1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp của sinh viên hệ ngoài sư phạm trường đại học sư phạm tp hồ chí minh

173 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH M ỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 : Thang điểm câu có 3 lựa chọn Bảng 2.2 : Thang điểm cho câu có 5 lựa chọn Bảng 2.3 : Mô tả khách thể nghiên cứu sinh viên Bảng 2.4 : Mô tả thông tin về khách

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Th ị Thảo

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2015

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Th ị Thảo

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Tâm lí học với đề tài: “Kỹ năng thích ứng

sư phạm trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh” được tác giả nghiên cứu lần

đầu tiên Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả, số

li ệu nghiên cứu được trích dẫn trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng công b ố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Tác gi ả

Lê Th ị Thảo

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn, tôi thực sự biết ơn và trân quý những tình cảm mình có được từ quý Thầy Cô Khoa tâm lí - Giáo dục, Khoa Tâm lí học đã đào tạo

và giúp đỡ tôi trong suốt những năm qua

Xin chân thành c ảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm TP HCM, phòng Sau Đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi có cơ hội để phát triển và nâng cao năng lực của bản thân -hoàn thiện mình hơn

Tôi chân thành trân quý và bi ết ơn vô cùng sâu sắc PGS TS Huỳnh Văn Sơn, người Thầy đã bên cạnh tôi trong suốt một chặng đường dài, tận tình chỉ cho tôi t ừng bước đi một trên con đường bước đầu vào nghiên cứu, chỉ cho tôi những hướng đi đúng, luôn động viên để tôi vượt lên trên chính bản thân mình mỗi ngày, không cho phép b ản thân mình bỏ cuộc Thầy đã giúp tôi hiểu sâu về nghiên cứu, về

nh ững điều mình đang trăn trở, giúp tôi tin vào những giá trị từ công trình nghiên

c ứu mình tạo ra Tôi đã học được những bài học lớn để trưởng thành hơn mỗi ngày

L ời cảm ơn chân thành tôi muốn gửi tới tất cả các Thầy Cô trong hội đồng khoa h ọc khi tôi bảo vệ đề cương và ngày tôi bảo vệ luận văn Chính những lời khuyên quý báu t ừ Thầy Cô đã giúp tôi biết hướng đi mới, những thiếu sót bản thân

và tìm được tiếng nói từ những thế hệ đi trước

Gia đình đã bên cạnh và là điểm tựa lớn nhất cho tôi đã luôn mỉm cười và động viên mỗi lúc tôi mệt mỏi, giúp tôi cảm thấy an tâm, giúp tôi vững tin hơn trên con đường mình đang đi

Các anh ch ị trong doanh nghiệp, sinh viên k37, những người bạn tốt tôi được

g ặp, tình cảm chân thành từ lớp học cao học, Họ giúp tôi biết mình luôn có những người thương yêu bên cạnh và tin vào lòng tốt con người Dẫu có những người mãi mãi tôi không được gặp họ và nói lời cảm ơn!

Tôi xin chân thành c ảm ơn!

Trang 5

M ỤC LỤC

Trang ph ụ bìa

L ời cam đoan

L ời cảm ơn

M ục lục

Danh m ục chữ viết tắt

Danh m ục bảng

Danh m ục biểu đồ

Danh mục hình

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP TRONG THỰC TẬP TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN 6

1.1 L ịch sử nghiên cứu về kỹ năng thích ứng 6

1.2 Lí lu ận về kỹ năng thích ứng với môi trường 18

Ti ểu kết Chương 1 58

Chương 2.THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG DOANH NGHI ỆP TRONG ĐỢT THỰC TẬP TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN H Ệ NGOÀI SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH 60

2.1 T ổ chức và phương pháp nghiên cứu 60

M ẫu khảo sát 60

2.2 K ết quả nghiên cứu thực trạng kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp c ủa sinh viên hệ cử nhân trong đợt thực tập tốt nghiệp 65

2.3 Bi ểu hiện của những kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong đợt TTTN c ủa sinh viên 75

2.4 Thích ứng với nội dung TTTN tại môi trường doanh nghiệp của sinh viên trọng đợt TTTN 87

Trang 6

2.5 Thích ứng với các mối quan hệ tại môi trường doanh nghiệp trong TTTN của

sinh viên 97

2.6 Thích ứng với nội quy, quy định tại doanh nghiệp trong TTTN của sinh viên101 2.7 M ức độ giải quyết các vấn đề trong TTTN tại môi trường doanh nghiệp của sinh viên 105

2.8 Y ếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp tại đợt TTTN c ủa sinh viên 110

2.9 M ột số ý kiến đề xuất về biện pháp nâng cao kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghi ệp khi TTTN của sinh viên và doanh nghiệp 119

Ti ểu kết Chương 2 125

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 127

K ết luận 127

Ki ến nghị 128

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 130

PH Ụ LỤC

Trang 8

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 : Thang điểm câu có 3 lựa chọn

Bảng 2.2 : Thang điểm cho câu có 5 lựa chọn

Bảng 2.3 : Mô tả khách thể nghiên cứu sinh viên

Bảng 2.4 : Mô tả thông tin về khách thể doanh nghiệp

Bảng 2.5 : Nhận thức của sinh viên về khái niệm thích ứng với môi trường,

kỹ năng thích ứng, kỹ năng thích ứng với môi trường

Bảng 2.6 : Đánh giá sự cần thiết của kỹ năng thích ứng với môi trường

doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp

Bảng 2.7 :Kết quả nhận thức tầm quan trọng của các biểu hiện ở KNTƯ

với môi trường doanh nghiệp của sinh viên trong đợt thực tập

tốt nghiệp

Bảng 2.8 : Kết quả nhận thức của sinh viên về biểu hiện của kỹ năng thích

ứng với môi trường doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp

Bảng 2.9 : Những khó khăn của sinh viên biểu hiện ở tâm thế nghề nghiệp

Bảng 2.10 : Đánh giá của sinh viên và doanh nghiệp về mức độ kỹ năng

thích ứng với môi trường doanh nghiệp của sinh viên trong đợt TTTN

Bảng 2.11 : Đánh giá biểu hiện kỹ năng thích ứng với môi trường doanh

nghiệp trong đợt TTTN của sinh viên và doanh nghiệp

Bảng 2.12 : Mức độ sẳn sàng tham gia vào quá trình TTTN tại doanh

nghiệp của sinh viên

Bảng 2.13 : Mức độ các biểu hiện có liên quan đến tâm trạng của sinh viên

trong quá trình tham gia TTTN tại doanh nghiệp

Bảng 2.14 : Mức độ kỹ năng thích ứng với nội dung TTTN của sinh viên

Bảng 2.15 : Những khó khăn SV gặp phải trong việc thích ứng với nội dung

TTT

Trang 9

Bảng 2.16 : Mức độ thích ứng với rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp tại môi

trường doanh nghiệp trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.17 : Mức độ thích ứng với các điều kiện, phương tiện tại môi trường

doanh nghiệp trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.18 : Những khó khăn sinh viên gặp phải trong việc thích ứng với

các điều kiện phương tiện tại môi trường doanh nghiệp TTTN

Bảng 2.19 : Mức độ kỹ năng thích ứng với các mối quan hệ tại môi trường

doanh nghiêp trong quá trình TTTN của sinh viên

Bảng 2.20 : Khó khăn trong các mối quan hệ doanh nghiệp trong TTTN của

SV

Bảng 2.21 : Mức độ thích ứng nội quy, quy định trong quá trình thực tập tốt

nghiệp tại doanh nghiệp của sinh viên

Bảng 2.22 : Những khó khăn về các chuẩn mực, quy tắc sinh viên gặp phải

trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại môi trường doanh nghiệp

Bảng 2.23 : Kết quả giải quyết tình huống thích ứng với điều kiện phương

tiện (Tỉ lệ %)

Bảng 2.24 : Kết quả giải quyết tình huống thích ứng với mối quan hệ tại

doanh nghiệp trong đợt TTTN của sinh viên (Tỉ lệ %)

Bảng 2.25 : Kết quả giải quyết tình huống thích ứng với nội dung TTTN tại

môi trường doanh nghiệp trong đợt TTTN của sinh viên (Tỉ lệ

%)

