm, thích ứng với qui trình lên lớp, thích ứng với hoạt động giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thoát kiết nội dung công tác chủ nhiệm lớp, thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục, bên cạnh

Trang 21

đó, tác giả đề ra một số biện pháp giúp SV đại học thích ứng với nghề Sư phạm

Nguyễn Thị Trang (1982), trường đại học sư phạm Hà Nội “Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng học tập của sinh viên khoa Tâm lý - giáo dục”

Hoàng Trần Doãn (1983), luận văn thạc sỹ “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa Văn và Toán trường đại học sư phạm Hà Nội I”

Phạm Thị Ngần (1986), Luận văn tốt nghiệp cử nhân “Tìm hiểu sự thích ứng học tập ở nữ sinh năm thứ nhất trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn”

Trịnh Ngọc Tân (1986) với đề tài “Bước đầu tìm hiểu kết quả của một

số biện pháp nâng cao tốc độ thích ứng học tập của sinh viên năm thứ nhất”

Lê Thị Hương (1998) với luận văn thạc sỹ Tâm lý học “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập ở sinh viên năm thứ nhất trường CĐSP Thanh Hoá”/

Đỗ Mạnh Tôn với luận án PTS: "Sự thích ứng của sinh viên đối với học

tập và rèn luyện của học viên các trường sỹ quan quân đội"

Năm 2003, Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự TƯ của sinh viên năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội với môi trường đại học” do PGS.TS Trần Thị Minh Đức là chủ nhiệm đề tài

Vũ Mộng Đoá (2006) với luận văn thạc sỹ Tâm lý học “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên khoa Công tác xã hội và phát triển cộng đồng trường đại học Đà Lạt”

Dương Thị Nga (2007), với luận văn thạc sỹ “Hình thành khả năng thích ứng nghề cho sinh viên CĐSP qua giảng dạy học phần: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” và luận án Tiến sĩ “Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên cao đẳng sư phạm” (Năm 2012)

Trang 22

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước về vấn đề thích ứng chưa được quan tâm nghiên cứu rộng rãi, các công trình chủ yếu xoay quanh các vấn đề tâm lý của sự thích ứng học tập, thích ứng nghề, một số biện pháp giúp các bạn trẻ, người lao động thích ứng nghề Tuy nhiên chưa có một công trình nào nghiên cứu vấn đề thích ứng dưới gốc độ kỹ năng sống – kỹ năng thích ứng, cách hình thành kỹ năng này để giúp người học, đặc biệt là các sinh viên năm 1 thích ứng với môi trường học tập ở Đại học Điều này một lần nữa khẳng định tính cấp thiết của việc nghiên cứu và triển khai luận án này, bước đầu tiếp cận thích ứng dưới gốc độ hình thành kỹ năng như là một kỹ năng sống cho người học

1.2 Lý luận về kỹ năng thích ứng của sinh viên trong hoạt động học tập 1.2.1 Kỹ năng

1.2.1.1 Khái niệm

Hiện nay, trong Tâm lý học, khi nghiên cứu về KN có hai quan niệm:

Quan niệm thứ nhất, coi KN là mặt kỹ thuật của thao tác

Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng KN là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có

KN

Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J.P.Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa KN là “thực hiện một trật tự cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [32]

Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “KN là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm

vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [31]

Tác giả N.D.Levitovxam xét KN gắn liền với kết quả hành động Theo ông, người có KN hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn

Trang 23

các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn mạnh, muốn hình thành KN con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành động, vừa phải vận dụng lý thuyết đó vào thực tế [31]

Quan niệm thứ hai, coi KN là một biểu hiện năng lực của con người

Từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “KN là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [15, tr.157]

Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) định nghĩa “KN

là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [4, tr.131]

Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng quan niệm KN là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả [33]

K.K.Platonov và G.G.Glolubev (1977) cho rằng KN là năng lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng [31]

K.K.Platonov (1963) khẳng định “KN luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của

nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” [31]

A.V.Petrovski cho rằng: Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định được gọi là KN [31]

Tác giả Đỗ Thị Châu (1999) xem xét KN một cách toàn diện trên cả hai khía cạnh: thứ nhất, KN là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định (không có KN chung chung, trừu tượng, tách rời hành động); thứ hai, KN là một biểu hiện của năng lực con người nên vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt và tính mục đích Để có KN hành động, cá nhân không

