1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn tiếng anh ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố hồ chí minh

142 293 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó rất quan trọng bởi lẽ khi có nhận thức đầy đủ và thái độ đúng đắn đối với tiếng Anh thì việc học tiếng Anh là vô cùng quan trọng để các em học sinh học tập nỗ lực hơn và đạt kết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NH ẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH

L ỚP 12 ĐỐI VỚI MÔN TIẾNG ANH Ở MỘT SỐ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

T ẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành ph ố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NH ẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH

L ỚP 12 ĐỐI VỚI MÔN TIẾNG ANH Ở MỘT SỐ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn tiếng Anh ở một số trường trung học phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tp H ồ Chí Minh, ngày 10 tháng 02 năm 2016

Người cam đoan

Hu ỳnh Thị Thiệt

Trang 4

Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ rất tận tình từ nhiều cá nhân và tập thể

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám Hiệu, cán bộ và chuyên viên phòng Sau Đại học, quý Thầy Cô khoa tâm lý – Giáo dục trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh và quý Thầy Cô trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Tâm lý học khóa 24

đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin gởi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu và tập thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên trường Trung học Thực Hành Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh; THPT Nguyễn Công Trứ, Quận Gò Vấp; THPT Quang Trung Huyện Củ Chi; THPT Long Thới huyện Nhà Bè đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu đề tài tại trường

Đặc biệt, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành và xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Văn Điều- người hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn và tận tình động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình đã luôn yêu thương, chăm sóc tôi trong quá trình học tập

Huỳnh Thị Thiệt

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

M Ở ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI MÔN TIẾNG ANH 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài 5

1.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước 7

1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8

1.2.1 Nhận thức 8

1.2.2 Thái độ 11

1.2.3 Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ 16

1.2.4 Môn tiếng Anh 17

1.2.5 Nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh 19

1.3 Lý luận về nhận thức và thái độ 20

1.3.1 Lý luận về nhận thức 20

1.3.2 Lý luận về thái độ 25

1.4 Một số đặc điểm của HS THPT 30

1.4.1 Đặc điểm hoạt động học tập lứa tuổi HS THPT 31

1.4.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của HS THPT 31

1.4.3 Đặc điểm hoạt động giao tiếp 32

1.4.4 Đặc điểm hoạt động lao động, chọn nghề 33

1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ đối với tiếng Anh của HS THPT 33

1.5.1 Yếu tố chủ quan 33

Trang 6

tiếng Anh 36

1.6.1 Một số tiêu chí đánh giá nhận thức của HS lớp 12 đối với môn tiếng Anh 36

1.6.2 Một số tiêu chí đánh giá thái độ của HS lớp 12 đối với môn tiếng Anh 36

Ti ểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI MÔN TI ẾNG ANH CỦA HS LỚP 12 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38

2.1 Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng 38

2.1.1 Mục đích, yêu cầu 38

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng về nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh 39

2.2.1 Thực trạng về nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh 39

2.2.2 Thực trạng thái độ đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh 64

2.3 Thực trạng đánh giá của giáo viên và phụ huynh về nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở trường THPT TP HCM 82

2.3.1 Thực trạng đánh giá của phụ huynh về nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở trường THPT TP HCM 82

2.3.2 Thực trạng đánh giá của GV về nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn tiếng Anh ở một số trường THPT tại TP.HCM 85

Ti ểu kết Chương 2 92

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 97

PH Ụ LỤC

Trang 7

TB : Trung bình ĐLTC : Độ lệch tiêu chuẩn ĐPC : Độ phân cách

XH : Xếp hạng

Trang 8

Bảng 2.1 Thành phần mẫu nghiên cứu 39 Bảng 2.2 Kết quả nhận thức đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số

trường THPT TP Hồ Chí Minh 40 Bảng 2.3 Mức độ quy đổi từ kết quả điểm trung bình của các câu nhận thức 44 Bảng 2.4 Nhận thức về lợi ích của môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số

trường THPT TP Hồ Chí Minh 45 Bảng 2.5 Nhận thức về đặc điểm và vai trò của môn tiếng Anh của HS lớp 12

ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh 49 Bảng 2.6 Nhận thức về phương pháp dạy môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở

một số trường THPT ở TP Hồ Chí Minh 52 Bảng 2.7 Nhận thức về sự mong đợi khi học môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở

một số trường THPT ở TP Hồ Chí Minh 57 Bảng 2.8 Kết quả so sánh nhận thức về sự mong đợi đối với môn tiếng Anh

của HS lớp 12 ở một số trường THPT xét trên phương diện giới tính 58 Bảng 2.9 Kết quả so sánh nhận thức về sự mong đợi đối với môn tiếng Anh

của HS lớp 12 ở một số trường THPT xét trên phương diện khu vực

cư trú 60 Bảng 2.10 Nhận thức về mức độ khó môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số

trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh 61 Bảng 2.11 Kết quả so sánh nhận thức về độ khó của môn tiếng Anh đối với

HS lớp 12 ở một số trường THPT xét trên phương diện giới tính 62 Bảng 2.12 Kết quả so sánh nhận thức về độ khó của môn tiếng Anh đối với

HS lớp 12 ở một số trường THPT xét trên phương diện khu vực cư trú 63 Bảng 2.13 Kết quả thái độ đối với môn tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số

trường THPT TP Hồ Chí Minh 64 Bảng 2.14 Mức độ quy đổi từ kết quả điểm trung bình của các câu thái độ 67

Trang 9

Bảng 2.16 Thái độ tiêu cực đối với môn học tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số

trường THPT TP Hồ Chí Minh 71

Bảng 2.17 Kết quả so sánh thái độ tiêu cực của HS lớp 12 khi học môn tiếng Anh xét trên phương diện khu vực cư trú 73

Bảng 2.18 Kết quả so sánh thái độ tiêu cực của HS lớp 12 khi học môn tiếng Anh xét trên phương diện khu vực cư trú 74

Bảng 2.19 Thái độ đối với thực trạng và viễn cảnh của việc học tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh 75

Bảng 2.20 Kết quả so sánh thái độ đối với thực trạng và viễn cảnh khi học môn tiếng Anh của HS lớp 12 xét trên phương diện giới tính 76

Bảng 2.21 Kết quả so sánh thái độ đối với thực trạng và viễn cảnh khi học môn tiếng Anh của HS lớp 12 xét trên phương diện khu vực cư trú 77

Bảng 2.22 Thái độ đối với việc tham gia học tiếng Anh của HS lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh 79

Bảng 2.23 Kết quả so sánh thái độ tham gia học tiếng Anh của HS lớp 12 xét trên phương diện giới tính 80

Bảng 2.24 Kết quả so sánh thái độ tham gia học tiếng Anh của HS lớp 12 xét trên phương diện khu vực cư trú 81

Bảng 2.25 Mô tả tổng quan về phụ huynh 82

Bảng 2.26 Đánh giá của PH về việc học môn tiếng Anh ở trường THPT 83

Bảng 2.27 Mô tả tổng quan về giáo viên 85

Bảng 2.28 Đánh giá của GV về nhận thức của HS đối với môn tiếng Anh 87

Bảng 2.29 Biểu hiện của HS trong quá trình học tập môn tiếng Anh theo đánh giá của GV 89

Bảng 2.30 Đánh giá của GV về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học môn tiếng Anh của HS 90

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do ch ọn đề tài

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang chứng kiến sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau ngày một gia tăng giữa các nền kinh tế của các quốc gia; đặc biệt, những đổi mới trong công nghệ thông tin và truyền thông đã dẫn tới sự hình thành và phát triển xã hội định hướng tri thức và thông tin Việt Nam ngày càng có những bước tiến sâu vào thị trường kinh tế thế giới thông qua việc tham gia vào các Hiệp hội kinh tế, các tổ chức quốc tế Vì vậy mà việc học ngoại ngữ thực sự trở nên cần thiết Nó không chỉ cho phép chúng ta có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm hơn mà còn giúp ta bổ sung thêm vốn kiến thức văn hóa nhân loại, đóng góp quan trọng vào nhu cầu hội nhập, hợp tác giữa nước ta với thế giới

Trước bối cảnh đó, tiếng Anh ngày càng được xem là công cụ quan trọng trong

sự phát triển kinh tế quốc gia, hội nhập khu vực và quốc tế, cũng như đem lại sự hiểu biết rộng hơn về các nền văn hóa khác, đồng thời thúc đẩy ý thức công dân toàn cầu ở người sử dụng Vì vậy việc nâng cao vốn tiếng Anh cho công dân là một việc làm thực

sự quan trọng và cần thiết

Đối với học sinh, khả năng hiểu và giao tiếp bằng tiếng Anh khi tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) ngày càng được xem là một kỹ năng cơ bản mà tất cả các học sinh đều phải có Hiểu được điều đó, nên hệ thống giáo dục của Việt Nam đã đưa tiếng Anh vào giảng dạy từ sớm và xem đây là môn văn hoá cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông cùng với đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020" của Bộ giáo dục và đào tạo được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1444/QĐ-TTg ngày 30/9/2008 (gọi tắt là Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020) Đó cũng là lý do mà hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng trong nước ta đều có yêu cầu chuẩn đầu ra là trình độ, bằng cấp Tiếng Anh cho sinh viên ra trường Do đó, với các bạn học sinh những thế hệ tương lai của đất nước, việc học tiếng Anh lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn Tiếng Anh cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới

Trang 11

để tiếp thu những tri thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hoà nhập với cộng đồng quốc tế, góp phần hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường phổ thông

HS THPT đặc biệt là học sinh lớp 12 cuối cấp, đang trong giai đoạn định hướng nghề nghiệp và là nguồn nhân lực quan trọng của đất nước cần có sự hiểu biết nhất định về đặc điểm, nội dung, vai trò, giá trị của tiếng Anh và tình cảm tích cực đối với tiếng Anh đang học Điều đó rất quan trọng bởi lẽ khi có nhận thức đầy đủ và thái độ đúng đắn đối với tiếng Anh thì việc học tiếng Anh là vô cùng quan trọng để các em học sinh học tập nỗ lực hơn và đạt kết quả tốt hơn nâng cao được trình độ ngoại ngữ của mình đáp ứng yêu cầu về chất lượng của nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới Nhận thức về tiếng Anh là sự hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến tiếng Anh Còn thái độ đối với tiếng Anh là sự thể hiện tình cảm yêu thích hay thờ ơ, chán ghét, có thái độ tích cực hay tiêu cực… đối với tiếng Anh, được nảy sinh trên cơ sở nhận thức về tiếng Anh

Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay có một thực trạng đáng báo động về việc học môn tiếng Anh ở trường phổ thông, sau bảy năm học môn tiếng Anh thì học sinh vẫn không nói được tiếng Anh hoặc đã học bốn năm ở bậc THCS nhưng đến khi lên THPT thì các em học sinh vẫn phải học lại từ đầu Việc lĩnh hội kiến thức ngôn ngữ ở các em vẫn còn rất máy móc Các em vẫn chưa biết vận dụng ngôn ngữ đã học vào cuộc sống, biến ngôn ngữ trong sách vở thành ngôn ngữ đời thường Có nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan như: bệnh lười học, thấy khó nên không hứng thú, dễ quên vv, dẫn đến kết quả học tập không cao, kết quả các đợt thi khảo sát chất lượng định kì rất thấp

Vì vậy việc dạy và học môn tiếng Anh ở các trường phổ thông hiện nay vẫn còn là một vấn đề bức xúc Chính vì tất cả những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài: “Nhận thức

và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn tiếng Anh ở một số trường THPT TP

H ồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu

2 M ục đích nghiên cứu

Trang 12

Xác định thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh đối với môn tiếng Anh

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh của học sinh lớp 12

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu chính: Học sinh lớp 12

Khách thể nghiên cứu bổ trợ: Giáo viên và phụ huynh của học sinh lớp 12

4 Gi ới hạn phạm vi nghiên cứu

4.1 Nội dung nghiên cứu

Chỉ tập trung nghiên cứu nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn tiếng Anh

4.2 Địa bàn nghiên cứu

Chỉ khảo sát học sinh lớp 12 ở bốn trường THPT tại TP Hồ Chí Minh, gồm:

- Trung học Thực Hành ĐHSP, 280 An Dương Vương, Phường 4, Quận 5, TP.HCM

- THPT Nguyễn Công Trứ 97 Quang Trung, Phường 11, Quận Gò Vấp, TP.HCM

- THPT Quang Trung, Ấp chợ, Xã Phước Thạnh, Huyện Củ Chi, TP HCM

- THPT Long Thới, 280 Nguyễn Văn Tạo, Xã Long Thới, Huyện Nhà Bè, TP.HCM

5 Gi ả thuyết nghiên cứu

Phần lớn học sinh lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh chưa có nhận thức và thái độ phù hợp đối với môn tiếng Anh

Nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 ở một số trường THPT TP Hồ Chí Minh đối với môn tiếng Anh là có sự khác biệt theo giới tính, khu vực cư trú

6 Nhi ệm vụ nghiên cứu

6.1 Hệ thống hóa một số lý luận về nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn tiếng Anh

6.2 Khảo sát thực trạng nhận thức và thái độ của học sinh lớp 12 đối với môn

Trang 13

tiếng Anh và xác định nguyên nhân của thực trạng

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Thu thập các loại sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, văn bản, tài liệu có liên quan đến đề tài

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 14

C hương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ

ĐỐI VỚI MÔN TIẾNG ANH 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về việc học ngoại ngữ vẫn là vấn đề gây sự chú ý của các quốc gia trên thế giới, xin kể một số nghiên cứu của các tác giả sau:

Theo tác giả Jones và Davies (1983) "ngoại ngữ đã được học không vì lợi ích riêng của họ, mà được xem như phương tiện liên lạc xã hội, kinh tế và cho việc vận chuyển các ý tưởng" ngoại ngữ được xem như một công cụ mở cửa cho sự phát triển của các nước trong thời kỳ thế giới hội nhập Việc nghiên cứu về ngoại ngữ giúp cho người học ở mỗi quốc gia có thể nâng cao nhận thức tích cực và định hướng phù hợp cho việc học ngoại ngữ [64]

Theo Riley và Phiplip (1989), với đề tài "Nhận thức cá nhân về thực tại ngôn ngữ dân tộc", các tác giả nhận định hành vi của người học ngoại ngữ sẽ chịu ảnh hưởng bởi nhận thức về tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ Hoàn cảnh và nền văn hóa xã hội, đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người học ngoại ngữ [62]

Năm 2002, trong đề tài “Nâng cao nhận thức của học sinh trong việc học ngôn ngữ”, tác giả Ilona Rinkevičienė, và Jūratė Zdanytė đã cho thấy để giúp học sinh nhận thức tốt hơn trong quá trình học tập ngôn ngữ thứ hai, giáo viên phải xây dựng phương pháp phù hợp tác động đến nhận thức của học sinh bên cạnh việc giúp người học xác định nhu cầu và tầm quan trọng của việc học ngôn ngữ thứ hai [56]

Dörnyei (2003) cho rằng thái độ được tạo ra, và có thể được thay đổi, thông qua

4 yếu tố: gia đình, thầy cô, bạn bè, và trường học Tất cả những yếu tố này sống trong một mối quan hệ xã hội mà ảnh hưởng đến người học [64]

Năm 2006, trong đề tài “Nghiên cứu về thái độ và nhận thức việc học tiếng anh của học sinh trung học phổ thông tại Đài Loan”, tác giả Chung, I Fang đã kết luận sự khác nhau về giới tính và chuyên đề ở mỗi buổi học có vai trò quan trọng ảnh hưởng

Trang 15

đến thái độ tích cực trong việc học tiếng Anh đối với học sinh trung học phổ thông [50]

Với đề tài “Những khó khăn về nhận thức và thái độ của việc học tiếng Anh ở Mexico”, tác giả Despagne, Colette đã nhận định những yếu tố như gia đình, nhà trường, giáo viên, bạn bè, hoàn cảnh xã hội sẽ tác động đến thái độ; còn yếu tố kinh nghiệm cá nhân, đặc điểm của tiếng Anh, nền giáo dục của quốc gia sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của những người học tiếng Anh tại Mexico Hầu hết học sinh ở các trường công lập tại Mexico đều có những mục tiêu khi học tiếng Anh như: hy vọng có thu nhập tốt hơn khi ra trường, tìm kiếm học bổng ở các nước tiên tiến Họ cho rằng tiếng Anh là vô cùng quan trọng, và gần 99% trong số họ nghĩ rằng nó sẽ giúp họ phát triển nghề nghiệp của họ [51, tr.5]

Trong đề tài “Nhận thức và thái độ cho các mục đích cụ thể của người học tiếng Anh như một ngoại ngữ ” (2012), các tác giả Mahmut Uğur Arslan, Azamat Akbarov tìm hiểu ý kiến của người học tiếng Anh như suy nghĩ, kỳ vọng về tiếng Anh trong lĩnh vực cụ thể, từ đó xác định thái độ của người học cho mục đích cụ thể đối với tiếng Anh Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi người học làm trung tâm thì họ sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc xác định mục tiêu cụ thể cho từng buổi học và trong suốt quá trình học, người học sẽ là người đề xuất phương pháp học tập tiếng Anh của bản thân [59] Năm 2013, với đề tài “Thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với học tiếng Anh”, tác giả Gajalakshmi đã chứng minh thái độ của việc học tiếng Anh sẽ trở nên tích cực khi được tổ chức trong những lớp học có hoạt động tích cực Và kết luận rằng khi học ngôn ngữ thứ hai thì thái độ tích cực là rất cần thiết đối với người học trong việc đọc sách, thực hành giao tiếp trên lớp học [53]

Nhìn chung, có thể thấy rằng việc nghiên cứu việc học ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng của các tác giả trên thế giới đều đặt nhận thức, thái độ và hành vi trong mối tương quan với nhau Từ nhận thức về vai trò, lợi ích của việc học tiếng Anh, người học sẽ hình thành thái độ tích cực hay tiêu cực đối với tiếng Anh, có những hành vi ứng xử phù hợp với việc học tập ngoại ngữ Bên cạnh đó các yếu tố: gia đình, giáo viên, trường học, bạn bè, hoàn cảnh lịch sử xã hội là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ, hành vi của người học ngoại ngữ