Bảng 2.26 : Kết quả giải quyết tình huốn

Bảng 2.27 : Mức độ ảnh hưởng của yếu tố bản thân sinh viên đến kỹ năng

thích ứng với MTDN trong TTTN của sinh viên g thích ứng với

nội quy, quy định tại môi trường doanh nghiệp trong đợt TTTN của sinh viên (Tỉ lệ %)

Trang 10

Bảng 2.28 : Mức độ ảnh hưởng của yếu tố trường đại học đến kỹ năng thích

ứng với MTDN trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.29 : Mức độ ảnh hưởng của yếu doanh nghiệp đến kỹ năng thích

ứng với MTDN trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.30 : Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố khác đến kỹ năng thích

ứng với MTDN trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.31 : Mức độ đồng ý những biện pháp từ sinh viên nhằm nâng cao kỹ

năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.32 : Mức độ đồng ý những biện pháp từ trường đại học nhằm nâng

cao kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong TTTN của sinh viên

Bảng 2.33 : Mức độ đồng ý những biện pháp từ doanh nghiệp nhằm nâng

cao kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong TTTN của sinh viên

Trang 11

nắm bắt những thời cơ mà mình có để xây dựng tương lai của chính mình và

phục vụ đất nước Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi

mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của đảng cộng sản Việt Nam đã

khẳng định về mục tiêu của giáo dục bậc đại học: “Đối với giáo dục đại học,

tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm

chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một

số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế Đa dạng hóa các

cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế”

Giáo dục bậc đại học góp phần hình thành nhận thức cho người học về

những giá trị của nghề và sinh viên có khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội Nhưng để trở thành một người thành công sinh viên phải có kỹ năng thích ứng với những thay đổi từ môi trường Khi sinh viên có kỹ năng thích ứng tốt

với sự thay đổi phương pháp học tập, chủ động tham gia vào các chương trình, trang bị kỹ năng sống, thích ứng với môi trường xung quanh sẽ giúp họ

thực hiện được những mục tiêu trong cuộc sống, sẵn sàng đối mặt với khó khăn thử thách để trưởng thành và sau khi tốt nghiệp đại học tìm được một công việc phù hợp Nếu như sinh viên có kỹ năng thích ứng chậm, không chủ

Trang 12

động trong học tập, không tham gia các hoạt động để trang bị kỹ năng thì đó

sẽ là một trong những rào cản đến con đường lập thân - lập nghiệp

Thực tế hiện nay cho thấy là nhiều doanh nghiệp đang thiếu nhân viên nhưng họ không nhận sinh viên vừa tốt nghiệp ra trường, trong quá trình tuyển dụng phần lớn các doanh nghiệp đòi hỏi kinh nghiệm làm việc, tuy nhiên các bạn sinh viên vừa bước chân ra từ giảng đường thì không thể có thể kinh nghiệm Dường như đang có một sự lệch pha giữa công tác đào tạo ngành nghề của các trường và yêu cầu từ doanh nghiệp Vậy nguyên nhân

xuất phát từ đâu và phải làm gì để thay đổi thực trạng trên đó vẫn là một câu

hỏi lớn cho các trường đào tạo nghề Thực ra,trong chương trình học tại đại

học tất cả sinh viên đều được trải qua hai kì thực tập, đây là một cơ hội để

bước đầu làm quen với nghề và môi trường làm việc Tuy nhiên, một thực tế

là nhiều bạn sinh viên lại không chú tâm vào những “cơ hội vàng” Các bạn không chủ động và khi chưa kịp thích ứng với môi trường doanh nghiệp thì

thời gian thực tập đã kết thúc, lại trở về với kiến thức từ sách vở Chính vì

việc thiếu chủ động, thiếu tự tin vào bản thân mình, thiếu những kiến thức kỹ năng thao tác hoạt động từ thực tế nên không ít sinh viên đã cảm thấy lo lắng trước mỗi kì thực tập và nhiều sinh viên không thích ứng được với môi trường làm việc trong doanh nghiệp

Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh được thành lập năm 1976 đến nay trường đã có hơn 35 năm xây dựng và phát triển, là một trong hai trường trọng điểm về đạo tạo đội ngũ giáo viên, trong những năm qua cùng

với yêu cầu của xã hội trường đã mở thêm những ngành hệ ngoài sư phạm để đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra Đặc điểm của sinh viên hệ ngoài sư phạm là sau khi hoàn thành tất cả môn học sẽ đi thực tập tại doanh nghiệp, đây là cơ

hội để các bạn phát huy năng lực của mình Nhưng, thực tế hiện nay cho thấy nhiều sinh viên cảm thấy khó khăn khi đối diện với sự thay đổi từ môi trường

Trang 13

học tập và làm việc, nhiều sinh viên không biết khi xuống đơn vị thực tập mình phải làm gì, giải quyết những tình huống, vấn đề xảy ra trong môi trường doanh nghiệp ra làm sao? Dẫn đến nhiều bạn rơi vào trạng thái lo âu,

mệt mỏi Những vấn đề trên chủ yếu xuất phát từ khả năng thích ứng nhanh hay chậm với môi trường làm việc tại doanh nghiệp ở sinh viên Ngoài ra,

việc giúp sinh viên tham gia thực tập nhanh chóng thích ứng với môi trường doanh nghiệp là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và nguồn chất lượng cao cho xã hội

Với tính cấp thiết đó tôi đã chọn đề tài: “Kỹ năng thích ứng với môi

trường doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp của sinh viên hệ ngoài

sư phạm trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh”

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng thích ứng với doanh ngiệp ở sinh viên hệ ngoài sư phạm của trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh trong đợt thực tập tốt nghiệp

3.2 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên năm cuối hệ ngoài sư phạm khóa 37 (2010 - 2014) Ngoài ra doanh nghiệp nhận sinh viên thực tập, giảng viên hướng dẫn ở đợt TTTN đợt

2 là khách thể nghiên cứu bổ trợ

Trang 14

Phần lớn sinh viên hệ ngoài sư phạm trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh thực tập tại doanh nghiệp kỹ năng thích ứng ở mức trung bình Sinh viên không thích ứng cao với một số điều kiện như: nội dung thực tập; mối quan hệ tại doanh nghiệp; nội quy, quy định; thích ứng với phương tiện, cở sở

vật chất

Nghiên cứu cơ sở lí luận về thích ứng nói chung và thích ứng với môi trường làm việc nói riêng để từ đó xây dựng khái niệm công cụ của đề tài: thích ứng, kỹ năng, doanh nghiệp, thích ứng với môi trường,thích ứng với môi trường doanh nghiệp

Khảo sát thực trạng kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp của sinh viên hệ ngoài sư phạm tại trường Đại

học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh và tìm ra nguyên nhân của thực trạng Trên cơ

sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp ở sinh viên hệ ngoài sư phạm trong đợt thực tập tốt nghiệp

Đề tài chỉ nghiên cứu thích ứng với môi trường doanh nghiệp của sinh viên năm 4 hệ ngoài sư phạm trong đợt thực tập tốt nghiệp

6.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực trạng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong đợt thực tập

tốt nghiệp ở sinh viên hệ ngoài sư phạm của trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Trang 15

Tiến hành phân tích các đề tài nghiên cứu lí luận, nghiên cứu thực tiễn trong và ngoài nước về thích ứng, mức độ thích ứng; thích ứng trong môi trường doanh nghiệp Sau đó, hệ thống hóa các lí thuyết nói trên để xây dựng khung lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu

Khi nghiên cứu lí luận, chúng tôi chủ yếu tập trung vào phân tích, tổng

hợp các công trình nghiên cứu có liên quan để xác định các khái niệm công

cụ; tổng hợp và phân tích nguồn gốc, các yếu tố ảnh hưởng đến tính thích ứng; các thao tác trong kỹ năng thích ứng của sinh viên năm 4 trong đợt thực

tập tốt nghiệp

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Đây là phương pháp nghiên cứu của đề tài Chúng tôi xây dựng hai

bảng hỏi Bảng hỏi thứ nhất dành cho sinh viên trong đợt thực tập tốt nghiệp

hệ ngoài sư phạm Bảng hỏi thứ hai dành cho doanh nghiệp nơi trực tiếp nhận sinh viên thực tập Trên cơ sở đó tìm hiểu kỹ năng thích ứng và mức độ kỹ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp của sinh viên