Trang 24

chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, phương thức, điều kiện hành động)

mà phải mềm dẻo, linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh theo đúng logic của nó với mọi điều kiện có thể có để đạt được mục đích của hành động KN được hình thành trên cơ sở tri thức nên người có KN thì không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều kiện khác nhau [28, tr.19-20]

Tác giả Nguyễn Thị Thúy Dung (2009) cho rằng “KN là một biểu hiện năng lực của con người thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách tiến hành đúng đắn kỹ thuật của hành động, trên cơ

sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm vốn có về hành động đó” [31,

tr.41]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2009) quan niệm “KN là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép KN không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [26, tr.6]

Từ những quan niệm trên, chúng tôi xác định:

KN là khả năng của con người vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và

sử dụng đúng những kỹ thuật thao tác để thực hiện có kết quả một hành động, hoạt động nào đó

Để có KN, phải có cả hai yếu tố:

- Thứ nhất, là những tri thức, hiểu biết của con người về hành động, hoạt động Để con người có thể hành động, trước hết họ phải hiểu về mục đích, phương thức và điều kiện diễn ra hành động đó để có những phương án thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp Đây chính là mô hình tâm lý trước khi hành động

- Thứ hai, là kỹ thuật về thao tác Mỗi hành động, hoạt động trong những

Trang 25

điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những thao tác khác nhau Do vậy, để thực hiện hành động một cách hiệu quả thì con người phải nắm chắc mặt kỹ thuật của thao tác hành động trong từng bối cảnh cụ thể

Nếu thiếu một trong hai mặt trên thì con người sẽ rất khó thực hiện hành động, hoạt động có hiệu quả

1.2.1.2 Các mức độ và giai đoạn hình thành kỹ năng

Về mức độ hình thành KN, có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này Theo quan điểm của V.P Bexpalko, có năm mức độ KN sau:

- KN ban đầu: người học biết về nội dung một dạng KN nào đó, khi cần thiết có thể tái hiện những thao tác, hành động nhất định dưới sự hướng dẫn của người dạy

- KN mức thấp: người học tự thực hiện được trình tự những thao tác cần thiết của một KN nào đó trong tình huống quen thuộc, tương tự nhưng chưa di chuyển được sang tình huống mới

- KN trung bình: người học tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển của các KN sang các tình huống mới còn hạn chế

- KN cao: người học tự lựa chọn các hệ thống các thao tác cần thiết trong các tình huống khác nhau Bước đầu, người học đã biết di chuyển KN trong phạm vi nhất định

- KN hoàn hảo: người học nắm được thành thạo hệ thống các thao tác khác nhau mà không gặp khó khăn gì [26]

Trong từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lý học của Nga và cũng là quan niệm của tác giả K.K Platonov và G.G Golubev [31], đưa ra 5 mức độ hình thành KN, đó là:

- Mức 1: có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm

Trang 26

- Mức 2: biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ

- Mức 3: có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ

- Mức 4: có những KN chuyên biệt để hành động

- Mức 5: vận dụng sáng tạo những KN trong các tình huống khác nhau

KN được hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động Để có thể hoạt động hiệu quả, con người phải có KN và KN chỉ có thể phát triển thông qua thực tiễn hoạt động Muốn tăng mức độ KN, con người phải thường xuyên rèn luyện

1.2.2 Kỹ năng sống

1.2.2.1 Khái niệm

KN sống là một khái niệm mới được đề cập đến trong những năm gần đây Tùy theo các tác giả, các tổ chức khác nhau sẽ có những quan niệm khác nhau về KN sống

UNESCO cho rằng “KN sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”

Theo tác giả Xkomni thì KN sống là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống KN sống thể hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, mối quan

Trang 27

khác, với những người xung quanh cũng như với nền văn hóa xã hội KN sống được hình thành chủ yếu dựa trên những KN về mặt tinh thần trong đó những KN này thể hiện vai trò điều tiết cuộc sống làm cho những KN hoạt động hay những KN thể chất cũng được thực thi một cách có hiệu quả

Một số nhà nghiên cứu có quan điểm gần tương đồng với quan niệm của WHO cho rằng KN sống là những KN tâm lý xã hội liên quan đến những tri thức, những giá trị và thái độ, được thể hiện bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, các thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống

Từ góc độ Tâm lý học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2008) quan niệm: “KN sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống KN nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày

có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống” [14, tr.1 - 4]

Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất với quan niệm của tác giả Huỳnh

Văn Sơn (2009) về KN sống “là những KN tinh thần hay những KN tâm lý,

KN tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống” [26, tr7] Những KN này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình

cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển KN sống còn được xem như một biểu hiện quan trọng của năng lực tâm lý – xã hội, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống vốn chứa nhiều thách thức nhưng cũng không thiếu các cơ hội

1.2.2.2 Phân loại KN sống

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), chia KN sống làm ba nhóm:

- Nhóm một - KN nhận thức, bao gồm những KN cơ bản như: tự nhận thức bản thân, tự đặt mục tiêu và xác định giá trị, KN tư duy, KN sáng tạo,

KN ra quyết định và giải quyết vấn đề

- Nhóm hai - nhóm KN liên quan đến cảm xúc, bao gồm những KN như:

Trang 28

KN nhận biết và chịu trách nhiệm về cảm xúc của mình, KN tự giám sát, tự điều khiển, điều chỉnh cảm xúc của bản thân

- Nhóm ba - nhóm KN xã hội, bao gồm các KN như: KN hợp tác, KN gây thiện cảm, KN giao tiếp – truyền thông, KN thích ứng với cảm xúc của người khác

Theo tổ chức Giáo dục, Khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) phân chia KN sống thành hai nhóm chính:

- Nhóm một, bao gồm các KN chung như: KN nhận thức, KN cảm xúc,

KN xã hội

- Nhóm hai, bao gồm các KN chuyên biệt như: các KN liên quan đến môi trường thiên nhiên, các KN liên quan đến cuộc sống gia đình, các KN liên quan đến cộng đồng, các KN liên quan đến giới tính, các KN liên quan đến sức khỏe…

Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) quan niệm KN sống gồm ba nhóm chính:

- Nhóm ba - nhóm KN ra quyết định và làm việc hiệu quả bao gồm một

số KN như: phân tích vấn đề, nhận thức thực tế, ra quyết định, ứng xử, giải quyết vấn đề…

Tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2008) chia KN sống làm ba nhóm [14, tr.1] như sau:

- Nhóm một - nhóm KN về cuộc sống cá nhân bao gồm: KN sinh hoạt cá

Trang 29

nhân, KN rèn luyện giữ sức khỏe, KN tự nhận thức bản thân, KN tự ý thức và

có trách nhiệm với bản thân, KN tự xác định mục đích, kế hoạch cuộc sống…

- Nhóm hai - nhóm KN quan hệ với người khác, với cộng đồng, xã hội bao gồm: KN giao tiếp, ứng xử, KN thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách, KN thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, KN thích ứng xã hội…

- Nhóm ba - nhóm KN công việc bao gồm: KN xác định mục tiêu công việc, KN lựa chọn và xác định các giá trị, KN hoạch định công việc, KN giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc, KN tổ chức thực hiện công việc có kết quả, KN đánh giá công việc và rút kinh nghiệm về công việc, KN chuẩn bị cho các công việc tiếp theo…

Trong thời gian gần đây, một số tác giả nước ngoài cũng đề cập đến mô hình KN sống 4 - H như hình 1.1 dưới đây [27]:

1 HEAD

* Managing: quản lý

- Resilience: tính kiên cường

- Keeping Records: quản lý dữ kiện, sổ sách

- Wise Use of Resources: sử dụng thông minh nguồn lực

- Planning/Organizing: lên kế hoạch

- Goal Setting: thiết lập mục tiêu

* Thinking: tư duy

- Service Learning: rèn luyện ý thức phục vụ

- Critical Thinking: tư duy phê phán

- Problem Solving: giải quyết vấn đề

- Decision Making: ra quyết định

- Learning to Learn: trau dồi tri thức

Trang 30

Hình 1.1 MÔ HÌNH KỸ NĂNG SỐNG 4-H (Steve McKinley)