Trang 16

1.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề trong nước

Trong lĩnh vực giảng dạy tiếng Anh, Kiều Văn Thịnh (2000) cho rằng “mọi phương pháp giảng dạy cho dù tân kỳ như thế nào mà cung cách người học ù lì, tất cả

sẽ không thay đổi Người học không tự buộc mình phải học thì các phương pháp giảng dạy có liên tục cải tiến cũng chỉ là món đồ chơi cầu kỳ, đắt tiền, vô tác dụng” [22] Điều này cũng tương tự như cải tiến phương pháp mà không dựa trên những quy luật

về tâm lý học tập của người học như sự tự ý thức, niềm tin, thái độ thì chắc chắn thất bại

Với sáng kiến kinh nghiệm “Tìm hiểu hứng thú học tập môn tiếng anh của học sinh THCS Vĩnh Long” (2008), tác giả Cao Thị Thu Hoài khẳng định “Trong những giờ học, tư duy tích cực được kích thích sẽ xuất hiện thái độ tích cực với môn học từ

đó hình thành hứng thú học tập Hứng thú gây cho học sinh sự hưng phấn, xúc cảm làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức”[ 24]

Khi nghiên cứu “Phương pháp giảng dạy truyền thống theo môn học” (2009), tác giả Nguyễn Thị Thuý Hồng nhận định phương pháp giảng dạy đặc biệt có những tác động mạnh mẽ đến chất lượng học tập, nhất là đối với đặc điểm học sinh sinh viên Việt Nam: “có những phẩm chất gây trở ngại cho việc học ngôn ngữ như nhút nhát, thụ động, không thích cộng tác với bạn bè, tính tự giác học tập và năng động chưa cao ” [26] Vì vậy phương pháp giảng dạy nói chung, phương pháp dạy tiếng Anh nói riêng đóng vai trò lớn trong việc thay đổi nhận thức, hình thành thái độ, thúc đẩy động lực học tập, từ đó làm thay đổi hiệu quả học tập tiếng Anh của người học

Trong đề tài “Thuận lợi, khó khăn và giải pháp trong việc ứng dụng công nghệ vào giảng dạy ngoại ngữ” của tác giả Nguyễn Văn Long năm 2009, nhận định rằng nhận thức có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ của người học khi họ tiếp cận với phương tiện kỹ thuật trong quá trình học ngoại ngữ [33]

Năm 2010, tác giả Phạm Thanh Điền với đề tài “Tìm hiểu thái độ học tiếng Anh của học sinh trường THPT Mỹ Thới” đã đề xuất mô hình nghiên cứu thái độ học tiếng Anh bao gồm ba thành tố: nhận thức (đặc tính của môn học, lợi ích và tầm quan trọng của môn học); cảm tình (thích hay không thích, học tập chủ động hay thụ động); hành

vi (học thêm, tự học, trang bị thêm tài liệu) [14] Tác giả chứng minh rằng khi nhận

Trang 17

thức được tầm quan trọng của môn học, người học sẽ có phương pháp học tập tương ứng thể hiện ra bên ngoài bằng những hành vi tích cực nhằm đáp ứng yêu cầu của môn học

Khi nghiên cứu về “Ảnh hưởng của phương pháp giảng dạy đến động lực học tiếng anh của sinh viên năm thứ nhất, khối ngành kinh tế Đại học Văn Lang” (2011) của tác giả Lê Thị Hạnh cho rằng cần phải chú trọng và quan tâm đến phương pháp giảng dạy, thay đổi phương pháp giảng dạy dựa trên những quy luật động lực học tập của người học là yếu tố then chốt trong việc thay đổi nhận thức và thái độ của người học khi học tiếng Anh [22]

Tóm lại, có nhiều góc độ tiếp cận khi nghiên cứu về việc học tiếng Anh: phương pháp giảng dạy, phương tiện học tập, đặc điểm hứng thú Qua đó chúng ta thấy được nhận thức và thái độ có vai trò quan trọng đối với việc học môn tiếng Anh của học sinh sinh viên Việt Nam trong việc rèn luyện kỹ năng học ngoại ngữ cũng như hình thành nhân cách để phát triển nghề nghiệp tương lai

1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Nhận thức

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Nhận thức

là tiền đề của tình cảm và hành động ý chí nhưng đồng thời lại có quan hệ mật thiết với chúng

Hoạt động nhận thức là một hoạt động rất đặc trưng của con người nói chung và mỗi người nói riêng Nhận thức – đó là một lĩnh vực hết sức phức tạp, khi tìm hiểu vấn

đề này cần xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Nhận thức là hoạt động của chủ thể nhằm khám phá thế giới xung quanh, dĩ nhiên kết quả của hoạt động này là nhằm tìm

ra chân lý hay sự thực về những thuộc tính và quy luật khách quan của một sự vật cụ thể

Vậy nhận thức được hiểu như thế nào?

Theo từ điển Tiếng Việt, “nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó” [28] Theo định nghĩa này có thể thấy nhận thức vừa là một quá trình phản ánh có mở đầu, diễn tiến và kết thúc của tư duy con người

Trang 18

với hiện thức khách quan vừa là kết quả của sự phản ánh đó

Theo từ điển Giáo dục học, “nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” [16] Như vậy, nhận thức được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó

Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học” của nhóm tác giả Trần Hồng Cẩm, Cao Văn Đán, Lê Hải Yến, 2006, NXB Hà Nội “nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng” [7] Vậy có thể hiểu nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ

có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu

óc con người, được con người lưu giữ và mã hoá

Theo quan điểm triết học Mac - Lenin, “nhận thức là quá trình phản ánh tích cực,

tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn” [5] Như vậy, để cải tạo thực tiễn hướng đến việc phục vụ cho cuộc sống, con người không ngừng tìm hiểu, tác động vào thế giới khách quan để có được những nhận thức nhất định về hiện thực khách quan Với những nhận thức có được về hiện thực khách quan con người tự nguyện tìm hiểu và tác động vào thế giới khách quan với thái

độ tích cực và những sáng kiến mới nhằm biến đổi thực tiễn, phục vụ cho cuộc sống ngày càng phát triển của con người

Theo tác giả Roberts Feldman (2004), “sự nhận thức là quá trình tinh thần bậc cao qua đó chúng ta hiểu thế giới, xử lý thông tin, phán đoán và quyết định, và chia sẻ hiểu biết với người khác” [37]

Theo tác giả Le Ny, “nhận thức bao hàm đồng thời toàn bộ những hoạt động góp phần vào sự hiểu biết, dù cho hoạt động đó đúng đắn và toàn bộ sản phẩm của hoạt động đó, dù đó là bản thân kiến thức, lệch lạc về kiến thức, biểu hiện và tín ngưỡng gần đúng hoặc có một phần sai lệch” [23] Với định nghĩa mà Le Ny đưa ra, nhận thức được xem xét một cách rất tổng quát, ở phạm vi rất rộng

Theo hai tác giả Raynal và Rieunier, “nhận thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc chuyển hóa, mã hóa, cấu trúc hóa, lưu trữ, hồi cố và sử dụng” [34] Khái niệm xem xét nhận thức ở phạm vi hẹp hơn so với Le Ny

Trang 19

Theo hai tác giả Sterphen Worchel và Wayne Shebilsue, “nhận thức là một quá trình diễn dịch thông tin do cảm giác thu thập được” [41] Định nghĩa này cho chúng ta thấy nhận thức ở một phạm vi rất hẹp Nhận thức được hiểu là một sự giải mã các thông tin

Theo tác giả Phạm Hoàng Gia, “lĩnh vực nhận thức bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ” [6]

Theo tác giả Vũ Dũng, “nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó…” [11]

Theo tác giả Nguyễn Xuân Thức, “nhận thức là tiến hành chọn lọc, diễn dịch, phân tích và hợp nhất các kích thích gây ra phản ứng ở các giác quan của chúng ta” [42]

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, “nhận thức là hoạt động đặc trưng của con người Trong quá trình sống và hoạt động con người nhận thức – phản ánh được hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với chính bản thân mình”[45] Định nghĩa này xem xét nhận thức ở khía cạnh là một hoạt động của con người

Theo tác giả Đặng Phương Kiệt, “nhận thức là một thuật ngữ khái quát hóa mọi dạng hiểu biết Các quá trình hiểu biết bao gồm: chú ý, ghi nhớ, suy nghĩ và giải quyết vấn đề, tri giác và nhận biết hình mẫu.” [29] Quan điểm này xem xét nhận thức ở khía cạnh quá trình, nhưng xem xét ở những quá trình cụ thể, chia nhỏ quá trình nhận thức thành những quá trình riêng lẻ

Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện, “nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý, nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào, vì không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực, phải thải dần những cái sai, tức không ăn khớp với hiện thực, đi hết bước này sang bước khác”[48] Nhận thức được xem là một quá trình

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình” [19] Trong khi hoạt động để tồn tại trong thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, con người phải nhận thức, phản

Trang 20

ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực của bản thân mình, để trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Kết quả nhận thức có thể cho ra sản phẩm là nhận thức đúng hoặc nhận thức sai, nhận thức từng bộ phận hay nhận thức cái tổng thể, nhận thức một phần hay nhận thức trọn vẹn sự vật hiện tượng, nhận thức thuộc tính bên ngoài hay đi sâu vào bản chất bên trong, dẫn đường tìm ra quy luật và chân lý

Như vậy, những quan điểm trên đều phản ánh nhận thức gồm ba yếu tố về:

+ Thứ nhất, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan Nếu con người có nhận thức tốt là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn, đầy đủ + Thứ hai, nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ Tức là khi con người nhận thức tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm, và giúp con người tỏ thái độ phù hợp

+ Thứ ba, nhận thức có mối quan hệ với hành động Nghĩa là nhận thức tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt

Trong đề tài này, chúng tôi lựa chọn và sử dụng định nghĩa của tác giả Phạm Minh Hạc Như vậy, nhận thức được hiểu như sau: “Nhận thức là quá trình phản ánh hi ện thực xung quanh, hiện thực của bản thân mình, trên cơ sở đó con người

t ỏ thái độ và hành động đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình”

1.2.2 Thái độ

Với những cách tiếp cận khác nhau, có nhiều cách hiểu khác nhau về thái độ, có thể kể đến một số định nghĩa như sau:

Theo hai tác giả Thomas và Znaniecki (1918), “thái độ là trạng thái tinh thần của

cá nhân đối với giá trị” [65] Định nghĩa này chú trọng đến yếu tố chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay một giá trị khác làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được xã hội chấp nhận

Theo tác giả G.Allport (1935), “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân hướng đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ.” [54]

Trang 21

Theo tác giả D.N Uznatze (1960) “thái độ được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân” [32] Mặt khác, ông cũng thừa nhận thái độ mang trong mình tính tự giác, năng động của một hiện tượng tâm lý thuộc cấp độ ý thức - điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người

Theo các tác giả Krech, Crutchfield và Ballachey (1962), “thái độ một hệ thống bền vững của những đánh giá tích cực hoặc phủ định, những cảm xúc, những kỹ thuật ủng hộ và chống đối dựa vào các mục tiêu mang tính xã hội” [58]

Theo các tác giả Mc.Guiner (1965), Os Trom (1969), Zanna và Rempell, “thái

độ là bất cứ sự thể hiện nào về mặt nhận thức tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ: về bản thân, về những người khác, về đồ vật, hành động, sự kiện hay tư tưởng”

Theo tác giả H.C Triandis (1971), “thái độ là tư tưởng được tạo nên từ các xúc cảm, tình cảm Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở một giai đoạn nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định Thái độ của con người bao gồm những điều

mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách sử dụng của họ đối với đối tượng đó” [63]

Theo hai tác giả Fishbein và Ajzen (1975), “thái độ là những khuynh hướng được học tập thiên về việc đáp ứng một cách ủng hộ hoặc không ủng hộ đối với một sự vật, một con người hay một sự kiện nhất định” [52]

Theo hai tác giả Zimbardo và Leippe (1991), “thái độ là một khuynh hướng mang tính đánh giá về một đối tượng dựa trên phương thức phản ứng, tình cảm, ý định hành vi và hành vi trong quá khứ…có thể là ảnh hưởng đến nhận thức, phản ánh tình cảm và ý định trong tương lai Thái độ có liên quan đến cách con người cảm nhận được tình huống trong đó họ tìm thấy chính mình Ngoài ra thái độ thay đổi theo hướng (tích cực hay tiêu cực), ở mức độ (số lượng tích cực hay tiêu cực), và cường độ” [61]

Theo tác giả Newcome, “thái độ của một cá nhân đối với một khách thể nào đó là

“thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của cá nhân ấy với khách thể liên quan” Đó là sự sẵn sàng phản ứng [51]

Theo hai tác giả Kalat, J W, “thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc

Trang 22

một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tởi hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó” [57]

Theo tác giả Marten, “thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tình huống

xã hội, biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ (nhận thức), xúc cảm và hành vi Thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi vì thái độ được xác định bởi tính thống nhất bên trong hành vi” [57]

Theo tác giả John Traven, “thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó” [59]

Theo tác giả Phillmore H, “thái độ là sự sẵn sàng phản ứng tích cực hay tiêu cực đối với đối tợng hay các ký hiệu (biểu tượng) trong môi trờng Thái độ là sự định hướng của cá nhân đến các khía cạnh khác nhau của môi trường và là cấu trúc có tính động cơ” [55]

Theo tác giả H Hipror và M Forvec, “thái độ là sự sẵn sàng bị quy định và có tính chất bắt buộc nào đó, nảy sinh trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể Sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ thể hữu quan, mà trước hết là một hiện tượng tâm lý xã hội phụ thuộc vào khuynh hướng của cá nhân gắn liền với những chuẩn mực của nhóm” Quan điểm này mở ra một con đường mới trong nghiên cứu thái độ là đi sâu vào nghiên cứu hành vi và hoạt động cụ thể

Theo tác giả Guilford, “thái độ là những cử chỉ, phong thái, ý nghĩ liên quan đến những hoàn cảnh xã hội” [54]

Theo tác giả David Myers, “thái độ là phản ứng mang tính chất đánh giá có thiện chí hay không có thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện trong niềm tin, cảm xúc hay hành vi có chủ định” [55]

Theo tác giả V.N.Miaxisev, “thái độ là hạt nhân tâm lí của nhân cách, hình thành một cách có ý thức theo cơ chế chuyển dịch thông qua hoạt động và giao tiếp mà con người tham gia vào, là một hệ thống trọn vẹn mang tính chủ quan đối với hiện thực khách quan Nó quyết định sự phản ánh trong hành vi đối với những tác động bên ngoài Tất cả các tổ chức cấu thành tâm lý từ đơn giản đến phức tạp đều có liên quan đến con người và những chức năng tâm lý khác đều có thể xem như một dạng của thái

độ [52]”

Trang 23

Theo tác giả Platonov, “thái độ là một yếu tố cấu thành tích cực của ý thức cá nhân, là mối quan hệ ngược giữa chủ thể - thế giới, nghĩa là con người và thế giới bên ngoài tác động qua lại lẫn nhau và nó được thể hiện trong hành vi của cá nhân” [17] Theo tác giả Lênin “thái độ là một bộ phận của lĩnh vực tình cảm phản ánh quan

hệ của cá nhân đối với hiện thực Nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nên cũng phản ánh tồn tại xã hội, chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý

xã hội, của dư luận và tập đoàn xã hội Nó thường không phải là những đáp ứng được biểu lộ một cách rõ ràng hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuyển hóa hành động” [5]

Theo Tâm lý học xã hội, “thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân” [23]

Theo từ điển tiếng Việt, “thái độ được hiểu là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình” [28]

Theo tác giả Dương Thiệu Tống, “thái độ là khuynh hướng suy tư, cảm nghĩ, tri giác và hành xử đối với một đối tượng tâm lý Thái độ ấy có thể là cảm nghĩ tích cực hay tiêu cực, thuận hay không thuận” [43]

Theo tác giả Nguyễn Khắc Viện (2001), “thái độ (Tiếng Pháp: Attitude): Trước một đối tượng hay một ý tưởng, con người bộc lộ những phản ứng tức thì, chẳng hạn tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, như đã sẵn có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ những thái độ sẵn có, tri giác về các đối tượng cũng như tri thức bị chi phối Thái độ liên quan với động cơ và dục vọng bản năng Thái độ có sự thay đổi trong quá trình hoạt động và tùy vào hoàn cảnh” [48] Định nghĩa này nhấn mạnh thái độ là những phản ứng bên ngoài của con người

Theo tác giả Vũ Dũng (2008), “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó (phản ứng) có mối liên hệ” [11]

Theo tác giả Hoàng Phê (2010), “thái độ là tổng thể nói chung của ý nghĩ, tình cảm đối được thể hiện ra bên ngoài qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động trước một

Trang 24

đối tượng, một sự việc nào đó Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình cụ thể” [23] Định nghĩa này chưa nhấn mạnh thái độ là cái tâm lý bên trong mỗi người

Theo tác giả Phạm Minh Hạc, “thái độ là một trong những biểu hiện của động cơ học tập [19]; là mục đích hàng đầu của dạy học bên cạnh việc cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo” [20]

Theo hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, “thái độ là một trong bốn thành phần của nội dung dạy học đại học (hệ thống tri thức, kỹ nãng, kỹ xảo, hệ thống khái niệm hoạt động sáng tạo, hệ thống các chuẩn mực thái độ với hiện thực)” [15]

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, “thái độ như là các mặt biểu hiện của định hướng giá trị trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống xã hội” [20]

Theo các tác giả Bùi Ngọc Oánh, Triệu Xuân Quýnh, Nguyễn Hữu Nghĩa, “thái

độ là một thành tố quan trọng cấu tạo nên ý thức Thái độ là những rung cảm, những cảm nghĩ có khả năng dẫn đến những hành động, hành vi tương ứng với đối tượng nhận thức Thái độ của con người phản ánh các mối quan hệ xã hội mà người đó gia nhập vào” [35]

Thái độ được các tác giả đề cập trên bình diện chủ yếu là:

+ Thứ nhất, thái độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm, cảm nghĩ, cách nhìn,…) và bên ngoài (hành động, hành vi, sự thích ứng…) của cơ thể + Thứ hai, thái độ nảy sinh khi có mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng, một con người, một nhóm người) với sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể + Thứ ba, thái độ có tính xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể của thái độ

và các thành phần khác trong xã hội (trong hoàn cảnh, tình huống xã hội, trong sự trao đổi các giá trị, chuẩn mực xã hội,…)