Sử dụng phần mềm SPSS for window phiên bản 16.0 để xử lí số liệu

khảo sát nhằm định lượng cho nghiên cứu

Trang 16

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THÍCH ỨNG

VỚI MÔI TRƯỜNG DOANH NGHIỆP TRONG THỰC TẬP

TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN

1.1.1 M ột số công trình nghiên cứu trên thế giới về kỹ năng thích ứng Tính đến thời điểm hiện nay, đã có khá nhiều công trình nghiên

cứu thích ứng với môi trường và thích ứng ở con người

Trong lịch sử tiến bộ và phát triển của loài người, hai khái niệm thích nghi và thích ứng luôn là một trong những nghiên cứu của các nhà khoa học

tập trung quan tâm, đây là những khái niệm khá phố biển Đến những năm đầu thế kỷ XX, hai khái niệm này được đưa vào nghiên cứu trong tâm lí học

và một số ngành khoa học xã hội

Nghiên cứu đầu tiên về thích ứng với môi trường là của nhà tâm lí học – triết học người Anh Herpert Spencer (1820-1903) cùng tác phẩm “Những

nguyên lí tâm lí học” Dựa trên học thuyết tiến hóa, ông đã phân tích quá trình

thích ứng tâm lí ở con người để đưa ra luận điểm: “Cuộc sống là sự thích ứng liên tục của các mối quan hệ bên trong và bên ngoài” Ông nghiên cứu chủ

yếu về khả năng thích nghi của con người với các thiết chế xã hội thời bấy

giờ, Herpert Spencer đã phát biểu: “Chỉ cá nhân nào, hệ thống xã hội nào có

khả năng thích nghi nhất với môi trường xung quanh mới có thể tồn tại được trong cuộc đấu tranh sinh tồn”[8]

Tiếp đến, vào năm 1890, Ivan Pavlov đã tiến hành nghiên cứu phản xạ

có điều kiện qua việc tìm và phát hiện ra việc hình thành đường liên hệ thần kinh tạm thời ở loài chó Xuất phát từ nghiên cứu trên Ivan Pavlov đã đưa ra

kết luận, phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo của cơ thể với tác động của ngoại giới Động vật cao đẳng và người mới sinh ra chưa có phản xạ có điều

kiện Từng động vật, từng con người trong quá trình sống và phát triển tùy

Trang 17

theo mức độ của mình, tùy theo điều kiện cụ thể mà lập ra phản xạ có điều

kiện của từng cá thể để thích ứng với môi trường thay đổi Qua đó để thấy quá trình thích nghi- thích ứng của động vật và con người với môi trường được hình thành từ thay đổi của cuộc sống

Khi định nghĩa về phản xạ có điều kiện Ivan Pavlov viết: Phản xạ có điều kiện được tạo ra do sự tham gia chủ yếu của vỏ não với sự hỗ trợ của các

bộ phận khác của não, để hình thành đòi hỏi một số điều kiện nhất định, phụ thuộc vào một số lớn điều kiện từ môi trường bên ngoài Như vậy để nhận

thấy hoạt động phản xạ có điều kiện giúp cơ thể thích ứng với môi trường luôn thay đổi [7, tr.68-69]

Qua hai nghiên cứu đã mở ra những tiền đề quan trọng về thích ứng với môi trường bên ngoài, tuy nhiên hai nghiên cứu trên chỉ cho thấy: cơ chế thích ứng chỉ mang tính chất sinh học, di truyền và các quá trình tâm lí, ý thức được coi như là một công cụ của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường mà không thấy được bản chất xã hội của quá trình thích ứng với môi trường Chính vì vậy rất cần những nghiên cứu sâu về thích ứng từ các nhà tâm lí học

để bổ sung và hoàn thiện cho khái niệm và cơ chế thích ứng

Từ những năm 60 của thế kỷ XX những nghiên cứu về thích ứng được nhiều nhà tâm lí học nhiều nước quan tâm, nghiên cứu như Vương Quốc Anh,

Mỹ, Đức Đặc biệt là các nhà tâm lí học Liên Xô Việc nghiên cứu về thích

ứng có thể được chia thành ba hướng chính bao gồm: hướng thứ nhất nghiên

cứu sự thích ứng nghề nghiệp, thích ứng lao động; hướng thứ hai nghiên cứu

thích ứng với văn hóa mới, thích ứng xã hội; hướng thứ ba nghiên cứu thích

ứng với hoạt động học tập Sau đây là một số công trình tiêu biểu nghiên cứu

về thích ứng

Năm 1968, một số nhà tâm lí học, giáo dục học Liên Xô (cũ) như N.D Carsev, I.N Khadecva, K.D Pavlov đã nêu ra tiêu chuẩn sinh lí của thích ứng

Trang 18

nghề nghiệp và nghiên cứu khá sâu cơ chế sinh lí của thích ứng ở học sinh đối

với chế độ học tập và rèn luyện trong nhà trường Năm 1969, E.A Ermoleava

đã nghiên cứu đặc điểm của sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp ở sinh viên đã

tốt nghiệp trường sư phạm Năm 1971, X.A Kughen và O.N Nhicandov nghiên cứu hoạt động của người kỹ sư trẻ và đã chú ý đến thích ứng của họ đối với hoạt động lao động [8]

Năm 1972, D.A Andreeva đã phân tích sâu sắc khái niệm TƯ Bà đã nêu lên sự khác nhau giữa thích ứng và thích nghi sinh học, đặc biệt đã sử

dụng các nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lí học hiện đại để nghiên

cứu Bà cho rằng: “Thích ứng là quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu

và có mục đích của nhân cách” [8]

Năm 1973 D.A Andreeva lại phân tích khái niệm thích ứng một cách sâu sắc hơn khi so sánh với khái niệm xã hội hóa D.A Andreeva đi đến kết

luận khái niệm thích ứng và xã hội hóa khác nhau về nội dung “Thích ứng”

phản ánh quá trình thích nghi đặc biệt của con người với những điều kiện hoạt động mới, là sự thâm nhập của con người vào những điều kiện mới một cách không gượng ép “Xã hội hóa” về cơ bản phản ánh sự tác động của cá nhân [8]

Năm 1980, James William với tác phẩm: “The Principles of Psychology” ông đã tiến hành phân tích những nguyên lí của sự hình thành và phát triển tâm lí con người đã được dựa trên cơ sở của thích ứng, trong đó cơ

chế thích ứng là cơ chế cơ bản của sự hình thành tâm lí người Từ đó, ông cho

rằng, đối tượng nghiên cứu của tâm lí học chính là nghiên cứu: “Mối quan hệ

giữa các quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài” và ông khẳng định đó chính

là bản chất của quá trình thích ứng của cá thể [40]

Nhà tâm lí học người Thụy Sĩ J Piaget khi nghiên cứu đặc điểm tâm lí

và vấn đề giáo dục trẻ em đã cho rằng: Giáo dục chính là quá trình thích ứng

Trang 19

của đứa trẻ với môi trường lớn Quá trình đó diễn ra theo hai cơ chế không thể tách biệt được đó là sự đồng hóa và điều ứng Ông giải thích: “sự thích nghi sinh học là sự cân bằng giữa đồng hóa và môi trường với cơ thể và sự điều ứng của cơ thể với môi trường Còn sự thích ứng tâm lí được coi là sự thích ứng với thực tế riêng biệt, trong đó con người vừa đồng hóa với những điều

kiện thực tế riêng biệt, vừa điều ứng vai trò của mình cho phù hợp với những hoàn cảnh mới thực tế đặt ra” Quan điểm của J Piaget đã nêu lên ý nghĩa to

lớn của việc hình thành khả năng thích ứng nhanh chóng của học sinh trong công tác giáo dục, đồng thời khái quát lên cơ chế của quá trình hình thành sự thích ứng đó [25]

Chính trong năm 1980, trên tạp chí “Những vấn đề tâm lí học” số 4, A.A Krintreva trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm

lí của sự thích ứng đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trường và ở các trường trung cấp kỹ thuật chuyên nghiệp và trường trung học phổ thông trung

học Tác giả cho rằng: “Thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần vào sản xuất”, A.A Krintreva đưa ra một số đặc trưng thích ứng: 1/ Sự thích ứng nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các chuẩn mực kỹ thuật; 2/ Sự phát triển tay nghề; 3/ Địa vị trong tập thể; 4/ Sự hài lòng về công việc của mình [17]