2 HEART

* Caring: chu đáo

- Nurturing Relationships: chăm sóc mối quan hệ thân thuộc

- Sharing: chia sẻ

- Empathy: thấu cảm

- Concern for Others: quan tâm đến người khác

* Relating: Liên kết

- Accepting Differences: chấp nhận sự khác biệt

- Conflict Resolution: giải quyết xung đột

- Social Skills: thích ứng xã hội

- Cooperation: hợp tác

- Communication: giao tiếp

3 HAND

* Giving: cho đi

- Community Service Volunteering: tham gia dịch vụ công tự nguyện

Trang 31

- Leadership: lãnh đạo

- Responsible Citizenship: thực thi trách nhiệm công dân

- Contribution to Group Effort: đóng góp vào nỗ lực của nhóm

* Bein g: nhân văn

- Self-esteem: tôn trọng bản thân

- Self-responsibility: tự chịu trách nhiệm

- Character: đặc điểm cá nhân

- Managing Feelings: quản lý cảm xúc

- Self-discipline: ý thức kỷ luật

* Living: sống

- Healthy Lifestyle Choices: lựa chọn lối sống khỏe mạnh

- Stress Management: quản lý stress

- Disease Prevention: ngăn ngừa bệnh tật

- Personal Safety: an toàn cho cá nhân

Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm, KN sống là những KN tâm lý và tâm

lý – xã hội là chủ yếu cho nên những KN sống có thể được phân chia theo hai nhóm rất cơ bản đó là những KN tâm lý và những KN tâm lý - xã hội Theo quan niệm mới, một số nhà nghiên cứu đều cho rằng những KN tâm lý là những KN thiên về tinh thần của con người là chủ yếu còn những KN tâm lý -

xã hội thiên về những KN hành động, KN quan hệ với người khác

Từ đây, có thể đề cập đến những KN cơ bản sau: KN tự đánh giá, KN thích ứng, KN hòa nhập, KN xác lập mục tiêu, KN phán đoán cảm xúc, KN

Trang 32

kiềm chế cảm xúc, KN truyền thông, KN lắng nghe, KN chia sẻ, KN bày tỏ nguyện vọng, KN xây dựng và thể hiện sự tự tin, KN vượt qua áp lực, KN ứng phó với khó khăn, KN biết chấp nhận người khác, KN hợp tác, KN làm việc nhóm, KN kiểm soát bản thân và tránh lây lan, KN hành động theo mục tiêu, KN phân biệt hành vi lạm dụng và yêu thương, KN thuyết trình, KN phân tích tình huống, KN ra quyết định, KN giải quyết vấn đề, KN hành động theo mục tiêu, KN chung sống với stress, KN vượt qua khủng hoảng, KN động viên người khác, KN tư duy sáng tạo, KN quản lý thời gian, KN xây

dựng hình ảnh bản thân, KN thiết lập quan hệ xã hội

1.2.3 Thích ứng

Một số lý thuyết về sự thích ứng tâm lý

- Thuyết Tâm Lý học hành vi về vấn đề thích ứng

Tâm lý học hành vi do J.Watson khởi sướng với luận điểm cơ bản: Tâm

lý học đích thực phải lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu chứ không phải là

ý thức Theo quan điểm những người thuộc dòng phái này, về nguyên tắc, các quy luật và cơ chế thích ứng ở người giống động vật, chỉ khác là môi trường sống của con người có thêm một số yếu tố mới như ngôn ngữ và các quy tắc

xã hội Sự thích ứng ở người có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhưng không

có sự khác biệt về chất so với động vật Do đó, khi nghiên cứu sự thích ứng của con người vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hoá sinh học: thích nghi với môi trường và sống còn, liên kết và phân hoá các chức năng của chúng, kinh nghiệm loài và cá thể … Sự thích ứng của con người chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lượng [7]

Thừa kế quan điểm của các nhà Tâm lý học động vật, J Watson cho rằng để tồn tại, cá nhân có một hệ thống hành vi, ứng xử có được là do học tập Trong đó từng hành vi cụ thể có cơ sở là các kinh nghiệm, hành vi cũ và động lực là sự thích ứng Đó là quá trình cá nhân học được những hành vi mới

Trang 33

cho phép nó giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi của cuộc sống Sự kém thích ứng là không học được hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi trường Việc học tập được J Watson xem xét dưới góc độ hành thành kinh nghiệm và hành vi cá thể (tập nhiễm) … Với lý luận hành vi, ông coi con người là một cơ thể sống với một hệ thống kỹ xảo đã được học đáp ứng với những đòi hỏi của môi trường xung quanh [7]