Tóm lại, thông qua việc tìm hiểu, phân tích và rút ra những quan điểm chung về thái độ của nhiều tác giả thì người nghiên cứu kết luận rằng: “Thái độ là một cấu tạo tâm lý có ý th ức và có bản chất xã hội, là hệ thống những suy nghĩ, tình cảm, cách đánh giá của chủ thể đối với các tác động của thế giới khách quan Đó là sự đồng tình hay không đồng tình, ủng hộ hay phản đối, thích hay không thích phản ứng nào đó của cá nhân hay nhóm xã hội”

Trang 25

1.2.3 Mối tương quan giữa nhận thức và thái độ

Để thực hiện những hoạt động nhằm cải tạo hiện thực khách quan, phục vụ cho những nhu cầu sống còn của mình, con người không phải chỉ cần phản ánh những thuộc tính khách quan của các đối tượng bằng các hoạt động nhận thức, mà còn cần phản ánh mối quan hệ của các đối tượng ấy với nhu cầu của mình Mối quan hệ này quy định thái độ của con người đối với đối tượng của quá trình phản ánh Như vậy, nhận thức và thái độ cùng là kết quả của sự phản ánh tâm lý, trong đó:

+ Nhận thức là kết quả của phản ánh, còn thái độ là kết quả của phản ánh cảm xúc

+ Nhận thức hướng vào phản ánh bản thân sự vật, hiện tượng – đối tượng của nhận thức Còn thái độ hướng vào phản ánh mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng và sự thỏa mãn nhu cầu của con người

Chính vì vậy, thái độ và nhận thức có mối liên quan chặt chẽ với nhau, hai quá trình tâm lý cơ bản này tạo nên cấu trúc của hiện tượng ý thức

+ Thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Trong khi đó, nhận thức là

cơ sở của tình cảm, tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi chân lý Trong mối quan hệ này, quá trình nhận thức giúp cá nhân hiểu biết về đối tượng để quyết định việc sử dụng đối tượng đó phục vụ cho nhu cầu của mình Từ nhu cầu của mình, con người có thái độ chấp nhận hay không chấp nhận việc tiếp tục nhận thức về đối tượng đó

+ Nhận thức chi phối thái độ, nhận thức là cơ sở, là nền tảng để nảy sinh thái độ Con người phải có thông tin về đối tượng để có thái độ đúng nhất với đối tượng đó Biết đối tượng là gì, nó có quan trọng, có ý nghĩa gì với mình để từ đó cá nhân có thái

độ tích cực hay tiêu cực với đối tượng để tránh xảy ra những thái độ không như mong muốn [32]

+ Thái độ chịu sự chi phối của nhận thức, nhưng thái độ cũng tác động ngược lại nhận thức Khi chúng ta có một thái độ tích cực với một vấn đề cụ thể thì nhu cầu và hứng thú của nhận thức được nâng lên và ngược lại [32]

+ Ý thức là sự tích hợp, hội nhập giữa nhận thức và thái độ Cấu trúc của ý thức bao gồm 3 mặt: nhận thức, thái độ và sự năng động trong việc điều chỉnh, điều khiển

Trang 26

hành vi, hoạt động Mặt nhận thức là hạt nhân của ý thức, cho thấy hàm lượng tri thức trong ý thức Mặt thái độ cho thấy cảm xúc, sự lựa chọn, sự đánh giá trong ý thức Mặt năng động của ý thức cho thấy khả năng vận dụng tri thức và thái độ trong việc thể hiện thành hành vi, hoạt động cải tạo thế giới, cải tạo bản thân Đây là ba mặt thống nhất của ý thức, muốn thay đổi hành vi của cá nhân không thể tác động riêng chỉ một mặt nào mà phải có sự tác động phù hợp lên cả 3 mặt, trong đó việc xây dựng nhận thức và thái độ là bước đi đầu tiên làm cơ sở cho sự phát triển cao hơn [32]

Hai quá trình nhận thức và thái độ có mối quan hệ gắn bó như trên nhưng chúng vẫn có những nét riêng như sau: nhận thức phản ánh những thuộc tính và các mối quan

hệ của bản thân thế giới Còn thái độ thì thể hiện mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu cầu, động cơ của con người Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác động cần chú ý, không phải trường hợp nào cũng có thể dùng biểu hiện của một cái để

dự báo hoặc suy lý kết quả hoặc mức độ của cái còn lại

1.2.4 Môn tiếng Anh

âm

- Từ vựng được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ Đơn vị tương đương với từ là những cụm từ cố định, cái mà người ta vẫn hay gọi là các thành ngữ, quán ngữ

- Ngữ âm là âm thanh do bộ máy phát âm của con người tạo ra có thể biểu đạt một ý nghĩa nhất định nào đó.Ngữ âm là hệ thống ký hiệu [55]

Môn tiếng Anh là môn học nhằm trang bị những tri thức về tiếng Anh, giúp học sinh hình thành các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết và có thái độ tích cực khi sử dụng

Trang 27

tiếng Anh trong lớp học và trong cuộc sống hàng ngày

1.2.4.2 Đặc điểm môn tiếng Anh trong chương trình THPT

Chương trình tiếng Anh THPT được thiết kế dựa trên cơ sở tiếp nối Chương trình tiếng Anh Tiểu học và THCS Cho dù học sinh có thể đã đạt trình độ tiếng Anh Bậc 2 của Khung Năng lực Ngoại ngữ Việt Nam (tương đương với cấp độ A2 của Khung tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngữ), nhưng ở cấp THPT học sinh phải được củng cố và mở rộng kiến thức đã học ở cấp Tiểu học và THCS Ở cấp THPT, cụ thể là chương trình tiếng Anh dành cho lớp 12 việc dạy và học tiếng Anh phải đảm bảo tăng cường tối đa cơ hội để học sinh nâng cao độ trôi chảy và chính xác của ngôn ngữ để đạt trình độ tiếng Anh Bậc 3 của Khung Năng lực Ngoại ngữ Việt Nam (tương đương với cấp độ B1 của Khung Tham chiếu Chung Châu Âu về Ngôn ngữ) Việc này phải được duy trì thực hiện một cách nhất quán nhằm khuyến khích học sinh tiếp thu các kỹ năng học tập suốt đời, nuôi dưỡng giá trị đạo đức tích cực và ý thức công dân toàn cầu

để tham gia các hoạt động văn hóa và xã hội [6]

Tiếng Anh là một môn khoa học khó nên nó đòi hỏi ở người học sự chăm chỉ rèn luyện, chịu khó thực hành, học hỏi, trau dồi kiến thức và thực hành thực tế, tham khảo thêm tài liệu ở bên ngoài

Chương trình tiếng Anh THPT được thiết kế nhằm thực hiện kế hoạch dạy tiếng Anh bắt buộc ở cấp THPT, với thời lượng là 315 tiết cho 3 khối lớp 10, 11 và 12 Thời lượng được chia đều cho mỗi khối lớp, cụ thể như sau:

Lớp 10: 105 tiết

Lớp 11: 105 tiết

Lớp 12: 105 tiết [6]

1.4.2.3 Yêu cầu của chương trình tiếng Anh THPT đối với HS lớp 12

Sau khi kết thúc Chương trình tiếng Anh THPT, học sinh lớp 12 có thể:

Hiểu các ý chính từ những thông tin đầu vào rõ ràng và chuẩn mực về những vấn

đề quen thuộc được diễn ra thường xuyên trong nhà trường, công việc, vui chơi giải trí

Xử lý hầu hết các tình huống có khả năng phát sinh trong quá trình giao tiếp Xây dựng đoạn văn đơn giản và liền mạch về những chủ đề quen thuộc hoặc ưa

Trang 28

thích

Mô tả những trải nghiệm và sự kiện trong quá khứ, ước mơ, hi vọng và hoài bão trong tương lai, đồng thời có thể giải thích một cách ngắn gọn những quan điểm và hoạch định tương lai của bản thân

Hiểu và trân trọng các nền văn hóa đa dạng, đồng thời phản ánh được giá trị của nền văn hóa dân tộc Việt Nam thông qua tiếng Anh

Sử dụng tiếng Anh để liên hệ kiến thức ngôn ngữ với các lĩnh vực học tập khác trong chương trình

Sử dụng tiếng Anh để theo đuổi mục tiêu học tập cao hơn hoặc có thể tham gia công việc ngay sau khi học xong cấp THPT

Áp dụng các chiến lược học tập khác nhau để tiếp tục phát triển năng lực tiếng Anh một cách độc lập sau khi tốt nghiệp THPT

1.2.5 Nhận thức và thái độ đối với môn tiếng Anh

1.2.5.1 Khái niệm nhận thức về môn tiếng Anh

Từ định nghĩa về thái độ ở trên, xin đưa ra thái độ đối với tiếng Anh của học sinh lớp 12 như sau:

Vậy, có thể hiểu nhận thức về tiếng Anh của học sinh lớp 12 là quá trình phản ánh sự hiểu biết của học sinh bằng cách tìm tòi, nghiên cứu những tri thức về tiếng Anh, từ những hiểu biết đó thì học sinh có thái độ và hành động phù hợp đối với bản thân và thế giới xung quanh

Nhận thức về tiếng Anh của học sinh lớp 12 được biểu hiện thông qua các mặt như:

- Thứ nhất là nhận thức về lợi ích của môn tiếng Anh

- Thứ hai là nhận thức về đặc điểm và vai trò của môn tiếng Anh

- Thứ ba là nhận thức về phương pháp dạy môn tiếng Anh

- Thứ tư là nhận thức về sự mong đợi khi học môn tiếng Anh

- Thứ năm là nhận thức về mức độ khó của môn tiếng Anh

1.2.5.2 Khái ni ệm thái độ đối với môn tiếng Anh

Từ định nghĩa về thái độ ở trên, xin đưa ra thái độ đối với tiếng Anh của học sinh lớp 12 như sau:

Trang 29

Thái độ về tiếng Anh của học sinh lớp 12 là hệ thống những suy nghĩ, tình cảm, cách đánh giá của học sinh đối với tiếng Anh, là sự đồng tình hay không đồng tình, ủng hộ hay phản đối, thích hay không thích của học sinh đối với tiếng Anh

Thái độ về tiếng Anh của học sinh lớp 12 được biểu hiện thông qua các mặt như:

- Thái độ tích cực đối với môn tiếng Anh

- Thái độ tiêu cực đối với môn tiếng Anh

- Thái độ đối với thực trạng và viễn cảnh của việc học tiếng Anh

- Thái độ đối với việc tham gia học tiếng Anh

Nhận thức là một quá trình hoạt động: Ở con người, quá trình nhận thức thường gắn với mục đích và động cơ nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc điểm nổi bật của hoạt động của nhận thức là tri thức về hiện thực khách quan Nó không chỉ là tri thức về các thuộc tính bên ngoài mà còn là tri thức về các thuộc tính bên trong [45]

Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý người Nhận thức là hoạt động khám phá thế giới xung quanh của chủ thể, nhằm tìm ra chân lý hay sự thật về những thuộc tính và quy luật khách quan của sự vật, hiện tượng Nhận thức đúng làm

cơ sở cho tình cảm, ý chí, quan điểm, lập trường, tư tưởng và hành động đúng Hoạt động nhận thức thể hiện ở những mức độ nhận thức khác nhau và mang lại sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan [42]

Nhận thức mang bản chất xã hội lịch sử: Hoạt động nhận thức bao giờ cũng phải

Trang 30

dựa vào những tri thức đã có, dựa vào kinh nghiệm của nhân loại đã tích lũy được, tức

là dựa vào kết quả nhận thức xã hội mà loài người đã đạt được ở trình độ phát triển lịch sử lúc đó Nhận thức phải sử dụng các ngôn ngữ khác nhau do các thế hệ trước sáng tạo ra với tư cách là phương tiện biểu đạt, khái quát và giữ gìn kết quả hoạt động nhận thức được thúc đẩy bởi nhu cầu xã hội, nghĩa là ý nghĩa của con người được hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc do xã hội tạo ra [42]

Nhận thức của con người mang tính chất lịch sử, bởi bề rộng của sự khái quát và chiều sâu của việc phát hiện ra bản chất của sự vật hiện tượng được quy định không chỉ bởi khả năng của cá nhân, mà còn bởi kết quả nhận thức mà loài người đã đạt được

1.3.1.2 Các giai đoạn của quá trình nhận thức

Khi nhận thức về thế giới xung quanh, con người có thể nhận thức cái bên ngoài

và cả cái bên trong của sự vật, hiện tượng, có thể nhận thức cái đã có, cái đang có, và

cả cái sẽ có, có thể nhận thức cái cụ thể, cái khái quát, cái quy luật của sự vật,…Từ đó

có thể nhận thấy, nhận thức là một hoạt động tâm lý rất phức tạp, đa dạng, và ở nhiều mức độ khác nhau Tuy nhiên, có thể chia hoạt động nhận thức thành hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính [48]

- Nhận thức cảm tính:

Quá trình nhận thức cảm tính là mức độ thấp của hoạt động nhận thức Giai đoạn này bao gồm hai quá trình: cảm giác và tri giác Đặc điểm dễ nhận thấy của quá trình nhận thức cảm tính là quá trình tâm lý, phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của chúng ta [48]

Nhận thức cảm tính bao gồm 2 mức độ sau:

+ Cảm giác là hình thức đầu tiên thiết lập quan hệ tâm lý cơ thể với môi trường, mức độ phản ánh tâm lý thấp nhất, là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức của con người [48]

Theo A.V.Petrovski thì: “Cảm giác là một quá trình tâm lý đơn giản nhất phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong cơ thể dưới sự tác động trực tiếp của những kích thích vật chất lên các giác quan” [32]

Trang 31

Một định nghĩa khác về cảm giác: “Cảm giác là quá trình nhận thức phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng và trạng thái bên trong của cơ thể khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của ta” [16]

Cảm giác là viên gạch đầu tiên để xây dựng nên tòa lâu đài nhận thức Cảm giác

là hình thức đầu tiên của hoạt động nhận thức, nhờ các cơ quan cảm giác con người nhận được nguồn thông tin, tài liệu phong phú từ thế giới bên ngoài, cũng như thông tin về trạng thái cơ thể mình Cảm giác là nguồn cung cấp nguyên liệu để con người tiến hành những hoạt động tâm lý cao hơn [45]

+Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng, khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan Tri giác có một vai trò quan trọng đối với con người, nó là thành phần chính của nhận thức cảm tính

Tri giác là một điều kiện quan trọng cho sự định hướng hành vi và hoạt động của con người trong môi trường xung quanh Hình ảnh của tri giác thực hiện chức năng là vật điều chỉnh các hành động

Hình thức tri giác cao nhất, tích cực, chủ động và có mục đích là sự quan sát Trong lịch sử loài người, quan sát được phát triển như là một bộ phận cấu thành của những thao tác lao động, giữ vai trò xác lập phù hợp của các sản phẩm lao động với hình ảnh lý tưởng đã được hoạch định của nó Ở những giai đoạn đầu trong sự phát triển của bất cứ một khoa học nào, quan sát biểu hiện như là một phương pháp nghiên cứu chính Với sự phát triển của khoa học, quan sát ngày càng trở nên phức tạp và gián tiếp hơn [45]

- Nhận thức lý tính:

Nếu như nhận thức cảm tính chỉ dừng ở mức nhận thức được các đặc điểm bên ngoài của sự vật hiện tượng cũng như hình ảnh tìm được không thực sự chính xác và hướng đến bản chất thì nhận thức lý tính sẽ là mức độ nhận thức phản ánh những yếu

tố thuộc về bản chất, hướng đến cái chưa biết và cái mới [45]

+Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan

+Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong

Trang 32

kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có [45]

Nhận thức của mọi người đều có những quá trình cơ bản như nhau, đều thực hiện theo những quy luật giống nhau Nhưng kết quả đạt được của mỗi người khác nhau tức

là phản ánh hiện thực đúng hoặc sai đều khác nhau Đó là do phẩm chất trí tuệ của mỗi

cá nhân quyết định

Tóm lại, quá trình nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng và phức tạp Quá trình nhận thức có thể diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau, song để đánh giá theo các mức độ nhận thức hay đánh giá một cách đơn giản đơn theo hai hướng: nhận thức đúng đắn hay nhận thức chưa đúng đắn (nhận thức sai lệch)

1.3.1.3 Các mức độ của quá trình nhận thức

Theo quan điểm của B.S.Bloom thì nhận thức được phân thành 6 cấp độ từ thấp đến cao bao gồm: Biết (Knowledge), hiểu (Comprehension), vận dụng (Application), phân tích (Analysis), tổng hợp (Synthesis), đánh giá (Evaluation)

- Biết: bao gồm việc có thể nhớ lại các điều đặc biệt hoặc là tổng quát, nhớ lại các phương pháp và quá trình, hoặc nhớ lại một dạng thức, một cấu trúc, một mô hình

mà học viên đã có lần gặp trong quá khứ ở lớp học, trong sách vở, hoặc ngoài thực tế Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết [17] Biết là mức độ nhận thức ở mức chỉ cần con người vận dụng trí nhớ mà chưa cần giải thích điều gì

- Hiểu: bao gồm cả biết nhưng ở mức độ cao hơn là khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả và ảnh hưởng) Mức độ hiểu đòi hỏi chủ thể phải biết được ý nghĩa của tri thức, biết liên hệ với những điều đã có trong kinh nghiệm của họ Hiểu là mức độ chủ thể nhận được thông tin nào đó thì có thể biến đổi thông tin đó sang một hình thức khác tương đương, có ý nghĩa nhiều hơn với chính mình Có 3 cách để thể hiện mức độ hiểu là: chuyển dịch, nội suy, ngoại suy

- Vận dụng: là mức độ phải dựa trên sự thông hiểu nhưng ở mức cao hơn, đó là khả năng chủ thể căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể để lựa chọn, sử dụng tri thức

đã biết để giải quyết một vấn đề nào đó Vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và

Trang 33

kiến thức từ một việc này sang việc khác

Vận dụng bao gồm việc ứng dụng các điều trừu tượng, những nguyên lý, định luật đã học vào các trường hợp đặc biệt, cụ thể Các khái niệm trừu tượng có thể ở dạng: các tư tưởng tổng quát, các phương pháp được khái quát hóa, các nguyên tắc, các ý tưởng và lý thuyết kỹ thuật phải nhớ và áp dụng [17]

