1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kĩ năng thể hiện cảm xúc trong trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố cần thơ

163 78 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, ở thành phố Cần Thơ chưa có công trình nghiên cứu nào về kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi... Từ những lý do trên, tôi quyết định chọ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Phượng

KĨ NĂNG THỂ HIỆN XÚC CẢM TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Phượng

KĨ NĂNG THỂ HIỆN XÚC CẢM TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN THỊ QUỐC MINH Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề

của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Cần Thơ”

là luận văn đầy tâm huyết của tôi Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực

và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả Nguyễn Thị Phượng

Trang 4

TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề 7 1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm và trò chơi trẻ em trên thế giới 7 1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm và kĩ năng thể hiện xúc cảm trong

trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Việt Nam 10 1.2 Cơ sở lí luận về kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 14 1.2.1 Một số khái niệm 14 1.2.2 Đánh giá khả năng nhận biết và bộc lộ xúc cảm của trẻ theo Bộ chuẩn

phát triển trẻ em 5 tuổi 38 1.2.3 Vai trò của xúc cảm và trò chơi ĐVTCĐ đối với sự phát triển của trẻ 5

– 6 tuổi 42 1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kĩ năng thể hiện

xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 45

Tiểu kết chương 1 52 Chương 2 THỰC TRẠNG KĨ NĂNG THỂ HIỆN XÚC CẢM TRONG

TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ CỦA TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 54

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 54

Trang 5

2.1.1 Mục đích nghiên cứu 54

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 54

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu 54

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 67

2.2.2 Thực trạng kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong trò chơi ĐVTCĐ 79

2.2.3 Thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố đến kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ 92

2.2.5 Nguyên nhân của thực trạng 96

2.3 Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 98

2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 98

2.3.2 Những nhóm biện pháp rèn luyện kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 101

2.3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 106

Tiểu kết chương 2 111

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 117 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐVTCĐ : Đóng vai theo chủ đề

MN : Mầm non ĐTB : Điểm trung bình

Trang 7

được thể hiện qua tranh ảnh 68 Bảng 2.4 Kết quả số lượng trẻ đạt ở từng mức tổng điểm khả năng nhận

biết xúc cảm qua tranh ảnh 69 Bảng 2.5 Kết quả số lượng trẻ đạt về khả năng nhận biết từng trạng thái

xúc cảm ở mỗi bức tranh 71 Bảng 2.6 Kết quả khả năng nhận biết của trẻ về các trạng thái xúc cảm

được thể hiện qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói của cô giáo 72 Bảng 2.7 Kết quả số lượng trẻ đạt ở từng mức tổng điểm khả năng nhận

biết xúc cảm của cô giáo 74 Bảng 2.8 Kết quả số lượng trẻ đạt về khả năng nhận biết các trạng thái

xúc cảm thể hiện qua từng loại phương tiện 76 Bảng 2.9 Kết quả so sánh khả năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của

trẻ giữa 3 trường 78 Bảng 2.10 Kết quả so sánh điểm trung bình nhận biết của trẻ theo từng

cặp trường 79 Bảng 2.11 Kết quả khảo sát mức độ thường xuyên thể hiện các trạng thái

xúc cảm của trẻ trong một tuần khi trẻ đóng vai 80 Bảng 2.12 Kết quả kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ thông

qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói khi trẻ đóng vai 82 Bảng 2.13 Kết quả số trẻ đạt được ở từng mức tổng điểm kĩ năng thể hiện

xúc cảm của 3 trường mầm non 84

Trang 8

Bảng 2.14 Kết quả số lượng trẻ đạt về kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc

cảm qua từng loại phương tiện khi đóng vai 86 Bảng 2.15 Kết quả số lượng giáo viên đánh giá trẻ đạt ở từng loại phương

tiện thể hiện các trạng thái xúc cảm khi đóng vai 88 Bảng 2.16 Kết quả so sánh kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ

giữa 3 trường 90 Bảng 2.17 Kết quả so sánh điểm trung bình kĩ năng theo từng cặp trường 91 Bảng 2.18 Kết quả ảnh hưởng của các nhân tố đến kĩ năng thể hiện các

trạng thái xúc cảm của trẻ 92 Bảng 2.19 Kết quả sử dụng các biện pháp để rèn luyện kĩ năng thể hiện

các trạng thái xúc cảm cho trẻ 94 Bảng 2.20 Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên về tính cần thiết của các biện

pháp 107 Bảng 2.21 Kết quả khảo sát ý kiến giáo viên về tính khả thi của các biện

pháp 109

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tần số của từng mức tổng điểm nhận biết xúc cảm qua tranh

của trẻ tại 3 trường 70 Biểu đồ 2.2 Tần số của từng mức tổng điểm nhận biết xúc cảm của trẻ

qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói của cô tại 3 trường mầm non 75 Biểu đồ 2.3 Tần số của từng mức tổng điểm kĩ năng thể hiện xúc cảm của

trẻ tại 3 trường mầm non 83

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc giáo dục cho trẻ biết cách thể hiện xúc cảm ra bên ngoài một cách phù hợp không những tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng hòa đồng với bạn bè, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh và tự tin trong giao tiếp, mà còn giúp trẻ khắc phục sự dồn nén, nhờ đó đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực như: mặc cảm tự ti hay vô cảm, hung hăng, bướng bỉnh… Giáo sư Gottman quan sát

và thấy rằng: “Biểu lộ xúc cảm rất có lợi với hệ thống thần kinh, có thể giúp trẻ nhanh chóng trở lại bình thường” Khi chúng ta giúp trẻ biểu lộ xúc cảm có nghĩa là khiến chúng bắt đầu suy nghĩ tìm hiểu về trạng thái của mình, nhìn nhận lại bản thân [7]

Khi chúng ta giúp trẻ nhận biết xúc cảm của người khác và hiểu nguồn gốc những xúc cảm đó, cũng như ảnh hưởng của nó đến những người xung quanh thì cũng có nghĩa là chúng ta đang gián tiếp giáo dục cho trẻ biết cách điều chỉnh xúc cảm, hành vi của chính mình Đây là một khả năng rất cần thiết

để sau này trẻ thành công trong cuộc sống

Theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 22 tháng 07 năm 2010, trong đó có quy định cụ thể tại Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT về những điều mong đợi ở khả năng nhận biết và thể hiện các trạng thái xúc cảm qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói của trẻ mẫu giáo

5 – 6 tuổi Đây là nội dung giáo dục rất quan trọng đối với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, nó đã được trình bày rõ ở các chỉ số 35, 36, 61 [4] Hơn nữa, nội dung giáo dục này cũng được thể hiện đầy đủ trong lĩnh vực Phát triển tình cảm – kĩ năng

xã hội của Chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành theo Quyết định số 17/2009/TT – BGDĐT ngày 25/7/2009, đó là “Giáo dục trẻ nhận biết và thể hiện xúc cảm, tình cảm với con người, sự vật và hiện tượng xung quanh” [48]

Trang 11

Trò chơi đóng vai theo chủ đề (ĐVTCĐ) là con đường hiệu quả nhất để phát triển xúc cảm cho trẻ, đặc biệt là trẻ mẫu giáo Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tham gia vào cuộc chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn có của nó, vì thế trò chơi ĐVTCĐ thâm nhập một cách dễ dàng hơn cả vào thế giới xúc cảm – tình cảm của trẻ độ tuổi này Dẫu biết rằng, trong trò chơi mọi thứ đều mang ý nghĩa tượng trưng, đều không có thật, nhưng xúc cảm, tình cảm mà trẻ biểu hiện trong đó là chân thực nhất Không có một hoạt động nào ở tuổi mẫu giáo lại có thể giúp trẻ bộc lộ xúc cảm của mình một cách chân thật thông qua vai chơi như

là trò chơi ĐVTCĐ [30]

Thực tế ở các trường mầm non hiện nay, phần lớn giáo viên chưa thật sự đánh giá cao giờ hoạt động góc, đặc biệt là góc phân vai, chưa chú trọng nhiều đến kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong quá trình đóng vai từng nhân vật trong các chủ đề Trong giờ chơi, giáo viên chỉ bao quát chung chung chứ chưa có sự hòa nhập vào cuộc chơi cùng trẻ, chưa thường xuyên tạo tình huống để trẻ bộc lộ các trạng thái xúc cảm thông qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói phù hợp với vai chơi Đối với một số lớp quá đông cô không có điều kiện theo sát từng trẻ, chưa có sự động viên khích lệ hay lôi cuốn trẻ vào cuộc chơi, vì vậy một số trẻ không có khả năng hòa nhập với bạn bè, thụ động trong giờ chơi, một số trẻ thì lầm lì, nhút nhát

Trong những năm gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu về xúc cảm, nhưng nghiên cứu về kĩ năng thể hiện xúc cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thì rất ít