Sau này lý thuyết Hành vi còn có một xu hướng phát triển khác là tâm

lý học hành vi nhận thức mà tiêu biểu là W Mischel Trường phái này chú trọng vai trò nhận thức của con người trong quá trình thích ứng Ông đã nhìn nhận hành vi thích ứng một cách đầy đủ toàn diện hơn Cùng với việc chú ý đến vai trò của yếu tố bên trong, W Mischel đã phát hiện ra tính tích cực của chủ thể thích ứng Mặc dù chưa vạch ra được bản chất đích thực của sự thích ứng tâm lý ở người, nhưng chủ nghĩa hành vi đã có những đóng góp nhất định vào việc giải quyết vấn đề này

- Tâm lý học nhân văn về vấn đề thích ứng

Đại diện tâm lý học Nhân văn là A Maslow Ngược lại với chủ nghĩa Hành vi, trường phái này lấy nhân cách là đối tượng nghiên cứu, xem nhân cách là một hiện tượng chỉ có ở người, là một hệ thống mở nhưng trọn vẹn và

tự thể hiện Đó là năng lực bộc lộ tiềm năng sáng tạo, tin vào bản thân và tương lai Động lực thực sự của hành vi thích ứng là nhu cầu hướng thiện, vị tha, vì xã hội Thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tư cách là chủ thể với thế giới xung quanh và với chính mình A Maslow coi thích ứng

là sự thể hiện được những cái vốn có của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định Sự không thích ứng chính là sự không được tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách Tiền đề tạo ra sự thích ứng

là một hệ thống nhu cầu của nhân cách, được sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu bẩm sinh nhưng có tính chất nhân

Trang 34

văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp được thoả mãn [35] Mặc dù không phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng (của Phân tâm học) hay quá trình học tập (của chủ nghĩa Hành vi), nhưng A Maslow có quan niệm khác

về yếu tố quy định sự thích ứng Theo ông, nhu cầu "tự thể hiện" mong muốn phát triển hết mức khả năng vốn có của bản thân và năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định

sự thích ứng của con người

Tâm lý học Nhân văn đã coi trọng tính tích cực lựa chọn và phẩm chất

tự đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân - xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lý nói chung và sự thích ứng với nghề nghiệp nói riêng Đó là tư tưởng tiến bộ của dòng phái này

- Tâm lý học Nhận thức về vấn đề thích ứng

Đại diện trường phái này là J Piaget Trong cuộc sống con người, theo J.Piaget có hai loại hoạt động gắn liền với nhau: Hoạt động tâm lý và hoạt động sinh học Trong đó, hoạt động tâm lý có nguồn gốc sinh học Cá thể chỉ tồn tại và phát triển trong mối tương tác giữa cơ thể và môi trường từ đó tạo

ra sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường, và cuối cùng cơ thể thích ứng với môi trường [19, 24] Theo tác giả, thích ứng có 3 cấp độ:

- Thích ứng sinh học (thích ứng vật chất) làm cho cơ thể bằng xương bằng thịt tồn tại và phát triển có thể nhận thức trực tiếp qua các giác quan

- Thích ứng tâm lý (thích ứng chức năng) có nguồn gốc sinh học

- Thích ứng trí tuệ: Theo J Piaget, trí tuệ không phải là cái có ngay từ đầu khi đứa trẻ mới sinh Nó là kết quả của sự tương tác giữa cơ thể và môi trường Trong quá trình tương tác giữa cơ thể và môi trường, con người tạo ra trí tuệ của mình Mỗi người tương tác như thế nào thì trí tuệ được hình thành

và phát triển theo hướng đó Tuy nhiên, J Piaget luôn khẳng định, trí tuệ có

Trang 35

nguồn gốc sinh học, cái sinh học nó tương tác với môi trường tạo nên sự cân bằng, thích ứng Trí tuệ là sản phẩm của quá trình thích nghi của cơ thể với môi trường

J Piaget đã có những đóng góp quan trọng vào lý luận về sự thích ứng tâm lý ở con người và cơ chế phát triển của thích ứng nhận thức, về những yếu tố ảnh hưởng đến nó Tuy nhiên, J Piaget đã nhìn nhận sự phát triển tâm

lý dưới góc độ thích nghi sinh học, ông chủ yếu chú ý tới mặt hình thức của

sự thích ứng mà chưa quan tâm đúng mức đến bản chất, nội dung xã hội - lịch

sử của sự thích ứng tâm lý người Ông đã đánh giá quá cao yếu tố thành thục trong sự thích ứng và sự thích ứng diễn ra như thế nào chứ chưa coi trọng vấn