- Phân tích: Phân tích được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần sao cho có thể hiểu được các yếu tố, các mối quan hệ, các nguyên tắc cấu trúc của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan

hệ giữa các bộ phận và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm [17]

- Tổng hợp: Tổng hợp được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới Điều có thể bao gồm việc tạo ra một thông tin thống nhất, một kế hoạch hoặc một tập hợp các thao tác dự kiến, rút ra một tập hợp các mối quan hệ trừu tượng [17]

- Đánh giá: Đánh giá được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài liệu (tuyên bố, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó có thể bằng các dấu hiệu bên trong (cách tố chức), bằng các tiêu chuẩn bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí [17]

1.3.1.4 Biểu hiện của nhận thức

Nhận thức biểu hiện rõ ở hai mặt: mặt tự phát và mặt tự giác Mặt tự phát là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt, sôi nổi trong hành vi mà ở mỗi người có những mức độ khác nhau [29]

Riêng mặt tự giác là trạng thái tâm lý có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng Biểu hiện ở nhận thức thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học Biểu hiện được thể hiện không chỉ từ nhu cầu nhận thức mà còn từ nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức thẩm mỹ, nhu cầu giao lưu Hạt nhân cơ bản của nhận thức là hoạt động tư duy của cá nhân được tạo nên do

sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu đa dạng Biểu hiện này không chỉ thể hiện bên trong

mà còn thể hiện ra bên ngoài như là việc chú ý một vấn đề một hiện tượng nào đó

1.3.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức

Trang 34

Nhận thức của mỗi người bị tác động bởi nhiều yếu tố, từ các yếu tố bẩm sinh đến môi trường sống, lứa tuổi [17]…Trong đó, có những yếu tố có sự tác động nhiều nhất như:

Bẩm sinh di truyền: cấu tạo của não bộ, đặc điểm hệ thần kinh, giác quan…sẽ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của con người, cụ thể đó là tốc độ xử lí và tiếp nhận các kiến thức nhanh hay chậm

Giới tính: Trong quá trình phát triển của mỗi người chúng ta, thông qua việc dạy

dỗ, cách cư xử của cha mẹ và những người lớn xung quanh chúng ta ý thức được “giới tính” của bản thân Với bản sắc riêng của giới tính nam hoặc nữ sẽ có những ảnh hưởng nhất định và tạo nên những khác biệt trong suy nghĩ giữa nam giới và nữ giới Lứa tuổi: Ở những giai đoạn lứa tuổi khác nhau cùng với sự trưởng thành hơn cả

về mặt thể lý và tâm lý sẽ có những ảnh hưởng nhất định và tạo nên những khác biệt trong nhận thức của mỗi người ở mỗi giai đoạn lứa tuổi

Môi trường sống: Với những môi trường sống khác nhau, chịu ảnh hưởng từ những gì diễn ra xung quanh bản thân trong mỗi môi trường sống đó như từ các mối quan hệ bạn bè, mối quan hệ với những người xung quanh, với gia đình, chịu ảnh hưởng từ lối sống của mọi người xung quanh, lối sống của gia đình…tất cả những yếu

tố này sẽ tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến việc định hướng giá trị sống của mỗi

cá nhân Định hướng giá trị khác nhau ở mỗi cá nhân sẽ cho thấy quá trình nhận thức khác nhau ở mỗi cá nhân

1.3.2 Lý luận về thái độ

1.3.2.1 Đặc điểm của thái độ

Thái độ là những rung cảm, xúc cảm đối với những đối tượng mới hay là tình cảm đối với những đối tượng quen thuộc, đó chính là mặt bên trong của thái độ [3] Thái độ còn được biểu hiện ra những ý định và hành vi, cử chỉ đó chính là mặt bên ngoài của thái độ Mặt bên trong của thái độ không phải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn vẹn thẳng thắn và nguyên xi mà có thể giấu kín như cảm thấy cần che giấu, khi đó chủ thể sẽ kiềm chế, đè nén và không biểu lộ thái độ của mình

Thái độ con người có thể biểu hiện một cách minh bạch, cũng có thể được che giấu Ngay khi thái độ được biểu hiện thì thái độ cũng có thể biểu hiện một cách chân

Trang 35

thực rõ ràng nhưng cũng có thể biểu hiện một cách giả dối, không chân thực

Thái độ mang tính chủ thể nhưng lại mang tính đối tượng khá rõ rệt Đối với con người thì thái độ bao giờ cũng là thái độ đối với một đối tượng cụ thể nhất định, thế nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi người lại có thái độ khác nhau, thậm chí ngay khi con người có thái độ tương đối khá giống nhau thì cách thức và mức độ biểu hiện cũng khác nhau

Thái độ mang tính cá nhân nhưng cũng bị chi phối bởi yếu tố xã hội, dư luận xã hội, phong tục tập quán Trước khi tỏ thái độ con người thường xem xét những yếu tố

xã hội xung quanh mình có cho phép hay không Mặt khác, thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Thái độ có thể là giai đoạn nảy sinh trước động cơ, song chính thái độ cũng góp phần nhỏ trong việc hình thành động cơ và chính nó là giai đoạn định hướng cho động cơ đi đến hành động

Thái độ thường được phân chia thành hai hướng khác nhau là thái độ tích cực và thái độ tiêu cực, thái độ đúng đắn và thái độ không đúng đắn Khi đề cập đến thái độ người ta thường đề cập đến những thuật ngữ: thích hay không thích, tán thành hay không tán thành, e ngại hay tự tin…tất cả được hiểu là thái độ của một chủ thể đối với một đối tượng nhất định, đó là một sự vật hiện tượng hoặc một vấn đề hay một con người cụ thể nào đó [43]

1.3.2.2 Chức năng của thái độ

Các nhà tâm lí học nghiên cứu về thái độ đã chỉ ra rằng, sở dĩ con người có khả năng ứng xử trong các tình huống tâm lí khác nhau theo một cách thức nhất định phần lớn là nhờ khuôn mẫu các thái độ xã hội đã được hình thành ở mỗi người Điều này đóng vai trò tố chất rất lớn trong đời sống tâm lí của chúng ta

Tổng kết ý kiến của các nhà nghiên cứu, thái độ có một số chức năng sau:

Chức năng thích nghi: Thái độ hướng con người tới các đối tượng có thể giúp họ đạt được mục đích đề ra Nếu cá nhân có thái độ được mọi người chấp nhận, ủng hộ thì cá nhân đó dễ dàng đạt được mục đích của mình hơn, dễ được thưởng và tránh bị phạt hơn

Chức năng kiến thức: Thái độ giúp chúng ta hiểu được thế giới chúng ta đang sống và tạo ra những gì đang xảy ra xung quanh.Thái độ làm rõ và giải thích cho

Trang 36

chúng ta về ý nghĩa các sự kiện Nhờ có các khuôn mẫu thái độ xã hội có sẵn, cá nhân chỉ việc thực hiện rập khuôn theo một cách hết sức đơn giản, đồng thời tiết kiệm được thời gian, sức lực

Chức năng biểu hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về đối tượng, qua biểu lộ xúc cảm, hành động cũng như sẵn sàng hành động, cá nhân thể hiện giá trị nhân cách của mình

Chức năng tự bảo vệ: Trong những tình huống xung đột (giữa các suy nghĩ, niềm tin, có khi là giữa thái độ và hành vi) chúng ta thường tìm cách tự bào chữa, tìm lí do giải thích thậm chí tìm một người nào đó chịu trách nhiệm thay mình hoặc hợp thức hóa hành vi của mình Quá trình này dẫn đến sự thay đổi thái độ tương ứng

Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây là chức năng quan trọng được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của thái độ tới hành vi cá nhân như thế nào

1.3.2.3 Cấu trúc tâm lí của thái độ

Nhà tâm lí học Mỹ M.Smith (1942) đã đưa ra cấu trúc ba thành phần của thái độ M.Smith cho rằng thái độ được cấu thành từ thành phần nhận thức, thành phần xúc cảm – tình cảm, thành phần hành động của cá nhân với đối tượng [38]

 Thành phần nhận thức: Nhận thức là những quan điểm, niềm tin hay những ý kiến cụ thể về một đối tượng nào đó của thái độ

 Thành phần xúc cảm – tình cảm: là kết quả của nhận thức, không phản ánh bản thân sự vật hiện tượng mà là những biểu cảm, sự rung động, hứng thú của cá nhân đối với đối tượng của thái độ Trong cấu trúc của thái độ thì tình cảm thể hiện ở mặt xúc cảm của con người đối với đối tượng của thái độ Tình cảm là thành phần vô cùng quan trọng trong cấu trúc của thái độ, với tình cảm tích cực có thể kích thích chủ thể hành động tích cực, từ đó hình thành nên thái độ tích cực và ngược lại tình cảm tiêu cực có thể kiềm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể

 Thành phần hành vi: là sự thể hiện thái độ của cá nhân đối với đối tượng thông qua xu hướng hành động và hành động thực tế Thái độ và hành vi luôn có sự quy định lẫn nhau, hành vi là một thành phần cấu thành nên thái độ, thái độ muốn biểu hiện ra bên ngoài phải thông qua hành vi Vì vậy, hành vi là hình thức biểu hiện cụ thể nhất