Năm 2013 có luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Thạch Thảo nghiên cứu về

“Kĩ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đi sâu tìm hiểu kĩ năng thể hiện xúc cảm thông qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói của trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ Cho đến nay, ở thành phố Cần Thơ chưa có công trình nghiên cứu nào về kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trang 12

Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Kĩ năng thể hiện xúc

cảm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Cần Thơ” để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ MG 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Cần Thơ, từ đó đề xuất một số biện pháp tác động đến kĩ năng thể hiện xúc cảm của trẻ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu các vấn đề lí luận như: hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về xúc cảm và trò chơi trẻ em trên thế giới và trong nước, làm rõ các khái niệm: kĩ năng, xúc cảm, kĩ năng thể hiện xúc cảm, trò chơi ĐVTCĐ, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, vai trò của xúc cảm và trò chơi ĐVTCĐ, các nhân tố ảnh hưởng đến kĩ năng thể hiện xúc cảm

- Khảo sát thực trạng kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Cần Thơ

- Đề xuất một số biện pháp tác động đến kĩ năng thể hiện xúc cảm của trẻ

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

4.2 Khách thể nghiên cứu

Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: 103 trẻ

Giáo viên phụ trách lớp mẫu giáo: 81 giáo viên

5 Giả thuyết nghiên cứu

Kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở 3 trường mầm non tại thành phố Cần Thơ đạt ở mức trung bình và có sự khác biệt về điểm trung bình giữa 3 trường

Trang 13

6 Giới hạn nghiên cứu

6.1 Giới hạn khách thể và địa bàn nghiên cứu

- Khảo sát 103 trẻ ở trường mầm non: trường mầm non Thực hành (quận trung tâm), trường mầm non Lê Bình (gần trung tâm), trường mầm non Trường Xuân A (huyện)

- Khảo sát 81 giáo viên đã và đang phụ trách lớp mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở

13 trường mầm non tại thành phố Cần Thơ

6.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu

- Đánh giá khả năng nhận biết xúc cảm của trẻ qua tranh ảnh và qua nét mặt cử chỉ, biểu cảm lời nói của cô giáo dựa vào Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, trên cơ sở đó khảo sát kĩ năng thể hiện các trạng thái xúc cảm của trẻ qua nét mặt cử chỉ, biểu cảm lời nói trong trò chơi ĐVTCĐ

7 Phương pháp nghiên cứu

- Mục đích: Làm rõ các vấn đề lí luận của đề tài

- Cách thực hiện: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến

đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp sử dụng bài tập

- Mục đích: Đánh giá khả năng nhận biết xúc cảm của trẻ qua tranh ảnh và

qua nét mặt cử chỉ, biểu cảm lời nói của giáo viên

- Cách thực hiện:

+ Bài tập 1: “Xem hình và đoán”

Cho trẻ quan sát 6 tấm hình thể hiện 6 nét mặt, 6 trạng thái xúc cảm: vui, buồn, ngạc nhiên, giận dữ, sợ hãi, xấu hổ Sau đó người nghiên cứu yêu cầu trẻ chỉ vào từng tấm hình đúng với câu hỏi Ví dụ: người nghiên cứu hỏi “Hình nét mặt vui đâu?”, nếu trẻ chỉ đúng hình mặt vui thì người nghiên cứu đánh “X” vào cột “Đạt” ở phần 1 của phiếu đánh giá

Trang 14

+ Bài tập 2: “Xem cô làm và đoán”

Cô giáo lần lượt biểu lộ từng trạng thái xúc cảm qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm của lời nói (theo những tiêu chí gợi ý của người nghiên cứu – phụ lục 1) để trẻ quan sát, lắng nghe và yêu cầu trẻ nói đúng trạng thái xúc cảm mà cô vừa thể hiện Ví dụ: cô giáo nói với trẻ “Bây giờ con hãy nhìn xem cô biểu lộ xúc cảm

và đoán xem cô vui hay buồn, cô ngạc nhiên hay giận dữ … nhé!” Nếu trẻ nói đúng xúc cảm mà cô thể hiện lần lượt qua nét mặt, cử chỉ và qua biểu cảm lời nói thì người nghiên cứu đánh “X” vào cột “Đạt” ở phần 2 của phiếu đánh giá

7.2.2 Phương pháp quan sát

- Mục đích: Khảo sát kĩ năng thể hiện 6 trạng thái xúc cảm của trẻ qua nét

mặt cử chỉ, biểu cảm lời nói khi đóng vai

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục đích: Thu thập thông tin của giáo viên chủ yếu về mức độ ảnh hưởng

của các nhân tố và thực trạng sử dụng biện pháp để rèn kĩ năng thể hiện xúc cảm cho trẻ

- Cách thực hiện: Phát phiếu thăm dò ý kiến để giáo viên trả lời

7.2.3 Phương pháp trò chuyện

- Mục đích: Thu thập thêm thông tin để làm rõ nguyên nhân của thực trạng

vấn đề nghiên cứu

- Cách thực hiện: Trò chuyện thân mật với một số giáo viên với những câu

hỏi có chuẩn bị trước

7.3 Phương pháp thống kê toán học

- Mục đích: Xử lí thông tin thu thập được theo phương thức định lượng

Trang 15

- Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để:

+ Tính tổng, đếm tần số, tính tỉ lệ phần trăm, tính điểm trung bình

+ Phân tích phương sai One – way Anova và phân tích sâu Anova

Trong các phương pháp trên, phương pháp sử dụng bài tập và phương pháp quan sát là 2 phương pháp chủ đạo của đề tài

8 Đóng góp của đề tài

8.1 Về mặt lí luận

- Tổng hợp và làm rõ nhiều lí luận có liên quan đến đề tài

- Xây dựng một số khái niệm quan trọng: khái niệm kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, khái niệm nét mặt, cử chỉ, biểu cảm lời nói của trẻ khi đóng vai

8.2 Về mặt thực tiễn

- Đánh giá được khả năng nhận biết xúc cảm của trẻ và kĩ năng thể hiện xúc cảm qua nét mặt cử chỉ và biểu cảm lời nói khi đóng vai của trẻ ở 3 trường mầm non tại thành phố Cần Thơ

- Đề xuất một số biện pháp để giáo viên rèn kĩ năng thể hiện xúc cảm cho trẻ trong trò chơi ĐVTCĐ

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KĨ NĂNG THỂ HIỆN XÚC CẢM TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ CỦA

TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI

1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm trên thế giới

Việc nghiên cứu về xúc cảm diễn ra theo nhiều hướng khác nhau Theo hướng nghiên cứu khía cạnh sinh lí về xúc cảm thì có một số lí thuyết sau:

Trước hết phải kể đến thuyết sinh lí về xúc cảm của Jame – Lange Đây là

lí thuyết tương đối đầy đủ đầu tiên và đơn giản nhất về xúc cảm, nó ra đời nhờ

sự kết hợp của nhà triết học, tâm lí học người Mỹ, William James và nhà sinh lí người Đan Mạch, Carl Lange Thuyết này coi xúc cảm là tổng hợp các thay đổi sinh lí của cơ thể, xuất hiện trước một tác động từ bên ngoài được con người nhận thức Chẳng hạn, ta đang run rẩy do đó ta mới cảm thấy sợ hãi Mặc dù lí thuyết này còn nhiều điểm khó chấp nhận nhưng nó cũng có sức ảnh hưởng vào những năm 20 – 40 của thế kỉ XX [53]

Kế đến là lí thuyết Cannon – Bard của 2 tác giả: Walter Cannon và Philip Bard Hai tác giả này đã chứng minh rằng các trạng thái xúc cảm và những thay đổi sinh lí của cơ thể xảy ra đồng thời nhưng độc lập với nhau, không có quan

hệ gì với nhau cả [60]

Nghiên cứu theo hướng nhận thức về xúc cảm thì có lí thuyết Schachter – Singer do sự đóng góp rất lớn của Stanley Schachter và học trò của ông, Jerome Singer Họ cho rằng xúc cảm diễn ra nhờ quan sát hoàn cảnh hiện tại của chúng

ta và so sánh bản thân chúng ta với người khác Do đó xúc cảm là kết quả của

Trang 17

quá trình gồm 2 giai đoạn: kích thích sinh lí nói chung và kinh nghiệm của cảm xúc [72]

Lí thuyết thẩm định xúc cảm (appraisal theory) của Magda B.Anold và Richard Lazarus cũng nghiên cứu theo hướng này Tác giả cho rằng chất lượng

và cường độ của cảm xúc được điều khiển bởi quá trình nhận thức P.M.Iacovson cũng chỉ ra rằng xúc cảm của người xuất hiện khi các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan tác động vào bộ não người mà họ nhận thức và làm ra được Theo hướng nghiên cứu này còn có các nhà tâm lí học như H.Spencer (1890), W.Wundt (1896), S.L.Rubinxtein (1946), A.N.Leonchiev (1971), P.K.Anokhin (1964), R.Lazarus (1964), P.V.Ximonov (1981), Luk (1982)… Các kết quả nghiên cứu của họ đã chứng minh rằng nguồn gốc xúc cảm của con người là từ nhận thức [45]