đề làm thế nào để phát triển sự thích ứng ở trẻ em cũng như các giai đoạn lứa tuổi khác

- Phân tâm học về vấn đề thích ứng

Phân tâm học là do S Freud (người Áo) khởi xướng Xuất phát từ cách nhìn sinh vật học đối với nhân cách, cho rằng nhân cách là một cấu trúc tổng thể trọn vẹn với 3 thành tố “cái nó” (Id), “cái tôi” (ego) và “cái siêu tôi” (superego) có vai trò và chức năng khác nhau đối với đời sống con người Theo S.Freud, hành vi sống của con người có hình thức căn bản và được thúc đẩy bởi bản năng, mà quyết định là bản năng tính dục và bản năng xâm chiếm… Tuy nhiên, cái bản năng này luôn bị cấm đoán bởi cái xã hội (cái siêu tôi) Để tồn tại, con người phải đạt được sự cân bằng, sự hài hoà giữa hai cái đối lập “cái nó” và “cái siêu tôi” - đó chính là sự thích ứng Sự thích ứng

là sự thoả mãn hợp lý các bản năng tình dục trong những điều kiện xã hội nhất định Sự phát triển "cái tôi" nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống cá thể Lý thuyết Phân tâm cổ điển của

S Freud xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện được bản chất xã hội - lịch sử của sự thích ứng ở con người Sau này, những người kế

Trang 36

tục S Freud đã xây dựng nên trường phái Phân tâm hiện đại như: C Jung, E Fromm và E Erikson Các ông cho rằng S.Freud quá đề cao “cái nó”, cái bản năng trong hành vi con người Theo họ, "cái tôi" có vai trò quan trọng trong

sự thích ứng cá nhân,là chủ thể của hành vi chứ không chỉ là phương thức thoả mãn “cái nó” Khác với S Freud, các nhà Phân tâm học hiện đại đã coi trọng vai trò của quan hệ xã hội đối với các hành vi thích ứng của cá nhân E

Fromm cho rằng: “Cần phải xem xét hành vi thích ứng của cá nhân từ tính chất xã hội của môi trường” E Erikson thì nhấn mạnh thêm “sự thích ứng tâm lý là sự thiết lập các quan hệ xã hội của cá nhân với những người xung quanh”[34] Ứng dụng lý thuyết Phân tâm cũ và mới, các nhà tâm thần học theo S.Freud chú ý tới giải thích bản chất và cơ chế của sự thích ứng tâm lý Con người không phải là một ngoại lệ sinh học Ngay từ khi mới lọt lòng, đứa

bé nhận ra là nó đối lập với các đòi hỏi do xã hội đặt ra, đồng thời cũng là sảnphẩm của những đòi hỏi đó Sự lớn lên của đứa trẻ vừa là quá trình thích nghi

về mặt sinh học, vừa là thích ứng về mặt tâm lý Ví dụ điển hình là một đứatrẻ đói thoả mãn cơn đói bằng phương thức bú sữa mẹ Sau đó, người lớn(mẹ) bắt nó phải ăn các thức ăn với phương thức mà nó chưa có Đầu tiên nóchống lại vì không phù hợp Sau đó, sự trưởng thành về cơ thể cho phép nó ănđược thức ăn đặc Mặt khác, mẹ nó đòi hỏi nó phải ăn những thức ăn mới này.Với đứa bé, mẹ là hình thái đặc trưng của xã hội đối với nó, ứng xử mới của

trẻ (ăn) là kết quả của sự thích nghi và thích ứng để sống còn và phát triển antoàn Theo đó, quá trình hình thành và phát triển của trẻ em là một quá trìnhxảy ra các thích ứng và thích nghi để hình thành những ứng xử mới, giúp nó

xử lý thích hợp mâu thuẫn giữa cái đã có với những yêu cầu, đòi hỏi của môitrường và thoả mãn nhu cầu bản thân Nhân cách là tổng thể tất cả các ứng xửcủa cá nhân Thích ứng của con người là khả năng duy trì quan hệ giữa cánhân với môi trường sống của mình, được xác định bằng mức độ thoả mãn