Năm 1986, A.V Petrovxki và các đồng nghiệp đã nghiên cứu về vấn đề thích ứng môi trường học tập của sinh viên Ông cho rằng thích ứng môi trường học tập của sinh viên là một quá trình phức tạp, diễn ra nhiều mặt: 1/ Thích nghi với hệ thống học tập mới; 2/ Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/ Thích nghi với các mối quan hệ mới [18]

Năm 1990, B P Allen (Mỹ) đã tiếp cận thích ứng của sinh viên thông qua hệ thống các tác động hình thành các kỹ năng ở trường đại học Theo ông, điều kiện cơ bản của sự thích ứng trong của sinh viên là hình thành ở họ các

Trang 20

Tác giả B.D Vunphop đã khẳng định quá trình thích ứng như là sự hòa

hợp các mối quan hệ của con người với xung quanh, là sự giảm căng thẳng các mâu thuẫn giữa con người với xung quanh, là việc con người đạt được sự cân bằng xã hội, là sự khẳng định bản thân trong cuộc sống Tất cả những điều đó đã đặt ra mục đích và nội dung của nền giáo dục thực hành Định nghĩa này không nhằm khám phá khái niệm mà chỉ đề cập đến sự cân bằng mang tính xã hội và yếu tố này đã ảnh hưởng đến quá trình thích ứng ở mức

độ nào [6]

Theo tác giả V Duranop, sự thích ứng trong môi trường giáo dục phải được xem xét như là sự tham gia của cá nhân trong vào môi trường văn hóa -

xã hội, như là một quá trình mà ở đó các thông số chủ yếu của tính cách xã

hội của cá nhân phải diễn ra phù hợp với các điều kiện của giáo dục [8]

Như vậy, để nhận thấy việc nghiên cứu về thích ứng với môi trường được xem xét dưới những góc nhìn khác nhau và thích ứng là một khái niệm được nghiên cứu trên phạm vi rất rộng và ở nhiều lĩnh vực như sinh vật học, kinh tế, xã hội, tâm lí và giáo dục Trong sinh vật học, “thích ứng” chỉ những thay đổi của cơ thể sinh vậy để phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện môi trường sống xung quanh Trong kinh tế học, thích ứng có khi được dùng để

dự tính về giá trị tương lai của các biến số Với xã hội học, “thích ứng” được

Trang 21

hiểu như là việc cá nhân tham gia vào quá trình xã hội hóa Các nhà nghiên

cứu khoa học giáo dục dục thì cho rằng khái niệm thích ứng được hiểu như là

một quá trình mà ở đó các thông số chủ yếu của tính cách xã hội của cá nhân

phải diễn ra phù hợp với các điều kiện mới trong giáo dục Còn riêng trong tâm lí học, thích ứng được dùng để chỉ một quá trình tâm lí của cá nhân trước

sự thay đổi của môi trường cá nhân tham gia vào hoạt động

Theo E.V Tadevoxian, sự thích ứng với môi trường hoạt động học tập- nghề nghiệp là năng lực của con người cải biến (cải tổ, cải tạo, biến đổi) có

hiệu quả và chiếm lĩnh đối tượng của hoạt động nhận thức ở mức độ đã hình thành tính tích cực mà không có sự rối loạn đáng kể nào [21]

Tác giả A Kh Ruxtunốp khi nghiên cứu về thích ứng của sinh viên đã đưa ra nhận định: sự thích ứng là một quá trình tiếp cận phức tạp của sinh viên đối với các điều kiện nhiệm vụ của các trường đại học, nhờ sự “rung động” về tâm lí và đạo đức của họ nhằm phù hợp với các đòi hỏi của hoạt động Việc nghiên cứu và tìm kiếm các yêu cầu và phẩm chất “mẫu mực” về giáo dục xã hội và tâm lí học của sự thích ứng giáo dục xã hội phải có những yêu cầu đặt ra như sau: phải xây dựng cấu trúc thích ứng gồm hai yếu tố liên quan với nhau: nhu cầu thích ứng và tình huống thích ứng; Động lực thích ứng với nghề nghiệp và môi trường học tập làm việc phải được duy trì, phát triển và có kết quả; Sự thích ứng nghề nghiệp và các yêu cầu của nghề cho phép cá nhân được sử dụng các khả năng hoạt động của con người [6]

Các nghiên cứu trên phần lớn tập trung vào thích ứng với môi trường, thích ứng học tập, thích ứng nghề nghiệp, thích ứng văn hóa xã hội Chưa có

một công trình nghiên cứu sâu để thấy rõ tầm quan trọng của thích ứng với môi trường doanh nghiệp, những yêu cầu đặt ra với sinh viên khi tham gia vào môi trường mới Chính vì vậy, khi nghiên cứu về thích ứng với môi

Trang 22

trường doanh nghiệp có những đề tài liên quan, để trên cơ sở đó xây dựng cơ

sở lí luận cho thích ứng với môi trường doanh nghiệp

Việc phân tích lí thuyết cho thấy, các yếu tố quan trọng hoạt động thích ứng với môi trường là phương thức cá nhân trong môi trường xã hội cụ thể; xác định được mục đích đúng đắn Xây dựng các nhiệm vụ của các nhà chuyên môn bao gồm mức độ am hiểu doanh nghiệp, nghĩa là kiến thức về các đòi hỏi của ngành nghề cụ thể, cùng các điều kiện hoạt động trong môi trường làm việc, tạo thuận lợi cho sự thích ứng, giúp mục đích thúc đẩy quá trình nắm vững kỹ năng làm việc, một cách tự lập và khắc phục được mọi khó khăn trong công tác

Tác giả Peter Creed, Tracy Fallon và Michelle Hood thuộc trường đại

học Griffith Austrualia đã có công trình nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa thích ứng nghề nghiệp và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ” Họ đã tiến hành nghiên cứu 245 sinh viên năm thứ nhất về các mối quan tâm về nghề nghiệp, sự thích ứng nghề, xu hướng nghề,…Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Thích ứng môi trường làm việc của nghề có mối quan hệ bên trong và có thể

bị ảnh hưởng phát triển nghề nghiệp trong tương lai, những nhân tố thích ứng nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác [17]

Tác giả M.L Savickas đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về môi trường làm việc của nghề và thích ứng môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp

của sinh viên Trong các tác phẩm của mình, đặc biệt trong bài viết

“Measuring carrer development: Current status and future dereetion”, ông đã đánh giá rất cao vai trò của thích ứng với môi trường làm việc, yêu cầu của ngành nghề đối với cá nhân Ông coi đó như là như là trưởng thành về nghề nghiệp”, thậm chí, sự thích ứng với môi trường làm việc còn biểu hiện ở sự

sẵn sàng đối mặt với tất cả những công việc có thể dự đoán trước được là sự

Trang 23

tham gia vào những vị trí việc làm khác nhau, sự điều chỉnh sao cho phù hợp

để đáp ứng được những thay đổi và điệu kiện công việc [3]

Năm 2005, các tác giả Rottinghaus, Day và Borgen, trong một công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng với môi trường làm việc của ngành nghề có xu hướng giúp mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản thân để xây

dựng và điều chỉnh kế hoạch của bản thân tốt hơn, đặc biệt là khi đối mặt với

những tình huống không dự đoán được trước Đề cập đến tiến trình, tầm quan

trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm việc và năng lực của

mối cá nhân phải đối mặt, khả năng xoay xở với những vấn đề rắc rối nghề nghiệp Khi cá nhân trang bị cho mình những kỹ năng tốt sẽ nhanh chóng thích ứng với môi trường làm việc và kết quả làm việc khả quan hơn [17]

Hai tác giả R.D Duffy và D.L Blustein cho rằng: Khả năng thích ứng môi trường ngành nghề được hiểu như là sự quyết định sự tự chọn một công

việc phù hợp, tự mong muốn đạt được những kết quả nhất định, tìm kiếm

những môi trường học tập nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân [16]