Gần đây, nhiều nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa những thay đổi biểu hiện khuôn mặt và sự trải nghiệm các xúc cảm khác nhau Lí thuyết quá trình đối lập của xúc cảm (Opponent - Process theory) được phát triển bởi 2 nhà tâm lí học R.Solomon và J.Corbit năm 1974 thì cho rằng mỗi trạng thái hoặc xúc cảm mà chúng ta trải nghiệm sẽ kích thích một động lực khác để trải nghiệm xúc cảm đối lập Ví dụ: niềm vui tạo ra sự đối lập với nó là nỗi đau, trầm cảm đối lập với hứng khởi [73]

Silvan Tomkins (1962, 1963) là người đã làm sống lại học thuyết của Darwin và nghiên cứu về các biểu hiện xúc cảm của khuôn mặt, sau đó được Carroll E.Izard (1971, 1972) và Paul Ekman (1972), Wallace Friesen (1971), Robert Plutchik (1980) tiếp tục phát triển C.Izard chủ yếu là nghiên cứu về vai trò của xúc cảm trong sự phát triển nét mặt của con người và đã cho ra đời nhiều tác phẩm như: “Bộ mặt của các cảm xúc” (1971); “Những phức hợp các cảm xúc” (1972); “Những cảm xúc ở người” (1977) P.Ekman đã bỏ ra hơn 40 năm quan sát nét mặt của con người và tạo ra “bản đồ cảm xúc” (atlas of emotions) với hơn 10.000 biểu hiện xúc cảm khác nhau trên khuôn mặt Còn Plutchik lại

Trang 18

dùng một “bánh xe cảm xúc” (wheel of emotions) để minh họa 8 xúc cảm cơ bản của con người, mô hình này đã chứng minh rằng các xúc cảm khác nhau có thể được kết hợp hoặc pha trộn với nhau [8], [67]

Quyển sách “Bắt sóng cảm xúc” của 2 tác giả Ori Brafman và Rom Brafman (2011) đã chỉ ra những chất xúc tác giúp rút ngắn khoảng cách vô hình giữa những người mới quen Theo tác giả, bản tính dễ xúc động cho phép người khác thấu hiểu và tiếp cận con người thật nhất của chúng ta Sự gần gũi giúp chúng ta nhìn nhận mọi người xung quanh như những cá nhân độc lập hơn là những người hoàn toàn xa lạ, để từ đó nuôi dưỡng cảm xúc yêu thương Hiện tượng cộng hưởng cảm xúc làm tăng sự gắn kết giữa ta với những người xung quanh Và chính những điểm tương đồng sẽ giúp thắt chặt mối gắn kết đó

1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trò chơi trẻ em trên thế giới

Những thành tựu nghiên cứu cực kì quan trọng liên quan đến trò chơi trẻ

em của thế kỉ XX phải kể đến tên tuổi của các nhà tâm lí học, giáo dục học lớn như: N.K.Krupxkaia, A.X.Macarencô, L.X.Vưgôtxki, Đ.B.Elcônhin, A.V Zaparôgiét, A.N.Lêonchép (Liên Xô cũ), Gi.Piagiê (Thụy Sĩ), S.Frớt (Áo), S.Smilansky (Israel), M.Parten, K.H.Rubin, G.Fein (Hoa Kì)…Kết quả nghiên cứu của họ góp phần xây dựng lí luận về trò chơi trẻ em với những nội dung cơ bản như: vấn đề bản chất của hoạt động chơi, vai trò chủ đạo của hoạt động chơi trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ, xây dựng định nghĩa chơi là gì, vấn đề phân loại trò chơi trẻ em, xây dựng cơ sở cho việc đi sâu tìm hiểu loại trò chơi mô phỏng, phương pháp nghiên cứu trò chơi trẻ em…[19]

Vào những năm bốn mươi, các cộng sự và học trò của L.X.Vưgôtxki, Đ.B.Elcônhin, A.V.Zaparôgiét, A.N.Lêonchép…đã thực hiện hàng loạt nghiên cứu về hoạt động chơi của trẻ Đó là những công trình nghiên cứu do O.N.Varsavxkaia, I.A.Gersezôn, T.I.Kanhicôva, F.I.Fratkina, L.X.Xlavina, D.V.Manuilencô… tiến hành dựa trên quan điểm duy vật biện chứng Kết quả những nghiên cứu đã chứng minh: Hoạt động chơi không nảy sinh một cách tự

Trang 19

phát mà do những ảnh hưởng có ý thức hoặc không có ý thức từ phía người lớn

và bạn bè xung quanh trẻ; giao tiếp xã hội đóng vai trò cực kì quan trọng trong

sự hình thành và phát triển hoạt động chơi của trẻ [19]

Những năm ba mươi, công trình như “Bắt chước và tưởng tượng ở tuổi ấu thơ” (1930), “Vai trò của vui chơi trong sự phát triển” (1933)…, L.X.Vưgôtxki

đã lí giải và phân tích vai trò của hoạt động chơi nhất là dưới dạng các trò chơi

mô phỏng Ông đã chỉ ra rằng, chính những trò chơi này tạo ra “vùng cận phát triển”, là điều kiện thuận lợi nhất cho sự hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách; trong trò chơi lần đầu tiên trí tưởng tượng xuất hiện; “hoàn cảnh chơi” mang tính tưởng tượng là con đường dẫn tới trừu tượng hóa; việc thực hiện các qui tắc chơi là trường học rèn luyện các phẩm chất ý chí; trò chơi là

phương tiện hóa trẻ em tích cực nhất [57]

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm và kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở Việt Nam

1.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề xúc cảm ở Việt Nam

Vấn đề xúc cảm (cảm xúc) được nghiên cứu rất nhiều ở Việt Nam trong những năm gần đây Nếu tìm hiểu kĩ chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

Nghiên cứu về biểu hiện cảm xúc của học sinh thì có tác giả Đào Thị Oanh [36] Khi nghiên cứu về thực trạng biểu hiện của một số cảm xúc và kĩ năng đương đầu với cảm xúc tiêu cực ở thiếu niên năm 2009, tác giả nhận thấy rằng học sinh thiếu niên hiện nay có biểu hiện cảm xúc tích cực là chủ yếu, không có

sự khác biệt giữa học sinh nam và nữ, giữa học sinh nội thành và ngoại thành, giữa các khối lớp về xu hướng biểu hiện các cảm xúc

Năm 2013, tác giả Trần Thị Thu Vân nghiên cứu “Biểu hiện xúc cảm – tình cảm của trẻ mồ côi 7 – 11 tuổi qua tranh vẽ tại làng trẻ em SOS” Kết quả nghiên cứu cho thấy biểu hiện xúc cảm của trẻ mồ côi rất đa dạng, vừa có xúc cảm tích cực vừa có xúc cảm tiêu cực Những xúc cảm phổ biến nhất ở các em

Trang 20

là những xúc cảm tiêu cực: sợ hãi, dễ nóng giận, buồn bã, tự ti, dễ hờn dỗi, tủi thân…được tác giả tìm hiểu thông qua việc phân tích 12 trường hợp gặp gỡ và làm việc với các em [55]

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Hoàng Thị Thu Thủy (2014) thì lại nghiên cứu tình cảm của trẻ thông qua việc khảo sát biểu hiện của các xúc cảm

cụ thể bằng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ và lời nói Kết quả nghiên cứu “Biểu hiện tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” cho thấy biểu hiện tình cảm trí tuệ là nổi bật nhất, còn biều hiện tình cảm thẩm mĩ thì ít rõ ràng hơn, đặc biệt là biểu hiện tình cảm đạo đức được đánh giá là thấp nhất [45]

Riêng đề tài khoa học cấp Bộ của tác giả Ngô Công Hoàn (2006) nghiên cứu “Những biểu hiện xúc cảm và các biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ từ 1 –

3 tuổi” đã trình bày rất rõ và rất sâu lí luận về xúc cảm và đề xuất các biện pháp giáo dục xúc cảm cho trẻ rất hiệu quả Đây là công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn [24]

Tìm hiểu về mức độ ảnh hưởng của cảm xúc tiêu cực thì có nghiên cứu của tác giả Đinh Quỳnh Châu (2011) với đề tài “Ảnh hưởng cảm xúc giận dữ lên hành vi ứng xử của người lao động trí thức trẻ tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh” [10] Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết người lao động trí thức trẻ tuổi cảm thấy tức giận vài lần trong một tháng và không đều nhau, có sự khác biệt lớn về mức độ Nhiều người thấy hầu như ngày nào cũng giận nhưng cũng có người thấy rất hiếm khi giận