Trang 37

của thái độ

Trong cấu trúc của thái độ nhận thức là điều kiện cần cho việc hình thành thái độ Xúc cảm tình cảm là thành phần quan trọng, là động lực có thể kích thích hoặc kiềm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể Hành vi là sự thể hiện ứng xử của chủ thể đối với đối tượng Mặc dù giữa hành vi và thái độ đôi khi cũng có những mâu thuẫn nhưng nhìn chung hành vi vẫn là hình thức biểu hiện cụ thể nhất của thái độ

Thái độ phải là sự kết hợp biện chứng giữa nhận thức, tình cảm, và hành vi, nghĩa là có sự kết hợp giữa hiểu biết về đối tượng, sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động của bản thân với đối tượng Muốn có thái độ đối với đối tượng thì trước tiên phải nhận thức về đối tượng đó, tức là phải hiểu biết về đối tượng, nhận thức

đó là cơ sở định hướng làm xuất hiện những xúc cảm tình cảm với đối tượng (yêu – ghét, thích – không thích), với nhận thức và tình cảm nhất định với đối tượng thì con người sẽ có những hành động cụ thể với đối tượng Ba thành phần trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chi phối thái độ của cá nhân

1.3.2.4 Cơ chế hình thành thái độ

Hai nhà tâm lí học người Đức là N.Hipso và M.Forvec đã đưa ra bốn cơ chế hình thành thái độ: Cơ chế bắt chước, cơ chế đồng nhất hóa, cơ chế giảng dạy và cơ chế chỉ dẫn [55]

Cơ chế bắt chước: Thái độ có thế hình thành bằng con được tự phát trong đó con người học cách phương thức hành vi mà không cần sử dụng những kĩ thuật giáo dục theo một phương hướng nào đó

Cơ chế đồng nhất hóa: Đó chính là sự bắt chước một cách tự phát, có ý thức Đồng nhất hóa là quá trình chủ thế thống nhất bản thân mình với các cá nhân khác của nhóm này hay nhóm khác dựa trên mối liên hệ cảm xúc và qua đó chuyển những chuẩn mực, những giá trị vào thế giới nội tâm của mình Đồng nhất hóa là sự nhìn nhận, hình dung của chủ thế về người khác như sự kéo dài của chính bản thân mình, gán cho người đó những đặc tính, tình cảm, mong muốn của mình; tự đặt mình vào người khác, chuyển dịch bản thân mình vào phạm vi không gian và hoàn cảnh của người khác dẫn đến việc đồng nhất hóa ý nghĩa cá nhân của người đó

Cơ chế giảng dạy: Là một hình thức hình thành thái độ trong đó cá nhân được

Trang 38

người khác tác động đến một cách chủ động, có mục đích bằng cách trực tiếp thông báo, truyền thụ những vấn đề cần thiết Giảng dạy là một cách đặc biệt cả truyền đạt thông tin

Cơ chế chỉ dẫn: Đây là hình thức hình thành thái độ đòi hỏi chủ thế phải tiến hành hành động một cách tích cực theo sự hướng dẫn nào đó

Quá trình hình thành thái độ trong thực tế không hẳn được tách biệt theo từng cơ chế riêng biệt mà có sự hòa trộn, đan xen giữa các cơ chế với nhau Tùy vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà cơ chế này hay cơ chế khác chiếm vị trí chủ đạo trong việc hình thành thái độ

1.3.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thái độ

Những yếu tố được xem là có vai trò quyết định đến sự hình thành thái độ là sự thỏa mãn nhu cầu, thông tin, giao tiếp nhóm, kinh nghiệm sống và nhân cách [32]

Sự thỏa mãn nhu cầu

Việc hình thành thái độ của chủ thể đối với một đối tượng bất kỳ trong thực tiễn không xuất phát từ chính bản thân đối tượng mà được hình thành khi có mối liên quan giữa một đối tượng với sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân đó Con người hình thành thái độ tích cực với những đối tượng có lợi, đáp ứng được nhu cầu của bản thân, hình thành thái độ tiêu cực với đối tượng có hại trong quá trình thỏa mãn nhu cầu của bản thân

Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình chủ thể nỗ lực, tích cực tìm kiếm các phương pháp phù hợp để thỏa mãn các nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ thể bày tỏ thái độ một cách cụ thể

Thông tin

Mọi thông tin tác động đến con người (thông tin trên báo, tạp chí, truyền hình….) đều có những ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành thái độ Hệ thống thông tin được các chủ thể tiếp cận dưới nhiều hình thức, góc độ khác nhau Khi tiếp nhận thông tin mới, con người có sự đối chiếu với những thông tin đã lĩnh hội được trước đó và đối chiếu với những thái độ đã củng cố thành hệ thống thái độ đã hình thành trước đó

về cùng một đối tượng Điều này giúp chủ thể của thái độ nhận rõ thêm về bản chất của vấn đề và dễ dàng bày tỏ thái độ một cách rõ ràng và phù hợp

Trang 39

Giao ti ếp nhóm

Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân luôn luôn tồn tại trong một nhóm xã hội nhất định và thái độ của mỗi thành viên đều phản ánh cái giá trị, chuẩn mực, niềm tin của nhóm mà họ tham gia Mỗi nhóm có mục đích hoạt động, chuẩn mực, tôn chỉ khác nhau nên thái độ của các nhóm cũng khác nhau đối với các vấn đề của xã hội

Giá trị mà cả nhóm theo đuổi sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của các thành viên trong nhóm Chuẩn mực của nhóm không chỉ xác định hành vi nào là đúng – sai, hành vi nào là tốt – xấu mà còn xác định xem thái độ nào là tốt hay xấu Dưới sức ép của những chuẩn mực nhóm, cá nhân sẽ hình thành và phát triển những thái độ phù hợp, những thái độ không phù hợp với chuẩn mực của nhóm sẽ dần dần bị loại bỏ

Nhân cách

Nhờ đặc điểm của nhân cách mà dưới sức ép của những chuẩn mực của các nhóm xã hội mà mình tham gia, cá nhân vẫn có sự chủ động trong việc tiếp nhận các thái độ trong nhóm cũng như cách thức biểu lộ thái độ Trong quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách, cá nhân tự củng cố hệ thống thái độ, hình thành thái độ mới và loại bỏ những thái độ không phù hợp với định hướng phát triển nhân cách của mình

Kinh nghi ệm sống

Kinh nghiệm trong cuộc sống sẽ hình thành nên thái độ Người có nhiều kinh nghiệm sẽ có thái độ khác so với người có ít kinh nghiệm mặc dù họ cũng gặp vấn đề giống nhau

Quá trình hình thành thái độ của một cá nhân chịu sự chi phối của 5 yếu tố nêu trên Chính vì vậy để thay đổi thái độ của một cá nhân đối với bất kỳ một vấn đề nào, chúng ta cần phải có sự tác động phù hợp vào các yếu tố đó

1.4 Một số đặc điểm của HS THPT

“Học sinh Trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh đầu tuổi thanh niên (từ 15, 16 tuổi đến 17, 18 tuổi) Theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi mới lớn Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi, trong đó chia ra làm 2 thời kỳ:

Từ 14, 15 tuổi đến 17, 18 tuổi: giai đoạn đầu tuổi thanh niên (giai đoạn HS

Trang 40

THPT)

Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (giai đoạn thanh niên - sinh viên)

1.4.1 Đặc điểm hoạt động học tập lứa tuổi HS THPT

Hoạt động học tập của HS THPT đòi hỏi cao về tính năng động, tính độc lập, gắn liền với xu hướng học tập lên cao hay chọn nghề, vào đời… Đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình học một cách sâu sắc thì cần phải phát triển tư duy lý luận, khả năng trừu tượng, khái quát, nhận thức, phát triển…[8]

Thái độ của các em đối với các môn học trở nên có chọn lựa hơn, tính phân hoá trong hoạt động học tập thể hiện rõ hơn, cao hơn, do xu hướng chọn nghề, vào đời chi phối Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Cuối bậc THPT, các em đã xác định được cho mình một hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó, hoặc một lĩnh vực tri thức nhất định Hứng thú này thường liên quan đến việc chọn một nghề nhất định của HS Hơn nữa, hứng thú nhận thức ở tuổi HS THPT mang tính chất rộng rãi, sâu và bền vững hơn học sinh trung học cơ sở Tuy vậy, thái độ học tập ở nhiều em còn có nhược điểm là một mặt, các em rất tích cực học một số môn mà các em cho là quan trọng đối với nghề mình đã chọn, mặt khác các em lại xao nhãng các môn học khác hoặc chỉ học để đạt được điểm trung bình (học lệch) Do đó, giáo viên cần giúp các em đó hiểu được ý nghĩa và chức năng giáo dục cơ bản, toàn diện, tạo nền tảng vững chắc hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa học của con người cho các em trong bậc học phổ thông

1.4.2 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của HS THPT

Quan sát của HS THPT trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ [23] Tuy vậy, quan sát của các em cũng khó có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo, định hướng của giáo viên Giáo viên cần quan tâm để định hướng quan sát của các em và một nhiệm vụ nhất định, không vội vàng kết luận khi chưa tích lũy đầy đủ các sự kiện…

Ở tuổi này, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Đặc biệt, các em tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ Bên cạnh đó, một số em còn ghi

Ngày đăng: 01/01/2021, 12:41

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w