Qua việc điểm lại các công trình nghiên cứu trên thế giới về thích ứng

để ta thấy các nghiên cứu tập trung và chủ yếu đang dừng lại ở mặt lí luận chung của thích ứng với môi trường thích ứng, thích ứng học tập, thích ứng nghề nghiệp, thích ứng văn hóa xã hội Tuy vậy, đây là một cơ sở rất quan

trọng để việc nghiên cứu thích ứng với môi trường doanh nghiệp có hệ thống

1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam về thích ứng với môi trường

Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung thực hiện đề tài: “Bước đầu tìm hiểu

sự thích ứng nghề bước đầu đã chỉ ra một số chỉ số khách quan và chủ quan

để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lí - giáo dục”

Trang 24

sự thích ứng Luận điểm tác giả đưa ra trong đề tài được khái quát như sau: sự thích ứng với môi trường và nghề nghiệp của sinh viên là quá trình thích nghi

với các hoạt động học tập, nghề nghiệp trong những hoàn cảnh nhất định [1]

Năm 1996, tác giả Vũ Thị Nho cùng nhóm nghiên cứu trong đề tài cấp

bộ đã thực hiện đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh tiểu

học” Trong đó, tác giả đã phân tích nội dung: sự thích nghi với hoạt động học

tập ở học sinh bậc tiểu học, đây chính là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này, phân tích đặc điểm hiện trạng sự thích nghi với hoạt động học tập của học sinh tiểu học Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn khảo sát những yếu tố ảnh hưởng chi phối nó, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm giúp trẻ nhanh chóng thích ứng với hoạt động học tập để đạt kết quả cao trong hoạt động [22]

Năm 2000, tác giả Nguyễn Văn Hộ đã có nhiều công trình nghiên cứu

của giáo dục hướng nghiệp và thích ứng nghề, đặc biệt là tác phẩm: “Thích ứng sư phạm”, tác giả đã đưa ra khái niệm về thích ứng và thích ứng sư phạm, phân tích các nội dung về hình thành khả năng thích ứng về tay nghề trong qua trình đào tạo cho sinh viên sư phạm, thích ứng với quy trình lên lớp, thích ứng với hoạt động giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thoát nội dung công tác chủ nhiệm lớp, thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo

dục, ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số biện pháp giúp sinh viên đại học thích ứng với nghề môi trường sau khi tốt nghiệp Đề tài này, chính là một trong

Trang 25

những phương pháp kiểm tra đánh giá thường xuyên Thông qua đề tài tác giả

kiến nghị việc cần thiết tăng cường cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo, cung

cấp hình thức và cách thức tiến hành các nội dung hoạt động học tập cho sinh viên, đặc biệt là những sinh viên năm thứ nhất góp phần nâng cao khả năng thích ứng với môi trường mới cho các bạn sinh viên năm nhất, tạo tiền đề cho

những năm học tiếp theo và sau khi tốt nghiệp thích ứng với làm việc [31]

Năm 2009, tác giả Đỗ Thị Thanh Mai với luận án tiến sĩ: “Mức độ thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên hệ cao đẳng trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” Tác giả đưa ra kết luận: sinh viên hệ cao đẳng học tập không giống nhau với hoạt động thực hành môn học tại trường Đa số sinh viên cao đẳng trường đại học công nghiệp Hà Nội năm thứ ba được nghiên

cứu có kết quả ở mức trung bình với hoạt động học tập thực hành tại trường Trước khi tốt nghiệp, số sinh viên thích ứng với hoạt động thực hành môn học

vẫn chiếm tỷ lệ chưa cao Mức độ thích ứng với hoạt động học tập chịu nhiều

yếu tố Các yếu tố chủ quan như: Chỉ số phát triển trí thông minh, kiểu tính cách, khí chất, sức khỏe, nỗ lực cá nhân Các yếu tố khách quan như: việc tổ

chức đào tạo của nhà trường, sự nhiệt tình và phương pháp giảng dạy của giáo viên luận án đã cung cấp đầy đủ số liệu về khả năng thích ứng với hoạt động thực hành môn học của sinh viên trong các năm học Đề tài này cũng

Trang 26

yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thích ứng môn học của sinh viên Trong đó cả hai yếu tố chủ quan và khách quan đều được tác giả đề cập đến trong đề tài,

những yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn đến mức độ thích ứng Thông qua đề tài tác giả đã đưa ra kết luận và kiến nghị: Nếu tổ chức và hướng dẫn sinh viên thực hành một số hành động học cơ bản sẽ góp phần nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên trong quá trình học tập [14]

Năm 2011, tác giả Nguyễn Chí Tăng nghiên cứu: “Sự thích ứng của giáo viên trung học cơ sở với ứng dụng công nghệ thông tin và hoạt động

giảng dạy” Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy hầu hết giáo viên THCS thích ứng với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy ở mức trung bình Mức độ thích ứng của giáo viên THCS đối với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy có sự khác nhau giữa giáo viên trên địa bàn (thành thị, đồng bằng, trung du miền núi), giữa giáo viên dạy các môn

học, giữa các độ tuổi của giáo viên Các yếu tố: trình độ tin học; ý chí của giáo viên; tính cách cá nhân; sự hỗ trợ; giúp đỡ của tập thể; quản lí của lãnh đạo nhà trường; điều kiện vật chất ảnh hưởng đến sự thích ứng của giáo viên

Trang 27

với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy Biện pháp cung

cấp kiến thức, tổ chức thực hành ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động

giảng dạy góp phần nâng cao mức độ thích ứng của giáo viên THCS với ứng

dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy [29]

Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Út Sáu nghiên cứu đề tài: “Thích ứng

với hoạt động học tập theo hệ tín chí của sinh viên đại học Thái Nguyên” Qua nghiên cứu tác giả đưa ra những kết luận: Sinh viên đại học Thái Nguyên thích ứng ở mức khá với hoạt động học tập theo hệ thống tín chỉ, tuy nhiên

những mặt sinh viên thích ứng ở mức độ cao chưa phản ánh những ánh những đặc trưng của phương thức đào tạo theo tín chỉ Còn những nội dung thể hiện đặc trưng của phương thức đào tạo này thì sinh viên thể hiện ở mức độ thấp hơn Sự thích ứng của sinh viên trên các mặt nhận thức, thái độ và hành động Thích ứng với hoạt động học tập theo hệ chế tín chỉ của sinh viên chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Trong số những yếu tố

chủ quan ảnh hưởng đến việc học tập theo hệ thống tín chỉ thì yếu tố phương pháp học tập có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất Sau quá trình nghiên cứu tác giả đưa ra kết luận: cần nâng cao nhận thức của sinh viên về quy chế đào tạo học

tập theo hệ thống tín chỉ, tạo sự thích ứng về mặt pháp chế cho sinh viên; Hướng dẫn hành động học tập theo tín chỉ cho sinh viên; Phát triển năng lực

tự học cho sinh viên [26]

Năm 2013, tác giả Dương Thị Thanh Thanh nghiên cứu đề tài: “Mức

độ thích ứng với hoạt động trong quản lí dạy học của hiệu trưởng trường tiểu

học” Đề tài đã đưa ra được mức độ thích ứng, trên cơ sở đó xây dựng những

biện pháp để quản lí tốt việc dạy học [32]

Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến sự thích ứng

với hoạt động học tập, thích ứng nghề nghiệp chưa có những đề tài nghiên

cứu sâu về thích ứng với môi trường doanh nghiệp

Trang 28

Tâm lí học hành vi do J.Waston khởi xướng với luận điểm cơ bản: Tâm lí

học đích thực phải lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu chứ không phải là ý

thức Theo quan điểm của những người trong thuyết này, về nguyên tắc, các quy luật và cơ chế thích ứng ở người giống ở động vật, chỉ khác là môi trường

sống của con người có thêm một số yếu tố mới như ngôn ngữ, giao tiếp và các quy tắc xã hội Sự thích ứng ở con người có cơ chế và quy luật phức tạp hơn nhưng không có sự khác biệt về chất so với động vật Do đó, khi nghiên cứu

sự thích ứng của con người vẫn phải giữ lại những khái niệm cơ bản của tiến hóa sinh học: thích nghi với môi trường và sống còn, liên kết và phân hóa các

chức năng của chúng, kinh nghiệm loài và cá thể sự thích ứng của con người

chỉ phức tạp hơn của động vật về mặt số lượng [6]