Năm 2013, quyển sách “Bạn biết gì về giác quan và cảm xúc” của tác giả Hoàng Thanh Minh chỉ ra cho chúng ta thấy sức mạnh của xúc cảm Tập sách đã

đề nghị với bạn đọc cách thức điều hành xúc cảm với sự kiểm soát và can thiệp thường trực của lí trí, cơ chế pháp năng trong bản thể con người, để chiến đấu với những hấp lực quyến rũ từ bên ngoài xâm lấn vào bản thể và cũng để khắc chế dục vọng sai lầm [33]

Trang 21

Vấn đề xúc cảm còn được nghiên cứu ở khía cạnh khác Tìm hiểu về tự điều chỉnh cảm xúc có tác giả Võ Thị Tường Vy với nghiên cứu “Tự điều chỉnh cảm xúc của người làm tham vấn tại thành phố Hồ Chí Minh” Kết quả nghiên cứu lí luận cho thấy cảm xúc của con người có thể được điều chỉnh Có sự thống nhất rất cao giữa các nhà khoa học về 2 khái niệm “điều chỉnh cảm xúc” và “tự điều chỉnh cảm xúc” Theo tác giả 2 khái niệm “xúc cảm” và “cảm xúc” về bản chất là giống nhau [54]

Năm 2015, nghiên cứu “Tự điều chỉnh cảm xúc âm tính của học sinh tại một số trường trung học cơ sở tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” của tác giả Châu Hà Li đã khẳng định rằng tự điều chỉnh cảm xúc là bộ phận cấu thành của trí tuệ cảm xúc [28]

Khả năng kiểm soát cảm xúc cũng là vấn đề được tác giả Lê Thị Ngọc Thương quan tâm Trong nghiên cứu “Khả năng kiểm soát cảm xúc của học sinh

ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” (2011), tác giả

đã khảo sát khả năng kiểm soát cảm xúc giận dữ, cảm xúc xấu hổ và cảm xúc sợ hãi của học sinh thông qua hành động, lời nói và những biểu hiện sinh lí trên cơ thể [47]

Khi xúc cảm được nghiên cứu ở góc độ kĩ năng thì có rất nhiều đề tài liên quan đến vấn đề này Khóa luận tốt nghiệp đại học (2011) của tác giả Đàm Thị Bình Yên đã nghiên cứu “Kĩ năng quản lí cảm xúc giận dữ của học sinh trường trung học cơ sở Châu Văn Liêm, quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh” và cho thấy kĩ năng quản lí cảm xúc giận dữ của học sinh phân hóa ở nhiều mức độ, trong đó khả năng tự nhận biết cảm xúc giận dữ đạt mức trung bình, khả năng tự điều khiển cảm xúc giận dữ đạt mức cao [59]

Năm 2013, luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Thạch Thảo đã nghiên cứu

“Kĩ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” theo hướng xem kĩ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc chính là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc Kết quả nghiên cứu cho thấy kĩ năng

Trang 22

cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ chưa cao, chưa được giáo viên quan tâm nhiều, nó chỉ được lồng ghép trong các hoạt động khác nên chưa được chú trọng phát triển [44]

Tác giả Trần Thanh Bình cũng có biên soạn quyển sách “Giúp trẻ cảm nhận và thể hiện cảm xúc” (2013), trong đó có đề cập đến rất nhiều phương pháp nhằm giúp trẻ cảm nhận và thể hiện cảm xúc [7]

Nghiên cứu về biện pháp giáo dục xúc cảm thì có tác giả Đặng Ngọc Quyên với luận văn thạc sĩ “Biện pháp giáo dục kĩ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh” (2014) Trong luận văn này, tác giả đã đề xuất và thực nghiệm 6 biện pháp có tính khả thi và hiệu quả cao [39]

1.1.2.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề trò chơi trẻ em và trò chơi ĐVTCĐ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, phần lớn những công trình nghiên cứu liên quan đến trò chơi trẻ em tập trung vào việc khai thác trò chơi nhất là trò chơi có luật vào mục đích giáo dục Những công trình nghiên cứu có liên quan đến phương pháp hướng dẫn trẻ chơi trò chơi mô phỏng có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Thị Tuất

và các tác giả khác với “Hướng dẫn chơi tập cho trẻ 3 – 36 tháng” (1992), tác giả Lê Minh Thuận – “Trò chơi phân vai theo chủ đề và sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo” (1989), tác giả Nguyễn Ánh Tuyết – “Tổ chức hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi” (1996), “Trò chơi của trẻ em” (2000)…[19]

Trò chơi ĐVTCĐ gần đây được một số tác giả quan tâm nghiên cứu và có rất nhiều luận văn thạc sĩ liên quan đến vấn đề này Năm 2005, tác giả Nguyễn Thùy Thu Loan nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thực trạng tổ chức trò ĐVTCĐ cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi trong chương trình đổi mới giáo dục mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh ” Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lập kế hoạch tổ chức, hướng dẫn trò chơi đóng vai theo chủ đề của giáo viên chưa đáp ứng với yêu cầu của lí luận cũng như thực tiễn giáo dục [29]

Trang 23

1.1.2.3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ ở Việt Nam

Tác giả Lê Thị Luận nghiên cứu về “Mức độ thể hiện xúc cảm bản thân của trẻ 4 – 5 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non”, trong đó tập trung vào 6 loại xúc cảm cơ bản: vui mừng, ngạc nhiên, yêu thương, sợ hãi, buồn bã, tức giận của trẻ tại tỉnh Hà Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ thể hiện khá rõ xúc cảm tích cực lẫn tiêu cực trong khi chơi

Nghiên cứu “Giáo dục trẻ 4 – 5 tuổi nhận biết và thể hiện xúc cảm của bản thân qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” cũng do tác giả Lê Thị Luận thực hiện Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra 5 biện pháp nhằm giúp trẻ nhận biết và thể hiện chính xác xúc cảm của bản thân, hạn chế những xúc cảm tiêu cực và kéo dài những xúc cảm tích cực [30]

Tác giả Nguyễn Thị Hiền cũng rất quan tâm đến trò chơi đóng vai, vì vậy năm 2012 bài viết “Ý nghĩa của trò chơi sắm vai đối với sự phát triển tâm lí ở trẻ tuổi mẫu giáo” lại một lần nữa cho chúng ta thấy tầm quan trọng của trò chơi này [21]

Tóm lại, vấn đề xúc cảm, vấn đề trò chơi trẻ em cũng như trò chơi đóng vai theo chủ đề đã không còn xa lạ gì với chúng ta nữa, bởi vì có rất nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề này Tuy nhiên, nghiên cứu kĩ năng thể hiện xúc cảm thông qua nét mặt, cử chỉ và biểu cảm lời nói trong trò chơi đóng vai theo chủ đề của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thì chưa nhiều Thiết nghĩ, đây là một vấn đề mới mẻ cần được nghiên cứu để làm phong phú hơn về lí luận và sáng tỏ hơn về thực tiễn

1.2 Cơ sở lí luận về kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

1.2.1 Một số khái niệm

1.2.1.1 Kĩ năng

Theo từ điển Tiếng Việt, kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu

Trang 24

nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [38, tr.501]

Theo từ điển Tâm lí học do tác giả Vũ Dũng chủ biên, “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kĩ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thành thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kĩ năng được hình thành qua luyện tập” [13]

Theo quan niệm của tác giả Trần Trọng Thủy, kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động, có

kĩ năng [46]

Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng: “Kĩ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng cho biết, kĩ năng có những đặc điểm khác nữa là “hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng” [44]

Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng cùng quan điểm trên cho rằng, kĩ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả [44]

Riêng đối với tác giả Huỳnh Văn Sơn, những quan niệm về kĩ năng như trên là sự mô tả chính xác chỉ đối với những kĩ năng đơn giản mà thao tác có thể quan sát được; các kĩ năng phức tạp thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực của trí tuệ căng thẳng và khó có thể tự động hóa được Kĩ năng đơn giản chưa có thể được xem

là năng lực, nó chỉ là một điều kiện đủ của năng lực [44]

Theo quan niệm của tác giả Huỳnh Văn Sơn, “kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép”

[40]

Trang 25

Nhìn chung, tất cả những quan niệm trên đều xoay quanh hai mặt của kĩ năng: mặt kĩ thuật thao tác và mặt năng lực của con người

Trong nghiên cứu này, khái niệm kĩ năng được hiểu như sau:

Kĩ năng là thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động một cách phù hợp trong những tình huống cụ thể