Trang 37

các nhu cầu cơ bản và có thể chấp nhận được về mặt xã hội của hệ thống ứng

xử của người đó Vì vậy, thực chất quá trình hình thành nhân cách là quá trình

cá nhân thích ứng với xã hội Động lực của sự thích ứng là “lo hãi” bản năng của cá nhân trước các tình huống mới lạ, cái mà con người thường xuyên gặp phải và “lo hãi” là cái không thể loại trừ Vấn đề là con người thường xuyên phải đối phó với “lo hãi” bằng sự thích nghi và thích ứng để có hành vi phù hợp với tình huống Để có chúng, bên cạnh sự thích nghi, ở cá nhân phải có

sự thích ứng mà thựcchất là sự đối phó với tình huống bằng các phương thức tâm lý khác nhau gồm có: Phóng chiếu, chuyển dịch, huyễn tưởng, thoái lui,

né tránh, thăng hoa… Nhờ các phương thức này, con người giảm nhẹ lo hãi, tạo thế cân bằng động với môi trường và tạo ra sự hài hoà trong quan hệ giữa bản thân với người khác Mỗi hành vi ứng xử đặc thù của cá nhân trước một tình huống mới là kết quả tổng hoà của cuộc sống và thoả mãn các nhu cầu của chính mình Sự không thích ứng sẽ tạo ra những stress và là căn nguyên của đa số các trường hợp bệnh lý tâm căn Mặc dù chưa giải thích được bản chất sự thích ứng của con người, Phân tâm học chứa đựng những điểm hợp lý cần được chú ý về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề Đó là vai trò của vô thức, bản năng xung đột tâm lý trong quá trình thích ứng, hậu quả của việc thích ứng và cách thức giải toả hậu quả này

- Tâm lý học Mác xít về vấn đề thích ứng

Cùng với việc phê phán cách tiếp cận sai lầm trên, tâm lý học Mác-xít giải quyết vấn đề theo một hướng hoàn toàn khác Một mặt, thừa nhận con

người phải thích nghi với môi trường sống như là một sinh vật “vì con người

là một tồn tại tự nhiên, nên đương nhiên nó không thể đứng ngoài sự tác động của môi trường” Mặt khác, khẳng định con người là một thực thể xã hội nên

"phải đặt vấn đề" một cách khác: khi nói về con người, tức là vấn đề quan hệ

“người xã hội” trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề

Trang 38

“cơ thể - môi trường”

L.X Vưgôtxki đã chỉ rõ “Quá trình một đứa trẻ bình thường ăn nhập nền văn minh thường thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi Hai bình diện phát triển - tự nhiên và văn hoá - nhập vào nhau tạo nên một sự hình thành thống nhất xã hội - sinh vật của nhân cách trẻ” [8, tr.131] Từ quan

niệm về sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và văn hoá trong sự phát triển của trẻ em, L.X.Vưgôtxki đã đưa ra một tư tưởng mới về bản chất

sự thích nghi của con người Ông khẳng định: “Con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lượng khác và theo một tổ chức mới” L.X Vưgôtxki gọi dạng thức hành

vi chuyên biệt người này là “hành vi cấp cao” [8, tr.130] Hệ thống hành vi

cấp cao này khác biệt về chất lượng so với hành vi sinh vật Trước hết là ở các kích thích tạo ra chúng Khác với các động vật khác, con người tự tạo ra các kích thích tác động vào bản thân mình Hơn thế nữa, con người còn dùng các

kích thích tự tạo này để làm chủ hành vi của chính mình: “Con người tự kiểm soát hành vi của chính mình bằng các kích thích - phương tiện tự tạo” [8,

tr.134] Các kích thích - phương tiện được L.X Vưgôtxki coi là chìa khoá để giải quyết bản chất vấn đề thích ứng tâm lý ở người; là vấn đề có tính nguyên tắc phân biệt phương thức thích ứng ở động vật và người Theo ông, thích ứng theo nguyên tắc tín hiệu (phản xạ có điều kiện) là loại thích ứng chung cho cả người và động vật Nhưng ở người, đây không phải là phương thức thích ứng đóng vai trò chủ đạo Phương thức thích ứng đóng vai trò chủ đạo ở người có nguyên tắc khác hẳn, không có ở động vật, đó là nguyên tắc dấu hiệu Quá trình tín hiệu hoá phản ánh các mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho cơ thể đáp ứng kích thích của môi trường Việc dấu hiệu hoá cho phép con người có khả