Thừa kế quan điểm của các nhà Tâm lí học động vật, J Waston cho rằng

để tồn tại, cá nhân có một hệ thống hành vi, ứng xử do quá trình học tập Trong đó, từng hành vi cụ thể có cơ sở là các kinh nghiệm, hành vi cũ và động lực là sự thích ứng Đó là quá trình cá nhân học được hành vi mới cho phép giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi từ cuộc sống Sự kém thích ứng

là không học được hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi trường Việc học tập của J Waston xem xét dưới góc độ hình thành kinh nghiệm và hành vi cá thể (tập nhiễm) Với lí luận hành vi, ông coi con người

là một cơ thể sống với một hệ thống kỹ xảo đã được học đáp ứng với những đòi hỏi của môi trường xung quanh [6]

Sau này, lí thuyết hành vi còn có một xu hướng phát triển khác là tâm lí

học hành vi nhận thức mà tiêu biểu là W Mischel Trường phái này chú trọng

Trang 29

vai trò nhận thức của con người trong quá trình thích ứng Ông đã nhìn nhận hành vi thích ứng một cách đầy đủ toàn diện hơn Cùng với việc chú ý đến vai trò của yếu tố bên trong, W Mischel đã phát hiện ra tính tích cực cỉa chủ thể thích ứng Mặc dù chưa vạch ta được bản chất đích thực của thích ứng tâm lí

ở con người, nhưng chủ nghĩa hành vi đã có những đóng góp nhất định vào

việc giải quyết vấn đề này

b) Tâm lí h ọc nhân văn về vấn đề thích ứng

Đại diện tâm lí học Nhân văn là A Maslow Ngược lại với chủ nghĩa hành

vi, trường phái này lấy nhân cách là đối tượng nghiên cứu, xem nhân cách là

một hiện tượng chỉ có ở con người, là một hệ thống mở nhưng trọn vẹn và tự

thể hiện Đó là năng lực bộc lộ tiềm năng sáng tạo, tin vào bản thân và tương lai Động lực thực sự của hành vi thích ứng là nhu cầu hướng thiện, vị tha, vì

xã hội Thích ứng là những ứng xử tích cực của cá nhân với tư cách là chủ thể

của thế giới xung quanh và với chính mình A Maslow coi thích ứng là sự thể

hiện được những cái vốn có của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định Sự không thích ứng chính là sự không được tự thể hiện, sẽ tạo ra xung đột và ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách Tiền đề tạo ra sự thích ứng là

một hệ thống nhu cầu của nhân cách, được sắp xếp theo thứ bậc mà cao nhất

là nhu cầu tự thể hiện- một nhu cầu bẩm sinh nhưng có tính chất nhân văn,

chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp được thỏa mãn [11] Mặc dù không

phủ nhận vai trò của cái vô thức, bản năng (Phân tâm học) hay quá trình học

tập (của chủ nghĩa hành vi), nhưng A Maslow có quan điểm khác về yếu tố quy định sự thích ứng Theo ông, nhu cầu “tự thể hiện” mong muốn phát triển

hết mức khả năng vốn có của bản thân và năng lực chọn một cách có ý thức

những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định sự thích ứng

của con người

Trang 30

Tâm lí học nhân văn đã coi trọng tính tích cực lựa chọn và phẩm chất tự đánh giá của nhân cách trong quan hệ cá nhân- xã hội Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng biện pháp tác động đến sự thích ứng tâm lí nói chung và sự thích ứng với nghề nghiệp nói riêng Đó là tư tưởng tiến bộ

của trường phái này

Theo tác giả, thích ứng có 3 cấp độ;

Thích ứng sinh học (thích ứng vật chất) làm cho cơ thể bằng xương bằng

thịt tồn tại và phát triển có thể nhận thức trực tiếp qua các giác quan

Thích ứng tâm lí (thích ứng chức năng) có nguồn gốc sinh học

Thích ứng trí tuệ: theo J.Piaget, trí tuệ không phải là cái có ngay từ đầu khi đứa trẻ mới sinhh Nó là kết quả của sự tương tác giữa cơ thể và môi trường Trong quá trình tương tác giữa cơ thể và môi trường, con người tạo ra trí tuệ

của mình Mỗi người tương tác như thế nào thì trí tuệ được hình thành và phát triển theo hướng đó Tuy nhiên, J Piaget luôn khẳng định, trí tuệ có nguồn

gốc sinh học nó tương tác với môi trường tạo nên sự cân bằng thích ứng Trí

tuệ là sản phẩm quá trình thích nghi của cơ thể với môi trường

J Piaget đã có những đóng góp quan trọng về sự thích ứng tâm lí của con người và cơ chế phát triển của thích ứng nhân thức, về những yếu tố ảnh hưởng đến nó Tuy nhiên, J Piaget đã nhìn nhận sự phát triển tâm lí dưới góc

độ thích nghi sinh học, ông chủ yếu chú ý tới mặt hình thức của sự thích ứng

mà chưa quan tâm đúng mức bản chất, nội dung xã hội-lịch sử của sự thích

Trang 31

ứng tâm lí người Ông đã đánh giá quá cao yếu tố thành thục trong sự thích ứng và sự thích ứng diễn ra như thế nào chứ chưa coi trọng vấn đề làm thế nào để con người phát triển nhất là ở trẻ em cũng như các giai đoạn lứa tuổi khác

d) Phân tâm h ọc về vấn đề thích ứng

Phân tâm học do S Freud khởi xướng Xuất phát từ cách nhìn sinh vật đối

với nhân cách, cho rằng nhân cách là một cấu trúc tổng thể trọn vẹn với ba thành tố “cái nó”, cái tôi” và cái “siêu tôi” có vai trò chức năng khác nhau đối

với đời sống của con người Theo S Freud, hành vi sống của con người có hình thức căn bản và được thúc đẩy bởi bản năng, mà quyết định là bản năng tính dục và bản năng xâm chiếm Tuy nhiên, cái bản năng này luôn bị cấm đoàn bởi xã hội (cái siêu tôi) Để tồn tại, con người phải đạt được sự cân

bằng, sự hài hòa giữa hai cái đối lập “cái nó” và “cái siêu tôi” nhân cách là kết

quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống cá thể Lí thuyết Phân tâm cổ điển của S Freud xuất phát từ quan điểm sinh vật luận nên không phát hiện được bản chất xã hội lịch sử của sự thích ứng ở con người

Sau này, những người kế tục S Freud đã xây dựng nên trường phái Phân tâm học hiện đại như C Jung, E Fromm và E Erikson Các ông cho rằng S Freud quá đề cao vai trò quan trọng của sự thích ứng cá nhân, là chủ thể của hành vi chứ không là phương thức thỏa mãn “cái nó” Khác với S.Freud, các nhà Phân tâm học hiện đại đã coi trọng vai trò của quan hệ xã hội đối với các hành vi thích ứng cá nhân E Fromm cho rằng: “Cần phải xem xét hành vi thích ứng của cá nhân từ tính chất xã hội của môi trường” E Erikson thì nhấn

mạnh: “sự thích ứng tâm lí là thiết lập các quan hệ xã hội của cá nhân với

những người xung quanh” [38]

e) Tâm lí h ọc Mác xít về vấn đề thích ứng

Trang 32

Cùng với việc phê phán cách tiếp cận trên, tâm lí học Mác xít giải quyết

vấn đề theo một hướng hoàn toàn khác Một mặt, thừa nhận con người phải thích nghi với môi trường sống như là một sinh vật, “vì con người là một tồn

t ại tự nhiên, nên đương nhiên nó không thể đứng ngoài sự tác động của môi trường” Mặt khác, khẳng định con người là một thực thể xã hội nên phải

đặt vấn đề” một cách khác: khi nói về con người, tức là vấn đề quan hệ

“người xã hội” trở thành vấn đề chủ yếu, thì cái gì là nội dung mới của vấn đề

“cơ thể-môi trường”

L.X Vưgôtxki đã chỉ rõ “quá trình một đứa trẻ bình thường ăn nhập vào

nền văn minh thường không thống nhất với các quá trình cơ thể chín muồi”