1.2.1.2 Xúc cảm

Có nhiều ý kiến khác nhau khi bàn về khái niệm xúc cảm (hay cảm xúc)

Theo Cabanac, Michel và Schacter, “Xúc cảm hay cảm xúc (emotion) là một hình thức trải nghiệm ngắn có ý thức của con người, được đặc trưng bởi hoạt động tinh thần mãnh liệt và mức độ cao của sự hài lòng hay sự bực bội, tức giận” (Emotion is any relatively brief conscious experience characterized by

intense mental activity and a high degree of pleasure or displeasure) [61, 68]

Xúc cảm bao gồm những thành phần khác nhau như là kinh nghiệm khách quan, tiến trình nhận thức, hành vi thể hiện, sự thay đổi tâm sinh lí và hành vi công cụ (Emotions involve different components, such as subjective experience, cognitive processes, expressive behavior, psychophysiological changes, and instrumental behavior)

Trong từ điển Tâm lí học do Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn đồng chủ biên thì định nghĩa khá chi tiết: “Xúc cảm là một loại trạng thái và quá trình tâm

lý đặc biệt, liên quan đến các bản năng, các nhu cầu và các động cơ, phản ánh dưới hình thức các trải nghiệm trực tiếp (hài lòng, niềm vui, sợ hãi ) ý nghĩa của các hiện tượng, các tình huống tác động đến con người trong việc thực hiện hoạt động sống của họ” [44] Theo định nghĩa này, xúc cảm là một trong những

cơ chế điều chỉnh bên trong cơ bản của hoạt động tâm lí và hành vi trong việc thỏa mãn các nhu cầu cấp thiết của chủ thể

Từ điển Tâm lí học của tác giả Vũ Dũng thì định nghĩa ngắn gọn hơn: “Xúc cảm là sự phản ánh tâm lí về mặt ý nghĩa rung động của các hiện tượng và hoàn

Trang 26

cảnh, tức các mối quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể, dưới hình thức những rung động trực tiếp” [13]

Theo từ điển “ Random House Dictionary of the English Language” định

nghĩa: “Xúc cảm chính là những phản ứng mạnh mẽ của ý thức được thể hiện bằng sự vui mừng, đau khổ, sợ hãi, yêu, ghét, và khác biệt với những phản ứng của ý chí và tư duy” [44]

Từ điển Tâm lí học của tác giả Nguyễn Khắc Viện thì lại định nghĩa về xúc

cảm một cách cụ thể hơn: “Xúc cảm là phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một sự việc gồm hai mặt: những phản ứng sinh lí do thần kinh thực vật như tim đập nhanh, toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa Phản ứng tâm lí qua những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ, có tính bộc phát, chủ thể kiềm chế khó khăn” [56]

Quan niệm của nhà tâm lý học người Mỹ John Mayer thì cũng không có gì mới mẻ khi bàn về xúc cảm: “Xúc cảm là một trạng thái tinh thần (bao gồm trong đó những quá trình và phản ứng tâm lý) truyền tải những thông điệp từ phía các mối quan hệ xã hội của cá nhân” [44]

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Thức, Nguyễn Quang Uẩn đều có chung

một nhận định về xúc cảm: “Đó là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của con người” [44]

K.K.Platanov cho rằng “Xúc cảm hay tình cảm, đó là một hình thái đặc biệt của mối quan hệ của con người đối với các đối tượng và hiện tượng của hiện thực, được quy định bởi sự phù hợp hay không phù hợp giữa các đối tượng và hiện tượng đối với nhu cầu của con người” [45]

Tác giả Ngô Công Hoàn đã khái quát khái niệm xúc cảm trong một số giáo

trình tâm lí học của Việt Nam như sau: “Xúc cảm là những rung cảm của cá nhân đối với các sự vật, hiện tượng, hoàn cảnh có liên quan đến nhu cầu của

Trang 27

con người” [23]

Dù quan niệm như thế nào thì xét cho cùng, khi nói đến xúc cảm thì không thể bỏ qua những rung động của con người và con người chỉ rung động đối với những gì có liên quan đến nhu cầu bản thân

Trong nghiên cứu này, khái niệm xúc cảm có thể được hiểu như sau:

Xúc cảm là thái độ thể hiện sự rung động của con người đối với các sự vật, hiện tượng của hiện thực khi chúng có mối liên hệ ý nghĩa với nhu cầu

và động cơ của con người

1.2.1.3 Thể hiện xúc cảm

Trong Tâm lí học, thể hiện xúc cảm là hành vi bằng lời hay phi ngôn ngữ được quan sát mà nó thể hiện một trạng thái xúc cảm hay tình cảm bên trong Những biểu hiện xúc cảm là những diễn cảm trên khuôn mặt như cười hoặc cau

có, hoặc những hành vi như khóc hoặc cười lớn Việc thể hiện xúc cảm có thể xảy ra có hoặc không có sự tự nhận thức Theo nghiên cứu của Dorset, cá nhân

có thể kiểm soát việc thể hiện xúc cảm của mình Tuy nhiên, họ không cần phải nhận thức, ý thức về trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm của mình để thể hiện nó [64]

Hơn 200 năm qua, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều cách khác nhau để giải thích xúc cảm và thể hiện xúc cảm, xuất phát từ học thuyết của Darwin Tuy nhiên, tất cả các nhà tâm lý đưa ra học thuyết về xúc cảm đồng ý rằng tất cả những người bình thường trải nghiệm và thể hiện xúc cảm qua giọng nói, khuôn mặt và cơ thể của họ [63]

Theo từ điển Tiếng Việt, thể hiện là làm cho thấy rõ nội dung trừu tượng nào đó bằng một hình thức cụ thể Ví dụ như hành động thể hiện sự quyết tâm Những trạng thái xúc cảm như vui, buồn, tức giận, xấu hổ, ngạc nhiên, sợ hãi mà chúng ta thấy ở một người đó chính là sự thể hiện xúc cảm ra bên ngoài bằng những phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

Theo Daniel Goleman, ông cho rằng xúc cảm thúc đẩy hành động, đặc biệt

Trang 28

là ở trẻ em Những điều diễn ra bên trong thân thể và não bộ cho thấy mỗi trạng thái xúc cảm chuẩn bị cho thân thể một kiểu phản ứng khác nhau [11]:

- Sự giận dữ làm cho máu dồn tới bàn tay, khiến người ta thể hiện một hành động nào đó rất quyết liệt Ví dụ: có thể đánh người khác

- Sự sợ hãi đưa máu tới các cơ quan chỉ huy sự vận động của thân thể, như

cơ bắp chân chuẩn bị bỏ chạy, làm cho mặt tái đi do máu bị dồn đi nơi khác Thân thể tê liệt trong một khoảnh khắc

- Sự vui sướng được đặc trưng bằng hoạt động tăng lên của trung tâm não nhằm ức chế những tình cảm tiêu cực và làm tăng lên năng lượng hiện có, cũng như làm chậm lại hoạt động của trung tâm gây lo lắng

- Sự ngạc nhiên làm lông mày nhướn lên, tầm nhìn mở rộng luồng ánh sáng lọt tới võng mạc tăng lên

- Sự căm ghét luôn gây ra bực mình Biểu hiện của khuôn mặt là môi trễ xuống ở hai cạnh còn mũi hơi nhăn lại

- Sự buồn rầu giúp người ta chịu đựng tổn thất đau đớn làm năng lượng suy sút và giảm niềm hứng khởi đối với mọi người trong cuộc sống Khi buồn thường làm cho con người dễ bị tổn thương và suy sụp

Xúc cảm tình cảm của con người thể hiện trong các hành động vận động muôn vẻ như điệu bộ, cử chỉ, những sự vận động của cơ thể và những sự thay đổi của giọng nói và lời nói Những phản xạ của hệ thần kinh giao cảm xác nhận

về sự xuất hiện của xúc cảm trong sự thay đổi hơi thở, nhịp đập của tim, sự thay đổi sắc mặt, nhiệt độ của da, sự chuyển vận của dòng điện giao cảm, sự chuyển động của các cơ quan nội tâm, sự thay đổi các thành phần của máu và sự thay đổi chất [15]

Theo tác giả Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn, sự biểu hiện bên ngoài của xúc cảm bao gồm: 1) những động tác biểu hiện ra bên ngoài (nét mặt, điệu bộ,

cử chỉ, vận động thân thể, ngôn ngữ); 2) những thể hiện đa dạng của thân thể (trong hoạt động và trạng thái của các nội quan); 3) những biến đổi sâu về thể

Trang 29

dịch (trong thành phần hóa học của máu và các dịch khác, trong trao đổi chất) [31]