Trang 39

năng tạo ra một loại cân bằng mới với môi trường - biến đổi chính môi trường

và biến đổi hành vi của chính mình với tư cách là một chủ thể tích cực Dấu hiệu là công cụ tâm lý để chủ thể điều chỉnh hành vi Dấu hiệu cũng như công

cụ vật chất được hình thành trong lịch sử loài người Cùng với dấu hiệu,

“cuộc sống xã hội tạo ra tất yếu buộc hành vi cá thể phải tuân thủ các yêu cầu xã hội” [8, tr.138] Đó là loại hành vi đặc thù được quy định bởi xã hội

Để có chúng, cá nhân cần phải lĩnh hội từ xã hội Mặt khác, để điều khiển những hành vi này cần có những nguyên tắc chuyên biệt người, đó là nguyên tắc tự kích thích và làm chủ bản thân Nguyên tắc này có được ở cá nhân cũng nhờ sự chuyển hoá từ tác động xã hội bên ngoài thành tác động xã hội bên

trong con người L.X Vưgôtxki viết: “Mọi chức năng trong phát triển văn hoá của trẻ xuất hiện trên vũ đài hai lần, trong hai bình diện - lúc đầu trong bình diện xã hội rồi sau đó trong bình diện tâm lý, lúc đầu giữa con người với con người, rồi sau ở bản thân trẻ, tức là có sự chuyển hoá từ ngoài vào trong, dần dần thay đổi cấu trúc và chức năng” [8, tr.156] Với việc phát hiện ra

dạng thức cấp cao của hành vi người, cơ chế của sự hình thành và điều khiển

nó ở cá nhân L.X Vưgôtxki đã thấy sự khác biệt cơ bản của sự thích ứng tâm

lý - xã hội ở người và sự thích nghi sinh học ở động vật Theo đó, sự thích ứng của trẻ em trong môi trường xã hội là một quá trình kép Một mặt trẻ hình thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác, hình thành các chức năng tâm lý cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi đó Cả hai mặt của quá trình này đều được thực hiện bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hoá - xã hội Những tư tưởng đúng đắn, biện chứng của L.X.Vưgôtxki đã được các nhà tâm

lý học Xô Viết kế thừa, phát triển và cụ thể hoá Quan điểm của ông cũng là kim chỉ nam cho việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của luận văn này

Trang 40

Xuất phát từ những luận điểm cơ bản của tâm lý học Mác- xít được khởi xướng bởi L.X Vưgôtxki, A.N Leonchiep đã phân tích sự khác biệt cơ bản giữa sự phát triển con người với sự thích nghi của cá thể sinh học về nội dung và cơ chế Ông viết: “Phải nhấn mạnh riêng về sự khác biệt giữa quá trình ấy (tiếp thu, lĩnh hội) với quá trình cá thể thích nghi với môi trường tự nhiên, vì gần như mọi người chấp nhận rằng, có thể đem khái niệm thích nghi, cân bằng với môi trường dùng nguyên vẹn vào cho sự phát triển cá thể người Nhưng dùng khái niệm ấy vào cho người mà không có sự phân tích cần thiết, thì chỉ làm lu mờ sự phát triển thực sự của người” [9, tr.94] A.N Leonchiep chỉ rõ “Sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó và các quá trình lĩnh hội, tiếp thu là ở chỗ quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài và năng lực, hành

vi của cơ thể Quá trình lĩnh hội hay tiếp thu thì khác Đó là quá trình mang lại kết quả: cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử” [9, tr.95] “Những năng lực và chức năng hình thành ở con người trong quá trình ấy là các cấu tạo tâm lý mới Đối với những cấu tạo này, các cơ chế và quá trình bẩm sinh, di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong (tiền đề) giúp cho các cấu tạo tâm lý mới có thể xuất hiện” [9, tr.96] Ông thừa nhận: “Sự phát triển của con người cũng mang tính chất môi trường (tức là phụ thuộc vào những điều kiện bên ngoài), nhưng khác với tiến hoá động vật, sự phát triển của con người không phải là quá trình thích nghi hiểu theo nghĩa của từ này” [9, tr.99] Như vậy, bản chất và

nội dung sự thích ứng của người và sự thích nghi sinh vật có sự khác biệt về chất A.N.Leonchiep cũng vạch ra sự khác biệt về cơ chế của sự hình thành hành vi động vật và người Ở động vật, hành vi được hình thành bởi kinh nghiệm loài và cá thể, trong đó sự hình thành kinh nghiệm cá thể là đem hành

vi loài thích nghi với những yếu tố biến động của môi trường bên ngoài Còn

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w