Hai bình diện phát triển- tự nhiên và văn hóa- nhập vào nhau tạo nên một sự hình thành thống nhất xã hội- sinh vật của nhân cách trẻ” Từ sự quan niệm về

sự thống nhất biện chứng của hai mặt tự nhiên và văn hóa trong sự phát triển

của đứa trẻ, L.X Vưgôtxki đã đưa ra một tư tưởng mới về bản chất của sự thích nghi của con người Ông khẳng định: “Con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường

dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm trù sinh vật tạo nên một hệ thống hành vi có

chất lượng khác và theo một tổ chức mới”.L.X vưgôtxki gọi dạng thức hành

vi chuyên biệt này là hành vi cấp cao Hệ thống hành vi cấp cao này khác biệt

về chất lượng so với hành vi sinh vật Trước hết là ở các kích thích tạo ra các kích thích tác động vào bản thân mình Hơn thế nữa, con người còn dùng các kích thích tự tạo để làm chủ hành vi của chính mình “Con người tự kiểm soát hành vi của chính mình bằng các kích thích – phương tiện tự tạo” Các kích thích, phương tiện tự tạo được Vưgôtxki coi là chìa khóa để giải quyết bản

chất về vấn đề thích ứng tâm lí ở người Theo ông, thích ứng theo nguyên tắc tín hiệu (phản xạ có điều kiện) là loại thích ứng chung cho cả người và động

Trang 33

vật Nhưng ở người, đây không phải là phương thức thích ứng đóng vai trò

chủ đạo Phương thức đóng vai trò chủ đạo ở người có nguyên tắc khác hẳn, không có ở động vật, đó là nguyên tắc dấu hiệu Quá trình tín hiệu hóa phân hóa phản ánh các mối quan hệ tự nhiên đảm bảo cho cơ thể đáp ứng kích thích từ môi trường Việc dấu hiệu hóa cho phép con người có khả năng một

loại cân bằng với môi trường- biến đổi chính môi trường và biến đổi hành vi

của chính mình với tư cách là một chủ thể tích cực Dấu hiệu là công cụ tâm

lí để chủ thể điều chỉnh hành vi Dấu hiệu cũng như công cụ vật chất được hình thành trong lịch sử xã hội loài người [7]

Với việc phát hiện ra dạng thức cấp cao của hành vi người, cơ chế của sự hình thành và điều khiển nó ở cá nhân Vưgôtxki đã thấy sự khác biệt cơ bản

của sự thích ứng tâm lí - xã hội ở người và sự thích nghi sinh học ở động vật Theo đó, sự thích ứng của trẻ em trong môi trường xã hội là một quá trình kép Một mặt trẻ hình thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác, hình thành các chức năng tâm lí cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi

đó Cả hai mặt của quá trình này đều được thực hiện bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hóa- xã hội Những tư tưởng đúng đắn, biện chứng của Vưgôtxki đã được các nhà tâm lí học liên xô kế thừa và phát triển, cụ thể hóa Quan điểm của ông cũng là kim chỉ nam cho việc giải quyết các vấn đề lí luận và thực tiễn

của luận văn này

Thuật ngữ thích ứng xuất phát từ tiếng La tinh là Adapto (từ điển Tâm

lí học của Raymond J Corsini, Mỹ 1999) Trong tiếng La tinh, thích nghi, thích ứng là Adaption/ Adaptation tiếng Pháp là s’adaper, tiếng Đức thích nghi, thích ứng là Adapition [34]

Thuật ngữ “thích nghi” - adapition, adapition ban đầu mang ý nghĩa sinh học,

đó là sự thay đổi hành vi loài của cá thể nhằm đáp ứng được sự thay đổi của

Trang 34

điều kiện sống để tồn tại Về sau, thuật ngữ “thích nghi” được dùng trong tâm

lí học và được chuyển thành thuật ngữ “thích ứng” Hiện nay, thuật ngữ

“thích nghi” “thích ứng” được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau [33]

Trước hết cần phân biệt hai khái niệm thích nghi và thích ứng Trong khoa học nói chung và trong đời sống hằng ngày hai khái niệm này nhiều khi

sử dụng đồng nghĩa với nhau, nhiều tài liệu còn đồng nhất hai khái niệm này

là một Giữa thích ứng và thích nghi có điểm chung, thích ứng là một phần

của thích nghi

Trong từ điển Tiếng Việt của trung tâm từ điển ngôn ngữ (1997) thích nghi được hiểu là những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh mới Trong khi đó thích ứng có hai nghĩa: 1/ Như là thích nghi; 2/ Là những thay đổi cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện mới

Trong từ điển Tiếng Việt thuật ngữ thích ứng có hai nghĩa: Một là có

những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện mới; Hai là như thích nghi, tức

là có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh môi trường mới [36]

Trong sổ tay Tâm lí học do Trần Hiệp và Đỗ Long chủ biên thích nghi được các tác giả giải thích là sự thích ứng về cấu tạo và chức năng của cơ thể bao gồm các cơ quan và tế bào của nó đối với điều kiện môi trường Thích nghi xã hội có hai nghĩa: 1/ Quá trình tích cực của cá nhân đối với những điều

kiện của môi trường xã hội mới 2/ Kết quả của quá trình trên

Trong từ điển Tiếng Việt viết: “Thích nghi là những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh, với môi trường mới, thích nghi với các nếp sinh

hoạt mới Còn thích ứng là những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện

mới, lối làm việc thích ứng với tình hình mới” [24]

Trang 35

Trong từ điển tâm lí họcdo Nguyễn Khắc Viện cho rằng mọi sinh vật và con người sống được trong môi trường có những biến động bằng cách thay đổi chính bản thân hoặc tìm cách thay đổi môi trường [36]

Bước đầu của quá trình này sẽ là điều chỉnh những phản ứng sinh lí (như thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm) sau này là

biến đổi cách ứng xử, hoạt động, nhân cách, đây chính là nét mới trong thích ứng tâm lí [37]

Từ điển tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên, “thích ứng” phản ứng của cơ

thể với những thay đổi của môi trường Về nguyên tắc có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi khác nhau của điều

kiện môi trường: Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các

cơ quan; đây là phương thức phổ biến ở động vật và thực vật; Thích ứng bằng thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức, phương thức này chỉ đặc trưng ở động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lí Phương thức thích ứng này được phân chia thành hai hướng khác nhau [5]

Thay đổi chậm những hành vi được thừa kế- bản năng, mà sự tiến hóa

của những bản năng này diễn ra dưới ảnh hưởng của những thay đổi môi trường với tốc độ chậm

Phát triển năng lực học tập của cá nhân, năng lực “hành động hợp lí”-

những thay đổi nhanh của hành vi, “sáng tạo” ở mức độ nhất định những phương thức hành vi mới để đáp lại những thay đổi nhanh của môi trường mà

bản năng bị bất lực; những hoạt động này không nhất thiết phải cố định, phải

di truyền, vì sự ưu việt của chúng là tính mềm dẻo cao; vì vậy, chỉ có những

khả năng hành động quy định thứ bậc cao của tổ chức tâm lí sinh vật mới được di truyền

Theo tác giả Lê Ngọc Lan: “Sự thích nghi thấp nhất của giới sinh vật là thích nghi sinh học” Sự thích nghi này đảm bảo cho cá thể sinh vật tồn tại

Trang 36

trong môi trường tương đối ổn định Trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóng, có biến động cao thì động vật bậc cao đã đưa thích nghi lên một trình độ mới cả về nội dung và hình thức Động vật không chỉ thụ động đáp ứng các kích thích của môi trường mà còn có các phản ứng đáp lại các kích thích đó một cách kịp thời- thích ứng Sự thích ứng được thực hiện bằng cơ

chế phản xạ của hệ thần kinh” [15]

Tác giả Phùng Đình Mẫn cho rằng: “Thích ứng ở con người là thích ứng với hoạt động và trong hoạt động Khi tiến hành bất kì hoạt động nào, con người cũng phải thích ứng với nó Đó là điều kiện quyết định hiệu quả lao động [20]

Theo tác giả Lê Thị Minh Loan: “Thích ứng là quá trình cá nhân lĩnh

hội một cách tích cực, chủ động các điều kiện mới hay hoàn cảnh mới, qua đó đạt được các mục đích, yêu cầu đề ra và sự trưởng thành về mặt tâm lí, nhân cách” [16]