Xúc cảm, tình cảm thường biểu hiện trên ba phương diện: sinh lí; hành vi,

cử chỉ, điệu bộ và ngôn ngữ, ý thức Nỗi sợ có thể đi cùng với một loạt thay đổi trong cơ thể như tim đập nhanh hơn, toát mồ hôi, lỗ chân lông nở to, lông dựng lên, hơi thở ngắn, dạ dày co thắt mạnh Khi vui mừng có thể nhảy cẫng lên, cười nhiều, khi buồn nét mặt chảy xệ, vai xệ xuống, nói chậm lại; khi tức giận thì mím chặt môi, tay co lại Ngoài ra, con người có thể dùng ngôn ngữ để diễn tả xúc cảm, tình cảm của mình như sự tuyệt vọng, buồn bã, chơi vơi được mô tả như rơi vào hố sâu không đáy hoặc niềm sung sướng hân hoan có thể được nói đến như một trạng thái lơ lửng trên mây, bồng bềnh và mọi thứ trở nên rực rỡ [43]

Những hình thức biểu cảm trên tạo ra “tiếng nói” của xúc cảm, nhờ đó con người có thể truyền đạt, trao đổi cho nhau những tâm tư, tình cảm của mình Các động tác biểu hiện xúc cảm rất đa dạng và đa nghĩa Muốn đọc được “ngôn ngữ”

biểu hiện này cần có kinh nghiệm sống và cần được đào tạo

Như trên đã nói, mỗi trạng thái xúc cảm có những biểu hiện và cách thể hiện riêng ra bên ngoài bằng những phương tiện khác nhau Vậy cụm từ thể hiện xúc cảm trong nghiên cứu này có thể được định nghĩa như sau:

Thể hiện xúc cảm là bộc lộ những rung động của con người ra bên ngoài bằng nét mặt, cử chỉ và biểu cảm của lời nói tương ứng với trạng thái xúc cảm mà chủ thể đang có

1.2.1.4 Trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trò chơi ĐVTCĐ là thực hiện diễn xuất đóng vai theo những câu chuyện

mà bao gồm nhiều tình huống và việc xử lý vui đùa những ý tưởng và cảm xúc một cách khéo léo (the acting out of stories which involve multiple perspectives

and the playful manipulation of ideas and emotions) [71]

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, “Trò chơi ĐVTCĐ là một hình thức độc

Trang 30

đáo của sự tiếp xúc giữa trẻ với cuộc sống của người lớn Trong khi chơi, trẻ tái tạo lại đời sống xã hội xung quanh và qua đó trẻ học làm người” [52]

Trò chơi ĐVTCĐ mô phỏng lại hoạt động lao động của người lớn và những

mối quan hệ qua lại giữa họ trong xã hội Chẳng hạn trò chơi “bệnh viện” mô

phỏng mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân Trong trò chơi, lần đầu tiên những

mối quan hệ giữa người với người được thể hiện ra một cách khách quan trước đứa trẻ Qua trò chơi, trẻ hiểu mỗi người trong xã hội đều có nghĩa vụ và quyền

lợi của mình Ví như trong trò chơi “mua bán”, trẻ hiểu rằng “người mua” có nghĩa vụ phải trả tiền cho “người bán”, và được quyền chọn một vài thứ “hàng” nào đó mà mình thích, còn “người bán” khi nhận được “tiền” của “người mua” thì phải trao hàng cho họ

Tác giả Dương Thị Diệu Hoa thì quan niệm rằng “Trò chơi ĐVTCĐ là trò chơi được trẻ mô phỏng một mảng nào đó trong cuộc sống của người lớn bằng

vi ệc diễn tả vai trò của một nhân vật nào đó bằng những hành động mang tính tượng trưng của mình” [22].

Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi trong đó trẻ đóng một vai cụ thể để tái tạo lại những ấn tượng, những xúc cảm mà trẻ thu nhận được từ môi trường xã hội của người lớn Chẳng hạn, trò chơi “bác sĩ – bệnh nhân”, trò chơi “gia đình”, trò chơi “bán hàng”, trò chơi “tiệm uốn tóc”, trò chơi “làm bánh”

Như vậy, trong đề tài này khái niệm trò chơi ĐVTCĐ được hiểu như sau:

Trò chơi ĐVTCĐ là loại trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng nào đó của cuộc sống người lớn trong xã hội bằng việc đóng vai một nhân vật nào đó

để thực hiện chức năng xã hội của họ

∗ Cấu trúc của trò chơi ĐVTCĐ gồm:

o Chủ đề và nội dung của trò chơi ĐVTCĐ

Chủ đề chơi là các mảng cuộc sống hiện thực được phản ánh vào trò chơi Cuối tuổi mẫu giáo, số lượng và tính phức tạp của chủ đề chơi tăng dần, trẻ mở rộng ra các chủ đề chơi xa hơn như bưu điện, xây dựng nhà cửa, giao

Trang 31

thông vận tải, tiệm cắt tóc [50, tr.54] Trẻ còn biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau, chẳng hạn liên kết trò chơi “mẹ - con” với trò chơi “bán hàng” thể hiện qua hành động mẹ dắt con đi chợ; liên kết trò chơi “gia đình” với trò chơi “tiệm uốn tóc” thể hiện qua việc chủ tiệm uốn tóc đến nhà mời các thành viên trong gia đình đi gội đầu

Cùng một chủ đề chơi nhưng mỗi trẻ lại tái tạo các mặt khác nhau của hiện thực cuộc sống Vì vậy bên cạnh chủ đề chơi còn cần chú ý đến nội dung chơi Nhìn chung, nội dung chơi của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được mở rộng hơn

so với trước đây, các vai chơi phong phú hơn hẳn, hành động chơi đa dạng hơn, trẻ quan tâm tới những mối quan hệ xã hội bên trong trò chơi như mặt tình cảm, đạo đức của những mối quan hệ đó [52, tr.228]

o Vai chơi và hành động chơi

Đóng vai có nghĩa là tái tạo lại hành động của một người lớn đối với các

đồ vật trong những mối quan hệ nhất định với những người xung quanh Trong vai chơi, trẻ thực hiện các chức năng xã hội của một người nào đó như lái xe, dạy học, chữa bệnh, bán hàng Vai chơi quy định hành động của trẻ với đồ vật

và hành động với bạn cùng chơi Hành động chơi xuất phát từ những hành động thực tế trẻ trông thấy được hoặc nghe kể lại nhưng được rút gọn, khái quát hóa

và mang tính ước lệ, không bắt buộc thao tác phải đúng kĩ thuật

Vai chơi là linh hồn của trò chơi, chính nhờ đóng vai mà trẻ trải nghiệm những xúc cảm vui, buồn, sướng, khổ mới hiểu được thế nào là bác sĩ, là cô giáo Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có khả năng nhập vai rất thành thạo và biểu hiện xúc cảm, tình cảm qua vai chơi khá phong phú

o Những mối quan hệ qua lại của trẻ trong trò chơi

Quan hệ chơi là những quan hệ qua lại của các vai chơi trong trò chơi theo

một chủ đề nhất định, mô phỏng mối quan hệ của người lớn trong xã hội như quan hệ mẹ và con trong trò chơi “gia đình”, quan hệ người mua và người bán

Trang 32

trong trò chơi “bán hàng” Những mối quan hệ này mới là cái trẻ quan tâm, là đối tượng cho hành động của trẻ

Quan hệ thực là những quan hệ qua lại giữa những trẻ và những người

cùng tham gia vào trò chơi, những bạn cùng thực hiện một công việc chung Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đã có thể phân biệt quan hệ chơi và quan hệ thực Trẻ thể hiện thái độ, tình cảm, động cơ của mình trong những mối quan hệ mà trẻ thiết lập được giữa các vai với nhau Trẻ biết thiết lập mối quan hệ rộng rãi

và phong phú với các bạn cùng chơi, biết liên kết các nhóm chơi với nhau "Xã hội trẻ em“ được hình thành [51, tr.70]

o Đồ chơi và hoàn cảnh chơi

Có 2 loại đồ chơi: Loại thứ nhất là đồ chơi do người lớn làm cho trẻ, mô

phỏng theo đồ vật thực như cái bát, cài thìa, ô tô, con búp bê gọi là đồ chơi hình tượng Loại thứ hai là vật thay thế cho đồ vật thực Ví dụ: dùng cái gối thay

em bé Khi thao tác với đồ vật dạng này, trẻ phải tưởng tượng ra hoàn cảnh chơi tương ứng

Hoàn cảnh chơi là hoàn cảnh do trẻ tưởng tượng ra khi chơi Đồ chơi chỉ là vật thay thế nên thao tác chơi của trẻ không trùng với hành động của vai, buộc

Trang 33

trẻ phải tưởng tượng ra hoàn cảnh chơi Hành động vui chơi như thật nhưng lại với những vật không thật

1.2.1.5 Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Tiếp cận quan niệm của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết – Nguyễn Thị Như Mai – Đinh Thị Kim Thoa, khái niệm trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong nghiên cứu này

có thể hiểu như sau [52]:

Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi (trẻ mẫu giáo lớn) là giai đoạn cuối cùng của trẻ

giai đoạn mà những cấu tạo tâm lí đặc trưng của con người tiếp tục phát triển

ban đầu về nhân cách của con người

Xúc cảm, tình cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi ngày càng phát triển sâu sắc

và bền vững hơn một cách đáng kể Trẻ thường xuyên thể hiện thái độ yêu thương với người khác (lo lắng, an ủi, đồng cảm) Ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thường thấy những biểu hiện của thái độ quan tâm thật sự đối với người thân, thấy những cử chỉ tránh cho họ mọi sự lo lắng, buồn rầu [58, tr.116]

Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi kết bạn với những lí do hợp lí hơn như trẻ thường thích chơi với những bạn ngoan hiền, học giỏi, hát hay, vẽ đẹp Tình bạn của trẻ dựa trên mối thiện cảm của chúng đối với nhau, là thái độ tích cực đối với những phẩm chất nào đó, đối với tri thức hay kĩ năng của bạn Mặc dù tình bạn này chưa bền vững nhưng trẻ đã biết quan tâm đến bạn hơn như buồn khi bạn vắng, chia sẻ đồ dùng, đồ chơi một cách thích thú [42, tr.47]

Trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi bắt đầu nhạy cảm với những đánh giá của người lớn về mình Trẻ có khả năng bắt chước nhanh những phương tiện biểu cảm tinh

tế của người lớn và vận dụng vào cuộc sống, đồng thời nắm bắt được hình thức thể hiện sắc thái tình cảm một cách tế nhị bằng ánh mắt, nụ cười, nét mặt, tư thế,

điệu bộ, cử chỉ, ngữ điệu của lời nói

Trang 34

1.2.1.6 Trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trong đề tài này, chúng ta có thể hiểu khái niệm trò chơi ĐVTCĐ của trẻ

mẫu giáo 5 – 6 tuổi như sau:

Trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là trò chơi mà trẻ mô phỏng lại một mảng nào đó cuộc sống của người lớn bằng việc đóng vai một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ với các luật chơi được tôn

Khi chơi trò chơi ĐVTCĐ, trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi luôn chú ý đến luật chơi,

luật chơi được xem là yếu tố hàng đầu, vai chơi là thứ yếu, thậm chí bị mất hẳn trong nhiều trò chơi sau này Nắm luật chơi là một bước phát triển mới của hoạt động chơi [22]

Đối với trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, việc chơi của trẻ đã tương đối thành thạo

và chơi với nhau trong nhóm bạn bè đã trở thành một nhu cầu bức bách Trò chơi của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi có rất nhiều vai, quan hệ trong trò chơi cũng đã được mở rộng hơn nhiều, trẻ biết liên kết các trò chơi theo các chủ đề khác nhau, làm cho các mối quan hệ ngày càng trở nên phong phú [49]

Trong trò chơi của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi đã bắt đầu xuất hiện vai trò “thủ lĩnh” Đó là đứa trẻ được các bạn tôn sùng và vị nể nhất, vì nó thường có nhiều sáng kiến và có khả năng tổ chức trò chơi, nó chỉ huy việc phân các vai và hướng dẫn hành động cho những đứa trẻ khác Em “thủ lĩnh” thường nhận vai chính vì vai chính có quyền lớn nhất [49]

Ở trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, bên cạnh trò chơi ĐVTCĐ xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật Khi tham gia loại trò chơi này, động cơ hoạt động của trẻ không

chỉ nằm ở quá trình chơi mà cả trong kết quả chơi nữa, nghĩa là động cơ hoạt động của trẻ đang di chuyển từ quá trình chơi đến kết quả chơi Hành động chơi

ở đây có mục đích rất rõ ràng [49]

Trang 35

1.2.1.7 Kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo

Kĩ năng thể hiện xúc cảm trong trò chơi ĐVTCĐ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi là khả năng bộc lộ những rung động của trẻ ra bên ngoài bằng nét mặt,

cử chỉ và biểu cảm của lời nói một cách phù hợp trong quá trình đóng vai một nhân vật nào đó để thực hiện chức năng xã hội của họ với các luật chơi được tôn trọng và chặt chẽ

Các loại xúc cảm cơ bản của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Trong Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã đề cập đến 6 trạng thái xúc cảm cơ bản của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi bao gồm: vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi, xấu hổ Cụ thể, chỉ số 35 Nhận biết các trạng thái xúc cảm vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tực giận, xấu hổ của người khác; chỉ số 61 Nhận ra được sắc thái biểu cảm của lời nói khi vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi [4]

Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Hoàng Thị Thu Thủy cũng đã nhắc đến 6 loại xúc cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi: vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận, xấu hổ Những xúc cảm này thể hiện ra ngoài bằng nét mặt, cử chỉ và biểu cảm của lời nói [45]

Trong đề tài này, chúng tôi tìm hiểu 6 loại xúc cảm của trẻ mẫu giáo 5 –

6 tuổi, đó là: vui, buồn, ngạc nhiên, giận dữ, sợ hãi, xấu hổ

Phương tiện thể hiện xúc cảm của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi

Theo Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 thì ở chỉ số 36 có đề cập đến kĩ năng bộc

lộ xúc cảm của bản thân trẻ bằng lời nói, cử chỉ và nét mặt [4]

Trang 36

Trong luận văn thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Thạch Thảo [44], kĩ năng bộc lộ xúc cảm của trẻ 5 – 6 tuổi thông qua lời nói, nét mặt, cử chỉ với người khác cụ thể như sau:

- Biết cách chia sẻ xúc cảm của bản thân qua lời nói như nói “ Con rất vui”,

“Con đang buồn” với cô giáo, bạn bè

- Thể hiện thái độ xúc cảm của bản thân qua cử chỉ như khi sợ thì thu mình lại

- Thể hiện thái độ xúc cảm của bản thân qua nét mặt như cười, nhíu mày, mặt đỏ…

- Biết biểu lộ xúc cảm ra bên ngoài thông qua các hoạt động ở trường một cách thường xuyên

- Vui sướng, vỗ tay, làm động tác mô phỏng và sử dụng các từ ngữ gợi

cảm, nói lên xúc cảm của mình khi nghe cô kể chuyện, hát…

Theo tác giả Nguyễn văn Lê, nhờ tri giác tinh tế, nhạy bén các trạng thái tâm lí qua nét mặt, cử chỉ, ngữ điệu của lời nói mà giáo viên phát hiện chính xác

và đầy đủ tâm trạng của trò [27] Ví dụ:

• Khi xúc động: giọng nói hổn hển, lời nói ngắt quãng

• Khi vui vẻ: nhịp nói nhanh

• Khi buồn: giọng trầm và nhịp chậm

• Khi sợ hãi: mặt tái nhợt, hành động bị gò bó

• Khi bối rối, xấu hổ: mặt đỏ bừng, toát mồ hôi

• Khi tức giận: mắm môi, nắm chặt tay

Như vậy, xúc cảm được thể hiện ra bên ngoài bằng nhiều phương tiện khác nhau, chủ yếu là bằng ngôn ngữ cơ thể (nét mặt, cử chỉ) và biểu cảm của lời nói

* Nét mặt:

Nét mặt biểu lộ xúc cảm của con người Theo các nhà tâm lí học thì nét mặt

có thể biểu lộ sáu xúc cảm như: vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận, sợ hãi và ghê

Trang 37

tởm Trong giao tiếp, nét mặt là yếu tố thường được chú ý Nét mặt góp phần quan trọng tạo nên hình ảnh cá nhân trong mắt người khác Với số kiểu nét mặt phong phú của con người, dễ dàng gây hiệu ứng trong giao tiếp nếu như con người biết sử dụng kiểu nét mặt phù hợp [41]

Ekơmen Elơvớt cũng cho rằng nét mặt biểu lộ sáu xúc cảm: vui mừng, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, giận, ghê tởm Những xúc cảm này được thể hiện qua

sự vận động của mắt, trán, lông mày, miệng… Ví dụ: rướn lông mày thể hiện sự ngạc nhiên; nhíu lông mày với đôi môi mím chặt biểu lộ sự tức giận, phẫn nộ… Đôi khi nét mặt và lời nói mâu thuẫn với nhau, lúc này nét mặt là thông tin đáng tin cậy hơn Ví dụ: nói không giận nhưng mặt đanh lại; nói rất hạnh phúc nhưng nét mặt lại buồn bã…[20]

Theo tác giả Nguyễn Văn Lũy – Lê Quang Sơn, điều quan trọng của khuôn mặt là biểu cảm Máy đo được trên khuôn mặt của chúng ta thể hiện 250.000 xúc cảm Nét mặt thường đi kèm với giọng nói, mặt căng thẳng, giọng nói sẽ căng thẳng, mặt thoải mái tự nhiên, giọng nói sẽ vui tươi thoải mái [31]

Theo tác giả Nguyễn Bá Minh, biểu cảm là những hình dáng của khuôn mặt nói lên những xúc cảm như: buồn rầu, không tán thành, bĩu môi, nháy mắt…là những ví dụ về các biểu cảm [32]

Hình dáng của khuôn mặt mang thông tin về xúc cảm và thái độ của con người trong giao tiếp Ví dụ: bĩu môi thể hiện thái độ coi thường, chê bai; nhướn mắt, há hốc miệng thể hiện sự ngạc nhiên; mắt long sòng sọc thể hiện sự tức giận; cười thể hiện xúc cảm vui; khóc thể hiện xúc cảm buồn…[31]

Đọc được ngôn ngữ của nét mặt không chỉ là nhận biết các nét mặt tĩnh mà còn phải nhận ra những thay đổi tinh tế trên khuôn mặt Khi giao tiếp, người ta thường quan sát biểu hiện của đối phương để nắm bắt phản ứng của người đó trước những thông tin vừa truyền đạt Thậm chí khi bị lỡ mất phần nào, quan sát biểu hiện trên khuôn mặt của người nói cũng giúp người nghe bắt nhịp lại câu chuyện [9]

Trang 38

Theo Carol Kinsey Goman, mỗi xúc cảm đều có những dấu hiệu riêng và đồng nhất nên khuôn mặt là hệ thống duy nhất cho ta biết xúc cảm của đối phương Sau đây là sáu nét mặt tiêu biểu tương ứng với sáu trạng thái xúc cảm thường gặp [9, tr.75-78]:

- Vui: được biểu hiện qua nụ cười, gò má nhô cao, lúm đồng tiền nổi rõ và đuôi mắt nhăn

- Buồn: vùng trán nhăn, lông mày phía trong nhô lên, miệng trề xuống biểu

lộ sự phiền muộn, đau khổ

- Ngạc nhiên: biểu hiện qua lông mày nhô cao, mắt mở to, phần hàm dưới trề xuống, miệng há hốc Đây là nét mặt diễn ra nhanh nhất, thậm chí xuất hiện chưa đến một giây

- Sợ hãi: lông mày nhô lên sát vào nhau, mắt mở to, mi mắt căng ra, môi kéo giật ra sau thể hiện cảm giác bối rối và lo lắng trước một mối nguy rình rập hoặc tức thời nào đó

- Căm ghét/coi thường: biểu hiện qua điệu bộ nhăn mũi, lông mày hạ thấp, môi trên chun lên và mắt khép lại gần như nhắm hẵn Biểu hiện này thường xuất hiện khi chúng ta nếm phải vị khó chịu của đồ ăn, ngửi thấy mùi hôi, hoặc khi phải chứng kiến một hành vi ghê tởm của ai đó

- Giận dữ: biểu hiện qua đôi lông mày kéo sát lại gần nhau và hạ thấp, ánh mắt hung hãn, mi mắt căng và hẹp, môi mím chặt

Mắt:

Mắt là phương tiện giao tiếp không lời có khả năng chuyển tải không những tâm trạng, trạng thái xúc cảm, tình cảm của con người mà còn là nơi tiếp nhận các thông tin cảm tính từ môi trường bên ngoài Con người có bao nhiêu cái nhìn là có bấy nhiêu tính cách Do vậy, biết giao tiếp bằng mắt sẽ đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình giao tiếp [41]

Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn Cái nhìn có thể là tín hiệu của tình yêu thương,

là các tín hiệu biểu thái độ của chủ thể đối với đối tượng giao tiếp Con người

Trang 39

bộc xúc cảm, tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của mình qua đôi mắt một cách

vô thức Đôi mắt phản ánh trạng thái xúc cảm của chủ thể (khi vui vẻ đôi mắt

mở rộng; khi giận dữ mắt vằn lên và nhỏ lại; khi yêu nhìn lâu hoặc nhanh nhưng sâu và nhiều lần) Cái nhìn cũng chứa đựng nhiều thông tin về tính cách con người, có ánh mắt lạnh lùng, bi quan, thận trọng, thờ ơ, van xin, cầu khẩn, giận dữ… Nhưng cũng có ánh mắt chân thật, trìu mến, tươi sáng có sức thu hút lòng người; những cái liếc trộm hoặc ánh mắt nhìn trừng trừng làm cho người khác nghi ngại, sợ hãi… [20]

Mắt biểu hiện rất nhiều xúc cảm, suy nghĩ khác nhau Theo thống kê, mắt

ta thu nhận đến 75% lượng thông tin hằng ngày Ánh mắt của người nói có ảnh hưởng lớn tới tâm trạng, thái độ của người nghe, khích lệ người khác bằng ánh mắt, trấn áp người khác cũng bằng ánh mắt, tạo niềm tin cho người nghe cũng bằng ánh mắt [31]

Một bên mắt bị co giật thường là dấu hiệu của sự căng thẳng, nếu không thì cũng liên quan đến vấn đề suy nhược thần kinh Mắt một người cụp xuống có nghĩa là người đó đang căng thẳng tột độ Nhắm mắt lại như là một rào chắn ngăn cản việc giao tiếp hay tiếp xúc Khép chặt một bên mắt nhằm thể hiện cảm giác cực kì không tin tưởng Nháy mắt một cách nghịch ngợm, ý muốn nói “Tôi đồng ý” hay “Tôi hiểu rồi”, hoặc đòi hỏi sự tán đồng – tùy thuộc biểu hiện của các phần khác trên khuôn mặt Nhắm chặt hai mắt lại, biểu hiện của cảm giác đau đớn về thể xác hay tinh thần hoặc sự tập trung cao độ [16]

Miệng:

Miệng là phương tiện giao tiếp không lời với chức năng chính là thể hiện xúc cảm, tình cảm của con người Nụ cười biểu lộ một phần tâm trạng và tính cách của người đang cười và đôi khi cười cũng còn được sử dụng như một tín hiệu âm thanh lấp đầy trong quá trình giao tiếp Để diễn đúng ý nghĩa của nụ cười thì cần chú ý kết hợp quan sát cả đôi mắt và khóe miệng của người đang cười [41] Điểm khác biệt giữa nụ cười được tập luyện hình chữ C hoàn hảo với

Trang 40

nụ cười ánh lên từ đôi mắt là ở chỗ: một bên chỉ là nụ cười xã giao, còn một bên

là nụ cười chân thành Một nụ cười mà cơ mắt không bị tác động thì không phải

nụ cười thành thật, người đó sẽ trông không hề vui vẻ cho dù có cười toe toét đi chăng nữa [16]

Nụ cười là một phương tiện giao tiếp quan trọng chứa đựng nhiều nội dung phong phú Nụ cười không chỉ biểu hiện thái độ, xúc cảm, tình cảm của con người mà cả những nét tính cách nhất định của họ nữa [14] Có rất nhiều kiểu cười: cười nụ, cười mỉm, cười mỉa mai, cười khinh thị, cười khêu khích, cười đắc thắng, cười mãn nguyện… hoặc “cười là tiếng khóc khô không lệ” Trong giao tiếp cần tránh những nụ cười: cười gượng (tình cảm gượng ép, bắt buộc), cười vô vị, cười thất vọng, cười tinh nghịch, cười cay độc, cười thương hại [20]

 Trán:

Trán được coi là một bảng thông báo, cho phép chúng ta thể hiện mọi suy nghĩ diễn ra trong đầu Hệ quả, trán sẽ đem lại những phần dư, tức là thể hiện chính xác những gì bạn muốn nói Chúng ta có thể đã nghe ai đó nói: “Bạn có khuôn mặt xứng đáng khi đến tuổi 40” Câu nói này ám chỉ các nếp nhăn quanh miệng và mắt, chúng chỉ ra những nỗi buồn, sự tức giận và những xúc cảm khác trong những năm tháng tuổi trẻ của chúng ta Tất cả đều thể hiện trên khuôn mặt [16, tr.90-93]

Các bước mà chúng ta đã làm với trán của mình và nhăn trán nhiều hết mức

có thể liên quan đến lông mày đó là:

- Nhướng lông mày lên

- Hạ lông mày xuống hết mức

- Một bên lông mày cong lên

- Nhíu mày sao cho hai đầu lông mày gặp nhau ở giữa

Theo Gregory Hartley và Maryann Karinch [16], có một số lí do chung khiến mọi người nhíu mày, bao gồm: sự ngạc nhiên; sợ hãi; một vài hình thức của sự quan tâm đến người khác, chẳng hạn như cảm thông Có một số chuẩn

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w