Có thể hiểu thích ứng tâm lí là một cấu trúc tâm lí bao gồm hai yếu tố

cơ bản: Thứ nhất, nắm được những phương thức hành vi thích hợp, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và hoạt động; Thứ hai, hình thành những cấu tạo tâm lí

mới, tạo nên tính chủ thể của hành vi - hoạt động Hai yếu tố này gắn bó chặt

chẽ với nhau tạo nên sự thích ứng ở con người Qua đó, con người điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có và hình thành được hệ thống thái độ, hành vi mới phù hợp với môi trường đã thay đổi

Thích ứng tâm lí của con người là sự thích ứng tích cực bằng hoạt động

và thông qua hoạt động Mức độ thích ứng của mỗi cá nhân phụ thuộc vào

mức độ tích cực hoạt động và hiệu quả hoạt động của chính bản thân người

đó Chính vì vậy, để đánh giá mức độ thích ứng của cá nhân phải dựa vào

mức độ phù hợp của hành vi, ứng xử của cá nhân với điều kiện sống và hoạt động của người đó Có thể khẳng định rằng, hoạt động là phương thức, vừa là

Trang 37

biểu hiện khách quan của sự thích ứng tâm lí- xã hội của cá nhân Bên cạnh

đó, hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với con người, cho nên sự thích ứng tâm lí ở con người là sự thích ứng trong mối quan hệ xã hội Ngoài ra, thích ứng tâm lí là biểu hiện của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, đảm bảo cho cá nhân đáp ứng được với yêu cầu, điều

kiện mới của cuộc sống và hoạt động Mặt khác, thích ứng còn là điều kiện

của việc tiếp thu những phương thức hành vi, hoạt động mới, là điều kiện cho

sự phát triển tâm lí cá nhân Xét ở góc độ ý thức, sự thích ứng tâm lí còn được xem là sự hình thành những cấu trúc tâm lí, ý thức và tự ý thức giúp con người định hướng, điều khiển điều chỉnh một cách tích cực và tự giác thái độ, hành vi của bản thân để đáp ứng yêu cầu, điều kiện mới của hoạt động

Qua sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm thích ứng:

“Thích ứng là khả năng của chủ thể trước sự thay đổi của môi trường xung quanh nh ằm lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử để hình thành nét hành vi- kỹ năng, phẩm chất thói quen mới Trên cơ sở đó, điều khiển, điều chỉnh hành vi phù h ợp với yêu cầu, chuẩn mực xã hội đặt ra”

Thích ứng của con người có các đặc điểm cơ bản sau:

Th ứ nhất: Thích ứng là quá trình tích cực của chủ thể trong quá trình

tác động qua lại giữa chủ thể và môi trường sống mới, với các hoạt động có yêu cầu mới

Th ứ hai: Thích ứng chỉ nảy sinh khi chủ thể thay đổi môi trường sống

mới hoặc tiến hành các hành động với những yêu cầu mới Khi điều kiện sống

có nhiều biến đổi, những yêu cầu của các hoạt động mới mẻ thì đặc điểm cơ

thể, đặc điểm tâm sinh lí trong câu trúc tâm lí không còn thích hợp để phản ứng với môi trường sống mới buộc chủ thể phải có sự thay đổi cấu trúc tâm lí

Trang 38

bên trong cơ thể trên cơ sở đó điều chỉnh, hình thành hành động mới cho phù

hợp với yêu cầu mới

Th ứ ba: Kết quả của của sự thích ứng là chủ thể hình thành nét cấu tạo

tâm lí mới bao gồm nhận thức, thái độ, hành vi nhằm đáp ứng yêu cầu của

hoạt động môi trường mới

Thứ tư: biểu hiện khác quan nhất, rõ nét nhất của thích ứng là chủ thể

có được hành động phù hợp và đáp ứng yêu cầu mới trong hoạt động

Phân loại thích ứng

Nhìn chung, ở nhiều góc độ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái

niệm thích ứng khác nhau Và biểu hiện của sự thích ứng cũng được chia ra thành nhiều mức độ cao thấp khác nhau Sau đây là các mức độ thích ứng theo quan điểm của chúng tôi:

Thích ứng sinh lí: Là mức độ thấp nhất, đầu tiên của sự thích ứng

Mức độ này được đặc trưng ở những phản ứng có tính chất tự động của cơ thể trước những biến đổi của môi trường sống trực tiếp để tạo ra sự cân bằng Cơ

chế thích ứng sinh lí là phản xạ không điều kiện

Thích ứng tâm lí: Đây là loại hình thích ứng ở trình độ cao hơn, xuất

hiện ở người và các động vật có hệ thần kinh trung ương Đặc trưng của thích ứng tâm lí là cơ thể thích ứng không chỉ với những tác động trực tiếp, mà còn

với kích thích gián tiếp có tính chất tín hiệu của môi trường Cơ chế thích ứng tâm lí là các phản xạ có điều kiện

Thích ứng tâm lí- xã hội: Thể hiện sự thích ứng ở trình độ cao nhất chỉ

có ở con người Đặc trưng của hình thức này là con người sống trong môi trường xã hội tiếp nhận được các giá trị xã hội, hòa nhập vào xã hội và có khả năng đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Sự cân bằng giữa cơ

thể và môi trường ở trình độ này là sự cân bằng tích cực, tự giác Cơ chế của

sự thích ứng xã hội là hoạt động và giao tiếp của con người

Trang 39

Vai trò của thích ứng

Thích ứng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển hoàn thiện nhân cách ở mỗi người Khi chủ thể nhận thức được tầm quan

trọng của thích ứng với những điều kiện môi trường xung quanh sẽ tích cực,

chủ động tham gia vào hoạt động để chiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng

Trước sự thay đổi nhanh chóng từ môi trường, chủ thể có khả năng thích ứng sẽ làm chủ được nhận thức, thái độ, hành vi Đưa ra những phương cách ứng xử phù hợp với môi trường xung quanh

Thích ứng còn là động lực cho chủ thể phát triển và nâng cao giá trị bản thân, trước một môi trường mới chủ thể biết thay đổi để phù hợp, không

ngừng nỗ lực để tạo lập giá trị, phát huy năng lực bản thân, tích lũy thêm

những kinh nghiệm, kiến thức kỹ năng mới

Khi có được sự thích ứng tốt chủ thể luôn sẵn sàng trước mọi thay đổi

của hoàn cảnh, sẵn sàng cho sự thay đổi của bản thân, nhìn nhận vấn đề theo hướng lạc quan, tích cực Nếu chủ thể không có được sự thích ứng tốt có thể rơi vào cảm xúc âm tính và gặp phải những mâu thuẫn trong chính bản thân mình và với yếu tố, môi trường xung quanh

1.2.2 Lí luận về kỹ năng thích ứng

Trong những năm gần đây khái niệm kỹ năng được nhắc đến khá nhiều,

từ các chương trình học đến sách báo và các phương tiện truyền thông đại chung, từ yêu cầu cuộc sống, sự thay đổi nhanh chóng của xã hội buộc mỗi người cần chuẩn bị cho mình những hành trang về kỹ năng để thích ứng tốt hơn và hoàn thành vai trò nhiệm vụ của mình một cách thành công hơn Tuy

vậy để xây dựng được một cơ sở lí luận về kỹ năng cần có thời gian, nghiên

cứu và tổng hợp các nguồn tài liệu khác nhau Trong giới hạn phạm vi về đề tài kỹ năng thích ứng, chúng tôi xin đưa ra những tổng hợp những lí luận

Trang 40

Mỹ dó tác giả J P Chaplin chủ biên(1986) định nghĩa kỹ năng là: “Thực hiện

một trật tự cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [27]

Từ điển tâm lí học Liên Xô cũ định nghĩa: “Kỹ năng là giai đoạn của

việc nắm vững một phương thức hành động mới, cái dựa trên một quy tắc (tri

thức) nào đó và trong quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng

với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo”

Tác giả N.D Levitov xem xét kỹ năng gắn liền với hành động Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông nhấn

mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người phải nắm vững lí thuyết về hành động, vừa phải dụng lí thuyết đó vào thực tế [31]

Quan ni ệm thứ hai: Xem KN dưới góc độ về năng lực của con người

Từ điển tiếng Việt (1992), định nghĩa: “KN là khả năng vận dụng

những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [13]

Từ điển tâm lí học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” [5]

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm